nhiệm và nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp theo luật định để thu thập chứng cứ nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và các vấn đề khác của vụ án Giai đoạn truy tố là giai đoạn VKS ra quyế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ THANH
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN ĐỘ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Thị Thanh
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt
1.2.2 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 42.2.2 Cơ chế bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án
Trang 5Chương 3: MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 52
3.1 Một số tồn tại trong xét xử vụ án hình sự 52
3.1.1 Sự độc lập của Tòa án còn hạn chế 52
3.1.2 Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được bảo đảm triệt để 55
3.1.3 Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn nhiều bất cập 56
3.1.4 Tình trạng tồn đọng án, án quá hạn luật định: 57
3.1.5 Tình trạng bắt, giam giữ người tùy tiện còn tồn tại 58
3.1.6 Tình trạng tạm giam kéo dài, thời hạn không rõ ràng 58
3.1.7 Xét xử oan sai 59
3.2 Một số kiến nghị đảm bảo quyền con người trong giai đoạn xét xử ở Việt Nam hiện nay 61
3.2.1 Tăng cường giáo dục về quyền con người cho cán bộ hoạt động tư pháp 61
3.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền con người trong hoạt động xét xử 61
3.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án 73
3.4 Triển khai việc thành lập Cơ quan nhân quyền Quốc gia Việt Nam 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : BLTTHS : TAND : TANDTC : TTHS : VKS : VKSND : VKSNDTC : HĐXX : CQĐT :
Bộ luật hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân Tối cao
Tố tụng hình sự Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân Tối cao Hội đồng xét xử
Cơ quan điều tra
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, là kết quả của quá trình đấu tranh, phát triển lâu dài của tất cả các dân tộc, nhân dân trên toàn thế giới Được thúc đẩy từ năm 1945 kể từ khi thành lập Liên Hợp Quốc, quyền con người thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận và có sự tác động mạnh
mẽ tới các quan hệ chính trị, pháp lý, xã hội ở tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực
và quốc tế Nó không chỉ là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng tất yếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế
Tại Việt Nam, việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay Việt Nam luôn tích cực tham gia các Điều ước và hoạt động về quyền con người của Liên Hợp Quốc Chỉ thị 12/TW của Ban Bí Thư, ngày 12/7/1992 khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua
đó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”
Do đó chúng ta cần phải bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS Việc bảo vệ quyền con người trong TTHS có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì trong lĩnh vực này, quyền con người dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về vật chất, thể chất lẫn tinh thần Trong các chủ thể của hoạt động TTHS thì Tòa án giữ vai trò quan trọng
Đảng đã khẳng định khâu trọng tâm của chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020
là cải cách hệ thống TAND: “Trung tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND” và „„xét xử là trọng tâm” (Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính Trị) Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X (tháng 4/2006) cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng cơ chế tài phán đối với những vi phạm
Trang 8nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng nhánh quyền Tư pháp Đại Hội Đảng lần thứ XI (tháng 01/2011) cũng đã khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, việc thực hiện các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Quan điểm này của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
vì trong bất kỳ một Nhà nước pháp quyền nào quyền tư pháp (mà đại diện là Tòa án) phải được coi là trung tâm và là hệ thống cấu thành quan trọng của bộ máy quyền lực Nhà nước để bảo vệ Thực tiễn cho thấy, hàng năm Tòa án đã xét xử hàng chục nghìn vụ án trong đó có nhiều vụ án lớn (Rusalka Khánh Hòa, Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh, PMU 18, Thiên Lợi Hòa, Phương Ninh Hột, VinaShin ) Các vụ án
đó được xét xử nghiêm minh, công bằng, đúng người, đúng tội, tạo cho nhân dân niềm tin vào hệ thống pháp luật Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế, đặc biệt là tình trạng xét xử oan (vụ án Vườn Điều ở Bình Thuận, vụ Nguyễn Minh Hùng hai lần bị tuyên án tử hình, vụ án con trâu ở Yên Bái ) Qua các vụ án oan, một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong quá trình tiến hành tố tụng, kết luận vụ án luôn là kết quả của sự truy xét qua áp đặt chủ quan của người tiến hành tố tụng, có dấu hiệu mớm cung, bức cung trong quá trình điều tra (song hầu như không chứng minh được hoặc không được Hội đồng xét xử xem xét) Hậu quả để lại của những vụ án đó, theo tác giả là không bao giờ khắc phục được Tuy rằng Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
về bồi thường oan sai trong hoạt động TTHS và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (2009) đã phần nào khắc phục được những sai lầm do những người tiến hành tố tụng gây ra nhưng nó không giải quyết được mọi chuyện Thực tế số người
bị làm oan, bị làm sai trong quá trình TTHS được bồi thường theo Luật cũng chưa đáng là bao Và việc bồi thường đó, không bao giờ tương xứng với những gì mà những người bị oan, bị sai đã phải gánh chịu Do đó, tác giả nghĩ rằng, để tránh oan sai trong TTHS, Tòa án cần phải có hoạt động xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Có như vậy thì quyền con người mới được đảm bảo
Xét xử vụ án hình sự là chức năng quan trọng nhất của Tòa án, là giai đoạn quyết định của toàn bộ quá trình TTHS Trong giai đoạn này, Tòa án áp dụng các
Trang 9biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn
bộ các quyết định mà CQĐT và VKS đã thông qua trước khi chuyển vụ án sang Tòa
án, nhằm loại trừ các hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm Đồng thời trên cơ sở kết quả tranh luận công khai và dân chủ tại phiên tòa để ra bản án, quyết định một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục Giai đoạn này
được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự và kết thúc bằng một bản
án (quyết định) Đây là giai đoạn TTHS trung tâm và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử vụ án hình sự” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với
mục đích góp phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học về bảo đảm quyền con người trong TTHS trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý nước ta, vấn đề bảo đảm quyền con người được nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình với các góc độ khác nhau Từ góc độ nghiên cứu về quyền con người nói chung có công trình “Quyền con người trong thế giới hiện đại” (Viện Thông tin khoa học xã hội, 1995) của GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm Ích; “Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người”(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) của PGS.TS Chu Hồng Thanh Từ góc độ nghiên cứu quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp có “Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam” (Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010); “Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia, 2011) Các tác giả Nguyễn Thái Phúc, Trần Quang Tiệp cũng có những công trình nghiên cứu về đề tài này Ngoài ra có một
