Lý do chọn đề tài Trong quá trình đổi mới hội nhập quốc tế việc nâng cao vị trí, vai trò và năng lực của con người nói chung và của phụ nữ trong hoạt động quản lý nói riêng ngày càng
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG CHÍNH 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1.Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Các khái niệm công cụ 13
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng 14
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng nhân dân cách mạng Lào về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ 19
1.2 Tình hình kinh tế xã hội Lào những năm gần đây và cơ cấu tổ chức của Bô ̣ Lao đô ̣ng và Phúc lợi xã hô ̣i nước CHDCND Lào 30
1.2.1 Khái quát chung về nước CHDCND Lào 30
1.2.2 Vài nét về cơ cấu bộ máy tổ chức Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào 32
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 35
2.1 Thực trạng đội ngũ nữ cán bộ quản lý 35
2.1.1 Cơ cấu số lượng, độ tuổi, trình độ 35
2.1.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ nữ cán bộ quản lý 36
2.2 Thực trạng vai trò của đội ngũ nữ cán bộ quản lý 37
2.2.1 Những đóng góp của nữ cán bộ quản lý 37
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của đội ngũ nữ cán bộ quản lý 42
2.2.3 Những chức vụ đảm nhiệm của nữ cán bộ trong bộ máy quản lý 44
2.2.4 Vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý phát triển nhân lực 47 2.2.5 Đánh giá mức độ hoàn thành công việc của cán bộ nữ 49
2.2.6 Đánh giá mức độ hài lòng chức vụ của cán bộ nữ 53
2.2.7.Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong hoạt động quản lý phát triển nguồn nhân lực 56
Trang 2CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
59
3.1 Quy định độ tuổi nghỉ hưu đối với đội ngũ nữ cán bộ quản lý 59
3.2 Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng 62
3.3 Nâng cao nhận thức về giới 67
3.4 Cơ hội tham gia trong bộ máy quản lý nhà nước 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
KẾT LUẬN 78
KHUYẾN NGHỊ 80
Trang 3DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 2.1 Đánh giá về số lượng cán bộ nữ tham gia bộ máy quản lý 38 Biểu đồ 2.2 Đánh giá về sự tham gia của cán bộ nữ trong việc đóng góp ý kiến cho
cơ quan 39 Biểu đồ 2.3 Đánh giá vai trò của cán bộ nữ khi tham gia công tác quản lý tại cơ quan 47 Biểu đồ 2.4 Đánh giá về sự phân công công việc giữa cán bộ nam và cán bộ nữ trong
cơ quan 50
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tương quan số lượng cán bộ nữ tham gia bộ máy quản lý tại cơ quan phân
theo độ tuổi 40
Bảng 2.2 Tương quan đóng góp chính khi tham gia hoạt động quản lý tại cơ quan theo giới tính 41
Bảng 2.3 Tương quan lĩnh vực quản lý theo giới tính 43
Bảng 2.4 Tương quan chức vụ theo giới tính 44
Bảng 2.5 Tương quan chức vụ theo Độ tuổi 46
Bảng 2.6 Tương quan đánh giá vai trò của cán bộ nữ tham gia công tác quản lý theo trình độ học vấn 49
Bảng 2.7 Đánh giá về mức độ được bày tỏ quan điểm, chia sẻ ý kiến của cán bộ nữ trong cơ quan 51
Bảng 2.8 Tương quan hiệu quả công việc của cán bộ nữ tham gia bộ máy quản lý tại cơ quan theo giới tính 52
Bảng 2.9 Tương quan mức độ hài lòng về vai trò, vị trí, tiếng nói của bản thân trong cơ quan theo giới tính 54
Bảng 2.10 Tương quan mức độ hài lòng vai trò, vị trí, tiếng nói của bản thân trong cơ quan theo giới tính 55
Bảng 2.11 Những yếu tố tác động đến sự tham gia của cán bộ nữ trong các hoạt động quản lý 56
Bảng 3.1 Những biện pháp cần tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ trong bộ máy quản lý 59
Bảng 3.2 Những chính sách nhằm phát triển đội ngũ cán bộ nữ trong bộ máy quản lý 63
Bảng 3.3 Đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới trong công tác quản lý tại cơ quan làm việc 67
Bảng 3.4 Hiệu quả từ việc thực hiện công tác bình đẳng giới trong quản lý 69
Bảng 3.5 Những biện pháp giúp nâng cao vai trò, vị thế của cán bộ nữ trong bộ máy quản lý 73
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới hội nhập quốc tế việc nâng cao vị trí, vai trò và năng lực của con người nói chung và của phụ nữ trong hoạt động quản lý nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết vì việc phát triển nguồn nhân lực
là yếu tố đặc trưng của sự phát triển xã hội
Phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới và có vai trò quan trọng trong từng bước phát triển của xã hội loài người Phụ nữ vừa có thiên chức làm vợ, làm mẹ,
là lao động chính trong gia đình, tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước Song ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở các quốc gia kém và đang phát triển, phụ nữ rất
ít khi được tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước Chính vì vậy, phụ nữ chưa thật sự được phát huy hết năng lực của mình và phấn đấu để thể hiện được
