1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế

141 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam được tổ chức thực hiện từ ngày 01.01.2009, mục đích của chế độ BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

BÙI THỊ THU LÝ

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế và trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình giảng dạy và trang bị kiến thức để tôi thực hiện luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến ban lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế và các đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được tham gia học tập và hoàn thành luận văn Xin cảm ơn các CBCNV trong đơn vị đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu, phỏng vấn để thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, ủng hộ, tạo mọi điều kiện cho tôi để hoàn thành Chương trình đào tạo Thạc sỹ.Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định khi thực hiện luận văn Kính mong quý Thầy, Cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 20 tháng 11 năm 2013

Tác giả

Bùi Thị Thu Lý

Trang 3

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên : BÙI THỊ THU LÝ

Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH Niên khóa: 2011 - 2013

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI DŨNG THỂ

Tên đề tài: “Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế”

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam được tổ chức thực hiện từ ngày 01.01.2009, mục đích của chế độ BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ hội mới về việc làm Tuy nhiên, thực tế sau khi thực hiện tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc về đối tượng tham gia, quy trình đóng và hưởng chế độ bảo hiểm, việc quản lý quỹ chưa chặt chẽ, quy định về giải quyết chính sách chưa sát thực tế, làm tăng nguy cơ bội chi BHTN

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình, nhằm đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm góp phần

hoàn thiện hơn việc thực hiện chính sách BHTN

2 Phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh; phương pháp điều tra phỏng vấn, thu thập số liệu; phương pháp xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm EXCELL, SPSS

3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần bổ sung và hệ thống hoá các vấn đề lý luận về thu, chi, quản lý quỹ BHTN Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý quỹ BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý quỹ BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp giúp hoàn thiện công tácquản lý quỹ BHTN tại đơn vị trong thời gian tới

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp

BHYT : Bảo hiểm y tế

NLĐ : Người lao động

SDLĐ : Sử dụng lao động

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanhHCSN : Hành chính sự nghiệp

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

HĐLĐ : Hợp đồng lao động

HĐVL : Hợp đồng việc làm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số mẫu điều tra đơn vị sử dụng lao động 4

Bảng 1.2 Số mẫu điều tra cán bộ BHXH 5

Bảng 1.3 Số mẫu điều tra người thụ hưởng BHTN(là người lao động) 5

Bảng 2.1.CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ YẾU ĐẠT ĐƯỢC 39

TRONG NĂM 2012 39

Bảng 2.3 Tình hình thu BHTN tại Thừa Thiên Huế từ 2010-2012 47

Bảng số 2.4 Tình hình chi trả trợ cấp và hỗ trợ BHTN qua các năm 50

Bảng 2.5: Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra 54

Bảng 2.6: Phân tích nhân tố đối với các biến điều tra 56

Bảng 2.7: Tình hình lao động tham gia BHTN theo khối loại hình 59

Bảng 2.8 Bảng tổng hợp số nộp BHTN của đơn vị sử dụng(1%) và người lao động(1%) 65

Bảng số 2.9 Tỷ trọng số thu BHTN các năm 66

Bảng số 2.10 Kế hoạch giao và kết quả thực hiện thu BHTN 68

Bảng 2.11 Ý kiến đánh giá của đối tượng khảo sát về quy định 69

quản lý thu BHTN 69

Bảng 2.12 Quy trình chi trả chế độ BHTN ở Thừa Thiên Huế 70

Bảng 2.13 Tình hình chi trả các chế độ BHTN từ 2010-2012 73

Bảng 2.14 Sự quan tâm của người thất nghiệp với học nghề 74

để tìm việc làm mới 74

Bảng số 2.15 Sự mong chờ của người thất nghiệp vào việc tư vấn giới thiệu việc làm của Trung tâm giới thiệu việc làm 74

Bảng 2.16 Tình hình thực hiện kế hoạch chi BHTN của tỉnh 76

Thừa Thiên Huế từ năm 2010 - 2012 76

Bảng 2.17 Tình hình cân đối thu-chi quỹ BHTN tại Thừa Thiên Huế 77

Bảng 2.18 Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về quy định quản lý chi BHTN 79 Bảng 2.19 Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về đánh giá 82

Trang 7

tổ chức thực hiện chính sách BHTN 82

Bảng 2.20 Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về công tác tuyên truyền 85

Bảng số 2.21 Về hướng dẫn làm thủ tục thất nghiệp 86

Bảng 2.22 Nguyên nhân thất nghiệp của người lao động 89

Bảng 2.23 Các hình thức lạm dụng quỹ BHTN 90

Bảng 2.24 Biện pháp phòng chống lạm dụng quỹ BHTN 91

Bảng 2.25 Kiểm định tính thuần nhất của phương sai của các biến điều tra 91

Bảng 2.26 Đánh giá của các đối tượng điều tra 92

Bảng 2.27 Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá của các đối tượng điều tra đến công tác quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại Thừa Thiên Huế 96

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH Thừa Thiên Huế 43

Ta có mô hình hồi quy: 97

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) có hiệu lực từ ngày 1.1.2007, Luật BHXH là

cơ sở pháp lý để cơ quan BHXH thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH, góp phần đảm bảo quyền lợi cho nhiều đối tượng, là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện an sinh xã hội Trong quá trình thực hiện, chế độ BHXH không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhằm đảm bảo quyền lợi đối với người lao động

Trong các chế độ của hệ thống BHXH có chế độ bảo hiểm thất nghiệp(BHTN) Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ

hội mới về việc làm Bên cạnh đó, thực hiện tốt BHTN sẽ giúp cho Nhà nước thực

hiện tốt chính sách điều hành kinh tế vĩ mô, giải quyết các bất ổn trong xã hội

Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam được tổ chức thực hiện từ ngày 01.01.2009, người lao động và đơn vị sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp Sự ra đời của chế độ BHTN góp phần hoàn thiện hệ thống BHXH

ở nước ta, với phương châm vì con người, cho con người mà trước hết là người lao động Sau 4 năm triển khai bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta đã đạt được nhiều “kỷ lục” với những con số ấn tượng, thực sự là “chỗ dựa” tin cậy của người lao động Đến nay cả nước đã có tới 8,07 triệu người lao động tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp Trong năm 2012, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm thất nghiệp vẫn tăng thêm 6,6% so với năm trước Cũng nhờ có chính sách này, sau 4 năm, cả nước đã có 1.007.640 lượt người bị ảnh hưởng việc làm đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp Và trong số đó, đã có 869.115 người lao động được cơ quan bảo hiểm xã hội ra quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp và chi trả tiền trợ cấp[31]

Cùng với việc chi trả tiền trợ cấp để giúp lao động ổn định cuộc sống, tạo bước đệm trước khi tìm được việc làm mới thì hiện nay các trung tâm giới thiệu

Trang 10

việc làm trong cả nước cũng rất tích cực hỗ trợ lao động để chuyển đổi Theo thống

kê, trong 4 năm qua, số người được tư vấn giới thiệu việc làm đã tăng lên nhanh chóng với 691.905 Đặc biệt trong năm 2012, các địa phương đã tổ chức hỗ trợ kinh phí học nghề để tìm việc làm mới cho 4.776 người [31]

Tuy nhiên, thực tế sau 4 năm triển khai thu - chi BHTN đang tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc về đối tượng tham gia, quy trình đóng và hưởng chế độ bảo hiểm, việc quản lý quỹ chưa chặt chẽ, quy định về giải quyết chính sách chưa sát thực tế, làm tăng nguy cơ bội chi BHTN, nếu không có giải pháp hiệu quả, kịp thời sẽ dẫn đến vỡ quỹ BHTN

Tại Thừa Thiên Huế, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bảo hiểm

xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đã tích cực triển khai, tuyên truyền Luật BHXH, các văn bản của các Bộ, ngành, đến các đơn vị, doanh nghiệp thuộc diện phải tham gia BHTN theo Luật định; ban hành các văn bản hướng dẫn tỉnh Thừa Thiên Huế