số tác giả chọn vấn đề bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, trong TTHS làm đề tài Luận án tiến sĩ luật học (TS Nguyễn Quang Hiền, Nguyễn Huy Hoàng, Lại Văn Trình) Trong các công trình này, các tác giả có phân tích đến Tòa án với vai trò là
Trang 10đại diện quan trọng nhất của nhánh quyền lực Tư Pháp theo nghĩa rộng Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò, vị trí của Tòa án trong cơ chế phân chia quyền lực như (GS.TS Nguyễn Đăng Dung ) Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó chủ yếu tập trung vào các vai trò chung của Tòa án, chưa đi sâu cụ thể vào vấn đề bảo vệ quyền con người của Tòa án trong giai đoạn xét xử
3 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích các quy định liên quan đến bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử của pháp luật Việt Nam, liên hệ với thực tiễn và so sánh với pháp luật quốc tế, tác giả làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS Đồng thời, qua đây, tác giả muốn nhấn mạnh vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền con người để chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của cơ quan này
- Nghiên cứu thực tiễn xét xử Tòa án: đánh giá hiệu quả cũng như làm sáng
tỏ những hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả hoạt động TTHS liên quan đến việc bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quyền con người
và bảo đảm quyền con người
Trang 11- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, hệ thống, thống kê…
Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm
5 Những nét mới của Luận văn
- Phân tích một cách cụ thể các quy định cơ bản về quyền con người được chuyển tải trong Hiến pháp và BLTTHS Từ đó tạo ra được cái nhìn thân thiện và gần gũi hơn đối với những nhân quyền cơ bản
- Làm rõ được vai trò của Tòa án trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
- Có sự đánh giá, so sánh vai trò bảo đảm quyền con người của Tòa án được quy định trong pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế
- Góp phần làm rõ thực trạng bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay, tính tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn cũng đưa ra những giải pháp, kiến nghị để Tòa án thực hiện tốt vai trò bảo đảm quyền con người
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Tác giả hy vọng việc nghiên cứu thành công Đề tài sẽ đóng góp một phần khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta là “Tòa án với vấn đề bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự”
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong hoạt động lập pháp TTHS, trong thực tiễn điều tra truy tố, xét xử cũng như trong nghiên cứu về TTHS
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
- Chương 2: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo Pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế
- Chương 3: Một số tồn tại và kiến nghị bảo đảm quyền con người trong giai
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay Đây là giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người
Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế [22]
Là thành viên của các Công ước Quốc Tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình đồng thời chủ động hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền con người Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sỹ ngày 08/5/2009 cũng khẳng định: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu
và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người” Do đó, chúng ta cần phải bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS TTHS là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật gồm khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Trong đó giai đoạn khởi tố là giai đoạn đầu tiên của TTHS Tại giai đoạn này sau khi tiếp nhận tin báo và tố giác tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra là giai đoạn cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án có trách
Trang 13nhiệm và nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp theo luật định để thu thập chứng cứ nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và các vấn đề khác của vụ án
Giai đoạn truy tố là giai đoạn VKS ra quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng hay không truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án;
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn Tòa án thụ lý, nghiên cứu hồ sơ để tiến hành giải quyết vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định
Giai đoạn xét xử phúc thẩm là giai đoạn Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ xét xử lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật
bị kháng cáo;
Giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTHS Trong giai đoạn này các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thi hành các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Ngoài ra, còn có thể có giai đoạn đặc biệt là giai đoạn Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo các thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhưng cùng hướng đến mục đích chung là giải quyết mọi vấn đề của vụ án hình sự Mỗi giai đoạn tuy độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một
trình tự thống nhất; giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của
giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước Mỗi giai đoạn tố tụng do một chủ thể thực hiện nhưng các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa phối
hợp vừa kiểm soát lẫn nhau để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Việc giải
quyết đó chính là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án)
và người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên;
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm) [10]
Như vậy, hoạt động này trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước
sự xâm phạm của tội phạm Tuy nhiên xét ở một góc độ khác, TTHS với tư cách là quá trình Nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ thực hiện tội
Trang 14phạm luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, với sự thiếu bình đẳng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS, trong đó người bị buộc tội luôn bị yếu thế hơn Hoạt động này liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội Vì vậy,
để đạt được mục đích của TTHS, Pháp luật TTHS của bất kỳ quốc gia nào cũng có quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hay nói cách khác, khả năng ảnh hưởng của hoạt động TTHS tới các quyền con người của người bị tình nghi phạm tội là tất yếu Do đó, hoạt động TTHS trong mọi quốc gia đều được xếp vào nhóm
“nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người Trong lĩnh vực này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến những quyền con người cơ bản như quyền sống; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện Cho nên khi đánh giá, xem xét tình trạng vi phạm quyền con người của một quốc gia, người
và cơ bản Không những thế nó còn có thể tạo ra những bức xúc trong xã hội Một
số phần tử phản động nhân cơ hội này, khoác thêm lớp áo “Nhân quyền” thổi phồng, xuyên tạc, hư cấu thêm sự việc để kích động, lôi kéo, kêu gọi nhân dân chống lại sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Đây là những hậu quả rất nặng nề, khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục Cho nên, bảo đảm quyền con người
Trang 15trong hoạt động TTHS cần được quan tâm ở mọi góc độ Việc ban hành các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi phải đi đôi với việc đảm bảo thực hiện các quy định
đó trong thực tế Việc thực hiện các quy phạm pháp luật TTHS phụ thuộc vào các chủ thể tiến hành tố tụng trong đó Tòa án đóng vai trò trọng tâm Với hoạt động xét
