Trong đó, có đề cập sơ lược về quyền hànhpháp và cách tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới.Trọng tâm của niên luận là tập trung nghiên cứu về quyền hành pháp, vị
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT -****** - NIÊN LUẬN
Đề tài:
QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG CƠ CẤU QUYỀN LỰC
Ở VIỆT NAM VÀ HOÀN THIỆN QUYỀN
HÀNH PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: B2 – 2013.VKS
Trang 2Huế, 6/2015
Để hoàn thành bài niên luận này, trước tiên em xin chân thành cám ơn quý thầy cô giáo đã và đang công tác tại Đại học Luật Huế đã hướng dẫn, chỉ bảo ân cần, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Niên luận Và đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên, Thạc sĩ Trần Việt Dũng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài niên luận này.
Mặc dù đã có sự cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt
đề tài Niên luận, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức nên đề tài Niên luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo để đề tài Niên luận của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy, cô giáo luôn mạnh khỏe hạnh phúc và công tác tốt.
Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Thanh Nga
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cơ cấu đề tài 2
B PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ TỔ CHỨC QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM 3
1.1 Khái niệm về quyền hành pháp và tổ chức quyền hành pháp ở việt Nam 3
1.1.1 Quyền hành pháp và mô hình tổ chức quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới 3 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của quyền hành pháp ở Việt Nam 5
1.2 Nội dung của quyền hành pháp ở Việt Nam 7
1.2.1 Tính chất của quyền hành pháp 7
1.2.2 Chức năng của quyền hành pháp 8
1.3 Quá trình hình thành và phát triển quyền hành pháp qua các bản Hiến pháp 9
1.3.1 Tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 1959 10
1.3.2 Tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 1980 11
1.3.3.Tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam theo Hiến pháp năm 1992 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 22
2.1 Thực trạng thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam 22
2.1.1 Những thành tựu đạt được 22
2.1.2 Những tồn tại, vướng mắc 23
2.2 Giải pháp hoàn thiện thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền 27
Trang 42.2.1 Yêu cầu hoàn thiện thực hiện quyền hành pháp ở nước ta hiện nay 27 2.2.2 Phương hướng hoàn thiện việc thực hiện và hoạt động của hành pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam 28 2.2.3 Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện quyền hành pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 30
C PHẦN KẾT LUẬN 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 5A. PHẦN MỞ ĐẦU
1Tính cấp thiết của đề tài
Để đáp ứng cho công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự chuyển biến vềkinh tế, bộ máy nhà nước Việt Nam cũng cần có sự thay đổi tương ứng saocho phù hợp với các yêu cầu của xã hội Các cơ quan hành pháp là nơi chỉ đạoviệc thi hành pháp luật, trực tiếp quản lý các lĩnh vực của xã hội, có liên quantrực tiếp đến người dân Trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở ViệtNam hiện nay, việc xác định chính xác vị trí, vai trò của quyền hành pháp cóảnh hưởng rất lớn đến các quyền khác trong cơ cấu quyền lực nhà nước vàtoàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội Mặc dù Hiến pháp 2013 đã ghi nhậnkhá rõ trong hệ thống quyền lực nhà nước, nhưng để đảm bảo thực hiện đúngtrên thực tế, lại là vấn đề không đơn giản, nhất là đối với thực hiện quyềnhành pháp Các cơ quan hành pháp, đặc biệt là Chính phủ là nơi chỉ đạo việcthi hành pháp luật, trực tiếp quản lý các lĩnh vực của xã hội
Đề tài này có thể đóng góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở ViệtNam Đồng thời góp phần nhận thức đúng đắn hơn về vị trí, vai trò, ý nghĩacủa quyền hành pháp đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước cũngnhư của toàn xã hội Với tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn đó nên tôi chọn đềtài “Quyền hành pháp trong cơ cấu quyền lực ở Việt Nam và hoàn thiệnquyền hành pháp” làm đề tài niên luận của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Niên luận tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền hànhpháp và cơ cấu tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam, nhằm đánhgiá những ưu điểm, nhược điểm trong các quy định của pháp luật và cách tổchức thực hiện quyền hành pháp trong thực tế qua các thời kỳ, gắn với cácHiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 Đồngthời nêu ra những yêu cầu điểm mới trong công cuộc đổi mới đất nước, đề ra