đã phối hợp với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tập huấn chính sách, chế độ BHTN Qua bước đầu thực hiện đã đạt được một số kết quả khả quan, số lượng người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đã tăng Tuy nhiên vẫn còn tồn tại tình trạng

né tránh đóng BHTN của đơn vị sử dụng lao động và cả người lao động, tỷ lệ tham gia còn thấp Người lao động khi thất nghiệp chỉ quan tâm đến việc nhận được bao nhiêu tiền trợ cấp, chưa quan tâm đến cái gốc của chính sách là hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm mới,

Nhận thức được vai trò của BHTN và những bất cập trong việc triển khai, thực hiện chính sách BHTN ở tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài

“ Hoàn thiện quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên

Huế ” Với mục đích nghiên cứu và đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm góp phần

hoàn thiện hơn việc thực hiện chính sách BHTN

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích phân tích, đánh giá được thực trạng công tác quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế Phân tích những

Trang 11

nhân tố ảnh hưởng đến việc thu, chi quỹ Bảo hiểm thất nghiệp Đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về BHTN và quản lý quỹ BHTN;

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý quỹ BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu tình hình thực hiện thu, chi BHTN các đơn vị, người tham gia đóng BHTN, người thụ hưởng chế độ BHTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện; các nhân tố ảnh hưởng đến thu, chi quỹ BHTN

- Phạm vi không gian : Địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phạm vi thời gian : Đánh giá thực trạng từ năm 2010-2012; số liệu điều tra năm 2012 và đề xuất giải pháp trong thời gian đến

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Tại Thừa Thiên Huế hiện có 1.452 đơn vị đang tham gia BHTN, với số người tham gia BHTN là 80.882 người trên 9 huyện, thị xã, thành phố Do phạm vi rộng không có điều kiện nghiên cứu hết các đơn vị sử dụng lao động, người lao động và người thụ hưởng BHTN, vì vậy chúng tôi chọn điểm nghiên cứu tại 80 đơn

vị tham gia BHTN thuộc các khối loại hình tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, thành

Trang 12

phố Huế, thị xã Hương Thủy và thị xã Hương Trà là những nơi có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài và khu công nghiệp triển để tiến hành khảo sát, điều tra lấy ý kiến về đối tượng, mức đóng BHTN và nhận thức hiểu biết về BHTN của người sử dụng lao động, người lao động; khảo sát, điều tra về tình hình thụ hưởng BHTN của người thụ hưởng như hồ sơ thủ tục, quy trình chi trả , thời gian giải quyết BHTN và việc đăng ký tham gia học nghề của người thụ hưởng BHTN.

Bên cạnh đó, để đánh giá được tình trạng quản lý quỹ BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát lấy ý kiến của cán

bộ tại văn phòng BHXH tỉnh, BHXH thành phố Huế, BHXH thị xã Hương Thủy và BHXH thị xã Hương Trà là những người trực tiếp thụ lý và giải quyết hồ sơ thu, chi BHTN đối với người lao động, người sử dụng lao động và người thụ hưởng BHTN

3.3.2 Thu thập thông tin

Nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu đánh giá là thông tin thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như các báo cáo đã được công bố của các cơ quan,

tổ chức; báo, tạp chí và thông tin trên mạng internet và thông tin sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi kín

3.3.2.1 Thông tin thứ cấp

Thông tin được thu thập từ các đơn vị BHXH các huyện, BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, BHXH Việt Nam, Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế và từ các sách báo, tạp chí, các Website có liên quan

3.3.2.2 Thông tin sơ cấp

Thông tin được thu thập từ việc điều tra, khảo sát 80 đơn vị sử dụng lao động, 150 người thụ hưởng BHTN và 70 cán bộ thuộc BHXH tỉnh, BHXH thành phố Huế, thị xã Hương Thủy và thị xã Hương Trà theo mẫu đã được thiết kế sẵn tại phụ lục 01 phục vụ cho nghiên cứu

Bảng 1.1 Số mẫu điều tra đơn vị sử dụng lao động

Trang 13

Đơn vị tính : đơn vị

BHXH tỉnh

BHXH

TP Huế

BHXH

TX Hương Thủy

BHXH

TX Hương Trà

Chia ra

BHXH tỉnh

BHXH

TP Huế

BHXH

TX Hương Thủy

BHXH

TX Hương Trà

Huế

BHXH TX Hương Thủy

BHXH TX Hương Trà

3.3.3 Phương pháp tổng hợp phân tích

Trang 14

3.3.3.1 Phương pháp thống kế mô tả

Sử dụng số liệu thống kê và kết quả điều tra thu thập về số lao động, số chi được thu thập được từ các báo cáo của Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế và các huyện, thị xã, thành phố để mô tả, đánh giá thực trạng, phân tích biến động và mối liên hệ Mục đích là thông qua các hiện tượng bên ngoài phân tích, nhận xét, đánh giá nhiều chiều để tìm ra bản chất của vấn đề, cuối cùng đưa ra các hướng tác động, khắc phục đạt với yêu cầu đặt ra

thu-3.3.4.2 Phương pháp thống kê so sánh

Thống kê so sánh là phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo các tiêu chí khác nhau sau đó đem kết quả so sánh với nhau, so sánh với các chỉ tiêu đã định như : kế hoạch, thời gian, không gian, các thời điểm nghiên cứu khác nhau trong cùng một vấn đề

Đề tài này sử dụng phương pháp thống kê so sánh với các thông tin thu thập được trên cơ sở các số liệu điều tra các đối tượng Số liệu điều tra được xử lý phân

tổ so sánh với nhau để đưa ra các nhận xét về công tác quản lý quỹ BHTN tại địa điểm nghiên cứu

3.3.4.3 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này có ưu điểm trong việc đánh giá những vấn đề có tính ước định, làm sáng tỏ các vấn đề có tính kinh tế - kỹ thuật phức tạp, đồng thời trắc nghiệm lại các tính toán và những nhận định làm căn cứ đưa ra những kết luận có tính khoa học và thực tiễn

Những chuyên gia được hỏi ý kiến có thể bao gồm: các giáo viên về lĩnh vực chính sách BHXH, BHTN; các cán bộ lãnh đạo trong ngành BHXH, ngành Lao động Thương binh và Xã hội thông qua các buổi phỏng vấn, trao dổi thảo luận, Những kết quả thu được từ ý kiến của các chuyên gia này cũng là một trong những

cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp

3.3.4.4 Phương pháp phân tích nhân tố

Kết quả điều tra sẽ được xử lý, tổng hợp và phân tích trên máy vi tính dựa trên phần mềm Excel và SPSS for Windows

Phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp hệ số tin cậy Cronbach

Trang 15

alpha được sử dụng Thang đo được đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố EFA Hệ số Cronbach Alpha được dùng để loại các biến rác, các biến có hệ số tương quan tổng biến nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và các biến được chọn phải có hệ số Cronbach Alpha bằng 0.6 trở lên.

Chương I

Trang 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Khái niệm, vai trò của quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp(BHTN) là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp - được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (người lao động đóng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia BHTN và Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm Việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước[24]

Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định

Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN

Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích

Trang 17

lợi nhuận Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình[24].