xử và bản án được thông qua tại phiên tòa, mọi nghi ngờ, mọi vấn đề sẽ được làm sáng rõ từ nội dung vụ án cho đến hình phạt đối với bị cáo Nếu có một phiên tòa công bằng, mọi vi phạm quyền con người trong các giai đoạn trước đó (nếu có) sẽ được phán xử và có những chế tài phù hợp Ngược lại, nếu phiên tòa đó không đảm bảo, thì sai lầm sẽ nối tiếp sai lầm và kết thúc bằng một sai lầm Hoặc nếu như những quá trình trước (khởi tố, điều tra, truy tố) dù tiến hành đúng nhưng đến giai đoạn xét xử lại làm sai thì vẫn cho ra một kết quả sai Do đó, ta có thể coi, Tòa án là cánh cửa cuối cùng, là cơ hội cuối cùng để quyền con người được đảm bảo
Từ những sự phân tích trên cho thấy quyền con người trong hoạt động TTHS cần phải được quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là tại giai đoạn xét
xử Cùng với nó, cần phải nghiên cứu thêm về vai trò bảo vệ quyền con người của các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của tòa án
1.2 Các quyền con người có thể bị tác động trong TTHS
Trong lĩnh vực TTHS, khi quyền lực cưỡng chế của nhà nước bị lạm dụng, bị vi phạm thì nguy cơ ảnh hưởng đến các quyền con người là rất cao Có nhiều quyền con người có thể bị tác động trong lĩnh vực này, tuy nhiên trong phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập đến những quyền bị tác động tương đối phổ biến nhất, đó là các quyền sau đây:
1.2.1 Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”, sau đó được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) cụ thể hóa hơn tại Điều 9 như sau: “
1 Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền
Trang 162 Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những
lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ
3 Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại Tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội
4 Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp
5 Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường” [23, 81]
Điều 9 ICCPR đã được HRC/UNHRC giải thích tại Bình luận chung số 8 (phiên họp thứ 16, 1992) rằng:
- Phạm vi áp dụng Điều 9 ICCPR: Cho tất cả những người bị tước tự do (những người bị buộc tội, tâm thần, lang thang, nghiện ma túy, người bị tước tự do
vì mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư…)
- Thời hạn tạm giữ: theo quy định của pháp luật quốc gia nhưng Ủy ban khuyến nghị không nên tạm giữ quá hai ngày
- Tổng thời gian bị tạm giam: thời gian bị tạm giam của người bị buộc tội phải phù hợp với thời hạn xét xử Việc tạm giam trước khi xét xử chỉ nên coi là ngoại lệ và càng ngắn càng tốt
- Nếu muốn tiến hành việc giam giữ như là một biện pháp ngăn chặn thì việc thực hiện phải có căn cứ; phải được thực thi theo đúng các trình tự, thủ tục luật định Nếu biện pháp ngăn chặn bị sử dụng một các tùy tiện thì nạn nhân phải được bồi thường [21, 258]
Đặc biệt, “Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay
Trang 17bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988” có những quy định rất cụ thể về quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, đó là:
- Việc bắt giữ, giam hay cầm tù chỉ được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật một cách nghiêm ngặt và bởi những quan chức có thẩm quyền hay những người được ủy quyền thực hiện việc đó (nguyên tắc 2)
- Bất kỳ hình thức giam hay cầm tù nào và tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến quyền con người của một người đang bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào phải được ra lệnh bởi, hoặc chịu sự kiểm soát có hiệu quả của cơ quan xét
xử hoặc cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 4)
- Các nhà chức trách bắt giữ một người nào đó, tạm giam người đó hoặc điều tra vụ án chỉ được phép thực hiện những quyền hạn được giao cho họ theo pháp luật, và việc thực hiện các quyền hạn này phải chịu sự giám sát của cơ quan xét xử hay cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 9)
- Việc bắt giữ phải có lệnh với các nội dung cụ thể theo nguyên tắc 12
Đồng thời, văn kiện này cũng quy định rất rõ ràng và cụ thể các quyền của người bị bắt giữ: quyền được thông báo về lý do bị bắt giữ, quyền được giải thích
về quyền và nghĩa vụ, quyến được phiên dịch miễn phí, quyền liên lạc với thế giới bên ngoài, quyền bào chữa, quyền bảo đảm về sức khỏe, quyền khiếu nại, quyền được suy đoán vô tội, quyền được bồi thường thiệt hại nếu bị giam giữ tùy tiện, quyền được phát biểu về sự đối xử trong khi bị giam trước cơ quan xét xử hoặc có thẩm quyền … [23, 697]
Ngoài ra, Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về những biện pháp không giam giữ (Các quy tắc Tokyo), 1990 cũng quy định việc tránh giam giữ tiền xét xử như sau:
“6.1 Giam giữ trước khi xét xử được sử dụng như phương án cuối cùng trong quá trình TTHS, khi xét thấy cần thiết cho việc điều tra hành vi bị coi là phạm tội và cần thiết để bảo vệ xã hội và các nạn nhân
6.2 Những biện pháp khác ngoài biện pháp giam giữ trước khi xét xử phải được áp dụng càng sớm càng tốt Thời gian giam giữ trước khi xét xử không được
Trang 18lâu hơn thời gian cần thiết để đạt được những mục tiêu nêu trong quy tắc 5.1 và phải được tiến hành một cách nhân đạo, tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người
6.3 Người phạm tội có quyền kháng án lên TA hoặc một cơ quan độc lập
có thẩm quyền khác trong các trường hợp biện pháp giam giữ trước khi xét xử được áp dụng” [23; 752]
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại Điều 71 Hiến pháp và Điều 6, 7 BLTTHS đồng thời có sự quy định rõ ràng về các biện pháp ngăn chặn để hạn chế tới mức thấp nhất sự tùy tiện trong việc bắt, giam giữ người Nội dung của quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện theo Luật Nhân quyền quốc tế và Pháp luật Việt Nam đều gồm: không được bắt giữ người người không có căn cứ; bắt giữ người không đúng thẩm quyền, bắt giữ người không đúng thủ tục; bắt người, giam giữ người chưa cần thiết Tuy nhiên, Luật Nhân quyền quốc tế nhấn mạnh đến quy định thời gian giam giữ không được kéo dài Và chế độ giam giữ phải khác với chế độ thi hành án phạt tù, đảm bảo đến mức tối đa việc hạn chế các quyền con người của người bị giam giữ
Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân
Nếu quyền tự do và an toàn cá nhân của con người không được đảm bảo một cách hiệu quả thì việc bảo vệ các quyền cá nhân khác sẽ dễ bị tổn thương và không thực
tế Khi nhân quyền này bị vi phạm thì sẽ kéo theo một số hệ quả là các nhân quyền khác cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng theo như quyền không phân biệt đối xử; quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của người bị tước tự do; quyền tự do
đi lại, cư trú; quyền được tự do tín ngưỡng…[22]
Tuy vậy, trong TTHS, quyền này vẫn có nguy cơ bị vi phạm khi các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn một cách tùy tiện, nhất là khi áp dụng biện pháp bắt người, tạm giữ và tạm giam để điều tra, truy tố và xét xử
1.2.2 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo hoặc hạ nhục
UDHR và ICCPR lần lượt ghi nhận quyền này tại Điều 5 (UDHR) và Điều 7 (ICCPR) vào năm 1948 và 1966 nhưng lại không đưa ra một định nghĩa rõ ràng về
Trang 19“tra tấn” Phải đến năm 1984 thì Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT) mới đưa ra khái niệm về tra tấn như sau:
“Thuật ngữ “tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp”
Tuy nhiên, CAT cũng nêu rõ nội hàm của khái niệm trên được căn cứ vào mục đích của Công ước là để cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn [23, 148]
