Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông .... Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khẳng định vai tr
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Sử - Địa, trường Đại học Tây Bắc
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths Lê Thị Dung người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện giúp đỡ
em hoàn thành khóa luận này
Lời cuối cùng, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Vũ Thị Nhung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 7
6 Bố cục của đề tài 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ VĂN HÓA VẬT CHẤT - TINH THẦN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Các khái niệm 8
1.1.2 Xuất phát điểm 10
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 17
1.1.4 Một số yêu cầu khi giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong môn lịch sử ở trường phổ thông 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ VĂN HÓA VẬT CHẤT - TINH THẦN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỈ X - XIX, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ LỚP 10 THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN 23
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong lịch sử lớp 10 23
2.1.1 Vị trí 23
2.1.3 Nội dung kiến thức cơ bản để giáo dục học sinh ý thức thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần 23
Trang 42.2 Những yêu cầu khi xác định hình thức và biện pháp để giáo dục học sinh ý
thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong dạy học lịch sử 24
2.3 Một số hình thức và biện pháp để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần 25
2.3.1 Vận dụng dạy học nêu vấn đề 25
2.3.2 Sử dụng tranh ảnh để tạo biểu tượng văn hoá vật chất cho học sinh 28
2.3.3 Vận dụng kiến thức liên môn 31
2.3.4 Dạy học theo dự án 32
2.3.5 Một số hoạt động ngoại khóa 39
2.4 Thực nghiệm sư phạm 45
2.4.1 Mục đích thực nghiệm 45
2.4.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 45
2.4.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 45
2.4.4 Kết quả thực nghiệm 46
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh xây dựng, bảo vệ đất nước đầy khó khăn gian khổ Trong quá trình ấy, dân tộc ta đã tích tụ và mang trong mình những truyền thống tốt đẹp
Các bạn nước ngoài khi đến Việt Nam không khỏi ngạc nhiên khi khám
phá ra rằng: “Trên đất nước Việt Nam này không thể nào kể hết những truyền thống Những sự kiện lịch sử ở đây biến thành những huyền thoại và những huyền thoại lại biến thành lịch sử Chưa từng ở đâu tôi lại thấy được sự hài hoà tuyệt vời như vậy giữa quá khứ và hiện tại Thời gian như tích tụ, ngưng đọng lại thành một sức mạnh Ngày hôm nay không rứt bỏ ngày hôm qua Và ngày hôm qua không làm quá khứ chết thêm mà làm sống lại quá khứ” [1; 83-84]
Một trong những truyền thống ấy là văn hoá
Văn hóa Việt Nam - cội nguồn sức mạnh của dân tộc, là sức mạnh nội tại, nền tảng tinh thần của xã hô ̣i, vừa là mu ̣c tiêu, vừa là đô ̣ng lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tô ̣c là một nhiệm vụ then chốt trong chiến lược phát triển văn hóa của dân tộc ta
Bộ môn Lịch sử ở trường THPT là một môn học có “sở trường và ưu thế”
về giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền thống văn hoá dân tộc và tinh hoa thế giới cho HS Bởi vì, lịch sử là cụ thể, gắn với con người thật, việc thật;
là sự phản ánh hợp quy luật khách quan Chương trình lịch sử ở trường phổ
thông đã nêu rõ yêu cầu, mục tiêu của bộ môn là: “…góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [7, 206] Vì vậy, cùng với nội dung
quân sự, kinh tế, chính trị, xã hội, GV cần tổ chức HS lĩnh hội kiến thức về thành tựu văn hoá Nếu GV thực hiện có hiệu quả điều này thì sẽ có tác dụng giáo dục nhiều mặt với người học
Tuy vậy, làm thế nào để giáo dục ý thức bảo vệ nền văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cho HS một cách hiệu quả trong các trường THPT hiện nay
Trang 6còn nhiều điều đáng bàn Phần lớn GV chưa tìm ra cách thức tổ chức HS lĩnh hội kiến thức hấp dẫn, mới lạ Tình trạng dạy học theo kiểu tóm tắt SGK rồi thông báo còn tồn tại khá phổ biến Người học bị động và phụ thuộc nhiều vào
GV trong tiếp nhận kiến thức Vì vậy, việc dạy học nội dung văn hoá chưa thực
sự phát huy tác dụng giáo dục như ý nghĩa vốn có
Chương trình lịch sử lớp 10 THPT là một khóa trình thể hiện khá rõ nét các thành tựu văn hoá của nhân loại, đặc biệt là những thành tựu của nền văn hóa Việt Nam Mặc dù thời kì này đời sống con người gặp nhiều khó khăn, trình
độ nhận thức còn hạn chế… nhưng họ đã tạo ra các thành tựu văn hoá phong phú, là nền tảng quan trọng cho bước tiến về khoa học kỹ thuật, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày nay
Vì những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học nội dung văn hoá trong chương trình môn học ở trường THPT, chúng tôi đã chọn đề tài
“Giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông ” để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tài liệu nước ngoài
Trong tác phẩm “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” (Nxb Giáo dục, Mátxcơva, năm 1972), A.A.Vaghin đã dành chương 8: “Những vấn đề văn hoá trong khoá trình lịch sử trường phổ thông” để trình bày vị trí, vai trò
các tài liệu văn hoá - lịch sử trong các khoá trình lịch sử ở trường phổ thông Liên Xô và những vấn đề chung về phương pháp dạy học loại tài liệu này Trong
đó, ông đặc biệt nhấn mạnh các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử thông qua sử dụng đồ dùng trực quan, SGK và các tài liệu lịch sử dùng cho nhà trường Cuối cùng, tác giả khẳng định, việc dạy học nội dung văn hoá sẽ đảm
bảo tính toàn diện cho người học
Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” (Nxb Giáo dục,
Hà Nội, năm 1973) đề cập tới tính đa dạng của nguồn tri thức và khẳng định: Việc nghiên cứu nội dung văn hoá trong môn Lịch sử qua các tác phẩm hội hoạ , kiến trúc, điêu khắc… là cần thiết, không những tăng cường hứng thú của HS
Trang 7đối với bộ môn mà còn góp phần nâng cao hiểu biết của các em Ông đưa ra những cách thức để tổ chức dạy học có hiệu quả, trong đó điểm mấu chốt là phải xác định chất lượng sự kiện, ý nghĩa của nó với sự phát triển toàn diện của HS Đồng thời, tác giả chú trọng đến việc tổ chức giờ học nêu vấn đề và cho rằng đó
là giờ học có ý nghĩa đặc biệt đối với sự lĩnh hội kiến thức của HS, trên cơ sở hoạt động tư duy độc lập của các em
Với tác phẩm “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử” (bản dịch
viết tay của thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1986), tác giả I.Ia.Lecne đưa ra một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển tư duy và tăng cường khả năng lĩnh hội kiến thức của HS trong quá trình học tập bộ môn Qua đó, ông khẳng định: Việc phát triển tư duy, kích thích năng lực sáng tạo, tính tích cực nhận thức của HS là biện pháp quan trọng để tổ chức dạy học lịch sử hiệu quả
Các tác giả J.Marc Dennommes và Madeleine Roy trong cuốn “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” (Nxb Giáo dục, năm 2000) đã xác định
vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học, sự tác động qua lại giữa hai yếu
