LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của riên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PGS - TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Khánh Hòa” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác cho tới thời điểm này
Tác giả luận văn
Đỗ Vũ Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, các quý thầy cô và bạn bè học viên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Quách Thị Khánh Ngọc đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này đến:
- TS Quách Thị Khánh Ngọc người hướng dẫn khoa học – đã dành nhiều thời gian quý báu để chỉ dẫn về đề tài và định hướng phương pháp nghiên cứu trong thời gian tôi tiến hành thực hiện luận văn
- Thầy cô Khoa Sau Đại Học đã giúp đỡ tôi trong liên hệ công tác
- Thầy cô Khoa Kinh Tế đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
- Anh, Chị, Đồng nghiệp trong Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong việc thu thập thông tin điều tra và trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
- Anh, Chị, Bạn bè trong lớp Cao học Kinh tế 2013 đã giúp đỡ tôi trong học tập
và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, ngày 30 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Vũ Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Khí hậu 5
1.1.2 Biến đổi khí hậu 5
1.1.3 Sự thích ứng đối với Biến đổi khí hậu 5
1.1.4 Khái niệm sinh kế 6
1.2 Nguyên nhân, biểu hiện và tác động của Biến đổi khí hậu 6
1.2.1 Nguyên nhân 6
1.2.2 Các biểu hiện của Biến đổi khí hậu 6
1.2.3 Các tác động của biến đổi khí hậu 7
1.2.4 Thích ứng với Biến đổi khí hậu 7
1.3 Mô hình sinh kế bền vững 8
1.3.1 Nội dung 8
1.3.2 Khung sinh kế bền vững 8
1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến vùng ven biển và sinh kế ven biển 11
1.5 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 14
1.5.1 Khái quát tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
1.5.2 Khái quát tình hình nghiên cứu trong nước 15
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1 19
Trang 6CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CÁC DIỄN BIẾN KHÍ HẬU VÀ HOẠT ĐỘNG
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN QUA 20
2.1 Điều kiện tự nhiên 20
2.1.1 Vị trí địa lý 20
2.1.2 Địa hình, địa mạo 22
2.1.3 Khí hậu 23
2.1.4 Thủy văn, thủy triều 27
2.1.5 Các nguồn tài nguyên 28
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 30
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu 30
2.2.2 Dân số, lao động việc làm và thu nhập 32
2.3 Thực trạng về môi trường 33
2.4 Hiện trạng và xu thế biến đổi khí hậu tỉnh Khánh Hòa 35
2.4.1 Nhiệt độ 35
2.4.2 Lượng mưa 36
2.4.3 Bão, áp thấp nhiệt đới 36
2.4.4 Lũ, lụt 37
2.4.5 Hạn hán 37
2.4.6 Nhiễm mặn 38
2.4.7 Các loại thiên tai khác 39
2.5 Hiện trạng khai thác và nuôi trồng thủy sản ở Khánh Hòa 40
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 Quy trình nghiên cứu 46
3.2 Thiết kế bảng câu hỏi 47
3.3 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu 47
Trang 73.4 Phương pháp phân tích, đánh giá 48
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế hộ nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Khánh Hòa 49
4.1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 49
4.1.2 Ảnh hưởng của hạn hán và lũ lụt 51
4.1.3 Ảnh hưởng của hiện tượng giông bão 52
4.2 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến quy hoạch sử dụng đất nuôi trồng thủy sản 53
4.3 Đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản vùng ven biển tỉnh Khánh Hòa 64
4.3.1 Các thông tin về nhân khẩu học 64
4.3.2 Nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu 65
4.3.3 Những tác động của biến đổi khí hậu đến sản lượng và việc tiêu thụ cho sản phẩm nuôi trồng thủy sản 67
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 4 71
KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATNĐ : Áp thấp nhiệt đới
BĐKH : Biến đổi khí hậu (Climate change)
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
(Ministry of Natural Resources anh Enveronment)
GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
GTGT : Giá trị gia tăng
GTSX : Giá trị sản xuất
HST : Hệ sinh thái
IPCC : Intergovernmental Panel on Climate Change
(Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu) KNXK : Kim ngạch xuất khẩu
NBD : Nước biển dâng
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
TBNN : Trung bình nhiều năm
UBND : Ủy ban Nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh theo từng giai đoạn 31
Bảng 2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm (theo giá hiện hành) 31
Bảng 2.3 Dân số, tỷ lệ tăng tự nhiên và lao động qua các năm 32
Bảng 2.4 Bão và ATNĐ đổ bộ vào Khánh Hòa và các tỉnh lân cận 37
Bảng 2.5 Hiện trạng nuôi trồng thủy hải sản năm 2013-2014 41
Bảng 4.1 Thống kê nhiệt độ trung bình khu vực tỉnh Khánh Hòa qua các kịch bản 49
Bảng 4.2 Lượng mưa trung bình qua các kịch bản ở tỉnh Khánh Hòa 50
Bảng 4.3 Nhu cầu nước nuôi trồng thủy sản năm 2014,theo kế hoạch phát triển KTXH đến năm 2020 51
Bảng 4.4 Diện tích đất bị ngập của các kịch bản khi nước biển dâng 53
Bảng 4.5 Các loại mục đích sử dụng đất bị ngập khi NBD 14 cm theo kịch bản phát thải trung bình 58
Bảng 4.6 Các loại mục đích sử dụng đất bị ngập khi NBD 19 cm theo kịch bản phát thải trung bình 59
Bảng 4.7 Các loại mục đích sử dụng đất bị ngập khi NBD 32 cm theo kịch bản phát thải trung bình 60
Bảng 4.8 Các loại mục đích sử dụng đất bị ngập khi NBD 14 cm theo kịch bản phát thải cao 61
Bảng 4.9 Các loại mục đích sử dụng đất bị ngập khi NBD 21 cm theo kịch bản phát thải cao 62
Bảng 4.10 Các loại mục đích sử dụng đất bị ngập khi NBD 36 cm theo kịch bản phát thải cao 63
Bảng 4.11 Những thông tin về nhân khẩu học 64
Bảng 4.12 Nhận thức của hộ nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Khánh Hòa về biến đổi khí hậu 66
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mùa màng 67
Trang 10Bảng 4.14 Tỷ lệ (%) số vụ nuôi bị thiệt hại do điều kiện thời tiết khí hậu không thuận
lợi trong những năm qua 68
Bảng 4.15 Nguyên nhân làm thay đổi sản lượng thu hoạch 68
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến việc tiêu thụ sản phẩm nuôi 69
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thu nhập 69
Bảng 4.18 Mong muốn có thêm thu nhập từ công việc khác (%) 70
Bảng 4.19 Những mong muốn của các hộ dân đối với chính quyền địa phương trong việc tham gia vào việc chủ động ứng phó với BĐKH 70
Biểu đồ 4.1 Giá trị nhiệt độ trung bình khu vực tỉnh Khánh Hòa qua các kịch bản 49
Biểu đồ 4.2 Giá trị trung bình của lượng mưa trung bình ở tỉnh Khánh Hòa qua các kịch bản BĐKH 50
Biểu đồ 4.3 Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản bị ngập theo kịch bản trung bình 54
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ các loại đất bị mất khi NBD theo kịch bản trung bình 54
Biểu đồ 4.5 Diện tích đất nuôi trồng thủy sản bị ngập theo kịch bản cao 55
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ các loại đất bị mất khi NBD theo kịch bản phát thải cao 56
Biểu đồ 4.7 Thống kê Diện tích đất nuôi trồng thủy sản so với diện tích tự nhiên qua các năm 2010, 2011, 2012 và 2013 (2014) 57
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998) 9
Hình 1.2 Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) 10
Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (2004) 11
Hình 2.1 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang (1978-2010) 35
Hình 2.2 Diễn biến lượng mưa năm tại Nha Trang (1978-2010) 36
Hình 4.1 Mực nước biển dâng qua các giai đoạn 2020 - 2100 trong kịch bản của Khánh Hòa 50
