Chúng tôi khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân thích ứng hoặc không thích ứng của SV theo năm học về các biểu hiện nhận thức, thái độ và hành vi để thấy rõ SV có
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ NGỌC THỂ
THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ NGỌC THỂ
THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN THỊ MINH ĐỨC
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
MÃ NGỌC THỂ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có kết quả như ngày hôm nay, với sự kính trọng đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn GS TS Trần Thị Minh Đức đã đồng ý nhận lời làm người hướng dẫn khoa học cho tôi mặc dù tôi chưa làm được những điều tốt nhất khiến cô cảm thấy hài lòng, nhưng GS TS Trần Thị Minh Đức đã vẫn vui lòng hướng dẫn và gợi ý cho tôi những ý tưởng trong quá trình lựa chọn các vấn đề nghiên cứu, tạo điều kiện giúp đỡ, động viên để tôi vượt qua nhiều hạn chế trong nghiên cứu Tôi vô cùng biết ơn cô, người đã truyền cho tôi ngọn lửa đam mê nghiên cứu khoa học và làm việc
Tôi nhận được sự giúp đỡ đầy trách nhiệm của các cán bộ Khoa Tâm lý học và các Phòng Quản lý Đào tạo - Học viện Khoa học Xã hội Trong quá trình làm luận án của mình, tôi không thể không nhắc tới sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của
GS TS Vũ Dũng và PGS TS Nguyễn Thị Mai Lan, những người luôn chỉ bảo, giúp đỡ tôi những lúc khó khăn Xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ, giảng viên của Học viện Khoa học Xã hội
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, Ban giám hiệu trường Đại học Tân Trào đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận án của mình
Sau cùng, tôi đặc biệt cảm ơn những người thân trong gia đình đã động viên, quan tâm, dành thời gian để tôi hoàn thiện luận án này
Trong thời gian làm luận án, do kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên luận án của tôi còn mắc nhiều lỗi và cần được góp ý, chỉnh sửa để bản luận án ngày hoàn thiện hơn Kính mong quý Thầy, Cô giáo và quý bạn đồng nghiệp, những ai quan tâm đến đề tài nghiên cứu này đóng ý kiến, để tôi có thể chỉnh sửa, hoàn thiện luận án này được tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tuyên Quang – Hà Nội, tháng… năm 2016
Mã Ngọc Thể
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 8
1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 8
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 15
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 26
2.1 Một số khái niệm cơ sở 26
2.2 Các biểu hiện thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập ở trường đại học 41
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập 47
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 55
3.1 Tổ chức nghiên cứu 55
3.2 Phương pháp nghiên cứu 63
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 71
4.1 Thực trạng thích ứng học tập của sinh viên dân tộc thiểu số 71
4.2 Các khía cạnh thích ứng học tập của sinh viên dân tộc thiểu số 92
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng học tập của sinh viên 114
4.4 Một số biện pháp cơ bản nâng cao mức độ thích ứng cho sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập……….128
4.5 Phân tích trường hợp tham vấn tâm lý nhằm nâng cao khả năng thích ứng học tập của sinh viên dân tộc thiểu số 133
KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐH, CĐ Đại học, cao đẳng
HĐHT Hoạt động học tập
MĐTƯ Mức độ thích ứng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các mức độ thích ứng qua các mặt biểu hiện 33
Bảng 3.1: Mẫu nghiên cứu 63
Bảng 3.2: Bảng thể hiện ý nghĩa và điểm tương ứng 68
Bảng 4.1: Đánh giá chung về ba mặt thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập 71
Bảng 4.2: Mức độ thích ứng về nhận thức của SV qua các mặt biểu hiện 73
Bảng 4.3: Nhận thức của sinh viên về phương pháp giảng dạy không có sự tham gia 74
Bảng 4.4: Nhận thức của SV về phương pháp giảng dạy có sự tham gia 75
Bảng 4.5: Thái độ của sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập 77
Bảng 4.6: Những biểu hiện thái độ của SV tham gia hoạt động học tập 78
Bảng 4.7: Đánh giá về sự thành thạo các kĩ năng trong quá trình học tập 84
Bảng 4.8: Xoay thành phần các nhân tố về thích ứng hành vi 84
Bảng 4.9: Đánh giá về sự thành thạo các kĩ năng trong quá trình học tập 85
Bảng 4.10: Sự thích ứng của sinh viên biểu hiện qua nhóm hành vi 87
Bảng 4.11: Một số yếu tố có liên quan đến hành vi học tập ở sinh viên 89
Bảng 4.12: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt nhận thức 92
Bảng 4.13: Thích ứng của SV DTTS qua mặt thái độ (xét theo năm học) 95
Bảng 4.14: Biểu hiện thái độ tương tác của SV trong hoạt động học tập 97
Bảng 4.15: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt thái độ (xét theo năm học) 98
Bảng 4.16: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt hành vi 99
Bảng 4.17: Biểu hiện của nhóm hành vi giao tiếp, ra quyết định và tư duy tích cực 100
Bảng 4.18: Biểu hiện của nhóm hành vi ứng phó và tự kiềm chế 101
Bảng 4.19: Sự thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua nhóm hành vi 102
Bảng 4.20: Thích ứng nhận thức của sinh viên xét theo nhóm dân tộc 107
Bảng 4.21: Sự thích ứng của các nhóm SV DTTS thể hiện qua mặt thái độ 108
Bảng 4.22: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt hành vi 110
Trang 8Bảng 4.23: Sự khác biệt giữa ba mặt thích ứng học tập của các nhóm SV dân tộc 111
Bảng 4.24: Mối tương quan của các mặt thích ứng với từng năm học 112
Bảng 4.25: Sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng 113
Bảng 4.26: Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến thích ứng của SV DTTS 116
Bảng 4.27: Cách ứng phó tích cực của SV với khó khăn trong học tập 120
Bảng 4.28: Những cách ứng phó tiêu cực của SV với khó khăn học tập 121
Bảng 4.29: Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến thích ứng học tập của SV 122
Bảng 4.30: Ảnh hưởng của đặc điểm dân tộc đến thích ứng của SV 126
Bảng 4.31: Mối quan hệ của các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng của SV DTTS 127
Trang 9DANH MỤC BIÊU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 1: Mức độ thích ứng học tập của SV DTTS 72
Biểu đồ 2: Thái độ của sinh viên với việc lắng nghe ý kiến của bạn học……….80
Biểu đồ 3: Các mức độ thích ứng thể hiện qua nhận thức của sinh viên 94
Biểu đồ 4: Thích ứng học tập của sinh viên xét theo năm học 105
Biểu đồ 5: Các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng học tập của SV dân tộc 115
Biểu đồ 6: Sự tham gia của SV vào các hoạt động chung trong nhà trường 118
Biểu đồ 7: Đánh giá về phương pháp giảng dạy của giảng viên 123
Biểu đồ 8: Đánh giá về kết quả học tập của năm học 124
Sơ đồ1: Mối tương quan giữa các mặt của thích ứng 90
Sơ đồ 2: Tác động của nhận thức, thái độ, hành vi đến thích ứng học tập 91
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Thích ứng là phản ứng của con người trước những khó khăn trong cuộc sống Con người luôn phải thích ứng với những yếu tố mới xuất hiện, những khó khăn, biến cố có thể xảy ra trong các mối quan hệ mới, môi trường sống mới, cuộc sống mới bắt buộc họ phải có khả năng bắt nhịp, ứng phó bằng cách tạo ra những hành vi hợp lý, sáng tạo ra những phương thức sống mới để đáp lại những thay đổi nhanh chóng của môi trường Thích ứng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân Nhiều công trình nghiên cứu trước cho thấy, khả năng thích ứng có vai trò quan trọng giúp tăng năng suất lao động, tạo ra tính hiệu quả trong công việc, giúp giảm stress, góp phần tích cực vào quá trình phát triển nhân cách Ở từng hoàn cảnh và môi trường sống đều có những khó khăn nhất định gây ra cho con người Những tác nhân ấy khiến con người phải biết cách ứng phó bằng cách tự điều chỉnh tâm lý, hoạt động của mình sao cho phù hợp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển cá nhân
1.2 Hiện nay ở Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu về thích ứng tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên như Lê Ngọc Lan (2002) [30], Trần Thị Minh Đức (2003) [9], Đỗ Thị Thanh Mai (2008) [40], Dương Thị Thoan (2010) [67], Đặng Thị Lan (2012) [32], Nguyễn Thị Út Sáu (2013) [58], Đặng Thanh Nga (2014) [50] Các nghiên cứu này phần lớn tập trung vào sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất biểu hiện qua sự thích ứng với phương pháp học tập, chương trình đào tạo, nhận thức, thái độ, hành vi Các yếu tố chi phối khách quan và chủ quan như chỉ số sự phát triển thông minh, kiểu tính cách, sức khỏe, nỗ lực cá nhân Tuy các tác giả không nghiên cứu trực tiếp về sự thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số nhưng đã gợi mở cho chúng tôi những ý tưởng, những mặt còn chưa nghiên cứu về thích ứng học tập Trong số các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có Nguyễn Thị Hoài (2007) [20], Ngô Giang Nam (2013) [46], Nguyễn Thị Lan Anh (2015) [1], đã nghiên cứu gần hơn về người dân tộc thiểu số qua các vấn đề kỹ năng giao tiếp, đặc điểm giao tiếp của sinh viên dân tộc thiểu số, đó là những nghiên cứu hết sức đáng quý, cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin có liên quan đến thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập Bởi vì, hoạt động học tập của sinh viên
