1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản

90 961 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có một vài nghiên cứu đánh giá về chất lượng tinh trùng trên cá chẽm mõm nhọn nhưng ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của mùa vụ lên chất lượng tinh trùng cá chẽm m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VŨ THÁI HÒA

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TINH TRÙNG CÁ CHẼM MÕM

NHỌN Psammoperca waigiensis (Cuvier & Valencienes, 1828)

TẠI THỜI ĐIỂM THU MẪU KHÁC NHAU TRONG

MÙA VỤ SINH SẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VŨ THÁI HÒA

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TINH TRÙNG CÁ CHẼM MÕM

NHỌN Psammoperca waigiensis (Cuvier & Valencienes, 1828)

TẠI THỜI ĐIỂM THU MẪU KHÁC NHAU TRONG

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ MINH HOÀNG

Chủ tịch Hội đồng:

PGS.TS LẠI VĂN HÙNG

Khoa sau đại học:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn “Đánh giá chất lượng tinh trùng cá

chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier& Valenciennes, 1828) tại thời

điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản” thuộc đề tài “Đánh giá chất

lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis

(Cuvier&Valenciennes, 1828) thông qua thời điểm thu mẫu, tiêm hormone và bảo quản lạnh”với mã số 106-NN.02-2013.69 do Quỹ khoa học và công nghệ Quốc gia

(NAFOSTED) tài trợ - trường Đại Học Nha Trang chủ trì - TS Lê Minh Hoàng chủ nhiệm, được thực hiện từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 3 năm 2017 là chính xác Các

số liệu, kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác tới thời điểm này

Nha Trang, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Thái Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các quý phòng ban trường Đại học Nha Trang nói chung và Viện Nuôi trồng thuỷ sản nói riêng; đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp và tận tình của TS Lê Minh Hoàng đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này Tôi xin cảm ơn các cán bộ, công nhân tại lồng bè nuôi cá Vũng Ngán – Nha Trang – Khánh Hòa đã giúp chúng tôi nuôi vỗ thành thục cá

Nghiên cứu này được tài trợ bởi quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 106-NN.02-2013.69 Tôi xin cảm ơn NAFOSTED

đã hỗ trợ kinh phí giúp tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý thầy, cô giáo trong Viện Nuôi trồng thuỷ sản – Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản nhất làm cơ sở và nền tảng cho tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Người thực hiện

Vũ Thái Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đặc điểm sinh học, sinh sản cá chẽm mõm nhọn 3

1.1.1 Phân loại khoa học cá Chẽm mõm nhọn 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái 4

1.1.3 Đặc điểm phân bố và môi trường sống 5

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 6

1.2 Đặc điểm tinh trùng 7

1.2.1 Đặc điểm cấu tạo tinh trùng 7

1.2.2 Quá trình tạo tinh trùng 8

1.2.3 Đặc tính lý hóa của tinh trùng 9

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tinh trùng 10

1.3.1 Yếu tố lý học 10

1.3.2 Các yếu tố hóa học 12

1.3.3Thời gian thu mẫu: 15

1.3.4 Thao tác thu tinh: 15

Trang 6

1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 16

1.5.1 Trên thế giới 16

1.5.2 Tại Việt Nam 17

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 19

2.1.1 Thời gian nghiêm cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Các phương pháp tiến hành 20

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20

2.2.2 Phương pháp lấy tinh 20

2.2.3 Đặc tính lý hóa sinh của tinh dịch 21

2.2.4 Đánh giá hoạt lực của tinh trùng 22

2.3 Phân tích và xử lý số liệu 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 24

3.2 Đặc tính hóa học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 28

3.3 Đánh giá hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 32

3.3.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng và mùa vụ lên hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 33

3.3.2 Ảnh hưởng của nồng độ thẩm thấu và mùa vụ lên hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 35

3.3.3 Ảnh hưởng của pH và mùa vụ lên hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 38

3.3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mùa vụ đến hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm 40

3.3.5 Ảnh hưởng của các nồng độ ion Na+, K+, Ca2+, Mg2+ lên hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 42

3.3.5.1 Ảnh hưởng của nồng độ ion Na+ và mùa vụ lên hoạt lực của tinh trùng 42

Trang 7

3.3.5.2 Ảnh hưởng của nồng độ ion K+ và mùa vụ lên hoạt lực của tinh trùng 44

3.3.5.3 Ảnh hưởng của nồng độ ion Ca2+ và mùa vụ lên hoạt lực tinh trùng 46

3.3.5.4 Ảnh hưởng của nồng độ ion Mg2+ và mùa vụ lên hoạt lực tinh trùng 48

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

4.1 Kết luận 50

4.1.1 Thành phần lý học trong tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 50

4.1.2 Thành phần hóa học trong tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 50

4.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt lực của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 50

4.1.3.1 Tỷ lệ pha loãng 50

4.1.3.2pH 50

4.1.3.3 Nồng độ thẩm thấu 51

4.1.3.4 Nhiệt độ 51

4.1.3.4 Nồng độ ion 51

4.2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Khối lượng, chiều dài, đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 24Bảng 3.2: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong đầu mùa vụ 26Bảng 3.3: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong giữa mùa vụ 26Bảng 3.4: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong cuối mùa vụ 27Bảng 3.5: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong mùa vụ sinh sản 27Bảng 3.6: Đặc tính hóa học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 28Bảng 3.7: Tương quan giữa các đặc tính hóa học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong đầu mùa vụ 29Bảng 3.8: Tương quan giữa các đặc tính hóa học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong giữa mùa vụ 30Bảng 3.9: Tương quan giữa các đặc tính hóa học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong cuối mùa vụ 30Bảng 3.10: Tương quan giữa các đặc tính hóa học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong mùa vụ sinh sản 31

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis 4

Hình 1.2: Vùng phân bố cá chẽm mõm nhọn trên thế giới 5

Hình 1.3 : Cấu tạo tinh trùng 7

Hình 1.4: Quá trình tạo tinh trùng cá 9

Hình 2.1: Sơ đồ nội dung nghiên cứu 20

Hình 2.2 : Sơ đồ đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn thông qua thời điểm khác nhau trong mùa vụ sinh sản 20

Hình 2.3 : Sơ đồ xác định đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá 21

Hình 2.4 : Sơ đồ đánh giá hoạt lực tinh trùng cá 22

Hình 3.1 : Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng và mùa vụ lên vận tốc, thời gian và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 33

Hình 3.2 : Ảnh hưởng của nồng độ thẩm thấu và mùa vụ lên thời gian hoạt lực, thời gian trì hoãn, phần trăm hoạt lực, vận tốc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 35

Hình 3.3 : Ảnh hưởng của pH và mùa vụ lên thời gia, vận tốc và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 38

Hình 3.4 : Ảnh hưởng của nhiệt độ và mùa vụ lên thời gian và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 40

Hình 3.5 : Ảnh hưởng của nồng độ ion Na+ và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 42

Hình 3.6: Ảnh hưởng của nồng độ ion K+ và mùa vụ lên thời gian và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 44

Hình 3 7: Ảnh hưởng của nồng độ ion Ca2+ và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 46

Hình 3.8 : Ảnh hưởng của nồng độ ion Mg2+ và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 48

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là loài cá biển nhiệt đới có giá trị

kinh tế cao và là một trong những đối tượng nuôi được quan tâm trong thời gian gần đây Để sản xuất giống thành công thì ngoài chất lượng trứng phải tốt thì chất lượng tinh trùng cũng phải tốt Đã có một vài nghiên cứu đánh giá về chất lượng tinh trùng trên cá chẽm mõm nhọn nhưng ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của mùa vụ lên chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn trong mùa sinh sản

Vì vậy đề tài “Đánh giá chất lượng tinh trùng của cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier & Valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản” được thực hiện nhằm đánh giá được chất lượng tinh

trùng thông qua các thông số về mật độ, đặc tính lý hóa, hoạt lực của tinh trùng tại các thời điểm đầu, giữa và cuối trong mùa vụ sinh sản

Nghiên cứu này được tiến hành trên đối tượng là cá chẽm mõm nhọn, được đánh bắt tự nhiên và nuôi lưu giữ trong lồng tại vùng biển Vũng Ngán Nha Trang – Khánh Hòa Mẫu tinh trùng được tiến hành thu tại các thời điểm khác nhau là: đầu, giữa và cuối mùa vụ sinh sản Mẫu sau khi thu được bảo quản trong đá lạnh rồi đưa về phòng thí nghiệm tại trường Đại học Nha Trang để tiến hành nghiên cứu và phân tích Nghiên cứu này được thực hiện với 3 nội dung chính là: (i) Xác định đặc tính lý học của tinh trùng như thể tích, mật độ, độ quánh, thời gian hoạt lực, phần trăm tinh trùng hoạt lực; (ii) Xác định đặc tính hóa sinh của dịch tương gồm các thông số ion, nồng độ thẩm thấu và protein tổng số; (iii) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt lực tinh trùng tại thời điểm đầu, giữa và cuối mùa vụ sinh sản

Kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy, đặc tính lý học ở đầu, giữa và cuối mùa vụ lần lượt là: Thể tích (ml/cá đực): 0,7±0,2; 1,35±0,18; 1,3±,14; mật độ (x109tb/ml): 28,1±1,46; 30,46±1,97; 30±4,31; độ quánh (%):73±7,68; 86,25±3,19; 85,5±3,59; phần trăm tt hoạt lực (%): 92,3±3,8; 91,5±3,28; 90,8±4,38; số lượng tt (x109 tb/cá đực): 18,6±5,99; 41,15±7,52; 38,6±7,95; thời gian tt hoạt lực (s): 240±25; 227±5; 230±13; pH: 7,9±0,23; 7,67±0,18; 7,8±0,25; độ mặn (ppt): 24,8±1,68; 26,55±1,43; 29,8±1,85 Đặc tính hóa học với thành phần hóa học trong dịch tương tại thời điểm thu mẫu đầu, giữa và cuối mùa vụ lần lượt là:Na+(mmol/l): 154,66±1,34; 134,8±6,08; 166,7±7,9;

Trang 13

K+(mmol/l): 17,01±0,95; 15,1±0,77; 17,2±0,97; Cl-(mmol/l): 113,64±1,12; 110,8±2,19; 114,2±1,76; Mg2+ (mmol/l): 6,64±0,71; 6,4±0,63; 6,7±0,79); Ca2+ (mmol/l): 13,62±1,25; 12,8±1,15; 13,1±1,43; Tổng số protein (g/l): 1,17±0,23; 1,1±0,22; 1,3±0,26; NDTT (mOsm/kg): 345,49±8,83; 335±7,82; 351,5±6,46

Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn trong nghiên cứu này chỉ rõ, với những giá trị ở các yếu tố sau thì hoạt lực tinh trùng là tối ưu cho từng mùa vụ sinh sản: Tỷ lệ pha loãng 1:100 ở giữa mùa vụ và 1:150 (tinh dịch: nước biển nhân tạo) ở đầu và cuối mùa vụ; pH=8 và nhiệt độ 300C cho cả 3 mùa vụ; NDTT 400mOsm/kg trong chính giữa mùa vụ và NDTT 450mOsm/kg trong đầu và cuối mùa vụ; Ca2+=0,1M ở đầu và giữa mùa vụ,

Ca2+=0,15M ở cuối mùa vụ; Mg2+=0,1M ở cả 3 mùa vụ; K+ =0,6M ở đầu và giữa mùa

vụ, K+=0,65 ở cuối mùa vụ; Na+ =0,55M ở đầu mùa vụ, Na+=0,6M ở giữa mùa vụ và

Na+=0,65M ở cuối mùa vụ

TỪ KHÓA: Cá chẽm mõm nhọn, Psammoperca waigiensis, mùa vụ sinh sản,

chất lượng tinh trùng

Khánh Hòa, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Trang 14

MỞ ĐẦU

Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là loài cá biển nhiệt đới có giá trị

kinh tế cao và là một trong những đối tượng nuôi được quan tâm trong thời gian gần đây Để sản xuất giống thành công thì ngoài chất lượng trứng phải tốt thì chất lượng tinh trùng cũng phải tốt Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng như: mùa vụ sinh sản, thời điểm thu mẫu, nhiệt độ, thức ăn [8]

Để sản xuất giống cho chất lượng cao, số lượng lớn và nuôi thành công đạt hiệu quả kinh tế thì chất lượng trứng và tinh trùng có thể nói là yếu tố quan trọng nhất để dẫn đến kết quả như ý muốn Đánh giá chất lượng tinh trùng thông qua các mùa vụ khác nhau và ảnh hưởng của mùa vụ lên chất lượng tinh trùng là yêu cầu rất cần thiết

để xác định thời điểm cho chất lượng tinh trùng tốt nhất giúp sinh sản nhân tạo cá thành công hơn Ngoài ra, việc đánh giá các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn sẽ cung cấp những thông số tối ưu (nhiệt độ, pH,

độ mặn, nồng độ thẩm thấu, nồng độ ion) trong từng mùa vụ cụ thể để tiến hành đánh giá bảo quản và nghiên cứu cho những đề tài tiếp theo Đã có một vài nghiên cứu đánh giá về chất lượng tinh trùng trên cá chẽm mõm nhọn như: Nghiên cứu đánh giá chất lượng tinh trùng và ảnh hưởng của một số yếu tố lên hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm

nhọn Psammoperca waigiensis được thực hiện bởi Nguyễn Thị Hồng Nhung [11],

Nghiên cứu bảo quản tinh trùng cá chẽm mõm nhọn trong nitơ lỏng được thực hiện bởi Nguyễn Thị Thanh Thủy [14], Nghiên cứu bảo quản tinh trùng cá chẽm mõm nhọn trong tủ lạnh bởi Bông Minh Đương [4] Tuy nhiên, ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của mùa vụ lên chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn trong

mùa sinh sản Vì vậy tôi thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng tinh trùng của cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier & Valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản” Thành công của nghiên cứu này

có thể cung cấp thông tin thời điểm thu mẫu tinh trùng trong mùa vụ sinh sản có chất lượng cao cho sinh sản nhân tạo loài cá này và hướng đến các loài cá biển khác ở Việt Nam trong tương lai

Luận văn tiến hành gồm các nội dung sau

Trang 15

1 Xác định đặc tính lý học của tinh trùng thông qua thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản

2 Xác định đặc tính hóa học của dịch tương thông qua thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản

3 Xác định cac yếu tố ảnh hưởng đến hoạt lực của tinh trùng tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản

Mục tiêu của luận văn:

Đánh giá được chất lượng lượng tinh trùng qua các thông số về mật độ, đặc tính

lý hóa, hoạt lực của tinh trùng tại các thời điểm đầu, giữa và cuối trong mùa vụ sinh sản Đưa được ra kết luận chất lượng tinh trùng của cá Chẽm mõm nhọn được thu vào thời điểm nào là tốt nhất Đưa được ra các thông số tối ưu cho hoạt lực của tinh trùng

để từ đó có thể tiến hành đánh giá, bảo quản và nghiên cứu về đối tượng vào bất kỳ thời điểm nào trong mùa vụ sinh sản

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học: Kế thừa những nghiên cứu trước đó và góp phần làm phong phú

hơn những nghiên cứu về lĩnh vực đánh giá, bảo quản chất lượng tinh trùng cá, để từ

đó làm nền tảng cho những nghiên cứu khoa học khác về lĩnh cực này

Ý nghĩa thực tế: là cơ sở khoa học vững chắc cho việc chọn thời điểm thu mẫu để bảo

quản tinh trùng, duy trì nguồn gen và thụ tinh nhân tạo, sản xuất giống có chất lượng tinh trùng tốt nhất, cho sản phẩm đạt được là cao nhất

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm sinh học, sinh sản cá chẽm mõm nhọn

1.1.1 Phân loại khoa học cá Chẽm mõm nhọn

Giới (Kingdom): Động vật (Animalia)

Ngành (Phylum): Dây sống (Chordata)

Ngành phụ (Subphylum): Động vật có xương sống (Vertabrata)

Liên lớp (Superclass): Cá xương (Osteichthyes)

Lớp (Class): Actinopterygii

Lớp phụ (Subclass): Neopterygii

Lớp phụ dưới (Infraclass): Teleostei

Liên bộ (Superorder): Acanthopterygii

Bộ (Order): Cá vược (Perciformes)

Bộ phụ (Suborder): Percoidei

Họ (Family): Cá sơn biển (Centropomidae)

Họ phụ (Subfamily): Latinae

Loài (Species): Cá Chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis,

Cuvier & Valencienes, 1828)

Waigeu seaperch

Trang 17

Hình 1.1: Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis 1.1.2 Đặc điểm hình thái

Thân dài, dẹp bên, đầu thót nhọn, bắp đuôi ngắn, cao, nền bụng hơi tròn Mõm tương đối dài và nhọn Mắt tương đối lớn, đường kính mắt lớn hơn khoảng cách 2 mắt Miệng rộng, hàm dưới hơi ngắn hơn hàm trên Môi hẹp và mỏng Xương hàm trên kéo dài đến dưới nền trước đồng tử, phần sau phình rộng Thân phủ vảy lược lớn, dày, phần lược yếu [10]

Theo Nguyễn Hữu Hùng (2001), cá Chẽm mõm nhọn ở vùng biển Khánh Hoà

có một số đặc điểm sai khác so với cá Chẽm mõm nhọn ở vùng khác như: Chiều dài thân bằng 2,6 - 3,3 chiều cao thân, bằng 2,7 - 3,3 chiều dài đầu Chiều dài đầu bằng 3,5

- 3,8 lần chiều dài mõm, bằng 5,0 - 5,6 lần đường kính mắt Mô tả có sự sai khác so với mô tả của các tác giả khác trong và ngoài nước được giải thích là do sự sai khác về địa lý, khí hậu ở nơi mà loài cá này phân bố [7]

Trang 18

1.1.3 Đặc điểm phân bố và môi trường sống

Hình 1.2: Vùng phân bố cá chẽm mõm nhọn trên thế giới ( Nguồn:

www.aquamaps.org, version of Aug 2013 Web Accessed 11 Aug 2015.)