Hình 4.2 Bản đồ nguy cơ ngập khu vực tỉnh Khánh Hòa ứng với kịch bản nước biển dâng 50cm 52
Sơ đồ 1.1 Mô hình chuỗi nguyên nhân-hậu quả của tác động biến đổi khí hậu lên sinh kế 12
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu 46
Trang 12
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Cơ sở hình thành đề tài
Trong những năm gần đây ở Khánh Hòa lượng mưa thất thường và luôn biến đổi, nhiệt độ tăng cao hơn Tần suất và cường độ của những cơn bão mạnh, lũ lớn đã tăng cả về số lượng và mức độ thiệt hại Tình trạng hạn hán, nhiễm mặn, thiếu nước ngày càng ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân và phát triển bền vững kinh tế- xã hội
ở địa phương (Nguồn: Quyết định tỉnh Khánh Hòa, 2011)
Tại vùng ven biển, các hộ dân sinh sống chủ yếu với thu nhập chính từ hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Mặc dù các tác động của biến đổi khí hậu đến giai đoạn này vẫn chưa ảnh hưởng nhiều đến sinh kế của người dân, vì những người dân sống ở khu vực ven biển từ lâu đã quen và biết cách chống chọi với các biểu hiện của thời tiết nhằm đảm bảo cuộc sống của mình Nhưng về lâu về dài Chính phủ
và chính quyền địa phương cần quan tâm hơn và có nhiều giải pháp giúp người dân thích ứng tốt hơn
Việc nghiên cứu, đề xuất biện pháp khắc phục và thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm đảm bảo đời sống của các hộ dân là yêu cầu cấp thiết cần phải được thực hiện
Đề tài này sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản ven biển Khánh Hòa
Kết quả nghiên cứu này hướng tới gợi ý chính sách cho các cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương trong việc giải quyết việc làm, đa dạng hóa sinh
kế cho người dân tại khu vực để phát triển kinh tế hộ gia đình, qua đó có thể xóa đói giảm nghèo, đảm bảo sinh kế bền vững ở địa phương và ứng phó tốt hơn với tác động của biến đổi khí hậu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Khánh Hòa Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, giúp người dân thích ứng, ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể bao gồm:
(i) Xác định được các tác động và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu;
Trang 13(ii) Phân tích và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản tại các địa phương ven biển tỉnh Khánh Hòa;
(iii) Đề xuất một số giải pháp góp phần giúp các hộ nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu
3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm: tổng hợp, phân tích, thống kê để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế, bao gồm, phân tích định tính và phân tích định lượng Hai phương pháp phân tích này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trong việc làm sáng tỏ các nhận định và rút ra kết luận của vấn đề nghiên cứu
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Biểu hiện trước mắt là các hiện tượng khí hậu cực đoan gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng
có và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới
Theo báo cáo của Ủy ban liên Chính phủ thì, ở Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng từ 0.5- 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Biến đổi khí hậu đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và
là một nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và các mục tiêu thiên niên kỷ, sự phát triển bền vững của đất nước
Khánh Hoà là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.197 km2 (Nguồn: Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai toàn tỉnh Khánh Hòa,
2010), có bờ biển dài theo đường mép nước và nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, khoảng 200 đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô của quần đảo Trường Sa Khánh Hoà có 6 đầm
và vịnh lớn, gồm: Đại Lãnh, Hòn Khói, Nha Phu, vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang và vịnh Cam Ranh Dọc bờ biển Khánh Hoà có nhiều bãi tắm đẹp và tập trung nhiều đảo lớn nhỏ, thềm lục địa rất hẹp, đường đẳng sâu chạy sát bờ biển Chính điều kiện địa lý
tự nhiên được coi là “địa lợi” cho phát triển kinh tế- xã hội đó, nay trở nên dễ bị tổn thương bởi tác động của biến đổi khí hậu trên qui mô toàn cầu và khu vực, đặc biệt là ảnh hưởng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và nước biển dâng
Trong những năm gần đây ở Khánh Hòa lượng mưa thất thường và luôn biến đổi, nhiệt độ tăng cao hơn Tần suất và cường độ của những cơn bão mạnh, lũ lớn đã tăng đột biến về số lượng và mức độ thiệt hại cũng ngày càng nghiêm trọng hơn
(Nguồn: Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão tỉnh, 2010) Các dịch bệnh xuất hiện trên
diện rộng ngày càng tăng (bệnh sốt xuất huyết, đau mắt đỏ ở người, heo tai xanh, dịch
lở mồm long móng ở động vật ) Tình trạng hạn hán, nhiễm mặn, thiếu nước ngày càng gay gắt làm ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân và phát triển bền vững kinh tế-
xã hội ở địa phương
Trang 15Theo thống kê của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn, trong
10 năm gần đây, Khánh Hoà phải hứng chịu nhiều thiên tai của tự nhiên gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, phá huỷ môi trường tự nhiên và đe dọa tính mạng con người, chỉ tính từ năm 1999 đến năm 2009 có 83 người chết và thiệt hại kinh tế
khoảng 450 tỷ đồng,… (Nguồn: Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão tỉnh, 2010)
Thủy sản là ngành kinh tế quan trọng, đứng thứ hai sau nông nghiệp, trong đó nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển của tỉnh Khánh Hòa Ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao thu nhập cho người dân
Biến đổi khí hậu và các biểu hiện của nó như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan,… đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các hệ sinh thái quan trọng ven biển và nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản của các hộ dân, từ đó ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ dân nuôi trồng thủy sản
Những hiểu biết của các hộ nuôi trồng thủy sản về biến đổi khí hậu còn nhiều hạn chế Người dân cũng chưa quan tâm nhiều đến những thay đổi do tác động của biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, đến thu nhập của mình trong tương lai Nhận thức được sự tác động và ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu trong những năm qua đến đời sống của người dân, đặc biệt là các hộ dân nuôi
trồng thủy sản, Tôi đã thực hiện đề tài: Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của các hộ nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Khánh Hòa
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chính của đề tài nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, đến đời sống của hộ dân nuôi trồng thủy sản Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, giúp người dân thích ứng và đối phó tốt hơn với tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay
2.2 Mục tiêu cụ thể
1 Xác định các tác động, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu
2 Dựa vào các Bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất để đánh giá tình hình nuôi trồng thủy sản của các hộ dân sống ven biển
Trang 163 Nghiên cứu, phân tích và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các hoạt động nuôi trồng thủy sản tại các địa phương ven biển tỉnh Khánh Hòa
4 Đề xuất một số giải pháp thích hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nhằm ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu
3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Khánh Hòa trong thời gian vừa qua như thế nào?