tố này Từ đó, các tác giả khẳng định việc đảm bảo mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học sẽ làm quá trình tổ chức dạy học và việc lĩnh hội kiến thức của HS hiệu quả hơn Trên cơ sở đó, họ đề xuất một số phương hướng dạy học để giải quyết tốt mối quan hệ này
Mới đây nhất, trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (2011),
nhóm tác giả Robert J.Marano, Debra J.Pickering, Janne E.Pollock đưa ra hệ thống các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho quá trình tổ chức dạy học như: việc khích lệ học tập, học theo nhóm, lập mục tiêu, gợi ý câu hỏi… Các tác giả khẳng định, dù áp dụng biện pháp nào đi chăng nữa thì việc quan trọng nhất
là GV phải nuôi dưỡng hoạt động học tập đích thực cho người học, kích thích
HS tích cực, chủ động tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức Bởi vì “GV khó
có thể nuôi dưỡng hoạt động học tập đích thực cho người học nếu như bản thân
họ lại không tham gia vào quá trình học tập” Học tập đích thực bao giờ cũng
là một quá trình gian nan và bổn phận của người thầy là làm thế nào để quá
Trang 8trình đó ít gian nan đối với người học” [2; 5] Trong quá trình này, vai trò tổ
chức, hỗ trợ, hướng dẫn của GV rất quan trọng
Như vậy, điểm qua các công trình nước ngoài chúng tôi thấy các tác giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảng dạy nội dung học tập toàn diện cho HS Trong môn Lịch sử, bên cạnh kiến thức kinh tế, chính trị, quân sự…văn hoá cũng là lĩnh vực quan trọng Nếu dạy và học tốt nội dung này sẽ góp phần phát triển toàn diện HS, đặc biệt là về nhận thức và thái độ Các tác giả đã đề xuất một số biện pháp, cách thức tổ chức dạy và học để nâng cao hiệu quả cho bài học Đây là một trong những nguồn tham khảo quý báu giúp chúng tôi hoàn thiện khóa luận của mình
2.2 Tài liệu trong nước
Vấn đề dạy và học nói chung, môn Lịch sử nói riêng được đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau trong các sách tâm lý học, giáo dục học, giáo trình phương pháp dạy học lịch sử, các tài liệu chuyên khảo, trên các tạp chí, luận án, luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp…
Theo tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1980) cho rằng cần trang bị tri
thức toàn diện cho HS Từ đó, các em hiểu đầy đủ và sâu sắc về lịch sử, thấy sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại
Đến giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên (chủ
biên), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, năm 2002 (được tái bản, bổ sung, sửa chữa vào năm 2009), vấn đề trên được trình bày sâu sắc và toàn diện hơn Ngoài
ra, tác phẩm còn đề cập đến vị trí, vai trò của việc dạy học nội dung văn hoá trong môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông Dạy học nội dung văn hoá có tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng, bảo vệ, phát huy nền văn hoá dân tộc và tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại cho người học Từ đó, các tác giả khẳng định
“học tập lịch sử không thể không tìm hiểu các vấn đề về văn hoá” [7; 221]
Trong khi dạy các nội dung văn hoá, GV nên tổ chức HS khai thác kiến thức liên môn để các em hiểu nội dung văn hoá sâu sắc và sinh động hơn
Trang 9Cuốn “Almanach những nền văn minh thế giới” (Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, năm 1996), cuốn “Lịch sử văn minh thế giới” (Nxb Giáo dục, Hà
Nội, năm 2007) do Vũ Dương Ninh (chủ biên) đã cung cấp cho người đọc hiểu biết nhiều mặt về nền văn hoá của các quốc gia phương Đông và phương Tây thời kì Cổ - Trung đại
Trong tác phẩm “Lịch sử văn hoá thế giới Cổ - Trung đại” (Nxb Giáo
dục, Hà Nội, năm 2007), tác giả Lương Ninh đã đi nghiên cứu một cách khái quát các thành tựu văn hoá thế giới trong giai đoạn Cổ - Trung đại
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng
trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 trung học phổ thông” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2009) đã cung cấp nội dung một số
thành tựu văn hoá trong khoá trình lịch sử và gợi ý phương pháp khai thác các kênh hình trong SGK để tổ chức HS lĩnh hội kiến thức
Ngoài ra, nội dung văn hoá cũng được đề cập trong các tạp chí, các luận văn, khóa luận tốt nghiệp Cụ thể:
Trần Viết Thụ trong bài “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hoá trong sách giáo khoa lịch sử THPT” đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục (số 12) đã chỉ ra cách thức vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học nội dung văn hoá Theo tác giả, để thực hiện biện pháp này có hiệu quả, GV cần xác định nội dung và mức độ vận dụng kiến thức các môn học khác; đồng thời phải tổ chức HS vận dụng chúng để làm rõ nội dung văn hoá đang tìm hiểu
Tác giả Nguyễn Thị Thơ trong luận văn “Dạy học nội dung văn hoá theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong môn lịch sử ở trường phổ thông” (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011), trên cơ sở xác định ý nghĩa
của việc dạy học nội dung văn hoá, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để phát huy tính tích cực của HS khi dạy học nội dung này
Như vậy, vấn đề tổ chức dạy học lịch sử nói chung, giáo dục ý thức bảo
vệ nền văn hóa, tinh hoa của nhân loại nói riêng được các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm, đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau Điểm qua các
Trang 10công trình nghiên cứu nói trên, chúng tôi thấy các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng của việc dạy học nội dung văn hoá Ngoài ra, các tài liệu còn đưa ra những cơ sở lý luận, một số biện pháp, cách thức tổ chức dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng Đây là nguồn tham khảo quý báu giúp chúng tôi định hướng, đi sâu và hoàn thiện khóa luận luận Tuy vậy, các nhà nghiên cứu chưa
đi sâu tìm hiểu vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc dạy học nội dung kiến thức về thành tựu văn hoá nói chung, chưa đề xuất các biện pháp sư phạm đặc trưng để việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa nhân loại thức đạt hiệu quả; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đưa ra các biện pháp ấy… Đây là những vấn đề chúng tôi sẽ tập trung giải quyết trong khóa luận của mình
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục cho HS ý thức
bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS ở trường phổ thông, đề tài đã
xác định nội dung và đề xuất một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong dạy học lịch sử lớp 10 THPT - chương trình chuẩn, nhằm nâng cao hiệu quả bài học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc giáo dục cho HS ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong dạy học môn lịch sử ở trường THPT
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu quan điểm của các nhà giáo dục học, giáo dục lịch
sử ở trong nước và trên thế giới về những vấn đề có liên quan tới việc giáo dục cho HS ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS
- Đề tài chỉ vận dụng vào khóa trình lịch sử Việt Nam trong chương trình SGK Lịch sử lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)
- Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp nhằm giáo dục cho
HS ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS
- Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát tại một số trường THPT ở Sơn La; thực nghiệm sư phạm chỉ tiến hành trong một bài tại trường THPT Cò Nòi - Mai sơn - Sơn La
Trang 114 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức, giáo dục và quan điểm, đường lối của Đảng ta
về giáo dục nói chung, dạy học lịch sử nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài như tài liệu giáo dục học, tâm lý học, giáo dục lịch sử, SGK lịch sử lớp 10 và các tài liệu tham khảo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận thực tiễn: Điều tra về thực tiễn dạy học lịch sử nói
chung, việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS ở một
số trường THPT thông qua phỏng vấn, phiếu điều tra, dự giờ thăm lớp, quan sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm một bài trong chương trình SGK lịch sử lớp 10 theo các biện pháp đã đề xuất trong khóa luận
5 Đóng góp của đề tài
- Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc giáo
dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS ở trường THPT
- Phác hoạ được bức tranh thực trạng về việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS ở một số trường THPT
- Đề xuất một số biện pháp trong việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS lớp 10 THPT - chương trình chuẩn
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ VĂN HÓA VẬT CHẤT - TINH THẦN TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm
Để đưa ra được các biện pháp đúng đắn trong việc giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trước hết, người giáo viên cần hiểu được các khái niệm - nội hàm của vấn đề Điều này có vai trò rất quan trọng, bởi nếu không hiểu vấn đề thì người dạy sẽ không thể xác định đúng nội dung, biện pháp tổ chức và hiệu quả giáo dục mang lại sẽ không cao
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam: Giáo dục là quá trình hoạt động có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên, xã hội, cũng như những kĩ năng, kĩ
xảo cần thiết trong đời sống [4,749] Hay “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở
đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên” [1; 15]
Ý thức: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ý thức là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan Đó là hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung, hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà đã được cải biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm…) của con người Mác khẳng
định rằng: “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó” [3; 25] Ý thức là sự nhận thức về trách
nhiệm của mình đối với một việc nào đó [4; 104] Như vậy, ý thức thuộc về mặt chủ quan của con người Đó chính là sự nhận thức của con người về một sự vật, hiện tượng nào đó và nó có tác động chỉ đạo hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân Vì vậy, muốn thay đổi hành động của con người nói chung, học sinh nói
Trang 13riêng, chúng ta cần có những biện pháp tác động vào ý thức của họ, cụ thể là thông qua giáo dục
Văn hoá: Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hoá Sinh thời, chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, kho học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở, các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” [10] Theo từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, văn hoá là toàn
bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người, dân tộc sáng tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu của mình trong quá trình phát triển lịch sử Trong từ điển từ và
ngữ Việt Nam, tác giả Nguyễn Lân cũng cho rằng văn hoà là “toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt được trong từng giai đoạn về các mặt học vấn, khoa học kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức, sản xuất” [4;
2002, 2003]
Mặc dù còn có những định nghĩa khác nhau, song dựa trên sự phát triển của lý luận văn hoá hiện nay, chúng ta có thể rút ra những điểm chung trong định nghĩa về văn hoá
Văn hoá là sản phẩm của hoạt động con người, là kết quả sáng tạo của nhiều thế hệ nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần không ngừng tăng lên của con người Nói đến văn hoá không thể không nói đến những giá trị mà nó tạo ra và hoạt động sáng tạo ra giá trị đó Không chỉ tạo ra thế giới với các đối tượng phong phú và đa dạng, con người không chỉ làm biến đổi các điều kiện khách quan mà còn biến đổi chính bản thân mình, tự phát triển và hoàn thiện mình Con người có thể tự nhìn nhận bản thân mình, tự đánh giá khả năng, trình độ phát triển của mình qua các sản phẩm mình làm ra Mỗi giá trị văn hoá đều hàm chứa trong bản thân nó năng lực trí tuệ, tinh thần và cảm xúc… Sự phong phú của hệ thống giá trị trong hiện thực chỉ là hình thức bên ngoài của
sự tồn tại văn hoá, còn nội dung bản chất của văn hoá là sự phát triển của bản thân con người
Trang 14Như vậy, văn hoá được hiểu là hệ thống những giá trị phong phú trong hiện thực, được tạo nên bởi hoạt động sáng tạo cả về vật chất và tinh thần của nhiều thế hệ trong lịch sử Các giá trị này biểu hiện trình độ phát triển và những đặc trưng riêng của mỗi dân tộc
Văn hóa vật chất là toàn bộ những gì do con người sản xuất, nhằm đáp
ứng nhu cầu vật chất ăn, mặc, ở, đi lại, công cụ sản xuất, phương tiện sản xuất… nói lên trình độ phát triển của con người trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thể
hiện trình độ chiếm lĩnh và khai thác những vật thể trong tự nhiên
Văn hoá tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản
xuất tinh thần của con người tạo ra như tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương… Lĩnh vực văn hóa tinh thần gồm các thành tố: Văn hóa tư tưởng, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa lối sống, văn hóa lễ hội… Những thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng tinh thần xã hội
Giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong DHLS ở trường THPT là quá trình người giáo viên sử dụng các biện pháp sư phạm hay
phương pháp dạy học để truyền đạt kiến thức về các thành tựu văn hóa cho học sinh, giúp người học hiểu sâu sắc hơn các giá trị văn hoá do con người tạo nên không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất hay tinh thần của cuộc sống hiện tại mà chúng còn tạo ra cơ sở, động lực giúp nhân loại phát triển theo hướng văn minh, hiện đại hơn, từ đó hình thành cho học sinh ý thức bảo vệ những hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam nói riêng và của toàn nhân loại nói chung
giữ gìn bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam Người khẳng định: “Trong
Trang 15công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến và phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá” [10]
Tiếp tục tư tưởng của Bác, trong thời kì đổi mới hiện nay, Đảng ta khẳng định nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị trung ương 5 khoá VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá ở nước ta Trên cơ sở kế thừa và phát triển Nghị quyết
