BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN VĂN ĐẠI QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THCS HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH THEO HƯỚNG PHỐI HỢP VỚI CÁC T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN ĐẠI
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THCS HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH
NAM ĐỊNH THEO HƯỚNG PHỐI HỢP
VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Hà Nội, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN ĐẠI
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THCS HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH
NAM ĐỊNH THEO HƯỚNG PHỐI HỢP
VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mai Hương
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn:
- Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, Phòng Sau Đại học, các giảng
viên, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện giúp tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
khoa học: TS Nguyễn Mai Hương - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ,
động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào
tạo, Ban giám hiệu, bạn bè đồng nghiệp, các cơ quan Đoàn thể xã hội, Hội
cha mẹ học sinh các trường THCS của huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định đã
nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện
cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn và đóng
góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp
gần xa để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng các số liệu và thông tin đƣợc trích dẫn trong luận văn và các tƣ liệu đƣợc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu 3
4.2 Giới hạn về khách thể khảo sát 3
4.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 5
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 5
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
8 Đóng góp mới của đề tài 6
9 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 8
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ 8
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG THCS THEO HƯỚNG PHỐI HỢP VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Ở nước ngoài 8
1.1.2 Ở trong nước 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10
Trang 61.2.1 Giáo dục, quản lý, quản lý giáo dục 10
1.2.2 Đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức 15
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục ĐĐ phối hợp với các tổ chức xã hội 21
1.3.1 Mục tiêu của giáo dục đạo đức 23
1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức 24
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức 25
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức 26
1.3.5 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức 27
1.3.6 Mối quan hệ giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 28
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội 30
1.4.1 Đặc điểm tâm lí – xã hội của học sinh lứa tuổi THCS 30
1.4.2 Nguyên tắc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội 32
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2 45
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH PHỐI HỢP VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI 45
2.1 Khái quát tình hình KT - XH, GD huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 45 2.1.1 Về KT - XH 45
2.2 Thực trạng hoạt động GDĐĐ ở các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội 48
Trang 72.2.1 Nhận thức của GV và HS về vai trò của việc GDĐĐ cho HS trường
THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội 48
2.2.2 Các biện pháp đã được sử dụng để GDĐĐ học sinh 56
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ ở các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội 69
2.3.1 Tổ chức khảo sát 69
2.3.2 Kết quả khảo sát 71
2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội ở trường THCS huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3 85
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH PHỐI HỢP VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI 85
3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 85
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 85
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 85
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 86
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 86
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 86
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội ở trường THCS huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định 86
3.2.1 Tổ chức truyền thông mạnh mẽ trong công tác phối hợp giáo dục đạo đức học sinh với các TCXH để nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm cho các lực lượng tham gia GDĐĐ học sinh 86
Trang 83.2.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường THCS
phối hợp với các tổ chức xã hội 90
3.2.3 Tổ chức các hình thức bồi dưỡng kĩ năng thiết kế và tổ chức hoạt động GDĐĐ phối hợp với các TCXH cho GV nhà trường và CB các TCXH 92
3.2.4 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh trường THCS phối hợp với các tổ chức xã hội 95
3.2.5 Xây dựng cơ chế quản lý giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường và các tổ chức xã hội để giáo dục đạo đức học sinh 97
3.2.6 Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh công tác giáo dục đạo đức học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội 99
3.3 Khảo nghiệm 102
3.3.1 Tổ chức khảo nghiệm 102
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108
1 Kết luận 108
2 Khuyến nghị 109
2.1 Khuyến nghị với phòng GD&ĐT huyện Nghĩa Hưng 109
2.2 Khuyến nghị với các trường THCS huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 114
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1:Nhận thức của GV về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ 48
Bảng 2.2:Nhận thức về mức độ cần thiết của ĐĐ 49
Bảng 2.3:Những biểu hiện yếu kém về ĐĐ của HS các trường THCS huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định 51
Bảng 2.4: Kết quả xử lí các tình huống đạo đức của HS các trường 53
Bảng 2.5: Các biện pháp được sử dụng phổ biến để GDĐĐ cho HS 56
Bảng 2.6: Biện pháp GDĐĐ HS thông qua các môn học trên lớp 58
Bảng 2.7: Biện pháp GD tình yêu lao động, tính cần cù, sáng tạo cho HS THCS huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định 61
Bảng 2.8: Các biện pháp GD cho HS truyền thống nhân nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay 63