sự bình đẳng với nam giới Đây là mục tiêu chung của toàn thể phụ nữ trên thể giới Với 51% dân số cả nước, phụ nữ Lào đã có những đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công lao đó đã được Đảng, Nhà nước và lịch sử ghi nhận, đó là: người mẹ hiền; người vợ trung hậu, đảm đang; những người lao động cần cù, năng động, sáng tạo; là người chiến sĩ anh hùng, trung kiên bất khuất, người hoạt động xã hội tận tụy, kiên nhẫn, tài năng, là người tạo dựng và gìn giữ tổ ấm gia đình
Ngày nay đất nước Lào đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, điều này đòi hỏi toàn dân phải
nỗ lực phấn đấu đem hết tài năng và sức lực phục vụ Tổ quốc và đòi hỏi bộ máy nhà nước phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả Muốn vậy, phải có một đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học giỏi; có phẩm chất chính trị vững vàng, năng động sáng tạo; có khả năng hội nhập cao Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ là yêu cầu sống còn của mọi cơ quan, tổ chức nhà nước và là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và chính phủ Lào
Trang 6Vấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước Lào đã xác định đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ công chức lãnh đạo, quản lý nói chung; cán bộ công chức nữ nói riêng trong Bộ lao động và phúc lợi xã hội Lào còn nhiều bất cập về năng lực lãnh đạo, quản lý Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ nữ cũng gắn với công tác cán bộ chung của Đảng và được khẳng định trong Đại hội Đảng VII, VIII “Chúng ta phải coi trọng công tác xây dựng và nâng cao năng lực cán bộ và đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng cán bộ lãnh đạo cấp cao, cán bộ nữ và dân tộc có đủ trình độ năng lực, sức khỏe, tinh thần để có thể tham gia và các lĩnh vực ngày càng tăng lên” Trong rất nhiều chính sách của mình, Đảng và Nhà nước cũng đã rất quan tâm đến công tác vận động và phát triển phụ nữ nói chung và cán bộ, công chức nữ nói riêng
Song với rất nhiều nguyên nhân, vai trò và vị trí của phụ nữ vẫn chưa được đánh giá đúng mức Điều này, thể hiện ở số lượng cán bộ, công chức nữ làm việc trong cơ quan nhà nước còn ít Đặc biệt, là số lượng phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo nhất là các cương vị cao còn rất ít Điều đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do năng lực lãnh đạo, quản lý của các cán bộ nữ trong
Bộ lao động và phúc lợi xã hội còn chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Với mong muốn nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm đánh giá vai trò hoạt động quản lý của đội ngũ cán bộ công chức
nữ, đặc biệt là năng lực của công chức lãnh đạo nữ, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Các công trình khoa học ở Lào
Do tầm quan trọng của vấn đề cán bộ, cán bộ phụ nữ và công tác cán bộ trong thời kỳ mới, cho đến nay việc nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ
Trang 7của Đảng và Nhà nước Lào nói chung và đội ngũ cán bộ nữ đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau đặc biệt quan tâm
On-Kẹo Phôm-Ma-Kon (Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Đảng Nhân
dân Cách mạng Lào) (2012), “Đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng và
hệ thống chính trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào”, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp nhà nước “Xây dựng Đảng cầm quyền trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam và Lào”.Tác giả đã làm rõ 3 vấn đề như: Vị trí, vai trò của việc đổi mới, kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Lào; Thực trạng đổi mới, kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức và hệ thống chính trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Lào; ĐNDCM Lào đã quan tâm củng cố kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước và sắp xếp bố trí cán bộ ở cấp trung ương một cách hợp lý theo hướng tinh gọn và
có quy chế quản lý theo ngành
Ních khăm, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội liên hiệp phụ nữ ở CHDCND Lào”, Hà Nội, 2003 Tác giả nêu lên một số quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin về cán bộ và công tác cán bộ các cấp Một số kinh nghiệm
về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội Liên hiệp phụ nữ ở CHDCND Lào: Cấp uỷ Đảng các cấp phải gắn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, từng ngành; Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa công tác cán bộ nữ và công tác của Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp để tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Hội đạt kết quả
Bun-lư Sổm-sắc-đi,“Cán bộ chủ chốt cấp tỉnh khu vực phía Bắc của nước Cộng hào Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay”,(2004) Tác giả đã
nêu những vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh khu vực phía Bắc Lào, đồng thời nêu ra những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm bổ ích Tác giả đã đề xuất 6 giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh khu vực
