1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ

123 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM THỊ LAN THANH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1 THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LÂM THAO,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ LAN THANH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1 THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN LÂM THAO, PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ LAN THANH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1 THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN LÂM THAO, PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH NGUYỄN KẾ HÀO

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng trong bất cƣ́ mô ̣t công trình nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015

Tác giả luận văn

Phạm Thị Lan Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, khoa Tâm lý - Giáo dục và các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tham gia quản lý, giảng dạy, tư vấn và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS TSKH Nguyễn Kế Hào - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo Lâm Thao, Ban giám hiệu, thầy cô giáo và các em học sinh trường tiểu học Cao Mại và các trường tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi điều tra thực trạng, thu thập thông tin, số liệu phục vụ luận văn

Dù đã có nhiều cố gắng, song do điều kiện và thời gian hạn chế nên trong luận văn của em chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được

sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015

Tác giả

Phạm Thị Lan Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1 THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC 9

1.1 Lược sử nghiên cứu các vấn đề 9

1.1.1 Phong trào xóa nạn mù chữ 9

1.1.2 Cuộc cải cách giáo dục lần 3: 11/1979 10

1.1.3 Đổi mới giáo dục năm 2001 - 2002 12

1.1.4 Sự ra đời của công nghệ giáo dục 13

1.2 Các khái niệm công cụ 21

1.2.1 Khái niệm quản lý 21

1.2.2 Chức năng của quản lý 22

1.2.3 Vai trò của quản lý 24

1.2.4 Quản lý giáo dục 25

1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học 26

1.3 Một số lý luận về dạy học Tiếng Việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục 34

1.3.1 Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giáo dục cấp tiểu học 34

Trang 6

1.3.2 Bản chất của dạy và học tiếng Việt lớp 1 theo phương án CGD 36

1.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý dạy học Tiếng Việt 1 - công nghệ giáo dục 42

1.4.1 Mục tiêu 42

1.4.2 Nội dung 42

Kết luận chương 1 45

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1 THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ 47

2.1 Một số nét về các trường Tiểu học tại Phòng giáo dục huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 47

2.1.1 Khái quát về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế - xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 47

2.1.2 Tình hình giáo dục và giáo dục tiểu học huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 48

2.2 Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD ở các trường tiểu học huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 48

2.2.1 Thực trạng năng lực giảng dạy môn Tiếng Việt 1 CGD của giáo viên 48

2.2.2 Thực trạng học tập môn Tiếng Việt 1 CGD của học sinh 50

2.3 Thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD tại các trường tiểu học huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 52

2.3.1 Khái quát quá trình điều tra 52

2.3.2 Kết quả điều tra 53

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD tại các trường tiểu học huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 66

2.4.1 Những ưu điểm 66

2.4.2 Những hạn chế 67

2.4.3 Nguyên nhân 68

Kết luận chương 2 70

Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1 THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC 71

3.1 Các nguyên tắc để đề xuất biện pháp 71

Trang 7

3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 71

3.1.2 Đảm bảo tính khả thi 71

3.1.3 Đảm bảo tính lợi ích 71

3.2 Đề xuất các biện pháp 71

3.2.1 Biện pháp 1: Tăng cường năng lực quản lý cho đội ngũ hiệu trưởng; nâng cao năng lực giảng dạy Tiếng Việt 1 CGD cho đội ngũ giáo viên 71

3.2.2 Biện pháp 2: Chỉ đạo thực hiện đúng phương pháp dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD 77

3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường quản lý việc học tập Tiếng Việt 1 CGD của học sinh tiểu học 80

3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường đầu tư và phát huy tác dụng của cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD 83

3.2.5 Biện pháp 5: Đẩy mạnh phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD 85

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89

3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 90

3.4.1 Quy trình khảo nghiệm 90

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 91

3.4.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất 94

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả điều tra về năng lực giảng dạy Tiếng Việt 1 CGD của GV 49

Bảng 2.2 Thống kê kết quả học tập môn Tiếng Việt 1 CGD năm học 2012-2013; 2013 - 2014 của học sinh huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 50

Bảng 2.3 Kết quả điều tra thái độ của học sinh đối với môn Tiếng Việt 1 CGD 51

Bảng 2.4 Kết quả điều tra về điều kiện học tập của học sinh 51

Bảng 2.5 Kết quả điều tra về quản lý công tác giảng dạy của giáo viên 55

Bảng 2.6 Kết quả điều tra về quản lý học tập của học sinh 61

Bảng 2.7 Kết quả điều tra về quản lý tác động của môi trường đến dạy học Tiếng Việt 1 CGD 64

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lýđề xuất 91

Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất 92

Bảng 3.3 Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD tại các trường tiểu học huyện Lâm Thao - Phú Thọ 95

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Chức năng của quản lý 24

Sơ đồ 3.1 Quan hệ giữa các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1

CGD tại các trường tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ 89 Biểu đồ 3.1 Biểu diễn tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các

biện pháp quản lý đề xuất 96

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, đồng thời có liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội về thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học và công nghệ,… và qua đó tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia Do đó bất cứ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù đang phát triển hay phát triển bao giờ cũng phải quan tâm đến giáo dục

Giáo dục được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân, vì lẽ đó có thể nói giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển và có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá xã hội Hiến pháp nước cộng hoà

xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam tại điều 35 quy định: "Giáo dục Đào tạo là

quốc sách hàng đầu" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định

“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [16] Tiếp

theo đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: “Nâng cao chất

lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học;

thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, "chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”

[18] Đại hội đã đặt ra những nhiệm vụ cụ thể cho ngành giáo dục và đào tạo, trong đó

đổi mới công tác quản lý giáo dục và đào tạo được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng của giáo dục và đào tạo Mặc dù vậy Giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây tuy đã đạt được một số thành quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.Trong báo cáo nghị quyết TW 9 khoá X (2009) đánh giá về giáo dục trong thời

gian gần đây nêu rõ “Chương trình, nội dung phương pháp dạy và học còn lạc hậu,

trình độ ngoại ngữ, tin học, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, khả năng thực hành, kỹ năng giao tiếp yếu, sau 5 năm giáo dục Việt Nam tụt 9 bậc, đứng vị trí 79/129 quốc gia được phân loại ” [19]

Trang 12

Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 - 2020 nhận định: “Phương pháp

giáo dục từ mầm non đến phổ thông đã được đổi mới nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế…

Phương pháp dạy học về cơ bản vẫn theo lối truyền thụ một chiều, đòi hỏi người học phải ghi nhớ máy móc, không phát huy được tư duy phê phán, tư duy sáng tạo và tinh thần tự học ở người học” [4]

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt trong điều kiện nước ta đã gia nhập WTO, vừa là thời cơ, vừa tạo ra thách thức to lớn đối với giáo dục nước ta.Trong bối cảnh đó, giáo dục phải được đổi mới mạnh

mẽ, phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo ở các bậc học, trong đó có bậc học tiểu học

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học xã hội, khối lượng kiến thức mà người học cần tiếp thu không chỉ tăng theo cấp số cộng mà tăng theo cấp số nhân,việc học tập

và lĩnh hội kiến thức không chỉ từ người dạy mà có thể từ nhiều kênh khác như internet, sách, báo, tivi,… do đó đòi hỏi mỗi cá nhân ngoài việc trang bị cho mình kiến thức phổ thông, kiến thức về chuyên môn còn phải trang bị cho mình các kĩ năng khác như tính năng động, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu và có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh,… điều đó buộc phương pháp dạy học phải được xem xét, đổi mới Học vấn mà nhà trường phổ thông trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải coi trọng việc dạy cách đi tới kiến thức của loài người, trên cơ sở đó tiếp tục học tập suốt đời Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra

từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người Phương pháp dạy học

Trang 13

trong nhà trường phải phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh, cung cấp cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này