Trang 112
bao giờ cũng có gắn với yếu tố giao tiếp Nó là một trong những điều kiện để sinh viên thích ứng nhanh, hòa nhập tốt với môi trường sống Các nghiên cứu cũng giúp cho chúng tôi những ý tưởng trong việc làm rõ thực trạng và đưa ra các biện pháp
cụ thể tác động nâng cao mức độ thích ứng học tập cho SV DTTS
1.3 Môi trường đại học là môi trường có nhiều khó khăn, luôn tạo ra áp lực cho SV DTTS Các em phải trải qua quá trình thích ứng khó khăn do thay đổi môi trường sống và học tập từ phổ thông đến đại học Những sinh viên này là nhóm người thiểu số phải đương đầu với nhiều khó khăn dẫn đến chất lượng học tập giảm sút Những biểu hiện của sự khó khăn này được xem như một hệ quả của một sang chấn, một cú sốc văn hóa mà hầu hết các SV thuộc nhóm thiểu số đều gặp phải Các nghiên cứu về thích ứng học tập hiện nay tập trung vào thích ứng của học sinh tiểu học và sinh viên năm thứ nhất, có rất ít nghiên cứu về SV DTTS Phần lớn đề tài nghiên cứu hướng vào nghiên cứu khó khăn tâm lý của SV DTTS Do đó, nghiên cứu thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập nhằm góp phần bổ sung thông tin lý luận về thích ứng học tập và kết quả nghiên cứu thực tiễn, đưa ra các biện pháp tác động nâng cao thích ứng học tập và chất lượng đào tạo cho SV của trường đại học, vừa góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Nghiên cứu thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập có ý nghĩa về mặt thực tiễn và hoàn toàn cấp thiết trong giai đoạn mà đề án đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam được đặt ra hiện nay Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập ”
làm Luận án Tiến sĩ của mình
2 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập, luận án thực hiện một số tác động sư phạm tăng cường phương pháp giảng dạy cho giảng viên, tổ chức nhóm, câu lạc bộ kỹ năng sống, tham vấn tâm lý, qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao mức độ thích ứng cho sinh viên trong hoạt động học
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu lý luận thích ứng; phân tích các khái niệm, các khuynh hướng nghiên cứu, xây dựng tiêu chí xác định sự thích ứng và không thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập
Trang 123
2.2.2 Khảo sát thực trạng và phân tích các biểu hiện thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập, phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan đến sự thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập
2.2.3 Đề xuất một số biện pháp cơ bản : hoạt động nhằm tăng cường phương pháp giảng dạy của giảng viên, tổ chức nhóm, câu lạc bộ kỹ năng sống cho sinh viên, tham vấn tâm lý để nâng cao mức độ thích ứng cho SV DTST với hoạt động học tập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Chúng tôi chú trọng tập trung nghiên cứu thích ứng học tập của SV biểu hiện qua mặt nhận thức, thái độ và hành vi Nghiên cứu được tiến hành theo lát cắt ngang Chúng tôi khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân thích ứng (hoặc không thích ứng) của SV theo năm học về các biểu hiện nhận thức, thái độ và hành
vi để thấy rõ SV có thích ứng với hoạt động học tập hay không Luận án chỉ tập trung nghiên cứu trên SV DTTS, không nghiên trên SV dân tộc Kinh nên chúng tôi không nghiên cứu sự khác biệt giữa thích ứng của SV DTTS và thích ứng của SV nói chung với hoạt động học tập Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng học tập của SV DTTS, nhưng trong luận án này, do giới hạn về mặt thời gian nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các đặc điểm cá nhân về tính cách, tính tích cực hoạt động - giao tiếp, ý chí khắc phục khó khăn, điều kiện sống là những yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập Còn các yếu tố khác chúng tôi sẽ đi sâu vào trong những nghiên cứu tiếp theo
3.2.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Khách thể là SV DTTS thuộc các dân tộc điển hình như Tày, H’Mông - Dao
và dân tộc khác đang học từ năm I đến năm III
3.2.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở trường Đại học Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
Trang 134
4 Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu
4.1 Nguyên tắc phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lý học sau :
- Nguyên tắc hoạt động - nhân cách: Trong luận án này chúng tôi nghiên cứu sự thích ứng về học tập của SV DTTS trong đó tập trung vào các khía cạnh biểu hiện nhận thức, thái độ và hành vi Các khía cạnh này là thành phần không thể thiếu trong mối quan hệ với hoạt động - giao tiếp và các đặc điểm tâm lý hình thành nên nhân cách của SV DTTS Hoạt động là những phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Khi SV DTTS tham gia vào hoạt động học tập có mục đích, mang tính chất xã hội, cộng đồng, chắc chắn SV phải thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi - thao tác và công cụ nhất định Tuy nhiên nếu các em không nhận thức một cách đúng đắn và học tập một cách tích cực, chủ động và tự giác, không tham gia vui chơi với bạn bè, không
có những hành vi giao tiếp, ứng xử phù hợp trong môi trường học tập mới, thì các
em sẽ không thể phát triển đầy đủ những phẩm chất và năng lực của nhân cách Khi
SV DTTS gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, các chuẩn mực các em sẽ biết đánh giá và chuyển dần thành tự đánh giá, giúp các em thấm nhuần những bài học, những chuẩn mực, những giá trị xã hội ngày một sâu sắc hơn
Vì vậy, nhà trường, giảng viên cần quan tâm hướng dẫn, tổ chức và tạo môi trường hoạt động - giao tiếp cho SV tham gia vào các hoạt động để giúp các em thích ứng và nâng cao sự thích ứng với hoạt động học tập ở trường đại học
- Nguyên tắc hệ thống: Chúng tôi xem xét sự thích ứng của SV DTTS có sự thống nhất với nhau biểu hiện qua ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi trong các mối quan hệ tác động qua lại Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hành
vi đồng nhất với thuật ngữ hành động Vì trong cấu trúc của hoạt động, hành động được coi là đơn vị nhỏ hơn hoạt động, hành vi ở một nghĩa nào đó được coi là hành động, đơn vị nhỏ nhất của hoạt động Cho nên, khi nghiên cứu hành vi thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập, chúng tôi thống nhất chọn đơn vị nhỏ nhất là hành vi làm thuật ngữ đại diện Bản thân nhiều hành vi đồng nhất sẽ tạo ra hành động, nhiều hành động đồng nhất sẽ tạo ra hoạt động học tập ở SV DTTS
- Nguyên tắc phát triển: Con người sẽ không thể tồn tại, phát triển được nếu không có hoạt động - giao tiếp với thế giới xung quanh, với cộng đồng người Các
Trang 14SV có sự chủ động tích cực, có ý chí khắc phục khó khăn càng cao thì mức độ thích ứng của các em càng cao Thích ứng cũng là một điều kiện, một phẩm chất tâm lý quan trọng giúp SV DTTS đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống, và tạo được những khả năng để phát triển trong tương lai
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động; Phương pháp tham vấn tâm lý; Phương pháp thống kê toán học Mục đích và cách thức sử dụng được trình bày chi tiết trong Chương 3
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản về sự thích ứng, thích ứng với hoạt động học tập, sinh viên dân tộc thiểu số, khái niệm thích ứng của
SV DTTS với hoạt động học tập; Xác định biểu hiện thích ứng qua ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi; các tiêu chí đánh giá thích ứng; các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm sáng tỏ thực trạng thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập biểu hiện qua ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi Nghiên cứu cho thấy, mức độ thích ứng học tập của SV DTTS ngày càng được nâng cao theo thời gian học tập ở mỗi năm học về sau Luận án chỉ ra các yếu tố chủ quan (Tính cách cá nhân, Tính tích cực hoạt động và giao tiếp, Ý chí khắc phục khó khăn) và các yếu tố khách quan (Phương pháp giảng dạy của giảng viên, Các đặc điểm học tập, Điều kiện sống) ảnh hưởng đến sự không thích ứng của SV DTTS