Trang 6một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc tổ chức, thực hiện nhánh
quyền lực này
1. Phạm vi nghiên cứu
Quyền hành pháp là một vấn đề rất rộng và phức tạp là một đề tà khó vàrộng cần có sự nghiên cứu lâu dài và đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình
độ chuyên môn và có sự am hiểu về vấn đề Với khả năng của một sinh viên,niên luận chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ quyền hành pháp và tổ chức quyềnhành pháp ở Việt Nam hiện nay Trong đó, có đề cập sơ lược về quyền hànhpháp và cách tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới.Trọng tâm của niên luận là tập trung nghiên cứu về quyền hành pháp, vị trí,vai trò của nó trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước và cách tổ chức, thựchiện quyền hành pháp ở Việt Nam theo các bản Hiến pháp đặc biệt chủ yếu làHiến pháp 2013 Vì vậy đề tài chỉ nghiên cứu theo hướng những vấn đề lýluận cơ bản, phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hành pháp
và khái quát thực trạng tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam qua các giaođoạn lịch sử
3Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp luận nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,quy nạp, diễn dịch…
4Cơ cấu đề tài
Đề tài gồm 3 phần, mở đầu phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung có 2 chương:
- Chương 1 Những vấn đề lý luận về quyền hành pháp và tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng hoạt thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam và
giải pháp hoàn thiện thực hiện quyền hành pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ TỔ CHỨC QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM
4.1 Khái niệm về quyền hành pháp và tổ chức quyền hành pháp ở
việt Nam
4.1.1 Quyền hành pháp và mô hình tổ chức quyền hành pháp ở một
số nước trên thế giới
1.1.1.1 Khái niệm quyền hành pháp
Qua việc khảo cứu một số quan niệm về quyền hành pháp ở trong vàngoài nước có thể thấy được về khái niệm quyền hành pháp xét về góc độnguyên nghĩa quyền hành pháp là chấp hành và tổ chức thực thi các đạo luật.Tuy nhiên ngày nay khái niệm này được mở rộng quyền hành pháp không chỉ
là công việc điều hành chính sách quốc gia mà còn phải thực hiện công việchoạch định chính sách quốc gia Vì vậy trong Hiến pháp năm 2013 quy địnhtrong thẩm quyền của chính phủ không chỉ có việc “ tổ chức thi hành Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” như quy định ở các bản Hiến pháp trước
mà được bổ sung thêm nội dung “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền
để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn
Quyền hành pháp không xuất hiện rộng mọi chế độ xã hội loài người mà
nó chỉ xuất hiện khi có sự ra đời của nhà nước và pháp luật Tuy ra đời cùngvới nhà nước và pháp luật nhưng không phải ở mọi thời kỳ quyền hành phápđều được quan niệm giống nhau, mà có sự phát triển theo thời gian
1.1.1.2 Mô hình tổ chức quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới.
a Mô hình tổ chức quyền hành pháp ở Mỹ.
Ở Mỹ cơ cấu quyền lực nhà nước chia làm ba nhóm riêng biệt đó làquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhánh hành pháp với quyền hànhpháp tập trung vào người đứng đầu là Tổng thống theo nguyên tắc các bộ
Trang 8trưởng không hợp thành một cơ quan bàn bạc chịu trách nhiệm tập thể trướcnghị viện mà chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống; họ là những người giúpviệc cho Tổng thống, thực hiện những chính sách do Tổng thống đề ra.
Theo quy định của Hiến pháp Mỹ quyền hành pháp được giao cho mộtngười đó là Nguyên thủ quốc gia – Tổng thống Mỹ Hành pháp không chịutrách nhiệm trước lập pháp, Tổng thống về nguyên tắc phải chịu trách nhiệmtrước cử tri Tổng thống Mỹ là người có rất nhiều quyền hạn: Tổng thống cóquyền lãnh đạo chính phủ và Nội các; Tổng thống có những quyền hạn hếtsức to lớn trong các lĩnh vực đối nội; Tổng thống nắm giữ các quyền tronglĩnh vực đối ngoại
Có thể nói, quyền hành pháp trong nhà nước Mỹ được quy định trongHiến pháp đã cho phép Tổng thống – người nắm giữ quyền hành pháp có rấtnhiều quyền năng, là người nắm giữ và quyết định sự phát triển của đất nước
b.Mô hình tổ chức quyền hành pháp ở Anh.