2 Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến việc sinh kế của hộ nuôi trồng thủy sản ra sao?
3 Cần có những đề xuất, định hướng giải pháp nào để ứng phó với biến đổi khí hậu?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố khí hậu và các tác động của BĐKH đến sinh kế của các hộ dân nuôi trồng thủy sản
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi thời gian
+ Luận văn được tiến hành từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 11 năm 2015
+ Các số liệu đánh giá diễn biến khí hậu, thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng tại tỉnh Khánh Hòa được phân tích theo số liệu Báo cáo đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với tài nguyên nước và xây dựng kế hoạch ứng phó cho cơ sở hạ tầng của các lĩnh vực và địa phương ven biển trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2015
4.2.2 Phạm vi không gian
Địa bàn nghiên cứu tại các huyện, thị xã, thành phố ven biển tỉnh Khánh Hòa như thành phố Cam Ranh, huyện Cam Lâm, thành phố Nha Trang, thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh với số liệu điều tra được thực hiện trong các năm 2014-2015
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu (số liệu thứ cấp)
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở thu thập số liệu sơ cấp, kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, số liệu, thông tin liên quan có chọn lọc
Trang 17Việc xử lý số liệu được dựa trên cơ sở nhập và số hóa số liệu và sử dụng các công cụ, trên Bảng tính Excel để hỗ trợ, giúp việc thống kê mô tả được xuyên suốt hơn trong quá trình xử lý số liệu
5.2 Phương pháp phân tích, đánh giá
Sau khi tiến hành thu thập, xử lý sơ bộ các số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, tiến hành phân tích số liệu, thông tin đã thu thập, từ đó đưa ra được một số nhận định, qua đó phản ánh được, đánh giá được mức độ ảnh hưởng, tác động
từ các số liệu, thông tin đã thu thập
6 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận
Đề tài đã hệ thống được các lý thuyết và các công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở một số nước và ở Việt Nam Đề tài xây dựng một khung đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống, kinh tế, đưa ra phương pháp đánh giá thiệt hại, , và đề ra các giải pháp ứng phó Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể giúp phát triển các nghiên cứu tiếp theo
- Về mặt thực tiễn
Các kết qủa của Luận văn có thể được sử dụng như cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách liên quan tới BĐKH và cho các hoạt động quản lý, thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu của chính quyền và cộng đồng địa phương
7 Kết cấu của đề tài
Với mục tiêu nghiên cứu nói trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của đề tài bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết
Chương 2: Khái quát về các diễn biến khí hậu và hoạt động nuôi trồng thủy sản
ở Khánh Hòa trong thời gian qua
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khí hậu
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong một khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định Khí hậu của một khu vực chịu ảnh hưởng bởi tọa độ địa lý, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận (IPCC, 2007)
1.1.2 Biến đổi khí hậu
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã định nghĩa:
“Biến đổi khí hậu là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế- xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
1.1.3 Sự thích ứng đối với Biến đổi khí hậu
Khái niệm thích ứng được vận dụng rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó được dùng trong rất nhiều trường hợp:
Theo IPCC, 1996 “Thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thật sự sẽ xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay lập kế hoạch và được thực hiện thích ứng với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau”
Thích ứng với biến đổi khí hậu là tìm cách làm giảm thiệt hại nhiều hết mức có thể bằng các biện pháp thông minh, ít tốn kém, dễ thực hiện và làm tăng kết quả thuận lợi với các biện pháp được thực hiện (S Rahmstorf, Hans J Schellnhuber, 2007)
Có nhiều khái niệm về thích ứng nhưng nhìn chung thích ứng là sự điều chỉnh
có phòng bị được đưa ra với ý nghĩa giảm thiểu hoặc cải thiện những hậu quả có hại,
cả trong tự nhiên và hệ thống kinh tế-xã hội mà việc này dễ thực hiện và ít tốn kém
Trang 191.1.4 Khái niệm sinh kế
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
1.2 Nguyên nhân, biểu hiện và tác động của Biến đổi khí hậu
1.2.1 Nguyên nhân
Khí hậu bị biến đổi do 2 nhóm nguyên nhân:
Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy
mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ
hệ thống khí quyển
Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự
thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2
và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người
1.2.2 Các biểu hiện của Biến đổi khí hậu
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái
và hoạt động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
Trang 201.2.3 Các tác động của biến đổi khí hậu
Tác động của biến đổi khi hậu theo ngành
Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống trên phạm
vi toàn thế giới Khi trái đất nóng dần lên, lượng mưa sẽ thay đổi và các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ lụt và cháy rừng cũng trở nên thường xuyên hơn Nước biển dâng sẽ gây ngập lụt và nhiễm mặn nguồn nước Biến đổi khí hậu đang và
sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu trên các
lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, năng lượng, nguồn nước, lương
thực, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế và thương mại
Tác động của biến đổi khi hậu theo vùng
Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và vùng núi, trong đó vùng ven biển là khu vực sẽ bị tổn thương nhiều nhất Các vùng duyên hải ngày càng
có nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng bởi bão, ngập lụt, xâm thực bờ biển và những ảnh hưởng này đều có nguy cơ gây ra những tác động mang tính thảm họa và không thể đảo ngược Hàng triệu người ở các vùng ven biển đông dân cư và các quốc đảo, đặc biệt là ở những vùng đất thấp trên các châu thổ của Châu Á và Châu Phi, sẽ bị mất nhà cửa, phá hủy cơ sở hạ tầng thiết yếu và mất các sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Các cộng đồng ven biển vốn đã nghèo sẽ phải gánh chịu thêm nhiều thiên tai và rủi ro gây tổn thất nghiêm trọng
1.2.4 Thích ứng với Biến đổi khí hậu
Thích ứng với biến đổi khí hậu từ trước đến nay vẫn được coi là mối quan tâm thứ yếu của các chương trình quốc tế về xóa đói giảm nghèo, bởi vì giảm nhẹ biến đổi khí hậu mới được coi là yêu cầu bắt buộc và cấp bách vì nó quyết định triển vọng tránh được các hiểm họa của biến đổi khí hậu trong tương lai để hướng tới một xã hội
