1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự

62 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ------ NGUYỄN ĐỨC TUẤN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, ĐỘ MẶN ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

NGUYỄN ĐỨC TUẤN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, ĐỘ MẶN

ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN TƯƠI SỐNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG TỪ GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN

HƯƠNG CỦA CÁ SONG LAI (♂ cá song vua Epinephelus

lanceolatus và ♀ cá song hổ Epinephelus fuscoguttatus)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

NGUYỄN ĐỨC TUẤN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, ĐỘ MẶN

ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN TƯƠI SỐNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG TỪ GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN

HƯƠNG CỦA CÁ SONG LAI (♂ cá song vua Epinephelus

lanceolatus và ♀ cá song hổ Epinephelus fuscoguttatus)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nghiệt

độ, độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên cá hương của cá song lai giữa ♂ cá song vua Epinephelus lanceolatus và ♀ cá song hổ Epinephelus fuscoguttatu” Là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố

trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Ngày 01 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền Bắc đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của

TS PHẠM QUỐC HÙNG đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả đồng nghiệp

đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày 01 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học của cá song 3

2.2 Nghiên cứu và sản xuất cá song lai trên thế giới và Việt Nam 6

2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cá song lai trên thế giới 7

CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Nội dung 16

3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 16

3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18

3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của phôi cá song lai 22

4.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến sự phát triển của phôi, tỷ lệ nở và tỷ lệ ấu trùng dị hình của cá song lai 24

4.3 Ảnh hưởng của thức ăn tươi sống lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá song lai giai đoạn từ 0 ngày tuổi đến khi biến thái hoàn toàn 26

Trang 6

4.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn tươi sống lên tỷ lệ sống của ấu trùng cá song lai giai

đoạn 0 - 12 ngày tuổi 26

4.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn tươi sống lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá song lai giai đoạn từ 12 ngày tuổi đến khi biến thái hoàn toàn (56 ngày tuổi) 27

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30

5.1 Kết luận 30

5.2 Đề xuất ý kiến 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thức ăn dùng trong thí nghiệm 1 20 Bảng 4.1 Thời gian phát triển phôi của cá song lai ở các nhiệt độ ấp khác nhau 22 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian nở, tổng thời gian nở, tỷ lệ nở và tỷ lệ

ấu trùng dị hình của cá song lai 23 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian nở, tổng thời gian nở, tỷ lệ nở, tỷ lệ ấu

trùng dị hình của cá song lai 25 Bảng 4.4: Tỷ lệ sống (%) của cá song lai giai đoạn 0 - 12 ngày tuổi khi được cho ăn các

loại thức ăn khác nhau 27 Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá song lai ở giai đoạn ương từ cá 12 ngày

lên hương với các nghiệm thức thức ăn khác nhau 28

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18 Hình 3.2: Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn 19

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu ảnh hưởng của nghiệt độ, độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng từ giai đoạn cá bột lên cá

hương của cá song lai giữa ♂ cá song vua (Epinephelus lanceolatus) và ♀ cá song hổ (Epinephelus fuscogutatus), nhằm xác định được ngưỡng nhiệt độ, độ mặn thích hợp

cho quá trình phát triển phôi và tìm ra loại thức ăn tươi sống thích hợp cung cấp cho ấu

trùng cá song lai giai đoạn từ bột lên hương Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ, độ

mặn lên quá trình phát triển phôi được tiến hành ở các mức nhiệt 20 oC, 24 oC, 28 oC,

35 ‰ Trứng cá song lai ở cả hai thí nghiệm được ấp trong bình thủy tinh có dung tích

1 lít với mật độ 1000 trứng/lít, mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm đồng nhất giữa các nghiệm thức Thời gian phát triển phôi được tính từ giai đoạn 4 tế bào đến khi 50 % ấu trùng hoàn tất chuyển giai đoạn và nở Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn tươi sống ở giai đoạn ương từ 0 - 12 ngày tuổi, ấu trùng cá song được thử

nghiệm với 4 nghiệm thức thức ăn khác nhau: (1) luân trùng Brachionus

rotundifrormis, (2) copepoda nauplius Paracalanus sp + luân trùng Brachionus plicatilis, (3) ấu trùng trochophore hầu Thái Bình Dương Crassostrea gigas + luân

trùng Brachionus plicatilis, (4) luân trùng Brachionus plicatilis + copepoda naupli

Paracalanus sp+ ấu trùng trochophore hàu Thái Bình Dương Crassostrea gigas và 1

nghiệm thức đối chứng không cho ăn Cá bột cá song lai (12 ngày tuổi) được thử nghiệm ương bằng ba loại thức ăn khác nhau (Artemia nauplii -Vĩnh Châu, Artemia

nauplii – Inve, và copepoda nauplius Paracalanus sp + copepoda Paracalanus sp

trưởng thành) trong thí nghiệm 2 Kết quả nghiên cứu về nhiệt độ và độ mặn của nước

trong quá trình ấp có ảnh hưởng tới quá trình phát triển phôi của cá song lai Nhiệt độ

20 oC và 36 oC và độ mặn thấp (10 – 20 ‰) không phù hợp cho sự phát triển phôi của

cá song lai Ấp trứng cá song lai ở nhiệt độ 28 oC cho tỷ lệ nở cao nhất (91 ± 2,0 %) và

tỷ lệ dị hình của ấu trùng thấp nhất (4,4 ± 1,1 %) (P <0,05) Trứng cá song lại có tỷ lệ

nở cao nhất và tỷ lệ dị hình của ấu trùng thấp nhất khi ấp trứng ở độ mặn 30 ‰, lần lượt là 90,3 ± 2,1 % và 2,9 ± 0,5 % (P<0,05) Kết quả nghiên cứu về thức ăn tươi sống

kết hợp giữa copepoda nauplius Paracalanus sp và luân trùng Brachionus plicatilis

cho tỷ lệ sống của ấu trùng cá song lai cao nhất ở giai đoạn ương đến 12 ngày tuổi (8,47 ± 0,91%) (p<0,05) Ở giai đoạn ương cá bột 12 ngày tuổi lên cá hương 56 ngày

Trang 10

tuổi, kết hợp copepoda nauplius (Paracalanus sp) và copepoda (Paracalanus sp)

trưởng thành làm thức ăn, cá song lai cho tốc độ tăng trưởng đạt 35,9 ± 1,1 mm và tỷ

lệ sống cao nhất (17,8 ± 1,5 %) so với với Artemia nauplii Vĩnh Châu và Inve

(p<0,05) Như vây, nhiệt độ và độ mặn thích hợp nhất cho việc ấp nở trứng cá song lai

chọn công thức thức ăn kết hợp giữa copepoda nauplius Paracalanus sp và luân trùng Brachionus plicatilis ở giai đoạn ương đến 12 ngày tuổi mặt khác kết hợp copepoda nauplius (Paracalanus sp) và copepoda (Paracalanus sp) trưởng thành làm thức ăn ở giai đoạn ương cá 12 ngày tuổi lên cá hương Qua các kết quả nghiên cứu đạt được

chúng ta nên thử nghiệm thêm các công thức thức ăn khác hoặc đan xen cung cấp nhiều loại thức ăn tươi sống với mật độ thích hợp hoặc kết hợp với thức ăn công nghiệp để tăng tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng cá song lai ở giai đoạn từ

cá bột lên cá hương

Từ khóa: Cá song lai, Thời gian, phát triển phôi, sinh trưởng, thức ăn tươi

sống, tỷ lệ sống

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường cá song- cá rạn san hô tươi sống đã và đang hình thành ở khu vực Đông Nam châu Á Trong các loài cá song đang được nuôi hiện nay, cá song vua

(Epinephelus lanceolatus) được công nhận là loài có tiềm năng lớn cho nuôi trồng

thủy sản do tốc độ sinh trưởng của chúng và cấu trúc quần đàn cá song vua trong tự nhiên sẽ không cho phép duy trì một nghề cá dựa hoàn toàn vào tự nhiên Có rất ít loài

có tốc độ sinh trưởng nhanh như cá song vua do chúng có thể đạt 15 kg trong vòng 3 năm nuôi với FCR có thể dưới 1.5 khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp.Tuy nhiên việc phát triển nuôi cá song nói chung và cá song vua nói riêng hiện vẫn gặp nhiều khó khăn do những thất bại trong quá trình sản xuất giống cá song và tỉ lệ sống của ấu

trùng thấp (Glamuzina et al., 2001; Glamuzina et al., 1999; Kiriyakit et al., 2011) Do

đó, lai giữa hai loài cá song khác nhau để tạo ra con lai khỏe mạnh, có tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường đang là hướng đi hiện nay trong sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm các loài cá song

Có rất nhiều con lai đã được tạo ra từ sự thành công của các phép lai như cá song

sẫm màu E marginatus x cá song trắng E aeneus (Glamuzina et al., 1999); cá song hổ

E fuscogutatus x cá song ngụy trang E polyphekadion (James et al., 1999); cá song sọc

vàng E costae x cá song sẫm màu E marginatus (Glamuzina et al., 2001); cá song da báo P leopardus x cá song chấm P maculatus (Frisch và Hobbs, 2007); cá song chấm nâu E coioides x cá song vua E lanceolatus (Koh et al., 2010); hay nghiên cứu gần đây nhất của (Kiriyakit et al., 2011) đã lai tạo thành công cá song chấm nâu E coioides x cá song vua E lanceolatus khi sử dụng tinh trùng đông lạnh Mặc dù đã có rất nhiều

nghiên cứu trong sinh sản cá song lai nhưng số lượng cá song lai được sản xuất thấp do

tỷ lệ sống của ấu trùng cá song lai trong sản xuất nhân tạo không cao Sản xuất giống cá song lai gặp nhiều khó khăn do nuôi vỗ và kích thích sinh sản chưa thành công, tỷ lệ nở

của trứng và chất lượng của ấu trùng còn thấp (Glamuzina et al., 2001; Glamuzina et al., 1999; Kiriyakit et al., 2011; Tseng và Poon, 1983)

Hiện nay, Việt Nam đã làm chủ được nhiều công nghệ sản xuất giống cá biển

như cá giò (R canadum); cá song chấm nâu (Epinephelus coioides); cá song hổ

(Epinephelus fuscoguttatus), cá song chuột (Cromileptes altivelis) (Đề tài

Trang 12

KC06.04/06-10: Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số

loài cá biển có giá trị kinh tế cao) Tuy nhiên, việc sản xuất cá song lai hiện nay đang ở

giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm Cuối năm 2011, Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1) đã nghiên cứu thăm dò sản

xuất giống cá song lai (♂ Epinephelus lanceolatus x ♀ Epinephelus fuscoguttatus) trên

cơ sở đàn cá song hổ và song vua hiện đang nuôi giữ tại Trung tâm Kết quả ban đầu cho thấy những tín hiệu khả quan cho việc xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống đối tượng nuôi mới này Các chỉ tiêu bước đầu đạt: tỷ lệ thụ tinh đạt 45 %, tỷ lệ

nở 30 %, tuy nhiên tỷ lệ sống thành cá giống còn thấp và mới đạt 0,6 - 0,9 %

Muốn sản xuất giống cá song lai thành công thì biết được quá trình phát triển của cá từ những giai đoạn đầu tiên như phát triển phôi, ấu trùng hay cá bột là điều rất quan trọng Bên cạnh đó, việc tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, các loại thức ăn hay nhu cầu dinh dưỡng của cá trong các giai đoạn này đều có thể dẫn đến sự cải tiến trong kỹ thuật sản xuất giống, tăng chất lượng cũng như số lượng con giống được tạo ra Để nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cá song lai, giảm tỷ lệ dị hình trong quá trình phát triển phôi và tìm ra nguồn thức ăn tươi sống thích hợp cung cấp cho ấu trùng

cá song lai (♂ cá song vua E lanceolatus và ♀ cá song hổ E fuscoguttatus ) từ giai

đoạn ấu trùng mới nở (bắt đầu ăn thức ăn ngoài) lên cá hương (56 ngày tuổi); Chúng

tôi đã tiến hành nghiên cứu: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn đến quá

trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên cá hương của cá song lai giữa ♂ cá song vua Epinephelus lanceolatus và ♀ cá song hổ Epinephelus fuscogutatus”

1.2 Mục tiêu của đề tài

‒ Nâng cao tỷ lệ nở và chất lượng ấu trùng tốt hơn

‒ Tăng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

‒ Góp phần nâng cao tỷ lệ sống, chất lượng và số lượng cá song lai giống trong sinh sản nhân tạo

‒ Tạo ra một giống cá mới phù hợp với nuôi trồng thủy sản lợ mặn ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá song

Cá song hay còn gọi là cá mú là cá nhiệt đới thuộc phân họ Epinephelinae có phân bố rộng rãi ở Đông Đại Tây Dương và Địa Trung Hải Cá song được nuôi nhiều

ở các nước Đông Nam á như Indonesia, Malaysia, Philippines, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, phía đông nam Trung Quốc và Việt Nam Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng 30 loại cá song, trong đó 8 loài có giá trị kinh tế cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

như cá song vua E lanceolatus, cá song hổ E fuscogutatus, cá song vạch E brunneus,

cá song chấm tổ ong E merra, cá song chấm đỏ E akaara, cá song cọp E megachir,

cá song sọc vàng E costae, cá song mỡ E tauvina

Loài Epinephelus akaara (Temminck & Schlegel, 1842)

Epinephelus brunneus (Bloch, 1793) Epinephelus costae (Steindachner, 1878) Epinephelus fuscoguttatus (Forsskål, 1775) Epinephelus lanceolatus (Bloch, 1790) Epinephelus merra (Bloch, 1793) Epinephelus megachir (Richardson, 1846) Epinephelus tauvina (Forsskål, 1775)

………

Trang 14

Đặc điểm hình thái

Cá song là cá rạn san hô, có nhiều hình dạng, màu sắc và hoa văn cơ thể khác nhau Chúng có miệng khá lớn và hàm răng sắc nhọn Miệng và mang của cá song được cấu tạo như là một hệ thống hút để nuốt con mồi Kích thước của các loài cá song khác nhau thường khác nhau, chúng có thể lên đến hàng trăm ki lo gram như cá song vua

Đặc điểm dinh dưỡng

Khi mới nở, ấu trùng cá song dinh dưỡng bằng noãn hoàng Khi hết noãn hoàng

cá sử dụng thức ăn bên ngoài như ấu trùng các loài giáp xác, nhuyễn thể, luân trùng… phù hợp với kích cỡ của miệng cá

Sau giai đoạn biến thái, cá có thể sử dụng thức ăn tổng hợp hoặc tự chế hoặc thức ăn tươi sống Thức ăn trong giai đoạn này phải lơn hơn 45 % protein Khi lớn lên,

cá song thường ăn các loại cá con, tôm, mực… Cá thích ăn mồi sống, không ăn mồi chết và thức ăn chìm ở đáy

Nhìn chung, cá song thuộc nhóm cá dữ, thức ăn thiên về động vật, có tập tính rình bắt mồi ở nơi yên tĩnh Cá song có tính tranh giành thức ăn dữ dội Khi thiếu thức

ăn, chúng có thể ăn thịt lẫn nhau Trong môi trường nuôi nhốt, cá thường được cho ăn thức ăn tự chế biến từ các nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương như: cá tạp, cua, ốc, các phụ phế phẩm…

Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ tăng trưởng của cá song lai khác nhau tùy thuộc vào từng loài Cá song chuột có tốc độ sinh trưởng chậm, phải cần đến 2 năm cá mới đạt kích cơ thương phẩm (Lê Xân, 2006) Tuy nhiên, cá song vua lại là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh, chúng

có thể đạt 15 kg trong vòng 3 năm nuôi

Đặc điểm sinh sản

Cá song thành thục lần đầu khi đạt khoảng 3 năm tuổi Mùa vụ sinh sản của cá song tùy thuộc vào từng vùng địa lý, cá thường đẻ trứng vào thời kỳ ấm áp Ở phía Bắc nước ta, cá song sinh sản vào tháng 4 - 7; ở miền Trung và miền Nam mùa sinh sản rơi vào tháng 12 đến tháng 3 năm sau Hệ số thành thục và sức sinh sản của cá song tùy theo loài

Trang 15

Cá song có tập tính chuyển đổi giới tính, cá còn nhỏ dưới 50 cm đều là cá cái, khi đạt chiều dài 70 cm trở lên thì chuyển thành cá đực

Cá song là loài có sức sinh sản tương đối lớn Một con cá song chấm đỏ E

akaara có thể đẻ thành công từ 5 - 7 lần từ tháng 7 đến tháng 10 ở Philipin Nói chung,

cá song có thể sinh sản từ 200.000 – 500.000 trứng tùy thuộc tuổi và tùy từng loài

Môi trường sống và tập tính sinh thái

Cá song thích sống ở các hốc đá, vùng ven bờ quanh các đảo có đá san hô, nơi

có độ sâu từ 10-30m Cá thích hợp ở nhiệt độ từ 22 – 28 oC, ở nhiệt độ 15 oC cá hầu như không hoạt động và bỏ ăn

Cá song vua Epinephelus lanceolatus

Cá song vua E lanceolatus có tên tiếng Anh là Giant Grouper hoặc King Grouper

Cá phân bố ở vùng biển Ấn Độ-Thái Bình Dương từ Biển Đỏ đến Nam Châu Phi đến Đông Hawaii và Đảo Pitcairn, từ vùng biển Nhật Bản đến Đài Loan, Philippines, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Australia (Heemstra và Randall, 1993) Chúng sống ở các địa hình khác nhau từ vùng nước nông có nhiều rạn đá san hô, quanh các đảo tới vùng biển

sâu xa bờ (Radall & Heemstra, 1991; Pogonoski et al, 2002) Tại Việt Nam, cá song vua

phân bố ở vùng biển Quảng Ninh-Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, vùng biển Cà Kiên Giang Đây là loài sống ẩn nấp trong các rạn đá san hô, hang hốc hoặc những nơi có các xác tàu đắm để rình mồi Tuy nhiên cũng bắt gặp chúng ở các vùng cửa sông, hoặc ở ngoài khơi Khi còn nhỏ chúng thường ăn giáp xác loại nhỏ khi trưởng thành thức ăn đa dạng hơn như: cá, tôm, cua, ghẹ

Mau-Cá song vua là loài có kích thước lớn lớn nhất rạn san hô (cá lớn nhất được tìm thấy có kích thước 260 cm nặng 288 kg) Cá thường ẩn nấp ở các rạn đá san hô, hang hốc nằm chờ con mồi tới gần rồi đớp gọn Mồi của chúng đa phần là những loài động vật sống đáy như tôm, cua, cá, mực Cá song vua săn mồi suốt ngày, mạnh nhất vào lúc chạng vạng và rạng đông (Đào Mạnh Sơn, Đỗ Văn Nam, (1994)

Cá song vua là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh Tăng trưởng của cá song vua có thể đạt về khối lượng là 1.6 - 1.9 g/ngày và về chiều dài là 0.035 - 0.058 cm/ngày Cá song vua cũng là đối tượng nuôi phổ biến đối với các chủ trang trại do có tốc độ sinh

trưởng nhanh với 3 kg/1 năm đầu (Sadovy et al., 2003)

Trang 16

Cá song vua là loài cá thành thục muộn hoặc kích cỡ khi thành thục lớn Tuyến sinh dục ở cá song vua phát triển khi khối lượng cá > 3 kg và thành thục khi chúng đạt khối lượng 17-20 kg và kích thước 100-110 cm đối với cá cái, 25-30 kg và kích thước 110-120 cm đối với cá đực

Cá song hổ Epinephelus fuscoguttatus

Cá song hổ E fuscoguttatus còn được gọi là cá song vằn hay cá mú cọp, có tên

tiếng Anh là Tiger Grouper Cá song hổ phân bố rộng ở vùng biển Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Chúng xuất hiện ở hầu khắp các đảo thuộc Ấn Độ Dương và phía Tây trung tâm Thái Bình Dương, dọc theo thềm lục địa phía Đông Phi đến Môzămbich Từ Madagasca đến Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêsia, vùng biển nhiệt đới Australia, Nhật Bản, Philippin, New Guinea và New Caledonia Chúng sống chủ yếu ở các vùng biển ấm và biển mặn, có rạn đá san hô hay nền đáy có đá tạo thành hang hốc,

độ sâu từ 1 - 60m và có độ trong cao Cá song hổ thích ăn mồi sống, thức ăn của chúng

là các loài giáp xác, cá và một số loài nhuyễn thể (FAO, 1993) Ở Việt Nam, cá song

hổ tập trung ở vùng biển miền Trung và Nam Bộ, chủ yếu là vùng biển Phú Quý - Bình Thuận (Đào Mạnh Sơn, Đỗ Văn Nam, (1994)

Cá song hổ có chiều dài từ 60 – 70 cm, lớn nhất là 120 cm

Cá song hổ thường sinh sản vào tháng 3 - 5 hàng năm Trứng thụ tinh nở ra ấu trùng sau 19 – 21 h ấp Các nghiên cứu mới đây cho thấy cá song hổ có sức sinh sản thấp Cá bố

mẹ sau 4 tuổi mới có thể thành thục và tham gia sinh sản và lượng trứng/ lần đẻ dao động

từ 200.000 - 500.000 trứng tùy kích thước cá cái (Mike Rimmer, 2000)

Cá Song hổ có có tập tính chuyển đổi giới tính, khi cá cái khi trưởng và chuyển thành cá đực khi kích thước của chúng lớn hơn (70 cm)

Indonexia và Đài Loan là hai nước đầu tiên cho sinh sản thành công cá song hổ từ năm 1999, tiếp đó là Malaixia, Thái Lan thành công năm 2002 với tỷ lệ sống khoảng 2 %

Ở Việt Nam, cá song hổ sinh sản nhân tạo thành công năm 2008 (Lê Xân, 2010)

2.2 Nghiên cứu và sản xuất cá song lai trên thế giới và Việt Nam

Hiện nay, lai tạo giữa các loài hoặc các nhóm có sự tương đồng hoặc khác biệt

về mặt di truyền để tạo ra con lai có ưu thế lai là những tính trạng vượt trội đang được

áp dụng hiệu quả Trong nuôi trồng thủy sản, lai tạo giữa hai loài khác nhau từ lâu đã

Trang 17

được sử dụng để cải chất lượng con giống (Bartley et al., 2000; Hulata, 1995) Cá song

(Epinephelus spp) là đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao và đang được nuôi

nhiều ở khu vực Châu Á Tuy nhiên việc phát triển nuôi cá song hiện vẫn gặp khó khăn do con giống không đủ cung cấp cho thị trường, giá cao và chất lượng không đảm bảo Lai giữa hai loài cá song khác nhau để tạo ra con lai khỏe mạnh,có tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường đang là

hướng đi hiện nay trong sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm cá song

2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cá song lai trên thế giới

Năm 1999, James và ctv thực hiện thử nghiệm lai giống giữa cá song hổ

(Ephinephelus fuscoguttatus) và cá song ngụy trang (Epinephelus polyphekadion) chỉ

ra rằng kích cỡ mới nở của ấu trùng con lai dao động 1,67 - 1,81 mm nhỏ hơn ấu trùng

mới nở của (Epinephelus fuscoguttatus) (1,83 – 1,93 mm) và lớn hơn ấu trùng mới nở của (Epinephelus polyphekadion) (1,55-1,71 mm) Ấu trùng con lai và song hổ sinh trưởng nhanh hơn so với (Epinephelus polyphekadion) sau 25 ngày ương Vào ngày

thứ 35, kích cỡ trung bình của con lai (21,5 ± 0,629 mm) cao hơn đáng kể so với hai loài bố mẹ cá song hổ 18,80 ± 1,578 mm và cá song ngụy trang 15,8 ± 1,166 mm Cá song lai đạt kích cỡ 3 cm mất 40 ngày, trong khi cá song hổ mất 45 ngày và cá song ngụy trang mất 50 ngày Tốc độ sinh trưởng và biến thái nhanh là ưu điểm lớn đối với việc sản xuất giống thương mại, nó giúp tiết kiệm không gian, thời gian và tận dụng nguồn nhân công

Năm 2000, Glamuzina và ctv đã tiến hành việc thụ tinh giữa trứng của cá song

sọc vàng (Epinephelus costae) với tinh của cá song sẫm màu (Epinephelus

marginatus) Trứng thu được từ con cái và tinh của con đực được trộn với nhau trong

khoảng 3 phút sau đó thêm 1 lít nước biển khử trùng vào Sau 15 phút, hỗn hợp trứng

và tinh trùng được rửa qua nước biển có độ mặn 38 ‰ và thêm từ từ 2 lít nước biển vào để phân biệt trứng nổi và chìm Trứng chìm là trứng không thụ tinh sẽ được loại

bỏ ra khỏi bể ấp, các trứng nổi là trứng tốt tiếp tục được ấp cho tới khi nở

Năm 2008, Koh và cs nghiên cứu đặc điểm sinh học của ấu trùng con lai giữa

cá song chấm nâu (Epinephelus coioides) và cá song hổ (Epinephelus fuscoguttatus),

sự phát triển trứng và ấu trùng được quan sát trong điều kiện nhân tạo Trứng mới rụng

từ con cái (Epinephelus coioides) 7,5 kg/con có đường kính là 0,81 ± 0,02 mm và nặng

Trang 18

3.505 trứng/g Sau khi thụ tinh với tinh nhận được từ con đực cá song hổ có đường kính 0,83 ± 0,02 mm Trứng nở vào 17h30 phút đến 19h00 sau khi thụ tinh tại 29 °C

và 30 ‰ Tỷ lệ thụ tinh và nở lần lượt là 93,9 % và 50,3 % Ấu trùng mới nở có chiều dài toàn thân 1,52 ± 0,01 mm và chuyển động trên bề mặt nước Ấu trùng bắt đầu ăn thức ăn ngoài vào ngày thứ 3 sau khi nở và cơ quan tiêu hóa được hình thành và mắt

có sắc tố Ấu trùng cho thấy loại sắc tố điển hình của giống loài cá song và sự khác nhau của vây lưng và gai lưng được quan sát trước tiên tới ngày thứ 10 sau khi nở và sau đó kéo dài ra Ấu trùng bắt đầu chuyển môi trường sống từ trôi nổi sang sống đáy vào ngày thứ 40 Tổng số 750 cá hương được sản xuất từ 21.500 ấu trùng mới nở với chiều dài TL 22,8 ± 3,6 mm

Tiếp đó, Anocha Kiriyakit và ctv (2011) trong nghiên cứu lai giữa cá đực cá

song vua (Epinephelus lanceolatus) và cá cái cá song chấm nâu (Epinephelus coioides)

đã thực hiện thành công việc thụ tinh và ấp nở trứng Sau khi rụng trứng (khoảng

10-12 h sau khi tiêm liều thứ hai), trứng được thu, mẫu trứng thu sẽ được đổ vào trong đĩa petri có chứa 3 chất bổ sung và 2 chất chống đông lạnh Tinh trùng tươi (10 µL) hay tinh đông lạnh (200 µL) được nhỏ vào trứng (sấp xỉ 9,0 x 105 tinh trùng/trứng) và trộn đều nhẹ nhàng trong 3 phút, 10 ml nước biển sạch (30 ‰) được chộn đều trong đĩa petri để cho tinh trùng và trứng hoạt động Sau 15 phút, trứng được rửa và chuyển tới bình có thể tích 1 L có chứa 0,8 L nước Đá khí có đường kính 1 cm được đặt trong bình 1 L để chộn đều trứng Sau 2 giờ ấp, tắt đá khí để loại bỏ trứng hỏng là trứng chìm, trứng nổi được lấy mẫu và chuyển tới bình 1 L khác với thể tích 0,5 L nước, đá khí được đặt vào vị trí giữa của bình Nhiệt độ nước (28 - 29 °C) được đảm bảo bằng việc đặt bình ấp vào trong 1 khay có kích thước (60 x 45 x 30 cm) tại độ sâu 10 cm sử dụng heater nâng nhiệt và trứng được ấp cho tới khi nở

Nghiên cứu sản xuất giống cá song lai giữa tinh của cá song vua (Epinephelus

lanceolatus) và trứng của cá song hổ (Epinephelus fuscoguttatus) sử dụng kỹ thuật thụ

tinh in-vitro được nghiên cứu thành công lần đầu tiên bởi các nhà khoa học tại trường

đại học Sabah Malaysia vào năm 2006 Đây là kết quả của nhiều năm hợp tác nghiên cứu của Viện nghiên cứu biển Borneo, cơ quan phát triển nghề cá của Malaysia (LKIM) và đại học Kinki của Nhật Bản đã cho ra đời giống cá lai có các đặc điểm hình thái là sự kết hợp của cá đực cá song vua và cá cái cá song hổ Con lai có sức đề kháng

Trang 19

cao với bệnh, sinh trưởng nhanh và đây được coi là bước cải tiến to lớn đối với ngành nuôi trồng thủy sản (http://www.ecoisland.com.sg/our-fishes/giant-tiger-hybrid-grouper.html)

Sau đó, Indonexia là quốc gia thứ hai thành công trong việc sản xuất giống cá

song lai giữa tinh của cá song vua (Epinephelus lanceolatus) với trứng của cá song hổ

(Epinephelus fuscoguttatus) nhưng các kết quả thu được còn rất ít như: con lai có đặc

điểm hình thái giống cá bố mẹ, khả năng chống chịu bệnh và tốc độ sinh trưởng được tăng lên (http://terataisepuluh.blogspot.com/2013/02/hybrid-grouper-fish.html) Để nâng cao hiệu quả của việc sản xuất giống cá lai thì nuôi vỗ là một trong những bước

đi đóng vai trò quan trọng cho việc thành công trong sản xuất giống cá lai bởi vì trứng

và tinh chịu ảnh hưởng trực tiếp từ giai đoạn nuôi vỗ

Nghiên cứu và sản xuất cá song lai trong nước

Ở Việt Nam, công nghệ sản xuất giống cá song lai vẫn chưa có nghiên cứu bài bản và cụ thể Cuối năm 2011, Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1) đã nghiên cứu thăm dò sản xuất giống cá song lai

Epinephelus hybrid (♂ Epinephelus lanceolatus x ♀ Epinephelus fuscoguttatus) trên

cơ sở đàn cá song hổ và song vua hiện đang nuôi giữ tại Trung tâm Kết quả ban đầu cho thấy những tín hiệu khả quan cho việc xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống đối tượng nuôi mới này Các chỉ tiêu bước đầu đạt: Vào mùa sinh sản của cá song hổ, tỷ lệ cá cái thành thục đạt >60 %, trong khi đó tỷ lệ thành thục của cá đực song vua chỉ đạt >15 % (thành thục không đồng pha) Các chỉ tiêu khác như tỷ lệ thụ tinh đạt 45 %, tỷ lệ nở 30 %, tuy nhiên tỷ lệ sống thành cá giống còn thấp và mới đạt 0,6 - 0,9 % Sản phẩm cá giống đạt 700 con được chuyển ra bè của Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I để nuôi thử nghiệm Cho đến nay sau 20 tháng nuôi thương phẩm cá đạt khối lượng 2,5 – 3,5 kg/con

Tóm lại, các nghiên cứu về sản xuất giống cá song lai tại Việt Nam còn rất ít,

chủ yếu mang tính chất thăm dò, các chỉ tiêu sinh sản đạt ở mức rất thấp, tiềm năng phát triển nuôi lớn do cá lớn nhanh, ít bệnh, thị trường tiêu thụ tốt

Một số nghiên cứu đặc điểm sinh học, thức ăn của ấu trùng cá song lai

Trang 20

Năm 1999, James và cs thực hiện thử nghiệm lai giống giữa cá song hổ

(Ephinephelus fuscoguttatus) và cá song ngụy trang (Epinephelus polyphekadion) chỉ

ra rằng kích cỡ mới nở của ấu trùng con lai dao động 1,67 - 1,81 mm Kỹ thuật sinh sản nhân tạo đã không ngừng được nghiên cứu và đã có những bước tiến đáng kể trong những thập niên vừa qua, đó là làm chủ các công nghệ sinh sản các loài cá song như:

cá song hổ, cá song chấm nâu, cá song chuột, cá song vua một thành tựu khác mới

được biết đến đó là công nghệ lai giữa các loài cá song điển hình là: Epinephelus

lanceolatus x Epinephelus fuscoguttatus, Epinephelus lanceolatus x Epinephelus coides, Epinephelus costae x E Marginatus (Epinephelus fuscoguttatus) (1,83–1,93

mm) và lớn hơn ấu trùng mới nở của (Epinephelus polyphekadion) (1,55-1,71 mm)

Ấu trùng con lai và song hổ sinh trưởng nhanh hơn so với (Epinephelus

polyphekadion) sau 25 ngày ương Vào ngày thứ 35, kích cỡ trung bình của con lai

(21,5 ± 0,629 mm) cao hơn đáng kể so với hai loài bố mẹ cá song hổ 18,80 ± 1,578

mm và cá song ngụy trang 15,8 ± 1,166 mm Cá song lai đạt kích cỡ 3 cm mất 40 ngày, trong khi cá song hổ mất 45 ngày và cá song ngụy trang mất 50 ngày Tốc độ sinh trưởng và biến thái nhanh là ưu điểm lớn đối với việc sản xuất giống thương mại,

nó giúp tiết kiệm không gian, thời gian và tận dụng nguồn nhân công

Năm 2008, Koh và cs nghiên cứu đặc điểm sinh học của ấu trùng con lai giữa cá

song chấm nâu (Epinephelus coioides) và cá song hổ (Epinephelus fuscoguttatus), sự

phát triển trứng và ấu trùng được quan sát trong điều kiện nhân tạo Trứng mới rụng từ

con cái (Epinephelus coioides) 7,5 kg/con có đường kính là 0,81 ± 0,02 mm và nặng

3.505 trứng/g Sau khi thụ tinh với tinh nhận được từ con đực cá song hổ có đường kính 0,83 ± 0,02 mm Trứng nở vào 17h30 phút đến 19h00 sau khi thụ tinh tại 29 °C

và 30 ‰ Tỷ lệ thụ tinh và nở lần lượt là 93,9 % và 50,3 % Ấu trùng mới nở có chiều dài toàn thân 1,52 ± 0,01 mm và chuyển động trên bề mặt nước Ấu trùng bắt đầu ăn thức ăn ngoài vào ngày thứ 3 sau khi nở và cơ quan tiêu hóa được hình thành và mắt

có sắc tố Ấu trùng cho thấy loại sắc tố điển hình của giống loài cá song và sự khác nhau của vây lưng và gai lưng được quan sát trước tiên tới ngày thứ 10 sau khi nở và sau đó kéo dài ra Ấu trùng bắt đầu chuyển môi trường sống từ trôi nổi sang sống đáy vào ngày thứ 40 Tổng số 750 cá hương được sản xuất từ 21.500 ấu trùng mới nở với chiều dài toàn thân 22,8 ± 3,6 mm

Trang 21

Trong khi đó, trong sản xuất giống cá song lai giữa cá song chấm nâu

(Epinephelus coioides) và cá song vua (Epinephelus lanceolatus), Anocha Kiriyakit và

cs (2011) cho rằng sự biến đổi hình thái của ấu trùng con lai giống với cá song chấm nâu về kích cỡ vào lúc nở hay tăng trưởng sau đó Nghiên cứu cũng chỉ ra sự tương đồng với các nghiên cứu trước đó về lai cá song của Tseng & Poon (1983); James &

cs (1999); Glamuzina & cs (1999), (2001) Điều này giải thích do ấu trùng của giống

cá song (Epinephelus spp.) có sự tương đồng về hình thái (Glamuzina & cs., 1999;

2001), Frisch & Hobbs (2007)

Như vậy, kích cỡ của trứng và ấu trùng của các loài cá song lai khác nhau cũng

có sự khác nhau Trong khi, các nghiên cứu về sinh học ấu trùng của cá song lai giữa

cá song vua (Epinephelus lanceolatus) và cá song hổ (Epinephelus fuscoguttatus) vẫn chưa có nghiên cứu được công bố

Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ măn lên quá trình phát triển phôi và tỷ lệ nở của một số loài cá biển

Trong sản xuất giống thủy sản, các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ mặn, Oxy, ánh sáng, và pH có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình phát triển và biến thái của

ấu trùng như thời gian nở, tỷ lệ nở của trứng, tỷ lệ dị hình của ấu trùng…

Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường quan trọng có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển phôi và tỷ lệ nở của các loài cá biển (Wong and Benzie,

2003; Lin et al., 2006) Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệt độ là yếu tố sinh thái

quan trọng mà tại đó phôi có thể phát triển hay ngừng phát triển Trong nghiên cứu của mình về ảnh hưởng của nhiệt độ lên quá trình phát triển phôi của cá biển, Peck và

Buckley (2008), Rombough (1997), và Ye và đồng tác giả (2011) đã chỉ ra rằng nhiệt

độ có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ trao đổi chất của phôi và ấu trùng các loài cá biển ở các vùng biển ôn đới và cận nhiệt đới Nhiệt độ cao dẫn tỷ lệ trao đổi chất cao hơn điều này dẫn đến sự giảm các chất dinh dưỡng dự trữ trong noãn hoàng cá Do đó, nhiệt độ

cao sẽ làm cho phôi phát triển nhanh hơn (Das et al., 2006; Pepin, 1991; Wong và

Benzie, 2003) Ngược lại, nếu trứng được ấp ở nhiệt độ thấp, phôi sẽ phát triển chậm

(Lin et al., 2006; Small và Bates, 2001) Fonds (1979) đã cho thấy rằng khoảng nhiệt

Trang 22

độ tối ưu cho trứng cá bơn đen (Solea Solea) là 10 – 16 oC và phôi cá không phát triển khi ấp ở nhiệt độ 22 oC

Gracia-López et al., (2004) khi nghiên cứu ảnh hưởng của 5 mức nhiệt độ (20, 24,

26, 28, và 30 oC) lên sự phát triển phôi và tỷ lệ nở của trứng cá song báo Mycteroperca

rosacea cho thấy tỷ lệ của trứng cá song báo cao khi ấp ở nhiệt độ dao động từ 24 – 30

o

C và thấp hơn ở nhiệt độ < 24 oC

Theo Lê Xân và Nguyễn Hữu Tích (2010), nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình phân

cắt và phát triển phôi cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus Ở nhiệt độ ấp 20 oC trứng cá hồng bạc chỉ phát triển đến giai đoạn thể phôi rồi ngừng phát triển Ở khoảng nhiệt độ 23 – 32 oC, nhiệt độ càng cao, tốc độ phát triển phôi cá hồng bạc càng nhanh

Ở nhiệt độ 26 oC và 29 oC, trứng cá hồng bạc cho tỷ lệ nở cao nhất

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ lên phát triển phôi và tỷ lệ nở của ấu trùng cá song chuột và song hổ năm 2013 của Vũ Văn Sáng, Trần Thế Mưu và Vũ Văn In, (2013) ở Việt Nam cho thấy, cá song chuột chỉ phát triển tới giai đoạn phôi nang ở nhiệt độ 20 ºC và giai đoạn 64 tế bào ở nhiệt độ 36 ºC rồi ngừng phát triển; và trứng cá song hổ chỉ phát triển tới giai đoạn phôi vị ở nhiệt độ 23 ºC và giai đoạn 64 tế

bà ở nhiệt độ 35 ºC rồi ngừng phát triển Tỷ lệ nở của trứng cá song chuột đạt giá trị cao nhất ở nhiệt độ 28 ºC và 29 ºC, thấp nhất ở nhiệt độ 32 ºC

Gracia-López et al., (2004) chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê về

tỷ lệ nở của trứng cá cá song báo Mycteroperca rosacea khi ấp trứng cá song báo ở 9

mức độ mặn khác nhau từ 0 – 64 ‰ Trứng cá song báo có tỷ lệ nở cao nhất khi ấp ở

Trang 23

độ mặn 32 ‰ Trứng cá song báo không nở ở độ mặn 0 và 64 ‰ Ở độ mặn 8 và 56

‰, trứng cá song báo có nở nhưng ấu trùng bị chết sau khi nở

Theo Vũ Văn Sáng, Trần Thế Mưu (2013) và Vũ Văn In (2013), Độ mặn không ảnh hưởng đáng kể tới thời gian ấp, thời gian nở trong quá trình ấp trứng cá song chuột

và cá song hổ khi ấp trứng ở 5 mức độ mặn: 23, 26, 29, 32 và 35 ‰ Tuy nhiên, trứng

cá song chuột ấp ở nhiệt độ 28 ºC cho tỷ lệ nở cao nhất (87,4 ± 3,3 %) và tỷ lệ ấu trùng

dị hình (4,8 ± 1,4 %) thấp nhất, Trong khi đó, độ mặn thích hợp cho ấp nở trứng cá song hổ từ 32-35 ‰ đạt các tỷ lệ nở từ 83,4-85,6 % với tỷ lệ dị hình thấp 1,79-1,85 % Ngoài ra có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn nên quá trình phát triển phôi, tỷ lệ nở và tỷ lệ dị hình của ấu trùng của một số loài các biển như

cá song Mycteroperca rosacea (Gracia-López et al., 2004), chẽm mõm nhọn

Psammoperca waigiensis (Phạm et al., 2007), cá hồng bạc Lutianus argentimaculatus

(Lê và Nguyễn, 2011), cá cảnh biển Amphiprion clarkii (Ye et al., 2011), cá song hổ

E fuscoguttatus (Vũ Văn Sáng, Trần Thế Mưu, 2013), cá song chuột Cromileptes altivelis (Vũ Văn Sáng, Trần Thế Mưu và Vũ Văn In, 2013), và cá song vua E lanceolatus (Elizur, 2013) đều kết luận độ mặn và nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình

phát triển phôi của ấu trùng cá biển

Ảnh hưởng của thức ăn tươi sống đến sự phát triển của ấu trùng cá biển

Trong sản xuất giống các loài cá biển nói chung và cá song nói riêng thì thức ăn

ở giai đoạn ấu trùng luôn là vấn đề lớn có thể quyết định sự thành bại của quá trình

ương nuôi (Doi et al., 1997; Kohno et al., 1997; Russo et al., 2009; Toledo et al.,

2002) Hầu hết ấu trùng các loài cá biển là bắt mồi trực quan và sự thành công của việc cho ấu trùng ăn ở giai đoạn phát triển khác nhau phụ thuộc vào việc cung cấp thức

ăn và môi trường nuôi thích hợp (Ina et al., 1979, Hunter, 1980) Từ khi mở miệng ấu

trùng cá song có thể chủ động bắt mồi và lựa chọn thức ăn mà nó yêu thích, và cho đến khi khả năng săn mồi của chúng được phát triển hoàn thiện; do đó hiệu quả sử dụng thức ăn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như kích thước con mồi, cỡ miệng ấu trùng, mật

độ của thức ăn, và thành phần dinh dưỡng của thức ăn (Duray et al., 1996; Koh et al., 2010; Parra và Yúfera, 2000; Russo et al., 2009) Cũng như các loài cá song khác, ấu

trùng cá song lai bắt mồi dựa vào trực quan và việc cho ăn thành công ở các giai đoạn phát triển khác nhau phụ thuộc vào việc cung cấp thức ăn thích hợp, mật độ thức ăn

Trang 24

khi cho ăn và môi trường nuôi Rất nhiều nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong cao trong ương nuôi ấu trùng cá song thường xảy ra ở giai đoạn đầu ương nuôi

khi ấu trùng bắt đầu bắt mồi do thức ăn cung cấp không phù hợp (Duray, 1994; Koh et

al., 2008; Koh et al., 2010; Kohno et al., 1997; Tucker, 1999) Do đó, việc cung cấp

thức ăn tươi sống có kích thước và thành phần dinh dưỡng phù hợp cho ấu trùng cá song lai ở giai đoạn này là rất quan trọng

Trong ương nuôi ấu trùng cá biển nói chung và cá song nói riêng thì nước ương

màu xanh đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của quá trình ương (Tamaru et

al., 1994) Nước màu xanh này là tảo được sử dụng trực tiếp trong các bể chứa ấu

trùng Chất lượng ấu trùng được cải thiện khi sử dụng tảo trong nước nuôi ấu trùng được chứng minh trong nhiều nghiên cứu như Moffatt (1981) đã chứng minh rằng vi tảo cung cấp dinh dưỡng trực tiếp cho ấu trùng cá biển; vi tảo cũng góp phần vào việc duy trì chất dinh dưỡng có trong động vật phù du làm thức ăn cho ấu trùng (Makridis

và Olsen 1999); vi tảo cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự thay đổi hình ảnh

tương phản và thành phần hóa học của môi trường (Naas et al., 1992; Naas et al.,

1996) Nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng bắt mồi của ấu trùng cá biển cũng bị

ảnh hưởng bởi sự hiện diện của vi tảo trong bể ương (Rocha et al., 2008) Tuy nhiên,

hiệu ứng này không giống nhau giữa các loài cá khác nhau

Rất nhiều nghiên cứu đã chứng mình rằng tỷ lệ sống của ấu trùng cá song ở giai đoạn đầu có thể được cải thiện bằng cách cho ăn các thức ăn có kích thước nhỏ như ấu trùng hàu (Watanabe, 1996), luân trùng có kích thước nhỏ (Ruangpanit, 1993), rotifer

SS và Brachionus sp (Lim, 1993; Doi 1991) Trong sinh sản nhân tạo cá biển luân trùng Brachionus sp và Artemia spp là thức ăn tươi sống thông dụng nhất dùng trong ương ấu trùng do chi phí thấp và có thể sản xuất được số lượng lớn (Conceição et al.,

2010) Cũng theo Conceição và cộng sự (2010), luân trùng và Artemia còn chứa một

số axit amin, vitamin và khoáng chất rất tốt cho sự phát triển của ấu trùng ở giai đoạn đầu Tuy nhiên, cả luân trùng và Artemia đều thiếu hụt dinh dưỡng so với nhu cầu dinh dưỡng của âu trùng cá biển, đặc biệt là axit béo không no n-3 HUFA do đó chúng thường được làm giàu trước khi cung câp cho ấu trùng ăn

Theo Anocha Kiriyakit (2011) thức ăn ban đầu cho cá song lai giữa cá song vua

(E lanceolatus) và cá song chấm nâu (E coioides) được sử dụng là luân trùng nhỏ và

Trang 25

ấu trùng hàu Trong quá trình ương ấu trùng cá song lai giữa hai loài này, tỷ lệ chết cao nhất xảy ra vào hai thời điểm: giai đoạn 5 - 6 ngày sau khi nở hay ngày thứ hai ăn ngoài và giai đoạn thứ hai đỉnh điểm của thời gian biến thái (12-14 ngày sau khi nở)

Tỷ lệ chết cao của một số loài cá song thường được quan sát thấy vào giữa ngày thứ 4

và 9 sau khi nở (Kohno et al., 1990; Yoseda, 2008) Những khó khăn liên quan tới

việc sử dụng thức ăn đầu tiên cho giai đoạn ương ấu trùng cá song lai giữa cá song

sẫm màu (Epinephelus marginatus) và cá song trắng (Epinephelus aeneus) đã được

Glamuzina & cs (1999) kết luận là nguyên nhân gây ra tỷ lệ chết cao trong giai đoạn

10 ngày tuổi

Như vậy, loại thức ăn phù hợp cho các giai đoạn của ấu trùng vẫn chưa có tài liệu công bố một cách thống nhất để nâng cao hiệu quả của việc ương ấu trùng cá song lai

Trang 26

CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung

- Nội dung 1: Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến sự phát triển phôi và tỉ lệ

nở của trứng cá song lai

- Nội dung 2: Ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến sinh trưởng và

tỉ lệ sống của cá song lai giai đoạn từ Ấu trùng đến cá hương

3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Địa diểm và thời gian nghiên cứu

‒ Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Miền bắc, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1, Cát bà, Cát Hải, Hải phòng

‒ Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 07/10/2014 đến ngày 01/11/2015

Vật liệu nghiên cứu

Cá bố mẹ tham gia sinh sản:

‒ Cá song vua (E lanceolatus): Đàn cá bố mẹ phục vụ nghiên cứu sinh sản

đang được nuôi giữ tại Cát Bà (Hải Phòng) hiện có 54 con (19 đực, 35 cái) có độ tuổi 9+ Trong đó, 51 cá thể được nhập từ Đài Loan (2005) và 3 cá thể từ một số vùng biển Việt Nam (khối lượng trung bình >50 kg)

‒ Cá song hổ (E Fucogustatus): Đàn cá bố mẹ được nuôi giữ tại Cát Bà (Hải

Phòng), gồm 125 cá thể nguồn gốc Đài Loan (khối lượng dao động từ 6,5 - 8 kg và có

độ tuổi 7+ ) và 38 cá thể nguồn gốc Nha Trang, Việt Nam (khối lượng dao động từ 3 -

4 kg, và có độ tuổi 4+)

Lựa chọn cá song vua đực và cá song hổ cái đã thành thục để kích thích sinh sản và thụ tinh nhân tạo Sau khi thụ tinh nhân tạo, loại bỏ tất cả trứng cá không thụ tinh và thu trứng cá đã thu tinh để đưa vào thí nghiệm

Vật liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn

‒ Thí nghiệm được thực hiện trong bình thủy tinh 1 lít được đặt trong phòng điều hòa nhiệt độ, mật độ ấp là 1000 trứng thụ tinh/1L

Trang 27

‒ Muối tinh khiết NaCl được dùng để tăng độ mặn của nước biển trong thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn

‒ Heater nâng nhiệt Aqua – heater công suất 200 W được dùng để điều chỉnh nhiệt độ trong bình ấp ở thí nghiệm

‒ Mỗi bình thí nghiệm được bố trí một nhiệt kế thủy ngân để kiểm tra nhiệt độ nước với tần suất 30 phút/lần

‒ Kính hiển vi Olympus CX22 và một số dụng cụ khác được dùng để theo dõi

quá trình phát triển phôi

Vật liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá song lai

‒ Ấu trung cá song lai sử dụng trong nghiên cứu này được tạo ra từ sự thụ tinh

giữa ♂ cá song vua E lanceolatus và ♀ cá song hổ E fuscoguttatus Ấu trùng cá song

lai (0 ngày tuổi) có chiều dài trung bình dao động từ 1,8 đến 2,3 mm được sử dụng trong thí nghiệm 1

‒ Cá bột cá song lai (12 ngày tuổi) có chiều dài toàn thân trung bình là 9,2 ± 0,3

mm được sử dụng trong thí nghiệm 2 Cá bột này được thu sau khi ương ấu trùng cá song

lai bằng copepoda nauplius Paracalanus sp (mật độ cho ăn 10 con/ml) + luân trùng B

Plicatilis (mật độ cho ăn 10 con/ml)

‒ Thức ăn tươi sống được sử dụng trong thí nghiệm là luân trùng B

rotundifrormis, luân trùng B plicatilis, copepoda nauplius Paracalanus sp, ấu trùng

trochophore hầu Thái Bình Dương C gigas,Artemia nauplii -Vĩnh Châu, và

Artemia nauplii – Inve Tất cả thức ăn tươi sống được đếm bằng buồng đếm động vật phù du vào mỗi buổi sáng và buổi chiều trước khi cho ấu trùng cá song lai ăn

‒ Thí nghiệm được thực hiện trong các bể composite 0,5 m3 và bể xi măng 8 m3

có gắn sục khí

Trang 28

3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Hình 3.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

* Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn

Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ lên quá trình phát triển phôi của cá song lai

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên và đồng thời ở các mức nhiệt độ: 20 oC, 24

Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn độ lên quá trình phát triển phôi của cá song lai

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên và đồng thời ở các mức độ mặn: 10 ‰, 15

‰, 20 ‰, 25 ‰, 30 ‰ và 35 ‰

Các yếu tố phi thí nghiệm được đồng nhất giữa các nghiệm thức (nhiệt độ: 28 ±

1 oC, DO: 5 - 5,5 mg/l; pH: 7,7 – 8,0)

Trang 29

Mỗi nghiệm thức trong hai thí nghiệm được lập lại 3 lần trong cùng điều kiện

Hình 3.2: Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn

Theo dõi quá trình phát triển phôi trong cả 2 thí nghiệm:

Thời gian phát triển phôi được tính từ giai đoạn 2-4 tế bào đến khi 50 % số trứng hoàn tất phát triển phôi và nở Thời gian nở được xác định từ khi xuất hiện ấu trùng đầu tiên cho đến khi trứng nở hoàn toàn Tổng thời gian nở được xác định từ khi trứng được thụ tinh đến khi trứng nở hoàn toàn

Phương pháp thu mẫu để xác định thời gian phát triển phôi: 10 phút tiến hành thu mẫu 1 lần, dùng kính hiển vi có độ phóng đại x4, x10 để theo dõi

Tỷ lệ nở của trứng và tỷ lệ dị hình của Ấu trùng được xác định theo công thức:

‒ Tỷ lệ nở (%) = 100 * Tổng số trứng nở (trứng)/ tổng số trứng trong bình ấp (trứng)

‒ Tỷ lệ ấu trùng dị hình (%) = 100 * Tổng số ấu trùng dị hình (con)/ tổng số

ấu trùng nở (con)

Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn tươi sống

Thí nghiệm 1: Giai đoạn ương từ 0 - 12 ngày tuổi

Thí nghiệm sử dụng 4 nghiệm thức thức ăn khác nhau và 1 nghiệm thức đối chứng không cho ấu trùng cá song lai ăn (Bảng 3.1) Bể composite 0,5 m3 được sử

dụng để bố trí thí nghiệm, mật độ ương ấu trùng cá song lai là 10 ấu trùng/lít

Trang 30

Bảng 3.1: Thức ăn dùng trong thí nghiệm 1

NT2 Copepoda nauplius Paracalanus sp (10 con/ml) + luân

trùng B plicatilis (10 con/ml)

(10 con/ml) + luân trùng B plicatilis (10 con/ml)

NT4

Luân trùng B plicatilis (07 con/ml)+ copepoda naupli

Paracalanus sp (07 con/ml) + ấu trùng trochophore hàu

Thái Bình Dương C gigas (06 con/ml)

Thí nghiệm 2: Giai đoạn từ 12 ngày tuổi đến giai đoạn cá hương (56 ngày tuổi)

Thí nghiệm thử nghiệm thức ăn ở giai đoạn cá bột lên hương được bố trí trong bể xi măng 8 m3, mật độ 5 cá bột/lít Ba nghiệm thức thức ăn được bố trí như sau:

+ Nghiệm thức 1 (NT1): Artemia nauplii -Vĩnh Châu

+ Nghiệm thức 2 (NT2): Artemia nauplii – Inve

+ Nghiệmthức3 (NT3): Copepoda nauplius (Paracalanus sp) + copepoda

Hai loài tảo là Isochrysis galbana và Nannochloropsis oculata được đưa vào bể

ương ấu trùng bắt đầu từ ngày thứ 2 đến này thứ 30 với mật độ 3 - 5.105 tế bào/ml

Trang 31

Cung cấp tảo I galbana và N oculata trong quá trình ương ấu trùng cá biển tạo màu

nước xanh được chứng minh là phương pháp hữu hiệu để cải thiện tốc độ tăng trưởng

và tỷ lệ sống của của ấu trùng Do màu nước xanh không chỉ tạo màng che như là nơi trú ẩn cho ấu trùng mà còn cung cấp thức ăn cho động vật phù du trong bể ương Xi phông và thay nước 20 % bắt đầu từ ngày thứ 11, từ ngày 18 thay 50 % và từ ngày thứ

30 trở đi thay 100 % Nước thay mới là nước biển sạch có lọc qua lọc cát, thay với tốc

độ 10 lít/phút để tránh gây sốc cho cá Giai đoạn đầu sục khí nhẹ, sau đó điều chỉnh sục khí tăng dần theo tuổi cá

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, DO, độ mặn được kiểm tra hàng ngày vào 6h và 14h

Sinh trưởng chiều dài của cá thí nghiệm được xác định định kỳ 6 ngày 1 lần Thu mẫu ngẫu nhiên 30 cá thể từ mỗi lô thí nghiệm Sử dụng kính hiển vi và thước palmer

có độ chính xác 1 mm để đo chiều dài cá Chiều dài của cá được đo từ miệng đến cuối vây đuôi

Tỷ lệ sống (%) = 100 * Số lượng cá ở thời điểm đếm/ Số lượng cá thả ban đầu

3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu thu được được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (SD) bằng phần mềm Excel Sử dụng phân tích ANOVA một yếu tố để đánh giá ảnh hưởng của thức ăn lên các thông số thí nghiệm Phép thử Duncan được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa p < 0,05

Ngày đăng: 13/09/2016, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
57. Robinson J., M. Isidore, MA. Marguerite, M. Ohman, RJ. Payet (2004), “Spatial and temporal distribution of reef fish spawning aggregations in the Seychelles – an interview-based survey of artisanal fishers”, W. Indian Ocenan. J Mar Sci 3(1): 63-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spatial and temporal distribution of reef fish spawning aggregations in the Seychelles – an interview-based survey of artisanal fishers
Tác giả: Robinson J., M. Isidore, MA. Marguerite, M. Ohman, RJ. Payet
Năm: 2004
58. Sadovy Y., T.J. Donaldson, T.R. Graham, F. McGilvray, F. Muldoon, G.J. Phillips, M.A. Rimmer, A. Smith, B. Yeeting (2003), “While stocks Last. The Live Reef Food Fish Trade”, Asia Development Bank, Manila, Philippines. 147 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: While stocks Last. The Live Reef Food Fish Trade
Tác giả: Sadovy Y., T.J. Donaldson, T.R. Graham, F. McGilvray, F. Muldoon, G.J. Phillips, M.A. Rimmer, A. Smith, B. Yeeting
Năm: 2003
59. Sampaio, L. A., và Bianchini, A. (2002), “Salinity effects on osmoregulation and growth of the euryhaline flounder Paralichthys orbignyanus”, Journal of Experimental Marine Biology and Ecology, 269(2), 187-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salinity effects on osmoregulation and growth of the euryhaline flounder Paralichthys orbignyanus”, "Journal of Experimental Marine Biology and Ecology, 269
Tác giả: Sampaio, L. A., và Bianchini, A
Năm: 2002
60. Small, B. C., và Bates, T. D. (2001), “Effect of Low-Temperature Incubation of Channel Catfish Ictalurus punctatus Eggs on Development, Survival, and Growth”, Journal of the World Aquaculture Society, 32(2), 189-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of Low-Temperature Incubation of Channel Catfish Ictalurus punctatus Eggs on Development, Survival, and Growth
Tác giả: Small, B. C., và Bates, T. D
Năm: 2001
61. Smith, T.L.J., Denson, M.R., Heyward, L.D., Jenkins Sr., W.E., Carter, L.M., 1999, “Salinity effects on early stages of southern flounder Paralichthys lethostigma”, J. Aquac. Soc. 30 (2), 236–244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salinity effects on early stages of southern flounder Paralichthys lethostigma
62. Song, Y.-B., Lee, C.-H., Kang, H.-C., Kim, H.-B., và Lee, Y.-D. (2013), “Effect of Water Temperature and Salinity on the Fertilized Egg Development and Larval Development of Sevenband Grouper, Epinephelus septemfasciatus”, The Korean Society of Developmental Biology, 17(4), 369-377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of Water Temperature and Salinity on the Fertilized Egg Development and Larval Development of Sevenband Grouper, Epinephelus septemfasciatus”, "The Korean Society of Developmental Biology, 17
Tác giả: Song, Y.-B., Lee, C.-H., Kang, H.-C., Kim, H.-B., và Lee, Y.-D
Năm: 2013
63. Stứttrup, J. (2000), “The elusive copepods: their production and suitability in marine aquaculture”, Aquaculture research, 31(8 9), 703-711 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The elusive copepods: their production and suitability in marine aquaculture
Tác giả: Stứttrup, J
Năm: 2000
65. Toledo, J. D., Golez, M. S., Doi, M., &amp; Ohno, A. (1999), “Use of copepod nauplii during early feeding stage of grouper Epinephelus coioides”, Fisheries Science, 65(3), 390-397 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of copepod nauplii during early feeding stage of grouper Epinephelus coioides”, "Fisheries Science, 65
Tác giả: Toledo, J. D., Golez, M. S., Doi, M., &amp; Ohno, A
Năm: 1999
66. Tucker Jr, J. W. (1999). Grouper aquaculture, “Southern Regional Aquaculture Center Publication”, 721, 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Southern Regional Aquaculture Center Publication”, 721
Tác giả: Tucker Jr, J. W
Năm: 1999
68. Walsh, W.A., Swanson, C., Lee, C.S., 1991, “Combined effects of temperature and salinity on embryonic development and hatching of striped mullet, Mugil cephalus”, Aquaculture 97, 281–289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Combined effects of temperature and salinity on embryonic development and hatching of striped mullet, "Mugil cephalus”, Aquaculture
69. Watanabe, W.O., Lee, C.S., Ellis, S.C., Ellis, E.P., 1995, “Hatchery Study of effects of the temperature on eggs and yolk sac larvae of the Nassau grouper Ephinephelus striatus”, Aquaculture 136, 141–147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hatchery Study of effects of the temperature on eggs and yolk sac larvae of the Nassau grouper "Ephinephelus striatus"”, "Aquaculture
70. Wong, J.M., Benzie, J.A.H., 2003, “The effects of temperature, Artemia enrichment, stocking density and light on the growth of juvenile seahorses, Hippocampus whitei (Bleeker, 1855), from Australia”, Aquaculture 228, 107–121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of temperature, Artemia enrichment, stocking density and light on the growth of juvenile seahorses, "Hippocampus whitei" (Bleeker, 1855), from Australia”, "Aquaculture
71. Yoseda K. (2008), “Studies on early mass mortality during hatchery rearing of three grouper species, malabar grouper, Epinephelus malabaricus, red spotted grouper, Epinephelus akaara, and leopard coral grouper, Plectropomus leopardus”, Bulletin-Fisheries Research Agency 23: 91-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on early mass mortality during hatchery rearing of three grouper species, malabar grouper, "Epinephelus malabaricus", red spotted grouper, "Epinephelus akaara", and leopard coral grouper, "Plectropomus leopardus”
Tác giả: Yoseda K
Năm: 2008
72. Ye, L., Yang, S.-Y., Zhu, X.-M., Liu, M., Lin, J.-Y., và Wu, K.-C. (2011), “Effects of temperature on survival, development, growth and feeding of larvae of yellowtail clownfish Amphiprion clarkii (Pisces: Perciformes)”, Acta Ecologica Sinica, 31(5), 241-245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of temperature on survival, development, growth and feeding of larvae of yellowtail clownfish Amphiprion clarkii (Pisces: Perciformes)”, "Acta Ecologica Sinica, 31
Tác giả: Ye, L., Yang, S.-Y., Zhu, X.-M., Liu, M., Lin, J.-Y., và Wu, K.-C
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Hình 3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 28)
Hình 3.2: Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Hình 3.2 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn (Trang 29)
Bảng 3.1: Thức ăn dùng trong thí nghiệm 1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 3.1 Thức ăn dùng trong thí nghiệm 1 (Trang 30)
Bảng 4.1. Thời gian phát triển phôi của cá song lai ở các nhiệt độ ấp khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 4.1. Thời gian phát triển phôi của cá song lai ở các nhiệt độ ấp khác nhau (Trang 32)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian nở, tổng thời gian nở, tỷ lệ nở và - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian nở, tổng thời gian nở, tỷ lệ nở và (Trang 33)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian nở, tổng thời gian nở, tỷ lệ nở, tỷ - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian nở, tổng thời gian nở, tỷ lệ nở, tỷ (Trang 35)
Bảng 4.4: Tỷ lệ sống (%) của cá song lai giai đoạn 0 - 12 ngày tuổi khi được cho ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 4.4 Tỷ lệ sống (%) của cá song lai giai đoạn 0 - 12 ngày tuổi khi được cho ăn (Trang 37)
Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá song lai ở giai đoạn ương từ cá 12 - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá song lai ở giai đoạn ương từ cá 12 (Trang 38)
Bảng 4.3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ dị hình của ấu trùng cá song lai khi ấp nở - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ,độ mặn đến quá trình phát triển phôi và ảnh hưởng của một số loại thức ăn tươi sống đến tăng trưởng, tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột lên hương của cá song lai (cá song vua đự
Bảng 4.3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ dị hình của ấu trùng cá song lai khi ấp nở (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w