* Màu đỏ, vàng là khu vực phân bố của cá chẽm mõm nhọn trên thế giới

Đây là loài cá phân bố ở các vùng biển ven bờ các nước nhiệt đới từ Đông Ấn

Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương, giới hạn ở Bắc bán cầu là vùng đảo Ryukyu [31] Cụ thể loài cá này được tìm thấy ở các vùng biển Xrilanca, Ấn Độ, Indonesia, châu Úc, Philippin, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia Ở Việt Nam cá phân bố ở vịnh Bắc Bộ, vùng biển Quảng Ninh

Cá vược mõm nhọn sinh sống ở đáy biển và cửa sông Thường bắt gặp chủ yếu giữa các tảng đá hay các rạn san hô, ưa thích các vùng nước nhiều thực vật như rong

và cỏ biển Nó là loài cá săn mồi ban đêm, với thức ăn chủ yếu là động vật giáp xác hay cá nhỏ và chúng ẩn nấp vào ban ngày [12]

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Kết quả nghiên cứu của Tamaki Shimose (2006) cho thấy có sự khác nhau về kích thước của con cái và con đực [76] Nghiên cứu tiến hành trên loài cá này ở vùng đảo Okinawa, Nhật Bản cho thấy chiều dài cơ thể trung bình của con cái 261,3 ± 25,9

mm (SL); và con đực là 247,8 ± 19,5mm (SL) Cấu trúc tuổi của loài đa số là 1 - 7 tuổi

và 1 – 11 tuổi, chiếm 82% Tốc độ sinh trưởng của cả hai giới nhanh trong 2 năm đầu, đạt đến 166,2 - 270,3 mm (SL), sau đó sinh trưởng rất chậm Tỉ lệ đực:cái nhỏ hơn 1 khi cá 2 - 3 tuổi, và lớn hơn 1 khi cá từ 4 tuổi trở lên [76] Đối với loài cá này ở vùng

Trang 19

biển Khánh Hoà cho thấy kích thước của loài cá này không lớn dao động từ 165 - 430

mm và 40 - 1300 g Biểu thức liên quan đến chiều dài, khối lượng được xác định: W=4x10-6xL3,214 Hai năm đầu cá tăng trưởng về chiều dài, từ 2 tuổi, tăng nhanh trọng lượng Khi đạt đến kích thước nhất định thì cá tăng nhanh về khối lượng Khác với cá ở vùng đảo Okinawa, Nhật Bản, cá ở đây có cấu trúc tuổi 2 - 4 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là 33,3%, 37,9%, 17,2% Nhóm từ 5+ đến 6+ chiếm tỉ lệ thấp 3,4% và 1,1% Tuổi càng cao, tỉ lệ đực càng thấp và ở 5+ và 6+ tuổi không có con đực [10] Kết quả này khác với nghiên cứu của Tamaki Shimose và ctv, tỷ lệ đực càng cao khi tuổi

cá càng lớn, trên 4+ tuổi [76]

Ngoài tự nhiện, cá hoạt động vào ban đêm và ăn thức ăn chủ yếu là giáp xác nhỏ Trong điều kiện nhân tạo, thức ăn thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển Giai đoạn cá bôt, thức ăn của chúng là các loại động vật phù du và giáp xác nhỏ như luân trùng., Nauplius của Artemia và Copepoda Từ giai đoạn cá giống trở đi, thức ăn được

sử dụng là các loại cá tạp hoặc giáp xác nhỏ Sự sinh trưởng của cá chẽm mõm nhọn tương đối chậm

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Cá Chẽm mõm nhọn ở vùng biển Khánh Hoà thành thục lần đầu khi đạt 2+, chiều dài toàn thân trung bình đạt 256,2 ± 6,9 mm [7] Tuổi tham gia sinh sản lần đầu của cá đực và cái là như nhau Theo các nhà ngư loại học, tuổi và cỡ cá thành thục lần đầu ở các vùng địa lý khác nhau là khác nhau Ở Nhật, trong điều kiện tự nhiên, con cái thành thục khi đạt kích thước (SL) 217 mm, tuổi 2+; đối với con đực là 206 mm và

2+ [76] Qua nghiên cứu cho thấy không có sự sai khác nhiều về tuổi và cỡ cá thành thục

Cá chẽm mõm nhọn đẻ nhiều lần trong năm với mùa vụ sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10 Có 2 thời điểm sinh sản chính là từ tháng 3 đến tháng 4 và từ tháng 9 đến tháng 10

Cá chẽm mõm nhọn có hiện tượng thay độ giới tính hay không đến nay vẫn chưa có kết luận Hầu hết các tác giả cho rằng cá chẽm mõm nhọn không có hiện tượng thay đổi giới tính [76] nhưng cũng có tác giả cho rằng loài này có hiện tượng

Trang 20

thay đổi giới tính, con đực thành thục khi cơ thể đạt 75 – 100 g tham gia sinh sản và sau đó chuyển thành con cái khi cơ thể đạt 150g trở lên [19]

1.2 Đặc điểm tinh trùng

1.2.1 Đặc điểm cấu tạo tinh trùng

Tinh trùng là một tế bào đặc biệt thích ứng với chức năng vận động và thụ tinh Tinh trùng có kích thước vô cùng nhỏ tư 50 – 60 µm, được bao bọc bởi màng tế bào và các cơ quan như nhân, ty thể, trung thể Cấu tạo của tinh trùng gồm 3 phần: Phần đầu, phân cổ và phần đuôi

Hình 1.3 : Cấu tạo tinh trùng [54]

Phần đầu: Đầu tinh trùng là phần có khả năng kích thích trứng và chuyển vật chất di truyền vào trong trứng Hình thái của đầu tinh trùng khác nhau tùy loài, có thể

là hình đa giác, hình xoắn (ở cá sụn) hay hình ovan Ở cá xương, đầu tinh trùng có cấu tạo đơn giản gần như hình tròn [1] Đầu tinh trùng thường rất to so với phần cổ và đuôi Trên cùng của đầu, nằm ngang dưới màng là thể đỉnh Thể đỉnh có hình như chiếc mũ trùm xuống phía dưới, trong nó chứa enzyme Hialuronidaza có tác dụng hòa tan màng tế bào trứng mở đường cho tinh trùng xâm nhập vào khi thụ tinh; thể đỉnh do

bộ máy Golgi tạo thành Nhân tinh trùng nằm dưới thể đỉnh, rất to và đông đặc, chứa

Trang 21

nguyên liệu di truyền của giao tử đực Bao quanh nhân và thể đỉnh là một lớp tế bào chất mỏng [7]

Phần cổ: Phần cổ tinh trùng tương đối ngắn, cách đầu bằng một lớp màng mỏng Trong cổ chứa trung tử đầu và trung tử đuôi nằm vuông góc với nhau Từ trung

tử đuôi phát ra các sợi trục của tinh trùng Trung tử đầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân chia trứng đã được thụ tinh [1]

Phần đuôi: Đuôi tinh trùng là cơ quan hoạt lực dài và mảnh tùy theo loài Phần đầu của đuôi tinh trùng là vòng xoắn ty thể Ty thể là bào quan mang các enzyme oxy hóa và enzyme oxyphotphorin hóa do vậy nó có liên quan đến quá trình hoạt động và chuyển hóa năng lượng của tinh trùng Phần cuối của đuôi là sợi chỉ trục và lớp màng mỏng bao quanh Đuôi đảm bảo cho tinh trùng hoạt động Sự di chuyển được thực hiện bằng cách chuyển động co duỗi lượn sóng và chuyển động đập của đuôi [1]

1.2.2 Quá trình tạo tinh trùng

Sự phát triển của tinh trùng được chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng sinh của tinh nguyên bào gốc, sự phân chia phân bào giảm nhiễm và sự biến đổi của tinh tử thánh tinh trùng

- Giai đoạn 1: Giai đoạn tăng sinh: trước khi bắt đầu phát triển tuyến sinh dục, tinh sào còn non chứa tinh nguyên bào gốc (spermatogonia) tăng sinh bằng cách phân chia nguyên phân Trong giai đoạn này, số lượng của các tế bào gốc trong tinh sào tăng lên qua một số chu kỳ phân bào từ khoảng 5 đến 15 tùy thuộc vào loài Trong quá trình phân chia, tế bào con cần duy trì trực tiếp giữa các tế bào chất với nhau Trong giai đoạn của sự gia tăng phân bào, các spermatogonia đầu tiên thông qua một giai đoạn có tốc độ phân chia chậm được gọi là spermatogonia A và sau đó thông qua một giai đoạn

có tốc độ phân chia nhanh hơn được gọi là spermatogonia B

- Giai đoạn 2: Giai đoạn phân bào giảm nhiễm: việc phân bào cuối cùng của spermatogonia B tạo ra túi tinh bào (spermatocytes) chính tham gia vào quá trình phân bào giảm nhiễm Trong suốt giai đoạn 2, spermatocytes tiếp tục sự phân chia phân bào giảm nhiễm lần đầu, trong đó bao gồm việc sao chép DNA và tái tổ hợp thông tin di truyền, dẫn đến sự hình thành của spermatocytes thứ cấp Chúng nhanh chóng đi đến

Trang 22

phân bào giảm nhiễm thứ cấp nhưng không sao chép DNA, dẫn đến sự hình thành của các tế bào mầm đơn bội gọi là tiền tinh trùng hay tinh tử (spermatids)

- Giai đoạn 3: Sự biến đổi của tinh tử và tinh trùng Tinh tử bắt đầu quá trình biến đổi trong đó các tế bào đơn bội spermatids biệt hóa thành tinh trùng roi Quá trình này làm

tế bào giảm mạnh về kích thước (>80%) [39]

Hình 1.4: Quá trình tạo tinh trùng cá [37]