Quỹ này sẽ được sử dụng để trả trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho NLĐ được hưởng chế độ; hỗ trợ học nghề và tìm việc, đóng bảo hiểm y tế cho NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng; đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định…

Do tính chất đặc thù, tổ chức triển khai cần phải có khả năng điều phối giữa các hệ thống quản lý BHXH (thu phí và chi trả trợ cấp) và hệ thống quản lý việc làm (theo dõi, quản lý cũng như hỗ trợ người lao động) Các doanh nghiệp và người lao động hiện mới chỉ tham gia để đối phó Về mặt tài chính, BHTN cũng sẽ gặp nguy cơ mất cân đối quỹ như đối với các loại hình BHXH và BHYT Nếu không thực hiện tốt cơ chế quản lý tài chính, Quỹ BHTN sẽ có thể lại rơi vào trạng thái bội chi lớn và tạo gánh nặng cho NSNN trong khi có thể không thực sự phát huy hết hiệu quả vốn có của nó đối với nền sản xuất xã hội

1.1.1.2 Bản chất quỹ BHTN

BHTN là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, là một trong những trụ cột, một phần không thể thiếu của bảo hiểm xã hội Là một loại hình bảo hiểm chuyên biệt dành cho những người lao động thôi việc hoặc mất việc làm theo quy định pháp luật đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng

có hiệu quả Ở nước ta, BHTN ra đời đã tạo thêm một lưới an sinh nhằm hỗ trợ cho người lao động khi bị mất việc có thể vượt qua khó khăn và có cơ hội tìm được việc làm mới Hơn nữa, BHTN tích hợp trong nó rất nhiều sự ưu đãi, người lao động đủ điều kiện luật định khi bị mất việc có thể được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp, hưởng bảo hiểm y tế khi bị ốm đau và trong thời gian thất nghiệp còn được hỗ trợ học nghề, tìm kiếm việc làm Do vậy, BHTN góp phần bảo vệ quyền lợi cho người lao động, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển xã hội cân bằng

Có hiệu lực từ năm 2009, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đi vào cuộc sống rất nhanh, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp liên tục tăng qua các năm Nét

ưu việt của Quỹ BHTN, chính là có sự hỗ trợ của Nhà nước, trước mắt Quỹ BHTN san sẻ từ quỹ BHXH hiện nay để có nguồn vốn thực hiện ngay từ đầu năm 2009,

Trang 18

nhằm chi trả cho dạy nghề, tạo việc làm cho NLĐ Do đó tính ổn định của quỹ sẽ cao, đảm bảo an sinh cho xã hội.

Bản chất của Quỹ BHTN là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho một bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; và là sự góp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau

1.1.1.3 Vai trò quỹ BHTN

Thứ nhất, góp phần ổn định đời sống của người lao động [33].

Người lao động tham gia BHTN sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị mất việc làm Mục đích lớn nhất của Quỹ BHTN là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ Người lao động sẽ được thay thế một phần thu nhập khi bị mất việc làm, điều này sẽ giúp người lao động yên tâm hơn và không phải lo lắng khi có rủi ro mất việc làm có thể xảy ra Đồng thời góp phần hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn có thể xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo môi trường làm việc bình đẳng, ổn định, đảm bảo cho hoạt động sản xuất, công tác đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước

Thứ hai, làm gắn bó lợi ích giữa người sử dụng lao động, người lao động và

Nhà nước[33]

Quỹ BHTN hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp, giúp họ và gia đình họ có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khổ, giúp người lao động có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp và để tìm việc làm mới BHTN hỗ trợ họ tìm kiếm việc làm và cơ hội có việc làm thông qua việc

tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để giúp họ có điều kiện sớm quay trở lại thị trường lao động

Ngoài ra, Quỹ BHTN hỗ trợ tài chính cho người lao động bị thất nghiệp, điều đó gián tiếp hỗ trợ cho người sử dụng lao động, giảm áp lực cho họ trong vấn

đề hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp Mặt khác, chính sách cung cấp thông tin, tư vấn đào tạo cho người lao động bị thất nghiệp tìm việc làm, giúp cho người sử dụng

Trang 19

lao động, những người có nhu cầu lao động và những người thất nghiệp, đang có nhu cầu tìm việc làm, có nhiều cơ hội gặp nhau hơn Theo đó, người sử dụng lao động được đáp ứng nhu cầu lao động phù hợp hơn.

Đối với Nhà nước, thông qua tổ chức, triển khai thực hiện đó khẳng định đây

là chính sách đúng đắn có tác động trực tiếp, thiết thực tới người lao động, người sử dụng lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, được người sử dụng lao động, người lao động đón nhận một cách tích cực, được dư luận xã hội đánh giá là một trong những chính sách sớm đi vào cuộc sống

Thứ ba, góp phần thực hiện công bằng xã hội[33].

Thực tế cho thấy, không coi trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể phát triển nhanh và bền vững được Quỹ BHTN dựa trên nguyên tắc sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội, theo đó số đông bù số ít, người lao động bình đẳng trong nghĩa cụ đóng góp và hưởng thụ Mức hưởng BHTN phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng theo nguyên tắc “có đóng-có hưởng” và “đóng ít-hưởng ít, đóng nhiều-hưởng nhiều”, đối tượng tham gia không chỉ trong khu vực Nhà nước mà

ở mọi thành phần kinh tế Sự phân phối trong quỹ BHTN là sự dịch chuyển thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho người có thu nhập thấp, là sự dịch chuyển của người may mắn có việc làm ổn định cho những người không may gặp biến cố rủi ro giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội

Thứ tư, góp phần vào sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội của đất nước[33]

Thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng mất thu nhập đột ngột và đương nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng, người thất nghiệp sống dưới mức tiêu chuẩn chung của xã hội Điều đó có thể phát sinh các tệ nạn xã hội, gây bất ổn cho xã hôi BHTN ra đời nhằm góp phần giảm thiểu tình trang thất nghiệp, giúp người thất nghiệp và gia đình họ có cuộc sống ổn định trong thời gian

bị thất nghiệp, góp phần ổn định cho xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển

Mục tiêu chính của Quỹ BHTN là giúp người thất nghiệp sớm quay trở lại thị trưởng lao động thông qua việc hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đạo tạo nghề,

Trang 20

làm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp Thất nghiệp giảm, có nghĩa là nhiều người lao động tìm được việc làm Nguồn nhân lực không bị lãng phí và được sử dụng vào các hoạt động tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển

Như vậy có thể thấy BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp vừa là một chính sách xã hội rất quan trọng

Với cách tiếp cận này, BHTN có hai chức năng chủ yếu : Chức năng bảo vệ

và chức năng khuyến khích[32]

- Với chức năng bảo vệ, BHTN tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động

có cơ hội quay lại thị trường lao động

- Với chức năng khuyến khích, BHTN kích thích người lao động thất nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đón nhận việc làm khi có cơ hội

Qua hai chức năng này có thể thấy Quỹ BHTN không chỉ có ý nghĩa đối với người lao động mà còn có ý nghĩa với cả người sử dụng lao động và Nhà nước Chính vì vậy, việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong hợp đồng lao động Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ khi cần thiết

Quỹ BHTN đóng góp vai trò làm thăng bằng trong nền kinh tế, là liều thuốc làm hạ nhiệt sự căng thẳng xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra Là một trong những công cụ để thực hiện chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia Để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể, được thiết kế để kích thích nền kinh tế Xu hướng chung của các nước hiện nay là, ngoài trợ cấp cho người lao động, khi thất nghiệp, có điều kiện sinh sống, người ta còn thực hiện thêm biện pháp đào tạo lại người lao động để họ có điều kiện dễ tìm việc làm mới Vì vậy, BHTN được liên kết chặt chẽ với các biện pháp thị trường lao động tích cực như tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nâng cao năng lực cho người lao động, tìm việc làm cho người thất nghiệp Các biện pháp này luôn gắn liền với chính sách và chương trình việc làm quốc gia BHTN thường được thống nhất với

Trang 21

chương trình việc làm quốc gia Đây như một biện pháp, chính sách hỗ trợ lao động nhằm đẩy lùi thất nghiệp, nhanh chóng đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.