Trang 8phía Bắc Lào trong thời kỳ mới
Đệt-ta-kon Phi-la-phăn-đệt, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, ngành ở thành phố Viêng Chăn trong giai đoạn cách mạng hiện nay”,
(2004) Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các ban, ngành ở thành phố Viêng Chăn CHDCND Lào
Văn-xay Xay-nha-bắt, "Nâng cao chất lượng xây dựng cán bộ ở Thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn hiện nay",(2011).Tác giả đã phân tích những vấn đề
lý luận và thực tiễn về cán bộ; Làm sáng tỏ những luận cứ khoa học về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Tác giả đã đánh giá ưu điểm, kết quả, những khuyết điểm, đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng việc xây dựng đội ngũ cán bộ ở Thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn hiện nay
U bun - Ma ha xay (2010), “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức”, Tạp chí Lý luận chính trị - Hành chính quốc gia Lào, (số 4)
Tác giả đã phân tích tình hìnhđội ngũ cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế yếu kém về trình độ mọi mặt, năng lực tư duy, phong cách làm việc thủ công, mang nặng dấu ấn của người sản xuất tự túc, tự cấp Đồng thời, chỉ ra những hạn chế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, quản lý và tuyển chọn, cán bộ, công chức
2.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong cuốn “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của hai tác
giả Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Cuốn sách đã luận giải sâu sắc cơ sở lý luận của xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đưa ra và phân tích rõ những kinh nghiện xây dựng tiêu chuẩn cán
bộ của Đảng cộng sản Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng, trong đó nhấn mạnh những tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, sự trung thành với Đảng, sự nghiệp cách mạng và với nhân dân, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực tổ chức thực tiễn
Trang 9Đỗ Minh Cường,“Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, (2009) Nội dung của cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề:
sự cần thiết của công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong công tác cán
bộ nói chung; các yêu cầu và quan điểm đối với công tác quy hoạch cán bộ, nói riêng Quy hoạch cán bộ có vai trò trong công tác cán bộ, xây dựng Đảng vững mạnh; quy hoạch cán bộ là để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ đáp ứng yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ của Đảng
Nhiều cuộc hội thảo khoa học ở các Trung tâm nghiên cứu đã đi vào các
khía cạnh khác nhau về vai trò của phụ nữ như những công trình: “Gia đình, người phụ nữ và giáo dục gia đình”(1993); “Đánh giá sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985-1995” (1995) Những công trình trên đã chỉ ra thực trạng vai trò của phụ
nữ trong gia đình, ngoài xã hội ở nước ta, nêu lên những kiến nghị nhằm thay đổi và bổ sung những chính sách xã hội đối với phụ nữ để họ có điều kiện phát huy hết vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về vai trò của phụ nữ
trong gia đình như:“Phụ nữ giới và phát triển”(1996) của tác giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng;“Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam” (1998) của Giáo sư Lê Thi; “Luận cứ về khoa học cho việc đổi mới chính sách
xã hội đối với phụ nữ và gia đình” do Phó giáo sư Trần Thị Vân Anh làm chủ
nhiệm Tất cả những công trình trên đều phản ánh những thay đổi về vai trò của phụ nữ trong gia đình và bước đầu đã có một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong công cuộc đổi mới
Chu Thị Thoa, “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay”(2002)
Lê Ngọc Hùng,“Học thuyết Mác - Lênin về phụ nữ và liên hệ với thực tiễn hiện nay ở nước ta”(2002)
Đó là những tác phẩm, luận văn, luận án bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ và gia đình theo phương pháp tiếp cận giới - một phương pháp nghiên cứu mới mẻ nhưng lại rất hiệu quả Các công trình nghiên cứu kể trên là những tư liệu tham khảo hết sức quan trọng giúp tôi hoàn thành đề
tài luận văn
Trang 10Về vai trò của cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ cũng được nhiều người quan tâm nghiên cứu
Ngô Thị Ngọc Anh, Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1975 - 1995 trong việc thực hiện chính sách cán bộ nữ, Hà Nội, 1995
Trịnh Thanh Tâm, Xây dựng đội ngã cán bộ chủ chốt là nữ hệ thống chính trị xã ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay,(2012 Tác giả đã đưa ra khái
niệm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ hệ thống chính trị xã ở đồng bằng sông Hồng của Việt Nam; đánh giá thực trạng việc xây dựng đội ngũ cán bộ và chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm bổ ích Từ đó, đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ hệ thống chính trị xã