Trang 156
Đề xuất được một số biện pháp cơ bản và sử dụng tham vấn tâm lý để nâng cao mức độ thích ứng học tập cho SV nói chung và SV DTTS nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những phân tích, khái quát và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam góp phần cung cấp cơ sở khoa học, bổ sung thông tin lý luận về thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập cho những nghiên cứu tiếp theo
Kết quả nghiên cứu thực tiễn là tài liệu tham khảo cho học viên cao học và sinh viên khối ngành sư phạm, các nhà nghiên cứu về chính sách xã hội, cán bộ quản lý, giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng để có những hình thức tác động giúp cho sinh viên dân tộc thiểu số thích ứng với hoạt động học tập ngày một cao hơn
7 Cơ cấu của luận án
Luận án bao gồm các phần và các chương như sau:
- Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập
- Kết luận
- Danh mục công trình đã công bố của tác giả
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 167
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÍCH ỨNG
CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Thông qua phân tích các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài, phần này luận án tập trung làm rõ ba hướng nghiên cứu về thích ứng, đó là hướng nghiên cứu về thích ứng chung, thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên và thích ứng với môi trường đại học
1.1.1 Hướng nghiên cứu về thích ứng chung
Loài người trải qua hàng triệu năm tiến hóa, biến đổi để trở thành con người hiện đại, thông minh và có tổ chức cao Những biến đổi đó phần lớn do con người biết thích nghi với môi trường sống, cải tổ bản thân để có thể tồn tại và phát triển được Trong bản thể con người có hai vấn đề đảm bảo sự tồn tại và phát triển, đó là thích nghi về mặt sinh học và thích ứng về mặt tâm lý xã hội Cho nên, trước tiên cần khẳng định sự thích nghi đã đem lại cho con người một sức sống trường tồn Khoa học sinh vật học đã chúng minh điều đó qua thuyết tiến hoá và tạo ra những ảnh hưởng đến tâm lý học một thời gian dài, đem lại những dữ kiện sống góp phần cho tâm lý học khẳng định vai trò sự thích ứng tâm lý xã hội của con người là một phần không thể thiếu trong sự phát triển của cá nhân và xã hội loài người
Khái niệm nền tảng của thuyết tiến hoá là khái niệm thích nghi (thích ứng sinh học) của sinh vật Jean Lamarck (1809) hiểu bản chất sự thích nghi của sinh
vật với môi trường là sự di truyền các đặc tính tập thành; từ sự quan sát các hoá
thạch, ông đã kết luận rằng các thay đổi của môi trường là nguyên nhân làm cho có sự thay đổi về cấu trúc nơi các loài thực vật, động vật và khả năng thích nghi được phát triển trong đời sống của một sinh vật thì được truyền lại cho con cái của sinh vật ấy.[97]
Trang 178
Để hiểu bản chất sự thích nghi của sinh vật là sự sống sót của vật thích hợp
nhất, Herbert Spencer (1852) cho rằng, con người sống trong xã hội, giống như các
loài vật khác trong môi trường tự nhiên của chúng, luôn tranh đấu để sinh tồn và chỉ
có cá nhân nào thích hợp nhất mới sống sót.[105] Đến Charles Darwin (1859), ông coi sự thích nghi là khả năng của sinh vật để sống và sinh sản Vì vậy, sự thích nghi được quyết định bởi các đặc tính của sinh vật và của môi trường Các đặc tính cho phép sinh vật điều chỉnh thích đáng với môi trường thì được gọi là thích nghi.[89]
Người có công lớn đem khái niệm thích ứng vào tâm lý học là nhà Tâm lý học người Thuỵ Sỹ J Piaget Theo J Piaget, trong sự tương tác giữa cơ thể và môi trường thì mọi cơ thể đều có một xu thế bẩm sinh để thích ứng với môi trường Mỗi thay đổi bên trong của bản thân hay môi trường sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng Khi đồng hoá và điều ứng cân đối với nhau, không cái nào ngự trị cái nào thì đạt được sự cân bằng (sự thích ứng).[dẫn theo 15]
Theo S Freud, hành vi sống của con người chủ yếu được thúc đẩy bởi bản năng (cái Nó), mà bản năng này lại luôn bị chèn ép và cấm đoán bởi những chuẩn mực, quy tắc xã hội (cái Siêu Tôi) Cái Tôi là cái “thực tại” luôn tìm cách giải quyết sự xung khắc giữa cái Nó và cái Siêu Tôi Theo S.Freud, cái Tôi có
nguyên tắc là thích ứng với thực tế; cái Tôi phục vụ cho cái Nó, cái siêu tôi và
môi trường bên ngoài.[dẫn theo 14]
Như vậy, cả J Piaget và S Freud đều quan tâm đến trạng thái “cân bằng” và
“mất cân bằng” khi bàn về quá trình thích ứng của con người với môi trường xã hội
Cả hai ông thống nhất: cân bằng của con người được xem xét từ hai khía cạnh, đó
là cân bằng với môi trường bên ngoài và cân bằng với cái bên trong của bản thân
Do đó mỗi thay đổi bên trong hay thay đổi của môi trường sẽ dẫn tới sự mất cân bằng Đây là đóng góp to lớn của hai ông trong nghiên cứu về thích ứng của con
người Theo chúng tôi, điểm hạn chế trong lý luận của J Piaget và S Freud chính là
xem sự thích ứng của con người như là sự thích ứng thuần tuý sinh học: con người
thụ động trong quá trình thích ứng với môi trường, chịu sự điều khiển hầu như hoàn toàn bởi các quy luật sinh học
Trang 189
Thực tế hàng ngày cho thấy, các sinh vật phản ứng với môi trường dựa theo các phản xạ vô điều kiện và có điều kiện Chính vì vậy, I.P Pavlov (1890) cho rằng, bản chất sự thích ứng của sinh vật với môi trường là sự tập thành, hay học được các phản xạ có điều kiện- các phản xạ chỉ có thể được hình thành nhờ sự lặp đi lặp lại các kích thích và các phản ứng có điều kiện.[ dẫn theo 14]
Với quan niệm rằng bản chất của sự kém thích ứng (hay không thích ứng) là không học được, hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi trường, J.Watson (1913) cho rằng, mọi hành vi ứng xử của con người được hình thành thông qua quá trình học tập và tập nhiễm, là quá trình mà cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống.[108]
Theo Tremblay (1992), sự thích ứng bên trong chính là sự thoải mái, dễ chịu khi con người được “tự do” bộc lộ bản thân mình; còn sự thích ứng bên ngoài là khi các cá nhân đáp ứng được các yêu cầu, chuẩn mực xã hội, hoà nhập được với người xung quanh và môi trường xã hội.[106]
Trong cuốn “Nền sư phạm đại học” tác giả Dupont và Ossandon (1999) đã tập hợp những chỉ báo về sự thích ứng với hoạt động học tập cho rằng, đối với hoạt động học tập, cá nhân có nhiều cách hoạt động trí óc cần được xác lập ngay từ bậc trung học và cần được sử dụng tiếp ở bậc đại học, bở chúng đóng góp cho việc tiếp cận tri thức một cách năng động.[dẫn theo 44]
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra các khái niệm về thích nghi sinh học, mối liên quan hoặc chỉ rõ sự khác biệt giữa thích nghi sinh học với thích ứng tâm lý xã hội Các tiêu chí có thể xem xét sự thích nghi, thích ứng của cá nhân với môi trường Thực tế cho thấy, sự thích ứng có mối liên quan đến khả năng học tập của con người Quá trình thích ứng thể hiện ở những phản xạ của con người khi đáp ứng với môi trường, nếu con người tự do thoải mái thì đáp ứng tốt hoặc qua học tập, con người có khả năng nhận thức, nắm bắt được các yêu cầu, chuẩn mực của xã hội thì sẽ nhanh chóng thích nghi và thích ứng Tuy nhiên, có tác giả vẫn đề cao vai trò của yếu tố sinh học làm cho tính chủ động tích cực thay đổi của con
Trang 1910
người bị hạ thấp, không đánh giá đúng tính chủ thể, bởi vì con người luôn biết cách
để thay đổi mình để nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới
1.1.2 Hướng nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
Nghiên cứu về sự thích ứng với kết quả học tập (xét theo mối quan hệ khác giới), các nhà tâm lý học người Anh là J Hopkins, N Malleson, I Sarnoff (1957)
đã so sánh mối liên hệ giữa kết quả học tập với quan hệ bạn bè khác giới của sinh viên nước ngoài học tập ở London, kết quả cho thấy; có (62,7%) sinh viên có bạn khác giới đạt kết quả học tập tốt, và sinh viên không có bạn khác giới đạt kết quả học tập kém (68,4%) [95] Theo các tác giả kết quả này chỉ ra rằng sinh viên có mối quan hệ giao tiếp với bạn bè hoặc bạn khác giới sẽ thúc đẩy tính tích cực hoạt động - giao tiếp và đạt kết quả học tập tốt hơn so với những sinh viên không có mối quan hệ bạn bè khác giới Những kết quả trên giúp chúng ta nhận thấy rằng nếu sinh viên phát huy được tính tích cực, hoạt động - giao tiếp sẽ làm tăng khả năng thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên Rõ ràng giao tiếp có vai trò là điều kiện để tâm lý con người hình thành, phát triển Giao tiếp cũng tạo ra nhu cầu, động cơ học tập tích cực giúp sinh viên đạt kết quả học tập ngày càng cao hơn trước
