Di sản văn hóa chính là một trong những cội nguồn sức sống tiềm tàng to lớn của dân tộc được tạo ra trong quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì và phát huy trong các giai đoạn phát triể
Trang 1TRƯƠNG QUỐC HUY
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
Ở HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Văn hóa học
Mã số : 60 31 06 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TOÀN THẮNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được
ai sử dụng để công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trương Quốc Huy
MỤC LỤC
Trang 3Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN
HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH
1.3 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 16 1.4 Vai trò của hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong
1.5 Khái quát về huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa 30
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN
2.1 Tổng quan về hệ thống di sản văn hóa huyện Hậu Lộc 43 2.2 Quá trình triển khai quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách
của Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện
2.3 Kết quả bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể ở huyện Hậu Lộc 69 2.4 Kết quả bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể tại huyện
2.5 Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn và phát huy di sản
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH
3.1 Dự báo về hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện
3.2 Phương hướng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc 94 3.3 Nhiệm vụ và hệ thống giải pháp tăng cường hoạt động bảo tồn và
PHỤ LỤC
Trang 4Trang
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với bao thăng trầm, biến cố Trong khoảng thời gian dài của lịch sử, văn hóa Việt Nam được hình thành và khẳng định với bản lĩnh, bản sắc riêng Nối tiếp các thế hệ, nền văn hóa ấy dần được hình thành, tôi luyện nhào nặn qua bao thử thách, được bồi đắp tô điểm thêm nhiều sắc màu và ngày nay trở
thành “Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Thế hệ sau
nối tiếp thế hệ trước trong dòng chảy di sản văn hóa, chính là một dấu gạch
nối quan trọng trong sự kế thừa và phát triển của văn hóa dân tộc
Di sản văn hóa chính là một trong những cội nguồn sức sống tiềm tàng
to lớn của dân tộc được tạo ra trong quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì và phát huy trong các giai đoạn phát triển xã hội sau này Văn hoá là tiềm lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những giá trị hàm chứa trong vốn di sản văn hóa dân tộc được tích lũy theo thời gian lịch sử Di sản văn hóa dân tộc bao gồm nguồn lực vật thể (hữu hình) và nguồn lực phi vật thể (vô hình) Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hoá hết sức sôi động hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, để hội nhập
mà không bị hoà tan Di sản văn hóa trở thành điểm tựa quan trọng, tạo thế đi vững chắc cho hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc
Nghị quyết Trung ương 5 - Khóa VIII nêu rõ:
Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng và bảo tồn, kết thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng,
bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể [16, tr.371]
Để tiến hành xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ta cần phải kế thừa một cách khoa học, tích cực, có
Trang 6chọn lọc đúng đắn kho tàng di sản văn hóa của quá khứ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về
tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá danh thắng của đất nước Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn hoá Việt Nam [16, tr.82]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn phát huy di sản văn hóa dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã hội:
Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch [72]
Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, nhân dân hết sức quan tâm tới vấn đề giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để làm sống dậy mọi tiềm năng văn hóa như là một nguồn lực nội sinh mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở những quy mô khác nhau Hàng loạt di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được công nhận, tu bổ, tôn tạo; rất nhiều cổ vật,
di vật đã được bảo vệ Các lễ hội truyền thống, liên hoan nghệ thuật dân tộc, diễn
Trang 7xướng, trò chơi dân gian, phong tục, nếp sống đẹp đã được phục hồi và phát triển
Phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”, toàn dân bảo vệ và phát triển
văn hóa đã tạo môi trường lành mạnh, thuận lợi cho công tác giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa cũng như nền văn hóa dân tộc Những thành tựu này thật sự lớn và đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển văn hóa của Đảng cũng như sức mạnh của Nhà nước, của toàn dân trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa để xây dựng nền văn hóa mới
Tuy nhiên, trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc còn bộc
lộ một số vấn đề như: tình trạng xâm hại, phá hoại di tích; trùng tu, tu bổ di tích tràn lan không theo tinh thần bảo tồn, nạn lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đền, chùa; hiện tượng mê tín dị đoan gia tăng; lễ hội truyền thống còn nhiều lộn xộn Hiện trạng này khiến cho môi trường văn hóa xã hội nói chung, môi trường bảo tồn di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, bền vững, đây vẫn là những thách thức đặt ra cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Huyện Hậu Lộc là một địa phương tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa có đặc điểm văn hóa đồng bằng ven biển, hội tụ đầy đủ địa hình: đồi núi, đồng bằng chiêm chũng, sông biển và hải đảo, có vị trí là cửa ngõ trên con đường Bắc Nam Là một huyện có di chỉ khảo cổ của người Việt cổ, Huyện Hậu Lộc có nhiều địa danh, di tích lịch sử gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của dân tộc như: Di chỉ khảo cổ Hoa Lộc, Đền Bà Triệu, Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Chùa Vích, Chùa Liên Hoa, Diêm Phố, Đền Đức Ông và Lễ Hội Cầu ngư… Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể để khảo cứu, đánh giá ý nghĩa cũng như đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản, kiến nghị và đề xuất những phương hướng và giải pháp
có tính khả thi, nhằm bảo tồn và phát huy tốt hơn Với những lý do đó tôi
chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên
ngành Văn hóa học
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá UNESCO chia di sản văn
hoá thành hai loại: di sản “văn hóa vật thể” và di sản “văn hoá phi vật thể”
Feredico Mayor (nguyên tổng giám đốc tổ chức UNESCO) hình dung
di sản văn hóa như “hệ thống các giá trị”, những nhân tố hình thành nên bản
sắc văn hoá dân tộc
Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản “tài sản văn hoá” và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình” và tài sản văn hoá “vô hình” Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu
hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng đến Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19
đến 23/10/2004, đã ra tuyên bố Yamato về phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã được thông qua Với bản Tuyên bố này, các quan niệm về di sản văn hóa đã được nhân loại định nghĩa
cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên thế giới
Ở nước ta, nghiên cứu về di sản văn hóa trước tiên phải kể đến công trình Việt Nam Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh tuý của văn hoá phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây [1, tr.371]
Năm 1997, GS,TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách “Một số vấn đề
về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc” Trên cơ sở những quan niệm
Trang 9di sản văn hóa của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về di sản văn hóa, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn hóa nước ta Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
Năm 2002, Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp quy về di sản văn hóa Trong sách Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phát hành năm 2007, GS,TS Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng viện Văn hoá dân gian) đã bàn đến Văn hóa phi vật thể: Bảo tồn và phát huy Trưởng Ban Di sản phi vật thể Văn phòng UNESCO Pari - Ông Rieks Smeets đã nghiên cứu về: Bối cảnh, nhận thức và quá trình xây dựng Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể
Công trình “Một con đường tiếp cận di sản văn hóa” do Bộ Văn hóa -
Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận di sản văn hóa cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho
đề tài Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa (Vũ Quốc Hiền), Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh); Di tích lịch sử và văn hóa đồng bằng sông Hồng (Đặng văn Bài)
Năm 2007, trong tư cách một nhà nghiên cứu có nhiều năm quan tâm
đến di sản văn hóa, PGS,TS Nguyễn Chí Bền viết bài nghiên cứu “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay” đăng trên báo Văn hóa Bài báo
bàn sâu về cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiện nay
Trên cơ sở kế thừa một số bài viết của các nhà nghiên cứu trên website của trường Đại học văn hóa Hà Nội, Cục di sản văn hóa, Luận văn tốt nghiệp của tác giả: Nguyễn Thị Nữ Y, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh - “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Tỉnh Hà Tĩnh trong thời
kỳ đổi mới hiện nay”…Các công trình nghiên cứu này đã viết khá kỹ về lý
luận văn hóa về di sản văn hóa và thực tiễn khảo cứu tại một số địa phương
Hậu Lộc mang đậm nét nền văn hóa đồng bằng ven biển, trong quá trình lịch sử lâu dài, nền văn hóa ấy được in sâu trong không gian sinh hoạt lễ
Trang 10hội truyền thống và nét kiến trúc của đình chùa miếu mạo và ngày nay đã trở thành di sản văn hóa cần được bảo tồn và phát huy đúng hướng Qua những giai đoạn khác nhau vùng đất Hậu Lộc được mang những tên gọi khác nhau, nhưng nhìn chung nó vẫn mang những nét đặc trưng chung
nhất Những ghi chép đầu tiên về vùng đất Hậu Lộc là cuốn “Đại Việt sử
ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên, sau này là cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), "Đại Nam nhất thống chí" của Sử quân triều Nguyễn (thế
kỷ XIX), "Các tổng trấn xã danh bị lâm" Biên soạn thời Gia Long (đầu thế
kỷ XIX) Sách "Sĩ hoạn tu tri lục" của Nguyễn Công Tiệp, Sách "Thiên Nam dư hạ tập" thời Lê Hồng Đức (1470 - 1497) Giai đoạn sau này là các tác phẩm “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú và “Lê Thanh Hoa” của Ch.Robequain - một tác giả người Pháp… Tất cả các tác
phẩm nêu trên đều khảo cứu và đề cập đến những điều kiện kinh tế, xã hội truyền thống, nguồn gốc thành lập làng, xã, quan hệ dòng họ huyết tộc, lịch
Huy Trâm và Hoàng Anh Nhân đặc tả về đời sống con người Hậu Lộc và lễ hội
Cầu ngư, “Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu” - Kỷ yếu Ty Văn hóa thông tin năm
1972, “Lệ Hải Bà Vương và đền thờ Bà Triệu” của Mai Thị Hoan… viết về diễn
biến cuộc khởi nghĩa và lịch sử hình thành Lễ hội Đền Bà Triệu…
Ngoài ra còn có rất nhiều tạp chí, báo chí và các cổng thông tin điện tử viết về văn hóa và con người Hậu Lộc với nhiều hình thức đa dạng
Các tác phẩm đều đề cập đến vấn đề văn hóa của cư dân Hậu Lộc, tuy vậy vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khảo sát về di sản nói chung của
Trang 11Huyện Hậu Lộc Việc nghiên cứu về các di sản văn hóa, phương án bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa ở Huyện Hậu Lộc là vấn đề mới và cần thiết Song với số lượng địa chỉ văn hóa nhiều tôi chỉ nghiên cứu trên phạm vi một
số kiến trúc, lễ hội truyền thống tiêu biểu trong toàn huyện và sự kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu, tài liệu quý từ trước đến nay sẽ tạo điều kiện cho luận văn được hoàn chỉnh và khả thi
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở vận dụng những thành tựu về lý luận di sản văn hóa, luận văn nghiên cứu, trình bày một cách có hệ thống về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu của huyện Hậu Lộc thể hiện nét đặc trưng truyền thống của văn hóa miền đồng bằng ven biển
Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tại huyện Hậu Lộc, phân tích những mặt tích cực, hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân từ đó
đề xuất một số ý kiến, kiến nghị cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại huyện Hậu Lộc trong giai đoạn 2013 - 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn và
phát huy hệ thống di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Trên cơ sở quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá, luận văn tiếp cận một cách có hệ thống những tiền đề lý luận về di sản văn hóa, về bảo tồn di sản văn hoá và phát huy di sản văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
Trang 12- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu về các vấn đề trong thực tiễn và giải quyết các tình hướng xảy ra, từ đó kết đọng nội dung chủ yếu cần nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành, điều tra xã hội học, quan sát, tham dự: Tiến hành đi cơ sở khảo sát thực tế các lễ hội và công trình kiến trúc, kết hợp với việc tiếp xúc phỏng vấn những người cao tuổi, những người đang trực tiếp quản lý và làm công tác tổ chức để thu thập thông tin
- Phương pháp logic và lịch sử: Trên cơ sở những thông tin thu thập được, bằng phương pháp logic học, những thông tin ấy sẽ được kết nối chặt chẽ với nhau giúp cho kết quả nghiên cứu của luận văn có tính thuyết phục
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở lý thuyết những bộ môn
đã học kết hợp với việc tìm đọc và chọn lọc nội dung những tác phẩm, ấn phẩm có liên quan đến đề tài
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn công trình khoa học tổng hợp cơ bản về số lượng cũng như chất lượng hiện trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tại địa phương Đây cũng sẽ là một tài liệu tham khảo cho dự án khảo sát trên diện rộng của UBND Huyện về các di sản văn hóa của địa phương trong thời gian sắp tới
Luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp để khắc phục sự hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 03 chương, 14 tiết
Trang 13Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
1.1 QUAN NIỆM VỀ DI SẢN VĂN HÓA
Văn hóa hình thành trong hoạt động sống của con người và mối quan
hệ tương tác giữa con người với tự nhiên Trong quá trình hình thành và phát triển, văn hóa hàm chứa một hệ giá trị được xã hội, cộng đồng thừa nhận Các giá trị văn hóa là cốt lõi của văn hóa Giá trị văn hóa chứa đựng, kết tinh trong
di sản văn hóa và thông qua di sản văn hóa để thực hiện các chức năng xã hội
GS, TS Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu về văn hóa truyền thống Việt Nam đã định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trình quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [56, tr.19]
Di sản văn hóa là hình thức tồn tại của giá trị văn hóa, hệ giá trị văn hóa có nguồn gốc từ nhu cầu của con người, nó thể hiện một chuẩn mực xã hội mà con người muốn hướng tới, nói cách khác nó là tiêu chí để đánh giá, điều chỉnh hành vi, suy nghĩ… của một cá nhân trong một cộng đồng xã hội nhất định
Các giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo
và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng tới thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp, bồi đắp và nâng cao bản chất người [56, tr.22]
Như vậy giá trị văn hóa đóng vai trò là thành tố để phân biệt di sản văn hóa với các hiện tượng văn hóa nói chung hình thành trong quá trình lịch sử của một cộng đồng, xã hội nhất định Di sản văn hóa được xem như là những yếu tố đặc biệt, nổi bật, là tinh hoa của văn hóa
Trang 14“Từ điển Tiếng Việt” định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại;
văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [67, tr.254]
Khái niệm Di sản văn hóa là tập hợp những cặp phạm trù vừa mang
tính tương phản, vừa mang tính thống nhất (Truyền thống - hiện đại; Kế thừa
- phát triển…) Trong mối quan hệ truyền thống - hiện đại, di sản văn hóa chính là cái hiện đại được truyền lại trong quá khứ Với ý nghĩa này, di sản
văn hóa đóng vai trò như một “mã di truyền xã hội”, một thứ ký ức tập thể cho