1.1.2 Đặc điểm của quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, đối tượng tham gia, đối tượng thụ hưởng BHTN

1.1.2.1 Đặc điểm của quỹ BHTN

- Tính chủ thể của Quỹ BHTN Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc tạo lập và sử dụng quỹ; người tham gia là chủ thể duy nhất có quyền sử dụng quỹ [1]

- Quỹ BHTN được hình thành từ nguồn thu BHTN, quỹ này không mang tính bồi hoàn, nó dược dùng để trợ cấp do biến cố mất việc làm, đó là rủi ro trái với

ý muốn của con người; có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải tổn thất do mất việc làm thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó[24]

- Quỹ BHTN là một quỹ tiền tệ mang tính cộng đồng xã hội lớn hoạt động theo nguyên tắc cộng đồng, lấy số đông bù số ít, dùng tiền đóng góp của nhiều người tham gia để bù đắp cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số tiền đóng góp của từng người khi họ gặp phải những rủi ro trong công việc Hoạt động của Quỹ BHTN là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính cộng đồng, tính xã hội rất cao, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động[24]

- Một quỹ tiền tệ tập trung lớn, tồn tại trong thời gian dài, luôn vận động và

có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn Quỹ BHTN được hình thành từ nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước tạo thành một nguồn tài chính lớn Quỹ dùng để chi trả các chế độ BHTN

- Quỹ BHTN luôn chịu tác động của các nhân tố, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp Thất nghiệp giảm cũng đồng nghĩa với nhiều lao động có việc làm sẽ gia tăng đối tượng tham gia BHTN, số tiền đóng góp vào quỹ BHTN cũng tăng theo

Và ngược lại thất nghiệp tăng đồng nghĩa với việc nhiều lao động mất việc làm, số tiền đóng góp vào quỹ BHTN giảm, số tiền chi ra tăng dẫn đến giảm quỹ[33]

Ngoài ra còn có những nhân tố tác động gián tiếp đến quỹ BHTN như: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội Một nền kinh tế phát triển sẽ thu hút đầu tư, sản xuất và thương mại phát triển dẫn đến gia tăng việc làm và thu nhập cho người lao

Trang 22

động Xã hội tiến bộ, chất lượng cuộc sống cũng như nhận thức của con người ngày càng được nâng cao, các chế độ BHTN cũng dần dần được cải thiện tạo được lòng tin người tham gia.

1.1.2.2 Đối tượng tham gia đóng BHTN và đối tượng thụ hưởng BHTN

a Đối tượng tham gia đóng BHTN

- Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 3 Điều 2 Luật

Bảo hiểm xã hội là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động, cụ thể:

+ Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng;

+ Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

+ Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng;

+ Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng,

sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước

Các đối tượng giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nêu trên sau đây gọi chung là người lao động

- Trừ người đang hưởng lương hưu hằng tháng, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động theo các loại hợp đồng quy định như trên không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ mười bốn ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn

vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp[3]

Trang 23

- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là người sử dụng

lao động có sử dụng từ mười (10) người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau đây:

+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị

sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác

+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư

+ Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.+ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế

mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

b Đối tượng thụ hưởng BHTN

Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau[3]:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật

Tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động được tính nếu người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, người lao động đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc ít nhất 01 ngày trong tháng đó

- Đã đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc

- Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định

Trang 24

d Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ.

e Các nguồn thu hợp pháp khác

Ở các nước trên thế giới, đóng góp BHTN do Nhà nước và người sử dụng lao động gánh chịu, bởi vì ở một mức độ nào đó, trong sự ràng buộc về quan hệ hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm về các rủi ro (trong đó

có rủi ro thất nghiệp) xảy ra cho người lao động mà họ đang sử dụng

Phần đóng góp của người lao động là để cho họ ý thức được ý nghĩa của việc

dự phòng cá nhân Ngoài ra, chính người lao động là người hưởng trợ cấp nên họ phải tham gia đóng góp Điều này có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động một cách chặt chẽ

Sự tham gia của Nhà nước là điều kiện không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề xã hội Nhà nước tham gia đóng góp trên cương vị quản lý nhà nước về BHTN, với tư cách bảo trợ cho quỹ khi phần đóng góp của người lao động và người

sử dụng lao động không đủ đáp ứng các chi phí hoặc dự trữ của quỹ bị ảnh hưởng

do các biến động về tiền tệ khi Nhà nước thay đổi các chính sách kinh tế - xã hội

1.1.3.2 Sử dụng quỹ BHTN

Quỹ BHTN được sử dụng để chi trả cho những nội dung sau :

a Chi trả trợ cấp thất nghiệp hằng tháng cho người lao động tham gia bảo

Trang 25

hiểm thất nghiệp khi bị thất nghiệp có đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp hoặc người được uỷ quyền nhận trợ cấp thất nghiệp hằng tháng[2].

Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm

việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

- Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

- Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

- Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

- Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên

b.Chi hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng theo quy định, cụ thể [2][3]:

- Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các cơ sở dạy nghề

- Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tùy theo mức chi phí học nghề của từng nghề, mức hỗ trợ học nghề được tính theo tháng trên cơ sở mức chi phí đào tạo của từng nghề Mức hỗ trợ học nghề cụ thể theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

- Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo của từng nghề

và từng người lao động, nhưng không quá 6 tháng Thời gian bắt đầu để được hỗ trợ học nghề tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng

Trang 26

c Chi hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, cụ thể[2]:

- Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm

- Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp theo quy định

d Chi đóng bảo hiểm y tế cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, cụ thể[2]:

- Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế

- Tổ chức Bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

e Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp[2]

f Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định[2]

1.1.3.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về BHTN:

- Luật Bảo hiểm xã hội sô 71/2006 của Quốc hội

- Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp

- Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/1/2009 của Bộ Lao Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp

động Thông tư số 96/2009/TTđộng BTC ngày 20/5/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP

- Thông tư số 34/2009/TT BLĐTBXH ngày 16/10/2009 của Bộ Lao Thương binh và Xã hội hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/1/2009 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn

Trang 27

động-thi hành một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm

xã hội về bảo hiểm thất nghiệp

- Thông tư số 113/2009/TT-BQP ngày 07/12/2009 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 127/2008/NĐ- CP ngày 12 tháng 12 năm

2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp trong Quân đội nhân dân Việt Nam

- Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao Thương binh và Xã hội Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 9 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động

- Thông tư số 39/2009/TT BLĐTBXH ngày 18/11/2009 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành điều 12 của Nghị định số 39/2003/NĐ-

động-CP ngày 18 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm

- Công văn số 1615/BHXH-CSXH ngày 02/6/2009 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn thực hiện thu, chi BHTN

- Công văn số 2035/BHXH-CSXH ngày 22/6/2009 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn sửa đổi, bổ sung công văn số 1615/BHXH-CSXH về hướng dẫn thu, chi BHTN

- Nghị định 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp

1.1.4 Quản lý quỹ BHTN

1.1.4.1 Khái niệm về quản lý

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn

Trang 28

chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng

là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?

Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó

Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực

1.1.4.2 Quản lý quỹ BHTN

Theo quy định tại Điều 30 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP thì quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:

- Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện việc thu, chi, quản lý Quỹ bảo hiểm

thất nghiệp và được mở tài khoản tiền gửi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước và hệ thống Ngân hàng thương mại của Nhà nước Số dư trên tài khoản tiền gửi được hưởng lãi suất tiền gửi theo quy định của Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại nhà nước

- Hàng năm, tổ chức Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thực hiện việc quyết

toán thu, chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; chi quản lý theo quy định

Quản lý Quỹ BHTN được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý vào

đối tượng quản lý trong các hoạt động độc lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động thu BHTN, chi trả các chế độ BHTN nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định[27].

