Điều 5 đến điều 14 của công ước quy định các biện pháp phòng chống tham nhũng bao gồm: Quy ước về chuẩn mực hành xử của cán bộ, viên chức nhà nước; cũng như các biện pháp
Trang 1Pháp luật về phòng chống tham nhũng của
Singapore và bài ho ̣c cho Viê ̣t Nam
Lã Văn Huy
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luâ ̣t quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về tham nhũng, lý giải nguyên nhân phát sinh và hâ ̣u quả của tham nhũng Phân tích các quy đi ̣nh phòng , chống pháp luâ ̣t của Singapore và Viê ̣t Nam , tìm ra những điểm phù hợp với Việt Nam Đánh giá thực trạng tham nhũng ở Viê ̣t Nam , viê ̣c triển khai thực thi Luâ ̣t phòng , chống tham nhũng Bằng những lập luận, phân tích khoa học, đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng ở Việt Nam
Keywords: Luật Quốc tế; Chống tham nhũng; Pháp luật Singapore; Pháp luật Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là mô ̣t hiê ̣n tượng có tính li ̣ch sử, đang là vấn đề của hầu hết các nước trên thế giới Ngoài việc gây thiệt hại về vật chất , tham nhũng còn gây ra sự bất bình trong nhân dân , tạo nên sự bất công trong xã hô ̣i , làm giảm lòng tin của nhân dân đối với chí nh phủ Từ đó, tham nhũng ảnh hưởng lớn về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội và cả sự phát triển của đất nước đó
Mô ̣t đất nước với tình tra ̣ng tham nhũng lâu ngày không giải quyết sẽ dẫn đến sự mất lòng tin của dân chúng vào bô ̣ máy lãnh đa ̣o , đây là mô ̣t điều hết sức nguy hiểm cho sự tồn vong của mỗi quốc gia Trong thời đa ̣i toàn cầu hóa hiê ̣n nay , mô ̣t đất nước muốn đứng vững trên sân chơi quốc tế, đứng vững trước sự chống phá từ bên ngoài thì bắt buô ̣c đất nước ấy phải có mô ̣t nô ̣i lực mạnh mẽ và nội lực ấy phải bắt nguồn từ một bộ máy chính trị trong sạch từ trung ương đến địa phương Đã đến lúc, chúng ta phải nỗ lực hết sức để phòng chống tham nhũng nhằm làm cho hê ̣ thống chính tri ̣ thêm vững ma ̣nh Do tính chất thời sự của chủ đề nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu, học viên cao học , sinh viên đã tiếp cận nghiên cứu lĩnh vực phòng chống tham nhũng Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đề để rút kinh nghiê ̣m cu ̣ thể có thể áp du ̣ng cho Viê ̣t Nam thì hầu như vẫn
chưa có nhiều tác giả đề cập đến Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài: "Pháp luật
về phòng chống tham nhũng của Singapore và bài học cho Viê ̣t Nam" nhằm góp phần hệ thống
Trang 2hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn , rút kinh nghiệm từ thành công của Singapore nhằm xây dựng các quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng ở Viê ̣t Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích
Mục đích của đề tài là hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Singapore ; qua đó rút ra bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam , đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng chố ng tham nhũng của Việt Nam
Là tài liệu có giá trị tham khảo cho sinh viên , học viên của Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu , tìm hiểu về Luâ ̣t chống tham nhũng của Singapore , Luâ ̣t phòng , chống tham nhũng Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:
- Luận giải những vấn đề lý luận chung về tham nhũng, phòng, chống tham nhũng
- Phân tích các quy đi ̣nh phòng , chống pháp luâ ̣t của Singapore và Viê ̣t Nam , tìm ra những điểm phù hợp với Viê ̣t Nam
- Đánh giá thực trạng tham nhũng ở Viê ̣t Nam , viê ̣c triển khai thực thi Luâ ̣t phòng , chống tham nhũng
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta
3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các quy định hiện hành về phòng, chống tham nhũng của Singapore và Việt Nam
- Thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành về phòng, chống tham nhũng ở Viê ̣t Nam
3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Phương pháp bình luận, diễn giải được sử dụng trong Chương 1 của luận văn khi nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về tham nhũng
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích được sử dụng ở Chương 2 của luận văn khi nghiên cứu về Luật chống tham nhũng Singapore và bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở Chương 2 và Chương 3 của luận văn khi xem xét, nghiên cứu các quy đi ̣nh c ụ thể về phòng, chống tham nhũng của Singapore và Viê ̣t Nam, thông qua việc nghiên cứu thực trạng tham nhũng và cơ chế thực t hi Luâ ̣t phòng chống tham nhũng ở Viê ̣t Nam
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 3Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tham nhũng
Chương 2: Luâ ̣t chống tham nhũng Singapore
Chương 3: Pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng và giải pháp đề xuất
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THAM NHŨNG 1.1 Khái niệm tham nhũng
Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của
Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng
Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan,
tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như:
kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu
Còn một định nghĩa nữa về tham nhũng mà Ngân hàng Thế giới thường sử dụng Theo đó, tham nhũng là "lạm dụng công quyền để tư lợi" Định nghĩa này cho rằng căn nguyên của tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với nhà nước và các hoạt động của nhà nước, việc nhà nước can thiệp vào thị trường và từ sự tồn tại của khu vực công Nói cách khác, khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân,
và chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công Định nghĩa này phù hợp với quan điểm của Gary Becker, người đã đoạt giải Nobel, cho rằng "nếu chúng ta xóa bỏ nhà nước thì chúng ta cũng xóa bỏ được tham nhũng"
1.2 Các loại tham nhũng cơ bản
Nhìn chung, chúng ta có thể xác định được ba loại hình tham nhũng cơ bản Thứ nhất là tham nhũng để đạt được hoặc đẩy nhanh việc thực hiện một quyền cụ thể nào đó mà công dân hoặc pháp nhân nào đó có quyền được hưởng - tham nhũng Nếu một người đút lót một cán bộ phụ trách cấp hộ chiếu mà anh ta có quyền được cấp, tức là không có rào cản pháp lý nào đối với việc cấp hộ chiếu của anh ta, thì đây chính xác là loại tham nhũng đầu tiên Một hình thức cụ thể
và lộ liễu hơn của nó là hối lộ các quan chức để họ "ưu tiên" giải quyết vấn đề gì đó nhưng hoàn toàn hợp pháp Nói cách khác, các công chức nhận đút lót mới làm công việc của họ hoặc làm công việc đó nhanh hơn thường lệ, thay vì không làm Mức độ thường xuyên của loại tham
Trang 4nhũng này là một bằng chứng rõ ràng chứng tỏ năng lực và mức độ hiệu quả trong bộ máy hành chính của nhà nước Nói cách khác, nó chỉ rõ năng lực hành chính yếu kém hoặc chất lượng phục
vụ tồi trong bộ máy hành chính Chúng ta nên nhớ rằng người ta hoàn toàn có thể tạo ra sự khan hiếm dịch vụ hành chính nhằm tạo ra bổng lộc và phân phối lại bổng lộc thông qua tham nhũng Loại tham nhũng thứ hai là vi phạm các quy định của pháp luật, hoặc việc thực thi pháp luật mang nặng tính thiên vị Đây là tham nhũng trong bộ máy hành chính và là loại tham nhũng được nói tới nhiều nhất - đại đa số những đóng góp về lý thuyết trong lĩnh vực này đều bàn về tham nhũng trong bộ máy hành chính Lý do là vì mỗi chủ thể kinh tế đều có những động cơ và nhân tố khuyến khích rõ ràng, và mối quan hệ giữa chúng cũng rất rõ Loại tham nhũng này phù hợp với mô hình cấp trên-cấp dưới trong tham nhũng vì toàn bộ việc thực hiện tham nhũng đều do các công chức gây ra (đòi hối lộ để vi phạm các quy định) Hậu quả trực tiếp nghiêm trọng nhất của loại tham nhũng này là các đạo luật và chính sách của nhà nước không được thực hiện một cách công bằng