phép sự tái sinh, sự nhớ lại về quá khứ trên trục thời gian, làm nên tính liền mạch của nền văn hóa dân tộc Di sản ở đây được hình dung như một bảng thang giá trị hay hệ thống các giá trị, những nhân tố hình thành nên bản sắc văn hóa của một dân tộc Trong mối quan hệ kế thừa - phát triển di sản văn hóa có tính khả biến Chủ thể nhận thức tiếp thu các di sản văn hóa trên cơ sở kế thừa, đưa chúng vào hiện tại trong những phức hợp loại hình quan hệ với những giá trị mới nảy sinh, làm phong phú cho kho tàng di sản văn hóa của mình
Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, di sản văn hóa được xem là một thuật ngữ khoa học xuất phát điểm hình thành từ cuộc cách mạng Tư sản Pháp năm 1789 Sau thành công của cuộc cách mạng, Nhà nước Pháp lúc bấy giờ
đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia Cách hiểu sơ khai ban đầu của di sản đó là “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đó tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [76, tr.7]
Ngày 18 tháng 6 năm 1964, tại Philippines, Luật về giữ gìn và bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa được công bố, khi đó các di tích lịch sử văn hóa được gọi chung là di sản văn hóa
Tại Ảrập - xêút, Pháp lệnh của nhà vua quy định về quản lý di tích lịch
sử được công bố ngày 3 tháng 8 năm 1972 đã có định nghĩa chung về cổ vật động sản và cổ vật bất động sản
Trang 15Năm 1897 Nhật Bản đã ban hành Luật bảo vệ di tích chùa chiền cổ, đến năm 1950 tiếp tục ban hành Luật bảo vệ tài sản văn hóa, đây là bộ luật được đánh giá là hoàn thiện nhất về di sản văn hóa vào thời gian bấy giờ Đến năm
1975, Nhật Bản ban hành Luật số 214 về Bảo vệ di sản văn hóa, các di tích lịch sử văn hóa, chúng được gọi chung là di sản văn hóa vật chất, di sản văn hóa phi vật chất, di sản văn hóa dân gian và những công trình kỷ niệm
Tiếp theo đó Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh năm
1983 đó định nghĩa “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [76, tr.7]
UNESCO đã ra công ước bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới vào năm 1972, công ước đã đưa ra các quan niệm di sản văn hóa bao gồm các
di tích, quần thể, thắng cảnh Công ước nhấn mạnh đến các đối tượng miêu tả
là các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, các di chỉ khảo cổ, các công trình của con người tạo ra hoặc những công trình có sự kết hợp của con người với thiên nhiên…có ý nghĩa, giá trị quốc tế về phương diện lịch sử, nghệ thuật, thẩm mỹ, khoa học Từ đó ta nhận thấy rằng điểm nổi bật thấy rõ rằng quan niệm này của UNESCO đã nghiêng về yếu tố vật chất của di sản văn hóa Đến năm 1992 UNESCO đã đưa ra khái niệm mới đối với di sản hỗn hợp hay cảnh quan văn hóa để miêu tả mối quan hệ giữa văn hóa và thiên nhiên UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29/9 đến 17/10/2003 đã bàn thảo và ra Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Công ước đó ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cộng với các điều kiện khác đó tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể
Năm 1938 học giả Đào Duy Anh đã đề cập đến quan niệm di sản trong nhận định về vai trò của nhân tố nội sinh trong sự giao lưu tiếp biến văn hóa bản địa: “Ta muốn trở nên một nước cường thịnh vừa về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thể; mà lấy văn hóa mới làm dụng,
Trang 16nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa Phương Đông với những
điều sở trường về khoa học và kỹ thuật của văn hóa Phương Tây” [1, tr.71]
GS Hoàng Vinh nhận định:
Những thành tựu của những hoạt động sáng tạo (những hoạt động sáng tạo này sinh ra hiểu biết, kinh nghiệm sống, đúc kết thành truyền thống, thị hiếu, giá trị…), bất kể là vật thể hay phi vật thể, hữu hình hay vô hình, qua thời gian sàng lọc, thử thách, kết tinh lại thành di sản văn hóa [70, tr.99]
Nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu cho rằng:
Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể) và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, do con người sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội của mình, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [57, tr.2]
Năm 2001 Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2009) trong đó khẳng định: Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Tại điều 1: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác” [48, tr.12] Cùng với đó Việt Nam đã phê
chuẩn Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở sáng tạo giá trị mới và giao lưu văn hóa” [16, tr.63] Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX, khóa X và khóa XI của Đảng tiếp tục đưa nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
là nhiệm vụ then chốt trong nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân và củng
cố, thúc đẩy kinh tế phát triển Đảng và Nhà nước ta xác định việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nền văn
Trang 17hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, đưa văn hóa trở thành động lực tinh thần thúc đẩy kinh tế phát triển, các lĩnh vực của đời sống được nâng cao và từng bước xây dựng đất nước hiện đại văn minh, bắt kịp với các quốc gia trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa
1.2 PHÂN LOẠI DI SẢN VĂN HÓA
Trước khi tổ chức UNESCO ra đời, ở mỗi quốc gia có một cách phân loại
di sản theo quan niệm khác nhau, có thể là hữu hình - vô hình, tĩnh - động, vật thể - phi vật thể… Trong công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên trên thế giới vào năm 1972, UNESCO cũng chỉ nghiêng về yếu tố vật thể của di sản văn hóa khi quan niệm di sản văn hóa là những công trình kiến trúc, những kết cấu hay cảnh quan Trải qua một quá trình lâu dài, khi xác định yếu tố phi vật chất đang tồn tại song song cùng với yếu tố vật thể và có vai trò quan trọng không kém trong việc phát triển văn hóa, năm 2003, UNESCO công bố Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Ngày nay người ta đều chấp thuận nghiên cứu theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa bao gồm hai loại:
Di sản văn hóa vật thể được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thế “sờ thấy được” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu
dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định Di sản văn hóa vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người Di sản văn hóa vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc Hiện nay, vấn đề bảo tồn những di sản văn hóa vật thể lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ
Di sản văn hóa phi vật thể là dạng thức tồn tại của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao
Trang 18tiếp xã hội mà thể hiện ra Từ đó người ta có thế nhận biết được sự tồn tại của văn hóa phi vật thể
Đặc trưng rõ nhất của văn hóa phi vật thể là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người Văn hóa phi vật thể được lưu giữ trong thế giới tinh thần của con người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động trong
tư cách một hiện tượng văn hóa
Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật,
đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần
di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người [63, tr.2] Văn hóa phi vật thể cũng có thế bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, bởi sự vô ý thức của con người Di sản văn hóa phi vật thể không chỉ gắn bó với các chủ thể văn hóa mà cũng hòa quyện vào không gian sinh thái - nhân văn, nơi chúng được sáng tạo ra và đang hiện diện, tiến diễn trong đời sống đương đại của cộng đồng Điều đó có
nghĩa là, di sản văn hóa phi vật thể không “nhất thành bất biến”, chúng nhất
định phải hàm chứa những nhân tố mang tính lịch sử, đồng thời lại phải mang hơi thở của thời đại mà chủ thể văn hóa cũng như chủ sở hữu di sản văn hóa phi vật thể đang sống, làm việc và sáng tạo Điều đó cũng có nghĩa là, di sản văn hóa phi vật thể được sáng tạo ra, được bảo lưu và chuyển giao qua nhiều thế hệ là cả một quá trình sàng lọc và sáng tạo không ngừng nghỉ Các thế hệ
kế tiếp nhau có quyền bình đẳng trong việc thừa hưởng các giá trị di sản văn hóa do cha ông để lại, đồng thời phải có trách nhiệm chọn lựa những gì là tinh
Trang 19hoa nhất để bảo lưu, chuyển giao và trên cơ sở kế thừa có chọn lọc Trong thực tế, người ta thường có xu hướng thêm bớt trong quá trình lưu giữ những giá trị phi vật thể Cho nên, văn hóa phi vật thể vừa có tính bền vững (trong