Để nâng cao chất lượng giáo dục, trước hết những người làm công tác quản lý giáo dục phải có nhận thức đầy đủ mục tiêu, nội dung, phương pháp của giáo dục trong thời đại mới, thời đại của công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật Chất lượng giáo dục chỉ có thể được nâng cao khi có sự đổi mới trong giảng dạy và quản lý các nhà trường phổ thông Đứng trước yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông hiện nay thì đổi mới quản lý giáo dục mang tính then chốt và việc đổi mới phương pháp là vấn

đề tiên quyết Đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu những vấn

đề cơ bản và chung nhất về quản lý đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Những thành tựu khoa học về các lĩnh vực trên đã được hầu hết cán bộ quản lý trường học vận dụng và mang lại những kết quả nhất định Tuy vậy, việc nghiên cứu về những biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ chưa được thực hiện nhiều

Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Do đó, môn Tiếng Việt có một vị trí rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 1

Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học, đồng thời

nó chi phối kết quả học tập của các môn học khác

Từ năm 1995, việc dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình của Trung tâm Công nghệ Giáo dục (TTCNGD) đã triển khai hiệu quả ở 43 tỉnh thành trên toàn quốc, ở cả vùng phát triển và vùng có nhiều học sinh dân tộc thiểu số

Đến năm 2000, do Luật Giáo dục quy định một chương trình, một bộ sách giáo khoa, nên việc dạy Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình của TTCNGD không được thực hiện Đến năm học 2006 - 2007, TTCNGD thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học trọng

Trang 14

điểm cấp Bộ “Hoàn thiện Công nghệ dạy Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiếu số

(HSDTTS) ở các tỉnh miền núi phía Bắc” Bản chất của Công nghệ giáo dục là tổ chức

và kiểm soát quá trình dạy học bằng một quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ sư phạm, để học sinh lớp 1 chiếm lĩnh được ngữ âm ngay từ đầu, biết cách phân tích ngữ âm, đọc thông viết thạo, nắm chắc các quy tắc chính tả, không tái mù chữ… Công nghệ giáo dục là công trình nghiên cứu của giáo sư tiến sĩ khoa học Hồ Ngọc Đại, bắt đầu thí điểm năm 1978 tại Trường phổ thông cơ sở Thực nghiệm (Hà Nội) Việc học tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết một cách vững chắc mà học sinh luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin; thông qua việc làm, thông qua các thao tác học Các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình

Quyết định số 2055/QĐ-BGDĐT ngày 12/6/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

về việc ban hành Kế hoạch triển khai dạy học Tiếng Việt lớp 1- Công nghệ giáo dục năm học 2014-2015 là Tiếp tục chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng, định hướng phát triển năng lực; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học; tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống; chỉ đạo triển khai hiệu quả mô hình trường tiểu học mới VNEN, nhân rộng áp dụng từng thành tố theo điều kiện từng trường; đổi mới đồng bộ phương pháp dạy, phương pháp học và kiểm tra, đánh giá; áp dụng dạy học theo tài liệu Tiếng Việt lớp

1 - Công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học; tích cực triển khai dạy học ngoại ngữ theo chương trình mới ở những trường đủ điều kiện; duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; đẩy mạnh xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 và tổ chức dạy học 2 buổi/ngày Đổi mới mạnh

mẽ công tác quản lí chỉ đạo, xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục;

đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí

Để tìm hiểu, phân tích và đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quản lý hoạt động dạy và học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học trong thời gian qua, đồng thời tìm kiếm những giải pháp góp phần

Trang 15

nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ

giáo dục, tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 theo

phương án Công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục ở các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ,

đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học Tiếng Việt lớp

1 theo phương án Công nghệ giáo dục

3 Giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục ở các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ đã thực hiện tương đối tốt Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương

án Công nghệ giáo dục vẫn còn có những vấn đề cần hoàn thiện để mang lại hiệu quả hơn Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp

1 theo phương án Công nghệ giáo dục sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt lớp 1

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động dạy học; quản lý hoạt động dạy học;

quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1

- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương

án công nghệ giáo dục ở huyện Lâm Thao, Phú Thọ

- Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án công nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án công nghệ giáo dục

Trang 16

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án công nghệ giáo dục

- Khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý cấp Phòng Giáo dục: 10; Cán bộ quản lý các nhà trường Tiểu học: 20; Giáo viên Tiểu học: 60

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án công nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Mục đích: Phân tích và tổng hợp các tài liệu lý luận quản lý, quản lý hoạt

động dạy học, quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục

- Nội dung: Tài liệu lý luận về quản lý, quản lý hoạt động dạy học, quản lý

hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục

- Cách thức tiến hành: Sưu tầm, hệ thống hóa, phân tích các tài liệu lý luận về

quản lý, quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục

5.2 Phương pháp điều tra

- Mục đích: Thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập ý kiến của các cán bộ quản lý các cấp,

giáo viên tiểu học tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ về quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại nhà trường

- Nội dung: Bảng hỏi được thiết kế xoay quanh các nội dung trong việc quản

lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học

- Cách thức tiến hành: Tiến hành phát phiếu hỏi tới các khách thể khảo sát về

vấn đề quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học

5.3 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Thu thập những số liệu khách quan và tin cậy về việc quản lý hoạt

động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học

Trang 17

- Nội dung: Quan sát quá trình dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công

nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ từ đó để đề ra các biện pháp quản lý đổi mới đồng bộ, hữu hiệu

- Cách thức tiến hành: Tiến hành quan sát thông qua quá trình dạy và học, các

số liệu thống kê về hiệu quả quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương

án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học

5.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Mục đích: Tổng kết các số liệu về hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 theo

phương án công nghệ giáo dục và quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ

- Nội dung: Thông qua việc tổng kết hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 theo

phương án công nghệ giáo dục và quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo

phương án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học qua các năm

- Cách thức tiến hành: Tiến hành tổng kết các số liệu khách quan từ các báo

cáo tổng kết hàng năm về việc dạy và học Tiếng Việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục và quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học

5.5 Phương pháp chuyên gia

- Mục đích: Thông qua trao đổi nhằm thu thập ý kiến của các nhà khoa học

chuyên môn sâu về dạy học Tiếng Việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục và quản

lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ

- Nội dung: Trao đổi về dạy học Tiếng Việt 1 theo phương án công nghệ giáo

dục và quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án Công nghệ giáo dục tại các nhà trường Tiểu học

- Cách thức tiến hành: Tổ chức toạ đàm, gặp riêng, trò chuyện

5.6 Phương pháp bổ trợ

Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu:

Sử dụng toán thống kê như số trung bình cộng, bình quân gia quyền, hệ số tương quan để xử lý các số liệu qua kết quả điều tra khảo sát, thu thập thông tin, trên

cơ sở đó rút ra các nhận xét khoa học khái quát Đồng thời từ kết quả thu được sơ đồ hóa kết quả nghiên cứu để minh họa

Trang 18

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học Tiếng việt lớp 1 theo

phương án công nghệ giáo dục

Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo phương án công

nghệ giáo dục tại các trường Tiểu học huyện Lâm Thao, Phú Thọ

Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo

phương án công nghệ giáo dục

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1

THEO PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC 1.1 Lược sử nghiên cứu các vấn đề

1.1.1 Phong trào xóa nạn mù chữ

Bình dân học vụ là phong trào xóa nạn mù chữ trong toàn dân, được Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động ngày 8 tháng

9 năm 1945 (sắc lệnh 19/SL và 20/SL) ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập

Phong trào này nằm giải quyết "giặc dốt" - một trong các vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam lúc bấy giờ (chỉ sau "giặc đói")

Năm 1945, khi Việt Nam giành được độc lập, 95% dân Việt Nam mù chữ Đây

là một trong các quốc nạn đối với một quốc gia mới giành độc lập

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội,

Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mở chiến dịch "Chống nạn mù chữ", vì "Một dân tộc

dốt là một dân tộc yếu"

Để phục vụ chiến dịch xóa nạn mù chữ, Nha bình dân học vụ được thành lập

ngày 18 tháng 9, khoá huấn luyện giáo viên Bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ

Chí Minh mở tại Hà Nội

Vì nhà nước non trẻ ngân sách thiếu thốn, phong trào dựa vào sức dân là chính

Ngân quỹ được chỉ dụng cho chương trình chỉ trả lương được tối đa 1.000 giáo viên, trong khi số giáo viên cần thiết tối thiểu là 100.000 Người đi học được miễn phí Giáo viên không nhận lương Mỗi tỉnh phải tự túc giáo viên Khi ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ dùng phấn hay gạch để viết xuống đất thay cho bút và giấy

Phong trào nhanh chóng lan rộng khắp cả nước Các lớp học bình dân được mở khắp nơi, trong nhà dân, đình chùa, miếu mạo, chỉ cần mấy chiếc ghế băng, ghế tựa đặt quanh bàn, quanh chiếc phản, cánh cửa, tấm ván mộc làm bảng đã thành lớp học

Các đội Nhi đồng cứu vong khua trống ếch cổ động người dân đi học Tại các nơi nhiều người qua lại, như các ngõ xóm, điếm canh, cổng đình, cổng làng, người ta treo nong, nia, mẹt, phên cốt, trên viết các chữ cái bằng vôi để ai đi qua cũng có dịp

Trang 20

nhẩm, ôn các chữ đã học Các câu văn vần miêu cả các chữ cái được sử dụng để người học dễ thuộc Ví dụ:

ô thì đội mũ, ơ thời thêm râu"

Xuất hiện nhiều ca dao, hò vè cổ động cho phong trào Bình dân học vụ Ví dụ:

"Hôm qua anh đến chơi nhà

Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa

Thấy nàng mải miết xe tơ

Thấy cháu "i - tờ" ngồi học bi bô

Thì ra vâng lệnh Cụ Hồ

Cả nhà yêu nước "thi đua" học hành"

Để thúc giục người dân học chữ, một số nơi còn dựng "cổng mù" ở đầu chợ

Người muốn vào chợ phải thử đọc chữ, ai đọc được thì được đi cổng chính, ai chưa đọc được thì phải qua "cổng mù" để vào chợ

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được hơn 22.100 lớp học với gần 30 nghìn giáo viên và đã dạy biết chữ cho hơn 500 nghìn học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả Đến cuối năm 1946, Bộ Quốc gia giáo dục báo cáo có 74.975 lớp với 95.665 giáo viên, riêng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã có 2.520.678 người biết đọc, biết viết

1.1.2 Cuộc cải cách giáo dục lần 3: 11/1979

Trong khi thực hiện những nhiệm vụ khẩn cấp trước mắt đối với giáo dục miền Nam và tiếp tục phát triển giáo dục ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ cũng khẩn trương chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục nhằm tiến tới một nền giáo dục quốc dân thống nhất phù hợp với chiến lược tái thiết và phát triển đất nước

Trang 21

Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, theo đó, những định hướng có tính nguyên tắc cho cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này là:

- Về mục tiêu giáo dục: Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ thuật và về văn hoá - tư tưởng); đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động phù hợp yêu cầu phân công lao động xã hội

- Về nội dung giáo dục, hướng vào việc “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện [đức, trí, thể, mỹ], tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ”

- Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội

Cuộc cải cách giáo dục lần này được triển khai bắt đầu từ năm học 1981-1982

Việc thay sách giáo khoa ở các cấp học phổ thông, một nhiệm vụ quan trọng nhất của cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba, đã hoàn thành vào năm 1996, tạo ra sự thống nhất

về giáo dục phổ thông trong cả nước Riêng về nội dung giáo dục, so với các chương trình giảng dạy và học tập trước đó, chương trình cải cách mang nhiều yếu tố hiện đại hơn, do đó tạo ra tiền đề chất lượng giáo dục có thể đạt tới trình độ cao hơn trước

Sách giáo khoa môn tiếng Việt 1 trong thời kỳ này được thiết kế để học luôn thay vì phải qua lớp “vỡ lòng” như trước Đặc biệt là phần dạy học sinh cách đánh vần khi đó được thiết kế mô phỏng theo hình quả trám:

Trang 22

1.1.3 Đổi mới giáo dục năm 2001 - 2002

Sách giáo khoa môn tiếng Việt lớp 1 trong thời kỳ này nhận được nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề dạy âm “e” trước Theo Thứ trưởng Bộ GD & ĐT Đặng Huỳnh Mai, không ít phụ huynh hoang mang vì cảm giác thứ tự bảng chữ cái bị đảo lộn Tuy nhiên, trật tự bảng chữ cái a, b, c, trong sách Tiếng Việt (tập 1) không có gì thay đổi Vấn đề là bắt đầu dạy các em đánh vần từ chữ cái nào là đơn giản nhất, thì bộ sách mới chọn chữ “e” Theo tác giả của cuốn sách thì khi viết không đòi hỏi tỉ mỉ, khi ghép vần được nhiều từ có nghĩa xuất hiện [61]

Theo Nguyễn Minh Thuyết, đến nay ta đã trải qua bốn lần thay SGK Việc thay sách ba lần trước gắn với công cuộc cải cách giáo dục Lần thứ tư thì không có cải cách mà chỉ là đổi mới chương trình

“Lần cải cách thứ nhất là năm 1950, trong kháng chiến chống Pháp Lần thứ hai là năm 1956 sau khi giải phóng miền Bắc, chúng ta tiến hành cải cách giáo dục để thống nhất lại nền giáo dục trong kháng chiến với nền giáo dục trong vùng bị tạm chiếm Chúng ta xây dựng nền giáo dục phổ thông 10 năm thay vì 9 năm như thời kháng chiến Năm 1979 chúng ta lại tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mới, thống nhất lại nền giáo dục chung cho cả đất nước, thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông

12 năm Đến năm 2002 ta chỉ thay đổi chương trình và SGK thông thường chứ không phải cải cách giáo dục” - ông cho biết

Cũng theo Nguyễn Minh Thuyết, so với những lần trước đây thì lần đổi mới SGK năm 2002 là “bài bản nhất” Những lần trước đây không hề có quyết định của Quốc hội hay Chính phủ, cũng không có bất kỳ chương trình nào được thông qua bởi các quyết định của cơ quan có thẩm quyền Các nhà khoa học, nhà giáo vừa viết sách vừa hình thành chương trình giáo dục

Còn năm 2002, ngành giáo dục xây dựng chương trình trước, biên soạn tài liệu dạy thử nghiệm bốn năm mới hoàn thành chương trình, rồi mới làm SGK chính thức

Nếu tính cả người viết sách, người thẩm định của cả ba cấp thì có tới 500 nhà khoa học tham gia biên soạn, thẩm định SGK

Tuy nhiên bộ sách được xem là công phu đó đã khiến nhiều lãnh đạo ngành GD-ĐT các tỉnh miền núi phía Bắc đau đầu khi nghĩ cách duy trì được kết quả phổ cập - xóa mù chữ [57]

Trang 23

1.1.4 Sự ra đời của công nghệ giáo dục

1.1.4.1 Quan điểm của các nhà Giáo dục Xô Viết

Từ giữa những năm 1970, quan điểm của các nhà giáo dục Xô Viết về tiếp cận công nghệ trong giáo dục đã được giới thiệu ở Việt Nam Nhà Giáo dục học Xô viết

Iacôplép N M (1975), với chuyên khảo Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong

trường phổ thông, đã xuất phát từ luận điểm của C Mác về lao động để đề cập đến

công nghệ học trong giáo dục Sau khi vận dụng quan điểm của C Mac rằng bất kì hình thức lao động nào cũng bao gồm ba nhân tố bắt buộc: (1) hoạt động có mục đích của con người, (2) đối tượng lao động và (3) phương tiện lao động để xem xét quá trình dạy học, tác giả Iacôplép N M lập luận rằng: có ba nhân tố tham gia vào quá trình dạy học: (1) giáo viên, người thực hiện việc dạy học, (2) đối tượng lao động của giáo viên - đó là học sinh và (3) phương tiện dạy học Trên cơ sở lập luận về tính công nghệ của quá trình lao động hay “công nghệ học của lao động”, tác giả Iacôplép N M

cho rằng “Dù hình thức lao động sư phạm này có tất cả những đặc điểm riêng của nó, song nó cũng phải tuân theo những yêu cầu của công nghệ học nhất định” và đã lưu ý rằng “cần phải nói về công nghệ học của công tác đức - trí dục, và như mọi người đều biết Ma-ca-ren cô A X đã từ lâu rất nhấn mạnh”