Trong tác phẩm “Thích ứng và sức khỏe tâm lý” Abe Arkoff (1968) đã công bố kết quả nghiên cứu về thích ứng tâm lý, bao gồm cả sự thích ứng học tập của học sinh và sinh viên Theo tác giả, sự thích ứng nói chung của con người bao gồm các chỉ số: Hạnh phúc, sự hài lòng, lòng tự trọng, sự phát triển cá nhân, sự hội nhập cá nhân, khả năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường [86] Như vậy, tác giả đã chỉ ra các chỉ số cụ thể cho thấy con người muốn thích ứng được với cuộc sống, cần thiết phải có được một số phẩm chất và năng lực ở bản thân có liên qua đến nhận thức (hạnh phúc, lòng tự trọng ), thái độ (hài lòng, sự phát triển cá nhân) và có những hành vi - hành động (sự độc lập, khả tiếp xúc với môi trường) Quan điểm này đã đem đến cho chúng tôi những gợi ý khi xem xét sự thích ứng của sinh viên DTTS với hoạt động học tập ở phần xây dựng những biểu hiện của khía cạnh biểu hiện của sự thích ứng
Trang 2011
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các SV thuộc khoa Tâm lý học – trường Đại học tổng hợp Matxcova năm 1971, A.I Alaudie và A.L Meseracov đã đi kết luận: Việc thích ứng của SV đại học với hoạt động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình nghiên cứu phát triển của người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm xã hội lịch sử [dẫn theo 13] Rõ ràng quan điểm của hai tác giả trên cho thấy, hoạt động học tập của SV luôn gắn liền với việc làm thế nào để SV tiếp cận được tri thức, kinh nghiệm và phát triển được bản thân trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập trong trường đại học Bất cứ SV nào tham gia vào các hoạt động mà không đạt được 3 yếu tố đó, có nghĩa là mục đích, nội dung dạy học không đạt được yêu cầu cơ bản
Nghiên cứu thích ứng học tập của sinh viên, A.V.Petrovxki và các đồng nghiệp (1986) quan niệm rằng, thích ứng học tập của SV là một quá trình phức tạp, diễn ra ở nhiều mặt như: 1/Thích nghi với hệ thống học tập mới; 2/Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/Thích nghi với các mối quan hệ mới.[dẫn theo 14]
Tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của SV thông qua hệ thống các tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường Đại học tại Hoa kỳ, B.P Allen (1990) đã chỉ ra rằng điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của SV là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng:
1/ Sử dụng quỹ thời gian cá nhân;
2/ Kỹ năng hình thành các hành động học tập và phảm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập;
3/ Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực;
4/Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp.[87]
Như vậy, sự thích ứng (hay không thích ứng của SV được giải thích chủ yếu
do SV có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức trong hệ thống giáo dục của trường đại học, cao đẳng
Nghiên cứu về mối quan hệ bạn bè của trẻ vị thành niên 10-11 tuổi ảnh hưởng đến thành tích học tập, thái độ và hành vi ứng xử của các em, tác giả
Trang 2112
P.Zettergren (2003) thuộc Đại học Stockholm Thụy Điển nhận định rằng: Thành tích học tập và mức độ trí thông minh của các em bị bạn bè hắt hủi là kém hơn so với các em khác Như vậy, do những ảnh hưởng của mối quan hệ bạn bè không được thuận lợi dẫn đến việc thích ứng với hoạt động học tập ở các em bị ảnh hưởng rõ ràng
Trong đề tài: “Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập trong nhà
trường sư phạm: những khó khăn, các vấn đề và con đường giải quyết chúng” tác giả
Volgina T.Iu (2007) chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng là: Nguồn gốc xuất thân, lứa tuổi và giới tính Volgina T.Iu nghiên cứu theo các hướng: 1 Sự đánh giá của SV về những kỹ xảo nhận được trong nhà trường đối với nghề nghiệp tương lai; Sự hiểu biết của SV năm thứ nhất về nghề nghiệp tương lai; 3 Quan niệm của
SV về nghề nghiệp tương lai.[107]
Nghiên cứu về: “Ảnh hưởng của những đặc điểm trí tuệ đến sự thích ứng
với hoạt động học của sinh viên trường đại học kỹ thuật” trên SV năm thứ nhất
các trường đại học kỹ thuật, A.E Piskun (2011) cho rằng, khó khăn trong quá trình thích ứng của SV với hoạt động học tập không chỉ liên quan đến xúc cảm, tình cảm hay môi trường giao tiếp mà nó còn liên quan đến những hạn chế trong sự phát triển trí tuệ, đặc biệt liên quan đến tư duy lôgic, không gian và kỹ thuật.[102]
1.1.3 Hướng nghiên cứu về thích ứng với môi trường đại học
Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng nhất định nào đó từ môi trường văn hóa mà mình đã gắn bó trong một quãng thời gian nào đấy Sự ảnh hưởng của văn hóa dù theo chiều hướng xấu hay tích cực nó cũng tạo
ra những thách thức, các khó khăn để con người phải thích nghi với những biến đổi của sự phát triển văn hóa Đặc biệt sự di chuyển từ môi trường sống này sang môi trường sống khác cũng tạo ra hàng loạt các vấn đề xã hội, các bất đồng và xung đột văn hóa, từ đó nảy sinh các vấn đề tâm lý do con người không thể thích nghi và thích ứng kịp với văn hóa nơi mà mình sẽ sống lâu dài Sự va chạm giữa các nhóm người di cư từ nhiều vùng miền khác nhau, hoặc sự giao thoa văn hóa cũng tạo ra những rào cản cho từng cá nhân khi muốn thâm nhập vào một thế giới khác với
Trang 22Vấn đề sốc văn hóa sau đó được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, chẳng hạn như: P.S Adler, E H Jacobson, A.C Garza – Guerrero… và mặc dù, mỗi tác giả đưa ra những giai đoạn khác nhau của sốc văn hóa nhưng họ đều cho rằng triệu chứng của sốc văn hóa rất đa dạng: từ sự bất an thường xuyên về chất lượng thực phẩm, nước uống, điều kiện vệ sinh, sợ tiếp xúc với người khác, mất ngủ, thiếu tự tin [84], [93]
Từ các nghiên cứu của Zarka (1976) tại Đại học RenĐ – Descartes (Paris), Sheldon (1982) cho thấy, SV sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi gia nhập môi trường sống mới ở đại học Những quy định về học tập, những khác biệt về cách học, sự thay đổi lối sống sinh hoạt cũng là một trong những tác nhân gây nên sự khó khăn tâm lý, làm cho SV có thể khó hòa nhập, không thích ứng được với môi trường đại học Những SV không thích nghi được quy định, chuẩn mực ở môi trường mới và không có những thay đổi ở bản thân để thích ứng được với các hoạt động học tập trong nhà trường sẽ gặp phải khó khăn, đặc biệt có nhiều trường hợp SV không thích ứng được đã phải bỏ học.[ dẫn theo 9]
Khi nghiên cứu về sự hoà nhập hay bỏ học ở đại học, các nhà nghiên cứu thường chỉ ra các biến số ảnh hưởng thuộc về cá nhân như: giới tính, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình, nguồn gốc xã hội văn hoá, quá khứ học tập.v.v
Trang 2314
Khi nghiên cứu về việc hòa nhập của SV trong trường đại học, Chenard (1988),
De Ketele (1993) cho rằng cần chú ý đến các kiểu hình văn hóa khác nhau, một số SV có thể hòa nhập được vào môi trường học tập ở đại học và rất thành công, còn một số khác thì không Các lý do dẫn tới sự không hòa nhập được là do yếu tố sự khác biệt về văn hóa, các yếu tố chủ quan, các quy định và các yếu tố môi trường sống (đô thị hóa, tệ nạn
xã hội, những luật bất thành văn).[dẫn theo 9]
Còn Tremblay (1992) cho rằng, những chuẩn mực xã hội, những khuôn mẫu, những giá trị, phong tục, những luật bất thành văn hay không đều tạo ra những rào cản văn hóa nhất định và gây ra những khó khăn tâm lý trong sự thích ứng của con người, tác giả nhận xét các yếu tố cấu thành nên thích ứng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thích ứng của con người với môi trường văn hóa.[106]
Với quan niệm, T.G Stefanenko cho rằng: ‘‘việc tìm kiếm các đặc trưng dân tộc, trong đó có cả các đặc trưng tâm lý đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ giữa con người (từ quan hệ giữa các cá nhân đến quan hệ giữa các quốc gia) thì hoàn toàn cần thiết nghiên cứu khía cạnh tâm lý của yếu tố dân tộc’’ [dẫn theo 16] Như vậy, sự thích ứng với môi trường phản ánh những khó khăn tâm lý mà con người gặp phải khi tham gia vào các mối quan hệ, các đặc trưng tâm lý cá nhân hay tâm lý dân tộc đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thích ứng của cá nhân đó trong môi trường văn hóa mới
Một số nhà tâm lý đã nghiên cứu sự thích ứng của SV nước ngoài khi học tập trong môi trường văn hóa mới Như A Anumonye (1970) tiến hành phỏng vấn 150 SV châu Phi học tập ở Anh về những ảnh hưởng của văn hóa đối với kết quả học tập Tác giả đã đưa ra hàng loạt những nguyên nhân gây hẫng hụt đối với SV châu Phi trong môi trường văn hóa mới Trong nhiều nguyên nhân, những nguyên nhân về văn hóa chiếm một tỉ lệ lớn Theo ông, chính sự không thích ứng với môi trường văn hóa khiến SV châu Phi gặp nhiều khó khăn trong học tập tại Anh Và hệ quả của nó là những rắc rối nảy sinh trong đời sống tâm lý của họ.[85]
Trang 2415