Tổ chức bộ máy nhà nước Anh là một cơ cấu tổ chức đặc biệt chế độluôn tồn tại mối liên hệ thường xuyên giữa lập pháp và hành pháp Nguyênthủ quốc gia chỉ là mang tính chất tượng trưng vì bộ máy hành pháp trựcthuộc Thủ tướng và Thủ tướng mới phải chịu trách hiệm trước lập pháp Vìthế chỉ có quyền hành pháp của Thủ tướng mới là thực quyền, còn quyềnhành pháp của nữ hoàng chỉ mang tính hình thức
c Mô hình tổ chức quyền hành pháp trong chính thể Cộng hòa hỗn hợp
Chính thể Cộng hòa hỗn hợp hay còn gọi là Cộng hòa lưỡng tính là dạngchính thể có các đặc trưng của cả Cộng hòa đại nghị lẫn Cộng hòa Tổngthống Trong những nước áp dụng nguyên tắc này, bộ máy hành pháp gồmhai cơ quan, một là Tổng thống, hai là Thủ tướng chính phủ và Nội các.Chính phủ không chỉ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, mà còn cả Tổngthống - người đứng đầu nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước cử tri,thông qua các cuộc bầu cử Tổng thống Tổng thống là nguyên thủ quốc giađồng thời là người có tác động trực tiếp đến bộ máy hành pháp Thủ tướng là
Trang 9người đứng đầu bộ máy hành pháp, có quyền chỉ đạo chính phủ thực thi chínhsách quốc gia của Tổng thống và phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội vàTổng thống về việc thực hiện chính sách này.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của quyền hành pháp ở Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm
Quyền hành pháp là một bộ phận tạo thành cơ cấu quyền lực nhà nước.Quyền hành pháp được hiểu là quyền thi hành pháp luật Trong cơ cấu quyềnlực nhà nước quyền hành pháp là một khái niệm chung dùng để chỉ một bộphận quyền lực - quyền thi hành pháp luật, phản ánh mối quan hệ quyền lựcgiữa các bộ phận hợp thành của quyền lực nhà nước Chủ thể chủ yếu củaquyền hành pháp là Chính phủ (cơ quan hành pháp ở trung ương) với tínhchất điển hình của cơ quan này là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hànhcác hoạt động của đời sống xã hội Ở Việt Nam, các chủ thể thực hiện quyềnhành pháp không chỉ có Chính phủ, các cơ quan hành pháp ở Trung ương, màmột số các cơ quan nhà nước ở địa phương cũng thực hiện quyền lực này.Quyền hành pháp được đề cập đến tại khoản 3, điều 2 Hiến pháp năm
2013 : “ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp.” Đồng thời tại điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định “ Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.Quyền hành pháp bao gồm hai quyền: quyền lập quy và quyền hành chính
Quyền lập quy: Quyền lập quy được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Ở nghĩa rộng, quyền lập quy bao gồm: lập pháp ủy quyền (ủy quyền trực tiếp)
và thẩm quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặcliên tịch ban hành QPPL dưới luật (ủy quyền gián tiếp) để quy định chi tiết thihành QPPL do cơ quan lập pháp hoặc cơ quan nhà nước cấp trên ban hànhtheo hình thức văn bản, thủ tục và trình tự do pháp luật quy định Ở nghĩahẹp, quyền lập quy là hình thức ủy quyền lập pháp gián tiếp, tức là thẩm
Trang 10quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc liên tịchban hành QPPL dưới luật trên cơ sở và để thi hành QPPL do cơ quan lập pháphoặc cơ quan nhà nước cấp trên ban hành theo hình thức văn bản, thủ tục vàtrình tự do pháp luật quy định.