ít các bon Tuy nhiên, đối với các cộng đồng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu
thì thích ứng lại là một nhiệm vụ cấp thiết (IUCN, SEI, và IISD, 2003) Hơn nữa,
“Không được phép phó mặc cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương trên thế giới bị chậm hay tự bơi chỉ với năng lực yếu ớt của mình” (UNDP, 2008) Điều đó
có nghĩa là người nghèo và những người dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu cũng cần được hỗ trợ để tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 21Thích ứng với biến đổi khí hậu là “Sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các
cơ hội do nó mang lại” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) Như vậy, thích ứng bao
gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có của biến đổi khí hậu, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội có lợi từ biến đổi khí hậu Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu
1.3 Mô hình sinh kế bền vững
1.3.1 Nội dung
Theo quan điểm của Chambers và Conway, sinh kế bền vững là một khái niệm được dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển bền vững và được lồng ghép của 3 yếu
tố cơ bản là: khả năng, công bằng và bền vững
Như vậy, một sinh kế bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác
Vùng ven biển là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng cũng đồng thời
là nơi chịu nhiều biến động và ảnh hưởng từ những tác động mạnh nhất của tự nhiên
và hoạt động của con người
1.3.2 Khung sinh kế bền vững
Các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu
tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các qui trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài (DFID, 2001) Trong 5 yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững, 5 nguồn lực
sinh kế đóng vai trò cốt lõi đối với các hoạt động sinh kế ở cấp cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm đối tượng vì nó quyết định các chiến lược sinh kế nào được thực hiện
để đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Tuy nhiên, các nguồn lực sinh kế này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài và thể chế - chính sách ở địa phương Do đó, sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này, kết hợp với nhu cầu về
Trang 22sinh kế sẽ quyết định các chiến lược sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau
Một số khung sinh kế bền vững tiêu biểu:
Khung sinh kế nông thôn bền vững (Sustainable Rural Livelihoods Framework)
Hình 1.1 Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998)
Scoones (1998) là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn
bền vững Câu hỏi then chốt được đặt ra trong khung phân tích này là: trong một bối cảnh cụ thể (về môi trường chính sách, chính trị, lịch sử, sinh thái và các điều kiện kinh tế - xã hội), sự kết hợp nguồn lực sinh kế nào (5 loại nguồn lực khác nhau) sẽ tạo
ra khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế (sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế và di dân) nhằm đạt được các kết quả sinh kế nhất định Mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các qui trình thể chế và chính sách - được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn
Trang 23Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework)
Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền
vững để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các
hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này
Hình 1.2 Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)
Khung sinh kế bền vững vùng ven biển (Sustainable Coastal Livelihood Framework)
Trên cơ sở các khung sinh kế bền vững nêu trên, năm 2004, IMM Đã sửa đổi lại
để áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng ven biển” Trong khung phân tích này, sinh kế của các hộ gia đình ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh
kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sử dụng để thực hiện các chiến lược sinh kế Thuộc nhóm thứ hai là các yếu tố về đặc điểm cá nhân (như tuổi tác, giới tính, tôn giáo ) và các yếu tố xã hội (như cơ cấu chính trị, chính sách, luật pháp…) bao quanh cộng đồng ven biển và có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp như tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài… Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của cộng đồng ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa 3 nhóm yếu tố cơ bản này
Trang 24Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (2004)
1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến vùng ven biển và sinh kế ven biển
Do sự thất thường của thời tiết, đặc biệt là mưa bão thường xuyên xảy ra dọc bờ biển, cũng là những nguyên nhân gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho cộng đồng ven biển
Những tác động, ảnh hưởng chủ yếu này của biến đổi khí hậu lên vùng ven biển chính là sự tăng lên của mực nước biển, sự thay đổi nhiệt độ làm cho băng tan chảy dẫn đến nhiệt độ của bề mặt nước biển có sự thay đổi và mực nước biển dâng lên, ngoài ra còn có các biểu hiện của các hiện tượng thời tiết với tần xuất gia tăng ngày càng cao và bất thường cũng ảnh hưởng đến đời sống và các hoạt động kinh tế của khu vực, cộng đồng dân cư ven biển
Cộng đồng dân cư sống ven biển chính là cộng đồng dễ bị tổn thương, do vị trí địa lý nằm ở vùng gần biển, giáp ranh giữa đất liền và biển nên các hoạt động sinh kế phần lớn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên Do đó,khi
có một số tác động của thời tiết như gió bão, sóng lớn, mực nước biển dâng có nhiệt
độ thời tiết thay đổi, rất dễ trở thành là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến đời sống và
Trang 25sinh kế của người dân Từ những thay đổi của biến đổi khí hậu đã quan sát, dự đoán xu hướng và tóm tắt được, hình thành nên bảng tổng hợp các tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng ven biển, tập trung vào hệ sinh thái biển, khu vực đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và sức khỏe của con người như sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình chuỗi nguyên nhân-hậu quả của tác động biến đổi khí hậu lên
- Mất hệ sinh thái đất ngập nước, bao gồm các đầm lầy và rừng ngập mặn
- Dòng chảy từ mưa lớn gây xói mòn bờ biển và trầm tích gây ảnh hưởng đến vùng cửa sông và các rạn san hô
- Dòng chảy giàu chất dinh dưỡng trong bối cảnh nhiệt độ mặt nước biển thiếu oxi và tạo
ra nhiều vùng biển chết
- Thay dổi về sự phân bố và sự phong phú của nguồn lợi biển
có giá trị cao về thương mại
- Gia tăng sự lây lan của các loài ngoại lai
- 30% diện tích san hô trên thế giới đã bị mất do đánh bắt quá mức, ô nhiễm và môi trường sống bị hủy diệt
- Sự phát triển mạnh mẽ ở vùng ven biển và mất môi trường sống
- Chuyển đổi rừng ngập mặn và đất ngập nước thành các đầm nuôi trồng thủy sản
- Sự xáo trộn về số lượng, khối lượng và thời gian của các dòng nước ngọt chảy vào các cửa sông