Trang 29

1.1.4.3 Mục tiêu quản lý quỹ BHTN

Với mục tiêu ổn định nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái thông qua duy trì sức mua của lực lượng lao động bị mất việc làm, quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ là khoản dự phòng trong trường hợp kinh tế suy thoái để chi trả trợ cấp cho người thất nghiệp nhằm thay thế thu nhập bị mất do mất việc làm Khoản trợ cấp thay thế này một mặt hỗ trợ thu nhập cho người thất nghiệp, mặt khác không làm suy giảm một cách bất ngờ sức mua của lực lượng lao động dẫn đến đình đốn sản xuất giúp ổn định nền kinh tế Bên cạnh đó, do được đảm bảo bằng một khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất đi, cũng như được hỗ trợ đào tạo nâng cao tay nghề hoặc đào tạo lại

để chuyển đổi nghề, những người lao động bị mất việc do những lý do cải cách doanh nghiệp sẽ không có những phản ứng quá tiêu cực dẫn đến bất ổn về chính trị

1.1.4.4 Nguyên tắc quản lý quỹ BHTN

- Nguyên tắc thứ nhất : Quỹ BHTN được quản lý theo nguyên tắc tập trung,

thống nhất, công khai, minh bạch , đúng mục đích theo quy định của pháp luật [8]

Bảo hiểm xã hội các cấp có trách nhiệm thực hiện quyết toán thu, chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định gửi Bảo hiểm xã hội cấp trên để kiểm tra, xét duyệt, gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định và tổng hợp trình Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông qua, báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Báo cáo quyết toán thu, chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải phản ánh đầy đủ từng khoản thu, chi theo quy định

Bên cạnh đó còn phải lập riêng báo cáo quyết toán thu bảo hiểm thất nghiệp (phần thu của người lao động, người sử dụng lao động và ngân sách nhà nước hỗ trợ)

Trang 30

Nguyên tắc này được coi là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất Thông qua nguyên tắc này tạo được một khối lượng tiền thống nhất tránh sự thất thoát quỹ và sử dụng quỹ không đúng mục đích Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước trong việc chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của Quỹ BHTN.

- Nguyên tắc thứ hai : Quỹ BHTN được Nhà nước bảo hộ, trường hợp quỹ

bảo hiểm thất nghiệp trong năm bội chi, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm

đề xuất các biện pháp báo cáo Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét trước khi gửi Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định[8]

1.1.4.5 Nội dung quản lý quỹ BHTN

a.Quản lý thu BHTN[17] :

a.1 Quản lý theo tiền lương, tiền công đóng BHTN:

+ Tiền lương do Nhà nước quy định:

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng

Tiền lương tháng đóng BHTN bao gồm cả hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công

+ Tiền lương, tiền công do đơn vị quyết định

Người lao động thực hiện chế độ tiền lương do đơn vị quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN là mức tiền lương, tiền công ghi trên hợp đồng lao động

Người lao động có tiền lương, tiền công tháng ghi trên hợp đồng lao động bằng ngoại tệ thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN được tính bằng Đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương, tiền công bằng ngoại tệ được chuyển đổi bằng Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm

và ngày 01 tháng 7 cho 6 tháng cuối năm

Trang 31

Đối với ngoại tệ mà Ngân hàng Nhà nước không công bố tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng thì áp dụng tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với ngoại tệ đó áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm và ngày 01 tháng 7 cho 6 tháng cuối năm.

Trường hợp trùng vào ngày nghỉ mà Ngân hàng Nhà nước chưa công bố thì được lấy tỷ giá của ngày tiếp theo liền kề

Người lao động là người quản lý doanh nghiệp thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN là mức tiền lương do Điều lệ của công ty quy định

Mức tiền lương, tiền công đóng BHTN không thấp hơn mức lương tối thiểu chung hoặc mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng:

Người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp dạy nghề) thì tiền lương, tiền công đóng BHTN phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng, nếu làm công việc nặng nhọc độc hại thì cộng thêm 5%

+ Mức tiền lương, tiền công đóng BHTN mà cao hơn 20 tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc bằng 20 tháng lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng

+ Tiền lương, tiền công đóng BHTN là tiền lương, tiền công tháng không đóng BHTN theo tiền lương ngày, giờ, tiền lương tuần hoặc tiền lương theo sản phẩm

a.2.Quản lý theo mức đóng và trách nhiệm đóng: Mức đóng hằng tháng bằng 3% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN, trong đó: Người lao động đóng bằng 1%; đơn vị đóng bằng 1%, Ngân sách nhà nước hỗ trợ bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN

a.3.Quản lý theo phương thức đóng:

+ Phương thức đóng BHTN đối với đơn vị và người lao động:

Đóng hằng tháng: Chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHTN trên quỹ tiền lương, tiền công tháng của những người lao động tham gia BHTN, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của từng người lao động theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước

Trang 32

Đóng hằng quý hoặc 6 tháng một lần (một năm 02 lần): Đơn vị là doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả tiền lương, tiền công cho người lao động theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh có thể đóng hằng quý hoặc 6 tháng một lần trên cơ sở đăng ký phương thức đóng với cơ quan BHXH Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHTN.

Đóng theo địa bàn: Cơ quan, đơn vị đóng trụ sở chính ở địa bàn tỉnh nào thì đăng ký tham gia đóng BHTN tại địa bàn tỉnh đó theo phân cấp của cơ quan BHXH tỉnh Chi nhánh của doanh nghiệp đóng BHTN tại địa bàn nơi cấp giấy phép kinh doanh cho chi nhánh

+ Phương thức hỗ trợ quỹ BHTN của Ngân sách nhà nước:

Quý III hằng năm, căn cứ dự toán Ngân sách hỗ trợ quỹ BHTN được cấp có

thẩm quyền phê duyệt, BHXH các cấp đề nghị cơ quan tài chính chuyển một lần

kinh phí hỗ trợ vào quỹ BHTN

Kết thúc năm tài chính, căn cứ báo cáo quyết toán thu BHTN do cơ quan BHXH lập, cơ quan tài chính thẩm định để xác định cụ thể số kinh phí hỗ trợ quỹ BHTN theo quy định Trường hợp kinh phí đã cấp lớn hơn mức hỗ trợ thì được chuyển nguồn sang năm sau sử dụng và giảm trừ vào dự toán năm sau, trường hợp thiếu kinh phí thì được cấp bổ sung vào dự toán Ngân sách hỗ trợ quỹ BHTN năm sau

b Quản lý chi BHTN[18] :

b.1 Phân cấp thực hiện chi trả các chế độ bảo hiểm thất nghiệp

- Đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh:

Chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chi trả, quyết toán các chế độ BHTN trên địa bàn quản lý;

Thực hiện chi trả hỗ trợ tìm việc làm cho Trung tâm Giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội

- Đối với Bảo hiểm xã hội huyện:

Tổ chức chi trả trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, trợ cấp thất nghiệp một lần cho người hưởng BHTN;

Trang 33

Thực hiện chi trả hỗ trợ học nghề cho các Cơ sở Đào tạo nghề trên địa bàn.b.2 Lập, xét duyệt dự toán chi bảo hiểm thất nghiệp.