Điều 5 UDHR ghi nhận: “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23, 49]
Điều 7 ICCPR nói rằng:
“Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm
y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó” [23, 80]
Ở phiên họp lần thứ 16, 1982, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 7 ICCPR tại Bình luận chung số 7 Trong phiên họp thứ 39, 1990, Ủy ban đã phản ánh, phát triển và thay thế Bình luận chung số 7 bằng Bình luận chung số 20 với các nội dung
cơ bản như sau:
- Mục đích của Điều 7 ICCPR: bảo vệ phẩm giá và sự toàn vẹn về thể chất
và tinh thần của cá nhân
- Không có giới hạn quyền đối với các quy định trong Điều 7 ICCPR, kể cả
Trang 20- Nội hàm của các khái niệm nêu trong Điều 7 ICCPR (tra tấn, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục) căn cứ vào bản chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng của hành động đã thực hiện
- Phạm vi ngăn cấm: các hành động gây ra đau đớn về thể chất lẫn tinh thần;
các hành động nhục hình, đánh đập tàn nhẫn để trừng phạt tội phạm hay để giáo dục, rèn luyện đối với học sinh, bệnh nhân
- Việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một người, kể cả người đã bị kết án tử hình mà không có lý do chính đáng cũng bị coi là hành động tra tấn Việc thi hành án tử hình phải thực hiện theo cách thức làm giảm đến mức tối thiểu sự đau đớn về thể xác và tinh thần cho tử tù [21; 287]
Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 cũng quy định tại nguyên tắc 6 là:
“Không người nào bị giam hoặc cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào bị tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm Không được viện dẫn bất kỳ hoàn cảnh nào để biện minh cho việc tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23; 698]
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại các Điều 71, 72 Hiến pháp; Điều
6, 7, 9 BLTTHS và các chương XII, XXII BLHS cũng chính là sự khẳng định về mặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục
Như vậy, quyền này có thể bị vi phạm ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng trong TTHS là rõ nét nhất, đặc biệt là tại giai đoạn điều tra khi việc truy bức, dùng nhục hình người bị nghi ngờ phạm tội có thể được sử dụng như là cách nhanh nhất
để lấy lời khai người bị buộc tội…
1.2.3 Quyền được xét xử nhanh chóng, không bị trì hoãn
Điểm c khoản 3 Điều 14 ICCPR quy định: “Người bị buộc tội được xét xử
mà không bị trì hoãn một cách vô lý”
Nguyên tắc 38 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 quy định: “Một người bị giam do bị
Trang 21cáo buộc phạm tội hình sự phải có quyền được xét xử trong một khoảng thời gian hợp lý hoặc được trả tự do trong thời gian chờ xét xử”
Quy tắc Bắc Kinh, 1985 cũng quy định việc tránh trì hoãn không cần thiết:
“Mỗi vụ án phải được xét xử nhanh chóng ngay từ đầu, không được có bất kỳ sự trì hoãn không cần thiết nào” (Quy tắc 20)
Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xác định tại Điều 27:
“Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng Vấn đề xét
xử không chậm trễ trong TTHS được đề cập trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của Điều 14 Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân sách cho thực thi pháp luật” [21, 367]
Quyền này có một ý nghĩa quan trọng trong TTHS vì việc áp dụng pháp luật không chỉ cần đúng đắn mà còn phải kịp thời Nếu công lý không được thực hiện kịp thời thì cũng không còn nhiều ý nghĩa Trước hết đối với quyền lợi của những người bị hại thì rõ ràng là vụ án càng kéo dài càng bị ảnh hưởng (trừ trường hợp có
sự thỏa thuận bồi thường giữa các bên trong vụ án) Ngoài ra, tâm lý theo đuổi vụ
án kéo dài cũng rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc hàng ngày của những người tham gia tố tụng Sau đó, chính bản thân những người bị tình nghi phạm tội, những người bị buộc tội cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng Đó là những trường hợp như do sự chậm trễ của hoạt động tư pháp mà nhiều người bị bắt, tạm giữ, tạm giam sau nhiều ngày mới được xác định là vô tội và được trả tự do
Ngay cả người bị buộc tội có bị kết án đi chăng nữa thì việc chờ đợi quá lâu một hình phạt đối với mình cũng bị xem là một hành động tra tấn [21, 287] Những trường hợp này, dù có được giải quyết đúng người, đúng tội đi chăng nữa thì các giá trị khác mà pháp luật cần bảo vệ cũng bị tổn hại nặng nề Tuy vậy, trong thực tiễn tố tụng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, quyền này vẫn đã và đang bị vi phạm
Không chỉ là việc kéo dài thời gian xét xử dẫn tới việc gia hạn, án quá hạn mà còn
Trang 22có tình trạng án kéo dài năm này qua năm khác khi vụ án bị điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung
1.2.4 Quyền được xét xử công bằng
Đây thực chất là một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng, gồm: Bình đẳng trước Tòa án; Được xét xử bởi một Tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; Được suy đoán vô tội; Không bị áp dụng hồi tố;
Không hình sự hóa vụ án dân sự Trong một số tài liệu thì mỗi bảo đảm này được coi như là một quyền con người cụ thể [22; 168]
Quyền này được đề cập tại Điều 10 UDHR (quyền được xét xử công bằng và công khai) và Điều 11 UDHR (quyền được suy đoán vô tội, không hình sự hóa vụ
án dân sự, không bị áp dụng hồi tố) Hai Điều này được tái quy định trong ICCPR tại các Điều 11 (không hình sự hóa vụ án dân sự); Điều 14 (quyền được xét xử công bằng; quyền được suy đoán vô tội; quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, không thiên vị); Điều 15 (không bị áp dụng hồi tố)
Ở phiên họp lần thứ 21, 1984, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 14 ICCPR tại Bình luận chung số 13 Sau này, Bình luận chung số 13 được thay thế bằng Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 với các nội dung như sau:
- Mục đích của Điều 14 ICCPR: bảo đảm công lý và làm tiền đề bảo đảm một số quyền cụ thể trong đó
- Bản chất của Điều 14: là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng (quyền bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án; quyền được xét xử công bằng và tranh tụng trước một Tòa án độc lập, không thiên vị;
quyền của người bị cáo buộc hình sự; quyền của người chưa thành niên; quyền kháng cáo; quyền được bồi thường oan sai,…)
- Các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các bảo đảm tố tụng quy định ở Điều 14
- Các quốc gia thành viên Công ước có thể bảo lưu một số bảo đảm cụ thể ở Điều 14 nhưng không được bảo lưu chung về quyền được xét xử công bằng…
- Từ Điều 7 đến Điều 57: Ủy ban giải thích rõ ràng và cụ thể về nội hàm của
Trang 23các tập hợp tố tụng nêu trong Điều 14 ICCPR
- Từ Điều 58 đến Điều 65, Ủy ban bình luận về mối liên hệ giữa Điều 14 ICCPR và các quy định khác của Công ước [21, 379]
Về Điều 11 và 15 ICCPR thì cho đến nay, HRC/UNHRC chưa đưa ra bình luận chung nào
Trong Pháp luật Việt Nam, quyền này được thể hiện bằng nhiều quy định trong Hiến pháp và BLTTHS Pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Nam đều ghi nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ quan tiến hành tố tụng Đây là một nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao Một phiên tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người như quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do ngôn luận …
Tuy nhiên, để có một phiên tòa công bằng thì cũng cần phải đảm bảo bởi rất nhiều yếu tố Và do đó, trong thực tế, quyền này dễ bị vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau
Trang 24Chương 2 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ
2.1 Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo Pháp luật Việt Nam