- Suy thoái thảm cỏ biển do trầm tích, du lịch bằng thuyền trên biển, đánh bắt và du lịch
- Khai thác mỏ phục vụ xây dựng và làm vôi
- Tràn dầu từ vận tải đường biển
- Sự lây lan các loài xâm lấn
- Môi trường sống của cá bị thay đổi
- Sự thay đổi nhiệt đột làm cá
di cư
- Đánh bắt quá mức
- Sử dụng các phương pháp đánh bắt hủy diệt (bằng lưới mắt nhỏ, bằng mìn, bằng điện)
- Các nguồn ô nhiễm từ đất liền (nước thải công nghiệp)
- Lắng đọng trầm tich từ các hoạt động trên đất liền
Trang 26- Axit hóa đại dương và sự gia tăng nhiệt độ gây hủy diệt các rạn san hô, ảnh hưởng đến ngư trường đánh bắt
sản
- Sự gia tăng nhiệt độ của nước
sẽ tạo ra những thay đổi không thể dự đoán trước về năng suất nuôi trồng
- Sự thay đổi điều kiện môi trường sẽ làm gia tăng mầm bệnh và ký sinh trùng
- Sự suy giảm năng suất đại dương sẽ làm giảm nguồn cung cấp các giống tự nhiên
- Sự thay đổi thời tiết và các hiện tượng thời tiết cực đoan làm giảm năng suất môi trường
- Khai thác quá mức các loài ấu trùng và các loài chưa trưởng thành để làm giống phục vụ nuôi trồng
- Phát thải hóa chất, chất dinh dưỡng và trầm tích từ các đầm nuôi
- Lan truyền mầm bệnh và bệnh tật đối với các hệ sinh thái địa phương
- Mất các khu bảo tồn do lực chọn không đúng các địa điểm nuôi trồng
- Tăng cường sự lây lan các bệnh truyền nhiễm (sốt xuất huyết, sốt rét) và bệnh tiêu chảy
- Nguồn nước bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sức khỏe
khan hiếm tài nguyên đất và tạo ra sự di cư của con người
- Xung đột về sử dụng nước do
sự khan hiếm nguồn nước
- Di dân đến các khu đô thị do năng suất của các hệ sinh thái biển và sự sẵn có về thực phẩm
ở địa phương giảm đi
- Mất quyền tiếp cận bờ biển của người dân địa phương do gia tăng các hoạt động du lịch
và phát triển kinh tế-xã hội ở vùng ven biển
Nguồn: Trích Tài liệu của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ-USAID, 2009
Trang 271.5 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.5.1 Khái quát tình hình nghiên cứu trên thế giới
Năm 1896, lần đầu tiên vấn đề biến đổi khí hậu đã được Svante Arrhenius, một nhà khoa học người Thụy Điển đề cập, ông cho rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch
sẽ dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu có khả năng xảy ra cao Tuy nhiên, nghiên cứu này bị gián đoạn vì do vào thời điểm đó ảnh hưởng của con người là không đáng
kể so với yếu tố thiên nhiên
Đến cuối năm 1980, khi nhiệt độ trái đất bắt đầu tăng lên nhanh thì hiện tượng nóng lên toàn cầu mới được chú ý Từ đó, lý thuyết về hiệu ứng nhà kính ra đời và Tổ chức Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc (IPCC) đã được thành lập qua Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc và Tổ chức Khí tượng thế giới
Năm 1900, các nghiên cứu về biến đổi khí hậu của IPCC được công bố, bao gồm hiện tượng nóng lên toàn cầu, khí nhà kính, hiệu ứng nhà kính, nước biển dâng, các tác nhân khí hậu, lịch sử thay đổi của khí hậu trái đất,… đã trở thành một cơ sở khoa họa khi nhiên cứu vấn đề này
Dựa trên việc mở rộng, cải thiện khối lượng lớn dữ liệu quan trắc và phân tích
có độ tin cậy cao, IPCC đã đưa ra những bằng chứng mạnh mẽ rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu quan trắc thấy trong 50 năm qua là do các hoạt động của con người Đồng thời, sự hợp nhất cả nhân tố tự nhiên và con người trong kết quả quan trắc và tính toán
mô hình trong 140 năm Những thay đổi trong khí hậu khu vực cho thấy tác động đến
hệ sinh thái, vật lý và có dấu hiệu về tác động của nó đối với hệ thống kinh tế-xã hội
Xu hướng tăng nhiệt độ đã tác động đến hệ thống tài nguyên nước và các hệ sinh thái ven biển, trong lục địa ở nhiều nơi trên thế giới, dẫn tới chi phí kinh tế-xã hội tăng lên
do biến đổi khí hậu khu vực và thời tiết nguy hiểm tăng lên (Nguồn: Mark Maslin,
2004-GLOBAL WARMING)
Theo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu-IPCC (2007), các biểu hiện của biến đổi khí hậu bao gồm:
1 Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu
2 Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan
Trang 283 Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển
4 Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất
5 Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác
6 Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển và địa quyển
Trong đó, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu
1.5.2 Khái quát tình hình nghiên cứu trong nước
1.5.2.1 Theo kết quả nghiên cứu, với đề tài “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới
sinh kế người dân Đồng bằng Sông Cửu Long” của nhóm tác giả: Lê Anh
Tuấn-Hoàng Thị Thủy-Võ Văn Ngoan tại Diễn đàn Bảo tồn Thiên nhiên và Văn hóa vì sự Phát triển bền vững vùng Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ 6, thì:
Đồng bằng Sông Cửu Long được xác định như là một trong những vùng nhạy cảm và dễ phơi lộ với hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng Với giả thiết rằng sinh kế của người dân địa phương đang bị ảnh hưởng mạnh do các thay đổi bất thường của các điều kiện khí hậu tự nhiên
Nhiều khảo sát dựa vào phỏng vấn bán cấu trúc và thảo luận ở cộng đồng về tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu lên sinh kế đã được thực hiện trên ba vùng sinh thái thủy văn khác nhau đã được thực hiện ở vùng Đồng bằng
Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng những thông tin thu nhận được là hiện thực và liên quan đến các mong ước cuộc sống của cư dân địa phương Người dân sống vùng nông thôn ven biển gặp khó khăn hơn người dân sống ở vùng lũ Người nghèo, trẻ em, người già, người khuyết tập, phụ nữ đơn thân và người dân tộc thiểu số thuộc nhóm người dễ bị tổn thương
Từ kết quả nghiên cứu trên, phát thảo được Mô hình chuỗi nguyên nhân-hậu quả của tác động biến đổi khí hậu lên sinh kế như sau:
Trang 301.5.2.2 Theo kết quả nghiên cứu với đề tài “Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với hoạt động thủy sản tỉnh Sóc Trăng và đề xuất kế hoạch ứng phó”
của Trung tâm Kỹ thuật Môi trường (CEE) năm 2009, đã khẳng định:
Sóc Trăng là tỉnh có tiềm năng rất lớn về nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Hoạt động khai thác thủy sản ở Sóc Trăng trong ba thủy vực: biển, vùng triều cửa sông ven biển và vùng nước nội địa Nuôi trồng thủy sản có cả nuôi thủy sản nước ngọt và nuôi thủy sản nước lợ mặn
Thủy sản là ngành kinh tế quan trọng, đóng góp lớn thứ hai (sau nông nghiệp)
và đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong vòng 10 năm qua Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển của tỉnh Sóc Trăng
Những năm gần đây NTTS của tỉnh đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Sóc Trăng Ngành có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần xóa đói giảm nghèo, cung cấp dinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho nhân dân và từng bước nâng cao kim ngạch xuất khẩu của tỉnh