1.2.3 Đặc tính lý hóa của tinh trùng

Kích thước của tinh trùng thường rất bé so với tế bào trứng trong cùng 1 loài

Ví dụ: Cá rô 2µm, người từ 50 – 70 µm, hầu 75µm, tôm he 10µm [3], ngược lại số lượng tinh trùng của chúng lại rất lớn Ví dụ: 1ml tinh dịch cá trắm cỏ có 31,1± 1,7 triệu tinh trùng, cá mè trắng có 31,6 ± 2,8 triệu tinh trùng, cá trắm đen có 16,2 ± 0,9 triệu tinh trùng [3]

Tinh nguyên bào gốc

Tế bào được làm mới

Tế bào mầm

Tinh bào thứ cấp

Phân bào Phân bào Tinh bào sơ cấp

Tinh trùng Tinh tử

Tinh trùng trưởng thành

Biệt hóa

Tinh trùng già Thành thục Sinh tinh

Trang 23

Đặc điểm vận động: Khi còn ở trong tuyến sinh dục, tinh trùng không vận động nhưng khi rơi vào nước nó vận động mạnh Ở cá nước ngọt, tinh trùng lao đầu về phía trước sau 1-2 phút chuyển động chậm dần và sau đó chuyển sang chuyển động dao động Khoảng 2-3 phút lượng tinh trùng chuyển động còn rất ít và cuối cùng toàn bộ ngừng hoạt động [1]

Hoạt lực của tinh trùng phụ thuộc vào đặc điểm của loài, mức độ thành thục của

nó và điều kiện môi trường mà nó đang sống Sự chuyển động và thời gian vận động của tinh trùng có thể giúp đánh giá được chất lượng tinh trùng Tinh trùng có khả năng vận động độc lập do sự co duỗi của phần đuôi Vận động của tinh trùng trong nước thường có hai giai đoạn, thoạt tiên là vận động tiến về phía trước, tiếp theo là vận động yếu dần theo hình thức dao động quả lắc

Hoạt lực, vận tốc và thời gian vận động của tinh trùng phụ thuộc vào mức độ thành thục và điều kiện môi trường sống của chúng Thời gian vận động ở trong nước của tinh trùng các loài cá rất khác nhau và đều rất ngắn [15] Persov, 1941 đã đề nghị một bảng để đánh giá mức độ (5 mức) chuyển động của tinh trùng sau khi cho vào dung dịch kích hoạt Cụ thể là [69]: Mức 5: Tất cả tinh trùng đều chuyển động tiến thẳng, mức 4: Đa số tinh trùng chuyển động tiến trong hiển vi thường thấy chỉ có một

số ít tinh trùng dao động, mức 3: Số tinh trùng chuyển động ít hơn số tinh trùng dao động, đã có một số tinh trùng bất hoạt, mức 2: Rất ít tinh trùng chuyển động tiến, một

số ít chuyển động dao động, ¾ số tinh không chuyển động, mức 1: Tất cả tinh trùng không chuyển động

Năng lượng cung cấp cho tinh trùng vận động chủ yếu dựa vào sự phân giải gluxit_năng lượng dự trữ của tinh trùng Sự vận động là tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định sức sống của tinh trùng cá Cá đực thành thục tốt thì tinh trùng khỏe mạnh và tuổi thọ kéo dài hơn so với cá đực chưa thành thục

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tinh trùng

1.3.1 Yếu tố lý học

Tinh dịch là sản phẩm tiết của tinh sào và ống dẫn tinh trùng, sự xáo trộn thành phần của nó sẽ dẫn đến thay đổi chất lượng tinh trùng [36], [37] Vai trò chính của các thành phần trong tinh dịch là tạo ra môi trường tối ưu cho hoạt lực tinh trùng Các

Trang 24

thông số lý học của tinh dịch được xác định bao gồm: Mật độ tinh trùng, độ quánh,

pH, áp suất thẩm thấu, tổng hàm lượng protein [46], [47] Việc nghiên cứu các thành phần, hàm lượng, sự thay đổi của các thông số trên là rất cần thiết và hữu ích để cung cấp những thông tin về chất lượng tinh trùng cá cũng như cho biết quá trình già hóa, thay đổi hay nhiễm bẩn cũng như bất kỳ yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng [35].Tuy nhiên, thành phần và nồng độ của các thông số trên khác nhau tùy mỗi loài, thậm chí trên cùng một loài tại những thời điểm sinh sản khác nhau, vì vậy không

dễ dàng để giải thích kết quả thu được [72]

Mật độ tinh trùng là một yếu tố đánh giá chất lượng tinh trùng cá, tuy nhiên mật

độ tinh trùng có sự khác nhau giữa các con đực trong cùng loài, giữa mùa sinh sản,

giữa các mùa trong năm và giữa các loài khác nhau [54], [71] Ví dụ, cá Carassius auratus có sự thay đổi mật độ tinh trùng theo bốn mùa trong năm Mật độ tinh trùng

(tb/ml/con đực) vào mùa hè (57,30±10,41tb/ml) và mùa đông (65,09±80,40 tb/ml) cao hơn mùa xuân (48,0±7,08 tb/ml) và mùa thu ( 40,42±16,54×109 tb/ml) [85] Độ quánh (spermatocrit) tinh dịch là một trong yếu tố ảnh hưởng tới mật độ tinh trùng loài cá đó Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có một sự tương quan giữa mật độ tinh trùng và độ quánh tinh dịch cá như trên cá hồi Salmonids, cá chép Cyprinids và cá bơn Đại Tây

Dương Hippoglossus hippoglossus [52] Độ quánh của tinh dịch loài được xem như

thước đo cho mật độ tinh trùng loài cá đó [51] Độ quánh cũng thay đổi tùy loài, đặc biệt độ quánh liên quan đến chất lượng nguồn cá đực Độ quánh cao chứng tỏ tinh dịch con cá đó cho mật độ cao hơn với những con cá khi vuốt tinh sẽ loãng hơn [52] Mặt khác, tinh dịch thường có màu trắng đục, khi tinh dịch cá vuốt ra có nhiễm phân hay nước tiểu màu sắc sẽ tối hơn và khi đó xác định độ quánh sẽ không chính xác Vì vậy, không nên sử dụng tinh dịch có màu quá tối so với bình thường để phân tích vì khi đó các thành phần trong tinh dịch đã bị nhiễm bẩn hay chuyển hóa Hàm lượng protein trong tinh dịch thấp chỉ (1–3 g/l) [43] Ciereszko,1996 cho rằng mối liên hệ giữa đặc tính sinh lý của tinh trùng là do sự tác động qua lại giữa hàm lượng protein trong tinh dịch và mật độ tinh trùng nhưng vai trò đặc biệt của protein trong tinh dịch vẫn chưa được hiểu rõ [56]

Đối với cá nước mặn, áp suất thẩm thấu của tế bào chất tinh trùng gần bằng với dung dịch nước muối NaCl 0,75%, tức là thấp hơn so với áp suất thẩm thấu của nước biển Khi vào nước mặn, tinh trùng cá biển có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu để

Trang 25

đảm bảo cho tế bào chất không bị mất nước, nhanh chóng thích nghi với môi trường, duy trì hoạt động và khả năng thụ tinh của tinh trùng trong điều kiện môi trường có áp suất thẩm thấu cao hơn Để thực hiện được quá trình điều chỉnh nói trên tinh trùng phải tiêu hao một phần năng lượng dự trữ dẫn đến làm giảm tuổi thọ của tinh trùng Tinh trùng cá biển không có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu khi chúng ở trong môi trường có áp suất thẩm thấu thấp hơn so với áp suất thẩm thấu của tế bào chất Tức không có khả năng chống lại sự xâm nhập của nước vào tế bào chất Do đó, khi tinh trùng cá biển vào nước ngọt thì tế bào chất của chúng hút nước, phần đuôi co lại biến thành hình tròn tựa viên bi, những tinh trùng dạng này tuy vẫn sống song không thể vận động được và không có khả năng thụ tinh Như tinh trùng cá đối khi vào nước ngọt bị biến dạng như trên mà vẫn có thể sống được khoảng 30 phút Nếu đưa chúng trở lại vào nước biển bình thường thì nước từ trong tinh trùng lại có thể thấm ra ngoài, đuôi kéo dài ra như cũ, tinh trùng lại dần dần khôi phục sự vận động có hiệu quả [9], [16]

Đối với hầu hết các loài cá pH tinh dịch là một trong những yếu tố chính kích hoạt tinh trùng vận động như nghiên cứu trên nhóm cá hồi pH tinh dịch thường 7,5 đến 8,5 và đó cũng là pH tốt nhất cho hoạt lực tinh trùng loài cá này [20] pH bên trong tế bào của tinh trùng thấp hơn khoảng 1 đơn vị so với pH bên ngoài môi trường [20]

1.3.2 Các yếu tố hóa học

Thành phần dịch tương tinh trùng cá đã được nghiên cứu từ nhiều thập kỷ qua và các tác giả đều đưa ra kết quả năm ion chiếm ưu thế trong tinh dịch: natri (Na+), kali (K+), clorua Cl-, canxi (Ca2+) và magiê (Mg2+) Trong đó ion Na+, Cl- chiếm chủ yếu sau đó là K+, 2 ion thứ yếu là Ca2+ và Mg2+ [22], [29], [45] Việc xác định nồng độ của chúng sẽ thay đổi từ loài này sang loài khác, nhưng có một khoảng thích hợp cho mỗi ion để cung cấp những điều kiện tốt nhất cho tinh trùng [17], [35]