Sau khi nhấn mạnh đến tính chất công nghệ của quá trình dạy học như là quá trình công nghệ của hoạt động lao động của giáo viên, tác giả Iacôplép N M đã lưu ý đến tính chất đặc biệt của quy trình đó bởi đối tượng đặc biệt trong quy trình là học sinh

Ông cho rằng “học sinh không đơn thuần là đối tượng lao động tiếp nhận một cách thụ động lao động của giáo viên Trái lại, trong lúc sử dụng những kĩ xảo học tập mà nó đã tích lũy được hay đang được tích lũy thì học sinh cũng hành động và hành động một cách tích cực bởi vì nó cũng lao động mà người ta gọi là học tập, một cách phù hợp với khả năng nhận thức của mình trên cơ sở những quy luật nhận thức của trẻ” Hơn thế nữa, tác giả N.M Iacôplép, đã nhấn mạnh rằng: “Ý nghĩa của sự dạy học là ở chỗ làm thế nào để cho trẻ học tập, nghĩa là thực hiện được quy trình công nghệ của tri giác, chế biến, củng cố và vận dụng vào thực tiễn những kĩ năng và tri thức Xét theo quan điểm này, người hoạt động chính của quá trình học tập là học sinh, chính học sinh trực tiếp thực hiện quá trình công nghệ của sự phát triển và hoàn thiện của mình”

Trang 24

Từ đó, tác giả Iacôplép N M đã đề cập đến tính phức tạp và khó khăn của quá trình dạy học bởi lẽ “trong việc dạy học gồm có hai quá trình công nghệ chồng lên nhau:

quá trình “của giáo viên” và quá trình “của học sinh” Cả hai quá trình này diễn ra đồng thời, vì vậy, kết hợp được chúng với nhau một cách hài hòa là một việc khó” Ông đã nhận định rằng “Khoa sư phạm “nghèo nàn” của quá khứ không xa lắm, trong khi trói buộc trẻ vào công nghệ “giáo viên” nhưng lại không tính đến công nghệ nhận thức của trẻ, chỉ có thể phá vỡ và đã phá vỡ sự hài hòa này Rút cuộc học sinh chỉ là “đối tượng”

thụ động của quá trình dạy học, chúng biết ít và biết rất tồi, viễn cảnh không đủ sức lôi cuốn nó học tập” và từ đó ông đã khuyến nghị “làm sao để công nghệ của giáo viên phải hoàn toàn phục tùng nhiệm vụ đảm bảo tổ chức hợp lý nhất quá trình công nghệ của việc

học tập của trẻ Giáo viên cần phải dạy trẻ học tập” (60, trang 43) Như vậy, với tác giả

Iacôplép N M., tư tưởng công nghệ của quá trình giáo dục (đức - trí dục) đã được nêu ra với sự chú ý cả công nghệ của giáo viên và công nghệ của học sinh Tư tưởng đó phản ánh sự vận dụng quan điểm của C.Mac về quá trình lao động và việc áp dụng tư tưởng công nghệ cho quá trình lao động vào quá trình dạy học, trong đó có quá trình học của học sinh

Các nhà Tâm lý học Xô viết như Vưgotki L X., Lêônchev A N, Ganperin P.Ia., Đa-vư-đôv V V nghiên cứu về tâm lý học hoạt động với thế giới quan duy vật biện chứng, đã sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong quá trình học tập của học sinh Tác

giả Đa-vư-đôv V.V (1972), tại chuyên khảo Các dạng khái quát hóa trong dạy học

(Những vấn đề logic- Tâm lý học của cấu trúc các môn học) khi chú ý đến tính chất

của “nền sản xuất tự động hóa hiện nay được trang bị kĩ thuật tiên tiến nhất của khoa học” (trang 4) và nêu ra yêu cầu “một trong những nhiệm vụ quan trọng của xã hội là đưa giáo dục nhà trường phù hợp với những thành tựu khoa học kĩ thuật của thời đại”

(trang 4), đã nhấn mạnh đến “khía cạnh giáo dục, thiết kế “công nghệ” dạy học cụ thể thể hiện sự hiểu biết bản chất quá trình cá nhân tiếp thu nền văn hóa xã hội” Ông cho rằng chỉ trong các mối liên hệ qua lại của các khía cạnh cạnh cơ bản mới có thể giải quyết có hiệu quả vấn đề xây dựng nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại” (trang 5) Từ các kết quả nghiên cứu về khái quát hóa trong dạy học của nhiều tác giả, ông khẳng định: “Công nghệ” hình thành

Trang 25

khái quát hóa nội dung là hoàn toàn khác với khái quát hóa mang tính kinh nghiệm và chỉ ra những nguyên tắc mới thiết kế các môn học hoặc các chương riêng biệt của chúng theo định hướng đó (trang 503)

Như vậy, với một số luận điểm của hai tác giả Xô viết, ta có thể hình dung rằng: các nhà giáo dục Xô Viết, xuất phát từ thế giới quan duy vật biện chứng, xem xét giáo dục trong bối cảnh xã hội đã thay đổi nhanh chóng bởi cách mạng khoa học-

kĩ thuật, đã vận dụng tư tưởng công nghệ vào giáo dục theo cách thức xem xét tính chất hợp lý của quá trình giáo dục, với đặc điểm ngày càng chú ý đến quá trình nhận thức (khía cạnh tâm lý học) của người học Những luận điểm đó cũng được nhà quản

lý và nghiên cứu ở nước ta có những ý kiến tương đồng và đã phản ánh trong nhận định, nghiên cứu, vận dụng ở giáo dục nước ta Có thể kể đến những ý kiến tương tự

về cách tiếp cận công nghệ vào giáo dục như các nhà giáo dục Xô Viết của các nhà quản lý, nghiên cứu giáo dục nước ta như Trần Hồng Quân (1994), Nguyễn Khánh (1995), Trần Bá Hoành (1996) như sau:

Tác giả Trần Hồng Quân (1994) cho rằng “bất kỳ quá trình lao động nào của con người đều có công nghệ của nó, dù đó là tự giác hay không tự giác, dù mức độ tự giác đến đâu Nếu là tự giác, thì người ta vạch ra được quy trình, điều kiện thực hiện

nó (trong đó có trình tự công nghệ, giải pháp, phương tiện, môi trường và cả yếu tố con người), còn nếu không tự giác thì quá trình lao động đó không vạch ra trước quy trình để hướng dẫn Vì thế có thể nói, không có công nghệ thì không thể tác động lên đối tượng lao động được [48]

Với giáo dục cũng vậy, từ xưa đến nay, chúng ta làm giáo dục đều có công nghệ

cả, chỉ có điều hiện nay vẫn có người không chấp nhận tên Công nghệ mà gọi tên khác

đi, mặc dù vẫn tồn tại loại công nghệ này hay công nghệ khác của giáo dục”

Tác giả Trần Hồng Quân (1994) cũng chú ý đến tính chất đặc biệt của đối tượng giáo dục trong Công nghệ giáo dục Ông cho rằng “học sinh có thể được coi như vừa là đối tượng lao động vừa giữ vị trí người lao động vì học sinh vừa được đào tạo vừa tự đào tạo Các em đóng vai trò ở cả hai khâu trong quá trình lao động: khâu đối tượng lao động và khâu chiếm lĩnh của từng người trong quá trình lao động Nói công nghệ giáo dục không hề phủ nhận vai trò của các em chút nào Tinh thần của công nghệ giáo dục mới là đề cao vai trò của học sinh” [48]