trung ương 5 khoá VIII, văn hiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [10]
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định:
“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho nền văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” [10]
Như vậy, vấn đề văn hoá nói chung, giữ gìn, phát triển bản sắc văn hoá dân tộc nói riêng luôn luôn được Đảng ta coi trọng Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đến năm 2020 hoàn thành mục tiêu về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp Trước sự phát triển như vũ bão của các ngành kinh tế, trước xu thế hội nhập, vấn đề văn hoá và bảo tồn bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa nhân loại càng được coi trọng Mặt khác, công cuộc này cũng tạo ra quá trình đấu tranh phức tạp giữa cái lạc hậu và tiến
bộ, giữa cái tốt và cái xấu, giữa tư duy trì trệ, bảo thủ và đổi mới… Vấn đề đặt
ra là chúng ta phải giữ gìn cái gì, xoá bỏ cài gì
Cơ chế thị trường làm cho tính tích cực xã hội được phát huy Con người trở nên tích cực, năng động Bên cạnh lĩnh vực kinh tế, các hoạt động văn hoá và
Trang 16dịch vụ văn hoá trở nên năng động, đa dạng và phong phú hơn, nhưng cũng tiềm
ẩn những rủi ro, phức tạp Mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến từng gia đình, các quan hệ xã hội, quan hệ cộng đồng Bên cạnh sợi dây tình cảm, đồng tiền đang trở thành sự chi phối chủ yếu trong các mối quan hệ xã hội, dần làm mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Con người vừa là đối tượng vừa là chủ thể của văn hoá Đảng ta xác định:
“Hướng mọi hoạt động văn hoá vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo; tuân thủ pháp luật; có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội, làm cho văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập quốc tế; gắn kết mối quan hệ giữa văn hoá và xây dựng môi trường văn hoá với vấn đề hình thành nhân cách.” [10]
Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ của đất nước, Đảng ta đã đề ra mục tiêu phát triển văn hoá đến năm 2020: “…Tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hoá các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá Việt Nam, tập trung xây dựng những giá trị văn hoá mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới, làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại…” [10]
Thư hai, xuất phát từ truyền thống giáo dục của cha ông
Từ xa xưa, cha ông ta đã có ý thức giáo dục cho con cái những truyền thống văn hoá tốt đẹp Đó là những giá trị rất gần gũi với mỗi con người và nó tồn tại ngay trong mỗi gia đình: nếp sống, cách ăn, cách nói… Các thế hệ đi trước đã đúc kết lại thành những câu tục ngữ để truyền lại cho con cháu:
Giấy rách phải giữ lấy lề
Học ăn, học nói, học gói, học mở
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng…
Trang 17Đó là những bài học tưởng chừng đơn giản nhưng lại mang một giá tri truyền thống văn hoá to lớn của dân tộc, dạy cho con người ta lối sống, cách sống, cách làm người có văn hoá…
Từ khi có trường lớp, giáo dục cũng góp phần quan trọng vào giáo dục truyền thống của dân tộc nói chung, truyền thống văn hoá nói riêng Các bậc cha
mẹ thường có câu: “Cho con đi học dăm ba chữ để làm người” Họ mong muốn
con em mình đi học không chỉ lĩnh hội được kiến thức mà còn rèn luyện cả nhân cách, đạo đức, lối sống và những giá trị tốt đẹp mà thế hệ trước để lại
Tư tưởng cốt lõi trong việc giáo dục truyền thống của cha ông ta là “ôn cố nhi tri tân”, học cũ để biết mới, kế thừa có chọn lọc để phát triển nhanh và cao hơn
Xuất phát từ truyền thống giáo dục của cha ông, Đảng ta chỉ ra phương
châm trong giáo dục truyền thống: “học xưa là vì nay, học cũ để làm mới”[9;
17] Học người xưa không phải chỉ để cho biết, thoả tính tò mò mà phải vận dụng vào cuộc sống hiện tại Mỗi hoàn cảnh, mỗi thời đại mỗi khác, vì vậy, khi tiếp thu giá trị văn hoá của cha ông, chúng ta phải làm mới và phát triển dựa trên cốt lõi bản sắc vốn có của nó Một minh chứng rõ nhất cho sợi dây truyền thống văn hoá của dân tộc được kế thừa và phát triển trong thời đại mới đó chính là tà
áo dài Việt Nam Xưa kia, các bà, các mẹ, các chị mặc áo dài truyền thống Ngày nay, trong tình hình phát triển kinh tế, với xu thế hội nhập, tiếp thu có chọn lọc, những chiếc áo ấy đã được cải tiến nhiều cho phù hợp với xã hội hiện đại (bó sát hơn, thay đổi về màu sắc, kiểu dáng…) Song, tà áo dài vẫn không
bị mất đi giá trị vốn có mà lại càng tôn thêm vẻ duyên dáng, dịu dàng, nữ tính của người con gái Việt Nam Hình ảnh những chiếc áo dài Việt Nam được bạn
bè khắp năm châu biết đến và coi như một nét văn hoá độc đáo riêng có của dân tộc ta
Thứ ba, xuất phát từ mục tiêu đào tạo của nước ta
Mục tiêu giáo dục của nước ta được cụ thể hoá trong Luật Giáo dục năm
2005, được sửa đổi và bổ sung năm 2009 như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
Trang 18hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10] Theo đó, con
người được đào tạo không chỉ có kiến thức, kĩ năng mà còn phải mang trong mình những giá trị văn hoá tốt đẹp
Thứ tư, xuất phát từ ưu thế và sở trường của bộ môn lịch sử Bộ môn lịch
sử ở trường trung học phổ thông là một trong những môn học có “sở trường và
ưu thế” [6; 204] trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền thống
văn hoá của dân tộc và thế giới cho học sinh Ngay từ thời cổ đại, người ta đã
xem “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “lịch sử là bó đuốc soi đường đi đến tương lai” [6, tr.204], “Lịch sử là triết học của noi gương” [7; 31] Lịch sử là
những cái đã qua với những con người cụ thể và những việc làm cụ thể Nó đã được chứng minh và thử thách qua thời gian, qua đấu tranh dựng nước và giữ nước của biết bao thế hệ Lịch sử là bằng chứng sống, xác thực, không thể chối cãi của quá khứ Do vậy, thông qua lịch sử để giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống dân tộc sẽ mang lại tác động rất lớn
Thông qua việc giảng dạy nội dung văn hoá trong môn lịch sử, học sinh không chỉ có cái nhìn toàn diện về sự phát triển của lịch sử nhân loại, nắm được các truyền thống văn hoá dân tộc, thành tựu văn hoá thế giới, mà còn hình thành
ở các em tư tưởng nhân văn, biết quý trọng và giữ gìn những sản phẩm vật chất
và tinh thần của nhân loại, góp phần hoàn thiện nhân cách của người học
Mặt khác, qua quá trình này, các em sẽ hình thành được những cảm xúc thẩm mỹ tốt đẹp, đặc biệt là lòng khâm phục với người xưa, từ đó các em có mong muốn đóng góp công sức của mình vào sự phát triển của đất nước Học
và hiểu các nội dung văn hoá, học sinh sẽ biết kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời biết tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu có hơn nền văn hoá Việt Nam Qua đó, giáo viên góp phần hình thành cho học sinh ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát huy nền văn hoá của dân tộc
Vì ưu thế đó, chương trình lịch sử ở trường phổ thông, ban hành năm
2006, đã nêu rõ một yêu cầu, mục tiêu của bộ môn, đó là: “…góp phần hình
Trang 19thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [6; 206]