Hình thức thứ ba , đó là "bẻ cong pháp luật" - tham nhũng nhằm mục đích thay đổi các quy định của pháp luật thành những quy định phục vụ cho quyền lợi của những kẻ tham nhũng Khái niệm bẻ cong luật pháp do Ngân hàng Thế giới đưa ra chủ yếu nhằm lý giải thực trạng đời sống chính trị ở các nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi Giả định chính ở đây là các đạo luật và chính sách của nhà nước chịu sự chi phối của một số ít người rất có có thế lực - đã hối lộ các đại biểu quốc hội Nói cách khác, các chính sách của nhà nước chắc chắn được ban hành để phục vụ thiểu số những kẻ có thế lực chứ không phải nhân dân nói chung Mặc dù hệ thống như vậy tồn tại trên thực tế và loại tham nhũng này có thể lý giải một số nhân tố cơ bản trong chính sách công ở nhiều quốc gia (chứ không chỉ riêng các quốc gia đang trong thời kỳ quá độ), song khái niêm "bẻ cong luật pháp" vẫn thiếu tính rõ ràng về mặt phân tích Vấn đề chính ở đây là ở tất cả mọi quốc gia, các nhóm lợi ích có ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định của các đại biểu quốc hội Việc ráo riết vận động hành lang là một hoạt động hoàn toàn hợp pháp và chính đáng ở những nền dân chủ đã phát triển Vấn đề chính mang tính phân tích trong khái niệm "bẻ cong pháp luật" là phân định rạch ròi giữa vận động chính trị hợp pháp và "bẻ cong pháp luật" do tham nhũng gây ra
1.3 Những nguyên nhân cơ bản của tham nhũng
Cùng với sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị - kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan quan trọng làm cho tham nhũng phát triển Lợi ích là yếu tố chủ quan dẫn đến tham nhũng Khi còn điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức vụ, quyền hạn thì vẫn còn có khả năng xảy ra tham nhũng Có nhiều nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng, trong đó có những nguyên nhân, điều kiện cơ bản sau:
- Trình độ phát triển kinh tế, trình độ quản lý yếu
- Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá
- Hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả, pháp luật không hoàn thiện, thiếu các công
cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu
1.4 Hậu quả của tham nhũng
Trang 5Chúng ta có thể khái quát những tác hại chủ yếu của tham nhũng ở những điểm chính sau:
- Tác hại về chính trị: Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình phát triển của mỗi nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với chính quyền, tiềm ẩn các xung đột lợi ích, phản kháng về xã hội, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo Tham nhũng tràn lan đe dọa sự tồn vong của chế độ
- Tác hại về kinh tế: Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước và của công dân
- Tác hại về xã hội: Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước
1.5 Một số cơ sở pháp lý nghiên cứu phòng, chống tham nhũng
1.5.1 Công ước Liên hợp quốc phòng chống tham nhũng
Công ước Liên hợp quốc phòng chống tham nhũng (Tiếng Anh: United Nations Convention
against Corruption; viết tắt: UNCAC) đã được thông qua tại Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày
31 tháng 10 năm 2003 (Nghị quyết 58/4)