Tóm lại, những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang môi trường văn hóa khác với những chuẩn mực đã có làm cho cá nhân có thể bỏ dở học tập (với sinh viên) hoặc không hòa nhập được với các phong tục, truyền thống và văn hóa, các rào cản, những khuôn mẫu hay luật bất thành văn là những nguyên nhân văn hóa khiến cho cá nhân không thích ứng với môi trường sống mới đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực trong đời sống và hoạt động của con người
Khái quát các công trình nghiên cứu thích ứng trên thế giới của những nhà khoa học đã đem đến cho chúng tôi những thông tin quan trọng và bổ ích Các công trình nghiên cứu nước ngoài được tiến hành trên SV nước ngoài tới học tập tại các quốc gia khác Những SV này có thể được xem là là nhóm SV “thiểu số” tại các nước bản địa và vì thế có thể có những đặc tính giống với sự mô tả về SV DTTS (khác về văn hóa, khác về ngôn ngữ, khác về giá trị và chuẩn mực…) Các tác giả nước ngoài đã nghiên cứu khá nhiều khía cạnh của thích ứng trong học tập, trong đó luôn đề cập đến vấn đề lý luận chung về thích ứng, kĩ năng giải quyết vấn đề, mối quan hệ với bạn bè, những khó khăn mà SV sẽ gặp phải trong môi trường giao tiếp ở đại học, chỉ ra nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của học sinh, SV đồng thời đưa ra các biện pháp giúp học sinh, SV nhanh chóng thích ứng với môi trường có nhiểu biến động Các công trình nghiên cứu về thích ứng của SV nói trên đã gợi ý cho chúng tôi những hướng nghiên cứu thích ứng phù hợp với SV DTTS với hoạt động học tập
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, từ việc tiếp thu kế thừa các nghiên cứu về thích ứng trên thế giới, các nhà khoa học đã quan tâm và phần lớn tập trung nghiên cứu sự thích ứng trong lĩnh vực giáo dục Các nghiên cứu về sự thích ứng học đường được trình bày trong các luận văn, luận án ở trường Đại học sư phạm Hà Nội, khoa Tâm lý học, trường Đại học KHXH & NV Hà Nội, khoa Tâm lý học, Học viện KHXH và một số nhà khoa học đang là các nhà giáo ở các cơ sở giáo dục trong cả nước Có thể nêu ra đây một số nghiên cứu Phần dưới đây luận án sẽ trình bày ba hướng nghiên
Trang 2516
cứu chính là nghiên cứu về thích ứng nghề, thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên và thích ứng của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số
1.2.1 Hướng nghiên cứu về thích ứng nghề
Với “Nghiên cứu sự thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các
trường sỹ quan quân đội” tác giả Đỗ Mạnh Tôn (1996) đã chỉ ra được cấu trúc ba
thành phần: động cơ học tập và rèn luyện; kỹ năng, kỹ xảo học tập, rèn luyện; thói quen sinh hoạt, học tập và rèn luyện là các yếu tố giúp cho học viên các trường sỹ quan quân đội có thể thích ứng tốt với hoạt động học tập Và cho rằng thích ứng là một phẩm chất phức hợp và động cơ của nhân cách học viên [73]
Khi nghiên cứu: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trường
Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ Mẫu giáo Trung ương I”, tác giả Nguyễn Thạc (2003)
chỉ ra rằng: SV chưa thích ứng được với việc học là do trình độ học lực, chưa quen với phương pháp học tập mới, cách giảng dạy của giảng viên và do thay đổi môi trường học tập [61]
Trong đề tài: “Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên cao đẳng sư
phạm” tác giả Dương Thị Nga, (2012) đã nhận xét, quá trình thích ứng của SV cao
đẳng sư phạm với nghề dạy học xét đến cùng đó chính là quá trình SV tích cực học tập, rèn luyện, thay đổi những đặc điểm tâm- sinh lý của bản thân để tiến dần đến sự phù hợp với nghề dạy học tương lai [49]
Phân tích sự thích ứng với nghề công tác xã hội cuả SV, tác giả Nguyễn Thị Hiền (2015), đã nhận xét rằng sự thích ứng đối với việc học nghề là một trong những tiền đề có tính chất quyết định cho sự thành công của hoạt động cá nhân đối với nghề nghiệp sau này Thích ứng với việc học nghề công tác xã hội của SV không chỉ đơn thuần giúp SV tìm ra phương pháp học tập tốt, thích ứng được với môi trường hoạt động của nghề mà còn góp phần hình thành kĩ năng và nhân cách nghề nghiệp cho SV Số liệu nghiên cứu được tác giả rút ra từ Luận án Tiến sĩ Tâm lý học cùng tên bài báo của mình, trong đó, nghiên cứu chỉ ra những biểu hiện thích ứng của SV với quá trình tự học, tự nghiên cứu nghề nghiệp Những biểu hiện như:
Lập thời gian biểu và thực hiện đúng kế hoạch; Thường lên thư viện tìm kiếm tài
Trang 2617
liệu học thêm; Thường xuyên nghiên cứu khoa học; Thường gặp gỡ các anh chị khóa trên, các thầy cô để trao đổi nội dung học tập và học hỏi kinh nghiệm; thường tình nguyện tham gia các hoạt động xã hội, thường lên mạng internet tìm kiếm tài liệu; thường chỉ học khi đến kì thi; Trong các biểu hiện này, SV có mức độ thích
ứng cao với việc tìm kiếm tài liệu trên mạng internet (ĐTB = 2.62) Tác giả kết luận rằng: đa số SV thích ứng với quá trình tự học ở mức độ trung bình (66.2%) Đối với nghề CTXH SV thích ứng ở mức độ trung bình và thấp là chủ yếu Điều này do một số nguyên nhân như việc đào tạo nghề CTXH còn mang tính hình thức lên lớp, ít có cơ hội thực tế, chưa có nhiều hoạt động cho SV, SV chưa có sự đam mê và tự hào về nghề nghiệp, do SV chưa có nhiều kiến thức, kĩ năng về nghề nghiệp [18]
Khi nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động dạy học của giáo viên tiểu học mới vào nghề, tác giả Nguyễn Thanh Nga (2015) chỉ ra rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng nghề mang tính chủ quan như: Xu hướng nghề nghiệp sư phạm
được biểu hiện qua nhận thức được ý nghĩa xã hội của nghề sư phạm; nhận thức
được các yêu cầu đặc trưng của nghề sư phạm;nhận thức được những đặc điểm tâm lý cá nhân cần thiết với nghề sư phạm; Lòng yêu thương học trò, sự say mê nghề nghiệp; tích cực học hỏi, rèn luyện tay nghề, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp; Tính tích cực trong hoạt động dạy học được biểu
hiện qua Độc lập, chủ động khắc phục khó khăn; luôn tìm tòi, sáng tạo và đổi mới;
tự nguyện, tự giác tích lũy tri thức; cố gắng vươn lên để nâng cao hiệu quả trong hoạt động dạy học; Tính cách cá nhân, thể hiện qua các biểu hiện Tinh thần hợp tác; năng động, sáng tạo; tỉ mỉ kiên trì; lao động có kỉ luật; yêu nghề; sự cởi mở;
Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến sự thích ứng như: Bầu không khí tâm lý sư phạm, yếu tố cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học, chính sách đãi ngộ [51; tr60-66] Tác giả đi đến kết luận: Các yếu tố chủ quan và khách quan đều có sự ảnh hưởng nhất định đến sự thích ứng của người giáo viên mới vào nghề Trong đó, yếu tố xu hướng nghề và tính tích cực của cá nhân được đánh giá có ảnh hưởng nhiều nhất và mang tính quyết định đến sự thích ứng Các yếu tố khách quan cũng có ảnh hưởng đến sự thích ứng nhưng ở mức độ thấp
Trang 2718
1.2.2 Hướng nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
Trong nghiên cứu: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên”, tác
giả Lê Ngọc Lan (2002) quan niệm rằng: Thích ứng với cuộc sống và hoạt động ở môi trường mới, với những yêu cầu mới cao hơn là một quá trình tưong đối lâu dài Quá trình đó diễn ra với tốc độ và kết quả như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, vào ý thức và khả năng của mỗi SV Nhưng quá trình đó sẽ có thể diễn ra nhanh hơn, đúng hướng hơn, nếu như SV được nhà trường đại học, đoàn thanh niên hướng dẫn ngay từ những ngày đầu mới vào trường, đặc biệt là được cán bộ giảng dạy hướng dẫn và giúp đỡ cụ thể trong việc xây dựng cho mình một phương pháp học tập – có tính chất nghiên cứu tương ứng với mỗi bộ môn khoa học ở đại học Tác giả cũng khẳng định: “Với ý thức tích cực, tự giác trong học tập lại có được phương pháp học tập thích hợp, sinh viên sẽ nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai.” [30]
Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ thuộc Đại học quốc gia Hà Nội (2003) đã
tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất Đại
học quốc gia Hà Nội với môi trường Đại học” do tác giả Trần Thị Minh Đức làm chủ
nhiệm đề tài Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Nhiều SV đã không có được một trạng thái nhập cuộc tốt, không có được động cơ và hứng thú cần thiết với ngành học họ đang theo học Đây là biểu hiện sự kém thích ứng về tâm lý của SV Bên cạnh đó, nhiều SV chưa thích ứng được với nội dung chương trình và tổ chức đào tạo của nhà trường, chưa thích vứng ới phương pháp đào tạo (với phương pháp học tập tương ứng)
và cách thức đánh giá học tập của khoa, của nhà trường [9]
Cũng nghiên cứu về mức độ thích ứng với hoạt động học tập của SV, tác giả Đỗ Thị Thanh Mai (2008) đã chỉ ra: Mức độ thích ứng với hoạt động thực hành môn học của SV chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như: chỉ số phát triển thông minh, kiểu tính cách, sức khỏe, nỗ lực cá nhân, việc