Quyền hành chính: là quyền tổ chức quản lý tất cả các mặt, các quan hệ
xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước Quyền hành chính bao gồmcác quyền về tổ chức nhân sự trong cơ quan hành chính, quyền tổ chức thựcthi và áp dụng pháp luật trong các mối quan hệ giữa tổ chức với cá nhân, tổchức với tổ chức và giữa cá nhân với nhau trong đời sống xã hội
Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, ở Việt Nam các chủ thể thựchiện quyền hành pháp không chỉ có Chính phủ, các cơ quan hành pháp ởtrung ương mà một số các cơ quan nhà nước ở địa phương cũng thực hiệnquyền lực này
Quyền hành pháp được thực hiện theo nguyên tắc trên cơ sở luật vànhằm thực hiện luật bằng hoạt động có tính thẩm quyền gồm lập quy và điềuhành hành chính trong nội bộ nhà nước và tác động quản lý hành chính đốivới cá nhân, công dân, tổ chức bằng quyền năng có tính tạo khuôn khổ pháp
lý, cấm đoán bắt buộc để triển khai luật và chính sách
1.1.2.2 Đặc điểm của quyền hành pháp
Quyền hành pháp là một trong những yếu tố cấu thành quyền lực nhànước nên nó cũng có những đặc điểm cơ bản của quyền lực nhà nước Ngoài
ra nó còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Quyền hành pháp có tính quyền lực nhà nước và độc lập tương đối sovới các các nhánh quyền lực khác ở Việt Nam các cơ quan hành pháp là docác cơ quan dân cử lập ra, thực hiện các hoạt động chấp hành và điều hành.Mặc dù các cơ quan hành pháp là do cơ quan quyền lực lập ra nhưng không
có nghĩa là quyền hành pháp chỉ là quyền phái sinh từ cơ quan quyền lực.Quyền hành pháp vừa mang tính chính trị vừa mang tính hành chính.Tính chính trị thể hiện ở chỗ quyền hành pháp hướng đến việc ban hành các
Trang 11chính sách quản lý hành chính nhà nước, một số chủ trương chính sách đượcban hành phải phản ánh đầy đủ chủ trương chính sách của Đảng cầm quyền
và nhu cầu đời sống xã hội, phù hợp với đối tượng chính sách Tính hànhchính Nhà nước được thể hiện thông qua tổ chức điều hành đối với toàn xãhội, được thực hiện bởi những hành vi hành vi hành chính Nhà nước
Quyền hành pháp được thực hiện trên nguyên tắc luật định.Thông quathẩm quyền lập quy thì quyền hành pháp tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hànhchính đối với tổ chức, công dân và xã hội nhằm thực hiện pháp luật, chínhsách chung từ ơn trung ương đến các đơn vị hành chính, lãnh thổ quốc gia.Điều này tạo ra sự thống nhất quản lý của Trung ương với tự chủ, tự quản củađịa phương đồng thời tạo nên tính bền vững, hiệu lực, hiệu quả của quản lýNhà nước
Quyền hành pháp có khả năng phản ánh một cách chính xác nhất nhữngnhu cầu xã hội Quyền hành pháp không chỉ dừng lại ở việc thi hành pháp luật
mà nó còn bao gồm cả việc quản lý, điều hành, lãnh đạo các hoạt động tronghầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Đây là một trong những nhánhquyền lực có sự đụng chạm mạnh nhất tới quyền và lợi ích của công dân trongquá trình thực thi và quản lý…
1.2 Nội dung của quyền hành pháp ở Việt Nam
1.2.1 Tính chất của quyền hành pháp
1.2.1.1 Tính chấp hành
Tính chấp hành của hành pháp là khả năng làm cho pháp luật được thựchiện trên thực tế bằng sức mạnh của nhà nước hay nói một cách khác là khảnăng đưa pháp luật vào đời sống của các cơ quan nắm giữ quyền hành pháp.Với tính chất là cơ quan chấp hành của Quốc hội như Hiến pháp năm 2013
đã quy định: Chính phủ là chủ thể cơ bản nắm quyền hành pháp ở Trungương Chính phủ có trách nhiệm đưa pháp luật vào đời sống xã hội và đảmbảo cho mọi chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện, tuân thủ mộtcách nghiêm minh Chính phủ Việt Nam trong quá trình chấp hành Hiến
Trang 12pháp, pháp luật của Quốc hội chỉ có nhiệm vụ thực thi đúng và đầy đủ phápluật mà không có quyền “ phủ quyết” như một số nước tư bản.