Trang 26

Tác giả Nguyễn Khánh (1995) cũng đã lưu ý rằng “Quan tâm đến công nghệ, xây dựng và thiết kế công nghệ, đưa công nghệ tiên tiến vào giáo dục là ý tưởng đúng, là ý tưởng ứng dụng khoa học và công nghệ để hiện đại hóa các hoạt động giáo dục, hiện đại hóa ngành giáo dục Bởi vì giáo dục cũng là quá trình lao động mà con người tác động vào đối tượng lao động cần phải có quy trình chặt chẽ, có phương pháp tốt để sử dụng công cụ, để kiểm soát quá trình tác động Đó là công nghệ” [42]

Tác giả Trần Bá Hoành (1996) cho rằng “việc vận dụng khái niệm công nghệ từ lĩnh vực sản xuất công nghiệp sang lĩnh vực giáo dục không tránh khỏi gây băn khoăn,

dè dặt, tranh cãi Song tâm lý học hiện đại xem hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất

là giống nhau về nguyên tắc, do đó có thể vận dụng tư tưởng công nghệ vào dạy học và giáo dục Hơn nữa, bất cứ quá trình lao động nào của con người cũng có một công nghệ,

dù công nghệ đó có được nhận thức tự giác hay không tự giác, công nghệ đó được hình thành qua kinh nghiệm thực tế hay là được xây dựng trên cơ sở một lý thuyết khoa học vững chắc Song cần lưu ý rằng học sinh vừa là đối tượng tác động của giáo dục, lại vừa

là chủ thể của quá trình giáo dục” [39, tr 21 -25]

1.1.4.2 Quan điểm của các nhà giáo dục Việt Nam về công nghệ giáo dục

Đầu những năm 1970, UNESCO (theo Trần Bá Hoành, 1996) đã đề xuất định nghĩa “Công nghệ giáo dục là khoa học xác lập những nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình giáo dục, cũng như các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích giáo dục đã đề ra, với

sự tiết kiệm sức lực của thầy và trò” [39, tr 21 - 25] Đến năm 1986, UNESCO trong Chú giải thuật ngữ liên quan đến công nghệ giáo dục (theo Trần Bá Hoành 1996) đã định nghĩa “Công nghệ giáo dục là một tập hợp gắn bó chặt chẽ những phương pháp, phương tiện, kĩ thuật học tập, đánh giá được nhận thức và sử dụng tùy theo những mục tiêu đang theo đuổi, có liên hệ với nội dung giảng dạy và lợi ích của người học Đối với người dạy, sử dụng một công nghệ giáo dục thích hợp có nghĩa là biết tổ chức quá trình học tập và đảm bảo sự thành công của nó ” [39, tr.21 - 25] Trần Bá Hoành (1996) đã nêu ra yêu cầu cần đưa nội dung về công nghệ dạy học vào đào tạo giáo viên và đã giới thiệu yêu cầu này ở chương trình đào tạo giáo viên ở một số nước Cũng về Chú giải về thuật ngữ liên quan đến công nghệ giáo dục của UNESCO, Vũ Trọng Rỹ (1995) giới

Trang 27

thiệu: Công nghệ giáo dục (dạy học), không chỉ là sử dụng những phương tiện nghe nhìn vào mục đích dạy học, mà còn cả các lĩnh vực khác như tin học, viễn thông, phương pháp đánh giá, phân tích hệ thống, và các khoa học giáo dục nói chung Với cách hiểu ngày nay, theo nghĩa rộng nhất, Công nghệ giáo duc (dạy học) là phương pháp hệ thống trong việc thiết kế toàn bộ quá trình giảng dạy và lĩnh hội tri thức với sự tính đến các phương tiện kĩ thuật và nguồn nhân lực cùng sự tương tác giữa chúng nhằm tối ưu hóa các hình thức đào tạo [51] Các tác giả Thái Duy Tuyên (2001), Trần Thị Tuyết Oanh (2009) cũng sử dụng những luận điểm của UNESCO như đã nêu trong các chuyên khảo, giáo trình của mình để giới thiệu về công nghệ giáo dục, công nghệ

dạy học

Trong lĩnh vực giáo dục đại học và giáo dục nghề, theo tác giả Hà Văn Hội (2010), công nghệ giáo dục thường dùng thuật ngữ công nghệ đào tạo, hay thậm chí dùng với thuật ngữ như “chương trình đào tạo” và “mô hình đào tạo” Theo Hà Văn Hội

(2010) qua Ấn phẩm của ban thư kí Khối thịnh vượng chung 2000, thì tác giả TS Klauss,

chuyên gia nghiên cứu về giáo dục của Hà lan-Netherlands, đã quan niệm công nghệ đào tạo là một khái niệm rộng, bao gồm từ việc tư duy, phát triển, thiết kế các loại hình giảng dạy, đến các phương tiện, tư liệu sử dụng trong giảng dạy (như giáo trình, bài tập, giáo án ), các quy trình và phương pháp giảng dạy, và các công nghệ dựa trên các phương tiện hỗ trợ như máy tính, các thiết bị nghe nhìn [41]

Như vậy, có thể thấy, quan niệm về Công nghệ giáo dục ở quốc tế với các đại diện như trên, cơ bản là thống nhất phản ánh sự áp dụng những tiến bộ của công nghiệp hóa và của khoa học kĩ thuật vào thực tiễn và nghiên cứu giáo dục Quan niệm

đó cũng có những sắc thái khác nhau thể hiện quan điểm nghiên cứu và sự phát triển qua nghiên cứu Nói riêng về cơ sở tâm lý học, nếu tâm lý học hành ví là cơ sở cho các nghiên cứu ở Châu Âu và Hoa Kỳ những năm 1960 thì cũng trong thời gian đó, tâm lý học hoạt động là cơ sở cho các nghiên cứu của các nhà giáo dục Xô Viết

Quan điểm đó cũng có nét khác biệt nhất định, kể cả do tầm nhìn ở cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI về tính tổng thể của nhiều cách tiếp cận như giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học, thuyết điều khiển, thuyết thông tin, thuyết hệ thống, máy tính điện tử và cả về phương diện chính sách quản lí Sự khác biệt về các quan điểm trong

Trang 28

quan niệm công nghệ giáo dục thấy ở các tư liệu quốc tế thể hiện sự phát triển qua thời gian, trong nghiên cứu, thực hành công nghệ giáo dục ở quốc tế và đã phản ánh trong nhận định và nghiên cứu về công nghệ giáo dục ở Việt Nam thành các xu

hướng khác nhau

1.1.4.3 Sự ra đời của công nghệ giáo dục tại Việt Nam

Năm 1978, Hồ Ngọc Đại mở trường Thực nghiệm tại Hà Nội Đường lối của ông nhằm “Hiện đại hóa nền giáo dục” và “Công nghệ hóa quá trình giáo dục”

Đường lối này thể hiện một hướng đi và một cách làm giáo dục mới nhằm chủ động tìm giải pháp căn bản và toàn diện cho nền giáo dục Hồ Ngọc Đại đã thiết kế một quy trình làm giáo dục mới

Ý đồ sâu xa của Công nghệ giáo dục là khả năng kiểm soát quá trình giáo dục, là

ý thức về tiến trình phát triển tự nhiên của trẻ em trong cuộc sống nói chung và trong giáo dục nói riêng Công nghệ giáo dục là một cách làm giáo dục chủ động, có căn cứ khoa học, dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng và thành tựu của tâm lí học thế

kỷ XX Nó phản ánh trung thực phương pháp của nền sản xuất vật chất thời kì công nghiệp hóa Xét về mặt kĩ thuật thuần túy, “Công nghệ giáo dục mượn nguyên lí cơ bản của công nghệ sản xuất đại công nghiệp là phân giải quá trình sản xuất ngay trong bản thân nó thành các yếu tố cấu thành nó” Hồ Ngọc Đại ví Công nghệ giáo dục như “cuống nhau người mẹ nối liền thai nhi với nền văn minh hiện đại”