ký ức của cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc vào cuộc sống của một cá nhân - nghệ nhân với những may rủi bất ngờ) Hơn nữa, văn hóa phi vật thể cũng có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính
dị bản của nó do sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại
Trên cơ sở đồng thuận với quan niệm của UNESCO, Luật Di sản văn hoá của Việt Nam (2001) phân loại di sản văn hóa như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa âm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể hiện bằng các tiêu chí sau đây:
a Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b Hình thức độc đáo;
c Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
- Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất
- Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại;
- Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch
sử nhất định;
Trang 20d Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến
của thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia [48, tr.13-14]
Di sản văn hóa phi vật thể không chỉ mang đậm tính chất dân gian mà cũng gắn bó mật thiết với các hoạt động mang tính chất tâm linh tại các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng
Chúng ta cần quan tâm và chủ động giải quyết thật thận trọng và thỏa đáng vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với không gian văn hóa truyền thống tại các thiết chế tôn giáo và các hoạt động mang tính tâm linh, cũng như tính đa dạng văn hóa, nhằm tạo lập sự ổn định xã hội, làm tiền đề cho phát triển bền vững
1.3 VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
1.3.1 Quan điểm của UNESCO
Đời sống di sản văn hóa đang chịu nhiều tác động bởi nhiều xu hướng
Thứ nhất là xu hướng "du lịch hóa di sản", với những hoạt động du lịch
chỉ chú trọng những di tích có tiềm năng thu hút du khách, dẫn đến tình trạng nhiều di sản văn hóa bị lạm dụng, khai thác quá mức
Thứ hai là xu hướng "thương mại hóa di sản", là nguyên nhân dẫn đến
việc trùng tu và phục dựng tùy tiện, thiếu khoa học, hoặc làm biến dạng, đánh mất tính nguyên gốc của di sản Dưới tác động của xu hướng này, công tác bảo tồn di sản mang nặng tính thực dụng
Thứ ba là xu hướng "xã hội hóa di sản" tuy nhiên việc thực hiện giao
khoán công tác bảo tồn di sản ở các địa phương cho các hội quần chúng cơ sở, thiếu sự giám sát, không có sự hỗ trợ của chuyên gia văn hóa, đó đưa đến những hệ quả ngoài ý muốn
Di sản là những giá trị được hình thành qua quá trình lịch sử, phản ánh đời sống của cộng đồng; bao gồm những giá trị vật thể và phi vật thể Bảo tồn
di sản văn hóa là hoạt động bảo vệ, gìn giữ các giá trị đó, tránh sự mai một, xuống cấp và biến mất Phát triển, bảo tồn di sản có mục tiêu chủ yếu là: tôn vinh các giá trị truyền thống, phát huy nó trong điều kiện xã hội mới Sự tách biệt giữa bảo tồn và phát huy chỉ có ý nghĩa về nhận thức, bởi nó là hai mặt
Trang 21của một vấn đề Sự quá đề cao mặt này hay xem nhẹ yếu tố kia đều không tốt cho công tác bảo tồn và phát huy di sản
Quan điểm của UNESCO về bảo tồn di sản văn hóa
Trong nghiên cứu, cũng như trong hoạt động thực tiễn về di sản văn hóa, ta thường hay dùng các thuật ngữ: bảo quản, bảo vệ và bảo tồn
Bảo quản mang nghĩa sử dụng những biện pháp kỹ thuật để gìn giữ, chăm sóc đối tượng được nguyên vẹn, tồn tại lâu dài Bảo vệ chứa đựng nội dung thực hành các hoạt động mang tính chất pháp lý hay nó́i cách khác là giữ không để cho bị xâm phạm Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và tránh sự xuống cấp của kết cấu đó Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành,
ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục
và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội
Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, tái tạo - làm lại, qui hoạch bảo tồn
Vấn đề đặt ra là khi bảo tồn một di sản văn hóa cụ thể cần nghiên cứu, chọn lựa phương án thích hợp với từng địa phương, từng đặc thù riêng để đảm bảo rằng cái chúng ta đang trưng bày là xác thực chứ không phải đồ giả, là lịch sử chứ không phải tuyên truyền, là sự uyên bác chứ không phải định kiến,
là thông tin chứ không phải sự kích động và là cảm hứng chứ không phải những lời sáo rỗng
Bảo tồn di sản văn hóa trở thành mối quan tâm của toàn xã hội và giới nghiên cứu khoa học trong vài thập niên gần đây Hiện nay ở nhiều quốc gia, bảo tồn di sản văn hóa trở thành một ngành học có tính chuyên môn cao và các quy ước chung về bảo tồn di sản văn hóa của cộng đồng quốc tế được các quốc gia tôn trọng thực hiện
Trang 22Từ những năm 1964, các nguyên tắc bảo tồn đã được giới nghiên cứu khoa học toàn cầu quan tâm bằng việc tổ chức Hội đồng Quốc tế các di tích và di chỉ (ICOMOS) công bố Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu di tích, di chỉ Hiến chương này nhấn mạnh việc bảo tồn đòi hỏi phải giữ gìn tính nguyên
gốc, không được phép thêm vào hay bớt đi mà phải bảo tồn nguyên vẹn
Trên cơ sở tôn trọng các điều khoản của Hiến chương Venice,
UNESCO đã ban hành Công ước về việc bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới vào năm 1972 Tiếp đến năm 2003, UNESCO ban hành Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, được sự đồng thuận của trên 120 quốc gia thành viên mà Việt Nam là một trong số những thành viên đó Với mục tiêu tăng cường nhận thức về tầm quan trọng và thống nhất hoạt động bảo vệ
di sản văn hóa phi vật thể, Công ước yêu cầu các nước cam kết có những biện pháp bảo đảm việc bảo vệ và duy trì sự tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, cùng với sự phối hợp chặt chẽ ở cấp vùng và cấp quốc tế cho mục tiêu này
Có thể thấy, các biện pháp bảo vệ do Công ước đề ra, nhất là biện pháp kiểm
kê (xác định giá trị di sản), tư liệu hóa cho thấy quan điểm tôn trọng yếu tố gốc của loại hình di sản này
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa Như vậy quan điểm của UNESCO những năm 1972 nghiêng về dạng bảo tồn nguyên vẹn,
di sản văn hóa bị “đóng gói” và bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh
mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm, như các công trình kiến trúc vẫn tồn tại dù trải qua một giai đoạn thời gian rất dài Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có di sản văn hóa luôn gắn bó tồn tại song song với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nó luôn trong tình trạng giao lưu, tiếp biến, biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế, làm cho di sản văn hóa không phát huy hết giá trị
Trang 23Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa cũng bộc lộ những nhận định sai Di sản văn hóa có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch
sử Theo quy luật kế thừa thì những di sản văn hóa nào tồn tại trong đời sống
xã hội, nếu không phù hợp với hệ giá trị xã hội tại thời điểm lịch sử hiện tại thì sẽ bị triệt tiêu và vĩnh viễn biến mất Nếu lấy quan điểm này làm quan điểm bảo tồn độc lập thì chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đó được định hình trong di sản văn hóa
Nguyên tắc quan trọng của bảo tồn di sản văn hóa là bảo vệ và giữ gìn
sự tồn tại của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có Bảo tồn đồng nghĩa với không để di sản văn hóa mai một, bị thay đổi, biến hóa Xuất phát từ sự duy trì ý nghĩa văn hóa của di sản văn hóa mà trong hoạt động bảo tồn không chấp nhận việc cải biến, nâng cao hay phát triển Di sản văn hóa cần được xem là tinh hoa văn hóa, do vậy việc khẳng định giá trị đích thực dưới những thể trạng và hình thức khác nhau cũng như khả năng tồn tại theo thời gian của nó
là điều quan trọng
Quan điểm lựa chọn bảo tồn di sản văn hóa hợp lý là việc lựa chọn, bảo
vệ, giữ gìn những giá trị từ quá khứ đến hiện tại, cái được bảo tồn tất yếu phải phù hợp với thời đại, chứa đựng những khả năng có thể được làm giàu thêm
về giá trị và có thể tiếp tục được phát huy, phát triển vì lợi ích của cộng đồng,
xã hội, vì sự phát triển của văn hóa Ngoài ra, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa phải tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt mang tính thông lệ được cộng đồng quốc tế cam kết thực hiện
Không có một hình thức, phương pháp chung nào có thể áp dụng cho việc bảo tồn tất cả các loại hình di sản văn hóa do sự đa dạng, phong phú của
di sản văn hóa Sự đa dạng đó cũng biểu hiện trong các điều kiện không gian
và thời gian mà di sản văn hóa tồn tại và phát huy tác dụng, giá trị lịch sử, Nghiên cứu khoa học văn hóa về di sản văn hóa là tìm ra cách lựa chọn bảo