Thư năm, xuất phát từ xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Đây là thời
kì mở cửa, các quốc gia đẩy mạnh sự hợp tác toàn diện về mọi mặt, trong đó chủ yếu là kinh tế Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế có nguy cơ dẫn đến xung đột với việc bảo tồn bản sắc và đa dạng văn hoá trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời cũng xuất hiện khả năng gắn chặt quá trình kinh tế với quá trình văn hoá Kinh tế không thể phát triển bền vững nếu không đặt rõ vấn đề văn hoá trong mỗi hoạt động kinh tế Trong bối cảnh ấy, các quốc gia ngày càng đề cao tính đặc thù, bản sắc văn hoá dân tộc, coi trọng việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hoá, đấu tranh chống khuynh hướng đồng hoá về văn hoá; đồng thời chọn lọc tiếp thu các giá trị tinh hoa văn hoá của nhân loại Như vậy, hội nhập, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu, khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa
là quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia Bối cảnh này tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với văn hoá nước ta
Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế, với đường lối đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ quốc tế, văn hoá nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và sáng tạo những giá trị văn hoá mới Đồng thời, các giá trị văn hoá của dân tộc có điều kiện lan toả trên phạm vi toàn cầu Việt Nam có điều kiện quảng bá văn hoá dân tộc tới bạn bè quốc tế
Cơ chế thị trường đã huy động được sự tham gia của các thành phần kinh tế vào sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hoá, kích thích một số ngành sản xuất
Trang 20kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá xuất hiện, mở ra khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, tạo tiền đề cho việc phát triển “công nghiệp văn hoá” ở nước ta
Các điều kiện kinh tế, xã hội phát triển tạo thuận lợi cho văn hoá phát triển Nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân tiếp tục được nâng cao, tạo động lực cho phát triển văn hoá Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trình độ nhận thức, văn hoá của nhân dân có điều kiện được nâng cao hơn
+ Thách thức:
Sự du nhập ào ạt của các nền văn hoá trên thế giới sẽ tác động sâu rộng đến đời sống văn hoá của nhân Trong bối cảnh ấy, văn hoá là một lĩnh vực dễ bị tổn thương, đặc biệt bản sắc văn hoá, văn hoá truyền thống dễ bị tổn thương hơn
cả Chúng ta phải đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc Đồng thời, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại sẽ làm phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy văn hoá phát triển
Sự tiếp thu thiếu chọn lọc văn hoá ngoại lai sẽ làm cho nền văn hoá dân
tộc bị “lai căng”, những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc đứng trước
nguy cơ bị tha hoá
Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, chạy theo lối sống, văn hoá nước ngoài làm cho văn hoá nước ta bị biến dạng, nhiều mặt xuống cấp, kéo theo sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống Cơ chế thị trường làm nảy sinh khuynh hướng thương mại hoá các hoạt động văn hoá Sản phẩm văn hoá độc hại không những có chiều hướng gia tăng do nhập lậu từ nước ngoài, mà còn được sản xuất ngay trong nước; lối sống chạy theo đồng tiền… ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người, đặc biệt là lớp trẻ, tác động xấu đến truyền thống văn hoá của dân tộc
Do ý đồ của một số cường quốc muốn áp đặt những giá trị văn hoá cho các dân tộc khác dựa trên sức mạnh của công nghệ thông tin, nên nguy cơ về sự đồng nhất hoá các hệ giá trị văn hoá đang đe doạ, làm hạn chế khả năng sáng tạo, sự đa dạng của các nền văn hoá; việc truyền bá lối sống bạo lực, phi luân,
Trang 21vô chính phủ, đề cao dục vọng và chủ nghĩa cá nhân… đặt chúng ta trước những thách thức không thể xem thường
Mặt khác, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu và thủ đoạn
“diễn biến hoà bình” nhằm tạo ra những diễn biến phức tạp trên lĩnh vực tư
tưởng, văn hoá, đạo đức, lối sống trong nội bộ ta
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
* Vai trò: Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, việc giáo dục cho
học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần đóng vai trò vô cùng quan trọng Lịch sử là những cái đã qua, là kết tinh những truyền thống tốt đẹp của cha ông ta từ bao đời để lại Đó là kết quả của quá trình lao động, đấu tranh gian khổ, phải trả bằng xương máu và nước mắt của biết bao thế hệ ông cha và là sự
chắt lọc của thời gian
Lịch sử được thể hiện thông qua những truyền thống chính là sợi dây liên kết giữa quá khứ - hiện tại - tương lai, tạo nên mạch phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc Nếu đánh mất truyền thống là chúng ta đánh mất đi nguồn cội
và làm mất đi sức sống của chính mình Lênin từng cảnh báo: “Quên quá khứ là phản bội” Cây có gốc mới nẩy cành xanh ngọn, nước có nguồn mới có biển rộng sông sâu” [9; 16] Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng chỉ rõ: “Quá khứ, hiện tại và tương lai dính liền với nhau Quá khứ cắt nghĩa hiện tại, hiện tại chuẩn bị tương lai” [9; 17] Do vậy, “từ trong cái bếp lò tinh thần của cha ông, chúng ta cần lấy ra không phải nắm tro tàn nguội lạnh mà là ngọn lửa đang bốc cháy” [7; 31] Nhiệm vụ của người giáo viên lịch sử là phải chuyển tới cho học sinh “ngọn lửa đang bốc cháy” đó Hay nói cách khác, từ trong lịch sử, người
giáo viên sẽ tìm thấy giá trị, bản sắc, sức sống của dân tộc và điều này có tác dụng giáo dục rất lớn đối với học sinh
* Ý nghĩa:
Về kiến thức: Giúp cho học sinh biết và hiểu những truyền thống văn hoá
tốt đẹp của dân tộc như cách ăn, mặc, ở, đi lại, đạo đức, lối sống, những thành tựu vật chất và giá trị tinh thần mà cha ông để lại Thông qua môn học, các em
Trang 22sẽ nhận thức được rằng, truyền thống văn hoá dân tộc là những giá trị chuẩn mực, ăn sâu vào tư tưởng, tình cảm và tính cách của mỗi người Tuy nhiên nó không phải là cái gì bất biến mà được kế thừa, phát triển và loại bỏ những yếu tố lạc hậu Bên cạnh kiến thức lịch sử dân tộc, phần lịch sử thế giới cung cấp cho học sinh những tinh hoa của nhân loại Học sinh hiểu và sẽ biết lựa chọn, tránh việc đua đòi, chạy theo văn hoá nước ngoài một cách mù quáng, làm mất đi bản sắc dân tộc
Ví dụ: Khi tìm hiểu về nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu những nét cơ bản về đời sống vật chất, tinh thần của cha ông ta thời kì này Dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, học sinh sẽ dần hiểu rằng những giá trị văn hoá của cư dân thời Văn Lang - Âu Lạc rất đơn giản: tục ăn trầu, ở nhà sàn, nhuộm răng đen… Nhưng đây lại chính là những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của dân tộc và đặt nền móng cho sự phát triển của truyền thống văn hoá dân tộc trong những thời kì tiếp theo Nó tạo ra sức mạnh cho sự
cố kết cộng đồng, chống lại âm mưu đồng hoá của kẻ thù trong thời kì nghìn
năm Bắc thuộc
Về thái độ: Thông qua môn học, giáo viên làm nảy sinh ở các em lòng tự