Các quy định để bảo đảm quyền con người trong TTHS được thể hiện tập trung và rõ ràng nhất tại Hiến pháp và BLTTHS cũng như các văn bản liên quan đến hoạt động của TAND và VKSND Tuy nhiên, trong phần này, chúng tôi chỉ đi phân tích các quy định của Hiến pháp 1992 và BLTTHS 2003
2.1.1 Theo Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 được thông qua vào ngày 15/4/1992, được sửa đổi vào ngày 25/12/2001 Hiến pháp 1992 ra đời trong bối cảnh những năm đầu đất nước thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đề ra và để thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 Hiến pháp 1992 với vai trò là đạo luật gốc đã thực hiện tốt sứ mệnh lịch sử, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Nhiều thành tựu to lớn trong quá trình phát triển của đất nước đã diễn ra trên nền tảng mà Hiến pháp 1992 tạo ra
Về vấn đề quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp 1992 đã có sự ghi nhận về quyền con người tại chương V từ điều 49 - 82 (tăng 05 điều so với Hiến pháp 1980) Hiến pháp 1992 đã ghi nhận hai nguyên tắc quan trọng là:
“Các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và luật” (Điều 50)
“Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân” (Điều 51) Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cụm từ “quyền con
Trang 25người” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp Từ hai nguyên tắc này, Hiến pháp 1992 ghi nhận một số quyền con người nói chung và quyền con người trong TTHS nói riêng cũng như cơ chế đảm bảo thực thi các nguyên tắc đó trong thực tế
Các quyền con người trong TTHS được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 gồm:
- Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52)
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71)
- Quyền được suy đoán vô tội: thực chất là sự ghi nhận nội dung chính của quyền (Điều 72)
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và đời sống riêng (Điều 73)
- Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 74)
- Quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập (Điều 130)
- Quyền bào chữa (Điều 132) Tuy nhiên, các quyền con người trên được thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, chứ không được xem xét quyền con người như bản chất vốn có của nó
Ngoài việc ghi nhận những quyền con người cụ thể như trên thì Hiến pháp
1992 còn quy định cơ chế thực hiện quyền Các quyền con người trong TTHS được bảo đảm bằng hệ thống các cơ quan là Công an nhân dân, VKSND và TAND, trong
đó các quy định về VKSND và TAND khá rõ nét và cụ thể Theo quy định của Hiến pháp 1992 thì “VKSND thực hành quyền công tố” (Điều 137), “TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 127) Và cả hai hệ thống cơ quan này đều có chung nhiệm vụ là “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126)
Đặc biệt, ngoài việc quy định các nguyên tắc xét xử thì Hiến pháp còn quy định về
cơ cấu tổ chức hoạt động của hệ thống TAND và VKSND nhằm đảm bảo việc xét
xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện; so sánh với pháp luật quốc tế và một số quốc gia khác thì phải thừa nhận rằng với những quy định như hiện nay về
Trang 26quyền con người thì Hiến pháp 1992 còn nhiều hạn chế Tuy vậy, với những thành quả đã đạt được thì có thể nói rằng Hiến pháp 1992 về cơ bản là đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, đã giải quyết được những vấn đề quan trọng đương thời, bước đầu tạo nên sự chuyển biến về nhận thức về quyền con người Quyền con người không còn
bị coi là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hay là công cụ chính trị như trước nữa mà được thừa nhận một cách khách quan hơn, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại, là một giá trị lớn của toàn thế giới [1]
Các quyền con người quy định trong Hiến pháp đã được cụ thể hóa tương đối đầy đủ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam Tính từ năm 1986 đến năm 2002, Việt Nam đã ban hành 13.000 văn bản quy phạm pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 Bộ luật và Luật, trên 120 Pháp Lệnh, gần 850 văn bản của Chính phủ và trên 3000 văn bản của các bộ, ngành đã được thông qua và thực thi Riêng trong năm 2004, Quốc hội đã thảo luận và thông qua 13 luật và 8 pháp lệnh trong các lĩnh vực khác nhau [6]
Trong lĩnh vực TTHS, các văn bản quan trọng đã được ban hành như BLHS, BLTTHS, Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKSND… kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án hình sự Trong các văn bản trên, BLTTHS có vai trò đặc biệt quan trọng
2.1.2 Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
BLTTHS 2003 được thông qua ngày 26/11/2003 là văn bản pháp luật TTHS được hệ thống hóa ở mức cao nhất, điều chỉnh toàn bộ quá trình TTHS, là nguồn chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật TTHS nước ta
Cũng như các văn bản luật khác thì BLTTHS 2003 có những quy định phù hợp với Hiến pháp 1992
2.1.2.1 Quy định về các nguyên tắc cơ bản:
Trên tinh thần Hiến pháp 1992, BLTTHS 2003 quy định các nguyên tắc cơ bản tại chương II với 30 điều, từ điều 3 đến điều 32, trong đó đã có những nguyên tắc quan trọng để đảm bảo quyền con người Tuy nhiên, cũng như Hiến pháp 1992, BLTTHS 2003 quy định quyền con người thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhà
Trang 27- Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS (Điều 3)
Pháp chế là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và của mọi cá nhân Trong TTHS, nguyên tắc bảo đảm pháp chế là nguyên tắc bao trùm, được thể hiện trong toàn bộ các hoạt động TTHS, là cơ sở cho các nguyên tắc TTHS khác Nội dung nguyên tắc này được quy định tại điều 3 BLTTHS: “Mọi hoạt động TTHS của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” Nguyên tắc này đòi hỏi:
+ Các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải tuân thủ các quy định của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ án
+ Mọi hành vi tố tụng, quyết định tố tụng phải dựa trên các quy định của BLTTHS
Thực hiện nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức và công dân nhưng trước tiên và chủ yếu nhất vẫn là trách nhiệm của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng Thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm bảo mọi hành vi phạm tôi đều được xử lý trước pháp luật;
việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, bảo đảm các quyền lợi hợp pháp của công dân
- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4)
Tôn trọng và bảo vệ các quyền con người vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời nó cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của BLTTHS Nội dung nguyên tắc này quy định:
+ Các chủ thể có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc này: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS, Kiểm sát viên;
Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm
+ Khi tiến hành tố tụng các chủ thể trên phải có các nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Mọi hành vi, quyết định tố tụng
Trang 28liên quan đến các quyền cơ bản của công dân phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật
+ Các chủ thể trên phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng; kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết
BLTTHS và một số văn bản liên quan đến tổ chức, hoạt động của TAND, VKSND, CQĐT trong Công an nhân dân đã có những quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý khá đầy đủ và chặt chẽ cho việc thực hiện nguyên tắc này Đó là các quy định về quyền cơ bản của công dân, quy định về căn cứ, thủ tục áp dụng các biện pháp TTHS, quy định trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng…
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5)