Trang 24tồn có ý thức, thích hợp và đảm bảo các khả năng lan tỏa ý nghĩa văn hóa trong cộng đồng, phát huy giá trị của di sản văn hóa vào đời sống tinh thần cộng đồng, là động lực cho sự phát triển
Quan điểm của UNESCO về phát huy giá trị di sản văn hóa
Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp Có thể nói, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động
có tính liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của
xã hội, gúp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu Cách thức phát huy của mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng tất thảy các hoạt động này đều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó
Phát huy di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên ngành, có nguyên tắc chung để đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động này Do tính đa dạng của di sản văn hóa nên cách thức phát huy từng di sản văn hóa có thể khác nhau ở từng thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa của từng vùng cũng như nhận thức của chủ thể tổ chức các hoạt động phát huy cũng như cộng đồng, nhưng nguyên tắc cao nhất của phát huy di sản văn hóa là phải dựa vào những giá trị hiện có của di sản văn hóa, tôn vinh giá trị và phát triển những tinh hoa của giá trị di sản văn hóa vì lợi ích cộng đồng cũng như sự phát triển văn hóa
Mục đích quan trọng nhất của hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa
là làm cho các ý nghĩa văn hóa, tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp lan tỏa vào cộng đồng, tiếp tục duy trì sức sống của nó trong đời sống tinh thần cộng đồng, góp phần quan trọng vào hoạt động giáo dục truyền thống và đặc biệt là giữ gìn bản sắc dân tộc trong thế giới tôn trọng đa dạng
Trang 25văn hóa hôm nay, tạo cơ sở, bản lĩnh cho giao lưu, tiếp biến, phát triển văn hóa, phục vụ cho sự tiến bộ xã hội
Trong phương pháp nhằm phát huy tốt nhất giá trị của di sản văn hóa thì phương pháp kết hợp giữa bảo tồn và phát huy đạt hiệu quả cao Nếu chúng ta chỉ bảo tồn, không sử dụng, không đưa các giá trị văn hóa vào cuộc sống thì không thể phát huy di sản văn hóa và thời gian sẽ làm di sản mai một
đi, có thể rơi vào tình trạng bị lãng quên Chỉ khi giá trị các di sản văn hóa được phát huy thì chúng ta mới có cơ sở, căn cứ làm điều kiện để bảo tồn
1.3.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa Giữa bối cảnh sau chiến tranh, đất nước còn gặp khó khăn, thử thách và nhiều nhiệm vụ chính trị cần được quan tâm thực hiện hàng đầu Đảng và Nhà nước ta đã xác định xây dựng văn hóa là nhiệm vụ then chốt quan trọng và vấn đề giữ gìn di sản văn hóa dân tộc được đặt ra thực hiện Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam
Ngày 29/10/1957, Nghị định số 519-TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Thủ tướng Chính phủ công bố đã tạo điều kiện cho ngành Văn hóa thông tin tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở các tỉnh và thành phố toàn miền Bắc; giúp bảo
vệ những di tích quan trọng nhất của đất nước như Đền Hùng, cổ Loa, Văn Miếu, Bãi Cọc Bạch Đằng; xây dựng được hệ thống bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Hải Phòng, Bảo tàng Việt Bắc và nhiều bảo tàng khác ở cơ sở
Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội đồng Nhà nước công bố ngày 31/3/1984, đó chứng tỏ sự quan tâm của Đảng
và Chính phủ đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc
Công cuộc đổi mới là một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước Những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, ở đó,
Trang 26thay vì nền kinh tế quan liêu, bao cấp, Đảng và Nhà nước ta đó chủ trương thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường - nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có nhiều thành phần tham gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Để có những thay đổi mang tính chất cách mạng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa, Đảng và Nhà nước ta đó ban hành hàng loạt các chủ trương, định hướng, luật, chính sách; những văn bản có tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của di sản văn hóa
Năm 1986, trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI đưa ra khái niệm Bản sắc văn hoá dân tộc Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định trách nhiệm của Nhà nước
và xã hội trong bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân
Tháng 11 năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII họp Hội nghị lần thứ 4 đó dành riêng một Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ trong những năm trước mắt Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng, có một định hướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản là phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VIII)
ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Toàn bộ tinh thần của Nghị quyết đó làm sáng lên bức tranh của nền văn hoá đất nước trong tương lai Đó là nền văn hoá với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, gắn với những vấn đề nảy sinh trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường Đây là nghị quyết về chiến lược văn hóa của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và toàn cầu hóa Nghị quyết nhấn mạnh:
Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức
Trang 27độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hành động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mỗi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội [16, tr.54]
“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể” [16, tr.371]
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, hàng loạt các giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân đã ra đời Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998, của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội đã dẫn đến việc ra đời Thông tư số 04/1998/TTg-BVHTT ngày 11/7/1998 của Bộ Văn hóa thông tin hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Hệ thống pháp luật có liên quan đến di sản văn hóa truyền thống, như những văn bản được cụ thể hóa bằng các luật như Luật Di sản văn hóa, bằng các quy chế như Quy chế tổ chức lễ hội Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đó tiến hành đầu tư qua Chương trình Quốc gia có mục tiêu về văn hóa cho việc nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các giá trị di sản văn hóa, nhờ
đó, huy động được sự quan tâm của cộng đồng đối với các di sản văn hóa
Ngày 19/1/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg về các chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, trong đó
Trang 28xác định phát triển văn hóa truyền thống mang bản sắc dân tộc Việt Nam là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân
Tại văn bản số 4739/KG - TW ngày 26/8/1994, Thủ tướng Chính phủ
đó cho phép Bộ văn hóa thông tin triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia Đây là sự thể hiện một sự đầu tư đúng hướng, trên cơ sở các định hướng chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa
Để triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII và các quyết định của Chính phủ trong lĩnh vực di sản văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin đó ban hành:
- Công văn số 4432/VHTT-BTBT ngày 20/10/1998 của Bộ văn hóa thông tin hướng dẫn tăng cường quản lý cổ vật
- Công văn số 488/2/VHTT-BTBT ngày 18/11/1988 của Bộ văn hóa thông tin hướng dẫn việc đăng ký kiểm kê, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
- Chỉ thị số 60/CT-BVHTT ngày 6/5/1999 của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin về việc tăng cường quản lý và bảo vệ di tích
Đến Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hoá tiếp tục được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; nhấn mạnh vị trí, vai trò của văn hoá trong lịch sử phát triển của dân tộc ta; khẳng định sức sống lâu bền của những quan điểm, tư tưởng nêu trong nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta Về ý nghĩa “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội”, Nghị quyết nhấn mạnh đó là tầm cao, chiều sâu của sự phát triển của