Tùy thuộc vào nồng độ của các ion, hầu hết chúng đều tham gia vào việc kích hoạt tinh trùng cá hoạt động bằng cách góp phần vào ion nội bào hoặc bằng cách tăng giảm nồng độ để điều hòa áp suất thẩm thấu [68], [57] Sự tương quan giữa các thành phần, nồng độ các cation và hoạt lực tinh trùng đã được nghiên cứu trên nhiều loài khác nhau Lahnsteiner và cộng tác viên cho rằng có sự tương quan giữa khả năng di

chuyển của tinh trùng và thành phần dịch tương trong tinh dịch cá Alburnus alburnus

Trang 26

và gợi ý rằng mối tương quan này có thể cho biết các thành phần ảnh hưởng tới khả năng di chuyển của tinh trùng Các tác giả kết luận rằng hàm lượng ion Na+ và K+ có mối quan hệ tích cực đôi khi là tiêu cực tương ứng với tỷ lệ phần trăm (%) tinh trùng vận động [47] , [57] Trong khi đó Hwang và Idler đã công nhận sự tương quan giữa tỉ

lệ Na+/K+ với khả năng sinh sản tinh trùng trong cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar)

mà không đưa ra một kết luận nào về sự liên quan đến vận động của tinh trùng cá [52] Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu của nhiều tác giả trên những đối tượng khác nhau về

cả cá biển, cá nước ngọt hay các loài cá di cư nhận xét, không chỉ có nồng độ các ion nêu trên ảnh hưởng tới sự vận động của tinh trùng cá mà tỉ lệ giữa các ion cũng có tác động lớn đến hoạt lực tinh trùng cả về mặt tích cực (tức là làm tăng hoạt lực tinh

trùng) lẫn tiêu cực (tức là làm giảm, đôi khi kìm hãm hoạt lực tinh trùng) [33], [77]

* Ion Kali:

Theo Alavi và Cosson, Ca2+ và K+ là 2 ion có nồng độ cao hiện diện trong dịch tương của cá [72] Chúng được coi là chìa khóa để kích hoạt sự vận động của tinh trùng ở các đối tượng cá biển, nhóm cá hồi Salmonids, cá tầm Acipenseridae Ở nhóm

cá hồi, nồng độ K+ trong dịch tương cao (từ 20 đến 60 mM), sự có mặt với nồng độ khá cao có thể liên quan đến sự bất động của tinh trùng trong tinh dịch [49], [64] Sự vận động của tinh trùng được kích hoạt do sự suy giảm nồng độ K+ ngoại bào Tuy nhiên, không chỉ có ion K+ liên quan đến sự kích hoạt khả năng vận động của tinh trùng mà còn có sự tác động của đến khả năng này [65] Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các ion hóa trị 2 như Ca2+ và Mg2+ trong môi trường thụ tinh có tác dụng là ion đối kháng hay ức chế ion K+ [26] Các yếu tố ức chế nồng độ K+ có thể phụ thuộc vào sự nhạy cảm của tinh trùng với ion này thay đổi giữa con đực và mùa sinh sản [78]

Cơ chế điều chỉnh vận động của tinh trùng cá tầm và cá thìa Polyodon spathula

cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu sâu nhưng cũng đã được trình bày khá tương đồng với tinh trùng nhóm cá hồi Salmonids [62] Nồng độ ion K+ trong dịch tương cá

tầm Acipenser persicus là 6,92±0,88 mmol/l, với nồng độ này K+ là chất ức chế chủ yếu khả năng vận động của tinh trùng cá tầm [27] Tinh trùng cá chép ít nhạy cảm với ion K+ nhưng khả năng vận động của chúng được phục hồi sau khi cho chúng tiếp xúc với môi trường có ion K+ với nồng độ cao khi tinh trùng đang ở trạng thái bất động [86] Do đó, K+ là ion quan trọng kiểm soát khả năng vận động của tinh trùng cá [80]

* Ion Canxi:

Trang 27

Canxi ngoại bào được xem là điều kiện tiên quyết bắt đầu sự vận động của tinh trùng ở một số loài cá Các dòng Ca2+ từ bên ngoài đi vào tế bào chất của tinh trùng có tác dụng gây kích thích vận động của tinh trùng và tham gia vào sự kích hoạt của một số enzym hoặc các protein [41] Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra ảnh hưởng có thể có hoặc sự đóng góp vào kho canxi nội bào trong ty thể cũng kích thích tinh trùng hoat động Krasznai lại cho rằng trong tinh trùng cá chép các dòng canxi ngoại bào tạo

ra sự giải phóng các Ca2+ từ lưu trữ, nhưng trong trường hợp này không có các dòng của canxi từ bên ngoài vào, sự phóng thích canxi từ lưu trữ gây ra bởi các cơ chế khác mà không phải là kích hoạt vận động của tinh trùng, cho thấy rằng đường đi của Ca2+ bên ngoài cũng là một yếu tố cần thiết cho quá trình kích hoạt tinh trùng vận động khi chúng được phóng ra môi trường ngoài Kết quả tương tự được ghi nhận bởi Alavi và Cosson trên tinh trùng cá hồi thay đổi nồng độ bên trong tế bào của ion Ca2+ từ 30 nM đến 180

nM trước và sau khi vận động [37]

Ở những loài có thể kích hoạt sự vận động trong môi trường ưu trương không chứa ion, có thể tăng nồng độ ion Ca2+ nội bào để kích hoạt tinh trùng vận động hoặc

để tạo ra các đợt kích hoạt bằng cách giải phóng từ các kho dự trữ bên trong cùng với lượng Ca2+ có trong tinh dịch

Đối với những loài có thể kích hoạt sự vận động ở môi trường ưu trương không chứa ion, có thể tăng canxi bên trong tế bào là cần thiết để kích hoạt tinh trùng hoạt động hoặc để tạo ra các đợt kích hoạt bằng cách giải phóng từ các kho dự trữ bên trong cùng với lượng canxi có trong tinh dịch Như vậy có thể thấy rằng nồng độ canxi trong

tế bào đã được cho là thành phần quan trọng trong kích hoạt khả năng vận động của

tinh trùng Một nghiên cứu khác cũng về nội dung này trên cá tầm Acipenser ruthenus

hoạt lực tinh trùng đã hoàn toàn bị ức chế tại 0,35 mM Ca2+ và tác giả cũng cho biết thêm chính ion K+ đã gây nên tác dụng ức chế đối với ion Ca2+ [24]

* Ion Natri:

Na+ có một vai trò thứ yếu trong việc kích hoạt và duy trì vận động của tinh trùng

cá Thực tế không có nhiều nghiên cứu được tìm thấy để chứng minh về vai trò kích hoạt vận động tinh trùng cá của ion này và chỉ gần đây vai trò của Na+ mới được biết

đến qua một nghiên cứu trên tinh trùng cá trích Sardinella aurit, Vines và đồng nghiệp

phát hiện sự trao đổi qua lại hàm lượng Na+/Ca2+ trong tinh trùng của loài này và công nhận rằng bắt đầu vận động xảy ra bằng cách đảo ngược sự trao đổi Na+/Ca2+ [34].Cơ

Trang 28

chế này cho phép tinh trùng thay đổi về phía trước để đảo ngược kênh điều hành dưới

sự kiểm soát nồng độ ion bên trong và bên ngoài tế bào.Thời gian vận động của loài này có thể dài hơn 60 phút, có vẻ như rõ ràng rằng các tế bào có thể điều chỉnh tăng canxi bên trong bằng cách hoạt động trong một chế độ đảo ngược Điều này sẽ cho phép khả năng vận động trong thời gian dài cũng như duy trì tinh trùng tiếp xúc với nước biển trong một trạng thái ít tiêu hao năng lượng trước khi tiếp xúc với trứng cho đến khi quá trình thụ tinh xảy ra [81]

* Ion Magie:

Đây cũng là một ion thứ yếu trong dịch tương tinh trùng cá mà có liên quan đến kích hoạt vận động của tinh trùng Theo các nghiên cứu trên cá nước ngọt, ion Mg2+ ức chế

sự hoạt động của ion K+, song trên cá biển vẫn chưa có chứng minh nào cho điều đó

Sự ức chế khả năng vận động của tinh trùng trong tinh dịch chủ yếu là do ion K+ trong

cá hồi và áp suất thẩm thấu trong cá chép nhưng Mg2+ cũng có phần ảnh hưởng tới tính bất hoạt của tinh trùng [39]

1.3.3Thời gian thu mẫu:

Đây là khâu đầu tiên rất quan trọng vì thời gian thu mẫu ảnh hưởng tới chất lượng tinh trùng của cá dẫn tới những đánh giá cho kết quả Khi đã xác định được mùa

vụ sinh sản của cá thì cần phải phân ra các khoảng thời gian cân bằng cho đầu, giữa và cuối mùa vụ sinh sản để đưa những đánh giá khách quan