Để chống lại tham nhũng, công ước quy định những quy ước và chuẩn mực chung về các vấn đề chính bao gồm:
Công tác phòng chống
Hình sự hóa tội phạm tham nhũng
Thu hồi tài sản bị thất thoát
Hợp tác quốc tế và hỗ trợ kỹ thuật
Điều 5 đến điều 14 của công ước quy định các biện pháp phòng chống tham nhũng bao gồm: Quy ước về chuẩn mực hành xử của cán bộ, viên chức nhà nước; cũng như các biện pháp bảo đảm sự độc lập của ngành Tư pháp, tiêu chí tuyển chọn cán bộ, viên chức và đấu thầu công khai các dự án, công trình; thúc đẩy tính minh bạch và truy cứu trách nhiệm trong việc quản lý tài chính công cộng và khu vực tư nhân; mở rộng sự tham gia của các tầng lớp dân chúng trong xã hội dân sự
1.5.2 Luật Phòng, chống tham nhũng Viê ̣t Nam
Luâ ̣t gồm 8 chương, 92 điều được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 26/2005/L/CTN ngày 09 tháng 12 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006; Luật đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2009, 2012
1.5.3 Luâ ̣t chống tham nhũng Singapore
Luật chống tham nhũng của Singapore (Prevention Corruption Act) ban hành vào ngày 17/6/1960, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 1960 đã được sửa đổi nhiều lần sau đó vào những năm 1972 và 1981, Luật gồm 37 điều, được sắp xếp thành 6 chương:
Luật quy định những vấn đề cơ bản như: Khái niệm tiền tham nhũng, việc bổ nhiệm Chủ tịch
và nhân viên Cơ quan điều tra chống tham nhũng; các hình phạt áp dụng, thẩm quyền của Uỷ viên Công tố trong việc điều tra chống tham nhũng… và các vấn đề khác nhằm đảm bảo cho việc đấu tranh chống tham nhũng được tăng cường hiệu lực, hiệu quả cao hơn
Chương 2
Trang 6LUẬT CHỐNG THAM NHŨNG SINGAPORE
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 2.1 Các quy định chung
Luật chống tham nhũng của Singapore (Prevention Corruption Act) ban hành vào ngày 17/6/1960, Luật chống tham nhũng năm 1960 đã được sửa đổi nhiều lần sau đó vào những năm
1972 và 1981, Luật gồm 37 điều, được sắp xếp thành 6 chương
2.1.1 Khái niệm tiền tham nhũng
Về Luật chống tham nhũng của Singapore đã xây dựng một quy định thống nhất về khái niệm "tiền tham nhũng", tạo một cơ sở pháp lý rõ ràng, tránh những nhầm lẫn, vướng mắc trong việc xác định và xử lý các hành vi tội phạm tham nhũng
2.1.2 Về bổ nhiệm Chủ tịch và nhân viên Cơ quan điều tra chống tham nhũng
Theo quy định của pháp luật chống tham nhũng thì ở Singapore Tổng thống là người bổ nhiệm Chủ tịch Cơ quan điều tra chống tham nhũng Việc bổ nhiệm người nào đó vào chức vụ này, theo luật định hoàn toàn thuộc vào quyền tự quyết định của Tổng thống Tuy nhiên, Tổng thống thường chỉ không bổ nhiệm trong trường hợp người đó không đồng ý với ý kiến, kiến nghị của Chính phủ hay Bộ trưởng về thực thi trách nhiệm, quyền hạn do Chính phủ giao Bên cạnh việc bổ nhiệm Chủ tịch, Tổng thống cũng có thể bổ nhiệm Phó Chủ tịch, các trợ lý của Chủ tịch, các Điều tra viên chuyên ngành của Cơ quan điều tra chống tham nhũng Tổng thống quy định cấp bậc cụ thể đối với trợ lý Chủ tịch và các Điều tra viên chuyên ngành
2.1.3 Về thẩm quyền trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm tham nhũng
Thẩm quyền điều tra: Ngoài việc điều tra những tội theo quy định của Luật chống tham nhũng như đã nêu ở trên, Chủ tịch, Điều tra viên chuyên ngành Cơ quan điều tra chống tham nhũng cũng có thẩm quyền điều tra mà không cần có sự phê chuẩn của Cơ quan công tố đối với một số tội được quy định tại một số điều trong Bộ luật Hình sự
2.1.4 Đối với việc truy tố, xét xử