Bảng 2.9: Các biện pháp tổ chức GD cho HS tinh thần hiếu học, 64
Bảng 2.10: Các biện pháp GD HS biết trọng chữ Tín 66
Bảng 2.11: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THCS huyện Nghĩa Hưng từ năm 2010 đến năm 2015 68
Bảng 2.12: Đánh giá tầm quan trọng và mức độ tham gia của các TCXH đối với công tác GDĐĐ HS 72
Bảng 2.13: Quản lý thực hiện chương trình, kế hoạch HĐGDĐĐ 73
Bảng 2.14: Quản lý việc thực hiện nội dung HĐGDĐĐ 76
Bảng 2.15 Quản lý đổi mới phương pháp, hình thức GDĐĐ 77
Bảng 2.16: Quản lý việc kiểm tra đánh giá HS qua HĐGDĐĐ 79
Bảng 3.1: Kết quả xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết 103 Bảng 3.2: Kết quả xin ý kiến chuyên gia về tính khả thi của các biện pháp 104
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 So sánh các biện pháp theo tiêu chí Cần thiết và Khả thi 105
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay được Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội rất quan tâm Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần 2, lần 5 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN lần thứ
IX, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ra ngày 18/4/2005 của Chính phủ, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (gọi tắt là trường trung học) do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2001 đã chỉ ra: Ngành GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên Muốn vậy cần có sự phối kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, trong đó nhà trường phải giữ vai trò chủ động, "Nhà trường phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương, ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân có liên quan nhằm thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục" (mục 1- điều 47)
Trường THCS có nhiệm vụ giáo dục cho những học sinh tuổi từ 11-14 tuổi, tiếp thu tri thức phổ thông và hình thành nhân cách để chuẩn bị bước vào đời Thời gian gần đây, việc thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta cùng với sự bùng nổ về CNTT đã tác động không nhỏ đến học sinh THCS Lứa tuổi học sinh THCS có đặc điểm tâm lí phức tạp, bản thân các em cũng phải vượt qua những khó khăn, khủng hoảng trong phát triển tâm lí ở giai đoạn này Trong khi đó, GV và cha mẹ nhiều khi chưa hiểu hết các em để có cách tiếp cận, GD cho phù hợp
Hiện nay, vào thời kì hội nhập, nhiều học sinh có ý chí vươn lên trong học tập, có hoài bão khát vọng lớn Tuy nhiên, cũng dưới tác động của nền kinh tế thị trường và cơ chế mở cửa, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hành
Trang 13vi lệch chuẩn của thanh, thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng Một số hành
vi vi phạm pháp luật của học sinh khiến gia đình và xã hội lo lắng: vi phạm giao thông, bạo lực học đường, quay cóp gian lận trong thi cử, chơi game , trong gia đình thì trẻ em thiếu kính trên nhường dưới, không vâng lời cha mẹ, người lớn Một số hành vi lệch chuẩn khác về mặt đạo đức: sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ, vô cảm, vị kỷ cũng ngày càng nhiều hơn ở đối tượng còn ngồi trên ghế nhà trường Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo, Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII nhấn mạnh: "Đặc biệt đáng lo ngại là một số bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức,
mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước "
Trong thời gian qua, với sự tăng nhanh về quy mô trường lớp cùng với
sự quan tâm chưa đúng mức đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở một số
bộ phận CB-GV, cha mẹ học sinh, nhà trường, kết quả giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường chưa thực sự đáp ứng được sự kì vọng và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội Vấn đề đặt ra là nhà trường, ngành giáo dục và cả xã hội cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp trong việc giáo dục đạo đức Phải làm gì
và làm thế nào, để ngăn chặn, hạn chế các tệ nạn xã hội xâm nhập vào trường học, đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh trong thời gian tới như thế nào để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý?
Đạo đức (ĐĐ) là nhân tố cốt lõi của mỗi con người Giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THCS nhằm mục đích hình thành nhân cách cho học sinh, cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Đức và tài là hai mặt cơ bản hợp thành trong một
cá nhân Giáo dục đạo đức là một phần quan trọng không thể thiếu trong hoạt
Trang 14động giáo dục Do đó, đề tài "Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học cơ sở huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội" được tôi chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và tìm hiểu thực trạng, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội (TCXH) như (Đội Thiếu niên TP HCM, Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ
HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường ) nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS trong các trường THCS ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THCS huyện Nghĩa Hưng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội (Đội Thiếu niên TP HCM, Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường )
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
- Khảo sát 8 trường THCS huyện Nghĩa Hưng – tỉnh Nam Định trong tổng số 26 trường THCS của huyện
4.2 Giới hạn về khách thể khảo sát
- CBQL nhà trường và CB các TCXH
- GV: 80 giáo viên (trong 8 trường)
- HS: 400 em (trong 8 trường)
Trang 154.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung vào nghiên cứu quản lý ở cấp trường đối với hoạt động QLGDĐĐ học sinh ở các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các TCXH trong và ngoài trường nhằm nâng cao chất lượng QLGDĐĐ học sinh
Các TCXH trong diện khảo sát được giới hạn trong nhóm (Đoàn TNCS HCM, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội khuyến học, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường ) các xã, thị trấn của huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay ở các trường THCS huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định đã thực hiện nhiều biện pháp QL GDĐĐ cho HS và đã thu được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế (mới chỉ dừng lại ở lí thuyết, tuyên truyền là chủ yếu mà chưa biến những biện pháp đó thành những hoạt động mang tính thực tế) Nếu Hiệu trưởng các trường THCS sử dụng những biện pháp QL hoạt động GDĐĐ một cách khoa học, phù hợp, có tính khả thi Nếu các biện pháp quản lí có tác động tích cực đến nhận thức của CBQL, GV nhà trường về vai trò của các TCXH trong giáo dục đạo đức học sinh, xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động phù hợp giữa nhà trường và tổ chức xã hội, đến sự trao đổi thông tin giữa các bên thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THCS theo hướng phối hợp với các TCXH (Đoàn Thanh niên, Hội cha