Việc lập dự toán chi trả các chế độ BHTN hàng năm thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Dự toán chi BHTN phải phản ánh đầy đủ nội dung theo từng khoản mục, loại đối tượng, mức hưởng Dự toán phải kèm theo thuyết minh về sự biến động tăng, giảm người hưởng BHTN và các nội dung chi khác trong năm (nếu có)

- Theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh, hàng năm Bảo hiểm xã hội huyện lập dự toán chi BHTN cho đối tượng hưởng trên địa bàn huyện Trong năm thực hiện, nếu có phát sinh chi vượt kế hoạch được duyệt, Bảo hiểm xã hội huyện phải báo cáo, giải trình để Bảo hiểm xã hội tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí, đảm bảo chi trả kịp thời cho người hưởng BHTN

- Theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hàng năm Bảo hiểm xã hội tỉnh hướng dẫn, tổ chức xét duyệt và thông báo dự toán kinh phí chi trả các chế

độ BHTN cho Bảo hiểm xã hội huyện; lập dự toán chi BHTN cho người hưởng trên địa bàn tỉnh Trong năm thực hiện, nếu có phát sinh chi vượt kế hoạch được duyệt, Bảo hiểm xã hội tỉnh phải báo cáo, giải trình để Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét, cấp bổ sung kinh phí, đảm bảo chi trả kịp thời cho người hưởng BHTN

- Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, hàng năm Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn, tổ chức xét duyệt và thông báo dự toán kinh phí chi trả các chế độ BHTN cho Bảo hiểm xã hội tỉnh; lập dự toán chi BHTN của Ngành Dự toán chi BHXH được lập trên cơ sở tổng hợp dự toán chi BHXH đã được duyệt của Bảo hiểm xã hội các tỉnh, trình Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông qua Trong năm thực hiện, trên cơ sở dự toán được Bộ Tài chính duyệt và đề nghị điều chỉnh kế hoạch của Bảo hiểm xã hội tỉnh (nếu có), Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể để điều chỉnh kế hoạch cho Bảo hiểm xã hội tỉnh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vấn đề BHTN trên thế giới

BHTN xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến và phát triển : nghề sản xuất các mặt hàng thủy tinh ở ở Bohemia và thợ sản xuất đăng ten ở

Trang 34

Basel - Thụy Sĩ Nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20-30 công nhân Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với doanh nghiệp, năm1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để trợ cấp cho những người thợ phải nghĩ việc vì lý do thời vụ sản xuất Sau đó, nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc, mất việc làm Tiền trợ cấp được tính vào giá thành sản phẩm và người sử dụng hàng hóa phải gáng chịu Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều cấp chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết với doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất sau đó là quỹ BHTN Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnơ (Thụy Sĩ) Tham gia đóng góp bao gồm giới chủ

và người lao động có công việc làm không ổn định Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và Trung ương

1.2.1.1 BHTN tại Hàn Quốc

Hệ thống Chính sách Bảo hiểm việc làm của Hàn Quốc được xem như một

hệ thống chính sách toàn diện, bao gồm chính sách thị trường lao động và bảo hiểm

xã hội Chính sách bảo hiểm việc làm không chỉ thực hiện chức năng truyền thống

là cung cấp trợ cấp thất nghiệp đối với người thất nghiệp mà còn thực hiện chức năng xúc tiến điều chỉnh cơ cấu các ngành, ngăn ngừa thất nghiệp, xúc tiến các hoạt động bảo đảm việc làm để tăng việc làm và xúc tiến các hoạt động phát triển kỹ năng nghề đối với người lao động Bộ Lao động chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện hệ thống chính sách bảo hiểm việc làm này Cơ quan Phúc lợi Lao động Hàn Quốc triển khai và thực hiện thu bảo hiểm Các Văn phòng lao động địa phương thực hiện chi trả chế độ bảo hiểm việc làm (thông qua tài khoản cá nhân)

Hệ thống chính sách bảo hiểm việc làm của Hàn Quốc gồm ba cấu phần chính: chương trình bảo đảm việc làm, chương trình phát triển kỹ năng nghề, trợ cấp thất nghiệp

Trách nhiệm đóng góp Bảo hiểm việc làm được xác định cho người sử

dụng lao động và người lao động tùy theo mỗi một loại hình hoạt động

Trang 35

Một trong những vấn đề cơ bản trong thực hiện chính sách bảo hiểm việc làm nói chung và BHTN nói riêng là mức độ tuân thủ, đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ và đối với người lao động hưởng tiền lương ngày Hiện nay, tỷ lệ tuân thủ ở Hàn Quốc được biết là 73,4% Trong thị trường lao động của Hàn Quốc, người lao động thường được phân loại thành lao động thường xuyên, lao động tạm thời và lao động theo ngày Người lao động tạm thời có thể làm việc với thời hạn xác định hoặc không xác định thời hạn Các doanh nghiệp sử dụng lao động tạm thời để điều chỉnh số lượng trong danh sách trả lương vì loại lao động này có thể bị

sa thải và không được hưởng trợ cấp một lần Người lao động hưởng tiền lương ngày được thuê mướn với một thời hạn xác định và tự động chấm dứt khỏi danh sách trả lương Một số chủ sử dụng lao động không muốn thông báo hai nhóm lao động nói trên về các mục đích bảo hiểm xã hội Sự yếu kém trong công tác quản lý chủ yếu do thiếu những quy định thỏa đáng cho việc lưu trữ hồ sơ của người sử dụng lao động đối với nhóm lao động này[15]

Một trong những cản trở khác đối với việc thực hiện chính sách bảo hiểm việc làm và chương trình BHTN là chất lượng của việc làm giảm do mức độ an toàn thấp đó làm giảm tính khuyến khích các doanh nghiệp đào tạo người lao động của mình và tạo ra những tiến bộ chậm chạp của các dịch vụ việc làm trong việc xây dựng thông tin và dịch vụ về thị trường lao động, ví dụ dịch vụ tư vấn việc làm

1.2.1.2 BHTN tại Thái Lan

Đối tượng tham gia BHTN ở Thái Lan chính là đối tượng tham gia BHXH, gồm tất cả các doanh nghiệp có sử dụng từ 1 người lao động trở lên

Về mức đóng góp BHTN, đóng góp BHTN được thu kể từ 01/01/2004 Người

sử dụng lao động và người lao động hàng tháng, đóng một mức như nhau, cho Quỹ BHTN, là 0,5% mức tiền lương Nhà nước đóng 0,25% quỹ tiền lương;

Điều kiện hưởng BHTN, người được hưởng BHTN đã đóng BHTN ít nhất

6 tháng, trong vòng 15 tháng trước khi bị thất nghiệp Họ phải đăng ký thất nghiệp với cơ quan dịch vụ việc làm của Nhà nước Họ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu một việc làm phù hợp Họ đã tham gia các khóa đào

Trang 36

tạo nghề được giới thiệu và phải trình diện với cơ quan dịch vụ việc làm ít nhất 1 lần/một tháng Họ bị thất nghiệp không phải vì những lý do không hoàn thành nhiệm vụ được giao, có hành vi phạm tội chống lại người sử dụng lao động, cố ý gây thiệt hại cho người sử dụng lao động, vi phạm nghiêm trọng quy chế và kỷ luật lao động của người sử dụng lao động, bỏ làm 7 ngày liên tục mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người sử dụng lao động do bỏ làm, bị phạt tù, không hưởng lương hưu hàng tháng; được hưởng BHTN sau tám ngày kể từ ngày bị mất việc đối với người sử dụng lao động cuối cùng.

Về mức hưởng BHTN, người lao động có đóng BHTN bị sa thải được

hưởng 50% tiền lương làm căn cứ đóng BHTN và thời gian hưởng không quá 180 ngày trong vòng 1 năm; Người lao động có đóng BHTN mà tự ý bỏ việc được hưởng 30% tiền lương làm căn cứ đóng BHTN và hưởng không quá 90 ngày trong vòng 1 năm và tổng số ngày hưởng BHTN vì thất nghiệp tự nguyện không quá 180 ngày[14]

Chế độ, chính sách BHTN ở Thái Lan chưa được tổng kết, nhưng có thể thấy một số điểm như sau:

- Công nghệ thông tin liên kết giữa các vụ và cơ quan chịu trách nhiệm về chính sách BHTN chưa hoàn thiện;

- Thiếu nhân lực và vật lực trong việc phục vụ người tham gia BHTN;

- Người tham gia BHTN có rất ít hiểu biết về quyền lợi hưởng BHTN

1.2.1.3 BHTN tại Cộng hòa Liên bang Đức

BHTN do cơ quan lao động Liên bang chịu trách nhiệm tổ chức quản lý

Về chức năng, nhiệm vụ, Cơ quan lao động liên bang thực hiện nhiệm vụ thu, chi và quản lý quỹ BHTN; Thực hiện nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động