Trừ những trường hợp theo quy định của pháp luật, không có sự tố cáo nào về tội phạm theo quy định của Luật chống tham nhũng được thừa nhận như chứng cứ vụ án và nhân chứng của vụ án không được phép để lộ tên và địa chỉ của người cung cấp thông tin cũng như các vấn đề khác đã giúp cho việc điều tra khám phá tội phạm Các tài liệu, giấy tờ liên quan là chứng cứ vụ án hay liên quan đến hoạt động kiểm tra, thanh tra theo thủ tục tố tụng hay liên quan đến cuộc điều tra phát hiện, khám phá tội phạm mà có chứa tên hay lời trình bày của nhân chứng, người cung cấp thông tin trong đó thì Toà án trước khi đưa vụ án ra xét xử phải đảm bảo bí mật cho nhân chứng, người cung cấp thông tin đó và khi cần thiết phải có biện pháp bảo vệ nhân chứng, người cung cấp thông tin
Khi xét xử tội phạm tham nhũng, trong trường hợp Toà án thấy có sự cố tình tố cáo sai sự thật hoặc lời tố cáo chỉ tin vào niềm tin nội tâm là có thật của người cung cấp thông tin, hoặc về mặt thủ tục tố tụng thấy không bảo đảm cho công tác xét xử mà không có sự điều tra ban đầu đối với người cung cấp thông tin thì Toà án có thể yêu cầu để nguyên bản tố cáo gốc cho Toà án và cho phép tiến hành điều tra, xác minh thêm hay yêu cầu xuất trình các tài liệu liên quan đến người cung cấp thông tin
Trang 7Khi xét xử tội phạm tham nhũng, trong trường hợp Tòa án thấy có sự thật hoặc lời tố cáo chỉ tin vào niềm tin nội tâm là có thật của người cung cấp thông tin, hoặc về mặt thủ tục tố tụng thấy không bảo đảm cho công tác xét xử mà không có sự điều tra ban đầu đối với người cung cấp thông tin thì Tòa án có thể yêu cầu để nguyên bản tố cáo gốc cho Tòa án và cho phép tiến hành điều tra, xác minh thêm hay yêu cầu xuất trình các tài liệu liên quan đến người cung cấp thông tin
Việc truy tố các tội phạm tham nhũng ra trước Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền để tiến hành xét xử theo quy định của Luật chống tham nhũng chỉ được thực hiện khi có sự phê chuẩn của Uỷ viên Công tố
2.2 Nghiên cứu một số quy định Luật chống tham nhũng khác với Việt Nam
2.2.1 Cơ quan điều tra tham nhũng (CPIB)
Singapore không có Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng như Việt Nam, thay vào đó là một Cơ quan điều tra tham nhũng (CPIB) tách khỏi các cơ quan khác, trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, có quyền độc lập điều tra và ngăn chặn tham nhũng Chính điều này sẽ giúp cho cơ quan không bị chi phối trong hoạt động điều tra Chức năng và nhiệm vụ của CPIB là tiếp nhận và điều tra các tố giác về tham nhũng trong các cơ quan nhà nước và tư nhân (lĩnh vực công và tư nhân); điều tra và làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp trong các tổ chức của Nhà nước; ngăn chặn và phòng ngừa tệ nạn tham nhũng bằng cách điều tra, xem xét quá trình và phương thức hoạt động trong các cơ quan nhà nước nhằm hạn chế đến mức tối đa các điều kiện để tham nhũng nảy sinh CPIB hiện có 75 nhân viên, trong đó có 49 nhân viên điều tra (CPI officers) và 26 nhân viên phục vụ Trong số các nhân viên điều tra, có cả Chủ tịch và 2 Phó chủ tịch CPIB, 5 trợ lý Chủ tịch và 41 nhân viên điều tra chuyên nghiệp được sắp xếp theo các cấp bậc khác nhau Những người không làm nhiệm vụ điều tra gồm có 4 nhân viên tiếp nhận và xử lý thông tin, 22 nhân viên văn phòng
2.2.2 Quy định hình phạt
Thứ nhất, về hình phạt tiền Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của Việt Nam không quy