dân tộc, khẳng định và làm rõ vị trí của văn hoá trong đời sống dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Tại hội nghị Trung ương 10 khoá IX, Ban Chấp hành Trung ương đã tổ chức kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII và ra kết luận tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá làm nền tảng tinh thần xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt
Trang 29Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển kinh tế xã hội Làm cho văn hoá thấm sâu và mọi lĩnh vực đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá Việt Nam Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hoá
Đại hội XI, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa được đúc kết cô đọng hơn,
cụ thể hơn, tập trung vào 4 nội dung quan trọng, trong đó nhiệm vụ thứ hai là:
Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước… [72]
Đối với văn học, nghệ thuật hay bảo tồn phát huy các di sản văn hóa cũng phải có mục tiêu cụ thể, nhằm đạt tới kết quả cuối cùng là có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thực sự phát huy chức năng giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho công chúng, nâng cao ý thức dân tộc, trách nhiệm của mỗi người với những giá trị đó
Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 14/6/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Các khái niệm,
nội dung của di sản văn hóa; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính
sách biện pháp chủ yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ di sản; trách nhiệm của cơ
Trang 30quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân và của toàn xã hội trong việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc; giải thích các từ ngữ về di sản văn hóa và bảo vệ, phát huy di sản văn hóa; xác định quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý
và các hình thức sở hữu khác đối với di sản văn hóa; những mục đích sử dụng
và phát huy giá trị di sản văn hóa; các điều cấm nhằm bảo vệ di sản văn hóa đó được đề cập đến Bên cạnh đó, trong văn bản luật này có các chương đề cập đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa; việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; di sản văn hóa vật thể; việc quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; việc khen thưởng và xử lý vi phạm; và các điều khoản thi hành
Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ văn hóa thể thao ký Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32 di tích ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020
Dự án này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể và bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở nước ta hiện nay
1.4 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia dân tộc cần phải hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc để tạo nền tảng tinh thần cho phát triển Văn hóa cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế và văn hóa là hai yếu tố tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau Do đó, bảo tồn di sản văn hóa không được cản trở, mà ngược lại, cũng phải tạo ra động lực cho phát triển xét dưới góc độ tác động tới việc hình thành nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ trực tiếp cho phát triển
Di sản văn hóa là tài sản, là nguồn lực, là tài nguyên cần gìn giữ, bảo vệ
và khai thác để phát triển kinh tế - xã hội Di sản văn hóa được xác định là bộ
Trang 31phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người, là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai thác không có sự kiểm soát chặt chẽ) Công tác bảo tồn và trùng tu di tích chính là hoạt động nhằm vào việc giữ gìn ngọn lửa truyền thống văn hóa và đem đến ý nghĩa sinh động cho khái niệm truyền thống
Trong xã hội hiện đại, khi mà những giá trị văn hóa mới được du nhập cùng với tiến trình toàn cầu hóa thì di sản văn hóa đứng trước một thách thức lớn trong nguy cơ bị mai một hoặc mất đi vĩnh viễn Nhằm để biến cái mới thành nguồn lực nội sinh của một dân tộc, văn hóa phải trải qua sự giao lưu tiếp biến và kế thừa, hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này
Thứ nhất: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là hoạt động thiết thực giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao ý thức dân tộc và niềm
tự hào truyền thống lịch sử của dân tộc
Di sản văn hóa không tự nhiên mà có, nó được hình thành bởi con người trong một giai đoạn lịch sử, tự nhiên nhất định Di sản văn hóa là tinh hoa của văn hóa, thể hiện bản sắc của văn hóa của dân tộc, bảo tồn di sản văn hóa là khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, bởi nó là chân dung, cội nguồn, bản chất của một dân tộc - yếu tố nội lực cho sự phát triển của một dân tộc Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc chính là sự khai thác, phát huy nguồn nội lực
ấy, trong đó di sản văn hóa có vị trí rất quan trọng và hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản mục đích cuối cùng là sự phát triển của dân tộc
Trong quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế, nhiều mặt mang tính toàn cầu hóa chi phối đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, trong đó tình trạng phai nhạt lý tưởng dân tộc, niềm tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc bị suy giảm đang nhen nhóm diễn ra Bảo tồn và phát huy những vốn quý của dân tộc sẽ làm cho cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về truyền thống, lịch sử của dân tộc, nâng cao bản lĩnh sống, tránh được những tác động không mong
Trang 32muốn từ bên ngoài Từ đó ý thức xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước được nâng lên và sự phát triển của dân tộc là thực tế khách quan có thể nhìn thấy
Thứ hai: Hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tạo ra nền móng vững chắc cho việc xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nguồn lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Di sản văn hóa - bộ phận quan trọng hợp thành nền tảng tinh thần của
xã hội Di sản văn hóa thường gắn kết với cộng đồng xã hội ở những cấp độ khác nhau Có di sản của một gia đình, một dòng họ, một làng, bản, một tộc người…nhưng quan trọng nhất di sản văn hóa là của dân tộc - quốc gia vì đó là cộng đồng chính trị - xã hội hình thành trên cơ sở đoàn kết của số đông người, cùng chung lưng đấu cật với nhau trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Sức mạnh thần kỳ của dân tộc phải tìm trong văn hóa dân tộc mà nền của nó là vốn di sản văn hóa Trong xã hội hiện đại, di sản văn hóa được quan niệm không phải như những biểu tượng hoài niệm về quá khứ, mà như một lực cố kết cộng đồng trong cuộc đấu tranh vì sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
Di sản văn hóa dân tộc - nguồn lực phi vật thể của sự phát triển kinh tế
- xã hội Di sản văn hóa có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, là kết tinh của trí
tuệ, tư tưởng, thẩm mỹ của các thời kỳ khác nhau, được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên bề dày văn hóa, tác động đến con người hiện đại Di sản văn hóa như một nguồn lực phi vật thể trong phát triển kinh tế
Di sản văn hóa một mặt đảm bảo sự vận thông của truyền thống, mặt khác ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, nhân cách, thông tin, sự tích lũy, bảo quản kinh nghiệm lịch sử Đặc biệt, tính nhân bản của các giá trị di sản văn hóa, các giá trị tinh thần truyền thống khi được nuôi dưỡng trong tâm hồn dân tộc sẽ góp phần điều chỉnh hành vi con người,
có tác dụng hạn chế những tiêu cực, những mặt trái của cơ chế thị trường đang làm xói mòn nền tảng đạo đức, tinh thần xã hội hiện nay Đồng thời giá trị văn hóa thâm nhập vào con người, khiến nó trở thành một nhân cách thích hợp có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 33Di sản văn hóa còn đóng vai trò là nguồn lực trực tiếp tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với tư cách là chủ thể trong hoạt động
du lịch văn hóa Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu đó cùng
với nguồn di sản văn hóa vô cùng phong phú ở các địa phương đó và đang trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, những điểm đến của du khách trong và ngoài nước, đem lại nguồn lợi đáng kể cho người dân và đóng góp đáng kể vào ngân sách quốc gia, phát triển các ngành nghề, dịch vụ du lịch, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa khác
Bảo tồn và phát huy di sản đóng một vại trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, điều chỉnh hành vi của cá nhân, thúc đẩy