Với thế mạnh là ngành kinh tế quan trọng, đóng góp lớn thứ hai (sau nông nghiệp) vào GDP và đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong vòng
10 năm qua Giai đoạn 2001 - 2005, Giá trị gia tăng (GTGT) của ngành tăng bình quân 24,9% (GTSX tăng bình quân 29,5%), tỷ trọng của ngành trong cơ cấu GDP của tỉnh tăng từ 16,5% (2000) lên 23,3% (2005), đóng góp 83,8% vào kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của tỉnh năm 2000 và 98,1% KNXK của tỉnh năm 2005 Năm 2006, tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản đạt 113.950 tấn tăng 12,9% so với năm 2005; Giá trị sản xuất (GTSX) thuỷ sản (giá hàng hóa) đạt 5.432,9 tỷ đồng trong đó nuôi trồng đạt 5.040,4 tỷ đồng chiếm 92,8%, khai thác đạt 323,8 tỷ đồng chiếm 5,96% còn lại là dịch vụ thuỷ sản chiếm 0,1% Năm 2007, đạt 139.412 tấn, trong đó khai thác được 34.370 tấn và nuôi trồng được 105.042 tấn
Tuy nhiên, với những biểu hiện Biến đổi khí hậu như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan… đã ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến các hệ sinh thái (HST) quan trọng ven bờ và nghề
cá liên quan như hệ sinh thái đầm phá và nghề cá đầm phá, HST rừng ngập mặn và nghề cá rừng ngập mặn ven biển, HST rạn san hô đã làm các hệ sinh thái thuỷ vực, nguồn lợi hải sản và nghề cá là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí
Trang 31hậu Dự báo trữ lượng các loài hải sản kinh tế bị giảm sút 1/3 so với hiện nay
Mực nước biển dâng cùng với cường độ của bão tố, thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ đe dọa đến sự suy thoái và sống còn của rừng ngập mặn cũng như các loài sinh vật rất đa dạng trong đó
Xu hướng biến đổi của khí hậu khiến nước biển dâng, độ mặn nước biển trong rừng ngập mặn sẽ có thể vượt quá 25% Những biến đổi đó đã làm mất đi rất nhiều loài sinh vật, làm thay đổi mạnh mẽ hệ sinh thái rừng ngập mặn Hệ sinh thái rừng ngập mặn có những phản ứng khác nhau đối với biến đổi khí hậu, có thể tăng tốc độ tăng trưởng sinh khối là kết quả của gia tăng hàm lượng CO2 khí quyển và nhiệt độ nhưng cũng chịu tác động mạnh mẽ bởi quá trình xói lở và ngập do nước biển dâng
Biến đổi khí hậu có tác động đến cộng đồng dân cư ven biển, đặc biệt là hộ dân đánh bắt xa bờ, tần suất, cường độ của bão và áp thấp nhiệt đới sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hơn Do đó, thiệt hại cho cộng đồng dân cư là nghiêm trọng và khó tránh khỏi
Một điểm đáng được quan tâm đối với cộng động dân cư ven biển là đa số những người làm nghề đánh bắt thủy sản là những người nghèo trong xã hội Do sản lượng đánh bắt tự nhiên giảm, nền tảng kinh tế của mọi cộng đồng dân cư ven biển không được ổn định Từ đó, phát sinh những vấn đề xã hội mà chính quyền ở các địa phương đang phải giải quyết Sản xuất nông nghiệp lượng lương thực giảm sẽ đẩy giá bán cao lên, số người nghèo gia tăng, người suy dinh dưỡng ngày càng nhiều tỉnh Sóc Trăng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội như xóa đói giảm nghèo
Từ các kết quả đánh giá tác động BĐKH (nhiệt độ tăng, độ mặn tăng, lượng mưa bất thường) và năng lực thích ứng (trong đó có các chương trình phòng chống giảm nhẹ thiên tai, khả năng ứng phó BĐKH, trình độ nhận thức,…) đã cho thấy tính tổn thương cao trong hoạt động NTTS tại khu vực
Nghiên cứu này đã cung cấp thông tin hỗ trợ xây dựng chính sách (cấp tỉnh và địa phương) nhằm nâng cao khả năng thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH trong NTTS và nghề cá tỉnh Sóc Trăng, qua đó đề xuất những giải pháp thích ứng và ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tại địa phương cần được triển khai phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, khu vực, như:
- Các ban, ngành trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng cần có sự phối hợp, hỗ trợ trong thực hiện giải pháp ứng phó, đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường
Trang 32- Các giải pháp thích ứng có sự phối hợp giữa ngành lâm nghiệp, thủy sản, nông nghiệp và ngành xây dựng để thực hiện hiệu quả và tiết kiệm kinh phí
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã trình bày khái quát cơ sở lý thuyết chung về biến đổi khí hậu, sinh kế và sinh kế bền vững Đồng thời chương 1 đã nêu lên được các hiện tượng của biến đổi khí hậu, tác động ảnh hưởng sinh kế vùng ven biển Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận văn, để tìm ra cơ hội nghiên cứu cho đề tài cũng như xác định sơ
bộ các yếu tố của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sinh kế
Trang 33CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC DIỄN BIẾN KHÍ HẬU VÀ HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Khánh Hoà là tỉnh ven biển có điểm cực Đông vươn ra biển xa nhất của đất nước, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Khánh Hoà có phạm vi lãnh thổ từ
11041'53'' đến 12052'35'' vĩ độ Bắc và từ 108040' đến 109023'24" kinh độ Đông Khánh Hoà giáp với tỉnh Phú Yên ở phía Bắc, Ninh Thuận ở phía Nam, Đăk Lăk và Lâm Đồng ở phía Tây Phía Đông của Khánh Hoà là biển Đông với đường bờ biển dài trên
200 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.217,65km2 với dân số 1.170.840 người, chiếm 1,58% về diện tích và 1,35% về dân số của cả nước; đứng hàng thứ 27 về diện
tích và thứ 30 về dân số trong 63 tỉnh, thành phố của nước ta (Nguồn: Báo cáo Quy
hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa, 2010)
Cùng với phần đất liền, Khánh Hoà có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với trên 200 đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên biển, trong đó có quần đảo Trường Sa thuộc huyện đảo Trường Sa với vị trí rất quan trọng về an ninh, quốc phòng và kinh tế của cả nước Là tỉnh duy nhất có 03 vịnh biển đẹp là vịnh Nha Trang, vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh, là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch cũng như kinh tế biển của tỉnh, đặc biệt là phát triển cảng biển và khai thác, nuôi trồng thủy hải sản
Nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước, Quốc lộ 1A (viết tắt là QL1A) và đường sắt Thống nhất chạy qua tỉnh, nối liền Khánh Hoà với các tỉnh, thành trong cả nước Quốc lộ 26 nối Khánh Hoà với Đăk Lăk, Quốc lộ 27B (QL27B) đi Ninh Thuận và tuyến tỉnh lộ 2 nối Nha Trang với Đà Lạt đã tạo cho Khánh Hoà nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh có các cảng biển Nha Trang, Cam Ranh, Ba Ngòi, Hòn Khói và cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong đang xây dựng; sân bay Cam Ranh đã nâng cấp thành sân bay quốc tế, có thể đón các máy bay Boeing
và Airbus tải trọng lớn cất và hạ cánh,
Trang 34Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn 2010-2020
Trang 35
Khánh Hoà nằm ở giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, là trung tâm hai vùng kinh tế trọng điểm của nước ta Nha Trang cách thành phố