định các hình phạt khi có hành vi tham nhũng xảy ra Do đó, khi xử phạt hành vi tham nhũng, chúng ta phải dẫn chiếu các quy định trong Bộ luật hình sự Trong Bộ luật hình sự tại Chương XXI mục A quy định về các tội phạm về chức vụ, cụ thể là từ Điều 278 đến Điều 291 Bộ luật hình sự tương ứng với các hành vi được mô tả trong Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2005 của Việt Nam Theo đó, đối chiếu các mức hình phạt quy định từ Điều 278 đến Điều 291 Bộ luật hình sự với Điều 28 Bộ luật hình sự thì mức hình phạt lần lượt từ thấp đến cao là phạt tiền, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore quy định mức hình phạt đối với tội tham nhũng là hình phạt tù và phạt tiền, đơn cử như tại khoản c Điều 6
"bất kỳ người nào cố ý đưa hối lộ cho cá nhân, hoặc cá nhân cố ý nhận hối lộ nhằm cố ý làm sai trái với thủ trưởng của mình về chứng từ, tài khoản và các tài liệu khác mà thủ trưởng của mình đang xem xét giải quyết hoặc báo cáo sai sự thật, sẽ bị coi là tội phạm và chịu hình phạt lên đến 100.000 đô la Singapore hay phạt tù lên đến 5 năm hoặc cả hai"
Mặc dù đều quy định chế tài là phạt tiền nhưng đối với Việt Nam và Singapore cách quy định về mức phạt tiền là hoàn toàn khác nhau
Thứ hai, về hình phạt tù Cả Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore và Bộ luật hình sự của
Việt Nam đều quy định hình phạt tù đối với hành vi tham nhũng Nhưng mức phạt tù quy định
Trang 8trong Bộ luật hình sự của Việt Nam cao hơn so với mức phạt tù quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng của Singapore Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore quy định mức hình phạt tù thấp nhất là 5 năm và cao nhất là 7 năm Còn Bộ luật hình sự Việt Nam quy định mức phạt tù thấp nhất là 1 năm và mức cao nhất là chung thân Song, dù mức phạt tù của Bộ luật hình
sự Việt Nam cao hơn mức phạt tù của Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore, nhưng do chính sách nhân đạo của Đảng và của Nhà nước ta, đến nay chưa một tội phạm nào phải chịu mức hình phạt tù chung thân phải thụ án chung thân, mà đều được tha trước thời hạn
Thứ ba, về hình phạt tử hình Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore không quy định hình phạt đối với các hành vi tham nhũng có mức hình phạt là tử hình, mà chỉ quy định mức hình phạt
là phạt tù và mức phạt tiền, nhưng Bộ luật hình sự Việt Nam thì ngoài quy định mức hình phạt là phạt tiền, phạt tù có thời hạn và phạt tù không thời hạn, còn có quy định mức hình phạt tử hình Có thể thấy, tử hình là mức hình phạt cao nhất trong hệ thống khung hình phạt của nước ta Hiện nay đang có hai luồng ý kiến về việc có nên hay không bỏ án tử hình đối với hai tội danh là tham
ô được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự và tội danh hối lộ được quy định ở Điều 279 Bộ luật hình sự
2.2.3 Cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng
Cần cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng Hiện nay, nhiều nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, tiến hành xem xét cả đơn thư tố cáo nặc danh để phát hiện tham nhũng Trung Quốc cho rằng, hiện nay pháp luật Trung Quốc chưa hoàn thiện, người tố cáo còn bị đe dọa, do đó cho phép người tố cáo được giấu tên và chấp nhận thư nặc danh Trong thực tế, Trung Quốc có khoảng 60% đơn thư tố cáo là thư nặc danh và trong số đó có rất nhiều thông tin chính xác về tham nhũng Theo một tài liệu của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung Quốc thì những năm gần đây, 80% các vụ án lớn ở nước này được xử lý là do nhân dân tố cáo Thái Lan cũng yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả các đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên Singapore cũng xem xét đơn thư tố giác không ghi tên người gửi, thậm chí xem xét cả các cuộc điện thoại gọi tới
2.3 Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Singapore
2.3.1 Đánh giá chung