1.3.4 Thao tác thu tinh:

Trước khi thu tinh, dụng cụ cần được khử trùng và để nơi thoáng mát và kiểm tra lại cá đực Trước khi thu mẫu phải lau khô phần dọc theo bụng cá Khi thu mẫu phải hết sức cẩn thận và nhẹ nhàng, tránh không để phân cá, máu hay nước tiểu lẫn vào tinh dịch, nếu không tinh trùng dễ bị kích hoạt dẫn đến thời gian cất giữ ngắn hay không đạt kết quả mong muốn Nên lấy tinh dịch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát để tinh dịch không bị biến đổi, không nên lấy tinh dưới ánh sáng mặt trời để tránh tinh trùng

bị ảnh hưởng xấu

Những ống đựng tinh dịch (eppendorfs tube) nên được để trên khay đá lạnh, không nên nắm trong tay bởi nhiệt độ cơ thể cao làm giảm tuổi thọ tinh trùng Tinh thu xong được lưu giữ trên đá lạnh và vận chuyển nhanh về phòng thí nghiệm để kiểm tra

và xử lý mẫu

Trang 29

1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Trên thế giới

Trên thế giới, theo hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng tin trùng (đặc tính lý hóa học và loạt lực tinh trùng) thông qua thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản thì có nhiều công trình công bố trên cả đối tượng cá nước ngọt như cá hồi

Salmo salar m sebago [70], cá chép Cyprinus carpio [42], cá hồi vân Oncorhynchus mykiss [55], cá Barbus barbus [25], cá rô châu Âu Perca fluviatilis [28] và cá biển như

cá Macrozoarces americanus [82], cá hanh đỏ Pagrus pagrus [66], cá Melanogrammus aeglefinus [74], cá bơn Đại Tây Dương Hippoglossus hippogossus [30], cá Solea seneglese [38], cá tuyết Đại Tây Dương Gadus morhua [75], cá Paralichthys orbigngyanus [58] Kết quả của nghiên cứu này cho rằng không những

thời điểm thu mẫu khác nhau thì đặc tính cũng như hoạt lực sẽ khác nhau mà còn khác nhau tùy theo đặc trưng của loài

Các nghiên cứu về mật độ riêng lẻ thực tế là không nhiều, song có không ít nghiên cứu chỉ ra mật độ có liên quan đến khả năng vận động của tinh trùng Điển

hình là loài cá chẽm Châu Âu Dicentrarchus labrax, tác giả đã cho biết mật độ tinh

trùng là 60x109 tb/ml, song mật độ này sẽ giảm dần theo mùa vụ sinh sản, càng về cuối mùa vụ sinh sản mật độ giảm dần Điều đáng nói là thời gian vận động của tinh trùng loài cá này tương đối thấp, trong tổng số 40 giây thì 10 giây đầu tiên tinh trùng vận động 100% và khả năng thụ tinh cũng như tiếp cận trứng cũng tốt nhất ở giai đoạn này Và ở 10 giây cuối cùng thì hầu như tinh trùng không hoạt động

Để hoàn thiện hơn nữa, các nghiên cứu không chỉ tập trung vào cá đực bình thường mà còn có những nghiên cứu về những thay đổi trong khả năng vận động của tinh trùng trên một số loài cá mà điển hình là cá hồi vân đực đảo ngược giới tính Mục đích của nghiên cứu này là tác giả muốn so sánh chất lượng tinh trùng của những con

cá đực bình thường và những con cá đực đảo ngược giới tính Điều đó cho thấy việc nghiên cứu về đặc tính tinh trùng cá là yếu tố quan trọng trong việc đa dạng hóa đối tượng nuôi cũng như trong công tác thụ tinh nhân tạo

Nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến đặc tính hóa sinh của huyết tương và

hoạt lực của tinh trùng của cá Macrozoarces americanusđược thực hiện bởi Wang Z

Trang 30

và Crim LW (1997) [82] Nghiên cứu này chỉ ra rằng hoạt lực của tinh trùng, pH và

nồng độ thẩm thấu của huyết tương tinh dịch khác nhau trong suốt mùa sinh sản - kéo dài trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 9 Đầu mùa vụ, hoạt lực của tinh trùng thấp, cao nhất là vào tháng 7 và tháng 8 và sau đó giảm trở lại vào cuối vụ pH của huyết tương tinh tăng từ pH 7,4-7,9 trong suốt thời gian tinh trùng vận động, pH tối ưu

cho sự vận động của tinh trùng cá Macrozoarces americanuskhoảng từ pH 8-9 Nồng

độ thẩm thấu trong huyết tương của tinh dịch trong mùa sinh sản giảm từ 416-339 mmol kg -1, giá trị thẩm thấu trung bình 356 ± 3 là trong sự tối ưu cho khả năng vận động của tinh trùng (300-400 mmol.kg-1). Khi so sánh sự thay đổi về hoạt lực của tinh

trùng với thành phần sinh hóa trong huyết tương tinh dịch cá Macrozoarces

với hoạt lực cao nhất của tinh trùng trong mùa hè Nồng độ Na+ và Cl- suy giảm theo mùa đã được phản ánh trong nồng độ thẩm thấu của huyết tương tinh thấp

1.5.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về đặc tính lý hóa cũng như hoạt lực tinh trùng động vật thủy sản chủ yếu được thực hiện trên cá nước ngọt và một vài loài giáp xác, các nghiên cứu về cá biển còn hạn chế Đặc biệt, tính đến thời điểm này chưa có bất kỳ một nghiên cứu nào về đặc tính lý hóa và hoạt lực tinh trùng cá biển tại các thời điểm khác nhau trong mùa vụ sinh sản

Trên nước ngọt chủ yếu nghiên cứu đồng thời cùng quy trình bảo quản tinh trùng Tác giả Hồ Kim Diệp Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã nghiên cứu thành công quy trình bảo quản tinh trùng một số loài cá nước ngọt như cá Chép, Trắm

cỏ, Bống, Mrigan [2] Trước khi nghiên cứu bảo quản nhóm tác giả cũng đánh giá chất lượng tinh trùng nhưng không nghiên cứu sâu về thành phần dịch tương của loài cá nào

Nguyễn Minh Thành và ctv (2003) Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2

(RIA 2) đã bảo quản thành công tinh cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) dài hạn

bằng nito lỏng [13] Các tác giả cũng có báo cáo đánh giá chất lượng tinh trùng cá Tra

về mật độ và hoạt lực nhưng chưa thật sâu sắc

Trang 31

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013) Đại học Nha Trang cũng đã có công trình nghiên cứu đánh giá chất lượng tinh trùng và ảnh hưởng của một số yếu tố lên

hoạt lực tinh trùng cá Chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) Tác giả có đưa ra

được các thông số cơ bản và đánh giá được chất lượng tinh trùng của cá Chẽm về các đặc tính lý hóa học và xác định được các yếu tố tối ưu cho hoạt lực tinh trùng [11]

Trên một đối tượng khác cũng là cá biển là cá mú cọp, tác giả Hoàng Thị Hiền (2013) Đại học Nha Trang đã thực hiện một nghiên cứu về một số đặc tính lý, hóa học

của tinh trùng cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus Nghiên cứu cũng đã chỉ ra được

các thành phần lý hóa học chủ yếu có trong tinh dịch của cá mú cọp và các yêu tố bên ngoài tác động đến chất lượng tinh trùng [6]

Tác giả Võ Thị Ngọc Giàu (2014) Đại học Nha Trang đã thực hiện một nghiên

cứu đánh giá chất lượng tinh trùng cá dìa Siganus guttatus nuôi tại Nha Trang – Khánh

Hòa Trong nghiên cứu này, tác giả có trình bày được các đặc tính lý hóa sinh cũng như chỉ ra được các ảnh hưởng của các yếu tố lên chất lượng tinh trùng cá cá dìa [5]

Tất cả những nghiên cứu được thực hiện ở trên tuy đa dạng về đối tượng và cũng chỉ ra được những thành phần lý hóa học của tinh dịch và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng cá nhưng lại chưa có nghiên cứu nào chỉ rõ ra được tinh trùng được thu tại thời gian nào trong mùa vụ sinh sản là cho chất lượng tốt nhất và các thông số như nhiệt độ, pH, nồng độ thẩm thấu, nồng độ ion nào trong dung dịch pha loãng là tốt nhất cho từng thời điểm khác nhau trong mùa vụ sinh sản

Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi cá biển nói riêng đang có những bước phát triển vượt bậc cùng với những kỹ thuật nuôi, kỹ thuật sản xuất giống tiên tiến, đi đầu trong nhiều đối tượng trên thế giới Nếu chúng ta có nhiều hơn nữa những nghiên cứu ban đầu về đánh giá chất lượng của tinh trùng thủy sản thì

sẽ tạo cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng thụ tinh nhân tạo cũng như làm tiền đề cho các nghiên cứu bảo quản tinh trùng, duy trì nguồn gen cho 1 số loài thủy sản Với nghiên cứu đánh giá chất lượng tinh trùng cá tại các thời điểm khác nhau trong mùa vụ sinh sản sẽ làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sau này để hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất nhân tạo cá Chẽm mõm nhọn tại Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiêm cứu

Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm thu mẫu: Bè thực nghiệm ĐH Nha Trang – Vũng Ngán – Nha Trang – Khánh Hòa

Địa điểm phân thích mẫu: Phòng thí nghiệm Viện Nuôi trông Thủy sản – ĐH Nha Trang

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier và

Valenciennes, 1828)