Hồ Chí Minh 400km; cách Đà Nẵng 500km Yếu tố này vừa là lợi thế trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư, song nó cũng là một thách thức lớn đối với Khánh Hoà trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút chất xám, chiếm lĩnh thị trường trong vùng
Vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Khánh Hoà phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình tỉnh Khánh Hoà khá phức tạp, phía Tây là sườn Đông của dãy Trường Sơn Nam và phía Đông là biển Đông Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông với đa dạng địa hình như núi, đồi, đồng bằng, vùng ven biển Hơn 67% diện tích của tỉnh là đồi núi, trong đó có đến 25 đỉnh núi cao trên 1.000m tạo thành các vòng cung chắn gió từ phía Bắc đến phía Tây bao quanh các vùng đồng bằng nhỏ, hẹp ven biển tại các huyện Vạn Ninh, Ninh Hoà, Diên Khánh, Cam Ranh Do địa hình dốc, bị chia cắt nhiều nên gây nhiều khó khăn cho việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung với
quy mô lớn (Nguồn: Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa, 2010)
Địa hình tỉnh khánh Hoà chia làm các dạng sau:
- Địa hình núi cao, có độ cao trên 1.000m: Bao gồm những dãy núi cao độ dốc lớn bao bọc toàn bộ phía Tây của tỉnh Độ dốc phổ biến từ cấp IV đến cấp VIII Vùng địa hình này có diện tích khoảng 196.140ha, chiếm 37,59% tổng DTTN toàn tỉnh Do địa hình cao, dốc, mức độ chia cắt mạnh nên quá trình khoanh nuôi và trồng mới rừng trên vùng địa hình này gặp rất nhiều khó khăn
- Địa hình núi trung bình, có độ cao 500 - 1.000m: Phân bố kế tiếp địa hình núi cao Tập trung nhiều ở huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Vạn Ninh Vùng địa hình này
có diện tích khoảng 78.722 ha, chiếm 15,09% tổng DTTN toàn tỉnh Vùng địa hình này tuy có độ dốc trung bình nhưng công tác trồng mới và khoanh nuôi tái sinh rừng cũng gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện thổ nhưỡng chủ yếu là đá lẫn và đá lộ đầu
- Địa hình núi thấp, có độ cao 100 - 500m: Dạng địa hình này có độ che phủ thấp do đa số diện tích là đất trống đồi núi trọc quá trình xói mòn rửa trôi diễn ra
Trang 36mạnh, đất có đá lẫn và đá lộ đầu nhiều, tầng trung bình và mỏng Ở dạng địa hình này nhiều nơi là những dải núi đá tập trung khai thác làm vật liệu xây dựng (mỏ đá Tân Dân, Ninh Ích, ) Vùng địa hình này có diện tích 99.726,48ha, chiếm 19,12% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
- Địa hình đồi thoải, có độ cao từ 50 đến 100m: Đây là dạng địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và núi cao Địa hình chia cắt nhẹ, gồm các đồi gò lượn sóng Vùng địa hình này có diện tích 69.048ha, chiếm 13,26% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
- Địa hình đồng bằng: Địa hình bằng phẳng xen kẽ có các gò, đồi rải rác Độ dốc nhỏ, hướng dốc từ Tây sang Đông Đất đai chủ yếu là các loại đất phù sa chưa biến đổi hoặc biến đổi mạnh, độ phì nhiêu khá Đây là vùng đất trù phú và thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp và đời sống Vùng địa hình này có diện tích 78.129ha, chiếm 14,97% tổng DTTN toàn tỉnh
Nhìn chung địa hình Khánh Hoà khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế tổng hợp Nông - Lâm - Ngư nghiệp - Du lịch song cũng gây không ít khó khăn trong việc khai thác sử dụng đất vào sản xuất nông - lâm nghiệp Địa hình cũng là yếu tố quan trọng phân chia toàn tỉnh thành các vùng sinh thái mang những nét đặc trưng khác biệt
có tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất cho phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng
2.1.3 Khí hậu
1 Đặc điểm các yếu tố khí hậu
Khí hậu Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa Nhiệt độ trung bình năm
là 26 0C Tổng nhiệt độ khoảng 9.500 - 9.800 0C , ánh sáng dồi dào, số giờ nắng trung bình năm từ 2.600 - 2.700 giờ Độ ẩm không khí trung bình năm đạt từ 76-79 % và chênh lệch giữa các tháng trong năm thấp Mùa hè không bị oi bức, mùa đông không quá lạnh Do có những vùng núi cao trên 1.000m như Hòn Bà, nên có các đặc trưng của khí hậu nhiệt đới vùng núi cao, ôn hòa mát mẻ quanh năm, không có các hiện tượng thời tiết đặc biệt như gió nóng, sương muối Ở những tiểu vùng khí hậu này, sương mù thường xuất hiện vào lúc sáng sớm và chiều tối cuối tháng 7 và 8, mức độ không dày đặc, tan nhanh đã tăng thêm vẻ huyền ảo của tự nhiên, thuận lợi cho việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch leo núi và trồng các loại cây có nguồn gốc ôn đới
Trang 37Lượng mưa trung bình năm trên dưới 2.000mm, trong đó vùng đồng bằng ven biển phổ biến là 1.000-1.200mm, còn khu vực huyện Khánh Sơn lại lên tới 2.400mm Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và tập trung đến 70- 80% lượng mưa cả năm Ở khu vực Nha Trang mùa mưa chỉ kéo dài trong 2 tháng, các tháng còn lại nắng ấm, rất thuận lợi để kéo dài mùa du lịch
Những đặc điểm khí hậu, thời tiết Khánh Hòa rất thuận lợi cho tham quan du lịch biển, nhất là từ tháng 1 đến tháng 8; ánh sáng nhiều là điều kiện tốt cho cây cối sinh trưởng nói riêng và phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung Song cũng cần chú
ý đến các hiện tượng bất lợi như lũ lụt về mùa mưa, khô hạn về mùa khô, gió Tây nóng và gió Tu Bông ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, đặc biệt vào mùa trổ bông, ra hoa của cây trồng
2 Phân vùng khí hậu
Theo tài liệu đặc điểm khí hậu, thuỷ văn tỉnh Khánh Hoà (Sở Khoa học và Công nghệ, 2004), toàn tỉnh Khánh Hoà được phân thành 3 vùng khí hậu thuỷ văn chính như sau:
- Vùng I: Vùng khí hậu ven biển Vùng này bao gồm các đảo, bán đảo mà đại diện tiêu biểu về các đặc trưng khí hậu của vùng này là quần đảo Trường Sa
- Vùng II: Khí hậu vùng đồng bằng và ven biển xen kẽ đồi, núi thấp
Đây là vùng địa hình cao dưới 20 m, tương đối bằng phẳng, xen kẽ gò đồi và núi Lớp phủ thực vật chủ yếu là lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rừng trồng và cây phân tán
Dọc theo phương vĩ tuyến, do vị trí địa lý và địa hình, các đặc trưng khí hậu thuỷ văn có khác biệt tương đối nên vùng này được chia ra thành 3 tiểu vùng khí hậu chính
+ Tiểu vùng khí hậu Vạn Ninh - Ninh Hoà
+ Tiểu vùng khí hậu Diên Khánh - Nha Trang
+ Tiểu vùng khí hậu Cam Ranh
- Vùng III: Khí hậu vùng núi
Đây là vùng núi cao trên 200 m, độ dốc lớn, lớp phủ thực vật chủ yếu là rừng và đồi trọc Do điều kiện phía Bắc và phía Nam có sự khác biệt, vùng này cũng được chia thành 02 tiểu vùng khí hậu chính
Trang 38+ Tiểu vùng vòng cung núi phía Bắc: Là giới hạn phía Bắc của tỉnh, phân định bởi
đường đỉnh của dãy núi Vọng Phu - Đèo Cả, mà cũng chính là nơi phát sinh gió Tu Bông
+ Tiểu vùng vòng cung núi phía Tây Nam: Đặc trưng cơ bản vùng này có thể
xem như ranh giới giữa vùng có mùa mưa chính vào thời kỳ gió mùa mùa Hè và mùa mưa chính vào thời kỳ đầu gió mùa mùa Đông
Là tỉnh có nền khí hậu tương đối ôn hòa nên có điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch, nhất là du lịch biển Đặc điểm này cũng đồng nghĩa với việc mở rộng và phát triển các khu du lịch, khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng tại Khánh Hòa là rất cần thiết Có thể nói yếu tố khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình sử dụng đất sản xuất kinh doanh hiện tại cũng như định hướng sử dụng đất của tỉnh trong tương lai