Singapore được đánh giá là một trong những quốc gia có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất thế giới với hệ thống dịch vụ công trong sạch và hiệu quả Năm 2010, Singapore được Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) xếp hạng là 1 trong 3 quốc gia trong sạch nhất thế giới Để có được thành quả đó, Chính phủ Singapore thực thi nhiều biện pháp cứng rắn, đồng bộ, thường xuyên, liên tục để loại trừ tham nhũng Tham nhũng ở Singapore đã nằm trong vòng kiểm soát của khu vực nhà nước và tư nhân
Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và những thành tựu về mọi mặt mà đất nước Sinhgapo đã đạt được có lẽ không cần phải nhắc lại Các đánh giá dù ở góc độ nào cũng thống nhất ở một điểm chung về tính hiệu quả của quản lý, sự nề nếp và đặc biệt là sự trong sạch, liêm chính của bộ máy nhà nước, công chức nhà nước và ngay cả trong cung cách ứng xử trong các quan hệ xã hội khiến cho Sinhgapo được coi là sạch cả nghĩa đen và nghĩa bóng Vậy thì tại sao, Sinhgapo lại chống tham nhũng có hiệu quả như vậy? Cần phải nhìn nhận thật toàn diện, khách quan về vấn đề này
Trang 9Thứ nhất, phải thấy rằng là một đảo quốc nhỏ bé, cả về diện tích và dân số cho nên về mọi
mặt họ dễ hơn chúng ta rất nhiều Khi đã có một chiến lược đúng đắn thì việc đưa nó vào cuộc sống không phải là vấn đề quá khó khăn Sinhgapo chỉ có một cấp chính quyền cho nên sự thực hiện quyền lực được thực hiện tập trung, không chia sẻ và cũng chẳng khó khăn gì trong việc phân cấp thẩm quyền và xác định trách nhiệm
Thứ hai, bộ máy nhà nước Sinhgapo cực kỳ gọn nhẹ Sinhgapo cũng là một nước chỉ có một
đảng nắm chính quyền cho nên vai trò lãnh đạo của đảng cũng rất lớn đồng thời cũng là một xã hội đề cao dân chủ và vai trò của cơ quan dân cử Nhưng mọi quyền lực được thực hiện hết sức tập trung thông qua Thủ tướng Chính phủ Chỉ Chính phủ mới có bộ máy, quốc hội, đảng không có bộ máy riêng Mọi quyết đáp được thực hiện rất nhanh chóng từ Thủ tướng mà không phải bàn thảo quá nhiều trong quốc hội và qua quá nhiều tầng nấc quyền lực Sự gọn nhẹ về bộ máy cũng đã là thuận lợi đầu tiên cho việc phải làm trong sạch bộ máy đó, tức là giảm đối tượng phải giám sát và loại trừ tham nhũng
Thứ ba, sự thịnh hành lối sống và phong cách phương tây với những điểm tốt đẹp (tính dân
chủ, nền quản trị công khai, hiện đại và minh bạch…) đã được thâm nhập vào đời sống cộng đồng và đời sống công sở Sinhgapo một cách dễ dàng khi tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chính thức của người Sinhgapo Điều đó khiến cho Sinhgapo thoát khỏi những lề thói cũ và hình ảnh rườm rà, lễ nghi phong kiến và sự hiện diện quá nhiều sự của Nhà nước hay sự "bao cấp", vốn là những chỗ tạo cơ hội cho sự lạm dụng quyền lực và hà lạm ngân sách nhà nước
Từ đó có thể thấy rằng điểm nổi bật trong cái mà người Sinhgapo làm được, điều khiến cho hiệu quả của đấu tranh chống tham nhũng của Sinhgapo hay được nhắc đến đó chính là họ đã tạo
nên được một nền văn hoá chống tham nhũng, từ cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước đến hành
vi ứng xử ngày của công chức trong công sở và sự phản ứng với tệ nạn tham nhũng ngay trong nhận thức và hành động của mỗi người dân trên bình diện toàn xã hội
Tóm lại chiến lược chống tham nhũng của Sinhgapo có thể thể hiện bởi tam giác với ba
đỉnh: Giá trị xã hội, tức là xây dựng một nhận thức, một nền văn hoá và phát huy vai trò của xã
hội phản ứng với tệ tham nhũng, khiến cho nó không có lý do tồn tại ngay từ trong suy nghĩ của
mỗi người; quyết tâm chính trị và sự trong sạch liêm khiết của đạo tối cao; và một nền pháp chế