Sự bình đẳng trước pháp luật được hiểu là sự thể hiện ở vị trí như nhau của mọi công dân trong mọi lĩnh vực của hoạt động nhà nước và xã hội mà không có
sự ưu tiên, ưu đãi, phân biệt đối xử với bất cứ đối tượng nào BLTTHS ghi nhận nguyên tắc này tại Điều 5, đồng thời thể hiện qua một số nguyên tắc khác như:
Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19), Tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS (Điều 24)
Nguyên tắc này quy định bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo theo một trình tự, thủ tục tố tụng như nhau theo quy định của BLTTHS; bất cứ người nào thực hiện hành vi phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo các điều khoản tương ứng của BLHS, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội Nghĩa là công dân ở địa vị pháp lý như nhau thì có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nhau và cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo cho công dân thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng đó để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6),
Nội dung nguyên tắc này quy định:
Thứ nhất, không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định
hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm tội quả tang Nghĩa là Tòa án hoặc
Trang 29VKS là hai cơ quan có thẩm quyền cuối cùng trong việc bắt người, trừ trường hợp phạm tội quả tang thì bất kì ai cũng có quyền bắt Điều 80 BLTTHS quy định Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT có quyền ra lệnh bắt người, nhưng lệnh đó phải được VKS cùng cấp phê chuẩn thì mới có hiệu lực thi hành Điều 81 BLTTHS cũng quy định Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; người chỉ huy quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở biên giới, hải đảo; người chỉ huy tàu bay, tàu biển có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp; tuy nhiên, trong thời gian 24 giờ mà lệnh bắt khẩn cấp không được VKS cùng cấp phê chuẩn thì người bị bắt được trả tự do;
Thứ hai, việc bắt và giam người phải theo quy định của BLTTHS
Để tránh sự lạm dụng, vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, BLTTHS đã quy định một cách cụ thể, chặt chẽ các căn cứ, thẩm quyền
và thủ tục áp dụng, đặc biệt là đối với biện pháp bắt và giam, giữ người Qua đó loại
bỏ và hạn chế được việc bắt, giam giữ người tùy tiện
Thứ ba, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, dùng nhục hình trong hoạt động
TTHS Việc truy bức, dùng nhục hình trong TTHS không chỉ xâm phạm sức khỏe,
tự do, danh dự, nhân phẩm người tham gia tố tụng, mà còn làm cho hoạt động tố tụng bị sai lệch, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án
- Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân” (Điều 7),
Theo nguyên tắc này thì công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật Ngoài ra, nguyên tắc này còn nhấn mạnh đến việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm tài sản của người bị hại, người làm chứng và những người tham gia
tố tụng khác cũng như những người thân thích của họ Sự đảm bảo này ngoài ý nghĩa bảo đảm quyền con người cho những người được thụ hưởng trực tiếp còn
có một ý nghĩa quan trọng khác là góp phần làm cho quá trình tố tụng được xem xét khách quan Sự bảo đảm này sẽ tạo cho những nhân chứng, những người có
Trang 30quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yên tâm, khai ra những thông tin chính xác, không chịu sức ép từ bên đối lập
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật
thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8)
Nguyên tắc này quy định không ai được xâm phạm chỗ ở, thư tín, điện thoại, điện tín của công dân một cách tùy tiện Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện tín phải có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng thủ tục
Căn cứ để có thể khám xét chỗ ở là khi có căn cứ để nhận định tại chỗ ở có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc khi cần phát hiện người đang bị truy nã (khoản 1 Điều 140 BLTTHS)
Căn cứ để có thể khám xét thư tín, điện thoại, điện tín của công dân là khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án (khoản 1 Điều 140 BLTTHS)
Việc khám xét này chỉ được thực hiện khi người ra lệnh có thẩm quyền, đó là: Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh
án, Phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó chánh tòa Tòa phúc thẩm TANDTC; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp Nếu là trường hợp lệnh khám xét do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp ra lệnh thì phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Nếu trong trường hợp không thể trì hoãn thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp có quyền ra lệnh khám xét trước nhưng trong vòng 24h kể từ khi khám xét xong người ra lệnh phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết
Ngoài ra, trong trường hợp không thể trì hoãn thì những người sau cũng có quyền khám: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng Sau 24h kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết
BLTTHS cũng quy định cụ thể thủ tục khám chỗ ở; thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín của công dân tại các Điều 143, 144
Trang 31Theo đó, khi khám chỗ ở phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng
Nếu người chủ và người trong gia đình cố tình trốn tránh, vắng mặt lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến BLTTHS cũng quy định không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản Khi bắt đầu khám thì phải đọc lệnh khám, đưa lệnh cho người phải thực hiện lệnh khám đọc, giải thích cho người đó và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ
Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra nhưng đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám
Còn việc thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín tại bưu điện thì người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan bưu điện hữu quan trước khi tiến hành thu giữ Khi tiến hành việc thu giữ phải có đại diện của cơ quan bưu điện chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện thoại, điện tín biết Nếu việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi hết sự cản trở, cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay
- Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9)
Đây là nguyên tắc quan trọng thể hiện sự bảo đảm về quyền con người và tính nhân đạo trong các hoạt động TTHS Nội dung của nguyên tắc này bao gồm:
+ Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền kết tội và áp dụng hình phạt đối với một người khi có căn cứ bằng một bản án hợp pháp và có hiệu lực pháp luật
+ Một người chỉ phải chịu hình phạt khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
+ Mọi nghi ngờ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội
Như vậy, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội vẫn được xem là vô tội Vì thế, cho đến khi bản án kết tội có hiệu lực phạm luật thì người bị buộc tội phải được đối xử như một công dân bình thường
Trang 32trong phạm vi có thể Mọi biện pháp hạn chế quyền con người của người bị buộc tội phải là sự lựa chọn cuối cùng và vì mục đích ngăn chặn tội phạm chứ không phải để trừng trị họ.Việc tạm giữ, tạm giam với ý nghĩa là biện pháp ngăn chặn phải được thực hiện theo chế độ giam, giữ khác với việc chấp hành hình phạt tù
Qua đây, ta thấy hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định đến việc kết tội một người, vì chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền này Điều này đòi hỏi hoạt động xét xử phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật; việc ra phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các bên tham gia tố tụng