hào về truyền thống văn hoá dân tộc; lòng khâm phục người xưa; giáo dục cho các em ý thức giữ gìn và phát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại;
từ đó góp phần hoàn thiện nhân cách người học; hình thành ở học sinh tư tưởng nhân văn…Từ đó, thế hệ trẻ nói chung, học sinh nói riêng sẽ nhận thức được trách nhiệm của mình trong thời đại mới Tuổi trẻ chỉ có thể đảm đương nổi trách nhiệm của “người thay phiên gác” cho các thế hệ trước khi biết trân trọng
và làm giàu thêm những di sản của quá khứ như Mác đã dạy: “Ta làm sống lại những người đã mất là để ca ngợi cuộc đấu tranh mới, là để tìm thấy trở lại cái tinh thần cách mạng” [9, tr.19] Tìm về với quá khứ chính là tìm về với sức
mạnh, là để tiếp sức thêm cho hiện tại và tương lai
Ví dụ: Khi dạy về phần văn hoá nước ta dưới thời Bắc thuộc, giáo viên tổ chức cho học sinh nắm được phong kiến phương Bắc cố gắng tìm mọi cách đồng hoá về văn hoá đối với nước ta (bắt nhân dân ta thay đổi phong tục tập
Trang 23quán, cho người Hán ở lẫn với người Việt, bắt học chữ nho, truyền bá nho giáo…) Nhân dân ta vẫn giữ được những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc (tục ăn trầu, nhuộm răng đen…), đồng thời biết tiếp nhận và “Việt hoá” những yếu tố tích cực của nền văn hoá Hán và tạo thành bản săc của dân tộc Từ
đó, học sinh không chỉ biết và hiểu được truyền thống văn hoá của cha ông mà còn thấy khâm phục, tự hào về tinh thần đấu tranh giữ gìn bản sắc văn hoá, biết tiếp thu một cách sáng tạo yếu tố văn hoá bên ngoài của cha ông ta Từ đó, các
em nhận thức được trách nhiệm của mình trong thời đại ngày nay
Về kĩ năng: Rèn cho các em kĩ năng phân tích, nhận xét, đánh giá về các
hiện tượng, thành tựu văn hoá của dân tộc và nhân loại Từ đó, học sinh sẽ biết chắt lọc cái gì nên bảo tồn, phát triển, tiếp thu, cái gì là lỗi thời, lạc hậu…
Ví dụ: Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu về văn hoá địa phương, các em đóng vai trò là một nhà sử học nhỏ tuổi Qua hoạt động này, học sinh không chỉ trau dồi thêm kiến thức về lịch sử dân tộc mà còn hình thành ở các
em những kĩ năng: sưu tầm, xử lý tài liệu; phân tích, nhận xét, đánh giá vấn đề; hình thành ở các em tính năng động, tích cực, có trách nhiệm với công việc Các em sẽ ý thức được trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và phát triển các giá trị văn hoá, các công trình văn hoá của địa phương và ngay trong
chính gia đình mình
1.1.4 Một số yêu cầu khi giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong môn lịch sử ở trường phổ thông
Thứ nhất, kế thừa luôn luôn đi đôi với đổi mới Chúng ta chắt lọc, kế
thừa từ quá khứ những gì tinh tuý nhất, tốt đẹp nhất Nhưng nếu cứ giữ nguyên thì những gì tốt đẹp ấy sẽ không phát huy hết sức mạnh của mình, rồi cũng sẽ
bị lạc hậu theo năm tháng, hoàn cảnh Vấn đề đặt ra là khi kế thừa, chúng ta phải tránh rập khuôn máy móc, nguyên si mà phải biết chọn lọc, chắt chiu; phải làm cho những giá trị ấy nhân lên gấp mười, gấp trăm lần, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng nền văn hoá và con người mới Đổi mới không phải là thay đổi, xoá bỏ mọi truyền thống, mà là kế thừa có chọn lọc để phát triển nhanh
và cao hơn
Trang 24Thứ hai, tiếp thu là để sáng tạo Nếu chúng ta chỉ thừa nhận, ca ngợi
truyền thống tốt đẹp thôi thì chưa đủ Trên cơ sở tiếp thu những giá trị văn hoá truyền thống cũng như tinh hoa nhân loại, chúng ta phải có sự sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh mới, tạo ra truyền thống mới Có như vậy, sức sống của những gì mà chúng ta tiếp thu được mới phát huy hết giá trị và bền lâu
Thứ ba, giáo dục cho học sinh ý thức bảo tồn gắn liền với phát triển Cách
tốt nhất để gìn giữ những giá trị văn hoá của ông cha đó là trên cơ sở giữ lại những gì là tốt đẹp nhất, chúng ta phải tìm cách phát triển, làm cho chúng tăng thêm sức mạnh trong thời đại mới, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng chế
độ mới
Thứ tư, giáo dục cho các em ý thức học xưa là vì nay, hiểu cũ để làm mới
Lịch sử chính là gốc, rễ, cội nguồn của quốc gia, dân tộc và mỗi cá nhân Nó được biểu hiện cụ thể qua truyền thống và tạo nên động lực, sức mạnh, sức sống bền lâu cho quốc gia dân tộc Truyền thống chính là “gạch nối”, là “mạch sống” giữa quá khứ và tương lai Học để biết và noi gương người xưa, làm theo và phải nỗ lực vươn tới làm hơn cả người xưa nữa Học người xưa là để tạo nên sức mạnh cho cuộc sống hôm nay và mai sau
1.2 Cơ sở thực tiễn
- Trong thực tế quá trình dạy học lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay,
việc dạy học nội dung văn hoá vẫn chưa được đặt đúng vị trí,ý nghĩa của nó Giáo viên thiên về giảng dạy các nội dung chính trị, quân sự Do đó, việc giáo dục truyền thống văn hoá cho học sinh thông qua môn lịch sử còn gặp nhiều hạn chế
- Hiện nay, trong xã hội ta có nhiều tấm gương thanh niên, học sinh sống
có lí tưởng tốt đẹp, sẵn sàng hi sinh bản thân để mang lại cuộc sống cho bao người, là biểu hiện của truyền thống dân tộc và là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ hôm nay
Trong vụ chìm tàu tại Cần Thơ vào đầu tháng 8/2013, anh Trần Hữu Hiệp (1988)- chàng thanh niên 25 tuổi đã không quản ngại nguy hiểm, trong lúc đối mặt với sự sống còn, với sóng dữ nguy hiểm đã vật lộn sóng gió cứu sống được
Trang 255 người, cảm động và kính phục hơn nữa là anh đã cởi chiếc áo phao đang mặc
để nhường cho một phụ nữ đang kiệt sức giữa dòng nước xoáy để rồi sau đó chính anh đuối sức, bị sóng dữ cuốn chìm Trong ranh giới giữa sự sống và cái chết, những giây phút nguy nan anh đã dũng cảm, không ngần ngại để nhường
sự sống cho người khác Hành động của anh đã làm rung động trái tim hàng triệu người với nghĩa cử cao đẹp, là tấm gương sáng về lòng nhân ái, đức hy sinh, tình người trong lúc hoạn nạn, tấm gương của anh đã trở thành bất tử của nét sống đẹp, sống có ích, biểu tượng cao đẹp về lòng dũng cảm và trách nhiệm công dân trước xã hội… điều đó đã nối tiếp những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta về lòng dũng cảm, về lối sống đẹp, truyền thống nhân ái cao thượng để thế
hệ trẻ hôm nay học tập và có nhiều việc làm thiết thực trong cuộc sống
Trong giới học sinh, sinh viên, các phong trào tình nguyện diễn ra rầm rộ Các tầm gương nghèo vượt khó học giỏi ngày càng nhiều…Trong các kì thi đại học, thủ khoa đa số là con em nông thôn Điều này đã tạo ra lòng khâm phục trong giới trẻ
Tuy vậy, trong xã hội vẫn còn những điều đáng buồn và gây trăn trở cho
xã hội Một bộ phận giới trẻ nói chung, học sinh nói riêng đang có sự xói mòn
về tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan niệm về giá trị văn hoá Đó là tình trạng bộ phận thanh niên, học sinh sống thiếu lý tưởng, hoài bão, xa dời các giá trị truyền thống, chạy theo văn hoá nước ngoài một cách mù quáng, chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, thiếu trách nhiệm với cộng đồng, gia đình và ngay cả chính bản thân mình; ứng xử kém văn hoá…Hiện tượng học sinh đánh hội đồng, đặc biệt là nữ sinh có chiều hướng gia tăng Tình trạng nói tục, chửi bậy, đua đòi diễn ra khá phổ biến trong các nhà trường Mới đây báo mạng có đưa hình ảnh