Bên cạnh Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp cũng là các cơ quan chấphành của Hội đồng nhân dân, các chủ thể này thực hiện quyền hành pháp ởđịa phương, góp phần đưa pháp luật đến gần người dân trong xã hội
1.2.1.2 Tính hành chính Nhà nước
Hiến pháp năm 2013 quy định ngoài tính chấp hành, quyền hành pháp ởViệt Nam còn mang tính chất hành chính: “Chính phủ là cơ quan hành chínhnhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Hiểu theocách ngắn gọn nhất hành chính là hoạt động quản lý, điều hành phục vụ trêntất cả các lĩnh vực của hoạt động của đời sống xã hội trong đó hành chínhcông (hành chính nhà nước) giữ vị trí đặc biệt quan trọng Ngoài tính chấphành các cơ quan hành pháp ở Việt Nam còn được xác định là cơ quan hànhchính Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý, điều hành Tính hành chínhlàm cho quyền hành pháp có tính độc lập tương đối, có khả năng phát huyđược tính chủ động, sáng tạo của mình trong việc quản lý các lĩnh vực củasống xã hội
1.2.2 Chức năng của quyền hành pháp
Chức năng của quyền hành pháp là những phương diện hoạt động màthông qua đó quyền hành pháp được triển khai để thực thi pháp luật và tiếnhành các hoạt động quản lý, điều hành phục vụ xã hội
Các chức năng của quyền hành pháp bao gồm:
- Chức năng đảm bảo an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội
- Chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Chức năng thực thi pháp luật
- Chức năng tài phán
- Chức năng quản lý, điều hành
Trang 131.3 Quá trình hình thành và phát triển quyền hành pháp qua các bản Hiến pháp
Quyền hành pháp thể hiện qua quyền hạn, nhiệm vụ của Chủ tịch nước,Chính phủ và Nội các Mặc dù Hiến pháp năm 1946 đã ít nhiều đề cập đếnChính phủ - với tư cách là cơ quan nắm quyền hành pháp ở Trung ươngnhưng không quy định rõ ràng, cụ thể các hình thức hoạt động của cơ quannày mà chủ yếu quy định cho Chủ tịch nước rất nhiều quyền hạn trong lĩnhvực hành pháp Hoạt động chủ yếu của Chính phủ thông qua hoạt động củaChủ tịch nước Chủ tịch nước là người đứng đầu cơ quan hành pháp, nắmquyền hành pháp ở Trung ương Chủ tịch nước vừa nắm giữ những quyền hạncủa một nguyên thủ quốc gia, vừa nắm giữ những quyền hạn của người đứngđầu cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc Hội đồng nhân dân lúc nàyđược xác định là “cơ quan thay mặt cho dân”, các Ủy ban hành chính là “cơquan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ” Về tínhchất, Ủy ban hành chính lúc này mặc dù có cấp do Hội đồng nhân dân bầu ra
và có trách nhiệm thi hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân nhưng chưaxác định là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân mà là cơ quan hànhchính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ
Nhìn chung Hiến pháp năm 1946 đã xây dựng được một quyền hànhpháp có sức mạnh đảm bảo cho việc tổ chức, điều hành và thực thi các đạoluật, chính sách của Nghị viện đề ra
- Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp năm 1946
Quy định cho Chủ tịch nước nắm rất nhiều quyền hạn là phù hợp vớihoàn cảnh cụ thể của Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Do đấtnước đang trong giai đoạn khó khăn khi mới bước ra khỏi chiến tranh việccần kíp là phải thiết lập và thực thi một bộ máy hành chính mạnh mẽ và sángsuốt, có tính độc lập, chủ động trong việc điều hành đất nước
Chế định Chủ tịch nước được quy định khá đặc biệt phù hợp với môhình chính thể Cộng hòa dân chủ nhân dân Tuy nhiên, còn áp dụng một sốyếu tố phân quyền phù hợp với điều kiện của chế độ dân chủ nhân dân
Trang 141.3.1 Tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp năm 1959 quy định quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyềnhành pháp thuộc về Chủ tịch nước và Chính phủ Chế định Chính phủ đượcđổi thành Hội đồng Chính phủ, là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơquan hành chính cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Với tính chấtnày, quyền hành pháp không còn độc lập hoàn toàn như trước, quyền hạn của