tổ chức đào tạo của nhà trường.[40]
Trang 2819
Còn Dương Thị Thoan (2010) với “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động
học tập phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Hồng Đức Thanh Hóa” đã chỉ ra: SV năm thứ nhất trường ĐH
Hồng Đức đã thích ứng với hoạt động học tập theo tín chỉ ở mức độ trung bình khá Không có hình thức hoạt động nào đạt mức độ thích ứng rất tốt, cũng không có hình thức hoạt động nào sinh viên không thể thích ứng được Trong ba mặt biểu hiện của thích ứng với hoạt động học tập theo tín chỉ thì mặt nhận thức biểu hiện tốt nhất, thứ hai là mặt thái độ, và thấp nhất là mặt hành vi làm quen.[67]
Trong nghiên cứu “Một số khó khăn của trẻ em lang thang cơ nhỡ trong việc
thích ứng với cuộc sống” Vũ Dũng (2012) đã chỉ ra rằng “đối với các khó khăn về
ăn ở, học tập và sức khỏe thì nhóm trẻ học tiểu học có khó khăn lớn hơn nhóm trẻ học trung học cơ sở (khó khăn về ăn ở: 33,1% so với 19,1%; khó khăn về học tập: 36,4% so với 20,2% và khó khăn về sức khỏe: 10,8% so với 9,1% Như vậy, trẻ em
có học vấn cao hơn thì sự thích ứng với cuộc sống cũng tốt hơn nhóm trẻ có học vấn thấp hơn” [6]
Nhóm tác giả Mã Ngọc Thể, Nguyễn Thị Chính, Lê Minh Công (2012) khi nghiên cứu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật có đề cập đến sự thích ứng của người chưa thành niên vi phạm pháp luật khi sống trong trường giáo dưỡng Bản thân những người chưa thành niên phạm pháp khi trở thành học sinh trường giáo dưỡng đều gặp những khó khăn tâm lý ảnh hưởng đến sự thích ứng với cuộc sống trong trường giáo dưỡng, theo các tác giả, người chưa thành niên có hành vi phạm pháp có mức độ nghiêm trọng bao nhiêu thì việc thích ứng và hòa nhập với cuộc sống trong trường giáo dưỡng của họ càng khó khăn bấy nhiêu Các chỉ số
thích ứng với cuộc sống như “sự phát triển cá nhân”, “sự tự do cá nhân”, “nhóm
bạn bè” gắn liền với những điều kiện xã hội vĩ mô và vi mô có ảnh rất lớn đến sự
thích ứng của người chưa thành niên vi phạm pháp luật với cuộc sống trong trường giáo dưỡng Sự thống nhất giữa mặt nhận thức và thực hiện hành vi sẽ quyết định người chưa thành niên lựa chọn chiều hướng tích cực thay đổi bản thân hay đi ngược lại xu hướng tiến bộ” [64]
Trang 2920
Trong nghiên cứu một số biện pháp nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động học môn Tâm lý học của SV sư phạm, tác giả Đặng Thị Lan (2012) chỉ ra rằng, việc hướng dẫn và tổ chức cho SV thực hành một số hành động học cơ bản môn Tâm lý học là biện pháp sư phạm chính xác, phù hợp, đúng đắn và có hiệu quả trong việc nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động học môn Tâm lý học của SV sư phạm Biện pháp này không chỉ áp dụng trong việc nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động học môn Tâm lý học của SV sư phạm, mà còn có thể áp dụng trong việc nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động học các môn bằng tiếng Việt của SV các trường đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.[32]
Khi nghiên cứu trên SV Đại học Thái nguyên, tác giả Nguyễn Thị Út Sáu
(2013) với nghiên cứu “Thích ứng với hoạt động học tập theo học tín chỉ của sinh
viên Đại học Thái Nguyên”, đã nhận định rằng: SV thích ứng ở mức khá với hoạt
động học tập theo tín chỉ, tuy nhiên những mặt SV thích ứng ở mức độ cao chưa phản ánh những đặc trưng của phương thức đào tạo theo tín chỉ Còn những nội dung thể hiện đặc trưng của phương thức đào tạo này thì SV thể hiện ở mức thấp hơn [58]
Với nghiên cứu “Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động
học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội” tác giả Đặng Thanh Nga (2014) đã chỉ ra rằng, phương thức đào tạo có ảnh
hưởng nhiều đến sự thích ứng học tập của SV, các yếu tố chủ quan và khách quan
có tác động đến quá trình thích ứng.[50]
Nhìn chung các tác giả đã có những hướng tiếp cận và lý giải khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của học sinh, SV với hoạt động học tập Các yếu tố chủ quan ( sức khỏe, tính tích cực học tập, các phẩm chất nhân cách cá nhân)
và các yếu tố khách quan (môi trường sống, điều kiện học tập, khối lượng kiến thức, các quy định về trường học…) được đề cập đến đều phản ánh thực trạng khó khăn tâm lý gây ảnh hưởng đến thích ứng của học sinh, SV Tuy nhiên, xu hướng của các tác giả thường căn cứ vào kết quả học tập để đánh giá mức độ thích ứng, tức là điểm số học tập của học sinh, SV cao hay thấp sẽ tương ứng
Trang 3021
thích ứng như vậy với hoạt động học tập Như vậy, nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập còn nhiều điểm cần nghiên cứu hơn nữa, vẫn chưa thực sự đầy đủ Đây cũng là những điểm còn thiếu để chúng tôi nghiên cứu về sinh viên dân tộc thiểu số
1.2.3 Hướng nghiên cứu về thích ứng của học sinh - sinh viên dân tộc thiểu số
Các công trình nghiên cứu về dân tộc thiểu số ở nhiều lĩnh vực khoa học được quan tâm, đặc biệt nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học về dân tộc thiểu số thì rất ít Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đã đề cập đến các khía cạnh của đời sống dân tộc như bản sắc văn hóa, phong tục, vấn đề tính cách, nhân cách dân tộc, sự thích ứng, hoạt động học tập của trẻ em, học sinh, SV là người dân tộc thiểu số Các nghiên cứu này ngày càng được nhìn nhận một cách sâu sắc, toàn diện và hệ thống hơn
Nghiên cứu của nhóm tác giả Lã Thị Bưởi, Đinh Đăng Hòe, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Việt, Trần Viết Nghị, Võ Văn Bản (2001) trên 30 học sinh lớp 10,
30 học sinh lớp 12 dân tộc ít người tại trường phổ thông vùng cao Việt Bắc cho thấy sự thay đổi môi trường sống làm các em khó thích ứng với việc học tập tại trường Nếu thầy cô giáo tăng sự quan tâm động viên, chia sẻ, giúp đỡ thì các em sẽ dễ dàng hòa nhập với cuộc sống mới và học tập tốt hơn.[dẫn theo 30]
Nghiên cứu về đặc trưng tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số khu vực Đông
Bắc Việt Nam tác giả Phùng Thị Hằng, (2012) nhận định rằng, trong các yếu tố ảnh
hưởng đến giao tiếp của học sinh trung học phổ thông Tày, Nùng yếu tố chủ quan (học lực, vốn sống, khả năng ngôn ngữ, quan hệ bạn bè, giới tính) có ảnh hưởng rất lớn và có tính quyết định đến giao tiếp của học sinh trong môi trường học tập Các yếu tố khách quan (tác động của môi trường miền núi, phong tục tập quán, giáo dục nhà trường) cũng có ảnh hưởng nhất định nhưng không mạnh bằng các yếu tố khách quan Những yếu tố ảnh hưởng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thích ứng của học sinh với môi trường học tập [16]
Trang 3122
Từ kết quả công trình nghiên cứu “Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số” tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012) và cộng sự đã đưa ra các nhận định rằng: “ Nếu con người không có nền tảng giá trị sống, kĩ năng sống chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay” Các tác giả cũng cho rằng khi giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho thanh niên học sinh dân tộc thiểu số cần phải nâng cao nhận thức và đưa các thành tố trọng yếu của kĩ năng sống vào cuộc sống của thanh thiếu niên, sẽ giúp các em nâng cao năng lực để có được những lựa chọn lành mạnh hơn, có được sự kháng cự tốt hơn với những áp lực tiêu cực và kích thích những thay đổi tích cực trong cuộc sống của các em Như vậy, giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống chính là tăng cường khả năng thích ứng của học sinh dân tộc thiểu số với môi trường sống và hoạt động học tập.[37]
Nguyễn Thị Ngọc (2013), với Ảnh hưởng của phong tục, tập quán đến các
hoạt động giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em Tày - Nùng tỉnh Thái Nguyên đã
chỉ ra rằng, các yếu tố văn hóa dân tộc tác động ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý học sinh dân tộc, nhận thức về quyền và bổn phận của trẻ em, học sinh là người dân tộc thiểu số Tày – Nùng Phong tục tập quán với các quy định khắt khe, môi trường sống ở miền núi tạo ra những cản trở khiến cho trẻ em, học sinh dân tộc thiểu số khó có thể nhận được đầy đủ các giá trị, hưởng lợi từ quyền và bổn phận chăm sóc trẻ em của người lớn Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến trẻ em khó thích ứng với môi trường sống, tiếp cận với giá trị văn hóa chung của xã hội hiện đại [54]
Trong nghiên cứu: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm
thứ nhất người dân tộc thiểu số” tại trường Đại học Tây Nguyên tác giả Nguyễn