nữ sinh ở một trường phổ thông mặc áo dài ngồi hút thuốc lá; tình trạng học sinh phổ thông đi xe máy, không đội mũ bảo hiểm, đèo năm, đèo ba, đèo năm đến trường khá phổ biến… Một vài năm gần đây, trong xã hội ta rộ lên hiện tượng một bộ phận giới trẻ nói chung, học sinh nói riêng thích thể hiện cái tôi bản thân theo hướng xa dời những giá trị truyền thống văn hoá, những chuẩn mực đạo đức, bất chấp sự trà đạp lên thuần phong mĩ tục của dân tộc Mới đây nhất là
Trang 26hình ảnh một nữ sinh ngồi lên mộ các anh hùng liệt sĩ để chụp ảnh Các anh hi sinh cả tuổi trẻ và xương máu của mình để cho đất nước được như ngày hôm nay Cả nước ta luôn đời đời ghi nhớ công ơn của các anh Vậy mà nữ sinh kia lại sẵn sằng trà đạp lên các anh, lên truyền thống của dân tộc để cho mình có được những bức hình “độc nhất” Đây là hành động bị cả xã hội lên án, là biểu hiện của sự tha hoá về đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻ hiện nay
Vấn đề văn hoá nói chung, văn hoá học đường nói riêng, bên cạnh những biểu hiện tốt đẹp thì nó cũng còn nhiều vấn đề nhức nhối, làm cho xã hội phải quan tâm Có nhiều nguyên nhân dẫn đền tình trạng này:
- Việc giáo dục văn hoá, truyền thống dân tộc trong nhà trường chưa được quan tâm đúng mức Các môn học, trong đó có lịch sử mới chỉ chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh
- Sự du nhập một cách mạnh mẽ của các nền văn hoá nước ngoài vào nước ta Một bộ phận giới trẻ và học sinh bị choáng ngợp và đua đòi, chạy theo văn hoá ngoại lai một cách mù quáng
- Mặt trái của công nghệ thông tin, giới trẻ được tiếp xúc với nguồn văn hoá độc hại tràn lan trên mạng
- Mặt trái của kinh tế thị trường, khiến con người sống ích kỉ và xô bồ hơn
- Nhiều gia đình thiếu quan tâm giáo dục lối sống, đạo đức, hành vi ứng
xử cho con cái Họ cứ nghĩ cho con ăn ngon, mặc đẹp, cung cấp nhiều tiền là đủ
Họ không biết rằng chính những việc làm đó lại đẩy con cái của mình đến gần lối sống đua đòi, ích kỉ…
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần cho học sinh là vô cùng quan trọng và cấp thiết Gia đình, nhà trường và xã hội cần phải kết hợp, chung tay trong việc giáo dục truyền thống văn hoá cho giới trẻ và học sinh Các môn học nói chung, môn lịch sử nói riêng cần phải chú ý hơn nữa tới việc giáo dục nhân cách, tư tưởng, tình cảm cho người học
Trang 27CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ VĂN HÓA VẬT CHẤT - TINH THẦN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỈ X - XIX, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ LỚP 10
THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN 2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong lịch sử lớp 10
2.1.1 Vị trí
Nội dung văn hóa dân tộc lớp 10 thế kỉ X- XIX được thể hiện qua các bài:
- Bài 20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X-XV
- Bài 24: Tình hình văn hóa các thế kỉ XVI-XVIII
- Bài 25: Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa dưới triều Nguyễn( nửa đầu thế kỉ XIX)
- Thái độ:
Bồi dưỡng, giáo dục cho các em niềm vui, niềm tự hào về giá trị truyền thống để phát huy giá trị truyền thống đó; lòng khâm phục về tinh thần đấu tranh
để giữ gìn bản sắc văn hoá của cha ông
2.1.3 Nội dung kiến thức cơ bản để giáo dục học sinh ý thức thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần
* Văn hóa vật chất: Được thể hiện phong phú dưới nhiều loại hình như:
- Thức ăn: Nguồn lương thực chính của người dân Việt chủ yếu là lúa gạo (cả gạo nếp và gạo tẻ) còn có ngô, khoai, sắn Thức ăn là các sản phẩm dưới
Trang 28nước như cá, tôm,…
- Nhà ở: Ngôi nhà Việt Nam xưa gắn liền với môi trường sông nước: nhà sàn, mái cong hình thuyền Sau đó, là lợp vách đất, lợp rạ, vật liệu chủ yếu là tre,
gỗ không quá cao để tránh gió, bão Hướng nhà quay về hướng Nam để tránh nóng, chóng rét Nhà thì cũng không rộng quá vì còn diện tích của ao, vườn Ngôi nhà
luôn hài hòa với thiên nhiên
- Phong tục: Tục nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình, dùng đồ trang sức
Nữ mặc váy, nam đóng khố Đi lại chủ yếu bằng thuyền bè
- Các công trình kiến trúc, điêu khắc: chùa, kinh thành, lăng tẩm, tượng Đây là những công trình phản ánh thành tựu văn hoá vật chất nhưng lại chứa đựng trong nó đời sống tinh thần phong phú của cha ông ta
* Văn hóa tinh thần:
- Trải qua 1000 năm Bắc thuộc, nhân dân ta đã kiên cường đấu tranh chống chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc, bảo vệ những giá trị văn hóa của người Việt đồng thời tiếp thu văn hóa Trung Hoa làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc
- Bước vào thời kì phong kiến độc lập, ta đã xây dựng nền văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng
+ Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên, thờ thần hoàng làng, thờ người có công + Tôn giáo: Nho Giáo, Phật giáo, Đạo giáo du nhập từ thời Bắc thuộc càng có điều kiện phát triển Tôn giáo du nhập từ ngoài vào nhưng không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản địa
+ Giáo dục, văn học, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật vừa có yếu tố bản địa lại vừa mang yếu tố học hỏi từ bên ngoài thời kì đầu là phương Đông sau này có
cả phương Tây
2.2 Những yêu cầu khi xác định hình thức và biện pháp để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần trong dạy học lịch sử
- Đáp ứng mục tiêu môn học: dạy học nội dung văn hóa là giúp học sinh
nhận thức đúng, toàn diện, sâu sắc lịch sử dân tộc ta, đồng thời nâng cao hiểu
Trang 29biết nền văn hóa dân tộc, tinh hoa nhân loại cho học sinh Từ đó, hình ở các em
có ý thức bảo tồn và phát huy tinh hoa, văn hóa dân tộc
- Sử dụng đa dạng các biện pháp trong từng bài giảng: Không có biện pháp và phương pháp nào tối ưu, duy nhất trong dạy học nói chung dạy môn lịch
sử nói chung, nội dung văn hoá nói riêng Vì vậy, trong mỗi giờ dạy, giáo viên cần lựa chọn các phương pháp phù hợp với nội dung bài và mục đích giáo dục, đồng thời chọn ra phương pháp chủ đạo để truyền đạt kiến thức
- Giáo viên đưa ra các biện pháp giáo dục phải dựa trên cơ sở tôn trọng người học, phải xuất phát từ học sinh Có như vậy, việc giáo dục học sinh mới mang tính tự nhiên, không gượng ép và hiệu quả
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong bản thân người giáo viên Thầy giáo phải có sự hoá thân, trải nghiệm và sống trong cảm xúc của những giá trị văn hoá dân tộc cũng như tinh hoa nhân loại trong khi vận dụng các biện pháp Có như vậy, việc giáo dục của người thầy mới mang tính tự nhiên và đi vào lòng người
- Phát huy tính tích cực của học sinh với phương châm “ Lấy học sinh làm trung tâm”, khuyến khích học sinh tìm tòi nghiên cứu, tự học, tìm hiểu văn hóa dân tộc, tinh hoa nhân loại
2.3 Một số hình thức và biện pháp để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần
Để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần, tôi sử
dụng hai hình thức dạy học là nội khoá và ngoại khoá Bên cạnh việc dạy học nội khoá, việc dạy học vấn đề văn hoá, nhất là giáo dục cho các em ý thức bảo
vệ truyền thống văn hoá dân tộc thì việc tiến hành các hình thức hoạt động ngoại khoá được đặt ra cấp thiết Bởi vì tính phức tạp, đa dạng, nhiều mặt của các nội dung văn hoá đòi hỏi phải có các hình thức ngoại khoá hỗ trợ