sự cống hiến của mỗi cá nhân, tạo thành sức mạnh tập thể góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển chung của mỗi dân tộc
Thứ ba: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tạo cơ sở vững chắc để văn hóa được giao lưu, tiếp biến và là điều kiện đảm bảo cho dân tộc ta, hội nhập, hợp tác và phát triển
Di sản văn hóa thúc đẩy giao lưu, tiếp biến văn hóa, làm cho văn hóa dân tộc và nhân loại phát triển đa dạng Giao lưu, tiếp biến văn hóa là một hiện tượng mang tính quy luật trong quá trình phát triển của các nền văn hóa
và là quy luật sống của văn hóa Văn hóa có tính bền vững và ổn định tương đối nhưng yêu cầu phát triển và tiến bộ, nó cũng luôn luôn đòi hỏi có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa thường xuyên Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh Việc xử lý tốt mối quan hệ này đòi hỏi mỗi dân tộc, tộc người chủ thể phải có bản lĩnh văn hóa nhất định Bản lĩnh này cần được
và biểu hiện ra trên cơ sở bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc Như vậy, muốn tiếp biến, sáng tạo văn hóa mà giữ được bản sắc văn hóa riêng, mỗi quốc gia, dân tộc phải chủ động thực hiện quá trình đó trên cơ sở di sản văn hóa của quốc gia, dân tộc mình Di sản văn hóa chứa đựng bản sắc văn hóa - đóng vai trò như một hệ tiêu chí lựa chọn các giá trị văn hóa ngoại sinh, điều chỉnh quá trình tiếp xúc văn hóa để tạo thành các giá trị văn hóa mới, vừa bảo
Trang 34tồn được bản sắc, vừa đảm bảo tính chất tiến bộ Như vậy di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong phát triển văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy quy luật giao lưu, tiếp biến văn hóa được vận thông
Từ những vai trò cơ bản trên của di sản văn hóa, chúng ta lại càng thấy
rõ vai trò của hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong xã hội hiện đại Trong giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Việt Nam và giữa Việt Nam với thế giới, di sản văn hóa là cơ sở để khẳng định niềm tự hào dân tộc, bản lĩnh văn hóa trong giao lưu và là nguồn vốn để quảng bá, giới thiệu những thành tựu văn hóa ra quốc tế Trong giao lưu văn hóa, hệ quả tất yếu là bản sắc văn hóa của các dân tộc được phát huy, văn hóa phát triển, giàu có thêm; văn hóa dân tộc và nhân loại phát triển vừa đa dạng, vừa thống nhất Trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội chúng ta cần phải xem trọng nhiệm vụ bảo tồn các di sản văn hóa Mặt khác, khi khai thác các giá trị kinh tế từ di sản văn hóa phải chú ý cùng lúc đến hai chức năng kinh tế và văn hóa của di sản văn hóa, vận dụng có ý thức và hiệu quả hai chức năng này vì mục tiêu phát triển bền vững Nếu chúng ta chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế mà không quan tâm đến bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa, hậu quả có thể dẫn đến sự biến dạng và phá hủy di sản vô giá của đất nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
1.5 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HẬU LỘC- TỈNH THANH HÓA
1.5.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội của huyện Hậu Lộc
Theo các sách địa chí và địa danh được viết trong thời Lê và thời Nguyễn thì từ thời Trần về trước, huyện Hậu Lộc có tên là Huyện Thống Binh, thời thuộc Minh (thế kỷ XIV) đổi là Thống Ninh (thuộc Ái Châu, phủ Thanh Hoá), sang thời Lê được gọi là huyện Thuần Hữu thuộc phủ Hà Trung Đến thời Lê Trung Hưng do tránh tên húy của vua Lê Chân Tông mà huyện Thuần Hữu được đổi thành Thuần Lộc Về sau lại đổi chữ Thuần thành chữ Phong và gọi là huyện Phong Lộc Đến năm Minh Mệnh thứ hai (1821) mới
Trang 35thay chữ Phong bằng chữ Hậu và gọi là huyện Hậu Lộc Như vậy có tên Hậu Lộc chỉ mới gần 200 năm nay [40, tr.6]
Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên: Hậu lộc là một huyện đồng bằng ven
biển, nằm phía Đông Bắc tỉnh Thanh Hoá Phía Bắc, Hậu Lộc giáp với Hà Trung và Nga Sơn, phía Nam và phía Tây giáp với Hoằng Hoá, phía Đông là biển Hậu Lộc có diện tích tự nhiên 146,6 km2 Dân số tính đến năm 2013 là 171.500 người, mật độ dân số 1.212 người/km2 Địa hình Hậu Lộc chia thành 3 vùng: Vùng đồi, vùng đồng và vùng biển [61, tr.3]
Hậu Lộc có 12 km bờ biển, từ cửa Lạch Sung ở phía Bắc đến cửa Lạch Trường ở phía Nam Các xã có biển gồm Đa Lộc, Minh Lộc, Hưng Lộc, Ngư Lộc, Hải Lộc Cách bờ 4 km về phía Đông bắc có Hòn Nẹ diện tích 1 km2 [61, tr.3]
Hậu Lộc có 4 sông chính: Sông Lèn, sông Lạch Trường, sông Trà Giang và sông Kênh De Sông Lèn là một nhánh của sông Mã chảy theo hướng Tây - Đông, bắt đầu từ ngã ba Bông về đến cửa Lạch Sung Sông có chiều dài qua huyện là 36 km với 34 km đê Sông Lèn ở phía Bắc huyện là biên giới tự nhiên giữa Hậu Lộc và Hà Trung Sông Lạch Trường có chiều dài qua huyện là 14km với 12 km đê [61, tr.5]
Hậu Lộc nằm trên trục đường chính của giao lưu Bắc - Nam, có 6 km đường Quốc lộ 1A và đường sắt từ Lèn tới Nghĩa Trang; đây cũng là điều kiện tốt để Hậu Lộc mở mang và giao lưu với các vùng để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Về lịch sử: Hậu Lộc là một huyện có bề dày về lịch sử và truyền thống
văn hoá Năm 1976 các nhà khảo cổ học đó phát hiện ở Phú Lộc di chỉ văn hoá Gò Trũng, có niên đại cách đây 5000 năm Việc phát hiện di chỉ Gò Trũng đã giúp cho ngành khảo cổ học có thêm những tư liệu cần thiết và quan trọng để nghiên cứu và lí giải con đường phát triển từ văn hóa Hòa Bình đến
văn hóa Đa Bút, văn hóa Hoa Lộc và văn hóa Đông Sơn Việc phát hiện
xương động vật gồm xương bò, lợn, chó, các loại xưong cá, vỏ sò…chứng tỏ con người tiền sử ở Hậu Lộc sớm phát triển nền văn minh lúa nuớc, chăn nuôi, đánh bắt cá [61, tr.11]
Trang 36Hậu Lộc có tư cách là một đơn vị hành chính cách đây chừng trên dưới
700 năm Các sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi, "Đại Nam Nhất Thống chí", sách "Các tổng trấn, xã danh bị lãm" viết thời Gia Long đều khẳng định
điều đó Từ thời Trần về trước, Hậu Lộc có tên là Thống Bình, thời thuộc Minh (thế kỷ 14) đổi thành Thống Ninh; sang thời Lê (Hậu Lê) đổi thành Thuần Hựu Thời Lê Trung Hưng (cuối hậu Lê) do tránh tên húy của Vua, nên đổi thành
Thuần Lộc, sau đổi thành Phong Lộc Đến thời Minh Mạng thứ 2 (1811) đổi
thành Hậu Lộc Như vậy, Hậu Lộc đã qua 7 lần đổi tên [61, tr.12]
Về kinh tế: Từ các đặc điểm địa hình tự nhiên như trên, ngày nay Hậu
Lộc hình thành 3 vùng kinh tế: Kinh tế vùng đồng, kinh tế vùng biển, kinh tế vùng đồi, với cơ cấu kinh tế: Nông - Ngư, Diêm - Công - Dịch vụ
Kinh tế nông nghiệp: Ứng với vùng đồng: 26/27 xã có đồng (trừ Ngư Lộc
chuyên đánh cá) Bốn xã phía Tây là Châu Lộc, Triệu Lộc, Đại Lộc, Đồng Lộc vừa có kinh tế đồng, vừa có kinh tế đồi 5 xã phía đông là Đa Lộc, Hưng Lộc, Ngư Lộc, Hải Lộc, Hoà Lộc vừa có kinh tế đồng vừa có kinh tế biển
Tổng diện tích đất trồng trọt của Hậu Lộc là 17.168 ha Đồng đất Hậu Lộc vào loại tốt Từ năm 1919 ông BRERTON (người Pháp) đã viết: "Các huyện Yên Định, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Đông Sơn có nhiều ruộng nhất đẳng hơn cả” [30, tr.134] Kinh tế đồng là kinh tế trọng yếu của huyện, hàng năm sản xuất
ra lượng lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng hơn 80% kinh tế toàn huyện
Kinh tế biển: Hậu Lộc có 12 km bờ biển, trong đó các xã Đa Lộc, Hưng
Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc, Hoà Lộc vừa làm ruộng (kinh tế đồng) vừa đánh cá
(kinh tế biển) Riêng Ngư Lộc chuyên đánh cá Hai xã Hải Lộc và Hoà Lộc vừa có
đánh cá, vừa làm muối Nghề đánh cá ở Hậu Lộc có từ lâu đời và khá phát triển
Sách "Lơ Thanh Hoa" viết: "Nghề đánh cá phát triển ở các đào hòn Nẹ, hòn Sụp, đối diện với Lạch Trường và quanh các đảo phía nam của tỉnh" [30, tr.149]
Hậu Lộc còn có trên 100 ha đồng muối ở 2 xã Hải Lộc và Hoà Lộc Ven biển cũng có diện tích mặt nước lợ để nôi trồng hải sản, đó đưa vào sử dụng 80 ha, 500 ha bãi bồi ở Đa Lộc, đó đưa vào sử dụng 300 ha, trồng sú vẹt
và 60 ha cói [61, tr.9]
Trang 37Kinh tế đồi: Hậu Lộc có 1.485 ha đồi núi, tập trung chủ yếu ở các xã
phía tây, như: Châu Lộc, Triệu Lộc, Đại Lộc, Đồng Lộc, Tiến Lộc phù hợp với trồng các loại cây công nghiệp như: Chè, Sở, Sắn, các loại cây ăn quả, các loại cây lấy gỗ, củi [61, tr.9]