mẹ học sinh, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường )
6.2 Khảo sát thực trạng quản lý GDĐĐ của các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội
Trang 16(Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường )
6.3 Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp QL GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường )
7 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị nghị quyết, sách báo có nội dung liên quan đến đề tài, để từ đó tìm hiểu các khái niệm và phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề cơ bản làm cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Bảng phiếu hỏi dành cho Ban giám hiệu, một số giáo viên chủ nhiệm, các cán bộ phụ trách tổ chức xã hội trong và ngoài các trường THCS trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, điều tra thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh và công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội (Đội TNTP Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường ) ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Thiết kế các câu hỏi phỏng vấn trực tiếp lực lượng tổ chức và quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường ) ở trường THCS trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
Trang 177.2.3 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát công tác chuẩn bị, tổ chức và quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phối hợp vơi các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường ) ở trường THCS trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
7.3.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến kinh nghiệm quản lí của các chuyên gia giáo dục, các cán bộ quản lí nhà trường và giáo viên có kinh nghiệm về việc quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh phối hợp với các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường )
7.3.5 Phương pháp thống kê
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả một cách chính xác, từ đó rút ra những nhận định, kết luận
8 Đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá được thực trạng về lí luận, về thực tiễn các biện pháp QL GDĐĐ của HT các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội cha mẹ HS, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Các doanh nghiệp ngoài nhà trường )
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường
THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội
Trang 18Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của
các trường THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định phối hợp với các tổ chức xã hội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức HS các trường
THCS huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG THCS THEO
HƯỚNG PHỐI HỢP VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Đạo đức (ĐĐ) là một hình thái ý thức XH, xuất hiện từ buổi bình minh
của lịch sử XH loài người Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở chế độ
KTXH nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là ĐĐ mới – ĐĐ cộng
sản mà XH ta đang xây dựng
Với vai trò là động lực tinh thần to lớn của ĐĐ đối với sự phát triển,
tiến bộ XH được các quốc gia hiện nay thừa nhận và quan tâm sâu sắc Mặc
dù XH ngày càng phát triển, nội dung GD trong nhà trường cũng đa dạng và
phong phú nhưng việc GDĐĐ cho HS thì bất kì một quốc gia nào, hay dưới
một chế độ nào cũng đều được quan tâm và đưa lên hàng đầu
1.1.1 Ở nước ngoài
Từ trước đến nay trong mọi thời đại, vấn đề GDĐĐ cho con người,
thanh niên, HS luôn được coi trọng và được xác định là vấn đề hàng đầu
Quay ngược dòng lịch sử, ngay từ thời xa xưa, vấn đề GDĐĐ đã được
nhiều nhà hiền triết quan tâm, chẳng hạn:
- Khổng Tử (551 – 479 TCN) - nhà GD lớn nhất Trung Hoa phong kiến
trong tác phẩm của mình là “Dịch, Thi, Thư, Lễ nhạc, Xuân Thu” cũng đã rất
coi trọng lĩnh vực GDĐĐ
- Từ thời cổ đại, Arixtot (384 – 322 TCN) cũng khẳng định rằng: phải
GD con người ta về ĐĐ, phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý
trí, giảng dạy TDTT để phát triển thể lực Con người được hợp thành ba bộ
phận: Xương thịt, ý chí và lý trí Tương ứng với ba bộ phận đó nên nhà
trường phải thực hiện đức dục, trí dục và thể dục [29-tr10]
Trang 20- Khác với tất cả các quan niệm trước đó, Các Mác đã quan niệm ĐĐ
nảy sinh do nhu cầu của đời sống XH, là kết quả của sự phát triển lịch sử ĐĐ
không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài XH, bên
ngoài các quan hệ con người, cũng không phải là sự biểu hiện của những năng
lực “siêu nhiên” nhất thành bất biến của con người Với tư cách là sự phản
ánh tồn tại XH, ĐĐ là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất XH,
của cơ sở kinh tế XH Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách
quan và yếu tố chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức
của con người Đạo đức cũng như ý thức “đã là sản phẩm XH và vẫn như vậy
chừng nào con người còn tồn tại.” [5-tr21]
1.1.2 Ở trong nước
Giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện ĐĐ, lối sống cho con người, đặc biệt là
tuổi trẻ luôn là vấn đề quan trọng được đề cập trong những kì Đại hội của
Đảng, Nhà nước, trong các văn kiện Đại hội, và trở thành vấn đề cấp thiết, là
xứ mệnh lịch sử mà XH giao cho nhà trường Vấn đề này được quán triệt qua
một số văn bản sau:
- Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nền GD Việt
Nam với mục đích GD, đào tạo con người phát triển toàn diện, đặc biệt gắn
với hai mặt Đức và Tài, khi lấy Đức làm gốc như quan điểm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã quán triệt trong sự nghiệp đào tạo người công dân chân chính
nói chung, thế hệ trẻ nói riêng: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời
rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng
cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”
[9-tr293] Hay: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng Có đức mà không
có tài thì làm việc gì cũng khó”
- Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức
(ĐĐ) và giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho HS Về mặt lí luận cũng như thực
Trang 21tiễn, nghiên cứu về ĐĐ, GDĐĐ trong nhà trường đã được nhiều người quan tâm Nhiều đề tài của các nhà GD đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này như: Hà Thế Ngữ, Đức Minh, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Khắc Chương, trong đó đề cập đến việc tổ chức, phối hợp đưa ra một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS
- Một trong những công trình tiêu biểu về vấn đề này là của tác giả
Phạm Minh Hạc: “Về phát triển toàn diện con người thời kì CNH- HĐH”,
(NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội 2010) Công trình nghiên cứu này đã nêu lên các định hướng về giá trị ĐĐ con người Việt Nam trong thời kì CNH – HĐH Từ sự phân tích khoa học thực trạng ĐĐ của HS, tác giả đã nêu lên
những giải pháp về GDĐĐ cho HS như sau: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong nhà trường; củng cố ý tưởng GD ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giữa GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân trước hết là cán bộ, đảng viên, cho thầy trò các trường học Xây dựng cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn XH về GDĐĐ; nâng cao nhận thức cho mọi người”
Các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông như Lưu Thành Công [7] trường PT ở tỉnh Vĩnh Long, Phạm Ngọc Hà [15] trường PT huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình
Các nghiên cứu về sự phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức xã hội trong hoạt động giáo dục như Nguyễn Thị Chiến [8] Nguyễn Thị Cảnh Dương [9] Phạm Đình Nhuế [30] Nguyễn Hữu Tân [34]
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo dục, quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1 Giáo dục
Trang 22Trước hết GD là hoạt động hay quá trình được tổ chức một cách có hệ thống có mục đích với nội dung, phương pháp, phương tiện nhằm tác động đến sự phát triển tinh thần, thể chất của nhóm đối tượng nào đó, làm cho họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra
GD theo nghĩa hẹp là một trong hai quá trình bộ phận tạo nên quá trình
sư phạm tổng thể Theo cách hiểu này thì hoạt động GD tác động trực tiếp đến
hệ thống giá trị, tư tưởng, tình cảm, đạo đức của đối tượng GD
Như vậy, có thể hiểu: GD là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống XH
1.2.1.2 Quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình
“quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống vào trạng thái “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo “quản” thì tổ chức sẽ trì trệ, và nếu chỉ quan tâm vào việc “lý” thì việc phát triển của tổ chức sẽ không bền vững Trong
“quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để trạng thái của hệ luôn ở thế cân bằng động Hệ vận động phù hợp, thích ứng có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài ngoại lực Thuật ngữ “quản lý” cũng có thể quan niệm như một số người hiện nay
là hoạt động nhằm cho hệ thống vận động theo mục đích đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới
Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm QL theo những cách tiếp cận hoạt động ở các góc độ khác nhau:
Trang 23- Quản lí là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lí lên đối tượng quản lí về các mặt chính trị, văn hóa, KT, XH, bằng một hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải
pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
- Tất cả mọi người lao động XH trực tiếp hay lao động chung nào đều
tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ
sự vận động độc lập của nó: “Một người độc tấu thì tự điều khiển lấy mình,
còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [18]
Để lựa chọn cho phù hợp, cần xem xét một số vấn đề dưới đây:
Có người cho, QL là các hoạt động thực hiện để nhằm đảm bảo sự hoàn
thành công việc qua những sự nỗ lực của người khác
Có tác giả lại cho rằng, QL là hoạt động phối hợp có hiệu quả hoạt
động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức
Cũng có tác giả cho rằng, QL là hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm
Theo quan điểm của tác giả Đỗ Hoàng Toàn thì QL được hiểu như sau:
“QL là sự tác động có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt
được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.”.[33]
Theo định nghĩa trên thì QL bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đã đặt ra cho các đối tượng và chủ
thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể phải thực hiện việc tác động Chủ thể có thể là một người,
nhiều người, còn đối tượng có thể là con người (có thể một hoặc nhiều người)
hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, hầm mỏ, ) hoặc giới sinh vật
(vật nuôi, cây trồng, )
Trang 24Nhóm tác giả là chuyên gia về khoa học QL thuộc Trung tâm nghiên
cứu khoa học tổ chức QL nhà nước cũng đã đưa ra khái niệm về QL như sau:
“QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể
QL nhằm đạt mục tiêu chung.” [28]
Một cách tổng quát, chúng tôi xem: QL là một quá trình tác động có tổ
chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt dược
mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Như vậy, bản chất của QL là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu cơ bản về QL
QL có 4 chức năng cơ bản:
- Chức năng kế hoạch hóa: là soạn thảo và thông qua được những
quyết định về chủ trương QL quan trọng Trên cơ sở những yêu cầu cơ bản
kết hợp với thực tiễn của cơ sở để đưa ra những phương hướng, kế hoạch cho
sát hợp và có tính khả thi cao
- Chức năng tổ chức: là thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách
xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng QL, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ
chức, tuyển chọn, sắp xếp bồi dưỡng CB, làm cho mục tiêu trở nên có ý
nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức
- Chức năng chỉ đạo: là chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp
các lực lượng tích cực, hăng hái, chủ động theo sự phân công và kế hoạch
đã định
- Chức năng kiểm tra – đánh giá: là chức năng liên quan đến mọi cấp
QL để đánh giá kết quả của hệ thống Nó thực hiện việc xem xét tình hình
thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có cơ sở đánh giá đúng đắn
1.2.1.3 Quản lý giáo dục
Trang 25Xét về mặt lịch sử khoa học thì khoa học QLGD ra đời sau khoa học