cơ quan lập pháp lại được mở rộng hơn Nhưng với quy định Chính phủ là cơquan hành chính cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã làm choChính phủ có sự độc lập nhất định trong hoạt động của mình Chính phủ vẫngiữ vai trò chủ thể nắm quyền hành pháp chủ yếu và tổ chức triển khai thựchiện quyền đó, tăng cường hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, đặcbiệt là bộ máy hành pháp
Về cơ bản, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước bị thu hẹp hơn sovới Hiến pháp năm 1946 Theo đó, Chủ tịch nước đã tách khỏi Chính phủ vàkhông còn là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ nữa mà trởthành nguyên thủ quốc gia, đại diện cho đất nước trong lĩnh vực đối nội vàđối ngoại Chức năng nguyên thủ quốc gia được tách khỏi chức năng hànhpháp, song Chủ tịch nước vẫn còn quyền hành pháp tượng trưng thông quaviệc tham dự và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng chính phủ khi xét thấycần thiết
Chính quyền địa phương vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển Hộiđồng nhân dân được thành lập ở tất cả các cấp và được xác định là cơ quanquyền lực nhà nước ở địa phương Hội đồng nhân dân bầu ra Ủy ban hànhchính là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chínhnhà nước ở địa phương Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức bộ máynhà nước được tăng cường
- Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp năm 1959
Theo Hiến pháp năm 1959 Chủ tịch nước đã không còn nằm trong cơcấu của Chính phủ, người đứng đàu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ Đây
Trang 15cũng là lần đầu tiên trong Hiến pháp quy định “ Chính phủ là cơ quan chấphành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” Việc tổ chức cơ quan chấphành, hành chính cao nhất cũng không hoàn toàn lệ thuộc vào Quốc hội, vìHội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất nhưng vẫn là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Việt Nam dânchủ cộng hòa Điều này làm cho Hội đồng chính phủ còn tương đối độc lậptrong lĩnh vực hành chính nhà nước Đây cũng là một ưu điểm của Hiến phápnăm 1959 vì nó vẫn thực hiện quyền lực nhà nước, tạo điều kiện cho các cơquan hành chính nhà nước phát huy được vai trò quản lý và điều hành cáchoạt động xã hội của mình
1.3.2 Tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 1980
Theo Hiến pháp năm 1980 Quốc hội là cơ quan nhà nước có quyền lựctối cao, có vai trò chi phối tuyệt đối, đối với các cơ quan nhà nước có quyềnlực tối cao, có vai trò chi phối tuyệt đối với cơ quan khác trong bộ máy nhànước Quốc hội được xây dựng theo đúng tinh thần cơ quan quyền lực nhànước cao nhất thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát,
là “ tập thể hành động” Hội đồng Bộ trưởng thực hiện chức năng hành phápqua sự bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, tổ chức thực hiện kếhoạch và ngân sách nhà nước, thống nhất quản lý việc cải tạo, xây dựng vàphát triển nền kinh tế quốc dân, việc xây dựng và phát triển văn hóa, giáo dục,khao học, kỹ thuật… Theo Hiến pháp 1980 quyền hành pháp vẫn được ghinhận, nhưng có sự thay đổi lớn nó không còn độc lập với lập pháp Vì Quyềnhành được nhập lại với quyền lập pháp và thuộc về cơ quan lập pháp
Quy định Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính nhànước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã làm cho trong cơchế thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta lúc đó không có sựu phân biệtgiữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Thiết chế Chủ tịch nước tập thểlàm cho sự phản ứng nhanh nhạy của hành pháp phần nào bị hạn chế, khôngphù hợp với yêu cầu mà chức năng hành pháp cần thực hiện, Cơ quan hành
Trang 16chính cao nhất của nhà nước không còn độc lập như trước đây, mà nó phụthuộc hoàn toàn vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Cơ quan nắmquyền hành pháp gần như thuộc về cơ quan lập pháp.