Ngành nghề và dịch vụ: Hậu Lộc có một số nghề truyền thống trong đó điển hình là nghề rèn ở Tiến Lộc Không chỉ làm các sản phẩm truyền thống như công cụ cầm tay phục vụ nông nghiệp và đời sống nhân dân, giờ đây Tiến Lộc phát triển nhiều nghề mới, nhiều sản phẩm mới như: Dập bản lề, hàn
khung cửa, đục mặt sàng máy xay xát, máy nghiền, cán thép Tuy mới phát
triển trong những năm gần đây, nhưng dịch vụ đã phát huy mạnh mẽ ưu thế
và tác động của nó Dịch vụ ở Hậu Lộc chủ yếu là buôn bán nhỏ Đến nay đã xuất hiện nhiều hình thức dịch vụ mới như: vui chơi giải trí, vật liệu xây dựng, cửa hàng ăn uống, nghiền, xát Hiện nay Hậu Lộc có 2 trung tâm thương mại, 03 nhà máy may, khâu bóng và hàng chục hợp tác xã dịch vụ mới ra đời Dịch vụ phát triển mạnh ở Thị trấn, Chợ Phủ, Ngư Lộc, Minh Lộc, Hoà Lộc
1.5.2 Đặc điểm văn hóa huyện Hậu Lộc
1.5.2.1 Văn hóa Hậu Lộc - một không gian tiểu vùng văn hóa xứ Thanh
Thanh Hoá - Xứ Thanh không phải là tứ trần nội kinh (Xứ Bắc, Xứ Đông, Xứ Đoài, Xứ Nam vây quanh Thăng Long xưa, tương ứng với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tiếp giáp với Hà Nội ngày nay), mà là ngoại trấn, là trại, là đất phên dậu, là vùng ngoại vi của trung tâm văn hoá - chính trị Thăng Long hay Huế - Phú Xuân Vị trí địa chính trị, địa văn hoá này cũng tạo cho Xứ Thanh - Thanh Hoá những sắc thái văn hoá mang tính đặc thù
Hậu Lộc là một huyện của tỉnh Thanh Hóa, hội tụ gần như đầy đủ các đặc điểm về địa lý: có đồi núi, biển, đồng bằng Lịch sử hình thành và phát triển của Hậu Lộc đã trải qua hơn 4.000 năm từ khi khai quật di chỉ khảo cổ Hoa Lộc thuộc lớp văn hóa Đông Sơn Đặc thù nghề nghiệp cùng với phương thức sản xuất và giao tiếp thường ngày đã tạo nên một đặc điểm văn hóa riêng biệt có phần tiêu biểu của vùng quê Hậu Lộc Hậu Lộc được xem như một
Trang 38Thanh Hóa thu nhỏ vì nó đầy đủ các đặc trưng vốn có của tỉnh và vì thế văn hóa Hậu Lộc được xem như một bộ phận tiêu biểu của văn hóa xứ Thanh Văn hóa Hậu Lộc mang đậm nét của vùng đồng bằng ven biển, con người nơi đây có tính cần cù, chịu khó của văn hóa nông nghiệp, sức chịu đựng, hoài bão lớn của văn hóa ngư nghiệp Huyện Hậu Lộc là nơi gìn giữ và phát huy được một số lễ hội truyền thống và du nhập một số lễ hội hiện đại mang tính tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa
Hậu Lộc cũng là một vùng đất lịch sử lâu đời Có lẽ hiếm có vùng đất nào của Thanh Hoá lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử, từ tối cổ đến tận ngày nay Do vậy, thiên nhiên và văn hoá Hậu Lộc đều thấm đượm sắc màu lịch sử Văn hóa Hoa Lộc là văn hoá khảo
cổ thuộc sơ kỳ thời đại kim khí, phát hiện ở huyện Hậu Lộc, phân bố chủ yếu
ở vùng ven biển, có niên đại khoảng 4.000 năm Về mặt di vật đồ đá, đồ gốm của văn hoá Hoa Lộc có mối quan hệ với các nền văn hoá ven biển khác ở nước ta, như văn hoá Hạ Long ở phía bắc và Bàu Tró ở phía nam Người ta giả thuyết rằng có thể cư dân Hoa Lộc và các văn hoá ven biển khác cùng thời thuộc về tổ tiên của cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo
Là một huyện ven biển ở bắc miền Trung, Hậu Lộc như là cửa ngõ đón gió bão, đổ vào Thanh Hoá Hàng năm trung bình có từ 1 - 2 trận bão, có năm lên đến 3 - 4 trận, từ 3 - 4 trận lũ sông và lũ đồng Bão tố, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh
đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân Sống trong điều kiện tự nhiên đó, đòi hỏi con người Hậu Lộc từ xa xưa phải cố kết với nhau, phải vươn lên để đấu tranh với thiên tai, địch hoạ để trụ lại và khai phá mảnh đất vừa mẫu mỡ, vừa khắc nghiệt này Với sức mạnh nội lực, với ư ý chí kiên cường, trải qua hàng ngàn năm, nhân dân Hậu Lộc đã bền bỉ lao động sáng tạo, xây dựng nên những xóm làng, những cánh đồng đẹp đẽ, tươi tối như ngày nay
Bước vào thời kỳ lịch sử của dân tộc, trên mảnh đất Hậu Lộc cũng để lại nhiều dấu ấn quan trọng Khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) lấy căn
cứ chính là vùng Triệu Lộc thuộc huyện Hậu Lộc, nổ ra năm 248 được nhân dân cả quận Giao Chỉ và Cửu Chân hưởng ứng, giết chết viên thứ sử Giao
Trang 39Châu, khiến sử Ngô cũng phải ghi chép: Năm 248 "toàn thể châu Giao đều chấn động" [27, tr.18] Cuộc khởi nghĩa cuối cùng thất bại trước sự đàn áp dã man của kẻ thù Tuy nhiên hình ảnh và sự tích về Bà vẫn không phai nhạt trong tâm tưởng của nhân dân
Hậu Lộc là vùng đất có nhiều sự kiện và nhiều nhân vật nổi tiếng trong trường kỳ lịch sử chinh phục cải tạo thiên nhiên đấu tranh, xây dựng xã hội, chống xâm lược bảo vệ quê hương đất nước, Hậu Lộc đã sinh ra không ít những người con ưu tú, những nhân vật xuất sắc trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá ), có thể kể ra một số nhân vật sau:
- Ông Mai Phúc Trường, tương truyền là một bô lão nổi tiếng của Hậu Lộc trong thời Trần, đã từng tham gia hội nghị Diên Hồng lịch sử và có nhiều thành tích xuất sắc trong thời kỳ chống quân Nguyên Mông xâm lược [61, tr.13]
- Ông La Tu ở thôn Hữu Nghĩa (Xuân Lộc) đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa thi Giáp Dần (1374) đời vua Trần Duệ Tông, niên hiệu Long Khánh thứ hai (cùng khoa với Nguyễn Ưng Long cha của Nguyễn Trãi)
La Tu đã từng làm tri phủ Thanh Hoá và là hậu duệ của ấp Lãng chân nhân đại vương La Viên (người có công và có tài dẹp sóng thần ở cửa bể Thần Phù, giúp vua Lý Thái Tông trong cuộc vượt biển chinh phạt Chiêm Thành năm Giáp Thân (1044) [61, tr.14]
- Lê Niệm: Quê ở xã Duy Tinh, huyện Thuần Hựu (nay là xã Văn Lộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá Ông là cháu ba đời của Lê Lai, người đã có công hy sinh để cứu Lê Lợi Với nhiều công trạng, năm 1960 ông được thăng chức thượng tướng quân, tước kỳ đình hầu, được tham dự triều chính (bàn việc nước) và bàn quốc tính họ vua, sau được phong chức thái bảo, tước Kỳ quận công Năm 1482 ông được thăng thái phó, Tỉnh quốc công [61, tr.16]
Nhìn chung Hậu Lộc mang đậm nét văn hóa đồng bằng ven biển, từ thời kỳ sơ khai đồ đá đến thời kỳ hiện đại Do đặc điểm cơ cấu ngành nghề, vùng kinh tế đa dạng nên văn hóa Hậu Lộc cũng mang tính đa dạng Yếu tố hội tụ đầy đủ đồi, đồng bằng, biển đã tạo cho Hậu Lộc một ưu thế lớn về việc giao lưu tiếp biến văn hóa, tạo nên văn hóa Hậu Lộc phong phú, đa màu sắc và là một bộ phận tiêu biểu của văn hóa xứ Thanh
Trang 40Có thể nói rằng yếu tố chính có tác động mạnh mẽ đến nguồn gốc hình thành và phát triển của một nền văn hóa là tổ chức cộng đồng và điều kiện tự nhiên sinh ra đặc thù nghề nghiệp Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đưa ra:
“Bởi văn hoá là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt về văn hoá chính là do những khác biệt về điều kiện tự
nhiên (địa lý- khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) quy định” [51, tr.48] Với
cách nhìn như vậy, tác giả đã lần tìm ra mối quan hệ ảnh hưởng, chi phối giữa các mặt, theo thứ tự: điều kiện tự nhiên, môi trường sinh tồn - nghề nghiệp - đời sống - tâm lý, quan niệm…với văn hoá; trong đó, tự nhiên - môi trường là xuất phát điểm
1.5.2.2 Vùng văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước có đan xen văn hóa biển
Điểm xuất phát đầu trong lịch sử của Hậu Lộc là từ sơ kỳ thời đại kim khí khi phát hiện ra các dấu tích người Việt cổ tại di chỉ Hoa Lộc, các hiện vật khai quật được chủ yếu là cuốc đá, đồ đất nung, sành nên có thể khẳng định gốc khởi nguồn của văn hóa Hậu Lộc là từ nông nghiệp Hậu Lộc nói riêng, Thanh Hóa nói chung được xếp vào vùng văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ Cư dân ở đây sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần túy, biển và rừng bao bọc quanh vùng đồng bằng Người nông dân nơi đây đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển Ngoài cây lúa, người dân Hậu Lộc còn nhiều loại cây khác phù hợp với chất đất từng vùng và khí hậu từng mùa Mang nét văn hóa nông nghiệp lúa nước nên trong biểu hiện xã hội thể hiện rõ trong những phong tục, tập quá, tín ngưỡng và tổ chức xã hội theo trật tự
Đối với tổ chức cộng đồng: Dân cư Hậu Lộc sông định cư do nghề nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, tự nhiên và thời gian để chờ cây cối phát triển để thu hoạch Trong cách sống, người dân Hậu Lộc sống chân thật, trọng tình, trọng nghĩa, đoàn kết Họ luôn có ý thức tôn trọng nhau và lấy cái tình nghĩa làm đầu để cầu bình an, hòa thuận Trong gia đình thứ bậc được sắp xếp theo trật tự và có sự tuân thủ nghiêm ngặt của các thành viên trong gia đình ấy