Về cơ cấu tổ chức, Cơ quan lao động ở mỗi cấp đều có Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị được thành lập theo cơ cấu: 1/3 số thành viên do Liên hiệp công đoàn cùng cấp đề cử; 1/3 số thành viên do Hiệp hội giới chủ cùng cấp đề cử; 1/3 số thành viên do chính quyền cùng cấp đề cử

Trang 37

- Trung tâm thông tin làm nhiệm vụ cung cấp cho người lao động những thông tin như: Đặc điểm công việc, nghề nghiệp, các yêu cầu đối với người lao động làm việc trong các nghề (có băng hình mẫu tả thực những công việc mà người lao động phải thực hiện trong một ca làm việc của khoảng 1200 nghề khác nhau); thông tin

về các cơ sở dạy nghề trong khu vực và cả nước; nhu cầu tuyển dụng lao động của các nghề của các doanh nghiệp trong khu vực và cả nước (kể cả các nước có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài trong EU) [11]

- Trung tâm tư vấn (trực tiếp và qua điện thoại) làm nhiệm vụ tư vấn cho người lao động (kể cả học sinh đang theo học trung học cơ sở) về việc tuyển chọn nghề, chọn việc, biện pháp để người lao động có thể đáp ứng được yêu cầu của người tuyển dụng, thực hiện các biện pháp hỗ trợ để nhóm người lao động có hoàn cảnh đặc biệt tái hòa nhập thị trường lao động

- Bộ phận chăm sóc khách hàng là người sử dụng lao động

- Bộ phận tiếp nhận thông tin và đăng ký thất nghiệp

- Bộ phận kế toán có nhiệm vụ tính toán mức và thời gian được hưởng tiền thất nghiệp

Về cơ chế tài chính, số tiền thu vào quỹ BHTN được quản lý tập trung tại

cơ quan lao động liên bang Quỹ được sử dụng vào các mục đích như chi trả tiền thất nghiệp cho người thất nghiệp; chi xây dựng cơ bản, sửa chữa và các khoản chi thường xuyên cho hoạt động của hệ thống cơ quan lao động toàn liên bang; chi lương cho cán bộ nhân viên cơ quan lao động toàn liên bang; chi các khoản phúc lợi, khen thưởng

Hàng năm, hội đồng quản trị lập dự toán các khoản thu- chi, trình Quốc hội phê chuẩn

Cơ quan lao động liên bang có quyền và trách nhiệm bảo toàn và phát triển quỹ thông qua hình thức duy nhất là gửi vào các ngân hàng công

Sau một năm hoạt động, cơ quan kiểm toán tiến hành kiểm toán toàn bộ hoạt động tài chính của cơ quan lao động liên bang Trên cơ sở kết quả kiểm toán Quốc hội sẽ phê duyệt dự toán thu- chi và mức chi BHTN hàng năm

Trang 38

1.2.1.4.BHTN tại ChiLe

Chile đã xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp từ năm 1937, là nước đầu

tiên ở Tây bán cầu cải cách hệ thống Bảo đảm xã hội và là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện cải cách theo tài khoản đầu tư cá nhân Đó cũng là một con đường mới của một nước đầu tiên sử dụng tài khoản riêng trong hệ thống BHTN

Hệ thống BHTN chuyển đổi hiện nay của Chile bắt đầu từ tháng 10/2002, được xây dựng trên cơ sở sở hữu tài khoản cá nhân cho tình trạng ngừng việc làm

và làm cơ sở cho việc chi trả

Chương trình BHTN mới sẽ được đóng góp như sau : Cơ quan quản lý BHTN sẽ trích từ thuế lương để người lao động đóng góp 0,6% tiền lương của học vào tài khoản riêng của người lao động, đồng thời chủ sử dụng lao động đóng 2,4% tiền lương vào tài khoản riêng và tài khoản chung ( trong đó 1,6% vào tài khoản riêng của người lao động và 0,8% vào tài khoản chung) Mỗi tài khoản riêng sẽ đại diện cho một người lao động và tài khoản này sẽ không được rút ra, cho tới khi người lao động mà là chủ của tài khoản bị thất nghiệp hoặc về hưu Người lao động

có thể rút tiền ngay khi họ chấm dứt công việc hoặc bị cho nghỉ việc từ công việc cuối cùng của họ từ nguồn tài khoản riêng Điều đó tạo cho người lao động linh hoạt trong việc chuyển đổi chỗ làm việc Điều kiện về thời gian đóng BHTN vẫn phải kéo dài đủ 12 tháng

Thời gian để nhận được tiền thất nghiệp là một tháng Thời gian này được quy định nhằm thực hiện một loạt các đặc trưng chỉ định để thúc đẩy sự cần thiết tìm việc làm mới Thời gian chờ đợi này được coi như thời gian “đồng chi trả” trong hoạt động bảo hiểm Việc chi trả tháng đầu tiên của người thất nghiệp hoàn toàn do người thất nghiệp từ nguồn tiền riêng Một tháng chờ đợi này người lao động phải tích cực thực hiện các kế hoạch tái hòa nhập việc làm vì BHTN không trả tiền

Thời gian hưởng thất nghiệp kéo dài nhiều nhất là 5 tháng, tháng đầu sẽ chi trả 50% tỷ lệ tiền lương Các tháng kế tiếp sẽ giảm đi mỗi tháng là 5% cho đến 30% vào tháng thứ năm

Trang 39

Bên cạnh đó Chính phủ cũng lập ra một nguồn quỹ dự trữ cho những người lao động nào mà tài khoản tiết kiệm cá nhân của họ không đủ để chi trả khi thất nghiệp Hệ thống BHTN mới ở Chile thực chất là kế hoạch tiết kiệm bắt buộc mà ở

đó người lao động nhận được lợi thế riêng do phương pháp tài chính Người lao động sẽ có lợi nếu họ không khi nào bị thất nghiệp Đo tài chính của BHTN theo phương thức tiết kiệm cá nhân nên đã tạo động lực thúc đẩy người lao động cố gắng sớm tìm được việc làm mới

Hệ thống BHTN mới dựa vào hệ thống tài chính lập quỹ có hiệu quả hơn hẳn so với hệ thống tài chính “tọa chi-tọa thu” trước đây Điều đó thể hiện rõ trong các nội dung quản lý tài chính của chương trình BHTN mới : việc thu và chi từ tài khoản cá nhân, cập nhật các thông tin thường xuyên nếu người lao động chuyển đổi chủ sử dụng lao động, tình trạng tài khoản cá nhân theo mức độ đầu tư và sự theo dõi dòng tiền vào-ra của quỹ chung[32]

1.2.2 BHTN tại Việt Nam và một số kinh nghiệm

Đối với nhiều nước trên thế giới, loại hình Bảo hiểm thất nghiệp đã có từ lâu và mang lại nhiều lợi ích cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam

ra đời và có hiệu lực từ ngày 1/1/2009, sau hơn bốn năm triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đó đạt được những kết quả nhất định

Số lượng người tham gia bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng: Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2009 có 5,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tổng số thu là 3.510 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước hỗ trợ khoảng 1.170 tỷ đồng Đến hết tháng 12 năm 2010 số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên 7,05 triệu người tăng so với năm 2009 là 1,154.962 người (tăng 19,58% so với năm 2009), tổng số thu khoảng 4.800 tỷ đồng đưa tổng quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong hai năm qua lên trên 8.300 tỷ đồng Tính đến hết tháng 7 năm 2011, cả nước

có 7.569.078 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp[30] Trong số những người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng năm 2010 thì dưới 24 tuổi có 37.284 người, chiếm 23,8%; từ 25-40 tuổi có 97.405 người, chiếm 62,1%; trên 40 tuổi có 22.076 người, chiếm 15%; nam giới có 62.423 người, chiếm 40%; Nữ giới

Trang 40

có 94.342 người, chiếm 60% 10 tháng đầu năm 2011 cơ cấu nhóm tuổi hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng gần tương tự như năm 2010, cụ thể là dưới 24 tuổi có 55.162 người, chiếm 24,8%; từ 25-40 tuổi có 139.025 người, chiếm 62,6%; trên 40 tuổi có 27.887 người, chiếm 12,6%; Nam giới có 87.836 người, chiếm 39,5%; Nữ giới có 134.238 người, chiếm 60,5% Một số địa phương có số lượng người đăng ký thất nghiệp và đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp lớn là thành phố Hồ Chớ Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai và thành phố Hà Nội Quá trình tổ chức, triển khai thực hiện đó khẳng định đây là chính sách đúng đắn có tác động trực tiếp, thiết thực tới người lao động, người sử dụng lao động, góp phần đảm bảo an sinh xó hội, được người sử dụng lao động, người lao động đón nhận một cách tích cực, được dư luận

xó hội đánh giá là một trong những chính sách sớm đi vào cuộc sống[32]

Qua nghiên cứu chính sách BHTN ở một số nước trên thế giới, chúng ta có thể thấy nội dung chính sách và tổ chức thực hiện ở mỗi nước rất khác nhau, do điều kiện kinh tế - xã hội, thời điểm triển khai của mỗi nước khác nhau Tuy nhiên,

có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm mang tính tương đối thống nhất Đó là:

- Đối tượng áp dụng BHTN ở hầu hết các nước là những người làm công ăn lương Sau đó, nếu có điều kiện (Cộng hòa Liên bang Đức) người ta sẽ mở rộng đối tượng ra các nhóm lao động khác trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Hình thức BHTN chủ yếu là bắt buộc

- Về nội dung của BHTN, tuy có khác nhau ở rất nhiều điểm, song những điểm chung giống nhau phải kể đến là chính sách BHTN của các nước đều quy định rất chặt chẽ và cụ thể về mức đóng góp vào quỹ BHTN của người lao động, người

sử dụng lao động, mức hỗ trợ của Chính phủ; điều kiện hưởng, mức hưởng, và thời gian hưởng trợ cấp BHTN,

- Chính sách BHTN phải gắn chặt chẽ với chính sách thị trường lao động như các chương trình việc làm, đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho người lao động nhằm giúp người thất nghiệp sớm có cơ hội tìm việc làm mới Có thể nói, đây là vấn đề khó khăn nhất đối với những nước mới triển khai thực hiện chính sách BHTN trong điều kiện thị trường lao động chưa phát triển như nước ta

Ngày đăng: 13/09/2016, 12:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Nguyễn Văn Định (2008), Giáo trình Bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
25. Nguyễn Văn Định (2008), "Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam hiện nay", Hội thảo khoa học: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Năm: 2008
31. Bảo hiểm xã hội Việt Nam: http://www.baohiemxahoi.gov.vn 32. Tạp chí Bảo hiểm xã hội : http://www.tapchibaohiemxahoi.org.vn33. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội : http://www.molisa.gov.vn Link
34. Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Thừa Thiên Huế : http://www.vlhue.vieclamvietnam.gov.vn Link
1. Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật BHXH số 71/2006/QH 11 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, trong đó BHTN có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2009 Khác
2. Chính phủ (2008), Nghị định 127/2008/NĐ- CP, ngày 12/12/2008 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN Khác
3. Chính phủ (2012), Nghị định 100/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP Khác
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2009), Thông tư số 04/2009/TT- BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật BHXH về Bảo hiểm thất nghiệp Khác
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 32/2010/TT- BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật BHXH về Bảo hiểm thất nghiệp Khác
6. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2013), Thông tư 04/2013/TT- BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 127/2008/NĐ-CP Khác
7. Bộ Quốc phòng (2009), Thông tư số 113/2009/TT-BQP ngày 07/12/2009 hướng dẫn hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 127/2008/NĐ-CP về BHTN trong Quân đội nhân dân Việt Nam Khác
8. Bộ Tài chính(2009), Thông tư số 96/2009/TT- BTC ngày 20/5/2009 hướng dẫn chế độ tài chính đối với quỹ BHTN Khác
9. Bộ Tài chính(2011), Thông tư số 134/2011/TT-BTC quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định 04/2011/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam Khác
10. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Ban Hợp tác quốc tế) (2009), Hệ thống an sinh xã hội tại các nước trong khu vực Đông Nam Á Khác
11. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2009), Luật Bảo hiểm thất nghiệp của Cộng hòa liên bang Đức năm 1969, (Tài liệu dịch tham khảo) Khác
12. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2009), Công văn số 1615/BHXH-CSXH ngày 02/6/2009 hướng dẫn thực hiện thu, chi bảo hiểm thất nghiệp Khác
13. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2009), Công văn số 2035/BHXH-CSXH ngày 26/6/2009 về sửa đổi, bổ sung Công văn số 1615/BHXH-CSXH ngày 2/6/2009 Khác
14. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2009), Báo cáo của đoàn Bảo hiểm xã hội Việt Nam đi làm việc và khảo sát về bảo hiểm thất nghiệp tại Thái Lan, (Tài liệu lưu hành nội bộ) Khác
15. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2009), Báo cáo của đoàn Bảo hiểm xã hội Việt Nam đi làm việc và khảo sát về bảo hiểm thất nghiệp tại Hàn Quốc, (Tài liệu lưu hành nội bộ) Khác
16. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Công văn số 116/BHXH-CSXH ngày 15/01/2010 về sửa đổi bổ sung Công văn số 1615/BHXH-CSXH ngày 2/6/2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Số mẫu điều tra cán bộ BHXH - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1.2. Số mẫu điều tra cán bộ BHXH (Trang 13)
Bảng 2.3. Tình hình thu BHTN tại Thừa Thiên Huế từ 2010-2012 - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.3. Tình hình thu BHTN tại Thừa Thiên Huế từ 2010-2012 (Trang 55)
Bảng số 2.4. Tình hình chi trả trợ cấp và hỗ trợ BHTN qua các năm - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng s ố 2.4. Tình hình chi trả trợ cấp và hỗ trợ BHTN qua các năm (Trang 58)
Bảng 2.5: Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.5 Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra (Trang 62)
Bảng 2.8. Bảng tổng hợp số nộp BHTN của đơn vị sử dụng(1%) và người lao động(1%) - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.8. Bảng tổng hợp số nộp BHTN của đơn vị sử dụng(1%) và người lao động(1%) (Trang 73)
Bảng số 2.9. Tỷ trọng số thu BHTN các năm - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng s ố 2.9. Tỷ trọng số thu BHTN các năm (Trang 74)
Bảng 2.11. Ý kiến đánh giá của đối tượng khảo sát về quy định - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.11. Ý kiến đánh giá của đối tượng khảo sát về quy định (Trang 77)
Bảng 2.13. Tình hình chi trả các chế độ BHTN từ 2010-2012 - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.13. Tình hình chi trả các chế độ BHTN từ 2010-2012 (Trang 81)
Bảng 2.16. Tình hình thực hiện kế hoạch chi BHTN của tỉnh - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.16. Tình hình thực hiện kế hoạch chi BHTN của tỉnh (Trang 84)
Bảng 2.18. Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về quy định quản lý chi BHTN - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.18. Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về quy định quản lý chi BHTN (Trang 87)
Bảng 2.19. Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về đánh giá - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.19. Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về đánh giá (Trang 90)
Bảng số 2.21. Về hướng dẫn làm thủ tục thất nghiệp - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng s ố 2.21. Về hướng dẫn làm thủ tục thất nghiệp (Trang 94)
Bảng 2.25. Kiểm định tính thuần nhất của phương sai của các biến điều tra - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.25. Kiểm định tính thuần nhất của phương sai của các biến điều tra (Trang 99)
Bảng 2.26. Đánh giá của các đối tượng điều tra - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.26. Đánh giá của các đối tượng điều tra (Trang 100)
Hình thức nào ? - Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội tỉnh thừa thiên huế
Hình th ức nào ? (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w