2.3.1 Vận dụng dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là một kiểu dạy học có chứa đựng những nét cơ bản
của sự tìm tòi khoa học, trong đó hoạt động nhận thức của học sinh được giáo viên điều khiển thông qua việc tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề Học sinh
Trang 30ý thức được vấn đề, tự mình hoặc dưới sự hướng dẫn của giáo viên để giải quyết được vấn đề Giáo viên kiểm tra, rút ra kết luận nhằm thực hiện mục đích dạy học Dạy học nêu vấn đề không phải là phương pháp dạy học cụ thể mà một nguyên tắc, một kiểu tiến hành bởi nhiều phương pháp dạy học Dạy học nêu vấn đề bao gồm các thành tố: trình bày nêu vấn đề, tình huống có vấn đề, bài tập nêu vấn đề Vận dụng các thành tố này vào một bài cụ thể bao gồm các công việc: đặt mục đích học tập cho học sinh trước khi nghiên cứu kiến thức mới (dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề và nêu bài tập nhận thức), tổ chức học sinh giải quyết vấn đề (kết hợp với câu hỏi gợi mở, tổ chức trao đổi đàm thoại…), kiểm tra hoạt động nhận thức, ra bài tập về nhà
Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học lịch sử để giáo dục học sinh ý
thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển toàn diện của học sinh Để giải quyết được các vấn đề, người học phải tiến hành các thao tác tư duy, độc lập tìm ra phương pháp giải quyết và rút
ra kết luận Vì vậy, kiến thức văn hoá mà các em nắm được sẽ vững chắc vì nó được tìm ra bằng chính hoạt động của bản thân người học Học sinh sẽ hiểu được nguồn gốc nảy sinh, bản chất của các truyền thống văn hoá một cách sâu sắc Thông qua việc giải quyết các tình huống có vấn đề, giáo viên rèn cho các
em khả năng nhận biết, tái hiện và phân biệt các sự kiện, hiện tượng, công trình văn hoá; quan điểm duy vật biện chứng khi xem xét, đánh giá sự xuất hiện và vai trò một hiện tượng, một lĩnh vực văn hoá; khả năng phân tích, xem xét mối quan hệ nhân quả, phụ thuộc lẫn nhau giữa văn hoá và các sự kiện khác; tìm hiểu, đáng giá sự dung hoà giữa văn hoá dân tộc và tinh hoa nhân loại… Từ đó, các em sẽ tự hình thành trong mình ý thức về những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa của nhân loại Điều này có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm của người học và hành động thực tế của các em Qua đó, giáo viên còn rèn cho người học tinh thần kiên trì, chuyên cần, vượt khó trong học tập cũng như trong cuộc sống
Ví dụ: Để giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ văn hóa vật chất - tinh thần,
giáo viên vận dụng dạy học nêu vấn đề vào bài 14 “Các quốc gia cổ đại trên đất
Trang 31nước Việt Nam”, mục 1 “Quốc gia Văn Lang - Âu lạc” Giáo viên vận dụng dạy
học nêu vấn đề như sau:
- Trước hết, giáo viên đặt mục đích học tập cho các em và dẫn dắt người học vào tình huống có vấn đề: Vào cuối thời nguyên thuỷ, các thị tộc, bộ lạc sống trên đất nước ta đã biết sử dụng kim loại để chế tạo các vật dụng Nghề nông trồng lúa nước trở nên phổ biến Trên cơ sở đó đã hình thành các quốc gia
cổ đại trên đất nước Việt Nam Ở khu vực ven sông Hồng, sông Mã, quốc gia cổ Văn Lang - Âu Lạc ra đời Quốc gia này đã tạo ra một nền văn minh Văn Lang-
Âu Lạc Vậy, nền văn minh này được hình thành trong những điều kiện như thế nào? Nó có phải là bản địa hay không? Chúng ta cùng tìm hiểu nội dung mục 1
- Tiếp đó, giáo viên trình bày những tiền đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dẫn tới sự ra đời nước Văn Lang-Âu Lạc; khái quát về tổ chức bộ máy nhà nước; những thành tựu văn hoá vật chất và tinh thần của nhà nước thời kì này
- Giáo viên nêu bài tập nhận thức cho học sinh: Có ý kiến cho rằng nền văn minh Văn Lang-Âu Lạc không có nguồn gốc bản địa Dựa vào cơ sở hình thành và thành tựu của nền văn minh này, em hãy nêu nhận xét của mình về ý kiến trên?
- Học sinh phải dựa vào những điều kiện hình thành nhà nước và các thành tựu văn hoá cơ bản để rút ra nhận xét
- Cuối cùng, giáo viên nhận xét câu trả lời của học sinh và chốt vấn đề Việc vận dụng dạy học nêu vấn đề trong nội dung trên có tác dụng lớn đối với việc giáo dục truyền thống văn hoá cho học sinh Qua việc giải quyết bài tập nhận thức trên, các em không chỉ ghi nhớ sâu sắc kiến thức văn hoá dân tộc ta thời
kì này, các em còn thấy được mối quan hệ giữa điều kiện lịch sử, cơ sở hình thành của một nền văn hoá với các thành tựu văn hoá Học sinh nhận thức và khẳng định được tính chất bản địa của văn minh Văn Lang-Âu Lạc và đây chính là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của truyền thống văn hoá dân tộc trong những thời kì tiếp theo Người học sẽ cảm thấy tự hào vì trong buổi đầu dựng nước khó khăn nhưng cha ông ta đã tạo ra được những bản sắc văn hoá riêng biệt, đến thời nay vẫn còn tồn tại: tục ăn trầu, nhuộm răng đen, thờ cúng tổ tiên…
Trang 322.3.2 Sử dụng tranh ảnh để tạo biểu tượng văn hoá vật chất cho học sinh
Do đặc trưng của bộ môn, việc học tập lịch sử của học sinh là một quá
trình nhận thức đặc thù Kiến thức lịch sử nói chung, nội dung văn hoá vật chất nói riêng mà các em lĩnh hội mang tính quá khứ rõ rệt Học sinh không được trực tiếp quan sát mà chỉ có thể lĩnh hội kiến thức thông qua tài liệu tham khảo,
đồ dùng trực quan, đặc biệt là tranh ảnh Vì vậy, việc sử dụng tranh ảnh để tạo biểu tượng về văn hoá vật chất trong dạy học lịch sử có thể coi là một nguyên tắc, là cầu nối giúp các em tiếp cận gần nhất với tri thức lịch sử
Tuy vậy, để tạo được những biểu tượng về văn hoá vật chất một cách cụ thể, chân thực, giáo viên cần có sự kết hợp giữa tranh ảnh với miêu tả, tranh ảnh với trao đổi đàm thoại Bởi vì, nếu không có sự miêu tả của giáo viên, tranh ảnh đưa ra chỉ dừng lại ở hình ảnh câm mà thôi và học sinh sẽ không thể hiểu hết được những giá trị văn hoá thông qua những nguồn tranh ảnh đó Đặc biệt, việc kết hợp giữa tranh ảnh với trao đổi đàm thoại sẽ giúp người học khắc sâu thêm kiến thức về các thành tựu văn hoá vật chất
Việc sử dụng tranh ảnh để tạo biểu tượng văn hoá vật chất cho học sinh có
ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục cho người học về văn hoá dân tộc, tinh hoa nhân loại Nhà giáo dục học nổi tiếng Usinxki đã khẳng định, việc học tập không phải chỉ được xây dựng bằng lời nói, những quan niệm rời rạc, mà phải trên cơ sở hình ảnh cụ thể mà trẻ con trực tiếp thu nhận Như vậy, việc sử dụng hình ảnh để tạo biểu tượng văn hoá vật chất sẽ góp phần giúp học sinh hiểu đúng, hiểu toàn diện hơn về các giá tri văn hoá vật chất của dân tộc và nhân loại, tránh hiện đại hoá lịch sử Trên cơ sở các biểu tượng về thành tựu văn hoá vật chất, học sinh nhận ra được bản sắc văn hoá của dân tộc qua mỗi thời kì; từ đó các em nhận ra vai trò của quần chúng nhân dân trong các hoạt động sáng tạo văn hoá, có thái độ trân trọng đối với quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, học sinh hiểu được đóng góp của các danh nhân văn hoá, các nghệ nhân đã tạo nên những tuyệt tác văn hoá cho nhân loại; đồng thời còn góp phần giáo dục cho học sinh những quan điểm và cảm xúc thẩm mĩ tốt đẹp…