- Ưu điểm và hạn chế của hiến pháp năm 1980
Mặt tích cực trong cơ chế quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 1980
là vẫn tiếp tục duy trì nguyên tắc bảo đảm thống nhất quyền lực, bảo đảmthực sự quyền lực nhân dân Đồng thời tập trung quyền lực vào Quốc hội vàHội đồng nhân dân, là cơ sở để đảm bảo quyền lực nhân dân
Một số hạn chế: Về chế định Chủ tịch nước qua một thời gian đã tỏ rakhông mấy hiệu quả bởi có những công việc trong lĩnh vực hành pháp đòi hỏiphải ra quyết định nhanh chóng thì Hội đồng nhà nước không đáp ứng đượcyêu cầu Thẩm quyền của Hội đồng nhà nước bao gồm những thẩm quyền của
cơ quan thường trực của Quốc hội cộng với những thẩm quyền của nguyênthủ quốc gia Sự thống nhất hai cơ quan này tạo nên sự tập quyền thái quátrong tay một cơ quan duy nhất, dễ dẫn đến sựu lạm quyền của cơ quan đó.Hội đồng Chính phủ được thay bằng Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấphành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước Tínhchất này đã làm cho Hội đồng Bộ trưởng không còn tính đọc lập tương đối mà
lệ thuộc hoàn toàn vào Quốc hội Qua đó ta thấy rằng Hiến pháp năm 1980 đãtập trung quá nhiều quyền lực cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong khibới phương thức hoạt động như hiện nay là chưa thể thực hiện được Trong cơcấu quyền lực nhà nước cũng thiếu sự phân công, phối hợp rành mạch giữacác cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
1.3.3.Tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam theo Hiến pháp năm 1992
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ Quyền lực nhà nước là thốngnhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Lần đầu tiên trong Hiến phápcủa nước ta có sự quy định khá rõ ràng về các quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp Quyền hành pháp ở nước ta không được giao cho một cơ quan cụ thể nào
Trang 17mà nó được thực hiện bởi nhiều chủ thể như Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơquan thuộc Chính phủ và các cơ quan hành pháp ở địa phương
- Chính phủ - chủ thể cơ bản của quyền hành pháp: Chính phủ là thiếtchế có vị trí và vai trò to lớn trong cơ chế quyền lực nhà nước Pháp luật cònquy định rõ ràng cách thức hoạt động của Chính phủ - chủ thể cơ bản cảuquyền hành pháp, góp phần làm cho hành pháp được thực thi có hiệu quả hơn.Hiến pháp năm 1992 quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành củaQuốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCNViệt Nam Chính phủ không còn là cơ quan hành chính nhà nước cao nhát củaQuốc hội nữa mà là của nhà nước Với tính chất là cơ quan hành chính nhànước cao nhất của đất nước cho thấy Chính phủ vẫn có sự độc lập trong lĩnhvực hoạt động của mình Phạm vi nghiên cứu, quyền hạn của Chính phủ về cơbản giống như trước, nhưng có một số điều chỉnh quan trọng thể hiện sự tăngcường vị trí, vai trò của Chính phủ theo hướng là cơ quan hành chính nahfnước cao nhất có tính độc lập nhất định trong lĩnh vực này Chính phủ là cơquan thực hiện chức năng quản lý chung trên tât cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội
- Chủ tịch nước - một chủ thể của quyền hành pháp: Các Hiến pháp củanước ta có sự khác nhau trong việc quy định về chế định nguyên thủ quốc gia.Chủ tịch nước là một khâu rất quan trọng trong việc kết nối, liên kết, phối hợphoạt động giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chínhphủ Chủ tịch nước thực hiện cả hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.Chủ tịch nước có ảnh hưởng đến quyền hành pháp chủ yếu thông qua cácquyền như quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhệm Phó chủ tịchnước, Thủ tướng Chính phủ (Khoản 3 điều 103).…
Sự độc lập và quyền hạn của Thủ tướng cũng cao hơn và được quy định
cụ thể hơn so với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Hiến pháp đã có sự phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ vói tính cách là tập thể chịu tráchnhiệm của cá nhân Thủ tướng, các Bộ trưởng Các quy định của Hiến pháp
Trang 18năm 1992 đã tạo ra khung pháp lý cơ bản cho Thủ tướng Chính phủ có thểtiến hành tốt hoạt động quản lý của mình.