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)
Nội dung của nguyên tắc này quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Quyền bào chữa của những đối tượng này phải được CQĐT, VKS, Tòa án bảo đảm Sự bảo đảm đó được cụ thể hóa tại Điều 56 – 58 BLTTHS, cụ thể như sau:
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo; trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa cho người bị tạm giữ thì CQĐT/VKS/Tòa án phải xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do
Ngoài ra, với trường hợp bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không mời người bào chữa thì CQĐT, VKS hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật
sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình
- Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14)
Sự vô tư trong TTHS là một đòi hỏi quan trọng để quá trình giải quyết vụ án
Trang 33được khách quan và đúng đắn Do đó, Điều 14 BLTTHS quy định những người tiến hành tố tụng không được tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch, người giám định không được tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô
tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình
Cụ thể nguyên tắc này, Điều 42 BLTTHS quy định những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng gồm:
Người tiến hành tố tụng đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân của những người đó hoặc của bị can, bị cáo
Người tiến hành tố tụng đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó
Hoặc có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng người tiến hành tố tụng không vô tư trong khi làm nhiệm vụ
Ngoài ra, tại các Điều 44, 45, 46, 47, 56, 60, 61 BLTTHS đều quy định các trường hợp cụ thể buộc phải thay đổi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, người bào chữa, người giám định, người phiên dịch để bảo đảm nguyên tắc này
- Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia (Điều 15)
Nguyên tắc này tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách trực tiếp vào hoạt động xét xử để phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Nội dung nguyên tắc này thể hiện:
+ Việc xét xử của TAND có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia
+ Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán
Quy định này đảm bảo cho Hội thẩm tham gia một cách thực chất vào hoạt động xét xử, Thẩm phán không có quyền áp đặt ý chí đối với Hội thẩm trong việc giải quyết vụ án
- Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16)
Trang 34Xét xử là hoạt động trung tâm và có vai trò quyết định đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, đòi hỏi phải được thực hiện một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật để có thể đưa ra một phán quyết chính xác
Nguyên tắc này quy định:
+ Khi xét xử thì Thẩm phán và các Hội thẩm xét xử độc lập
Tuy nhiên, không phải hiểu một cách máy móc rằng chỉ khi xét xử (khi ra phiên tòa) mới thể hiện sự độc lập mà sự độc lập này ở chỗ độc lập nghiên cứu, độc lập tư duy để độc lập đưa ra ý kiến Nguyên tắc này được thể hiện rõ nhất ở giai đoạn nghị án Trong đó, các vấn đề của vụ án sẽ được giải quyết bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một Để nguyên tắc này được đảm bảo, BLTTHS cũng quy định rõ Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng, người có ý kiến thiểu số
có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án (Điều 222 BLTTHS)
+ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật
Quy định này đòi hỏi khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không được tùy tiện, chủ quan mà phải tuân thủ các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án
Điều 222 BLTTHS cũng quy định khi nghị án thì Thẩm phán và Hội thẩm chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa và nội dung nghị
án sẽ được ghi vào biên bản nghị án và làm căn cứ để tuyên án
Sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét
xử là hai yêu cầu có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Sự độc lập đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và ngược lại, chỉ khi tuân theo pháp luật thì mới
có sự độc lập
- Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể (Điều 17)
Nguyên tắc này quy định Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, không vụ án nào được xét xử bởi một cá nhân duy nhất
Cụ thể, theo quy định của BLTTHS thì thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặc bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội
Trang 35đồng xét xử sẽ gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm (Điều 185) Thành phần HĐXX phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm (Điều 244) Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa hình sự TANDTC hoặc Tòa án Quân sự Trung ương có ba Thẩm phán Nếu Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì thành viên tham gia xét xử phải chiếm hai phần ba tổng số thành viên của ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán (Điều 281, 296)
BLTTHS cũng quy định quá trình nghị án để cho ra bản án thì các thành viên của HĐXX biểu quyết theo đa số từng vấn đề một, trong đó Thẩm phán biểu quyết cuối cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án (Điều 222 BLTTHS)
Nguyên tắc này là một đảm bảo quan trọng để quá trình xét xử vụ án diễn ra một cách toàn diện, khách quan; tránh sự chủ quan, độc đoán, tùy tiện
- Nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18)
Tính công khai trong xét xử là một đảm bảo quan trọng để nhân dân có thể kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử cũng như đảm bảo cho các hoạt động tại phiên tòa được tiến hành một cách khách quan, đúng đắn
Điều 18 BLTTHS quy định:
Thứ nhất, việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều
có quyền tham dự, trừ trường hợp do BLTTHS quy định
Theo Điều 197 BLTTHS, mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền tham
dự phiên tòa Những người dưới 16 tuổi có thể tham gia phiên tòa nếu được Tòa án triệu tập để xét hỏi Các phiên tòa thường được tiến hành tại trụ sở các Tòa án hoặc được xét xử lưu động tại nơi xảy ra hành vi phạm tội hoặc nơi cư trú của bị cáo
Thứ hai, trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc theo yêu cầu chính đáng của những người tham gia tố tụng thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai Ngoài ra, theo Điều 307 BLTTHS, khi xét xử người chưa thành niên phạm tội, trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể quyết định xét xử kín Như vậy, việc xét xử công khai được đảm bảo,
Trang 36việc xử kín hết sức hạn chế, chỉ trong những trường hợp cần thiết mới áp dụng
Ngay cả trong những phiên xử kín, việc tuyên án vẫn phải công khai
- Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 20)
BTTHS quy định hai cấp xét xử là: cấp sơ thẩm và phúc thẩm
Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị thì sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc từ ngày bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhận được bản án hoặc từ ngày bản
án, quyết định được niêm yết sẽ có hiệu lực pháp luật Nếu bản án, quyết định của Tòa án có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ thì vụ án sẽ được xét xử ở cấp thứ hai là xét
Ngoài ra, đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Việc quy định hai cấp xét xử sẽ tạo điều kiện cho vụ án được đánh giá một cách kỹ lượng, toàn diện, đảm bảo cho Tòa án cấp trên khắc phục, sửa chữa những sai phạm trong bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới để đưa phán quyết cuối cùng một cách đúng đắn và chính xác