QLKT Cho nên, trong các nước TBCN người ta thường vận dụng QL xí
nghiệp vào QLGD (trường học) và cơ sở QLGD như QL một loại xí nghiệp
đặc biệt
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt
động điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm thúc đẩy mảng công tác
đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH.” [5]
QLGD là một bộ phận quan trọng của hệ thống QLXH, nó đã xuất hiện
từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ XH Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các
nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm QLGD như sau:
Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra khái niệm QLGD như sau: “QLGD
là QL trường học, thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách
nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến
tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với
học sinh.” [16]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho
hệ vận hành đường lối, nguyên lý GD của Đảng, thực hiện các tính chất của
nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – GD
thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về vật
chất.” [22-tr22]
Theo tác giả Trần Kiểm: "QLGD được hiểu là hệ thống những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của
chủ thể quản lí đến tập thể GV, công nhân viên, cha mẹ học sinh và các lực
lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu GD của nhà trường" [27]
Trang 26Khi xem xét về bản chất của QLGD, theo tác giả Đặng Thành Hưng:
"QLGD là dạng quản lý dành cho một lĩnh vực xã hội cụ thể là giáo dục Bản chất của QLGD cũng là quản lý chứ không có gì khác Nhưng cái khác ở đây
là mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nguồn lực, công cụ và môi trường và chỉ khác khi so sánh với quản lý lĩnh vực khác" [19]
Như vậy, QLGD có thể được định nghĩa như sau: QL giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức
1.2.2.1 Đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là tập hợp những nguyên tắc quy tắc, chuẩn mực XH, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với XH, chúng được thể hiện bởi niềm tin
cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận XH
- Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức XH có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng XH
Nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại XH Vì vậy, tồn tại XH thay đổi thì ý thức XH (ĐĐ) cũng thay đổi theo và như vậy ĐĐXH luôn mang tính lịch
sử, tính giai cấp và tính dân tộc” [38]
- Theo Phạm Minh Hạc thì: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và ĐĐ bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người, với công việc
và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống” [17]
Theo nghĩa rộng, khái niệm ĐĐ liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, đời sống ĐĐ là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ
Trang 27mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hoá ĐĐ được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả các mâu thuẫn
- Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với
xã hội ĐĐ là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn
ĐĐ của một giai cấp nhất định”
- Tác giả Phạm Khắc Chương quan niệm: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội" [11]
Như vậy, ta thấy có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐĐ Tuy nhiên, ta
có thể hiểu khái niệm này dưới hai bình diện:
Theo bình diện XH: ĐĐ phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu
cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối những hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình
Theo bình diện cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của
con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng
xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với XH, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện KT - XH Nó mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Có những giá trị ĐĐ của ngày hôm qua song đến hôm nay có thể bị coi là phi
ĐĐ, hoặc ở dân tộc này, ở giai tầng này được coi là giá trị ĐĐ thiêng liêng song ở dân tộc khác, ở giai tầng khác lại không được thừa nhận hoặc chỉ được
Trang 28coi là vấn đề bình thường Theo thời gian, khái niệm ĐĐ ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn
Ở Việt Nam, các giá trị ĐĐ trong XH của chúng ta hiện nay thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc ĐĐ có ý nghĩa chỉ đạo trong công tác GD và tự GD của con người hiện nay
Tóm lại: ĐĐ là hình thái ý thức XH, là tập hợp những nguyên tắc,
chuẩn mực XH; nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích XH, vì hạnh phúc của con người trong mối quan hệ với nhau và với XH Chúng được thể hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận XH Xét đến cùng, ĐĐ thuộc về ý thức con người, nó được biểu hiện
ở nhận thức, động cơ hành động và sự đánh giá, nhờ đó mỗi cá nhân tự kiểm soát, tự quyết định hành động và ứng xử trong cuộc sống
ĐĐ bao gồm 3 chức năng sau:
Thứ nhất, chức năng nhận thức: Sự nhận thức của ĐĐ có đặc điểm:
Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức, ý thức ĐĐ cho chủ thể Các cá nhân nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ xã hội đã nhận thức mà tạo thành ĐĐ cá nhân Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực ĐĐ, lí tưởng Giá trị ĐĐXH trở thành cơ sở
để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ
Hành động ĐĐ tiếp liền sau nhận thức giá trị ĐĐ, đa số trường hợp, quá trình đó có sự hoà quyện ý thức ĐĐ với hành động ĐĐ
Nhận thức của ĐĐ là quá trình vừa hướng ngoại vừa hướng nội: Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống ĐĐ của XH làm đối tượng
Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống,… những cách thức và phương tiện tạo ra các giá trị ĐĐ Nhờ sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hoá được những
Trang 29chuẩn mực ĐĐ của XH như là cái chung thành ý thức ĐĐ của cá nhân như là cái riêng Nhận thức hướng nội lấy bản thân mình - chủ thể ĐĐ làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu nhận thức, hành vi ĐĐ của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành, phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: Sáng tạo hay thụ động, hy sinh hay thụ hưởng, vị tha hay vị
kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận XH
và lương tâm là rất lớn Dư luận XH là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự tự phê bình Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị ĐĐ của mình - giá trị mà xã hội mong muốn