Công nghệ giáo dục là nghiệp vụ sư phạm tổ chức và kiểm soát quá trình giáo dục, phân giải bản thân quá trình giáo dục, nắm lấy bản thân quá trình và từng bước một, chắc chắn thực hiện quá trình sao cho sản phẩm giáo dục nếu không là tất yếu thì cũng phải đáng tin cậy Công nghệ giáo dục là giải pháp tổng thể cho một nền giáo dục Nó bao gồm một hệ thống khái niệm khoa học, một công nghệ thực thi và

đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống

“Công nghệ giáo dục không phải chỉ thể hiện một tiến trình hoạt động thực tiễn giáo dục mà cũng đồng thời thể hiện những tư tưởng lí luận giáo dục Sự thống nhất này được thể hiện bởi sự thống nhất giữa CÁI cần học và CÁCH học, là sự thống nhất giữa nội dung - phương pháp - tổ chức giáo dục” [11], [12]

Trang 29

Tư tưởng giáo dục cơ bản của Hồ Ngọc Đại là: Thầy giáo (người lớn nói chung) tổ chức - Học sinh hoạt động để lĩnh hội (chiếm lĩnh) nền văn hoá loài người

Tư tưởng này được tác giả diễn đạt dưới công thức A → a, trong đó A là hệ thống các khoa học, → là quy trình công nghệ mà học sinh thực hiện, còn a là sản phẩm giáo dục mà nhà trường trả lại cho xã hội theo đơn đặt hàng của xã hội, a là năng lực, là đạo đức, là nhân cách của học sinh, do chính học sinh tự tạo ra trong quá trình thực hiện quy trình công nghệ Như vậy, CGD xem trẻ em không phải là đối tượng chịu sự tác động của giáo dục một cách thụ động, mà là một chủ thể hoạt động để tự sinh ra mình, trẻ em hoạt động để tự tạo ra sản phẩm giáo dục, để trở thành cá thể người, một thành viên của xã hội có thể sống và hoạt động có kết quả trong xã hội hiện đại

Công nghệ giáo dục trước khi vào đại trà đã được kiểm chứng qua thực tiễn, chắc chắn ở từng công đoạn Việc đưa CGD với các mẫu đã được môđun hoá vào đời sống nhà trường được Hồ Ngọc Đại ví như đưa các thành tựu đại công nghiệp vào nước ta Đó là con đường đưa từ trên xuống (chứ không phải chờ sáng kiến, kinh nghiệm từ dưới lên) Quá trình đó phải đi qua ba bước:

a) Trước hết, chế tạo mẫu ở Trung ương Đây là bước nghiên cứu khoa học đích thực, nhằm khám phá, phát minh, tức là thiết kế và thi công mẫu CGD cho đến khi định hình được mẫu (đến mức môđun hoá)

b) Bước 2 - đem mẫu đó về địa phương (cấp tỉnh, thành phố) để thử độ tin cậy

Nhiệm vụ cơ bản nhất lúc này là chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho địa phương làm quen với CGD như làm quen với việc đưa máy cày vào đồng ruộng

Chừng nào tự nó đã có sức thuyết phục và có thể kiểm soát được, thì mới chuyển sang bước tiếp theo

c) Bước 3 - triển khai đại trà Gọi là đại trà, nhưng không làm đồng loạt ồ ạt,

mà phải phân hoá từng bước, theo trình độ văn minh, giống như đưa tivi vào cuộc sống: ban đầu ở thành phố, thị xã, thị trấn, rồi theo ven lộ và sâu dần

Hồ Ngọc Đại chỉ ra sự khác biệt giữa hai cách làm giáo dục: “Cách làm theo Công nghệ giáo dục và theo tổng kết kinh nghiệm các đơn vị tiên tiến như xưa nay làm có chỗ

Trang 30

khác biệt không thể so sánh được là một bên có thể kiểm soát tiến trình, còn bên kia chỉ biết trông chờ vào may rủi và những đặc điểm cá nhân (địa phương), chứ đâu có biết quy luật hình thành mẫu mà có cách làm tin cậy, chắc ăn, để nhân mẫu đó ra ở nơi khác, trong thời gian khác Công nghệ giáo dục là lời tuyên bố chấm dứt cách làm ăn theo kinh nghiệm và những sáng kiến tự phát từ đời sống thường ngày”

Tổng kết kinh nghiệm là nhằm vào cái đã có, còn nghiên cứu khoa học bằng thực nghiệm coi cái chưa có là đối tượng nghiên cứu Tổng kết kinh nghiệm các trường tiên tiến không có nhiều giá trị thực tế bởi nó ở các hoàn cảnh không gian, thời gian khác, gắn liền với điều kiện của quá khứ Cuộc sống liên tục thay đổi, biến động

Những thành tựu lịch sử đều có thể tồn tại mãi mãi cùng lịch sử, chúng chỉ bị phủ định

về mặt triết học Hai hướng đi trong nghiên cứu khoa học này xuất phát từ hai tư tưởng triết học khác nhau Một đằng theo chủ nghĩa duy vật siêu hình (tổng kết kinh nghiệm thực tiễn), một đằng theo chủ nghĩa duy vật biện chứng (chủ động tạo ra cái mới, đưa hiện thực vươn lên ngang tầm tư tưởng, lí luận) Nền sản xuất đại công nghiệp và thực nghiệm khoa học có thể coi là cặp sinh đôi, còn thực nghiệm khoa học giáo dục

ra đời muộn hơn, được có vài chục năm Hồ Ngọc Đại là người đầu tiên trên thế giới (kể từ 1978) làm được thực nghiệm giáo dục trên hàng loạt trẻ em bình thường, ở tất

cả các môn học trong một bậc học

Tóm lại, việc xây dựng một hệ thống lí luận giáo dục mới không phải làm bằng ngôn từ, trên văn bản, mà thực ra, đồng thời phải tiến hành thực nghiệm, để dựng lên một mô hình có thực trong thực tiễn cho lí luận đó Trường Thực nghiệm Giảng Võ ra đời năm 1978 nhằm cho mục đích đó

Thực nghiệm khoa học là một quá trình rất cơ động bao gồm cả việc thực nghiệm cách thực nghiệm Thực nghiệm không có mục đích tự thân, mà chỉ là một phương tiện nghiên cứu khoa học Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục bằng các mô hình thực nghiệm hiện nay được coi là tiên tiến nhất, hiện đại nhất bởi những kết luận của nó (lí luận và thực tiễn) đáng tin cậy

Tóm lại, CGD là một cách làm giáo dục có cơ sở khoa học của triết học duy vật biện chứng, dựa trên thành tựu tâm lí học và khoa học chuyên ngành hiện đại và được kiểm chứng qua thực tiễn

Trang 31

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm quản lý

Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa khác nhau Chúng tôi sẽ trình bày dưới

đây một số định nghĩa, quan niệm về "Quản lý" của các nhà triết học, nhà khoa học

quản lý như sau:

Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự

phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằn hình thành một môi trường mà trong đó con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có thể tổ chức về quản lý là một khoa học"

"Quản lý (cai trị) là công việc của các bậc đại nhân Đó là biết tập hợp quanh

mình những người hiền" (Mặc Tử, Trung Hoa)

Theo Fayol H (l841 - 1925), nhà tư tưởng Pháp: "Quản lý tức là lập kế

hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra"

Taylor F W (1856 - 1915), người được coi là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học" đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều

phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ" Theo ông: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất"

Peter Drucker quan niệm: "Quản lý là một chức năng xã hội nhằm để phát

triển con người và xã hội với những hệ giá trị, nội dung, phương pháp biến đổi không ngừng"

Qua các định nghĩa và quan niệm về “quản lý” như đã trình bày ở trên, ta thấy

rằng trong hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu Khách thể

Trang 32

quản lý là những người chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

Quản lý có nhiều loại khác nhau, trong đó quản lý xã hội là phức tạp nhất Bởi

vì, xã hội một mặt là hệ thống trên của kinh tế, bao gồm toàn bộ các hoạt động về kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, tinh thần,… nên nó chứa đựng tất cả những sự phức tạp của các đối tượng phải quản lý; mặt khác trong quá trình quản lý xã hội còn

có những quan hệ phi kết cấu như quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các đối tượng, các quan hệ làm cho việc quản lý càng phức tạp và khó khăn hơn Do vậy, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội

ở tầm vĩ mô hay vi mô

1.2.2 Chức năng của quản lý

Tiến trình quản lý là một phức hợp những kỹ năng có tính hệ thống rất sinh động và phức tạp Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau Những loại công việc quản lý này gọi là các chức năng quản lý Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hoá hoạt động quản lý

Có 4 chức năng cơ bản nhất là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

+ Xác định các mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức

+ Nhận diện các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các mục tiêu đó

+ Quyết định về những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu đã đề ra

- Chức năng tổ chức:

Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng liên kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống thống nhất như một cơ thể sống Đó là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ

Trang 33

thống, thông qua đó để thực hiện các mục tiêu chung của hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc quản lý Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực

Tiến trình tổ chức bao gồm việc thiết lập các bộ phận, phòng ban và xây dựng các bản mô tả công việc Vấn đề nhân sự cũng xuất phát trực tiếp từ các chức năng lập kế hoạch và tổ chức

- Chức năng kiểm tra:

Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một

cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức năng kiểm tra

Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản

lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: Xây dựng chuẩn để thực hiện; Đánh giá việc thực hiện dựa trên chính sách so với chuẩn; Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều chỉnh hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn

Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham

Trang 34

gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và quyết định Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo

Sơ đồ 1.1 Chức năng của quản lý

1.2.3 Vai trò của quản lý

Quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Từ xa xưa, vai

trò của quản lý đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian: "Một người

biết lo bằng cả kho người làm" Về sau, Các-Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn ở mức

độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”, và ông hình dung quản lý giống như công việc

của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng

Trong chiến lược phát triển giáo dục, các nhà chuyên môn đã đưa ra giải pháp tăng cường công tác quản lý giáo dục như một biện pháp chiến lược mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo Hiện nay, cùng với sự bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật, việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học mới vào hoạt động quản lý sẽ làm tăng hiệu quả quản lý Vì thế, ở khía cạnh

này có thể khẳng định rằng trong thực tại "Quản lý còn được xem là công nghệ - công

nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra" [43]

Ngày nay, mọi người đều thừa nhận tính tất yếu của quản lý Đây là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp, vừa có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với

Kế hoạch

Chỉ đạo

Trang 35

sự tồn tại, diệt vong, suy thoái hay thịnh vượng của một tổ chức, một quốc gia, một châu lục hay toàn cầu

1.2.4 Quản lý giáo dục

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác

động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”.[49, tr.128]

- Theo tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân

và của toàn xã hội

- Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã nhấn mạnh nhiệm vụ của công

tác quản lý trong tình hình mới: “Đổi mới cơ bản công tác quản lý và tổ chức giáo dục,…

nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn chặt với yêu cầu xã hội”.[19, tr.384]

Thực chất của khái niệm quản lý giáo dục có hai cấp độ chủ yếu là cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô:

+ Đối với cấp vĩ mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,

có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt xích của hệ thống (từ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt

ra cho ngành giáo dục

+ Đối với cấp vi mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có

kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng trong xã hội và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáo dục nhà trường

Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các khách thể quản lý Nói một cách đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

Trang 36

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục,

là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội Quản lý giáo dục chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, tác động của quản lý xã hội

Bản chất của quản lý giáo dục:

+ Quản lý bao giờ cũng chia ra thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý Đây

là đặc điểm cơ bản đầu tiên của quản lý giáo dục

+ Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối quan hệ ngược

+ Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi + Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật Nói quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng là các mối quan hệ quản lý, có phương pháp luận nghiên cứu riêng, có những phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để nghiên cứu như phương pháp phân tích toán, kinh

+ Quản lý gắn liền với quyền lực và danh tiếng

1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học

a Khái niệm dạy học

Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân

b Bản chất của dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt, do nhà trường tổ chức, thầy giáo

Trang 37

thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành

hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội

Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt

Có thể khái quát dạy học gồm hai hoạt động, đó là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với lĩnh hội trong dạy học

- Giữa điều khiển và với tự điều khiển trong dạy học

Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm khoa học,

bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy có hai chức năng: truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học

Hoạt động dạy giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thanh kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung, chương trình dạy học theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học Để đạt được mục đích, người dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm chất

và năng lực của người dạy và người học) để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy - học phù hợp

Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của người dạy,

người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó, với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân

Nhưng để học đạt được hiệu quả và tránh được những sai lầm thì học phải có

sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thầy Như vậy học cần phải diễn ra trong mối

Trang 38

quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy, mối quan hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo mức độ tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là:

- Nắm vững tri thức khoa học

- Phát triển tư duy và năng lực hoạt động

- Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống

Trong quá trình dạy học, quan hệ giữa thầy và trò là vấn đề rất quan trọng và phức tạp Thầy giáo là người điều khiển quá trình dạy học nhưng trò là chủ thể nhận thức cũng như điều khiển hoạt động nhận thức của mình Quá trình điều khiển của thầy có mang lại hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp nhận của

trò Thầy giáo phải luôn hướng đến tư tưởng “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

Như vậy, nguyên tắc “phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập của trò dưới sự chỉ đạo của thầy” đang là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục hiện nay Vì vậy, có thể nói chương trình dạy học gồm có mục tiêu, mục đích, phương pháp, phương tiện, kiểm tra, đánh giá đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường

Mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp giữa giáo viên và học sinh

Hoạt động tích cực của hai nhân vật này quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học và hoạt động học là cơ sở,

là trung tâm cho mọi sự cải tiến của hoạt động dạy Sự thống nhất biện chứng giữa hai hoạt động dạy và hoạt động học thể hiện ở sự gắn bó chặt chẽ, tính chất hai mặt

Không có học không thể có hiện tượng dạy học và ngược lại không có dạy vẫn có hiện tượng dạy học diễn ra theo kiểu tự học nhưng nó không gắn liền với khái niệm dạy học Hai hoạt động này tác động biện chứng với nhau, thúc đẩy lẫn nhau để cùng phát triển Sự tác động biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học dẫn đến sự phát triển không ngừng của quá trình dạy học

Trang 39

c Mục tiêu dạy học

Điều 2 trong Luật giáo dục nêu:

"Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam, phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng là bảo vệ Tổ quốc"

Hoạt động dạy và hoạt động học là hai quá trình thống nhất với nhau có sự tác động qua lại chặt chẽ với nhau và là sự tác động của quá trình dạy mà giáo viên là chủ thể, xét cho cùng là nhằm thực hiện tốt sự tác động vào hoạt động học tập, nhằm thúc

đẩy hoạt động nhận thức mà học sinh là chủ thể

d Quản lý hoạt động dạy học

Trong quá trình lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã quan tâm và tạo ra nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản

Việt Nam xác định “cùng với khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo là quốc

sách hàng đầu” [16, tr.107] Như vậy Đảng và Nhà nước đã coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu” toàn xã hội đều có ý thức chăm lo cho giáo dục, vì giáo dục đã tạo nên nguồn

lực con người phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Ở Việt Nam nhiều nhà sư phạm đã đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về vai trò, vị trí, nhiệm vụ, tổ chức quá trình dạy học, thấy được việc nâng cao chất lượng dạy học trên lớp sẽ quyết định chất lượng dạy học Những ưu điểm và nhược điểm của quá trình tổ chức dạy học trên lớp và nhận thức đúng về bản chất của quá trình dạy học, mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học, và sự đổi mới hiện nay về giáo dục, đổi mới nội dung và những biện pháp tổ chức dạy học trên lớp, trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học Các nhà khoa học đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình một cách khoa học về các khái niệm quản lý, QLGD, quản lý trường học, quản lý HĐDH cùng các chức năng, nguyên tắc, phương pháp quản lý, Đó là các công trình khoa học, các tác phẩm, bài viết của các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Lân, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Quang Uẩn, Đặng Quốc Bảo, Bùi Minh Hiền, Trần Kiểm, Trần Quốc Thành, Bùi Văn Quân Các kết quả