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19)
Bình đẳng trước Tòa án là sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quá trình xét xử vụ án Đây là một đảm bảo quan trọng để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đảm bảo cho quá trình xét xử vụ án diễn
ra một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Nội dung nguyên tắc này gồm:
+ Bên buộc tội và bên gỡ tội, những người tham gia tố tụng khác đều bình
Trang 37đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án
+ Tòa án có trách nhiệm phải tạo mọi điều kiện để các chủ thể thực hiện các quyền của mình nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án
Sự quy định này thể hiện sự dân chủ trong hoạt động xét xử, đảm bảo tính đúng đắn, công bằng và khách quan cho phán quyết của Tòa án
- Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án (Điều 22)
Bản án, quyết định của Tòa án là sự thể hiện sự phán quyết của Tòa án, đánh dấu sự kết thúc quá trình xét xử Mọi vấn đề của vụ án (bị cáo phạm tội hay không phạm tội, hình phạt áp dụng, vấn đề bồi thường dân sự) sẽ được kết luận BLTTHS quy định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành
Mọi công dân, cơ quan, tổ chức phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó Để nguyên tắc này được thi hành, Phần thứ năm của BLTTHS đã quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến việc thi hành án và chấp hành bản án, quyết định của Tòa án Bên cạnh đó, BLHS 1999 cũng quy định ba tội danh liên quan đến vấn đề này là “Tội không chấp hành án” (Điều 304 BLHS), “Tội không thi hành án” (Điều
305 BLHS), “Tội cản trở việc thi hành án” (Điều 306 BLHS) Những quy định trên chứng tỏ vai trò quan trọng của bản án, quyết định của Tòa án, đồng thời quy định nghĩa vụ tôn trọng các phán quyết của Tòa án cũng như các biện pháp cưỡng chế khi có vi phạm xảy ra
- Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29)
Theo quy định của Điều 29 BLTTHS thì nội dung của nguyên tắc này được thể hiện như sau:
+ Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi
+ Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan, người đã gây thiệt hại có
Trang 38Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng triệt để các quyền cơ bản của công dân đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan và những người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động TTHS, để các hoạt động này ngày càng trở nên đúng đắn
- Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS (Điều 31)
Điều 31 BLTTHS quy định:
Thứ nhất, mọi công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại Thứ hai, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt
động TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng
Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết việc khiếu nại, tố cáo tại chương XXXV của BLTTHS 2003
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ của hoạt động TTHS, là phương tiện bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân,
là một trong các hình thức để phát hiện và khắc phục các vi phạm trong tiến trình giải quyết vụ án
- Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 32)
Để bảo đảm quyền con người trong TTHS, cũng như việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cơ quan, tổ chức có điều kiện tham gia đấu tranh mọi hành vi vi phạm pháp luật, Điều 32 BLTTHS quy định:
+ Các chủ thể có quyền giám sát hoạt động và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là: các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử
+ Nếu phát hiện có hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thì các chủ thể trên có quyền yêu cầu/kiến nghị với các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của BLTTHS 2003
Trang 39+ Việc giải quyết và trả lời yêu cầu/kiến nghị phải theo quy định của pháp luật
2.1.2.2 Quy định về các biện pháp ngăn chặn
BLTTHS quy định 06 biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đồng thời quy định một cách khá cụ thể và đầy đủ về căn cứ, thẩm quyền cũng như thủ tục áp dụng các biện pháp này; là sự cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Các biện pháp này nếu được áp dụng đúng đắn và chính xác thì sẽ phát huy được tác dụng kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án Ngược lại, nếu nó bị áp dụng một cách tùy tiện, đặc biệt là với biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền tự do, an toàn cá nhân của người bị áp dụng Do đó, BLTTHS đã
có những quy định chi tiết và cụ thể để việc áp dụng các biện pháp này khi cần thiết không làm ảnh hưởng đến các quyền con người của người bị áp dụng
Đó là các quy định về chủ thể có thẩm quyền áp dụng
Theo quy định của BLTTHS thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải
do các chủ thể đặc biệt quyết định Các chủ thể đó gồm:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp
- Chánh án và Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp
Ngoài ra còn có một nhóm các chủ thể đặc biệt gồm: HĐXX, người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển
đã rời khỏi sân bay, bến cảng
Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể trên đều có thẩm quyền như nhau trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn mà từng biện pháp cụ thể sẽ do một số chủ thể quyết định theo quy định của pháp luật (Điều 80, 81, 82, 86, 88 BLTTHS)
Như vậy, đối với những biện pháp ngăn chặn, đặc biệt là những biện pháp có khả năng hạn chế quyền tự do của con người thì việc áp dụng được giao cho những chủ thể đặc biệt – là những người có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm cũng như
Trang 40khả năng chịu trách nhiệm về những quyết định của mình
Để việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không bị lạm dụng, không phát huy được tác dụng, BLTTHS quy định căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn rất chặt chẽ Đó là:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: ngăn không cho tội phạm đang được chuẩn
bị xảy ra hoặc không cho tội phạm đang xảy ra được tiếp tục Việc ngăn chặn kịp thời tội phạm sẽ tránh được hậu quả hoặc làm giảm bớt hậu quả của tội phạm;
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử Việc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử là hành vi bỏ trốn, tiêu hủy, thay đổi, tạo chứng cứ giả, xóa dấu vết vụ án… làm cho việc điều tra, truy tố, xét xử gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện được;
- Có căn cứ chứng tỏ bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được biểu hiện qua các yếu tố như nhân thân xấu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;
- Khi cần đảm bảo thi hành án Việc tạm giam để bảo đảm thi hành án được quyết định bởi HĐXX (thường được HĐXX cấp phúc thẩm áp dụng) Áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này nhằm loại trừ khả năng bỏ trốn để trốn tránh
sự trừng phạt của pháp luật bị cáo đồng thời bảo đảm hiệu lực của các phán quyết của Tòa án Khi xem xét việc áp dụng biện pháp này hay không, HĐXX sẽ căn cứ vào thái độ hợp tác, nhân thân, các mối quan hệ của bị cáo
Trên cơ sở các căn cứ áp dụng chung, BLTTH còn quy định căn cứ riêng cho từng biện pháp ngăn chặn cụ thể (điều 81, điều 88 BLTTHS)
Ngoài ra, BLTTHS cũng quy định cụ thể thủ tục thực hiện các biện pháp ngăn chặn để tránh sự tùy nghi, không có căn cứ Trong đó các biện pháp bắt người, đặc biệt là bắt bị can, bị cáo để tạm giam được quy định khá chặt chẽ
Trong thủ tục thực hiện các biện pháp này, phải đảm bảo: Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên; chức vụ người ra lệnh; họ, tên, địa chỉ của người bị bắt
và lý do bắt Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu nhằm tránh bị giả mạo, lừa đảo