Mặc dù trách nhiệm của cá nhân những người đứng đầu đã được đề caonhưng Hiến pháp vẫn coi trọng hình thức làm việc làm việc tập thể được cụthể bằng quy định “những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủphải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số”
Các cơ quan hành pháp ở địa phương
Cơ quan chính quyền địa phương được Hiến pháp năm 1992 và Luật tổchức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 xác định gồm có Hộiđồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Hội đồng nhân dân có vai trò rất lớntrong việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật của kinh tế xã hội địaphương Vị trí pháp lý và nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân các cấp được xácđịnh rất rõ trong Hiến pháp, Uỷ ban nhân dân là cơ quan trực tiếp thực thinhiệm vụ đưa Hiến pháp và pháp luật vào đời sống trong địa bàn quản lý củamình
- Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp năm 1992
Hiến pháp năm 1992 đã hoàn thiện hơn trong nguyên tắc tổ chức quyềnlực nhà nước Điều 2 Hiến pháp năm 1992 quy đinh: “… quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Hiến pháp cũngxác định “ Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Chính phủ được xácđịnh là cơ quan hành chính nhà nươc cao nhất của nước ta là cơ quan đứngđầu hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương thực hiệnhoạt động hành chính còn mang tính độc lập tương đối, chỉ do các cơ quanhành chính nhà nước điều hành
Tại Hiến pháp năm 1992, bộ máy nhà nước có nhiều đổi mới nhằm mụcđích vừa bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước vừa có sự phân côngrành mạch chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tăng cường hiệu lực của bộ
Trang 19máy nhà nước Cũng bắt đầu từ đay các khái niệm quyền lập pháp, quyềnhành pháp và quyền tư pháp đi liền với nó là việc sử dụng các thuật ngữ cơquan lập pháp, cơ quan hành pháp cơ quan tư pháp để chỉ các cơ quan trong
bộ máy nhà nước được sử dụng rộng rãi và chính thức
Hiến pháp năm 1992 đã đề cao vai trò cũng như trách nhiệm của cá nhânThủ tướng Chính Phủ Đây cũng là điểm mới so với các quy định trong cácbản Hiến pháp trước, là một phương pháp hữu hiệu để xây dựng một Chínhphủ hành pháp đủ lực
Hiến pháp năm 1992 đã bắt đầu quá trình tổ chức lại cơ cấu Chính phủtheo hướng đa ngành, đa lĩnh vực bằng quá trình sát nhập, điều chuyển chứcnăng và tổ chức lại các cơ quan thuộc chính phủ theo hướng không còn các cơquan thuộc Chính phủ làm chức năng quản lý nhà nước, chỉ còn cơ quan làmchức năng chuyên mô, sự nghiệp Tuy nhiên cơ cầu tổ chức của Chính phủvẫn còn cồng kềnh, số lượng các Bộ, cơ quan ngang Bộ còn nhiều
Cơ cấu tổ chức của Chính Phủ có quá nhiều chức danh Phó thủ tướngđặc biệt hơn còn thiết lập chức danh Phó thủ tướng thường trực Sự tồn tại củacác Phó Thủ tướng phụ trách các Khối, Bộ và liên Bộ đã giảm đi trách nhiệmcủa các Bộ trưởng phụ trách các ngành, lĩnh vực mà đúng ra theo quy địnhcủa Hiến pháp họ chính là những người chịu trách nhiệm
Nhìn chung Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện mức độ hoàn thiện cao hơncác Hiến pháp trước ở chỗ nó quy định rõ ràng hơn trách nhiệm , quyền hạncủa các chủ thể nắm quyền hành pháp góp phần làm cho quyền hành phápphát huy được tác dụng của nó Song luật cần phải quy định rõ ràng hơn nữatrách nhiệm cho từng chủ thể nắm quyền hành pháp tạo điều kiện cho quyềnhành pháp được tổ chức, thực hiện tốt, phát huy được chức năng, vai trò củahành pháp trong sự phát triển của Nhà nước
Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân năm 1994 và năm 2003 đã đặt nền móng cho việc đổi mới tổ chức chínhquyền địa phương theo hướng gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả trong quản lý các