Trang 40

nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục đã đem lại cho chúng ta những tri thức về phương pháp luận nghiên cứu có giá trị cao trong QLGD và quản lý HĐDH

Nâng cao chất lượng giáo dục có rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng không thể thiếu được nó quyết định chất lượng giáo dục và sự phát triển giáo dục đó chính là quá trình quản lý chất lượng dạy học, nó được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy học

Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã ghi rõ: “Đổi mới tư duy giáo dục một

cách nhất quán, từ mục tiêu chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức cơ chế quản lý để tạo ra sự chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, ưu tiên hàng đầu cho chất lượng dạy và học” [17, tr 206]

Quản lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là quản lý trực tiếp các hoạt động giáo dục diễn ra ở trường nhằm hiện thực mục tiêu đào tạo và nguyên lý giáo dục theo tinh thần Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng

Cộng sản Việt Nam: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục,

thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và khả năng thực hành”

Quản lý hoạt động dạy học chính là quản lý quá trình dạy học Nội dung của quản lý hoạt động dạy học bao gồm nhiều hoạt động, quan hệ đến nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện khác nhau Nhưng nội dung cơ bản bao gồm hai vấn đề: Quản lý việc giảng dạy của giáo viên và quản lý việc học tập của học sinh

Vấn đề thứ nhất: Quản lý việc giảng dạy của giáo viên

Quan hệ giữa giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh là mối quan hệ thống nhất biện chứng Với tác động sư phạm, giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh Quản lý việc giảng dạy của giáo viên trong nhà trường bao gồm:

- Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục của mỗi cấp học, ngành học được quy định tại Luật giáo dục và các quy định của Chính phủ, các bộ, các ngành Trung ương Nhà quản lý căn cứ sự chỉ đạo thực hiện mục tiêu của các cấp lãnh đạo, căn cứ đặc điểm tình hình cảu đơn vị mình

để xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu, quản lý kế hoạch thực hiện mục tiêu, điều

Ngày đăng: 13/09/2016, 21:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lương Bằng, "Vai trò của GD-ĐT đối với sự phát triển kinh tế xã hội", Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của GD-ĐT đối với sự phát triển kinh tế xã hội
2. Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2007
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
5. Đỗ Văn Chấn (2000), Bài giảng về kinh tế học giáo dục cho các lớp cao học quản lý giáo dục, Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý GD-ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về kinh tế học giáo dục cho các lớp cao học quản lý giáo dục
Tác giả: Đỗ Văn Chấn
Năm: 2000
6. Nguyễn Hữu Chí (1996), "Công nghệ dạy học ở các nước Âu - Mĩ", Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 58/96, tr. 51-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học ở các nước Âu - Mĩ
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 1996
7. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), Tập bài giảng “Lý luận quản lý và quản lý giáo dục”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý luận quản lý và quản lý giáo dục”
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2009
8. Đinh Thị Chiến (2004), Nghiên cứu năng lực tiếp nhận và sử dụng công nghệ dạy tiếng Việt lớp 1, Luận án TS Tâm lý học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng lực tiếp nhận và sử dụng công nghệ dạy tiếng Việt lớp 1
Tác giả: Đinh Thị Chiến
Năm: 2004
9. Hoàng Chúng (1998), Phương pháp thống kê toán học trong KHGD, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong KHGD
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Hồ Ngọc Đại (1998), "20 năm Trung tâm Công nghệ giáo dục (trả lời phỏng vấn của Tạp chí Phát triển giáo dục)", Tạp chí Phát triển giáo dục, số 2-1998, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm Trung tâm Công nghệ giáo dục (trả lời phỏng vấn của Tạp chí Phát triển giáo dục)
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Năm: 1998
11. Hồ Ngọc Đại (2010), Nghiệp vụ sư phạm, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ sư phạm
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
12. Hồ Ngọc Đại (2012), Tài liệu tập huấn giáo viên dạy tiếng Việt lớp 1 - CGD, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn giáo viên dạy tiếng Việt lớp 1
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
14. Hồ Ngọc Đại (2010), Giải pháp giáo dục, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
15. Hồ Ngọc Đại (1988), Công nghệ giáo dục Thành tựu 10 năm (1978-1988) Thực nghiệm giáo dục phổ thông, Hà Nội: Trung tâm Thực nghiệm Giáo dục phổ thông, (Báo cáo tổng kết 10 năm thành lập) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục Thành tựu 10 năm (1978-1988) Thực nghiệm giáo dục phổ thông
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Năm: 1988
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2009), Báo cáo nghị quyết TW 9 khoá X (2009), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghị quyết TW 9 khoá X (2009)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam (2009), Báo cáo nghị quyết TW 9 khoá X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
20. Đỗ Ngọc Đạt (1995), Luận án tiến sĩ, “ Thiết kế nội dung bài học phổ thông theo lý thuyết cybernettique và Công nghệ giáo dục” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế nội dung bài học phổ thông theo lý thuyết cybernettique và Công nghệ giáo dục
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Năm: 1995
21. Lê Tràng Định (2004), Kinh tế học giáo dục, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học giáo dục
Tác giả: Lê Tràng Định
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
22. Phạm Gia Đức (1998), "Vai trò của thao tác trong dạy học hình học ở THCS", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 4-1998, tr. 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thao tác trong dạy học hình học ở THCS
Tác giả: Phạm Gia Đức
Năm: 1998
23. Nguyễn Tài Đức (1998), "Quy trình thao tác trong công nghệ dạy học môn Toán bậc tiểu học Công nghệ giáo dục", Tạp chí Phát triển giáo dục, số 2, tr. 14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình thao tác trong công nghệ dạy học môn Toán bậc tiểu học Công nghệ giáo dục
Tác giả: Nguyễn Tài Đức
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT (Trang 8)
Sơ đồ 1.1. Chức năng của quản lý - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Sơ đồ 1.1. Chức năng của quản lý (Trang 34)
Bảng 2.1. Kết quả điều tra về năng lực giảng dạy Tiếng Việt 1 CGD của GV - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.1. Kết quả điều tra về năng lực giảng dạy Tiếng Việt 1 CGD của GV (Trang 59)
Bảng 2.2. Thống kê kết quả học tập môn Tiếng Việt 1 CGD năm học 2012-2013; - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.2. Thống kê kết quả học tập môn Tiếng Việt 1 CGD năm học 2012-2013; (Trang 60)
Bảng 2.3. Kết quả điều tra thái độ của học sinh đối với môn Tiếng Việt 1 CGD - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.3. Kết quả điều tra thái độ của học sinh đối với môn Tiếng Việt 1 CGD (Trang 61)
Bảng 2.4. Kết quả điều tra về điều kiện học tập của học sinh (N=1700) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.4. Kết quả điều tra về điều kiện học tập của học sinh (N=1700) (Trang 61)
Bảng 2.5. Kết quả điều tra về quản lý công tác giảng dạy của giáo viên (N= 36CBQL+150GV) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.5. Kết quả điều tra về quản lý công tác giảng dạy của giáo viên (N= 36CBQL+150GV) (Trang 65)
Bảng 2.6. Kết quả điều tra về quản lý học tập của học sinh (N=150) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.6. Kết quả điều tra về quản lý học tập của học sinh (N=150) (Trang 71)
Bảng 2.7. Kết quả điều tra về quản lý tác động của môi trường đến dạy học Tiếng Việt 1 CGD - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 2.7. Kết quả điều tra về quản lý tác động của môi trường đến dạy học Tiếng Việt 1 CGD (Trang 74)
Sơ đồ 3.1. Quan hệ giữa các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Sơ đồ 3.1. Quan hệ giữa các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD (Trang 99)
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý (Trang 101)
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất (Trang 102)
Bảng 3.3. Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện lâm thao, phú thọ
Bảng 3.3. Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt 1 CGD (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w