Thị Hoài (2007) nhận xét: chỉ qua một thời gian ngắn học tập ở đại học, SV người dân tộc thiểu số đã có sự thay đổi về nhận thức, thái độ và kỹ năng đối với các hành động học tập Quá trình thay đổi này sẽ diễn ra nhanh hay chậm không chỉ phụ thuộc vào sự tự tin, chủ động, tích cực vượt qua những khó khăn tâm lý đặc trưng của bản thân mỗi SV, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm tích
Trang 3223
cực của các cấp quản lý của nhà trường, của các khoa và các giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy Nghiên cứu chỉ ra: “Sinh viên người dân tộc thiểu số ở Đại học Tây Nguyên thích ứng chưa cao với hoạt động học tập ở đại học Ở sinh viên còn nhiều đặc điểm gây khó khăn cho sự thích ứng với hoạt động học tập” [20]
Nghiên cứu về “Phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên dân tộc thiểu số Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên”, tác giả Ngô Giang Nam, (2013) chỉ ra một số kĩ năng giao tiếp cơ bản như kĩ năng tiếp nhận thông tin (nghe, đọc, hiểu), kĩ năng diễn đạt, kĩ năng trình bày văn bản, được SV thường dùng trong hoạt động học tập và đề xuất một số kĩ năng mềm như kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng xác định các giá trị, kĩ năng xá định các mục tiêu có thể giúp SV thích ứng tốt hơn với hoạt động học tập.[46]
Nghiên cứu về đề tài “đặc điểm nội dung giao tiếp của sinh viên người dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang” tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (2015), cho thấy, giao tiếp của SV dân tộc Tày ở mức độ trao đổi thường xuyên (ĐTB=2.60) điều này chứng tỏ sinh viên với nhau về các nội dung liên quan đến học tập và nhu cầu thành đạt; trao đổi cảm xúc, tình cảm; trao đổi về tâm linh và phong tục tập
quán; nhu cầu và đời sống tinh thần của bản thân Trong đó nội dung trao đổi
cảm xúc, tình cảm có mức độ thường xuyên cao nhất; Tiếp đến là nội dung giao
tiếp liên quan đến học tập và nhu cầu thành đạt Và hai nội dung giao tiếp còn lại
có mức độ giap tiếp thường xuyên thấp hơn.[1]
Khi nghiên cứu về: “Thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập” tác giả Mã Ngọc Thể (2015) đã xem xét thích ứng học tập của
SV qua ba mặt biểu hiện nhận thức, thái độ và hành vi Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng, phần lớn SV DTTS đạt mức độ thích ứng trung bình, trong các mặt này thì mặt hành vi quyết định rất nhiều đến sự thích ứng của SV Trong đó đề cập
đến các kĩ năng “Hợp tác với bạn bè” và “kĩ năng đánh giá các vấn đề học tập”
được phần lớn SV đánh giá cao ảnh hưởng đến quá trình thích ứng học tập
(78.6%) Với kĩ năng “xác lập mối quan hệ với giảng viên trong trường” được
Trang 33Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các công trình khoa học của các nhà khoa học ngoài nước và trong nước, chúng tôi nhận thấy, các nghiên cứu đã chỉ ra sự thích ứng của SV dựa trên các biến số giới tính, đặc thù môn học, môi trường học tập mà chưa có nghiên cứu sâu về các yếu tố điều kiện xã hội, yêu cầu của việc học tập trên lớp, ở nhà (ký túc xá) và hoạt động học tập ngoại khóa Có thể nói, môi trường học tập và rèn luyện kết hợp với kỷ luật nghiêm khắc
đã tạo cho SV việc thường xuyên trau dồi, tu dưỡng tăng khả năng thích ứng với những khó khăn trong học tập và khắc phục các hạn chế bản thân bồi dưỡng các phẩm chất và năng lực Việc nghiên cứu thích ứng của SV không bó hẹp ở những vấn đề mang tính lý luận mà còn mang tính thực tiễn Các nghiên cứu trên đã đề cập đến đời sống, văn hóa, kĩ năng sống, kĩ năng thực hành nghề nghiệp của SV trong tương lai Có một vài nghiên cứu về sự thích ứng của học sinh - sinh viên dân tộc thiểu số Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn mỏng, có nhiều khoảng trống và cần phân tích sâu hơn về thực tiễn Các nghiên cứu đã mở ra cho chúng tôi
Trang 3425
những hướng mới để nghiên cứu sâu hơn trong đề tài của mình Do đó, nghiên cứu hoạt động học tập của SV không thể tách rời khỏi nghiên cứu những biểu hiện và mức độ thích ứng, những khó khăn, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp, mối quan hệ của SV với bạn học, với giảng viên, điều kiện sống Trong các tác nhân đó thì tác nhân nào ảnh hưởng mạnh mẽ và quyết định sự thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập trong từng năm học, đây cũng là vấn đề cần phải nghiên cứu đầy đủ hơn nên chúng tôi đã lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu của mình
Tiểu kết Chương 1
Những nghiên cứu về thích ứng của các tác giả nước ngoài đã đem lại cho chúng tôi một cách nhìn tổng quan và khái quát hơn về các khía cạnh của thích ứng cũng như thích ứng với hoạt động học tập Đặc biệt nghiên cứu thích ứng được gắn với từng điều kiện và hoàn cảnh có vấn đề, những khía cạnh tâm lý xã hội luôn được các tác giả quan tâm nghiên cứu Có thể thấy các hướng nghiên cứu chính về thích ứng với môi trường, nghề nghiệp, hoạt động học tập của học sinh và sinh viên Các nghiên cứu cũng đã đề cập đến đời sống, văn hóa, kĩ năng sống, kĩ năng thực hành nghề nghiệp của sinh viên trong tương lai
Ở Việt Nam cho đến nay có rất ít nghiên cứu về thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập, đặc biệt là nghiên cứu thích ứng trên các năm học khác nhau mặc dù đây là vấn đề rất cần thiết cho thực tiễn Chính vì vậy, sự lựa chọn hướng nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học là hướng đúng cho đề tài của luận án này
Trang 3526
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC
THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
2.1 Một số khái niệm cơ sở
Để làm rõ khái niệm thích ứng, phần này làm rõ khái niệm thích ứng qua các định nghĩa của các tác giả trong và ngoài nước Từ đó đưa ra các tiêu chí đo sự thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập
2.1.1 Thích ứng
2.1.1.1 Khái niệm thích ứng
Thích ứng là một phạm trù được rất nhiều khoa học nghiên cứu Ở từng lĩnh vực khoa học sẽ có cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau Trong đó, thích ứng được nghiên cứu rất phổ biến trong tâm lý học Tùy vào quan niệm, hướng tiếp cận mà các nhà tâm lý học định nghĩa sự thích ứng của con người Có tác giả tiếp cận theo hướng lý giải sự thích ứng liên quan đến môi trường, có tác giả nghiên cứu dưới góc độ nhận thức hoặc tiếp cận qua quan sát hành vi và kết quả hành vi trong từng hoạt động
Dưới đây chúng tôi xin khái quát một số nghiên cứu dưới góc độ tâm lí học
về thích ứng Chịu ảnh hưởng của học thuyết Darwin, Spencer H (1998) cho rằng, chọn lọc tự nhiên là quy luật cơ bản của thích ứng tâm lí, thể hiện ở việc cá thể biến đổi hành vi loài một cách phù hợp trước những yêu cầu của môi trường xung quanh Như vậy, bản chất của quan niệm này cho sự thích ứng của con người chính là biểu hiện của thích nghi sinh học Theo lý thuyết hành vi của Watson J (1913) thích ứng của người và động vật giống nhau, đều phải học được một hệ thống hành vi, ứng xử phù hợp với kích thích, phù hợp với môi trường Mỗi hành vi cụ thể có cơ sở là các kinh nghiệm, hành vi cũ và có động lực là sự thích ứng Đó là quá trình cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi của cuộc sống Ông coi con người là một cơ thể sống với một hệ thống hành vi, phản ứng đáp lại kích thích của bên ngoài nhằm thích ứng với môi trường
Trang 3627
Tóm lại, quan điểm thích ứng với môi trường nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của hành vi khi con người sự thích ứng với môi trường, trong khi đó từ góc độ nhận thức, Jean Piagie chỉ ra rằng, khi tương tác với môi trường, cá nhân có được kinh nghiệm Nếu kinh nghiệm này phù hợp với cơ cấu nhận thức hiện có của bản thân, nó sẽ được tiếp thu Như vậy, cá nhân sẽ có những sự thay đổi về cấu trúc nhận thức Bên trong sự tương tác của chủ thể sẽ diễn ra quá trình điều ứng (một biểu hiện của sự thích nghi – thích ứng) Chủ thể sẽ tái lập lại những đặc điểm của khách thể vào cái đã có, qua đó biến đổi sơ đồ đã có, tạo ra sơ đồ mới… cơ cấu nhận thức của chủ thể sẽ được thay đổi để nó có thể tiếp nhận kinh nghiệm mới Do
đó cơ cấu nhận thức của cá nhân phát triển thêm nhiều cơ cấu mới, giúp cá nhân có sự thích nghi, đồng thời tương tác phù hợp và hiệu quả với môi trường, duy trì sự cân bằng với môi trường [dẫn theo 15]
Quan điểm của Jean Piagie đã mở ra các hướng mới cho những nghiên cứu
về thích ứng sau này Bởi bản thân quan niệm thích nghi sinh học đặt nền tảng cho những nghiên cứu nhận thức (sự hiểu biết, kinh nghiệm, cơ cấu nhận thức) để những người đi sau chú trọng hơn đến bản chất sự thích ứng của con người không chỉ giới hạn ở mặt thích nghi sinh học thuần túy mà nó còn có sự liên quan tới thích ứng về mặt tâm lý – xã hội Vì quá trình phát triển tâm lý của con người mang bản chất xã hội – lịch sử
Từ góc độ các nhà tâm lý học như L.X Vưgotxki; A.N Leonchiev; X L Rubinstein; P.Ia Ganperin cho rằng yếu tố quan trọng đối với quá trình thích ứng,
đó là tính tích cực của chủ thể, mức độ thích ứng phụ thuộc vào hoạt động và hiệu quả của nó, chủ thể càng tích cực trong hoạt động thì cường độ sự trao đổi giữa con người và môi trường càng lớn và vì thế càng thích ứng với môi trường Thích ứng được thực hiện bằng cơ chế hoạt động và giao tiếp Quá trình thích ứng diễn
ra trong hoạt động, giao tiếp, được biểu hiện trong hoạt động, giao tiếp và được đánh giá bằng hiệu quả của hoạt động và giao tiếp
Có thể nói, với mỗi cách nhìn khác nhau về sự thích ứng các nhà khoa học lý giải sự thích ứng của con người khác nhau Tuy nhiên để cụ thể hóa vấn đề thích
Trang 3728
ứng của con người, luận án quan tâm làm rõ khái niệm thích ứng và các đặc điểm của nó Từ đó có cơ sở để xem xét sự thích ứng tâm lý của sinh viên trong bối cảnh học đại học
Từ điển tiếng Việt giải thích rằng: Thích nghi là “Có những biến đổi nhất
định cho phù hợp với hoàn cảnh môi trường mới”; còn thích ứng thì có hai nghĩa “1) Như thích nghi; 2) Là có những thay đổi cho phù hợp với điều kiện, yêu cầu mới”
Theo từ điển tiếng Anh thuật ngữ adapt được hiểu là phỏng theo, làm cho vừa, làm
cho thích hợp, sửa đổi, tùy thời Từ điển Tâm lý học (tiếng Anh) khái niệm thích
ứng và thích nghi (adapt - Adaptation) được hiểu là “để đáp ứng với môi trường mới” [88] Khái niệm “adaptation” được dịch sang tiếng Việt là “thích nghi”, hoặc
“thích ứng”
Chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm của các nhà tâm lý học về thích nghi và thích ứng nhằm làm sáng tỏ hơn về thuật ngữ thích ứng sẽ được sử dụng trong nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt hoạt động học tập của sinh viên dân tộc thiểu số
A.N Leonchiev cũng đã phân biệt khái niệm thích nghi sinh học và thích nghi tâm lý xã hội: Thích nghi sinh học là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài và năng lực hành vi của cơ thể…thích nghi tâm lý- xã hội của con người diễn ra không phải bằng cơ chế di truyền sinh học mà là di truyền xã hội - tức là quá trình lĩnh hội những giá trị xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp của cá nhân khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội [dẫn theo 13]
Theo Từ điển Tâm lý do Nguyễn Khắc Viện (1994) chủ biên diễn giải thích
ứng, thích nghi được hiểu là: “Một sinh vật sống được trong một môi trường có
nhiều biến động, bằng cách thay đổi phản ứng của bản thân, hoặc tìm cách thay đổi môi trường Bước đầu là điều chỉnh những phản ứng sinh lý ( như thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm…); sau là thay đổi cách ứng xử, đây
là thích nghi tâm lý.” [82]
Trang 3829
Theo tác giả Vũ Dũng (2012), thích nghi tâm lý là sự thích ứng của con
người đối với những yêu cầu và tiêu chuẩn đánh giá hiện có trong xã hội nhờ chiếm lĩnh được những chuẩn mực và giá trị của xã hội đó.[6]
Tác giả cũng cho rằng: Thích ứng là phản ứng của cơ thể với những thay đổi của môi trường Về nguyên tắc, có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi các điều kiện của môi trường:
1) Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan Đây là phương thức phổ biến đối với động vật và thực vật
2) Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức Phương thức này chỉ đặc trưng cho động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lý
Phương thức thích ứng này được phân chia thành hai hướng khác nhau: a) Thay đổi chậm những hình thức hành vi được kế thừa – bản năng, mà sự tiến hóa của những bản năng này diễn ra dưới ảnh hưởng của những thay đổi môi trường với tốc độ chậm;
b) Phát triển năng lực học tập của cá nhân, năng lực “hành động hợp lý” – những thay đổi nhanh của hành vi, “sáng tạo” ở mức độ nhất định những phương thức hành vi mới để đáp lại những thay đổi nhanh của môi trường mà bản năng bị bất lực Những hoạt động này không nhất thiết phải cố định, phải di truyền, vì sự ưu việt của chúng là tính mềm dẻo cao Vì vậy, chỉ có những khả năng hành động quy định thứ bậc cao của tổ chức tâm lý của sinh vật mới được di truyền
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức (2004), Thích ứng là quá trình hoà nhập
tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý xã hội.[9]
Như vậy, tác giả đã chỉ ra đặc điểm của thích ứng thể hiện qua 3 mặt dưới đây:
- Sự hoà nhập tích cực: là sự chủ động thay đổi bản thân và cải tạo hoàn
cảnh trong sự hài hoà nhất định Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên hệ kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh cho phù hợp với bản thân
Trang 3930
- Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong kinh
nghiệm của cá nhân, có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng
- Sự trưởng thành về mặt tâm lý- xã hội: Là sự thích ứng tâm lý bên trong
của mỗi cá nhân, sự phát triển hài hoà và làm chủ trong các mối quan hệ xã hội của con người
Khi nói đến thích ứng, người ta thường hay nhắc đến sự thay đổi cấu trúc tâm lý, trong đó có 3 mặt chính, đó là nhận thức, thái độ và hành vi Trong sự biến đổi này có sự thống nhất giữa ba mặt trên Khi chủ thể có sự thay đổi về nhận thức, thái độ mà không có sự thay đổi về hành vi thích ứng với môi trường xung quanh thì chủ thể sẽ không thể biến quá trình thay đổi đó thành sự phát triển hoàn thiện Đặc biệt, hành vi thích ứng có vai trò quyết định đối với sự thích ứng hay không thích ứng của chủ thể trước những tác động của bên ngoài
Theo Nguyễn Tuấn Vĩnh (2015) hành vi thích ứng là một tập hợp các kĩ năng mà cá nhân học được trong cuộc sống hàng ngày, giúp cá nhân duy trì cuộc sống, thực hiện sự độc lập cá nhân, thiết lập các mối quan hệ xã hội, trên cơ sở đó đáp ứng những yêu cầu của môi trường và hội nhập vào cộng đồng.[80] Như vậy, tác giả coi hành vi thích ứng là sự tập hợp các kĩ năng, các kĩ năng này sau khi học được sẽ giúp cá nhân trưởng thành trong môi trường và cộng đồng
Tác giả Lê Thị Minh Loan (2010) cho rằng: Thích ứng là quá trình cá nhân
lĩnh hội một cách tích cực, chủ động các điều kiện mới hay hoàn cảnh mới, qua đó đạt được các mục đích yêu cầu đề ra và sự trưởng thành về mặt tâm lý, nhân cách.[35] Với cách tiếp cận và quan niệm này, tác giả Lê Thị Minh Loan có sự
tương đồng quan điểm với tác giả Trần Thị Minh Đức ở hướng tiếp cận thích ứng như là một sự hòa nhập, sự lĩnh hội một cách chủ động, tích cực khi mà tham gia vào hoàn cảnh có vấn đề, các điều kiện và hoàn cảnh mới và bản thân chủ thể có sự trưởng thành về mặt tâm lý, xã hội và nhân cách tạo nên các đặc điểm tâm lý mới
Trang 4031
Như vậy, các tác giả trên khi nói đến thích ứng đều chú trọng các yếu tố cá nhân tích cực, chủ động trong những điều kiện hoàn cảnh mới để tạo ra sự thay đổi ở bản thân và có sự phát triển về mặt tâm lý
Nói đến “sự thích ứng” là nói đến khả năng hòa nhập của con người với những biến động trong một hoàn cảnh mới khi mà những yêu cầu, đòi hỏi mới chưa
hề có trong kinh nghiệm của bản thân “sự thích ứng” tức là làm quen, xâm nhập vào môi trường mới
Từ những quan điểm nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi quan niệm
rằng: Thích ứng là sự thay đổi tích cực, chủ động của con người về nhận thức, thái độ
và hành vi để vượt qua khó khăn nhằm đáp ứng được các yêu cầu của cuộc sống”
Như vậy, thích ứng thể hiện tính năng động, tích cực, linh hoạt, chủ động thay đổi của mỗi người về nhận thức, thái độ và hành vi trước những thay đổi của môi trường, hoàn cảnh sống Khái niệm “thích ứng” chúng tôi sử dụng ở đây được hiểu với nghĩa “thích ứng tâm lý- xã hội”
2.1.1.2 Tiêu chí đo biểu hiện của sự thích ứng
Những biểu hiện thích ứng của con người trong tự nhiên và xã hội phản ánh những nét đặc trưng được khái quát lại dưới đây:
- Sự ứng phó chủ động của con người bằng cách thay đổi tâm lý về mặt nhận thức, thái độ đồng thời tạo ra những hành vi phù hợp với thực tế nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển hài hòa bản thân trước đòi hỏi của hoàn cảnh mới
- Khi môi trường sống thay đổ mỗi cá nhân sẽ hình thành những thao tác tư duy mới để điều chỉnh bản thân (thái độ, hành vi) sao cho phù hợp, đảm bảo cho sự phát triển của họ Tức là, khi điều kiện sống có sự thay đổi sẽ làm nảy sinh những yêu cầu mới cho chủ thể, bắt buộc chủ thể phải nhanh chóng xác lập những nhận thức mới, hành vi mới, các đặc điểm tâm lý mới để phản ứng với môi trường sống mới Kết quả của nó làm biến đổi cấu trúc tâm lý bên trong hình thành nên phương thức hành động mới cho phù hợp với yêu cầu của cuộc sống
- Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể cho nên khi gia nhập môi trường sống mới, chủ thể sẽ phải xác lập cơ chế thích