Nhận thức ĐĐ có hai trình độ: Trình độ thông thường và trình độ lý luận Nhận thức ĐĐ ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giá trị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu ĐĐ thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của XH Mọi cá nhân đều
có thể và cần phải phản ánh ĐĐ ở trình độ này Nhận thức ĐĐ ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc, được chỉ đạo bởi những giá trị
ĐĐ có tính phổ quát Trình độ này đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển
ĐĐ và tiến bộ XH Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các giai cấp cầm quyền
Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ cho chủ thể Các cá nhân, nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ xã hội đã nhận thức mà tạo thành nhận thức
cá nhân Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá trị ĐĐ xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ
Thứ hai, chức năng GD: Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều
hệ thống ĐĐ khác nhau luôn tác động đến các cá nhân Môi trường ĐĐ tác động đến cá nhân bằng nhận thức ĐĐ và thực tiễn ĐĐ Nhận thức ĐĐ để chuyển hoá ĐĐ xã hội thành ĐĐ cá nhân Thực tiễn ĐĐ là hiện thực hoá nội
Trang 30dung GD bằng hành vi ĐĐ Các hành vi ĐĐ lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cho cả ĐĐ cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển trở thành thói quen, truyền thống, tập quán ĐĐ Hiệu quả GDĐĐ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức GD, mức độ tự giác của chủ thể
và đối tượng GD trong quá trình GD… Như vậy, chức năng GD của ĐĐ cần được hiểu một mặt là “GD lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác là sự “tự giáo dục” ở cả cấp độ cá
nhân lẫn cấp độ cộng đồng
Thứ ba, chức năng điều chỉnh hành vi:
Chức năng điều chỉnh hành vi của ĐĐ bằng dư luận XH và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa Hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng
để phân biệt ĐĐ với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của ĐĐ
Mục đích điều chỉnh của ĐĐ nhằm bảo tồn sự tồn tại và phát triển XH bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân
Đối tượng điều chỉnh của ĐĐ là hành vi cá nhân, qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng
Cách thức điều chỉnh của ĐĐ được biểu hiện qua sự lựa chọn giá trị
ĐĐ Xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng ĐĐ Xác định phương án cho hành vi bởi chuẩn mực ĐĐ Tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin lý tưởng, tình cảm ĐĐ, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận XH Hình thức chủ yếu là XH và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ cái ác, bản thân chủ thể ĐĐ tự giác điều chỉnh hành vi trên
cơ sở những chuẩn mực ĐĐ XH
1.2.2.2 Giáo dục đạo đức
GDĐĐ là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, chuẩn mực ĐĐ cơ bản của XH Nhờ đó, con người có
Trang 31khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng ĐĐ XH cũng như tự đánh giá, suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế, công tác GDĐĐ góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách phù hợp với từng giai đoạn phát triển GDĐĐ là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin ĐĐ, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi ĐĐ [26-tr85]
Vì ĐĐ là sự phản ánh trình độ văn hóa mới của con người cho nên GD
giá trị ĐĐ nhân văn là một nhiệm vụ quan trọng: „„GD hệ thống giá trị ĐĐ nhân văn là một quá trình tổ chức hoạt động của GD bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp giúp mọi người hiểu biết hệ thống giá trị chuẩn mực ĐĐ nhân văn theo yêu cầu của sự phát triển XH và giúp cho mọi người tự giác có nhu cầu thực hiện những chuẩn mực đó Hệ thống giá trị đó định hướng, điều chỉnh hành vi của con người.” [25-tr52]
GDĐĐ là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, chuẩn mực ĐĐ cơ bản của XH Nhờ đó con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng ĐĐ XH cũng như tự đánh giá, suy nghĩ về hành vi của bản thân mình
GDĐĐ cho HS là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin ĐĐ, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi ĐĐ
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của người học để trang bị cho học sinh tri thức - ý thức đạo đức, niềm tin và tình cảm đạo đức và quan trọng nhất là hình thành ở các em hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội
Quá trình GDĐĐ chịu tác động của rất nhiều nhân tố khách quan, chủ quan, bên trong và bên ngoài Do đó, GDĐĐ chỉ đạt hiệu quả khi nhà sư
Trang 32phạm biết tổ chức và đưa ra các biện pháp tổ chức các hoạt động GD một cách có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu GD
1.2.2.3 Quản lý giáo dục đạo đức
Trong nhà trường, hoạt động QL bao gồm nhiều nội dung, trong đó QL hoạt động GDĐĐ cho HS là một nội dung quan trọng QL GDĐĐ cho HS là quá trình tác động của chủ thể QL tới các đối tượng QL và các nguồn lực phục vụ cho nhiệm vụ GDĐĐ HS để công tác này đạt được hiệu quả và mục tiêu đề ra
Đó là quá trình chủ thể QL xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, vạch
ra những phương hướng, tìm biện pháp, huy động các nguồn lực, triển khai thực hiện, đôn đốc, giám sát điều chỉnh và đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời nhằm thực hiện các mục tiêu, đáp ứng được yêu cầu của XH về chất lượng GDĐĐ HS
QLGDĐĐ cho HS là một lĩnh vực QL rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người QL phải có năng lực QL vững vàng, toàn diện, khả năng vận dụng các biện pháp QL linh hoạt và phải luôn là tấm gương sáng về ĐĐ nhà giáo trước CBGV và HS
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục ĐĐ phối hợp với các tổ chức xã hội
1.2.3.1 Tổ chức xã hội:
Tổ chức xã hội là những bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nhà nước, được hình thành trên các nguyên tắc tự nguyện, tự quản của người lao động, được tổ chức và hoạt động theo các quy định của nhà nước, nhân danh
tổ chức mình khi tham gia vào quản lí nhà nước, quản lí xã hội nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên
Hoạt động quản lí nhà nước được tiến hành không chỉ bởi các cơ quan nhà nước mà còn được điều hành bởi các tổ chức xã hội và cá nhân Là một
Trang 33bộ phận của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Các tổ chức xã hội rất đa dạng về hình thức, tên gọi, chủng loại như:: Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Công đoàn, Hội nhà văn, Hội nhà báo, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ
1.2.3.2 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phối hợp với các tổ chức
xã hội
Trong đời sống, các tổ chức xã hội là chỗ dựa của nhà nước nhằm tuyên truyền, giáo dục quần chúng thực hiện các nhiệm vụ quản lí Các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung như sau: Là hình thức tổ chức tự nguyện của người lao động vì những mục đích nhất định; Là tập hợp những thành viên có cùng một dấu hiệu, đặc điểm Họ liên kết lại với nhau để tìm tiếng nói chung và bảo vệ những lợi ích chính đáng của họ Mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức xã hội là môi quan hệ bình đẳng chứ không phải
là nguyên tắc "quyền lực, phục tùng" như trong các cơ quan nhà nước
Tổ chức xã hội trong trường THCS như Đội TNTP HCM, Đoàn TNCS HCM, Hội cha mẹ HS, Công đoàn GD, có khả năng phối hợp GDĐĐ với nhà trường TCXH ngoài trường có khả năng phối hợp GDĐĐ với nhà trường là Đoàn TNCS HCM, Hội cha mẹ HS, Hội khuyến học, Hội cựu chiến binh, Hội Phụ nữ Việt Nam
Quản lý HĐ GDĐĐ cho học sinh THCS phối hợp với các tổ chức xã hội là hệ thống những tác động có kế hoạch, có hướng đích của nhà trường đến tất cả các khâu, các bộ phận của nhà trường sử dụng tối ưu các tiềm năng, các cơ hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu GDĐĐ cho học sinh
1.3 Một số lí luận về hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THCS theo hướng phối hợp với các tổ chức xã hội
Trang 34GDĐĐ ở trường THCS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến HS nhằm giúp cho nhân cách mỗi HS được phát triển đúng đắn, các em
có hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: cá nhân với xã hội, cá nhân với lao động, với mọi người xung quanh và với cả chính mình
GDĐĐ trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình GD tổng thể, có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác như GD trí tuệ, GD thẩm mỹ, GD thể chất, GD lao động kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy nghề, GD tư tưởng chính trị và pháp luật giúp HS hình thành và phát triển nhân cách toàn diện GDĐĐ cho HS là GD lòng trung thành với Đảng, hiếu với dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân ái, cần cù
1.3.1 Mục tiêu của giáo dục đạo đức
Mục tiêu của GDĐĐ là giúp mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị
ĐĐ, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và phồn vinh của đất nước Trong đó, mục đích quan trọng nhất của GDĐĐ là tạo lập những thói quen, hành vi ĐĐ Mục
tiêu trên đã được thể hiện trong Điều 2 Luật giáo dục: "Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có ĐĐ, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [28]
Trang 35CNH - HĐH đất nước; nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có quan điểm rõ ràng về lối sống thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới
- Về thái độ tình cảm: Có thái độ tình cảm ĐĐ đúng đắn, trong sáng trong các mối quan hệ xã hội Có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với thế
hệ cha anh đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc Có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng ĐĐ chính trị trong XH
- Về kỹ năng và hành vi: Tích cực học tập và rèn luyện trong lao động, hoạt động tập thể, hoạt động trong xã hội; có thói quen thường xuyên rèn luyện hành vi ĐĐ, trong ứng xử, trong hoạt động; tự giác thực hiện những chuẩn mực ĐĐ, luật pháp, văn hoá; có thói quen chấp hành pháp luật; biết sống lành mạnh, trong sáng, thể hiện được tư cách của người HS; tích cực đấu tranh với những biểu hiện của lối sống sa đọa, đồi trụy, chỉ biết hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, theo chủ nghĩa thực dụng, thờ ơ với các vấn đề của cuộc sống, không nghĩ đến sự hy sinh, mất mát của thế hệ cha anh; thường xuyên tích cực rèn luyện trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, hoạt động xã hội để chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp
1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức
Bao gồm các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- GD hành vi thói quen ĐĐ: Là GD cho người học có được những hành
vi ĐĐ trở thành nề nếp thường ngày trong học tập, lao động, trong sinh hoạt
và trong cuộc sống nhằm có thói quen ĐĐ bền vững, hành vi đúng đắn
- GD tình cảm ĐĐ: Là khơi dậy ở người học những rung động, những xúc cảm đối với hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng và có tình cảm, thái độ đúng đắn đối với cuộc sống
Trang 36- GD ý thức ĐĐ: Cung cấp cho người học những tri thức cơ bản về các phẩm chất ĐĐ và các chuẩn mực ĐĐ trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin ĐĐ
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức
Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã cụ thể hoá nội dung GDĐĐ là: “Xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới, phù hợp với truyền thống, bản sắc của dân tộc và yêu cầu của thời đại” bao gồm:
- “Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh cần kiệm trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ cương, phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo
vệ, cải thiện môi trường sinh thái
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình
độ thẩm mỹ và thể lực”
Theo Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực ĐĐ của con người Việt Nam thời
kì CNH - HĐH có thể xác định tương đối thành 4 nhóm phản ánh các quan hệ chính mà con người phải giải quyết:
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như: Có lí tưởng XHCN, yêu quê hương đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và nhà nước
Trang 37- Nhóm chuẩn mực ĐĐ hướng vào sự hoàn thiện bản thân: tự trọng, tự tin,
tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, biết kiềm chế, biết hối hận
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc khác: Nhân nghĩa, hiếu thảo, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọi người, thuỷ chung, giữ chữ tín
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ liên quan đến xây dựng môi trường sống như: Xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng, có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người, đến môi trường, bảo vệ hoà bình, phát huy, giữ gìn truyền thống và di sản văn hoá của dân tộc và của nhân loại