chặt chẽ (trong đó bao gồm việc hiện hữu một cơ quan chuyên trách đủ mạnh) về cả thể chế lẫn
con người thực thi, được rèn luyện bởi đạo đức công vụ, sự liêm chính và sự bảo đảm bởi chế độ
lương bổng
Tất cả những kinh nghiệm nói trên của người Sinhgapo thực ra không phải là điều gì quá mới chúng ta, vấn đề là chúng ta có đủ quyết tâm và can đảm để làm được không khi mà tình trạng tham nhũng hiện nay đã lan tràn, đe doạ sự tồn vong của chế độ và chống tham nhũng chắc chắn sẽ đụng chạm đến lợi ích của không ít người và sẽ gây những sự bất ổn nhất định về mặt kinh tế chính trị cũng như đến những quan niệm có tính chất truyền thống về mặt pháp luật
2.3.2 Những kinh nghiệm cụ thể của Singapore
Qua nghiên cứu luâ ̣t chống tham nhũng Singapore cho thấy những kinh nghiê ̣m như sau :
- Thường xuyên rà soát tăng cường hệ thống pháp luật phòng chống tham nhũng, thúc đẩy công khai đối tượng vi phạm pháp luật
Trang 10- Tăng cường hệ thống luật pháp và chú trọng tăng cường mức độ hình phạt đối với hành vi tham nhũng
- Các biện pháp hành chính phòng ngừa tham nhũng đi đôi với giáo dục
- Xây dựng cơ quan chống tham nhũng trong sạch, hiệu quả
- Luật pháp đủ mạnh
- Xét xử nghiêm minh
- Quản lý hành chính hiệu quả
- Xây dựng giải pháp "4 không với tham nhũng"
Đây là giải pháp tổng hợp các biên pháp nêu trên, là quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Á, Singapore đã thực hiện giải pháp "4 không với tham nhũng" có hiệu quả thực sự
Những giải pháp "4 không với tham nhũng" bao gồm: Không dám tham nhũng - Không thể tham
nhũng - Không cần phải tham nhũng - Không được tham nhũng
2.3.3 Một số kinh nghiệm chống tham nhũng Singapore phù hợp với Việt Nam
Để đạt được thành công như Singapore, trên cơ sở kinh nghiê ̣m phòng , chống tham nhũng thực tiễn của Singapore, Viê ̣t Nam nên sửa đổi một số điều khoản trong Luật Phòng, chống tham nhũng theo hướng:
- Thành lập một đơn vị phòng chống tham nhũng chuyên bi ệt, tự quản và ở mức độ nào đó độc lập Nếu có một đơn vị như vậy và họ được toàn quyền với những vụ án tham nhũng lớn, không có sự can thiệp của một hệ thống các đơn vị nói trên, sẽ không cần một cơ quan điều phối, chỉ đạo
Tội phạm tham nhũng có đặc điểm là bí mật, cố tình che giấu, không dễ lần theo các dấu vết
mà đòi hỏi những kỹ thuật, cách tiếp cận, thẩm quyền đặc biệt, ví dụ kiểm tra báo cáo tài chính Chính vì vậy nếu không có một đơn vị chuyên biệt đủ năng lực và thẩm quyền, việc đối phó với tội phạm sẽ rất khó khăn
Các nước đều có một đơn vị ít nhiều có tính chất như vậy Ở Việt Nam lại có khá nhiều cơ quan tham gia phòng, chống tham nhũng, từ công an, công tố đến Thanh tra Chính phủ, với nhiều nguồn thông tin khác nhau Do vậy có sự phân tán về trách nhiệm và đã dẫn đến sự chồng chéo về thẩm quyền, gây khó cho việc thực thi pháp luật phòng, chống tham nhũng
- Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam chưa đủ sức là một luật phòng, chống tham nhũng đúng nghĩa - một đạo luật mang tính hình sự, với đầy đủ chế tài và điều kiện thực thi Luật của Việt Nam có nhiều điều khoản "phòng", nhưng chưa đủ các điều khoản để "chống" tham nhũng hiệu quả Thậm chí một số hình phạt có trong luật cũng chưa được thực thi vì chưa có vụ án nào trong đó các khâu điều tra, khởi tố tỏ ra đủ mạnh để dẫn đến các hình phạt đó Luật Phòng, chống tham nhũng cần nhất là nêu đầy đủ thế nào là tham nhũng và cách xử lý tham nhũng , viê ̣c thực thi pháp luật phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đang tạo ra những trở ngại khiến những người thực lòng muốn chống tham nhũng nản lòng, thất vọng
Chương 3
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ
XUẤT