Cá chẽm mõm nhọn bố mẹ được thu gom ngoài tự nhiên Đàn cá bố mẹ này được nuôi lưu giữ tại hai ô lồng (đực cái nuôi riêng biệt) tại bè Vũng Ngán – Nha Trang – Khánh Hòa Cá bố mẹ được chăm sóc và quản lý hàng ngày nhằm gia tăng độ thành thục Cá đực được cho ăn bằng cá tạp (khẩu phần ăn là 5% khối lượng cơ thể) có

bổ sung vitamin và các khoáng chất Tinh dịch được thu thông qua các thời điểm khác nhau trong mùa vụ sinh sản Tinh dịch thu được cho vào ống eppendorf 1.5ml và giữ các ống này trên đá nhằm phục vụ cho các quan sát cũng như thí nghiệm có liên quan Những mẫu tinh dịch tốt được tiến hành bảo quản lạnh tinh trùng

Trang 33

2.2 Các phương pháp tiến hành

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ nội dung nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp lấy tinh

Hình 2.2 : Sơ đồ đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn thông qua

thời điểm khác nhau trong mùa vụ sinh sản

Cá chẽm mõm nhọn đực thành thục

Thời điểm thu tinh Đầu giữa và cuối mùa vụ sinh sản Tinh dịch sau khi thu được Đánh giá chất lượng tinh trùng Xác định đặc tính

lý học

Xác định đặc tính hóa sinh

Đánh giá chất lượng tinh trùng

Trang 34

Cách thu tinh: tinh trùng cá được thu không thông qua tiêm hormone Để tránh ảnh hưởng của ánh sáng và hạn chế ảnh hưởng của nhiệt độ, tinh nên thu vào sáng sớm, không có ánh sáng chiếu trực tiếp, tinh thu bằng cách vuốt tinh Cần thu tinh đúng thới điểm đã định

Trước khi vuốt tinh thì cá đực được gây mê bằng Methylene glycol monophenylether với nồng độ là 200ppm Sau đó dùng khăn lau sạch xung quanh lỗ sinh dục giúp tránh việc lẫn tạp chất nhằm thu được mẫu chất lượng cao

Dùng tay vuốt nhẹ bụng cá từ từ cho tinh dịch chảy ra, dùng ống tiêm hút tinh dịch cho vào eppendof tube 1,5ml đã được vô trùng khô Khi hút tinh chú ý không để phân, nước, máu và nước tiểu cá lẫn vào làm ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng Mẫu tinh thu được giữ trên đá lạnh và tiến hành đưa về phòng thí nghiệm phân tích

2.2.3 Đặc tính lý hóa sinh của tinh dịch

Hình 2.3 : Sơ đồ xác định đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá

Sau khi thu thập được tinh dịch cá thì tiến hành xác định một số đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá Cách tiến hành xác định:

Thể tích của tinh dịch được xác định bằng 1,5 ml eppendorf tube

Mật độ của tinh trùng được xác định bằng phương pháp đếm ở buồng đếm hồng cầu Tinh đã được pha loãng 1000 lần trong nước cất Cho 1 giọt dung dịch pha loãng lên buồng đếm hồng cầu, số lượng tinh trùng được đếm theo công thức:

𝐴 =A x 4000 x R x 1000

80

75mm capillary tube

1.5ml Eppendoef

tube

Độ quánh Đặc tính hóa sinh

Ly tâm: 15rpm khoảng 10p Tinh dịch

Trang 35

Trong đó: M: Mật độ tinh trùng trog 1ml tinh dịch (tế bào/µl)

A: Tổng số trinh trùng trong 80 ô đếm R: Hệ số pha loãng tinh dịch

4000: Nghịch đảo thể tích của 1 ô nhỏ 80: Tổng số ô vuông nhỏ trong buồng đếm

Độ quánh được xác định bằng Hawksley micro-hematocrit reader

Số lượng tinh trùng trên một đơn vị thể tích được tính toán bằng thể tích của tinh trùng với mật độ của tinh trùng Để tiến hành xác định pH, áp xuất thẩm thấu và các đặc tính hóa sinh thì tinh dịch cho vào 1,5 eppendorf tube rồi sau đó li tâm (15.000 rpm) khoảng 10 phút Sau khi li tâm thì tiến hành tách phần dịch tương ở phía trên rồi tiến hành xác định pH và áp xuất thẩm thấu pH được xác định bằng máy đo pH Áp suất thẩm thấu được xác định bằng máy đo áp suất thẩm thấu Các đặc tính hóa sinh của tinh trùng được xác định bằng máy Fuji Dri-Chem 3500

2.2.4 Đánh giá hoạt lực của tinh trùng

Na+; K+ :0,5;0,55;0,6;

0,65(M) Mg2+;Ca2+: 0,1;0,15;0,2; 0,25(M)

Đánh giá hoạt lực bằng phần mềm CASA

Phần trăm hoạt lực Vận tốc di chuyển Thời gian hoạt lực

Trang 36

Hoạt lực của tinh trùng được xác định bằng cách pha loãng tinh trùng với nước biển nhân tạo, sau đó quan sát hoạt lực của tinh trùng dưới kinh hiển vi điện tử có kết nối với camera Các quan sát này được ghi lại và tiến hành phân tích các thông số hoạt lực tinh trùng Các thông số hoạt lực tinh trùng bao gồm: Vận tốc của tinh trùng, phần trăm tinh trùng hoạt động và thời gian hoạt động của tinh trùng Các thông số này được phân tích bằng phần mềm CASA (computer aided for sperm analysis)

Trang 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn

Khối lượng, chiều dài của cá và đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm

nhọn Psammoperca waigiensisđược trình bày ở bảng 3.1 với khối lượng trung bình cá

chẽm đực trong mùa vụ sinh sản là 559,5±112,13g và chiều dài của thân cá trong mùa

vụ sinh sản đo được là 26,63±1,02cm không có sự chênh lệch nhiều so với trước mùa

vụ sinh sản và sau mùa vụ sinh sản

Bảng 3.1: Khối lượng, chiều dài của cá và đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm

(Scophthalmus maximus) (1,6ml) [77], cá tráp (Acanthopagrus schlegelii) (1.97ml) [32], cá hồi nâu (Salmo trutta caspius) (3,9ml) [21], cá mú cọp (Epinephelus fuscoguttatus) (28,7ml) [6] nhưng cao hơn cá dìa (Siganus guttatus) [5], cá bò da (Thammaconus modestus) (0,3ml) [59], cá đù vàng (Larimichthys polyactis) (1,1ml)

[60]

Trang 38

Độ quánh của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn trong mùa vụ sinh sản trung bình đạt 86,25±3,19%, cao hơn nhiều so với tinh dịch thu được trước mùa vụ sinh sản là 73±7,68% và cao hơn ít so với tinh dịch thu được sau mùa vụ sinh sản là 85,5±3,59%

Độ quánh của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn là cao hơn so với cá bơn (Platichthys stellatus) (60,2%) [53], ca nóc (Tetraodon pustulatus) (64,8%) [40], cá bơn vỉ (Paralichthys olivaceus) (60,2%) [83], cá hồi nâu (Salmo trutta caspius) (25,7%) [63] nhưng thấp hơn cá mú cọp (Epinephelus fuscoguttatus) (92,3%) [6], cá tráp (Acanthopagrus schlegelii) (97,4%) [44], cá đối mục (Mugil cephalus) (96,7%) [35],

cá dìa (Siganus guttatus) [5].

Mật độ của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn trong mùa vụ sinh sản là 30,46±1,97x10 9 tb/ml, cao hơn trước và sau mùa vụ sinh sản Mật độ tinh trùng cá

chẽm mõm nhọn thuộc loại cao nhất trong số các loài cá biển, cao hơn cá dìa (Siganus

[44], cá bơn vỉ (Paralichthys olivaceus) (16x109 tb/ml), cá đối mục (Mugil cephalus)

(23x109 tb/ml) [40], cá đù vàng (Larimichthys polyactis) (2,5x109 tb/ml) [59]

Tinh trùng hầu hết các loài cá không hoạt lực trong dịch tương, tinh trùng chỉ kích hoạt khi tiếp xúc với nước trong quá trình sinh sản tự nhiên hoặc trong điều kiện sinh sản nhân tạo Các tinh trùng cá chẽm mõm nhọn được kích hoạt ngay lập tức sau khi pha loãng với nước biển nhân tạo và hoạt lực của tinh trùng cũng được duy trì trong một thời gian từ 221 giây đến 243 giây với phần trăm hoạt lực từ 80 đến 95%, trung bình vào đầu mùa vụ sinh sản thì thời gian hoạt lực là 240 ± 25s và phần trăm hoạt lực là 92,3 ± 3,8% Cả thời gian và hoạt lực tinh trùng cao nhất vào đầu mùa vụ sinh sản và giảm dần đến cuối mùa vụ sinh sản Phần trăm và thời gian hoạt lực của cá

chẽm mõm nhọn thấp hơn cá dìa (Siganus guttatus) (362,14±37,8s; 96,29±1,7%) [5] nhưng cao hơn cá hồi (Salmo trutta) (81,47s; 80,37%)

Giá trị pH trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn dao động từ 7,3 – 8,2, pH thấp nhất vào thời điểm chính giữa mùa vụ sinh sản (7,67 ± 0,18), đầu và cuối mùa vụ sinh sản thì giá trị này gần tương đương nhau (7,9 ± 0,23; 7,8 ± 0,25)

Độ mặn trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn dao động từ 23 – 33 ppt, giá trị này thấp nhất vào đầu mùa vụ sinh sản với giá trị trung bình là 24,8 ± 1,68 ppt, cao