Từ những phân tích trên, ta có thể tổng hợp nội dung GDĐĐ là tăng cường GD thế giới quan khoa học, GD tư tưởng cách mạng XHCN cho HS Nâng cao lòng yêu nước XHCN, ý thức về thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước, ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ công dân thể hiện trong cuộc sống, học tập, lao động và hoạt động chính trị xã hội, GD kỉ luật và pháp luật, giáo dục lòng yêu thương con người và hành vi ứng xử có văn hoá
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức
Phương pháp GDĐĐ là cách thức tác động của nhà GD lên đối tượng
GD để hình thành cho đối tượng GD những chuẩn mực cần thiết, phù hợp với
nền ĐĐ xã hội Người ta chia các phương pháp GDĐĐ thành 3 nhóm chính:
- Nhóm phương pháp thuyết phục: Là nhóm phương pháp tác động vào
mặt nhận thức và tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp với cuộc sống Nhóm này bao gồm: Khuyên giải, tranh luận, nêu gương
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: GDĐĐ không có gì hiệu quả
hơn là đưa con người vào hoạt động thực tiễn, tập dượt, rèn luyện tạo nên những hành vi và thói quen ĐĐ
Trang 38- Nhóm các phương pháp kích thích hành vi: Đây là nhóm phương
pháp tác động vào mặt tình cảm của đối tượng GD nhằm tạo ra phẩm chất, thúc đẩy, tích cực hoạt động; đồng thời giúp cho đối tượng nhận ra và khắc phục, sửa chữa những sai lầm Nhóm này gồm các phương pháp: khen thưởng, trách phạt, thi đua
Với lứa tuổi HS bậc THCS, vì nhận thức của các em chưa đầy đủ, chưa toàn diện; các em đang ở thời kì hình thành và phát triển nhân cách, muốn tìm hiểu, khám phá, thích được thể hiện bản thân nên việc áp dụng các phương pháp trên nếu được vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với từng tình huống
cụ thể sẽ đạt hiệu quả GD rất cao
Muốn các phương pháp GDĐĐ được sử dụng có hiệu quả cần quan tâm đến cơ chế hình thành giá trị, niềm tin ĐĐ tức là HS phải được đặt vào các tình huống cụ thể để các em lựa chọn và trải nghiệm, nhờ đó các em mới thực
sự nhận thức rõ và tin vào những giá trị có ý nghĩa đối với bản thân Niềm tin
đó sẽ định hướng động cơ và hành vi ĐĐ của các em Nếu tổ chức GDĐĐ chỉ dựa trên sự áp đặt các giá trị, chuẩn mực ĐĐ buộc các em phải chấp nhận và làm theo thì sẽ không tạo ra niềm tin ĐĐ– nền móng của các hành vi ĐĐ GDĐĐ hiện nay gặp khó khăn nhất trong việc thay đổi những hành vi tiêu cực, thói quen xấu của HS Để thay đổi hành vi, thói quen không thể chỉ dùng các phương pháp làm thay đổi nhận thức mà cần sử dụng các phương pháp tiếp cận làm thay đổi hành vi - đó là cách tiếp cận kĩ năng sống
1.3.5 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức
Giờ học: Thông qua các bộ môn khoa học, đặc biệt là các môn học Giáo dục công dân nhằm giúp các em có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực đời sống xã hội, về tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCN
Trang 39Việt Nam, về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân
Hoạt động GDNGLL: Hoạt động GDNGLL có nhiều hình thức tổ chức
đa dạng như: Thi làm báo tường; Thi kể chuyện; Trò chơi; Tham quan, dã ngoại, tìm hiểu pháp luật, hoạt động nhân đạo với nhiều chủ đề gần gũi, cần thiết có tính thời sự với học sinh THCS như chủ đề Biển đảo Tổ quốc Việt Nam; An toàn giao thông; Phòng chống tệ nạn xã hội; Bảo vệ môi trường Hoạt động NGLL giúp học sinh chủ động trong học tập, rèn luyện cho các em tính mạnh dạn trong quá trình giao tiếp, định hướng cho các em tự giác những hành vi và thói quen đạo đức, bước đầu hiểu biết về pháp luật
Hoạt động NGLL là cơ hội để nhà trường huy động, phối hợp với các TCXH trong và ngoài nhà trường tham gia tổ chức khi các nội dung giáo dục đạo đức đã vượt ra ngoài các trang sách giáo khoa Sự tham gia, phối hợp với các tổ chức xã hội trong các hoạt động GDĐĐ giúp cho các em có định hướng đúng đắn, có suy nghĩ hành động không lệch lạc, có các trải nghiệm xã hội đa dạng, biết học hỏi và kế thừa khinh nghiệm từ các thế hệ đi trước
Các hoạt động này được tổ chức bởi các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các tổ chức XH, các câu lạc bộ Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc GDĐĐ cho học sinh
1.3.6 Mối quan hệ giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS
Trong trường THCS, bộ máy quản lý trường học được xác định như sau: "Chi bộ Đảng trong trường học trực tiếp lãnh đạo nhà trường theo quy định của Đảng Công đoàn là đoàn thể chính trị của CB-GV trong nhà trường, được tổ chức và hoạt động ở cơ sở trường học theo luật công đoàn Đội TNTP
Hồ Chí Minh được tổ chức và hoạt động trong trường học theo điều lệ của Đội TNTP HCM " [2]
Trang 40Vậy quan hệ giữa Hiệu trưởng với chi bộ Đảng là quan hệ thừa hành, Hiệu trưởng là thủ trưởng đơn vị nhưng chịu sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở; Hiệu trưởng phối hợp với công đoàn nhà trường, Đội TNTP HCM nhà trường để thực hiện "Dạy tôt - Học tốt", giáo dục đạo đức học sinh
Nếu mối quan hệ giữa Hiệu trưởng với Hội đồng GDĐĐ học sinh, các CB-GV, các GVCN, với học sinh là mối quan hệ chỉ huy điều hành, trong
đó Hiệu trưởng là người chỉ huy điều hành cao nhất thì quan hệ Hiệu trưởng với các tổ chức XH là quan hệ tham mưu tư vấn, tác động, cung cấp thông tin cho nhau để giúp hai phía thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ, chức trách của mình trong việc giáo dục ĐĐ học sinh
Trong công tác GDĐĐ cho HS giữa Hiệu trưởng với các tổ chức XH trong nhà trường có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ phối hợp, tác động, tham mưu, tư vấn, cung cấp thông tin cho nhau để cùng nhau làm tốt công việc GDĐĐ HS
Đa số Hiệu trưởng các trường THCS đồng thời là Bí thư chi bộ Đảng,
vì vậy mối quan hệ giữa Hiệu trưởng với các tổ chức đoàn thể trog nhà trường cũng là mối quan hệ giữa Bí thư chị bộ với các tổ chức đoàn thể Với quan điểm Đảng lãnh đạo toàn diện, Bí thư chi bộ hoàn toàn có thể chỉ đạo các tổ chức XH trong nhà trường về mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực GDĐĐ cho học sinh, đây là điều hết sức thuận lợi Hiệu trưởng sẽ lên kế hoạch và giao cho các tổ chức triển khai Hiệu trưởng cũng tư vấn tác động, chỉ đạo tổ chức Đảng, Công đoàn, Đội TNTP HCM trong công tác GDĐĐ cho học sinh thông qua các buổi sinh hoạt tập thể, thông qua các giờ lên lớp của giáo viên
bộ môn, qua công việc của GVCN, các giờ sinh hoạt lớp
Mối quan hệ giữa Hiệu trưởng và các tổ chức XH khác ngoài nhà trường cũng hết sức quan trọng Hiệu trưởng hoàn toàn có thể vận động và phối hợp với các tổ chức XH ngoài trường trong công tác GDĐĐ cho học