3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất
Trong những năm qua ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân Khí hậu trái đất nóng lên đã làm cho thời tiết, khí hậu không còn diễn biến theo quy luật có thể dự báo trước mà luôn diễn ra bất thường không thể lường trước để đối phó được với các hiện tượng khí hậu cực đoan như: bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn gây lũ lụt, nắng nóng gây hạn hán, rét đậm, nước biển đang dâng cao dần lên
Theo dự báo của các nhà khoa học trên thế giới thì các thành quả đã và đang đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên không thể bù đắp được những tổn thất do tác động của biến đổi khí hậu nếu chúng ta không có các hành động hợp tác tích cực và hiệu quả ngay từ bây giờ giữa các nước trên thế giới Về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thì Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới (cùng với Pakistan, Inđônêxia, Ốtxtrâylia, Hà Lan) sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi nước biển dâng cao 0,5-2 m so với hiện nay do biến đổi khí hậu làm trái đất nóng lên (làm tăng cường độ xuất hiện các cơn bão nhiệt đới; gây lụt lội, nước biển dâng cao làm ngập đất canh tác, khu dân cư vùng ven biển và ở 2 đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long; gây nhiễm mặn do nước biển xâm lấn,…) Các cánh rừng tự nhiên cũng như rừng trồng được nhận định đóng vai trò quan trọng trong các biện pháp thích ứng và giảm thiểu thiệt hại từ biến đổi khí hậu
Đối với tỉnh Khánh Hoà thì biến đổi khí hậu đã gây ra hạn hán năm 2005 và lũ lụt năm 2009 và lớn nhất là mùa mưa năm 2010 Từ ngày 29/10 đến 04/11/2010 (7
Trang 39ngày): Từ Bình Định đến Ninh Thuận đã có mưa lớn trên 150-200 mm/ngày đã gây ra lụt lội nghiêm trọng tại tỉnh Khánh Hoà Đường tàu hoả và Quốc lộ 1A (viết tắt là QL1A) bị ngập làm giao thông bị gián đoạn: Ngập 2 km trên QL1A tại xã Cam Thành Bắc (Cam Lâm), xã Cam Tân, thị trấn Cam Đức, xã Cam Thịnh Đông; ngập đoạn đường sắt vào thành phố Nha Trang Lũ lụt đã gây sạt lở đất làm ách tắc tuyến giao thông Nha Trang đi sân bay Cam Ranh và Tỉnh lộ 2 Khánh Hoà đi Đà Lạt , Phần lớn thành phố Nha Trang, huyện Diên Khánh, huyện Cam Lâm, thị xã Ninh Hoà, huyện Vạn Ninh bị ngập sâu 1-2m, đặc biệt các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Thái, Phước Đồng, khu vực phía Tây phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, nhà dân bị ngập sâu khoảng 1,0 - 1,2 \m, đồng ruộng bị ngập sâu 1,5 - 2,5m; đường giao thông nông thôn ngập sâu
từ 0,8 - 1,0m,…; gây hư hỏng đường giao thông, các công trình thuỷ lợi; gây thiệt hại lớn về sản xuất nông nghiệp, tài sản và đời sống của nhân dân
Cuối tháng 3/2011 mưa trái mùa và thời tiết lạnh đã diễn ra trên diện rộng dải ven biển tỉnh Khánh Hoà, điều mà trước đây hầu như không có đã làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ đông xuân
Hiện nay các vùng đất trồng lúa nước vùng đồng bằng ven biển của tỉnh có độ cao dưới 1,0m so với mặt nước biển như các xã: Ninh Giang, Ninh Hòa (Thị xã Ninh Hòa) Các vùng đất nuôi trồng thuỷ sản ven biển có độ cao 1,0-1,5m so với mặt nước biển Một số khu dân cư ven biển, ven cửa sông Cái Nha Trang có độ cao 1,5-2,0m so với mặt nước biển Còn đại bộ phận diện tích đất trồng lúa nước vùng đồng bằng và khu dân cư đều có độ cao trên 2 m so với mặt biển
Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng lớn đến việc nuôi trồng thủy sản của tỉnh theo hướng hẹp dần do nước bị nhiễm mặn khi nước biển dâng và điều kiện sống thích nghi
bị thay đổi Môi trường sống thay đổi trong đó nhiệt độ, độ mặn gia tăng sẽ ảnh hưởng mạnh mẻ đến đời sống thủy sinh theo hướng thu hẹp, giảm sản lượng làm cho hoạt động đánh bắt thủy hải sản khó khăn, nguồn sống của người dân nghèo bị suy giảm Ngoài ra, biến đổi khí hậu và gia tăng nhiệt độ tạo điều kiện cho mực nước biển nâng dần lên, đẩy quá trình xâm nhập mặn sâu vào nội địa Việc xâm nhập mặn đã làm biến đổi hệ sinh thái vùng vốn ổn định nhiều năm trước đây và kết quả là ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư
Như vậy trong 10-20 năm tới nếu nước biển dâng cao thêm khoảng 0,12-0,17m thì mức độ ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà cũng không bị ảnh hưởng lớn Tuy nhiên, từ dự báo mực nước biển dâng như vậy, để
Trang 40việc sử dụng đất có hiệu quả, bền vững, không bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu sau này thì chúng ta phải có chiến lược đầu tư thích hợp ngay từ hôm nay Cụ thể:
- Khi thi công xây dựng các khu dân cư mới và các công trình công cộng trên địa bàn tỉnh phải đổ đất san nền ở mức +3,0m so với mặt biển để tránh ngập sau này
- Các khu vực có thể bị ngập sâu thì có phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp (vùng trồng lúa có địa hình thấp trũng thì chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản), vùng đang nuôi trồng thuỷ sản thì xây dựng đê, kè ven biển, nâng cao bờ ao nuôi tôm,
- Bảo vệ tài nguyên rừng hiện có và đẩy mạnh công tác trồng mới và khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên để tăng độ che phủ, cải tạo khí hậu, điều tiết dòng chảy mùa mưa để hạn chế ngập lụt; nhất là trồng phục hồi lại rừng ngập mặn ven biển Ninh Hoà, Vạn Ninh
- Xây dựng hệ thống thoát nước các đô thị mới và cải tạo các đô thị cũ để hạn chế ngập lụt trong mùa mưa lũ
- Xây dựng các hồ chứa nước và xây dựng kế hoạch xả lũ cho sát với tình hình thực tế của từng năm
Điều đó cho thấy sự biến đổi khí hậu đã có ảnh hưởng lớn đến đất nước ta, đến vùng Duyên hải Nam trung Bộ, trong đó có tỉnh Khánh Hoà Vì vậy để hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thì mọi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để hạn chế sự nóng lên của trái đất Đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hoà nói riêng thì vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng vẫn là biện pháp quan trọng hàng đầu để hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất và đời sống Tỉnh Khánh Hoà đã có kế hoạch chi 11 tỷ đồng cho kế hoạch 2011-2015 để điều tra, nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất và đời sống trên toàn tỉnh, nhất là vùng ven biển
2.1.4 Thủy văn, thủy triều
Dãy Trường Sơn thuộc địa phận Khánh Hòa chạy gần sát biển Do vậy các sông suối chảy qua tỉnh đều ngắn và dốc Mặt khác ở vùng núi cao có lượng mưa lớn nên đã tạo ra một mạng lưới sông khá phong phú Khánh Hòa có 3 hệ thống sông lớn, đó là: sông Cái Nha Trang, sông Cái Ninh Hoà, sông Tô Hạp và hàng chục sông suối nhỏ độc lập Nhìn chung mạng lưới sông ngòi tương đối dày đặc nhưng phân bố không đều, vùng núi cao có mật độ lưới sông dày khoảng 1 km/km2, vùng thấp và đồng bằng