Trang 39

dần theo mùa vụ và đạt cao nhất vào cuối mùa vụ với giá trị trung bình là 29,8 ± 1,85 ppt Độ mặn trong dịch tương cá chẽm thấp hơn nhiều so với giá trị độ mặn của nước biển (33ppt)

Bảng 3.2: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn

trong đầu mùa vụ

Thông số Khối lượng Chiều dài Thể tích Độ quánh Mật độ

Theo bảng 3.2, trong đầu mùa vụ có sự tương quan giữa chiều dàì và thể tích,

số lượng tinh trùng lại có sự tương quan với cả chiều dài, thể tích và độ quánh (P<0,05), giữa độ quánh và mật độ có sự tương quan với độ tin cậy lớn P<0,01

Bảng 3.3: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn

trong giữa mùa vụ

Trang 40

độ quánh và số lượng tinh trùng, giữa độ quánh và số lượng tinh trùng có sự tương quan với độ tin cậy lớn P<0,01

Bảng 3.4: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn

trong cuối mùa vụ

Thông số Khối lượng Chiều dài Thể tích Độ quánh Mật độ

Bảng 3.5: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn

trong mùa vụ sinh sản

Các thông số Khối lượng Chiều dài Thể tích Độ quánh Mật độ

Ngày đăng: 13/09/2016, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Alavi SMH, Rodina DMG, Policar T, Kozak P, Psenicka M, Linhart O. Semen of Perca fluviatilis L.: Sperm volume and density, seminal plasma indices and effects of dilution ratio , ions and osmolality on sperm motility. Theriogenology.2007;68(2):276-283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Perca fluviatilis
28. Alavi SMH, Rodina M, Hatef A, Stejskal V, Policar T, Hamackova J, et al. Sperm motility and monthly variations of semen characteristics in Perca fluviatilis (Teleostei: Percidae). Czech J Anim Sci. 2010;174 - 182(55) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Perca fluviatilis
29. Aral F, Sahinoz E, Dogu Z. A study on the Milt Quality of Oncorhynchus mykiss (Walbaum, 1972) and Carasobarbus luteus (Heckel, 1843) in Ataturk Dam Lake, Southeastern Turkey. Turkish Journal of Fisheries and Aquatic Siences. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oncorhynchus mykiss" (Walbaum, 1972) and "Carasobarbus luteus
30. Babiak I, Ottesen O, Rudolfsen G, Johnsen S. Quantitative characteristics of Atlantic halibut, Hippoglossus hippoglossus L., semen throughout the reproductive season. Theriogenology. 2006;65:1587 - 1604 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hippoglossus hippoglossus
38. Cabrita E, Soares F, DInis MT. Characterization of senegalese sole, Solea senegalensis, male broodstock in terms of sperm production and quality. Aquaculture.2006;261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Solea senegalensis
40. Chao NH, Chao WC, Liu KC, Liao IC. The biological properties of black porgy (Acanthopagrus schlegeli) sperm and its cryopreservation. Proc Natl Sci Counc Repub China. 1999;10:9-145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acanthopagrus schlegeli
42. Christ S, Toth GP, McCarthy HW, Torsella JA, Smith MK. Monthly variation in sperm motility in common carp (Cyprinus carpio), assessed using computer - assisted sperm analysis (CASA). Journal of Fish Biology. 1996;48:1210 - 1222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cyprinus carpio
45. Erin WF, Ian A, Butts E, Mariola S, Ciereszko A, Trevor EP. Reproductive investment patterns, sperm characteristics, and seminal plasma physiology in alternative reprodutive tactics of Chinook salmon (Oncorhynchus tshawytscha).Biological Journal of the Linnean Society. 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oncorhynchus tshawytscha
47. Flannery EW, Butts IAE, Siowinska M, Ciereszko I, Pitcher T. reproductive investment patterns, sperm characteristics, and seminal plasma physiology in alternative reproductive tactics of Chinook salmon (Oncorhynchus tshawytscha).Biological Journal of the Linnean Society. 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oncorhynchus tshawytscha
49. Golpour AMI, Hossein SA. Changes in Ionic Ratios of Seminal Plasma and its Effect on Sperm characteristics in Caspian Roach (Rutilus rutilus caspicus) During Spawning Migration. Fisheries and Aquaculture Journal. 2011;17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rutilus rutilus caspicus
50. Gwo JC. Cryopreservation of black grouper Epinephelus malabaricus spermatozoa. Theriogenology. 1993;39:1331-1342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus malabaricus
53. Hatef AHN, Amiri BM, Alavi SMH, Karami M. Sperm density, seminal plasma composition and their physiological relationship in the endangered Caspian brown trout (Salmo trutta caspius). aquaculture Research. 2007;38:1175-1181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salmo trutta caspius
55. Koldras M, Loir M, Maisse G, Le Gae F. Study of the composition of seminal fluid and of sperm motility along the genital tract, during a spawning season in the rainbow trout (Oncorhynchus mykiss). Aquatic Living Resources. 1996;9:337 - 345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oncorhynchus mykiss
56. Lahnsteiner F, Patzner RA. Sperm motility of the marine teleosts Boops boops, Diplodus sargus, Mullus barbatus and Trachurus mediterraneus. Journal of Fish Biology. 1998;52(4):726-742 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diplodus sargus, Mullus barbatus" and "Trachurus mediterraneus
57. Lahnsteiner F, Weismann T, Patzner R. Sperm motility and seminal fluid composition in the burbot, Lota lota. Blackwell Wissenschfts - VerlaE, Berli.1997:113-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lota lota
58. Lanes CFC, Okamoto MH, Bianchini A, Marins LF, Sampaio LA. Sperm quality of Brazilian flounder Paralichthys orbignyanus throughout the reproductive season. Aquaculture Research. 2010:1 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paralichthys orbignyanus
59. Le MH. Milt properties and sperm cryopreservation in filefish Thamnaconus modestus. Msc thesis Pukyong National University Korea. 2008:34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thamnaconus modestus
60. Le MH, Lim HK, Min BH, Lee JU, Chang YJ. Semen properties and spermatozoan structure of yellow croaker Larimichthys polyactis. Israeli Journal of Aquaculture. 2011;63:8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larimichthys polyactis
61. Le MH, Lim HK, Min BH, Park MS, Son MH, Lee JU, et al. Effects of varying dilutions, pH, temperature and cation on sperm motility in fish Larimichthys polyactis.Journal of Environmental Biology. 2011d;32:271 - 276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larimichthys polyactis
62. Linhart O, Rodina M, Cosson J. Cryopreservation of sperm in common carp Cyprinus carpio: Sperm motility and hatching success of embryos. Cryobiology.2000;41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cyprinus carpio

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 1.1 Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Trang 17)
Hình 1.2: Vùng phân bố cá chẽm mõm nhọn trên thế giới ( Nguồn: - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 1.2 Vùng phân bố cá chẽm mõm nhọn trên thế giới ( Nguồn: (Trang 18)
Hình 1.3 : Cấu tạo tinh trùng [54] - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 1.3 Cấu tạo tinh trùng [54] (Trang 20)
Hình 1.4: Quá trình tạo tinh trùng cá [37] - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 1.4 Quá trình tạo tinh trùng cá [37] (Trang 22)
Hình 2.1: Sơ đồ nội dung nghiên cứu - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu (Trang 33)
Hình 2.3 : Sơ đồ xác định đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 2.3 Sơ đồ xác định đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá (Trang 34)
Hình 2.4 : Sơ đồ đánh giá hoạt lực tinh trùng cá - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 2.4 Sơ đồ đánh giá hoạt lực tinh trùng cá (Trang 35)
Bảng 3.4: Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Bảng 3.4 Tương quan giữa các đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn (Trang 40)
Hình 3.1 : Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng và mùa vụ lên vận tốc, thời gian và - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng và mùa vụ lên vận tốc, thời gian và (Trang 46)
Hình 3.3 : Ảnh hưởng của pH và mùa vụ lên thời gia, vận tốc và phần trăm hoạt - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3.3 Ảnh hưởng của pH và mùa vụ lên thời gia, vận tốc và phần trăm hoạt (Trang 51)
Hình 3.4 : Ảnh hưởng của nhiệt độ và mùa vụ lên thời gian và phần trăm hoạt lực - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mùa vụ lên thời gian và phần trăm hoạt lực (Trang 53)
Hình 3.5 : Ảnh hưởng của nồng độ ion Na +  và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3.5 Ảnh hưởng của nồng độ ion Na + và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và (Trang 55)
Hình 3.6: Ảnh hưởng của nồng độ ion K +  và mùa vụ lên thời gian và phần trăm - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3.6 Ảnh hưởng của nồng độ ion K + và mùa vụ lên thời gian và phần trăm (Trang 57)
Hình 3. 7: Ảnh hưởng của nồng độ ion Ca 2+  và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3. 7: Ảnh hưởng của nồng độ ion Ca 2+ và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và (Trang 59)
Hình 3.8 : Ảnh hưởng của nồng độ ion Mg 2+  và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và - Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigiensis (cuvier  valencienes, 1828) tại thời điểm thu mẫu khác nhau trong mùa vụ sinh sản
Hình 3.8 Ảnh hưởng của nồng độ ion Mg 2+ và mùa vụ lên thời gian, vận tốc và (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm