Sự thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán và đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên. Phương pháp kiểm toán là yếu tố quan trọng. Thực tế mỗi công ty áp dụng phương pháp khác nhau, vận dụng vào những kỹ thuật kiểm toán riêng và cũng có những công ty gặp phải khó khăn nhất định khi áp dụng, đặc biệt là phát hiện gian lận. Việc vận dụng các chuẩn mực kiểm toán liên quan vào kiểm toán báo cáo tài chính là nhằm mục đích đảm bảo công tác kiểm toán đạt hiệu quả cao cũng như tuân thủ các nguyên tắc kiểm toán trong và ngoài nước. Các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã chú ý vận dụng các chuẩn mực kiểm toán vào thực tiễn công tác, chẳng hạn như VSA 200, 220, 240, 300, 310, 320, 400, 500, 501, 505, 520, 530, 560, 570….Đây là những chuẩn mực không chỉ có thể vận dụng trong công tác kiểm toán mà còn là thước đo về chất lượng công tác kiểm toán. Tuy nhiên trong thực tế, điều này không phải lúc nào cũng được vận dụng tốt tại các công ty kiểm toán. Vai trò của bằng chứng kiểm toán là không thể phủ nhận trong một cuộc kiểm toán, trong đó bằng chứng được thu thập từ thông tin bên ngoài có ý nghĩa quan trọng vì độ tin cậy mà nó đạt được. Do đó em thực hiện đề tài: “Đánh giá việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên ngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sự thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thậpbằng chứng kiểm toán và đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên Phươngpháp kiểm toán là yếu tố quan trọng Thực tế mỗi công ty áp dụng phương pháp khácnhau, vận dụng vào những kỹ thuật kiểm toán riêng và cũng có những công ty gặpphải khó khăn nhất định khi áp dụng, đặc biệt là phát hiện gian lận Việc vận dụng cácchuẩn mực kiểm toán liên quan vào kiểm toán báo cáo tài chính là nhằm mục đích đảmbảo công tác kiểm toán đạt hiệu quả cao cũng như tuân thủ các nguyên tắc kiểm toántrong và ngoài nước Các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã chú ý vận dụng cácchuẩn mực kiểm toán vào thực tiễn công tác, chẳng hạn như VSA 200, 220, 240, 300,
310, 320, 400, 500, 501, 505, 520, 530, 560, 570….Đây là những chuẩn mực khôngchỉ có thể vận dụng trong công tác kiểm toán mà còn là thước đo về chất lượng côngtác kiểm toán Tuy nhiên trong thực tế, điều này không phải lúc nào cũng được vậndụng tốt tại các công ty kiểm toán Vai trò của bằng chứng kiểm toán là không thể phủnhận trong một cuộc kiểm toán, trong đó bằng chứng được thu thập từ thông tin bên
ngoài có ý nghĩa quan trọng vì độ tin cậy mà nó đạt được Do đó em thực hiện đề tài:
“Đánh giá việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên ngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC” Ở đề tài này,em muốn đề cập
đến thực tế thu thập bằng chứng kiểm toán từ thông tin xác nhận bên ngoài cũng nhưđánh giá được việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bênngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC Đề tài sẽ phần nào nêu ra đượcthực tế vận dụng chuẩn mực của ABC và nhận ra những mặt còn tồn đọng, từ đó nêukiến nghị một số giải pháp dựa trên lý thuyết tìm hiểu Em hi vọng với những kiếnthức học tập trên trường và thực tế tìm hiểu được, đề tài này sẽ góp phần hoàn thiệnhơn công tác thu thập thông tin xác nhận từ bên ngoài trong quy trình thu thập bằngchứng kiểm toán
Nội dung của đề tài gồm 3 phần như sau:
Phần 1: Cơ sở lý luận về việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên ngoài
Phần 2: Thực tế áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC
Phần 3: Một số đánh giá và biện pháp hoàn thiện việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán
số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài tại công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC
Để hoàn thành đề tài, em đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của thầygiáo TS.Đường Nguyễn Hưng trong quá trình viết đề tài, sự hướng dẫn nhiệt tình củacác anh chị trong đoàn kiểm toán của công ty ABC trong quá trình đi thực tế Em xinchân thành cảm ơn thầy và các anh chị trong công ty kiểm toán ABC Do kiến thức vàkinh nghiệm còn nhiều hạn chế, luận văn của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót nhất định Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô, các anh chị và các bạn
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Phần 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN SỐ 505 – THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI 6
I Khái quát chung về kiểm toán tài chính và quy trình kiểm toán 6
1 Kiểm toán tài chính 6
1.1 Khái niệm kiểm toán tài chính 6
1.2 Đối tượng, khách thể, chủ thể của kiểm toán tài chính 6
1.3 Mục tiêu kiểm toán tài chính 6
2 Quy trình kiểm toán 7
II Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 8
III Khái quát chung về phương pháp kiểm toán 10
IV Chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài 11
1 Giới thiệu về chuẩn mực 11
2 Nội dung chuẩn mực 11
2.1 Việc xác nhận thông tin từ bên ngoài 11
2.2 Xem xét sự cần thiết của việc sử dụng thủ tục xác nhận thông tin từ bên ngoài 11
2.3 Quá trình thực hiện xác nhận thông tin từ bên ngoài 13
2.4 Đánh giá kết quả thu thập thông tin từ bên ngoài 15
3 Các chuẩn mực khác và một số nội dung liên quan tới chuẩn mực 505 16
3.1 Chuẩn mực 500 – Độ tin cậy của thông tin xác nhận từ bên ngoài và cơ sở dẫn liệu cần xác nhận” 16
3.2 Chuẩn mực 400 - Việc đánh giá rủi ro khi xem xét mối quan hệ với thủ tục xác nhận 16
3.3 Chuẩn mực 240 - Việc xem xét sự tồn tại gian lận và sai sót của Ban giám đốc khi không đồng ý gửi thư xác nhận 17
3.4 Chuẩn mực 530 - Lấy mẫu kiểm toán và đánh giá kết quả của quá trình gửi thư xác nhận 18
Phần 2 21
THỰC TẾ ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN SỐ 505 – THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI CỦA CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN ABC 21
I Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán ABC 21
1 Quá trình hình thành và phát triển 21
2 Phương châm hoạt động và phương hướng phát triển 22
3 Chức năng và lĩnh vực hoạt động 22
4 Cơ cấu tổ chức 23
II Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại ABC 26
1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 27
2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 27
3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 28
Trang 3III Thực tế áp dụng chuẩn mực số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài tại
ABC 28
1 Xem xét sự cần thiết của việc sử dụng thủ tục xác nhận thông tin từ bên ngoài 28
1.1 Các khoản mục và cơ sở dẫn liệu cần xác nhận từ bên ngoài 28
1.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán 30
1.3 Xác lập mức trọng yếu cho khoản mục 36
1.4 Lựa chọn các đối tượng cần xác nhận 38
2 Quá trình thực hiện xác nhận thông tin từ bên ngoài 44
2.1 Thiết lập nội dung xác nhận phù hợp 44
2.2 Chọn dạng thư xác nhận 45
2.3 Thời điểm gửi thư 46
2.4 Kiểm soát quá trình gửi 46
2.5 Cách xử lý khi Ban giám đốc không đồng ý gửi thư xác nhận 46
3 Đánh giá kết quả thu thập thông tin xác nhận từ bên ngoài 47
3.1 Xác định độ tin cậy của thư phúc đáp 47
3.2 Thủ tục thay thế và các trường hợp cần áp dụng 48
3.3 Tổng hợp, đánh giá kết quả xác nhận, xem xét các ngoại lệ 51
Phần 3 55
MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN SỐ 505 “THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI” CỦA CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN ABC 55
I Một số đánh giá về việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên ngoài của công ty Kiểm toán và Kế toán ABC 55
1 Ưu điểm 55
2 Nhược điểm 55
3 Đánh giá chung về việc áp dụng chuẩn mực 505 57
II Một số biện pháp tăng cường hiệu quả áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên ngoài của công ty Kiểm toán và Kế toán ABC .57 1 Hoàn thiện việc xác định mức trọng yếu và phân phối cho từng khoản mục .57
2 Hoàn thiện thủ tục chọn mẫu trong quy trình xác nhận thông tin từ bên ngoài 60
3 Hoàn thiện kỹ thuật lấy xác nhận từ bên ngoài 62
3.1 Cơ sở dẫn liệu và thông tin xác nhận 62
3.2 Tăng độ tin cậy cho thông tin xác nhận 63
3.3 Thực hiện thủ tục xác nhận trong mối liên quan với các phần hành khác 65
3.4 Hoàn thiện việc sử dụng dạng thư phủ định trong quy trình gửi thư 66 Phụ lục
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1 Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
2 Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức nhân sự
3 Bảng 3: Quy trình kiểm toán do VACPA ban hành
4 Bảng 4: Bảng cơ sở dẫn liệu cần xác nhận theo khoản mục
5 Bảng 5: Bảng chu trình kinh doanh cần tìm hiểu theo từng lĩnh vực
6 Bảng 6: Bảng hướng dẫn lựa chọn tỉ lệ xác định mức trọng yếu
7 Bảng 7: Bảng tổng hợp các khoản vay ngắn hạn theo đối tượng năm
2010 của công ty CP PP
8 Bảng 8: Bảng tổng hợp công nợ phải thu của công ty PP năm 2010
9 Bảng 9: Bảng tổng hợp thủ tục gửi thư xác nhận và thủ tục thay thế theo khoản mục trên chương trình kiểm toán
10 Bảng 10: Bảng tổng hợp các khoản mục có biến động lớn trong năm
2010 của công ty cổ phần QT
11 Bảng 11: Bảng tương ứng nơi gửi xác nhận với thông tin cần xác nhận
12 Bảng 12: Bảng liệt kê một số chênh lệch thường gặp giữa sổ sách và thư xác nhận
13 Bảng 13: Bảng hướng dẫn lựa chọn dạng thư xác nhận
14 Bảng 14: Bảng lựa chọn dạng thư xác nhận đối với khoản mục vay ngắn hạn của công ty cổ phần PP năm 2010
Trang 5DANH MỤC PHỤ LỤC
1 Phụ lục 1: Tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động công ty cổ phần QT
2 Phụ lục 2: Đánh giá chung về hệ thống KSNB của công ty cổ phần QT
3 Phụ lục 3: Bảng tồng hợp công nợ phải trả công ty PP
4 Phụ lục 4a: Mẫu thư xác nhận khoản đầu tư
5 Phụ lục 4b: Mẫu thư xác nhận nợ vay
6 Phụ lục 4c: Mẫu thư xác nhận ngân hàng
7 Phụ lục 5a: Mẫu thư xác nhận nợ (dạng non blank)
8 Phụ lục 5b: Mẫu thư xác nhận nợ (dạng blank)
9 Phụ lục 6: Mẫu A510 – Phân tích sơ bộ Báo cáo tài chính
Trang 6Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN SỐ 505 – THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI
I Khái quát chung về kiểm toán tài chính và quy trình kiểm toán
1 Kiểm toán tài chính
I.1 Khái niệm kiểm toán tài chính
Theo chuẩn mực kiểm toán số 200 - Kiểm toán tài chính là loại kiểm toán cómục đích xác nhận mức độ trung thực, hợp lý và hợp pháp của các bản khai tài chính.Mức độ trung thực, hợp lý, hợp pháp của các bản khai tài chính được xác minh dựatrên chuẩn mực kiểm toán Kết quả xác minh các bản khai tài chính được trình bày trênbáo cáo kiểm toán Ngoài ra, kiểm toán viên có thể đưa ra những lời khuyên cho cácnhà quản lý thông qua thư quản lý
I.2. Đối tượng, khách thể, chủ thể của kiểm toán tài chính
Đối tượng trực tiếp của kiểm toán báo cáo tài chính là các bản khai tài chính
“các bản kê khai thông tin có tính pháp lý, sử dụng thước đo giá trị” Bộ phận quantrọng nhất của các bản khai tài chính là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, ngoài
ra còn có các đối tượng khác của kiểm toán tài chính như các bản quyết toán vốn đầu
tư xây dựng cơ bản hoàn thành, bản khai thuế thu nhập cá nhân…
Khách thể kiểm toán tài chính là một thực thể kinh tế độc lập, có thể đó là mộtđơn vị độc lập hoàn toàn, hoặc một đơn vị thành viên hạch toán độc lập của một đơn vịhợp nhất
Chủ thể kiểm toán tài chính: kiểm toán nội bộ; kiểm toán Nhà nước và kiểmtoán độc lập
I.3. Mục tiêu kiểm toán tài chính
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 200, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tàichính là:
Giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sởchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánhtrung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không
Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phụcnhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
Mục tiêu tổng quát của kiểm toán tài chính là xác minh tính trung thực hợp lí,
hợp pháp của thông tin trên bản khai tài chính
Các mục tiêu kiểm toán chung:
o Sự tồn tại và phát sinh: xác minh tính có thật của tài sản và nợ phải trả trên
BCĐKT, doanh thu và chi phí trên Báo cáo KQKD
o Sự đầy đủ: xác minh tài sản, nguồn vốn và các nghiệp vụ được ghi chép đầy
đủ vào sổ kế toán và được phản ánh đầy đủ trên BCTC
o Quyền kiểm soát và nghĩa vụ: xác minh quyền kiểm soát đối với tài sản và
nghĩa vụ pháp lý đối với nguồn vốn của đơn vị trên BCĐKT
Trang 7o Sự ghi chép chính xác: xác minh các nghiệp vụ kinh tế được ghi nhận đúng
tài khoản, đúng số tiền và đúng kỳ kế toán; sự đúng đắn của việc chuyển sổ,cộng số phát sinh, tính số dư và lên BCTC
o Sự đánh giá: xác minh các đối tượng kế toán được đánh giá phù hợp với
nguyên tắc kế toán
o Sự trình bày và khai báo: xác minh tài sản, nợ phải trả, vốn CSH, doanh thu,
chi phí được trình bày và thuyết minh phù hợp với chuẩn mực kế toán
Mục tiêu kiểm toán cụ thể: là các mục tiêu kiểm toán riêng cho từng khoản mục
hoặc chu trình, được xác định trên cơ sở: mục tiêu kiểm toán chung; đặc điểm củakhoản mục hay chương trình; đặc điểm hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộliên quan đến khoản mục hay chu trình đó
2 Quy trình kiểm toán
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, để thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểmtoán có giá trị để làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp
lý của thông tin trên Báo cáo tài chính đồng thời đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế, tínhhiệu lực của từng cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải xây dựng được quy trình cụ thểcho cuộc kiểm toán đó Thông thường, mỗi quy trình kiểm toán được chia thành 3bước: Lập kế hoạch kiểm toán; Thực hiện kiểm toán và Kết thúc kiểm toán
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
300 thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán, trong đó mô
tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán Kế hoạch kiểm toánphải đầy đủ, chi tiết để làm cơ sở cho chương trình kiểm toán Trong bước công việcnày, bắt đầu từ thư mời kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tìm hiểu khách hàng với mụcđích hình thành hợp đồng hoặc đưa ra được kế hoạch chung Kiểm toán viên cần thuthập các thông tin cụ thể về khách hàng, tìm hiểu đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộBên cạnh đó, trong khi lập kế hoạch, công ty kiểm toán cũng phải có sự chuẩn bị vềphương tiện và nhân viên cho việc triển khai thực hiện chương trình đã xây dựng
Bước 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán Các kiểm toán viên sẽ sử dụng các
phương pháp kỹ thuật thích ứng với từng đối tượng cụ thể để thu thập bằng chứngkiểm toán Thực chất của quá trình này là việc triển khai một cách chủ động và tíchcực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến xác thực về tính trungthực và hợp lý của các thông tin trên Báo cáo tài chính dựa vào các bằng chứng kiểmtoán đầy đủ, có giá trị Đây là giai đoạn các kiểm toán viên thực hiện các thủ tục kiểmtoán được hình thành từ thủ tục kiểm soát, thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết.Thủ tục kiểm toán được hình thành rất đa dạng và căn cứ vào kết quả đánh giá hệthống kiểm soát nội bộ của khách hàng, từ đó đi đến quyết định sử dụng các thủ tụckhác nhau Nếu các đánh giá ban đầu về kiểm soát nội bộ là có hiệu lực thì các kiểmtoán viên sẽ tiếp tục thực hiện công việc với phương pháp kiểm toán tuân thủ đồngthời với việc xác minh thêm những sai sót có thể có Trong trường hợp ngược lại, kiểmtoán viên sẽ sử dụng phương pháp kiểm toán cơ bản
Bước 3: Kết thúc kiểm toán Kiểm toán viên đưa ra kết luận kiểm toán thông
qua các báo cáo hoặc biên bản kiểm toán Để đưa ra được những ý kiến chính xác,kiểm toán viên phải tiến hành các công việc cụ thể như: xem xét các khoản nợ ngoài
dự kiến, xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, xem xét tính liên tụctrong hoạt động của đơn vị, thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc… Cuối cùng,
Trang 8kiểm toán viên tổng hợp kết quả, lập nên Báo cáo kiểm toán đồng thời có trách nhiệmgiải quyết các sự kiện phát sinh sau khi lập Báo cáo kiểm toán Tùy theo kết quả, cáckiểm toán viên có thể đưa ra 1 trong 4 ý kiến: chấp nhận toàn phần, chấp nhận từngphần, ý kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối.
II Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Quá trình xây dựng chuẩn mực kiểm toán Việt Nam bắt đầu chính thức từ tháng
9 năm 1997 sau Hội thảo về chuẩn mực kiểm toán được Bộ tài chính và dự ánEUROTAPVIET về kế toán và kiểm toán tổ chức tại Nha Trang Được sự giúp đỡ của
EU và của WB từ 2002, chúng ta đã tập trung toàn lực cho việc nghiên cứu, tiếp cậnchuẩn mực kiểm toán quốc tế và từ đó đã và đang xúc tiến soạn thảo, công bố Hệthống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
1 Sự cần thiết của các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đối với thực tiễn
Việc ban hành các chuẩn mực kiểm toán là cần thiết vì vai trò quan trọng củachúng:
o Giúp cho hoạt động của cơ quan kiểm toán và các kiểm toán viên có đượcđường lối hoạt động rõ ràng, thực hiện công việc kiểm toán trôi chảy đạt chất lượngcao Các chuẩn mực kiểm toán là điều kiện để các kiểm toán viên nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ, thực hiện được đạo đức nghề nghiệp
o Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệuquả và độ tuân thủ của các kiểm toán viên cũng như các đoàn kiểm toán khi thực hiệnkiểm toán tại các đơn vị Ngoài ra, hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở kiểm tratính đúng đắn các nhận xét của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán và là cơ sở đểgiải quyết các tranh chấp phát sinh giữa kiểm toán viên, đoàn kiểm toán với các đơn vịđược kiểm toán, đồng thời cũng là cơ sở pháp lý cho các kiểm toán viên giải tỏa đượctrách nhiệm của mình về các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai
o Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là tài liệu quan trọng giúp cho việc đào tạo,bồi dưỡng kiểm toán viên và đánh giá chất lượng kiểm toán viên
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành để đáp ứng yêu cầuđổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính, nâng cao chất lượng của kiểm toán độc lập,lành mạnh hóa thông tin tài chính trong nền kinh tế quốc dân Chuẩn mực kiểm toánViệt Nam được ban hành để áp dụng đối với kiểm toán độc lập báo cáo tài chính Dịch
vụ kiểm toán các thông tin tài chính khác và dịch vụ liên quan của Công ty kiểm toánđược áp dụng theo quy định cụ thể của từng chuẩn mực Kiểm toán viên và Công tykiểm toán hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có trách nhiệm triển khai thực hiện chuẩnmực kiểm toán Việt Nam trong hoạt động của mỗi công ty
2 Các đợt ban hành chuẩn mực, các quyết định ban hành
Đợt 1: Ban hành 4 chuẩn mực theo quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27tháng 9 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Chuẩn mực số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toánbáo cáo tài chính”
Chuẩn mực 210 “Hợp đồng kiểm toán”
Chuẩn mực 230 “Hồ sơ kiểm toán”
Chuẩn mực 700 “ Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính”
Trang 9Đợt 2: Ban hành 6 chuẩn mực theo quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29tháng 12 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ tài chính:
Chuẩn mực 250 “Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trongkiểm toán báo cáo tài chính”
Chuẩn mực 310 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh”
Chuẩn mực 500 “Bằng chứng kiểm toán”
Chuẩn mực 520 “Các thủ tục phân tích”
Chuẩn mực 580 “Giải trình của Giám đốc”
Đợt 3: Ban hành 4 chuẩn mực theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Chuẩn mực 240 “Gian lận và sai sót”
Chuẩn mực 300 “Lập kế hoạch kiểm toán”
Chuẩn mực 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục chọn lựa”
Chuẩn mực 540 “Kiểm toán và các ước tính kế toán”
Chuẩn mực 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”
Chuẩn mực 610 “Sử dụng tài liệu của kiểm soát nội bộ”
Đợt 4: Ban hành 5 chuẩn mực theo quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14tháng 3 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Chuẩn mực 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán”
Chuẩn mực 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”
Chuẩn mực 501 “Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các khoản mục
và sự kiện đặc biệt”
Chuẩn mực 560 “Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán lập Báocáo tài chính”
Chuẩn mực 600 “Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác”
Đợt 5: Ban hành 6 chuẩn mực theo quyết định số 195/2003/QĐ-BTC ngày 28tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Chuẩn mực 401 “Thực hành kiểm toán trong môi trường tin học”
Chuẩn mực 550 “Các bên liên quan”
Chuẩn mực 570 “Hoạt động liên tục”
Chuẩn mực 800 “Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặcbiệt”
Chuẩn mực 910 “Công tác soát xét báo cáo tài chính”
Chuẩn mực 920 “Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏathuận trước”
Đợt 6: Ban hành 6 chuẩn mực theo quyết định số 03/2005/QĐ-BTC ngày 18tháng 01 năm 2005của Bộ trưởng Bộ tài chính
Chuẩn mực 402 “Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sửdụng dịch vụ bên ngoài”
Chuẩn mực 620 “Sử dụng tư liệu của chuyên gia”
Chuẩn mực 710 “Thông tin có tính so sánh”
Chuẩn mực 720 “Những thông tin khác trong tài liệu có báo cáo tàichính đã kiểm toán”
Chuẩn mực 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính”
Chuẩn mực 1000 “Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành”
Trang 10Quyết định số 87/2005/QĐ-BTC ngày 01 tháng 12 năm 2005 Về việc ban hành
và công bố Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam
Đợt 7: Ban hành 4 chuẩn mực theo Quyết định số 101/2005/QĐ-BTCngày 29tháng 12 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Chuẩn mực 260 “Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toánvới Ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán”
Chuẩn mực 330 “Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro”
Chuẩn mực 505 “Thông tin xác nhận từ bên ngoài”
Chuẩn mực 545 “Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý”
III Khái quát chung về phương pháp kiểm toán
Kiểm toán tài chính cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán như các loại hìnhkiểm toán khác:
o Phương pháp kiểm toán dựa trên tài liệu: kiểm tra cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic
o Phương pháp kiểm toán không dựa trên tài liệu: kiểm kê, thực nghiệm, điều tra
Kiểm tra cân đối là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân đối
khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cân đối đó.Các quan hệ cân đối: Nguồn lực – Kết quả; Số phát sinh Nợ - Số phát sinh Có; Tài sản– Nguồn vốn
Đối chiếu trực tiếp là so sánh số liệu của cùng một chỉ tiêu trên các tài liệu
khác nhau, được áp dụng trong trường hợp các chỉ tiêu có tính so sánh
Đối chiếu logic là việc xem xét các mức biến động tương ứng về trị số của các
chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp song có thể có mức biến động khác nhau và theohướng khác nhau, thường được sử dụng để xem xét khái quát tính hợp lý các mối quan
hệ kế toán tài chính thuộc đối tượng kiểm toán
Kiểm kê là phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản, phương pháp được
thích ứng về thời điểm, loại hình và công tác kiểm kê phải được thực hiện theo quytrình chung: chuẩn bị - thực hiện – kết thúc
Thực nghiệm là phương pháp diễn lại hoặc nghiên cứu, phân tích từng yếu tố
cấu thành của một tài sản đã có, một quá trình đã diễn ra và cần xác minh lại
Điều tra là phương pháp xác định lại một tài liệu hoặc một thực trạng để đi đến
quyết định hay kết luận kiểm toán
Các phương pháp trên đây được vận dụng vào các kỹ thuật thu thập bằng chứngkiểm toán một cách linh hoạt, bao gồm: kiểm tra đối chiếu (kiểm tra vật chất và kiểmtra tài liệu); quan sát; xác nhận; phỏng vấn; tính toán lại; phân tích; thực nghiệm.Ngoài ra khi thực hiện kiểm toán, kỹ thuật chọn mẫu cũng được đề cao nhằm chọn ramẫu từ tổng thể, rồi dùng các đặc trưng của mẫu để rút ra các suy đoán đặc trưng củatoàn bộ tổng thể
Trong kiểm toán tài chính, các phương pháp kiểm toán cơ bản được triển khaitheo hướng kết hợp lại hoặc chi tiết hơn tuỳ tình huống cụ thể trong suốt quá trìnhkiểm toán Trên cơ sở có dựa vào hay không dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ màhình thành 02 phương pháp kiểm toán tài chính:
o Phương pháp kiểm toán cơ bản: áp dụng trong trường hợp rủi ro kiểm soát đượcđánh giá cao hoặc việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát tốn nhiều chi phí Phương pháp này sử dụng thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết
Trang 11o Phương pháp kiểm toán tuân thủ: áp dụng trong trường hợp rủi ro kiểm soát thấp Phương pháp này sử dụng cả thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản.
IV Chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài
1 Giới thiệu về chuẩn mực
Chuẩn mực kiểm toán số 505 (VAS 505) được ban hành theo Quyết định số101/2005/QĐ-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Mục đích của chuẩn mực là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướngdẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với việc sử dụng thông tinxác nhận từ bên ngoài nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên vàcông ty kiểm toán
2 Nội dung chuẩn mực
2.1 Việc xác nhận thông tin từ bên ngoài
Việc xác nhận thông tin từ bên ngoài là quá trình thu thập và đánh giá bằngchứng kiểm toán thông qua việc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phúcđáp của họ về các thông tin cụ thể ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu được Ban Giám đốclập và trình bày trong báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Để quyết định mức
độ sử dụng thông tin xác nhận từ bên ngoài, kiểm toán viên và công ty kiểm toán nêncân nhắc đặc điểm của môi trường hoạt động của đơn vị được kiểm toán và khả năngthu thập được các thông tin đó
2.2 Xem xét sự cần thiết của việc sử dụng thủ tục xác nhận thông tin từ bên ngoài
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần xem xét sự cần thiết phải sử dụngthông tin xác nhận từ bên ngoài để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợpnhằm hỗ trợ cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính Để đưa ra quyết định này, kiểmtoán viên cần phải xem xét mức độ trọng yếu, mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểmsoát, và cân nhắc xem những bằng chứng có được từ thủ tục kiểm toán thông tin xácnhận từ bên ngoài đã và sẽ thực hiện cho các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính cólàm giảm rủi ro kiểm toán xuống mức thấp có thể chấp nhận được hay không
2.2.1 Các khoản mục và cơ sở dẫn liệu cần xác nhận từ bên ngoài
Xác nhận từ bên ngoài thường được sử dụng đối với số dư tài khoản và các bộphận cấu thành của nó Ngoài ra, kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể yêu cầu
sự xác nhận từ bên ngoài về các điều khoản hợp đồng hay giao dịch của đơn vị đượckiểm toán với bên thứ ba Các tình huống có thể thu thập thông tin xác nhận từ bênngoài, gồm:
Trang 12 Số dư tài khoản tiền gửi, tiền vay và những thông tin khác từ ngân hàng,kho bạc, tổ chức tài chính tương tự
Số dư các khoản phải thu
Cổ phiếu gửi bên thứ ba; hàng gia công, hàng gửi bán, hàng nhờ giữ hộ
Những văn bản, giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản do luật sưgiữ, hoặc đang giữ trong két sắt của ngân hàng
Những khoản đầu tư mua từ các nhà môi giới nhưng chưa được giao trướcthời điểm lập báo cáo tài chính
Các khoản nợ vay
Số dư của những khoản nợ phải trả
Chuẩn mực kiểm toán số 500 “Bằng chứng kiểm toán” quy định cơ sở dẫn liệucủa báo cáo tài chính phải có các tiêu chuẩn: Hiện hữu, quyền và nghĩa vụ, phát sinh,đầy đủ, đánh giá, chính xác, trình bày và công bố Mặc dù xác nhận từ bên ngoài cóthể cung cấp bằng chứng kiểm toán liên quan đến những cơ sở dẫn liệu này, nhưng vìkhả năng của một xác nhận từ bên ngoài cung cấp bằng chứng kiểm toán thích hợp chomột cơ sở dẫn liệu cụ thể của báo cáo tài chính là khác nhau, chẳng hạn như:
o Xác nhận từ bên ngoài về một khoản phải thu cung cấp bằng chứng kiểm toánđáng tin cậy về sự hiện hữu của một khoản tài sản tại một thời điểm nhất định; về sựhạch toán đúng kỳ của khoản phải thu; không cung cấp tất cả những bằng chứng kiểmtoán cần thiết liên quan tới việc xác định giá trị, vì sẽ là không thực tế nếu đề nghịngười nợ xác nhận thông tin chi tiết liên quan tới khả năng trả nợ của họ
o Trường hợp hàng hóa gửi đi bán, xác nhận từ bên ngoài cũng cung cấp nhữngbằng chứng đáng tin cậy về sự hiện hữu, quyền và nghĩa vụ của tài sản nhưng khôngthể cung cấp bằng chứng đầy đủ về xác định giá trị hoặc khả năng bán hàng của hànghóa đó
Khi thu thập bằng chứng kiểm toán cho cơ sở dẫn liệu không được đánh giá đầy
đủ bằng việc xác nhận thì kiểm toán viên cần thực hiện những thủ tục kiểm toán khác
để bổ sung cho thủ tục xác nhận hoặc có thể thay thế thủ tục xác nhận
2.2.2 Mối quan hệ giữa thủ tục xác nhận bên ngoài với rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soátChuẩn mực kiểm toán số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã quyđịnh:
o Quá trình đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là để quyết định nộidung, tính chất và lịch trình của các thử nghiệm cơ bản để giảm rủi ro phát hiện và từ
đó giảm rủi ro kiểm toán xuống mức có thể chấp nhận được
o Nội dung và tính chất của bằng chứng kiểm toán thu thập được từ việc thựchiện các thử nghiệm cơ bản phụ thuộc vào sự đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểmsoát Mức độ đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát không thể ở mức thấp đểloại trừ việc cần thiết phải thực hiện các thử nghiệm cơ bản Những thử nghiệm cơ bảnnày có thể bao gồm cả thủ tục xác nhận từ bên ngoài cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tàichính
Theo đó thì có các trường hợp sau:
Nếu kiểm toán viên đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng caothì bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần thu thập từ thựchiện các thử nghiệm cơ bản càng phải nhiều Trong trường hợp này việc sử dụng thủ
Trang 13tục xác nhận từ bên ngoài sẽ có hiệu quả trong việc cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểmtoán thích hợp Nếu đơn vị được kiểm toán phát sinh giao dịch bất thường hoặc phứctạp và mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao thì kiểmtoán viên phải xem xét việc xác nhận từ bên ngoài về các nội dung liên quan đến cácnghiệp vụ này với các bên liên quan khác trong việc kiểm tra tài liệu được giữ tại đơnvị.
Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giácàng thấp, thì sự đảm bảo mà kiểm toán viên cần đạt được từ các thử nghiệm cơ bảncàng ít để đưa ra ý kiến về cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính
2.3 Quá trình thực hiện xác nhận thông tin từ bên ngoài
2.3.1 Thiết lập nội dung xác nhận phù hợp
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần thiết lập những nội dung thông tincần xác nhận từ bên ngoài phù hợp với những mục tiêu kiểm toán cụ thể Khi thiết lậpnhững yêu cầu đó, kiểm toán viên cần xem xét các cơ sở dữ liệu được kiểm toán vànhững nhân tố có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của sự xác nhận Những nhân tố nhưhình thức, yêu cầu xác nhận, kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán trước đó hay của cáccuộc kiểm toán tương tự, tính chất của những thông tin được xác nhận, và đối tượngyêu cầu xác nhận, đều có ảnh hưởng đến việc thiết lập yêu cầu bởi những nhân tố này
có ảnh hưởng trực tiếp đến độ tin cậy của bằng chứng thu thập được thông qua thủ tụcxác nhận từ bên ngoài
Khi thiết lập các nội dung thông tin cần xác nhận, kiểm toán viên và công tykiểm toán cần cân nhắc tới các loại thông tin mà người được yêu cầu có thể sẵn sàngxác nhận ngay, vì điều này có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ phúc đáp và nội dung của bằngchứng thu thập được Hơn nữa người được yêu cầu xác nhận không phải lúc nào cũng
có thể xác nhận được một số loại thông tin
2.3.2 Chọn dạng thư xác nhận
Kiểm toán viên có thể sử dụng thư xác nhận đóng hoặc mở hoặc kết hợp cả hai
o Thư xác nhận mở (dạng khẳng định) là đề nghị người được yêu cầu trả lời,
ký nhận trong mọi trường hợp hoặc phúc đáp lại cho kiểm toán viên là đồng ý hoặckhông đồng ý với thông tin cần xác nhận bằng cách yêu cầu điền vào thông tin
Đặc điểm:
Sự phản hồi các yêu cầu xác nhận mở thường cung cấp bằng chứng kiểmtoán đáng tin cậy
Có rủi ro là người được đề nghị xác nhận có thể không kiểm tra thông tin
là chính xác mà đã xác nhận thì kiểm toán viên khó có thể phát hiện được điều đó Tuynhiên kiểm toán viên có thể giảm rủi ro này xuống bằng cách yêu cầu điền thông tinđúng vào chỗ cần phúc đáp hoặc cung cấp những thông tin khác chứ không ghi rõ sốliệu hoặc các thông tin khác cần xác nhận
Có thể ít nhận được thông tin phản hồi do người phản hồi phải thực hiệnmột số công việc
o Thư xác nhận đóng (dạng phủ định) chỉ đòi hỏi sự phản hồi khi không đồng
ý với thông tin yêu cầu xác nhận Khi đồng ý với thông tin xác nhận thì không nhấtthiết phải phản hồi Tuy nhiên, nếu không có sự phản hồi từ yêu cầu thư xác nhận
Trang 14đóng thì kiểm toán viên sẽ không có bằng chứng rõ ràng rằng bên thứ ba đã nhận đượcyêu cầu xác nhận và xác minh rằng thông tin đã thu thập được là đúng
Đặc điểm:
Cung cấp bằng chứng ít tin cậy hơn so với việc sử dụng thư xác nhận mở.Trường hợp này kiểm toán viên cần phải xem xét thực hiện các thử nghiệm cơ bản bổsung cho việc sử dụng thư xác nhận phủ định
Thư xác nhận đóng thể được sử dụng để giảm rủi ro kiểm toán xuống mứcchấp nhận được khi:
a) Mức đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là thấp;
b) Có số lượng lớn các số dư nhỏ;
c) Một số lượng đáng kể sai sót không được dự kiến;
d) Kiểm toán viên không có lý do gì để cho rằng người phản hồi sẽkhông quan tâm đến các yêu cầu này
Kiểm toán viên có thể kết hợp cả thư xác nhận dạng khẳng định và thư xácnhận dạng phủ định
2.3.3 Kiểm soát quá trình gửi
Khi thực hiện các thủ tục xác nhận từ bên ngoài, kiểm toán viên và công tykiểm toán phải kiểm soát thủ tục lựa chọn đối tượng gửi yêu cầu xác nhận và hình thứcthư phản hồi từ bên ngoài Công việc kiểm soát được duy trì giữa những người này vàkiểm toán viên nhằm giảm thiểu khả năng các kết quả xác nhận là không khách quan
do các yêu cầu xác nhận và thông tin phản hồi bị ngăn chặn hoặc bị thay đổi Ngoài ra,kiểm toán viên cũng cần phải đảm bảo rằng đã gửi các nội dung đề nghị xác nhận đếnđúng địa chỉ và các phản hồi sẽ được gửi trực tiếp tới kiểm toán viên Kiểm toán viêncũng phải xem xét tới việc các thông tin phản hồi có được gửi cho những người liênquan hay không
2.3.4 Cách xử lý khi Ban giám đốc không đồng ý gửi thư xác nhận
Khi kiểm toán viên đề nghị gửi thư xác nhận các số dư nào đó hoặc thông tinkhác nhưng Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán không đồng ý, kiểm toán viên vàcông ty kiểm toán cần xem xét liệu điều đó có hợp lý không và thu thập bằng chứng đểchứng minh sự không đồng ý của Ban Giám đốc có hợp lý hay không
Nếu đồng ý với quyết định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán làkhông cần gửi thư xác nhận từ bên ngoài liên quan đến một vấn đề cụ thể nào đó thìkiểm toán viên và công ty kiểm toán phải áp dụng các thủ tục thay thế để thu thập đầy
đủ bằng chứng thích hợp về vấn đề đó
Nếu không chấp nhận quyết định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán
và bị cản trở trong việc gửi thư xác nhận từ bên ngoài làm phát sinh các hạn chế vềphạm vi kiểm toán, khi đó kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần xem xét ảnhhưởng của các hạn chế đó đến Báo cáo kiểm toán
Khi xem xét lý do mà Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đưa ra, kiểm toánviên và công ty kiểm toán cần đảm bảo tính thận trọng nghề nghiệp và xem xét liệuyêu cầu này có liên quan đến tính chính trực của Ban Giám đốc hay không Kiểm toánviên xem xét liệu quyết định của Ban Giám đốc có thể có sai sót và gian lận haykhông Nếu kiểm toán viên tin tưởng rằng có sai sót và gian lận thì phải thực hiện theoquy định của Chuẩn mực kiểm toán số 240 “Gian lận và sai sót”
Trang 152.4 Đánh giá kết quả thu thập thông tin từ bên ngoài
2.4.1 Xác định tính chất thư phúc đáp
Sự tin cậy của bằng chứng kiểm toán được xác nhận từ bên ngoài bị ảnh hưởng
do năng lực, tính độc lập, thẩm quyền trả lời, sự hiểu biết về vấn đề cần xác nhận và sựkhách quan của người xác nhận Do đó, kiểm toán viên nên gửi thư yêu cầu xác nhậntrực tiếp tới cá nhân liên quan, đồng thời cũng cần xem xét trong trường hợp các bêncần xác nhận không cung cấp các thông tin khách quan về yêu cầu cần xác nhận Kiểmtoán viên phải xem xét ảnh hưởng của những thông về khả năng, kiến thức, thiện chícủa các bên cần xác nhận trong việc thiết lập yêu cầu xác nhận cũng như đánh giá cáckết quả khác, bao gồm cả việc xem xét thêm các thủ tục cần thiết khác Kiểm toán viêncần xem xét sự chính xác và đầy đủ của một số thư xác nhận gửi tới bên thứ ba, màkiểm toán viên tin rằng sẽ được cung cấp các bằng chứng kiểm toán thích hợp
Khi nhận được thư phúc đáp, kiểm toán viên có thể thẩm định lại nguồn và nộidung của thông tin phản hồi qua điện thoại đối với người gửi thông tin đó Ngoài ra,kiểm toán viên có thể đề nghị người xác nhận gửi bản gốc trực tiếp cho mình thôngqua các hình thức lưu chuyển điện tử như fax hay thư điện tử Sự xác nhận bằng lờinói phải được ghi bằng văn bản Nếu những thông tin xác nhận bằng lời nói là quantrọng, kiểm toán viên nên đề nghị bên liên quan gửi thư xác nhận qua giấy tờ trực tiếptới kiểm toán viên
2.4.2 Thủ tục thay thế và các trường hợp cần áp dụng
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thực hiện các thủ tục kiểm toán khácthay thế khi không nhận được thư xác nhận từ bên ngoài Các thủ tục kiểm toán bổsung đó phải cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các cơ sở dẫn liệucủa báo cáo tài chính mà yêu cầu xác nhận định đưa ra
Trường hợp không nhận được thông tin phản hồi, kiểm toán viên và công tykiểm toán thường phải tiếp xúc với bên đã nhận yêu cầu xác nhận để lấy thông tinphản hồi Nếu vẫn không lấy được, kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ sử dụngcác thủ tục kiểm toán khác thay thế Bản chất của các thủ tục này có thể thay đổi tùythuộc vào tài khoản và cơ sở dẫn liệu liên quan
2.4.3 Tổng hợp, đánh giá kết quả xác nhận, xem xét các ngoại lệ
Khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra kết luận rằng quá trình xácnhận và các thủ tục kiểm toán thay thế không cung cấp đầy đủ các bằng chứng kiểmtoán thích hợp đối với các nội dung cần xác nhận, kiểm toán viên sẽ tiến hành thêmcác thủ tục kiểm toán khác nhằm có được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp vềcác nội dung đó Trong phần kết luận, kiểm toán viên cần chú ý đến những vấn đề sau:
Độ tin cậy của các xác nhận và các thủ tục thay thế;
Bản chất của các ngoại lệ, bao gồm cả các ảnh hưởng, số lượng và chấtlượng của các ngoại lệ này;
Các bằng chứng được cung cấp bởi các thủ tục kiểm toán khác
Dựa trên các đánh giá này, kiểm toán viên sẽ quyết định có cần hay không cầncác thủ tục kiểm toán bổ sung nhằm có được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thíchhợp
Kiểm toán viên cần xem xét đến các nguyên nhân cũng như tần suất của cácngoại lệ được đưa ra bởi các bên phản hồi Một ngoại lệ có thể chỉ ra một sai sót trong
Trang 16các tài liệu kế toán của đơn vị Trường hợp này, kiểm toán viên cần xác định nguyênnhân của sai sót, đồng thời xem xét những ảnh hưởng trọng yếu của nó đến báo cáo tàichính Nếu một ngoại lệ chỉ ra sai sót, kiểm toán viên phải xem xét lại tính chất, lịchtrình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thiết để cung cấp đầy đủ bằng chứngtheo yêu cầu.
Về việc đánh giá kết quả của quá trình gửi thư xác nhận, kiểm toán viên sẽ đánhgiá các kết quả của quá trình gửi thư xác nhận từ bên ngoài và các thủ tục kiểm toánkhác được thực hiện liên quan đến việc xác nhận báo cáo tài chính được kiểm toán Đối với việc đánh giá này, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tuân theo Chuẩnmực kiểm toán số 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác”
3 Các chuẩn mực khác và một số nội dung liên quan tới chuẩn mực 505
3.1 Chuẩn mực 500 – Độ tin cậy của thông tin xác nhận từ bên ngoài và cơ
sở dẫn liệu cần xác nhận”
Theo chuẩn mực 500 về Bằng chứng kiểm toán, xác nhận bên ngoài cung cấpbằng chứng kiểm toán liên quan đến một hoặc một số cơ sở dẫn liệu, phụ thuộc khoảnmục: Khoản phải thu khách hàng, Hàng gửi đi bán,…Bằng chứng kiểm toán từ xácnhận bên ngoài có độ tin cậy cao vì thu thập từ bên thứ ba và dưới dạng văn bản Tuynhiên độ tin cậy này cần được đảm bảo bởi các yếu tố khác
3.2 Chuẩn mực 400 - Việc đánh giá rủi ro khi xem xét mối quan hệ với thủ tục xác nhận
Theo chuẩn mực 400 về Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, việc đánh giá rủi
ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát quy định lịch trình, phạm vi kiểm toán, nội dung và sốlượng bằng chứng kiểm toán
Sau đây là tóm tắt về quy trình đánh giá rủi ro:
Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn là mức độ rủi ro tối đa mà kiểm toán viên dự kiến
có thể chịu đựng được nếu điều rủi ro ấy thực tế xảy ra Mức rủi ro mong muốn phụthuộc vào các yếu tố chủ yếu như mức độ người sử dụng tin tưởng vào báo cáo tàichính hay khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toánđược công bố
Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Theo VSA số 400 về “Đánh giá rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ”: “khi lập
kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềmtàng cho toàn bộ báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Khi lập chương trìnhkiểm toán, kiểm toán viên phải xác định cụ thể mức độ rủi ro tiềm tàng cho các số dưhoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn liệu Trường hợp không xác định
cụ thể được thì kiểm toán viên pahỉ giả định rằng rủi ro tiềm tàng là cao cho cơ sở dẫnliệu đó”
Đánh giá rủi ro kiểm soát
Việc đánh giá rủi ro kiểm soát là đánh giá mức độ yếu kém của hệ thống kiểmsoát nội bộ Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập và vận hành có hiệu quả thìrủi ro kiểm soát được đánh giá là thấp và ngược lại
Quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện qua các bước sau:
Trang 17 Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ (môi trường kiểm soát; hệ thống kếtoán; thủ tục kiểm soát)
Đánh giá sơ bộ ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với từng khoản mục
Thực hiện thử nghiệm kiểm soát đối với những khoản mục và loại nghiệp vụ
mà kiểm toán đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát ở dưới mức tối đa bằng phương phápphỏng vấn, quan sát, thực hiện lại, kiểm tra chứng từ…
Đánh giá lại rủi ro kiểm soát
3.3 Chuẩn mực 240 - Việc xem xét sự tồn tại gian lận và sai sót của Ban giám đốc khi không đồng ý gửi thư xác nhận
Khi Ban giám đốc không đồng ý gửi thư xác nhận, kiểm toán viên cần thiết phảixem xét có hợp lý hay không, thực hiện theo chuẩn mực 240 về Gian lận và sai sót nếukiểm toán viên tin tưởng rằng có gian lận, sai sót trong tình huống này
Đánh giá rủi ro
Khi lập kế hoạch thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro vềnhững gian lận và sai sót có thể có, làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính vàphải trao đổi với Giám đốc đơn vị về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiệnđược Trong đó những tình huống hoặc sự kiện làm tăng rủi ro do gian lận hoặc sai sót
có bao gồm những khó khăn liên quan đến thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thíchhợp, trong đó có trường hợp Ban Giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trìnhkhông thỏa mãn yêu cầu của kiểm toán viên
Phát hiện
Trên cơ sở đánh giá rủi ro, kiểm toán viên phải thiết lập các thủ tục kiểm toánthích hợp nhằmđảm bảo các gian lận và sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáotài chính đều được phát hiện Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểmtoán thích hợp để chứng minh là không có gian lận hoặc sai sót làm ảnh hưởng trọngyếu đến báo cáo tài chính; hoặc nếu có gian lận, sai sót thì đã được phát hiện, được sửachữa hoặc đã trình bày trong báo cáo tài chính và kiểm toán viên phải chỉ ra ảnh hưởngcủa gian lận và sai sót đến báo cáo tài chính
Những thủ tục cần đư ợc tiến hành khi có dấu hiệu gian lận họăc sai sót
Việc thực hiện các thủ tục kiểm toán sửa đổi và bổ sung thường giúp cho kiểmtoán viên khẳng định hoặc xóa bỏ nghi ngờ về gian lận hoặc sai sót Trường hợp kếtquả của các thủ tục sửa đổi và bổ sung không xóa bỏ được nghi ngờ về gian lận và saisót, thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thảo luận vấn đề này với Ban Giámđốc đơn vị được kiểm toán và phải đánh giá ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính
và báo cáo kiểm toán
Trang 183.4 Chuẩn mực 530 - Lấy mẫu kiểm toán và đánh giá kết quả của quá trình gửi thư xác nhận
Kiểm toán viên phải tuân theo chuẩn mực 530 về Lấy mẫu kiểm toán và các thủtục lựa chọn khác đối với việc đánh giá kết quả của quá trình gửi thư xác nhận
3.4.1.Lựa chọn phần tử thử nghiệm để thu thập bằng chứng kiểm toán
Khi thiết kế các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định các phươngpháp thích hợp để lựa chọn các phần tử kiểm tra dựa trên sơ sở đánh giá rủi ro kiểmtoán và hiệu quả của cuộc kiểm toán Các phương pháp có thể được lựa chọn là: Chọntoàn bộ (kiểm tra 100%); Lựa chọn các phần tử đặc biệt và Lấy mẫu kiểm toán
Chọn toàn bộ (kiểm tra 100%)
Kiểm toán viên có thể quyết định kiểm tra toàn bộ các phần tử cấu thành một số
dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ (hoặc một nhóm trong tổng thể) Kiểm tra 100%
là thích hợp trong một số trường hợp sau:
Những tổng thể có ít phần tử nhưng giá trị của từng phần tử lớn;
Khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều rất cao và các phương pháp khác không thể cung cấp đầy đủ bằng chứng thích hợp;
Khi việc tính toán thường lặp lại hoặc các quy trình tính toán khác có thểthực hiện bởi hệ thống máy vi tính làm cho việc kiểm tra 100% vẫn có hiệu quả về mặt chi phí;
Đơn vị được kiểm toán có dấu hiệu kiện tụng, tranh chấp;
Theo yêu cầu của khách hàng
Lựa chọn các phần tử đặc biệt
Kiểm toán viên có thể quyết định lựa chọn các phần tử đặc biệt từ tổng thể dựatrên các nhân tố như sự hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, đánh giá banđầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như các đặc điểm của tổng thể đượcthử nghiệm Các phần tử đặc biệt có thể bao gồm:
Các phần tử có giá trị lớn hoặc quan trọng như bất thường, có khả nghi, rủi
ro cao hoặc thường có sai sót trước đây
Tất cả các phần tử có giá trị từ một khoản tiền nào đó trở lên nhằm kiểm tra một bộ phận lớn trong toàn bộ giá trị của một số dư tài khoản hoặc một loại nghiệp vụ
Các phần tử thích hợp cho mục đích thu thập thông tin về những vấn đề như tình hình kinh doanh, nội dung các nghiệp vụ, hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán
Các phần tử cho mục đích kiểm tra các thủ tục nhằm xác định một thủ tục kiểm soát nội bộ có được thực hiện hay không
Việc kiểm tra dựa trên lựa chọn các phần tử đặc biệt từ một số dư tài khoảnhoặc một loại nghiệp vụ thường là một phương pháp hiệu quả để thu thập bằng chứngkiểm toán, nhưng không được xem là lấy mẫu kiểm toán Kiểm toán viên phải xem xétviệc thu thập bằng chứng liên quan đến các phần tử còn lại của tổng thể nếu các phần
tử còn lại này được coi là trọng yếu
Lấy mẫu kiểm toán
Kiểm toán viên có thể quyết định áp dụng lấy mẫu kiểm toán cho một số dư tàikhoản hoặc một loại nghiệp vụ Lấy mẫu kiểm toán có thể áp dụng phương pháp thống
kê hoặc phương pháp phi thống kê tuỳ thuộc vào việc xét đoán nghề nghiệp của kiểm
Trang 19toán viên xem phương pháp nào có hiệu quả hơn để thu thập được đầy đủ bằng chứngkiểm toán thích hợp trong từng trường hợp cụ thể
Khi áp dụng lấy mẫu thống kê, cỡ mẫu có thể xác định bằng cách sử dụng lýthuyết xác suất thống kê hay sự xét đoán nghề nghiệp Khi áp dụng lấy mẫu phi thống
kê, kiểm toán viên vẫn có thể sử dụng các yếu tố của lấy mẫu thống kê
Khi thiết kế mẫu kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét các mục tiêu thửnghiệm và các thuộc tính của tổng thể dự định lấy mẫu.Kiểm toán viên phải xác địnhcác mục tiêu cụ thể và xem xét việc kết hợp các thủ tục kiểm toán để đạt được các mụctiêu đó Việc xem xét loại bằng chứng kiểm toán cần thu thập và những điều kiện cóthể phát sinh sai sót hoặc các đặc điểm khác liên quan đến các bằng chứng kiểm toán
đó sẽ giúp kiểm toán viên xác định tình trạng sai sót và tổng thể dùng để lấy mẫu
Kiểm toán viên phải xác định các điều kiện gây ra sai sót liên quan đến cácmục tiêu thử nghiệm Khi dự đoán hoặc kết luận các sai sót trên tổng thể phải xem xétđến các điều kiện gây ra sai sót Khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viênthường đánh giá sơ bộ tỷ lệ sai sót dự tính phát hiện được trong tổng thể được thửnghiệm và mức rủi ro kiểm soát Sự đánh giá này dựa trên hiểu biết trước đó của kiểmtoán viên hoặc thông qua việc kiểm tra một số phần tử của tổng thể Tương tự trongthử nghiệm cơ bản, kiểm toán viên thường đánh giá sơ bộ số tiền sai sót trong tổng thể.Các đánh giá sơ bộ sẽ có ích trong việc thiết kế mẫu và xác định độ lớn của mẫu
Khi lấy mẫu, kiểm toán viên cần đảm bảo tổng thể phải phù hợp với mục đíchcủa thủ tục lấy mẫu và đầy đủ
Về việc phân nhóm, hiệu quả cuộc kiểm toán sẽ tăng lên nếu kiểm toán viên
phân nhóm một tổng thể bằng cách chia tổng thể thành các nhóm riêng biệt có cùngtính chất Mục đích của việc phân nhóm là làm giảm tính biến động của các phần tửtrong mỗi nhóm để làm giảm cỡ mẫu mà rủi ro lấy mẫu không tăng tương ứng Tínhchất của các nhóm cần được xác định rõ ràng để cho một đơn vị lấy mẫu chỉ thuộc vềmột nhóm duy nhất Kết quả mẫu của nhóm nào thì chỉ được dùng để dự đoán sai sótcho nhóm đó Để đưa ra kết luận cho tổng thể, kiểm toán viên cần xem xét rủi ro vàtính trọng yếu liên quan đến các nhóm khác trong tổng thể
Về cỡ mẫu, kiểm toán viên phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương
pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu Cỡ mẫuchịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán Rủi ro có thể chấp nhận được càng thấp, thì
cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn Cỡ mẫu được xác định theo phương pháp thống kê hoặcxét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên phải khách quan trong mọi trường hợp
Về việc lựa chọn các phần tử của mẫu, kiểm toán viên phải lựa chọn các phần
tử của mẫu sao cho tất cả các đơn vị lấy mẫu trong tổng thể đều có cơ hội được chọn.Lấy mẫu thống kê đòi hỏi các phần tử được chọn vào mẫu một cách ngẫu nhiên để mỗiđơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được chọn như nhau Đơn vị lấy mẫu có thể là hiện vật(Ví dụ: hoá đơn) hoặc đơn vị tiền tệ Theo phương pháp lấy mẫu phi thống kê, kiểmtoán viên sử dụng xét đoán nghề nghiệp để chọn các phần tử của mẫu Mục đích lấymẫu là để rút ra kết luận về tổng thể nên kiểm toán viên cần lựa chọn mẫu đại diệngồm các phần tử mang đặc điểm tiêu biểu của tổng thể, tránh thiên lệch, chủ quan
Phương pháp chủ yếu để lựa chọn các phần tử của mẫu là sử dụng bảng số ngẫunhiên hoặc chương trình chọn số ngẫu nhiên, lựa chọn theo hệ thống hoặc lựa chọn bất
kỳ
Trang 203.4.2 Đánh giá kết quả mẫu
Trước hết kiểm toán viên cần xem xét bản chất và nguyên nhân của sai sót vàảnh hưởng của các sai sót đó đối với từng mục tiêu thử nghiệm cụ thể cũng như đốivới những khâu khác của cuộc kiểm toán
Khi phân tích những sai sót đã được phát hiện, kiểm toán viên có thể nhận thấynhiều sai sót có đặc điểm chung có thể do cố ý và có khả năng có gian lận và kiểmtoán viên phải mở rộng thủ tục kiểm toán
Khi kiểm toán viên chứng minh được một sai sót phát sinh từ một sự kiện cábiệt mà sự kiện này không lặp lại trừ khi xảy ra những tình huống đặc biệt thì sai sótnày không đại diện cho những sai sót trong tổng thể Để khẳng định sai sót là cá biệt,kiểm toán viên phải thực hiện một số công việc bổ sung đủ để khẳng định rằng sai sótkhông ảnh hưởng đến phần còn lại của tổng thể
Kiểm toán viên phải đánh giá kết quả mẫu để khẳng định tính phù hợp và đầy
đủ của tổng thể hoặc quyết định xem có cần phải điều chỉnh cho phù hợp không?
Khi đánh giá kết quả lấy mẫu dẫn đến phải điều chỉnh những đánh giá ban đầucủa kiểm toán viên về tính chất của tổng thể thì kiểm toán viên cần phải:
Đề nghị Giám đốc đơn vị được kiểm toán kiểm tra lại những sai sót đãphát hiện và những sai sót còn có thể có và thực hiện những điều chỉnhcần thiết
Điều chỉnh thủ tục kiểm toán đã định
Xem xét ảnh hưởng của nó đến Báo cáo kiểm toán
Trang 21Phần 2 THỰC TẾ ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN SỐ 505 – THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI CỦA CÔNG TY
TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN ABC
I Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán ABC
1. Quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán ABC
Tên giao dịch bằng tiếng Anh:
Qua 18 năm hoạt động, ABC đã xây dựng được đội ngũ kiểm toán viên chuyênnghiệp, có kỹ năng hành nghề thành thạo và tuân thủ tốt các chuẩn mực đạo đứcchuyên nghiệp Trong những năm gần đây, đặc biệt là khi trở thành thành viên củaPolaris International, ABC đã đẩy nhanh tiến trình quốc tế hóa đội ngũ kiểm toán viênchuyên nghiệp
Với tư cách thành viên Polaris International, ABC có cơ hội tiếp cận mạng lướikhách hàng toàn cầu được chuyển tiếp giữa các hãng thành viên trong tổ chức Đặcbiệt là sự hỗ trợ về đào tạo định kỳ do Polaris International tổ chức
ABC cung cấp đầy đủ các loại dịch vụ chuyên ngành về kiểm toán và tư vấn tàichính kế toán, ABC được phép kiểm toán tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế, kể cả các ngành có quy chế riêng về việc lựa chọn và bổ nhiệmkiểm toán độc lập có điều kiện, như: Kiểm toán các tổ chức niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán, các công ty đại chúng, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứngkhoán…
Hiện tại ABC đang thực hiện cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho hơn
1000 khách hàng trên toàn quốc Theo thống kê hàng năm của Hội Kiểm toán viênhành nghề Việt Nam (VACPA), ABC nằm trong nhóm 10 công ty kiểm toán có số
Trang 22lượng khách hàng lớn nhất tính trên 160 công ty kiểm toán đang hoạt động tại ViệtNam Khách hàng của ABC là các doanh nghiệp và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh
tế trong cả nước, trong đó có 70 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, 230công ty đại chúng, 150 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức và dự án quốctế; hơn 50 Ban giám đốc Quản lý các dự án XDCB chuyên ngành và khoảng hơn 500công ty thuộc các loại hình doanh nghiệp khác
Bên cạnh việc phát triển khách hàng, ABC luôn quan tâm đầu tư phát triểnnguồn nhân lực, 100% đội ngũ nhân viên ABC đã tốt nghiệp đại học Trong đó có60% có bằng đại học thứ 2 hoặc các chứng chỉ nghiệp vụ chuyên sâu về kiểm toán, kếtoán, ngoại ngữ, tin học…, hơn 15% đã tốt nghiệp cao học tại các trường đại học ởViệt Nam và tại các quốc gia tiên tiến như Úc, Nhật Bản, Ireland, Bỉ
Trong quá trình hoạt động, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp được cập nhậtkiến thức định kì hàng năm theo từng cấp độ khác nhau Phần lớn các kiểm toán viênhàng đầu của ABC được đào tạo trực tiếp bởi các chuyên gia cao cấp về Kiểm toáncủa Cộng đồng Châu Âu thông qua dự án EURO – TAPVIET, được đào tạo và traođổi nguồn nhân lực từ Polaris International và các hãng thành viên Hiện nay, theothống kê của VACPA thì ABC nằm trong nhóm 10 công ty kiểm toán trên toàn quốc
có số lượng kiểm toán viên cấp quốc gia nhiều nhất
2. Phương châm hoạt động và phương hướng phát triển
ABC hoạt động theo phương châm “Độc lập, khách quan, trung thực và bí mật
số liệu khách hàng” và đó cũng là lời cam kết của ABC đối với khách hàng Mục tiêuhoạt động của ABC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảo vệ quyền lợihợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin thiết thực và các giải pháp tối ưucho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh; tư vấn hoàn thiện hệ thống kiểmsoát nội bộ, điều hành dự án cũng như việc lựa chọn và đưa ra các quyết định đầu tưphù hợp với thực tiễn
Với ABC, Lợi ích và niềm tin của khách hàng là thước đo của chất lượng dịch
vụ của ABC Trong quá trình hoạt động, ABC đã được các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức nghề nghiệp và cộng đồng đánh giá cao về chất lượng dịch vụ
ABC đã được Bộ công thương bình chọn là một trong năm công ty kiểm toán
tốt nhất Việt Nam năm 2007, được trao cúp Thương mại dịch vụ - Top trade Services
trong các năm 2007, 2008 Năm 2009, ABC được Đài tiếng nói Việt Nam, Bộ Côngthương, Bộ Lao động thương binh xã hội, Bộ Y tế, Bộ Truyền thông và Thông tin, Bộ
Văn hóa – Thông tin – Du lịch bình chọn và trao cúp vàng Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu; được Hiệp hội kinh doanh Chứng khoán Việt Nam (VASB), Tạp chí Chứng
khoán Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Trung tâm thông tin Tín dụng Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (CIC) trao tặng danh hiệu Tổ chức kiểm toán công ty niêm yết uy tín.
3. Chức năng và lĩnh vực hoạt động
Bốn năm sau thời gian chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Tàichính sang mô hình Công ty TNHH hoạt động độc lập, ABC đã từng bước khẳng địnhnăng lực và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam Hoạt động của ABCngày càng đi vào chiều sâu với sự chú trọng vào các lĩnh vực dịch vụ mang tính giá trịgia tăng cao như tư vấn tài chính, tư vấn thuế, dịch vụ tin học, tư vấn quản lý và đào
Trang 23tạo song song với việc không ngừng hoàn thiện các dịch vụ kiểm toán và đảm bảotruyền thống:
Kiểm toán:
Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB
Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án
Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế
Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán Thông tin tài chính trên cơ sơ thủ tục thỏa thuận trước
Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán xây dựng cơ bản là haimảng kiểm toán chủ yếu của công ty
Kế toán:
Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán
Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán
Lập báo cáo tài chính định kỳ
Chuyển đổi các báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS
Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán cho các đơn vị
Tư vấn thuế:
Tư vấn việc áp dụng chính sách thuế
Tư vấn lập kế hoạch thuế
Tư vấn công khai kê khai và quyết toán thuế
Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế
Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan
Tư vấn tài chính và quản lý
Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp
Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ
Tư vấn việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán – tài chính phù hợp với yêu cầuquản lý
Soát xét báo cáo tài chính
Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá hoặc phá sản doanh nghiệp
Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản tranh chấp, kiện tụng
Dịch vụ đào tạo và tuyển dụng
Đào tạo, bồi dưỡng kế toán và kiểm toán viên nội bộ
Cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán
Hỗ trợ tuyển dụng nhân viên kế toán và kiểm toán nội bộ
Trang 24Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức nhân sự
NHÂN SỰ
Trang 25 Tổng giám đốc: Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệm
trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty:
Đánh giá rủi ro của một hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động củacông ty
Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty
Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quantrọng
Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện
Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và thư quản lý
Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộckiểm toán hoặc ủy quyền lại
Trưởng, phó phòng:
Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và đóng vai trò quantrọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trongban quản lý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa Tổng Giám Đốc, banquản lý và các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đếnnhân sự, phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính
Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt trưởngphòng điều hành toàn bộ công việc trong thời gian trưởng phòng đi vắng và thực hiệncác công việc do trưởng phòng uỷ quyền
Kiểm toán viên chính:
Giám sát công việc của các trợ lý
Báo cáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một vụ việc kiểm toán
Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sựcho các cuộc kiểm toán
Được ký vào các báo cáo kiểm toán theo sự phân công của trưởng phòng
Trợ lý kiểm toán viên: Là những người tham gia thực hiện công tác kiểm
toán nhưng chưa được Nhà nước công nhận trúng tuyển kỳ thi Kiểm toán viên cấpQuốc gia Tùy vào năng lực, thâm niên công tác mà trợ lý kiểm toán viên chia làm bacấp:
Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người sau thời gian thử việc ba tháng, đượctrúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó Theo thông lệ, nhữngngười mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học và nhữngngười có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thểlàm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào nghề
Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được hainăm chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó
Trang 26 Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được ba năm, cónhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán.
II Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại ABC
Hiện nay, công ty đang áp dụng chương trình kiểm toán mẫu do Hội kiểm toánviên hành nghề Việt Nam VACPA ban hành Chương trình kiểm toán gồm các giai
đoạn sau:
Bảng3: Quy trình kiểm toán do VACPA ban hành
Qua sơ đồ trên cho thấy:
Một cuộc kiểm toán được tiến hành qua 03 giai đoạn: (1) Lập kế hoạch kiểm toán; (2) Thực hiện kiểm toán và (3) Tổng hợp, kết luận và lập báo cáo
Hai cột màu hồng nằm dọc có ý nghĩa: Toàn bộ cuộc kiểm toán được thực hiện trên cơ sở tuân thủ Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam, các thông
lệ kiểm toán quốc tế được Việt Nam thừa nhận, tuân thủ quy định của Tập đoàn Polaris và phù hợp với chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành
Hai cột màu hồng nằm ngang cho thấy rằng: Xuyên suốt cả 03 giai đoạn,kiểm toán viên và công ty kiểm toán luôn phải đề cao công tác xác định, đánh giá và quản lý rủi ro
Trang 27 Trong từng giai đoạn kiểm toán, tầm quan trọng của các bước thực hiện thể hiện qua mức độ đậm nhạt của các ô màu.
Sau đây là ý nghĩa, tác dụng và nội dung tổng quát của mỗi giai đoạn trongcuộc kiểm toán:
1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Việc lập kế hoạch kiểm toán là để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành mộtcách có hiệu quả Một kế hoạch kiểm toán được xem là hiệu quả khi nó thể hiện baoquát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, phát hiện gian lận, rủi ro vànhững vấn đề tiềm ẩn, và đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn Kếhoạch kiểm toán trợ giúp kiểm toán viên phân công công việc phù hợp cho trợ lý kiểmtoán và phối hợp với kiểm toán viên và các chuyên gia khác để có cuộc kiểm toán tiếnhành đúng tiến độ, khoa học, chặt chẽ và quản lý được rủi ro
Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm toàn bộ quá trình từ khi khảo sát, tìm hiểu sơ
bộ về khách hàng và đánh giá rủi ro hợp đồng, chấp nhận khách hàng, lập hợp đồngkiểm toán, chuẩn bị nguồn nhân lực tham gia hợp đồng, tìm hiểu khách hàng và môitrường hoạt động, tìm hiểu chính sách kế toán và các chu trình kinh doanh quan trọng,phân tích sơ bộ báo cáo tài chính, xác định mức trọng yếu Kiểm toán viên phải thảoluận với kiểm toán viên nội bộ, lãnh đạo và các nhân sự có liên quan của đơn vị đượckiểm toán về kế hoạch kiểm toán, các thủ tục kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả cuộckiểm toán thông qua sự phối hợp công việc với nhua Từ kết quả tìm hiểu, đánh giácác vấn đề trên, kiểm toán viên có những xét đoán nghề nghiệp về hệ thống kiểm soátnội bộ của khách hàng, xác định những vùng trọng tâm, có thể xảy ra rủi ro Qua đó,thiết lập phạm vi, lịch trình và các thủ tục kiểm toán thích hợp, phân công công việcphù hợp với năng lực của các thành viên trong đoàn nhằm kiểm soát được các rủi rohoặc đảm bảo các rủi ro có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính đều được pháthiện
2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán là việc triển khai kế hoạch kiểm toán bằng cách tiến hànhcác thủ tục kiểm toán, thu thập các bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ nhằmlàm cơ sở để đưa ra ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên thực hiện thử nghiệm kiểm soát và thửnghiệm cơ bản
Thử nghiệm kiểm soát là loại thử nghiệm để thu thập bằng chứng về tính hoạtđộng hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn ngừa, phát hiện và sửachữa các gian lận sai sót đối với từng chu trình kinh doanh
Thử nghiệm cơ bản là loại thử nghiệm bao gồm các thủ tục để thu thập bằngchứng nhằm phát hiện các sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính Có hai loại thửnghiệm cơ bản là thủ tục phân tích (kiểm toán viên so sánh các thông tin và nghiên cứucác xu hướng để phát hiện các biến động bất thường) và thử nghiệm chi tiết (kiểm toánviên đi sâu vào việc kiểm tra các số dư hoặc nghiệp vụ phát sinh thông qua chứng từ
kế toán hoặc bằng chứng kiểm toán)
Trong nhiều trường hợp, ABC sẽ sử dụng cách tiếp cận dựa trên các thử nghiệmkiểm soát Theo đó, ABC sẽ phỏng vấn các cá nhân liên quan; kiểm tra các tài liệu liênquan; quan sát hoạt động của các chu trình và nghiệp chính; thử nghiệm lại và thu thập
bổ sung một số bằng chứng về các thủ tục kiểm soát xem chúng có hoạt động, và hoạt
Trang 28động có hiệu quả không Nếu thử nghiệm này cho kết quả là hệ thống kiểm soát nội bộhoạt động hữu hiệu thì kiểm toán viên có cơ sở đưa ra kết luận thực hiện kiểm tra cơbản ở mức độ trung bình hoặc thấp Ngược lại, ABC sẽ tiến hành các thử nghiệm cơbản ở mức độ cao.
Khi kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, nếu chỉ tiêu được lựa chọn để xácđịnh mức trọng yếu biến động quá lớn thì kiểm toán viên phải xác định lại mức trọngyếu và cân nhắc xem có cần thực hiện bổ sung thêm thủ tục kiểm toán hay không
3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Kết thúc kiểm toán là giai đoạn tổng hợp và rà soát lại về những bằng chứng đãthu thập được để kiểm toán viên hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán
Ở giai đoạn này, giám đốc kiểm toán và kiểm toán viên chính thực hiện côngtác soát xét giấy làm việc chi tiết, tổng hợp các sai sót xảy ra trong quá trình kiểmtoán, họp trao đổi với bộ phận kế toán và lãnh đạo của đơn vị được kiểm toán, cơ quanquản lý; thống nhất với khách hàng các bút toán điều chỉnh, tổng hợp các sai sót chưađiều chỉnh và so sánh với mức trọng yếu của cuộc kiểm toán, thảo luận các vấn đề sẽghi vào báo cáo kiểm toán, phân tích tổng thể báo cáo tài chính lần cuối, thu thập thưgiải trình của Ban giám đốc khách hàng (nếu có), phát hành bản thảo, phát hành báocáo kiểm toán chính thức Phát hành thư quản lý về các phát hiện liên quan đến điểmyếu của hệ thống kiểm soát nội bộ, các giải pháp và tư vấn hữu ích để khắc phục
III Thực tế áp dụng chuẩn mực số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài tại ABC
1. Xem xét sự cần thiết của việc sử dụng thủ tục xác nhận thông tin từ bên ngoài
1.1 Các khoản mục và cơ sở dẫn liệu cần xác nhận từ bên ngoài
Việc xác định cơ sở dẫn liệu nào được xác nhận khi sử dụng thông tin xác nhậnbên ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xem xét sự cần thiết của thủ tục và vịtrí của thủ tục này trong quá trình thu thập bằng chứng cho cơ sở dẫn liệu cho báo cáotài chính trong mối liên hệ với các thủ tục kiểm toán khác Và quan trọng là từ đó kiểmtoán viên có thể làm giảm được rủi ro kiểm toán xuống mức thấp có thể chấp nhậnđược hay không?
Tại ABC, số dư các khoản mục mà kiểm toán viên thường quan tâm xác nhậnthông tin từ bên ngoài là:
o Tiền gửi ngân hàng: nguyên tệ và ngoại tệ
o Các khoản phải thu khách hàng ngắn hạn và dài hạn
o Các khoản phải thu nội bộ
o Các khoản phải thu khác
o Các khoản tạm ứng nhân viên
o Hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng nhận bán hộ, nhận ký gửi, kýcược
o Hàng gửi bán
o Các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, nợ dài hạn đến hạn trả
o Các khoản phải trả người bán
o Các khoản phải trả nội bộ
Trang 29o Khoản đầu tư đến bên thứ 3
Trong đó, thực tế cho thấy kiểm toán viên tại ABC chủ yếu quan tâm xác nhận
là các khoản phải thu khách hàng, các khoản vay, số dư tiền gửi ngân hàng Tuy nhiên,những nhận xét trên đây chỉ dựa vào một thực tế là: các khoản mục còn lại thường thìcông ty khách hàng đã có những xác nhận trước đó Những trường hợp ngoại lệ vẫnxảy ra tùy vào từng công ty khách hàng
Bằng chứng kiểm toán phải đáp ứng cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính làHiện hữu, Quyền và nghĩa vụ, Phát sinh, Đầy đủ, Đánh giá, Chính xác, Trình bày vàcông bố Thủ tục xác nhận từ bên ngoài có thể cung cấp bằng chứng kiểm toán liênquan đến những cơ sở dẫn liệu nhất định Mục tiêu của kiểm toán viên gửi thư xácnhận là để đối chiếu số trên sổ sách của đơn vị đang theo dõi có đúng hay không tức làhướng đến việc xác nhận cơ sở dẫn liệu tùy vào từng khoản mục khác nhau, và đồngthời cũng hướng đến một hoặc một số mục tiêu kiểm toán trong quá trình lựa chọnthông tin xác nhận
Sau đây là cơ sở dẫn liệu tương ứng đối với hai khoản mục mà ABC thườngquan tâm xác nhận khi tiến hành gửi thư xác nhận đối với khoản mục đó:
Bảng 4: Bảng cơ sở dẫn liệu cần xác nhận theo khoản mục
Khoản mục được xác nhận số dư Cơ sở dẫn liệu được xác nhận
Khoản phải thu
Sự hiện hữuHạch toán đúng kỳGhi chép chính xác
Sự đầy đủHàng gửi bán
Sự hiện hữuQuyền và nghĩa vụGhi chép chính xác
Sự đầy đủABC có những thủ tục thay thế hoặc thủ tục bổ sung cho thủ tục xác nhận khiviệc xác nhận không thu thập đầy đủ bằng chứng cho cơ sở dẫn liệu Tuy nhiên nhữngthủ tục này chỉ áp dụng đối với một số khoản mục nhất định như công nợ phải thu,phải trả…Còn lại, các khoản mục khác bao gồm số dư tiền gửi ngân hàng, khoản đầu
tư bên thứ 3, các khoản phải thu nội bộ và phải thu khác ngắn hạn và dài hạn, hàng gửibán, số dư tạm ứng, tài sản ngắn hạn và dài hạn khác, phải trả nội bộ và phải trả khácngắn hạn và dài hạn, hàng hóa giữ hộ, nhận gia công, hàng nhận bán hộ, nhận ký cược
ký gửi hầu như không có thủ tục thay thế trực tiếp Với các khoản mục này, các thủ tụckhác cũng đã đáp ứng đầy đủ việc xác nhận cơ sở dẫn liệu
Thực tế cho thấy, ABC không đặt nặng quá nhiều vấn đề xem xét cơ sở dẫn liệu nào sẽ được xác nhận thông qua thủ tục gửi thư cho bên thứ 3 Các chương trình kiểm toán mà ABC áp dụng có đòi hỏi về thủ tục nhưng thực tế rất ít khi kiểm toán viên áp dụng đầy đủ Việc các cơ sở dẫn liệu có được đáp ứng hay không không được đề cao trừ phi rủi ro quá lớn Điều này tuy làm giảm được thời gian và chi phí nhưng trong một số trường hợp có thể gây ra rủi ro kiểm toán Và đối với thủ tục gửi thư xác nhận thì chủ yếu là kiểm toán viên thu thập bằng chứng cho cơ sở dẫn liệu sự hiện hữu đối với hầu hết các khoản mục.
Trang 301.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán
Cùng với việc xác lập mức trọng yếu, đánh giá rủi ro kiểm toán nhằm xác địnhđược quy mô kiểm toán và các thủ tục cần áp dụng trong thử nghiệm cơ bản, trong đó
có thủ tục gửi thư xác nhận Việc đánh giá rủi ro còn có ý nghĩa vận dụng cho quátrình chọn mẫu, kỹ thuật cần thiết được sử dụng khi quy mô đối tượng gửi thư quá lớnkhông thể chọn mẫu phi thống kê
1.2.1. Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Tại ABC, việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên toàn bộ báo cáo tài chính và trêntừng khoản mục không được thể hiện trên giấy tờ làm việc
a Trên toàn bộ báo cáo tài chính
Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phạm vi toàn bộ báo cáo tài chính được
kiểm toán viên lồng vào khi đánh giá khả năng chấp nhận hợp đồng kiểm toán được
thể hiện trên chương trình kiểm toán mẫu A110 đối với khách hàng mới hoặc A120
đối với khách hàng cũ, và tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động ở chương
trình A310
Trong đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán, dù là khách hàng đã từngkiểm toán trước đó hay chưa, ABC đều đưa ra 3 mức đánh giá rủi ro hợp đồng kiểmtoán là cao, trung bình và thấp
Trường hợp rủi ro kiểm toán được đánh giá là thấp thì cuộc kiểm toánđược chấp nhận mà không có sự xem xét gì thêm
Trường hợp rủi ro kiểm toán được đánh giá là trung bình thì trưởngnhóm phụ trách hợp đồng thu thập thêm sự đồng ý của trưởng phòngkiểm toán, phù hợp với chính sách và thủ tục trong công ty
Trường hợp rủi ro kiểm toán được đánh giá là cao thì Giám đốc phảixem xét đưa ra kết luận cuối cùng
ABC đã xây dựng chính sách đánh giá rủi ro hợp đồng căn cứ vào các yếu tốngành nghề, mức độ quan tâm của công chúng, hiểu biết ngành nghề, trình độ côngnghệ và đặc thù của nguồn nhân lực để đưa ra hướng dẫn về đánh giá mức độ rủi rohợp đồng
Thông thường, một hợp đồng có mức độ rủi ro cao khi có một trong các đặcđiểm sau:
o Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
o Công ty đại chúng
o Công ty có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục
o Công ty có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng
o Có nghi ngờ về tính chính trực của Ban giám đốc/Ban Quản trị
o Ban giám đốc công ty có sức ép lớn phải hoàn thành các chỉ tiêu tài chínhnăm
o Công ty đang có kiện tụng, tranh chấp
o Công ty đang có kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước
o Các năm trước có lãi lớn nhưng năm nay bị lỗ lớn
o Báo cáo tài chính có nhiều khoản nợ phải trả lớn, đầu tư tài chính dài hạnlớn, nhiều hoạt động liên doanh, liên kết…lớn
o Thường xuyên thay đổi Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Kế toán trưởng
Trang 31Mức độ đánh giá rủi ro hợp đồng làm cơ sở cho việc bố trí nhân sự kiểm toán,
thời gian kiểm toán và đặc biệt là cân nhắc khi xác định mức trọng yếu Tất cả các
vấn đề này thuộc về xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Khi tìm hiểu về khách hàng và môi trường hoạt động, kiểm toán viên thực hiệntìm hiểu và điền thông tin hiểu biết về những nhân tố bên trong và bên ngoài tác độngđến doanh nghiệp Nội dung và phạm vi của thông tin cần tìm hiểu đã được hướng dẫnchi tiết ngay trong từng mục của giấy tờ làm việc A310 Cuối cùng kiểm toán viên cầnxác định ra những giao dịch bất thường cần quan tâm, các rủi ro trọng yếu liên quantới toàn bộ báo cáo tài chính và tài khoản cụ thể
Các rủi ro có thể phát hiện trong quá trình hoàn thành mẫu A310 sẽ được tổnghợp và ghi nhận vào ô tương ứng Các rủi ro trọng yếu cần được kiểm toán viên thiết
kế các thủ tục kiểm tra cơ bản để xác định
Kiểm toán viên sẽ thu thập những thông tin liên quan đến:
o Môi trường kinh doanh chung, môi trường pháp lý mà doanh nghiệp hoạtđộng
o Ngành nghề kinh doanhcủa doanh nghiệp
o Hoạt động và tình hình kinh doanh
o Cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp
o Các thay đổi lớn về quy mô hoạt động của doanh nghiệp
o Hiểu biết về hệ thống kế toán áp dụng
Việc thu thập các thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh của đơn vị là mộtquá trình bao gồm thu thập, đánh giá và đối chiếu thông tin thu thập được với các bằngchứng Tuy nhiên, thời gian thu thập những thông tin này phụ thuộc vào quy mô củađơn vị được kiểm toán, những kinh nghiệm và hiểu biết trước đây của kiểm toán viên
về đơn vị được kiểm toán.Các thông tin chung về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động kinhdoanh cũng như các thông tin liên quan đến các chính sách kế toán được áp dụng sẽgiúp kiểm toán viên có thể xác định được các rủi ro tiềm tàng trên phương diện báocáo tài chính Và theo đó, kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro tiềm tàng cao nếu sựthu thập hiểu biết về khách hàng cho thấy các điều kiện sau:
Hoạt động trong ở những ngành nghề chứa đựng nhiều rủi ro
Hoạt động trong môi trường với mức độ phức tạp cao của các qui định cóliên quan
Sự thay đổi về ngành nghề hoạt động kinh doanh của đơn vị
Có sự thay đổi lớn trong cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp như tái tổchức lại hay có các sự kiện bất thường diễn ra
Thiếu các nhân sự chủ chốt về mặt tài chính
Sự thay đổi của hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến việc báo cáothông tin tài chính
Sự áp dụng các nguyên tắc kế toán mới…
Minh họa đánh giá rủi ro tiềm tàng theo mẫu A310 (xem phụ lục 1 đối với công
ty Cổ phần QT:
Tên khách hàng: công ty Cổ phần QTĐịa chỉ: số 51, đường Lê Lợi, Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng TrịĐiện thoại: (84)053.3825561; 3852288 Fax: (84)053.3850675Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
Ngành nghề kinh doanh: In, phát hành sách và thiết bị trường học
Trang 32Vốn điều lệ: 5.000.000.000 đồng
Những thông tin thu thập được ở bước này sẽ giúp kiểm toán viên có hiểu biết chung về doanh nghiệp, nhận định những rủi ro tiềm tàng liên quan đến lĩnh vực kinh doanh đó của khách hàng Trong thực tế, trong cuộc kiểm toán năm đầu tiên tại khách hàng kiểm toán viên mới chú trọng đến quá trình này còn trong các cuộc kiểm toán năm tiếp theo, các kiểm toán viên thường ít chú trọng mà chủ yếu sử dụng lại những thông tin đã thu thập được trong năm trước.
b Trên từng khoản mục
Để đưa ra những đánh giá hợp lý về rủi ro tiềm tàng trên từng khoản mục số dưtài khoản, kiểm toán viên thường dựa vào các nhân tố sau:
Bản chất và quy mô của các số dư tài khoản
Mức độ biến động, phức tạp và thường xuyên của từng loại tài khoản
Các nghiệp vụ kinh tế, sự kiện không thường xuyên hoặc bất thường
Tại ABC rủi ro tiềm tàng cho từng khoản mục không được thể hiện cụ thể trêngiấy làm việc của kiểm toán viên mà qua sự xét đoán, đánh giá của kiểm toán viên đốivới sự biến động và số dư của các khoản mục trong năm tài chính Tài khoản nào có sựbiến động lớn, bất thường hoặc số dư nhiều thì kiểm toán viên đánh giá là khoản mụctrọng yếu và cần xem xét kĩ
Ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro tiềm tàng theo khoản mục có ý nghĩa giúpkiểm toán viên nhận định về số lượng bằng chứng cần thu thập đối với từng khoảnmục Nếu khoản mục có rủi ro tiềm tàng lớn thì dĩ nhiên phải tăng thử nghiệm kiểmtoán nhằm hạn chế rủi ro cho cuộc kiểm toán Nói riêng ra thì thủ tục gửi thư xác nhận
sẽ càng được chú trọng nếu khoản mục đó có độ rủi ro cao bởi mức độ tin cậy củabằng chứng từ thủ tục xác nhận bên ngoài sẽ giúp kiểm toán viên đảm bảo được rủi ronhư mong muốn đối với cuộc kiểm toán (nội dung này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau
Chẳng hạn như, đối với công ty Cổ phần QT, các khoản mục được đánh giá có
rủi ro tiềm tàng cao là: Tiền mặt, phải thu khách hàng, hàng tồn kho, doanh thu, chiphí
Từ nhận định này, kiểm toán viên có những lưu ý trong quá trình kiểm toán,nhằm tập trung thu thập bằng chứng kiểm toán đối với khoản mục có độ rủi ro cao Ởđây, khoản mục phải thu khách hàng có rủi ro tiềm tàng cao, nên kiểm toán viên cầnđảm bảo các thủ tục thu thập bằng chứng đối với khoản mục này được thực hiện và thuđược bằng chứng tốt đáp ứng được mục tiêu kiểm toán Việc gửi thư xác nhận cầnđược đề cao đối với các khoản phải thu khách hàng
1.2.2. Đánh giá rủi ro kiểm soát
a Trên toàn bộ báo cáo tài chính
Bằng việc sử dụng chương trình theo mẫu A610 – Đánh giá chung về hệ thốngkiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
ở cấp độ doanh nghiệp với mục tiêu: xác định sơ bộ nhân tố rủi ro, gian lận, lập kếhoạch kiểm toán và xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán
Hệ thống kiểm soát nội bộ ở cấp độ doanh nghiệp thường có ảnh hưởng rộng khắp tớicác mặt hoạt động của doanh nghiệp Do đó, hệ thống kiểm soát nội bộ ở cấp độ doanhnghiệp đặt ra tiêu chuẩn cho các cấu phần khác của hệ thống kiểm soát nội bộ Hiểubiết tốt về hệ thống kiểm soát nội bộ ở cấp độ doanh nghiệp sẽ cung cấp một cơ sởquan trọng cho việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các chu trình kinh
Trang 33doanh quan trọng kiểm toán viên sử dụng các xét đoán chuyên môn của mình để đánhgiá hệ thống kiểm soát nội bộ ở cấp độ doanh nghiệp bằng cách phỏng vấn, quan sáthoặc kiểm tra tài liệu Việc đánh giá này chỉ giới hạn trong 03 thành phần cấu thànhcủa hệ thống kiểm soát nội bộ:
Môi trường kiểm soát
Quy trình đánh giá rủi ro
Giám sát các hoạt động kiểm soát
Kiểm toán viên thực hiện bằng cách phỏng vấn, quan sát và kiểm tra thực tế cácphần của 03 thành phần này của hệ thống kiểm soát và trả lời các câu hỏi liên quan cótrong mẫu A610 Trong trường hợp tài liệu phức tạp và nhiều thì kiểm toán viên có thểviết ngắn gọn và tham chiếu ra các giấy tờ làm việc chi tiết kèm theo Trong phần kếtluận, kiểm toán viên xác định được rủi ro trọng yếu (nếu có) bằng cách liệt kê các rủi
ro trọng yếu, tìm kiếm các yếu tố làm giảm rủi ro Nếu các yếu tố làm giảm rủi ro đếnmức chấp nhận được, kiểm toán viên chỉ cần ghi “không cần thêm các thủ tục kiểmtoán khác” Nếu rủi ro còn lại vẫn cao, kiểm toán viên phải thiết kế các thủ tục kiểmtoán cơ bản khác cho rủi ro này Trường hợp kiểm toán viên không xác định được rủi
ro nào ở giai đoạn này, thì sau khi hoàn thành việc ghi chép, thì kết luận “không có rủi
ro trọng yếu về hệ thống kiểm soát ở cấp độ doanh nghiệp được xác định”
Quá trình này làm cơ sở cho kiểm toán viên thực hiện đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ở các chu trình kinh doanh chính và xác định các rủi ro trọng yếu nếu có ở cấp độ doanh nghiệp.
Minh họa mẫu A610 “Đánh giá chung về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp” của công ty cổ phần QT (xem phụ lục 2)
Theo đó, hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty cổ phần QT được thiết kế vàthực hiện phù hợp Từ nhận định này, kiểm toán viên liên kết với công việc ở giai đoạntiếp theo khi xác định cỡ mẫu hay có những phán đoán về mức độ sai sót xảy ra tạiđơn vị khách hàng
b Trên từng khoản mục
Để đánh giá rủi ro kiểm soát trên từng khoản mục, ABC đang sử dụng các
mẫu A410 – A450 Các mẫu này có nội dung tương tự nhau, do đó kiểm toán viên căn
cứ vào hướng dẫn dưới đây để thực hiện cho các mẫu từ A410 – A450 Các thủ tụckiểm soát chính nêu tại mẫu này chỉ là các ví dụ giả định Tuỳ theo đặc điểm kháchhàng và cuộc kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên phải căn cứ vào hệ thống kiểm soát nội
bộ thực tế, mục tiêu kiểm soát và rủi ro phát hiện để xác định chu trình kinh doanhchính cần tìm hiểu Trong hồ sơ kiểm toán mẫu, các chu trình kinh doanh chính màABC thực hiện đánh giá rủi ro kiểm soát bao gồm:
o chu trình bán hàng, phải thu và thu tiền;
o chu trình mua hàng, phải trả và trả tiền;
o chu trình hàng tồn kho, tính giá thành và giá vốn;
o chu trình lương và phải trả người lao động;
o chu trình tài sản cố định và xây dựng cơ bản
Trên thực tế, tuỳ theo đặc điểm khách hàng, có những trường hợp không cầnphải tìm hiểu tất cả 5 chu trình kinh doanh mà chỉ áp dụng đối với những chu trìnhchính (như chu trình bán hàng, phải thu và thu tiền;chu trình mua hàng, phải trả và trảtiền) Ngoài ra, trong một số trường hợp, ngoài 5 chu trình trên, kiểm toán viên cònphải tìm hiểu các chu trình quan trọng khác
Trang 34Tùy theo vào từng lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp, kiểm toánviên sẽ quyết định tìm hiểu chu trình kinh doanh nào như theo bảng sau:
Bảng 5: Bảng chu trình kinh doanh cần tìm hiểu theo từng lĩnh vực
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu Chu trình kinh doanh cần tìm hiểu
Doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh
Chu trình bán hàng, phải thu và thu tiền
Chu trình mua hàng, phải trả và trả tiền
Chu trình hàng tồn kho, tính giá thành
và giá vốn
Doanh nghiệp đang có đầu tư xây
dựng lớn
Doanh nghiệp mà tài sản cố định
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài
sản (ví dụ: công ty điện lực, viễn
thông, xây dựng, các doanh
nghiệp liên quan đến các ngành
công nghiệp nặng…)
Chu trình hàng tồn kho, tính giá thành
và giá vốn
Ngân hàng Chu trình huy động vốn (vay ngân hàng
và các tổ chức tài chính, huy động tiền gửi tiết kiệm trong nhân dân, mở tài khoản tiền gửi của khách hàng )
Chu trình cho vay ngắn hạn, dài hạn Tuy nhiên điều này không hoàn toàn chi phối, kiểm toán viên cần dựa và kinhnghiệm của bản thân để xác định đúng chu trình kinh doanh cần tìm hiểu đối với mộtkhách hàng nhằm tăng hiệu quả kiểm toán
Sau khi đã xác định được những chu trình kinh doanh cần tìm hiểu, kiểm toánviên cần căn cứ vào các mẫu chương trình để thực hiện công việc
Nội dung cần tìm hiểu của từng chu trình gồm những nội dung sau:
Hiểu biết về các khía cạnh kinh doanh chủ yếu liên quan tới chu trình
Hiểu biết về chính sách kế toán áp dụng
Mô tả chu trình: có thể sử dụng phương pháp trần thuật hoặc sơ đồ
Đồng thời, khi tìm hiểu về chu trình kinh doanh, kiểm toán viên sẽ kết hợp vớiviệc soát xét các thiết kế và triển khai các thủ tục kiểm soát chính đối với từng chu
trình: đánh giá về mặt thiết kế của các thủ tục kiểm soát chính: kiểm toán viên tiến
hành xem xét các tài liệu do khách hàng cung cấp về các thủ tục kiểm soát, phỏng vấncác nhân viên có liên quan để xem xét các thủ tục đó được thiết kế phù hợp chưa, cóngăn ngừa, phát hiện và khắc phục được các sai phạm không Nếu thủ tục kiểm soátđược thiết kế không phù hợp sẽ là sự yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ của
đơn vị Sau đó, đánh giá về mặt triển khai của các thủ tục kiểm soát chính: kiểm toán
viên sẽ quan sát sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ trong thực tế, cũng như lựachọn mẫu các nghiệp vụ, chứng từ và kiểm tra xem thử các thủ tục kiểm soát có đượcthực hiện hay không
Qua những nội dung tìm hiểu trên, kiểm toán viên nhìn nhận bao quát về cáchoạt động liên quan đến các chu trình kinh doanh của doanh nghiệp, tổng hợp các rủi
ro trọng yếu phát hiện được, đồng thời đưa ra kết luận về quyết định có thực hiện kiểmtra hệ thống kiểm soát nội bộ hay không Rủi ro kiểm soát được đánh giá là:
Trang 35 Cao: Khi doanh nghiệp không thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc hệthống kiểm soát nội bộ hoạt động không hiệu quả.
Trung bình: kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là hữu hiệu
và thực hiện có giới hạn các thử nghiệm kiểm soát
Thấp : Khi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp hoạt động hiệu quả
và thực hiện đầy đủ các thử nghiệm kiểm soát
Việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khách hàng kiểm toán năm đầu
tiên đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực của kiểm toán viên do kiểm toán viên chưa có
được những hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Còn đối với cuộckiểm toán khách hàng cũ, việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ tốn ít thời gian.Kiểm toán viên có thể tham khảo những kiến thức và hiểu biết về khách hàng từ nhữngkiểm toán viên năm trước kết hợp với những thay đổi của hệ thống kiểm soát nội bộtrong năm để từ đó xác định các vấn đề tồn tại trong hệ thống kiểm soát nội bộ củanăm hiện hành
Qua tìm hiểu, đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ và chu trình bán hàng, phảithu và thu tiền đối với công ty cổ phần QT, kiểm toán viên nhận thấy: hệ thống kiểmsoát nội bộ của công ty hoạt động tương đối hữu hiệu, trong đó công ty cũng kiểm soáttốt chu trình bán hàng, phải thu và thu tiền Những nhận định này giúp kiểm toán viên
có những tin tưởng nhất định vào số liệu sổ sách của đơn vị, bao gồm trong đó là số dưkhoản mục phải thu khách hàng Quy trình gửi thư xác nhận sẽ bị tác động bởi côngđoạn đánh giá rủi ro kiểm soát thông qua việc xem xét sự cần thiết của việc gửi thưtrong mối liên hệ với vấn đề trọng yếu, hay là việc thiết lập nội dung thư cũng nhưxem xét thủ tục thay thế và đánh giá kết quả
1.2.3. Đánh giá rủi ro phát hiện
a Ở mức độ tổng thể báo cáo tài chính
Rủi ro phát hiện sẽ được đánh giá dựa trên kết quả đã thực hiện được ở rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát Rủi ro phát hiện được kiểm toán viên tính toán thôngqua ma trận rủi ro Mục đích của việc xác định rủi ro phát hiện là nhằm xác lập mức độthực hiện các thử nghiệm cơ bản Nếu rủi ro phát hiện được xác định ở mức thấp nhấtthì kiểm toán viên sẽ thực hiện các thử nghiệm cơ bản ở mức độ cao nhất để có thể đạtđược mức rủi ro kiểm toán mong muốn Các công việc trong giai đoạn này được thựchiện trong mẫu A810 – Tổng hợp kết quả kiểm toán như sau:
Bảng: Xác định ban đầu chiến lược kiểm toán dựa vào kiểm tra kiểm soát hay kiểm tra cơ bản [A400, A600] theo mẫu A810 đối với công ty Cổ phần QT
Sau khi thực hiện xong các thủ tục tại phần A400 và A600, kiểm toán viên cần xác
định chiến lược kiểm toán ban đâu là kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ hay kiểm tra cơ bản.
Dựa trên việc đánh giá về thiết kế và hoạt động của hệ thống KSNB, KTV xác định chiến lược ban đầu là kiểm tra hệ thống KSNB Sau kiểm tra, nếu hệ thống KSNB của công ty được thiết kế và hoạt động hữu hiệu thì kiểm tra cơ bản ở mức độ thấp và trung bình
Trang 36độ cao đối với chu trình này.
1.3 Xác lập mức trọng yếu kiểm toán
Việc xác lập mức trọng yếu là một bước công việc quan trọng trong quy trìnhkiểm toán với mục đích xác định quy mô kiểm toán và các thủ tục cần áp dụng trongthử nghiệm cơ bản, trong đó có thủ tục gửi thư xác nhận
Khi thực hiện xác lập mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính, kiểm toánviên tại ABC có các lưu ý như sau:
Xác định tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu
Các tiêu chí phù hợp thông thường được lựa chọn có thể là:Lợi nhuận trướcthuế; Tổng doanh thu; Lợi nhuận gộp; Tổng chi phí; Tổng vốn chủ sở hữu; Giá trị tàisản ròng Việc xác định tiêu chí phụ thuộc vào nhu cầu thông tin của đại bộ phận đốitượng sử dụng thông tin tài chính (nhà đầu tư, ngân hàng, công chúng, cơ quan nhànước )
Lựa chọn tỷ lệ tương ứng của biểu để xác định mức trọng yếu tổng thểChính sách xác lập mức trọng yếu ở ABC được xác định giống với hướngdẫn của VACPA:
Bảng 6: Bảng hướng dẫn lựa chọn tỉ lệ xác định mức trọng yếu
Xác định tỷ lệ % cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến khối lượng công việc kiểmtoán được thực hiện mà cụ thể số mẫu cần phải kiểm tra, phụ thuộc vào đánh giá về rủi
ro có sai sót trọng yếu của kiểm toán viên
Xác định mức trọng yếu tổng thể và mức trọng yếu thực hiện
Mức trọng yếu tổng thể = Giá trị tiêu chí x Tỷ lệ %
Trang 37Mức trọng yếu thực hiện thông thường nằm trong khoảng từ 50% - 75% sovới mức trọng yếu tổng thể đã xác định ở trên Việc chọn tỷ lệ nào áp dụng cho từngcuộc kiểm toán cụ thê là tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên vàchính sách của từng công ty Mức trọng yếu thực hiện sẽ quyết định nội dung, lịchtrình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần phải thực hiện.
Xác định Ngưỡng sai sót không đáng kể/ sai sót có thể bỏ qua
ABC thực hiện xác định ngưỡng sai sót có thể bỏ qua ở mức tối đa là 4%của mức trọng yếu thực hiện Đây sẽ là ngưỡng để tập hợp các chênh lệch do kiểmtoán phát hiện, được tập hợp vào Mẫu B360-Các bút toán điều chỉnh và phân loại lại(nếu khách hàng đồng ý điều chỉnh) và Mẫu B370 – Các bút toán không điều chỉnh(nếu khách hàng không đồng ý điều chỉnh) Các chênh lệch nhỏ hơn ngưỡng sai sótnày không cần phải tập hợp lại
Lựa chọn mức trọng yếu áp dụng đối với cuộc kiểm toán
Thông thường ABC lấy số làm tròn Nếu có mức trọng yếu có biến động lớn
so với năm trước (thấp hơn đáng kể), kiểm toán viên cần cân nhắc xem mức trọng yếunăm nay có hợp lý không so với tình hình hoạt động kinh doanh năm nay của doanhnghiệp
Khi kết thúc quá trình kiểm toán
Nếu tiêu chí được lựa chọn để xác định mức trọng yếu biến động quá lớn thìkiểm toán viên phải xác định lại mức trọng yếu, giải thích lý do và cân nhắc xem cócần thực hiện bổ sung thêm thủ tục kiểm toán hay không
Minh họa công việc “Xác định mức trọng yếu” đối với công ty CP QT, theo mẫu A710 như sau:
Tiêu chí được sử dụng để ước tính
Lý do lựa chọn tiêu chí này để xác
Doanh thu: 0,5% - 3%
Mức trọng yếu tổng thể (PM) (c)=(a)*(b) 1.626.219.941
Mức trọng yếu thực hiện MP (d)=(c)*(50%-75%) 813.109.971
Ngưỡng sai sót không đáng kể/ sai
sót có thể bỏ qua (e)=(d)*4% (tối đa) 32.524.399
Căn cứ vào bảng trên, kiểm toán viên chọn ra mức trọng yếu để áp dụng khi thực hiện kiểmtoán
Mức trọng yếu tổng thể 1.626.219.941 991.890.876Mức trọng yếu chi tiết 813.109.971 495.945.438
Trang 38Ngưỡng chênh lệch có thể bỏ qua 32.524.399 19.837.817Giải thích nguyên nhân có chênh lệch lớn về mức trọng yếu của năm nay so với nămtrước
Do lợi nhuận năm nay tăng so với năm trước
Phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính
Hiện nay, ABC không thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục
mà giá trị mức trọng yếu sẽ được sử dụng chung cho tất cả các khoản mục trên báo cáotài chính Theo đó, sau khi xác định mức trọng yếu tổng thể (PM), kiểm toán viên xácđịnh mức trọng yếu thực hiện MP = (50%-75%) PM Đây là mức trọng yếu được sửdụng cho toàn bộ báo cáo tài chính để đảm bảo nguyên tắc thận trọng rằng tất cả cácsai sót được kiểm toán viên phát hiện và các sai sót không được kiểm toán viên pháthiện không vượt quá mức trọng yếu tổng thể (PM) đã xác định
Việc xác định mức trọng yếu có ý nghĩa quan trọng đối với thủ tục chọn mẫu.
Từ mức trọng yếu thực hiện, kiểm toán viên có cơ sở xác định cỡ mẫu phù hợp, đồng nghĩa với việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán, trong đó vai trò của việc gửi thư xác nhận có được đề cao hay không? Tuy nhiên, nếu kiểm toán viên
có thể phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục, bao gồm các khoản mục công nợ, khoản vay, hàng gửi bán, ký quỹ thì sẽ phù hợp hơn cho từng khoản mục, do đó có thể kiểm soát tốt hơn sự cần thiết của thủ tục gửi thư xác nhận nhằm xác nhận số dư của các khoản mục này.
1.4 Lựa chọn các đối tượng cần xác nhận
Khi đã đánh giá rủi ro kiểm toán và xác lập được mức trọng yếu, đồng thời căn
cứ mục tiêu kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định các phương pháp thích hợp để lựachọn các phần tử thử nghiệm nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán thỏa mãn mục tiêuthử nghiệm kiểm toán Trưởng nhóm kiểm toán phải xác định rõ ngay từ giai đoạn lập
kế hoạch cách lựa chọn các phần tử thử nghiệm để thu thập bằng chứng kiểm toán khitiến hành thử nghiệm cơ bản đối với từng khoản mục lớn trên báo cáo tài chính thôngqua một trong các phương pháp:
Chọn toàn bộ (kiểm tra 100%);
Lựa chọn các phần tử đặc biệt;
Lấy mẫu kiểm toán
1.4.1 Chọn toàn bộ (kiểm tra 100%)
Khi quy mô nghiệp vụ/ khoản mục nhỏ, số lượng đối tượng ít, kiểm toán viêntiến hành gửi thư xác nhận cho toàn bộ đối tượng Việc chọn mẫu trong trường hợpnày là hoàn toàn bất hợp lý và thậm chí làm giảm hiệu quả kiểm toán vì như đã biết,
kỹ thuật chọn mẫu chỉ phát huy hiệu quả khi tổng thể có quy mô lớn
Khi kiểm toán khoản mục 311 tại công ty cổ phần PP
Vốn điều lệ: 20.000.000.000 VND
Địa chỉ: Đường số 3, Khu công nghiệp Hòa Khánh, quận Liên Chiểu ,
TP Đà Nẵng
Trang 39 Điện thoại: 0511 734992
Fax: 0511 734 496
Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất vải dệt thoi, nhuộm sợi, nhuộm vàhoàn tất vải; mua bán nguyên liệu, hóa chất thuốc nhuộm, phụ tùng phục vụ cho dệtnhuộm, hoàn tất vải; kinh doanh môi giới khu công nghiệp, dịch vụ cho thuê nhàxưởng kho bãi, cho thuê máy móc thiết bị, xử lý nước thải
Công ty cổ phần PP không có quan hệ với nhiều ngân hàng nên cuối năm số dư
TK 311 chỉ tồn tại trên 03 đối tượng là 03 ngân hàng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
cụ thể theo bảng tổng hợp vay ngắn hạn của công ty PP năm 2010:
Bảng 7: Bảng tổng hợp các khoản vay ngắn hạn theo đối tượng năm 2010 của
Khi đã xác định xét đoán để chọn mẫu, kiểm toán viên thường không xác định
cỡ mẫu mà đi thẳng ngay vào việc lựa chọn đối tượng Việc lựa chọn ra các phần tửđặc biệt là một phương pháp chọn mẫu phi xác suất (theo xét đoán) Khi chọn mẫu đểgửi thư xác nhận thông tin bên ngoài, kiểm toán viên rất hạn chế việc chọn mẫu theokhối hay chọn mẫu tình cờ vì cả hai phương pháp lựa chọn phần tử này đều không thểchọn ra mẫu có tính đại diện cho tổng thể
Khi chọn mẫu để gửi thư xác nhận, kiểm toán viên cần chú ý các đối tượng đặcbiệt như đối tượng có số dư chưa thanh toán, kéo dài qua nhiều kỳ, các khoản đượcxóa sổ trong kỳ hiện tại, …các khoản phải thu có số dư lớn hay các khoản phải trả có
số dư nhỏ Đối với nợ phải trả thì nên gửi thư xác nhận đối với những khoản có số dưcuối kỳ nhỏ vì kiểm toán viên chú ý tới khả năng khai thiếu hơn là khả năng khaikhống Do đó, kiểm toán viên chỉ cần gửi thư xác nhận cho những chủ nợ của đơn vị
có số dư cuối kỳ nhỏ, đơn vị trình bày rằng những khoản nợ đó đã được thanh toánnhưng không có gì có thể bảo đảm cả Không như khoản phải thu, kiểm toán viên sẽthực hiện gửi thư xác nhận đối với những khoản có số dư cuối kỳ lớn, vì lo ngại khảnăng khai khống hơn là khai thiếu (khai khống hay khai thiếu là căn cứ vào vị trí của
nó trên bảng cân đối kế toán và nó ảnh hưởng gián tiếp hay trực tiếp đến Doanh thu ->Lợi nhuận như thế nào)
Minh họa cho việc lựa chọn các đối tượng phải trả có số phát sinh lớn nhưng
số dư cuối kỳ nhỏ dưới 30.000.000đ của công ty cổ phần PP.
Sau khi rà soát bảng tổng hợp công nợ phải trả (xem phụ lục 3) và nhận các biên
bản đối chiếu từ công ty PP, kiểm toán viên xác định phải gửi thư xác nhận đối với các
Trang 40đối tượng có số phát sinh lớn nhưng số dư cuối kỳ nhỏ dưới 30.000.000đ Theo bảngtổng hợp công nợ phải trả theo đối tượng, các công nợ có số dư lớn trên 30.000.000đ
đã được đối chiếu xác nhận tương đối đầy đủ Sau đây là giấy làm việc TK 331 dẫn raviệc chọn các đối tượng gửi thư xác nhận đối với công ty cổ phần PP:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN ABC
Tên khách hàng: Công ty CP PP Người lập Ngày
Chủ đề: TK 331
Người kiểm tra Ngày Trang
/
Niên độ: 31/12/2010
Chọn mẫu gửi thư xác nhận
Xác định công nợ phải trả có số dư nhỏ cuối năm
1 Cty TNHH Đoàn Ngô 4.521.770
2 Hợp tác xã Liên Hoa 2.362.800
3 Công Ty TNHH STD & S 22.767.030
4 Nguyễn Đăng Khoa 26.600.000
5 DNTN Tân Minh 27.270.760
6 Công ty TNHH Phương Minh Tú 28.050.225
7 Nguyễn Văn Tư 13.884.756
8 TT Tư vấn kỹ thuật xây dựng Đà Nẵng 8.713.636
9 Công ty TNHH VT – TM & DV Xích Đạo 10.166.019
Sau khi chọn ra 9 đối tượng như trên, kiểm toán viên tiến hành gửi thư xác nhậntheo các bước như quy trình được trình bày ở phần sau
1.4.3 Lấy mẫu kiểm toán
Để lấy mẫu kiểm toán, kiểm toán viên trước hết xác định cỡ mẫu, sau đó lựachọn các phần tử của mẫu Việc lấy mẫu kiểm toán tại ABC thường được thực hiệnbằng phương pháp phi thống kê hoặc phương pháp CMA
a Phương pháp chọn mẫu phi thống kê
Kiểm toán viên tiến hành đối chiếu danh sách đối tượng trên báo cáo với sổ chitiết và báo cáo mua hàng, bán hàng, lập và gửi thư xác nhận đến một số đối tượng TạiABC, kiểm toán viên thường tiến hành chọn những đối tượng có số phát sinh lớn và có
số biến động bất thường trong năm để tiến hành gửi thư xác nhận…
Minh họa việc lấy mẫu kiểm toán để gửi thư xác nhận đối với khoản mục Phải thu khách hàng của công ty cổ phần PP:
Công ty cổ phần PP đi vào hoạt động từ đầu quý IV năm 2010 Đây là toàn bộcác đối tượng khách hàng có trong năm của công ty, tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 8: Bảng tổng hợp công nợ phải thu của công ty PP năm 2010