ở đồng bằng sông Hồng của Việt Nam đến năm 2020
Từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới ở Lào đến nay, hầu như mọi Nghị quyết Đại hội Đảng, các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đều đề cập đến xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng Đặc biệt là Nghị quyết 7 (khóa V) 1994 của BCHTW về phát triển nhân lực, Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác cán bộ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tháng 8 năm 1995 đã đề ra phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ công tác cán
bộ đến năm 2000 Tuy nhiên, ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ mới được đề cập chủ yếu trong các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là trong các văn kiện Đại hội IV,V,VI,VII và trong bài phát biểu của các lãnh tụ Đảng, Nhà nước và trong nội dung của các Hội nghị công tác tổ chức cán
bộ đều có tổng kết, đánh giá và có chủ trương ở mức độ này hay mức độ khác về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng Trong thực
tế, vấn đề này còn rất mới mẻ, chưa được nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện
và có rất ít công trình lý luận nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung
và cán bộ nữ nói riêng
Đối với chuyên ngành xã hội học, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý cũng như năng lực của những cán bộ công chức này Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài trên để nghiên cứu
Trang 113 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Qua nghiên cứu đề tài “Vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý tại
Bộ lao động và phúc lợi xã hội”, tác giả vận dụng một số lý thuyết xã hội học để nghiên cứu vai trò của nữ cán bộ quản lý tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội, trong đó đi sâu nghiên cứu về nữ cán bộ quản lý phát triển nhân lực Đánh giá và phân tích để đưa ra những luận cứ khoa học nhằm phản ánh đúng thực tiễn vấn
đề Qua nghiên cứu góp phần đem lại cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước về vai trò của phụ nữ, bình đẳng giới
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu những vấn đề về giới, bình đẳng giới trong xã hội được nhiều tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt quan tâm thực hiện Kết quả của những công trình nghiên cứu này cho thấy, việc tham gia vào những hoạt động quản lý trong bộ máy nhà nước của phụ nữ có tác động rất lớn đối với quyền bình đẳng giới, vai trò và vị thế của phụ nữ trong xã hội hiện nay
Tuy nhiên, với đề tài này tác giả muốn đi sâu tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu về khía cạnh vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý tại Bộ lao động
và phúc lợi xã hội Lào và làm sáng tỏ những vai trò của phụ nữ đối với bộ máy quản lý trong Bộ lao động và phúc lợi xã hội từ đó phát huy những tác động tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực… nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, tạo môi trường thich ứng cho phụ nữ phát huy năng lực bản thân
Đưa ra những đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hơn nữa vị thế, vai trò của người phụ nữ trong việc tham gia bộ máy quản lý trong tương lai và góp phần tạo nên sự bình đẳng giới trong cơ quan Bô ̣ Lao đô ̣ng và Phúc lợi nói riêng, trong hê ̣ thống Bô ̣ máy quản lý Nhà nước Lào nói chung
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò và năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ công chức nữ tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào trong sự nghiệp đổi mới
Trang 12Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo và quản lý của cán bộ nữ
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát về đất nước CHDCND Lào và khái quát về bộ máy tổ chức tại
Bộ lao động và phúc lợi xã hội
Đánh giá về thực trạng về hoạt động quản lý của phụ nữ tại Bộ lao động
và phúc lợi xã hội hiện nay và các yếu tố cấu thành năng lực quản lý của cán bộ công chức
Xác định các tiêu chí đánh giá vai trò và năng lực quản lý của đội ngũ cán
bộ công chức nữ
Tìm hiểu những thách thức và những nhân tố rào cản của phụ nữ trong quá trình tham gia hoạt động quản lý tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội Từ đó, đề ra các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý của phụ nữ trong thời kỳ mới
5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào
5.3.3 Nội dung nghiên cứu: Vai trò của nữ cán bộ trong hoạt động quản
lý phát triển nguồn nhân lực tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào
6 Câu hỏi nghiên cứu
Vai trò của phụ nữ trong hoạt động quản lý tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội hiện nay được đánh giá như thế nào?
Trang 13Những định kiến giới đối với phụ nữ trong hoạt động quản lý tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội như thế nào? Nếu có thì nó có ảnh hưởng đến việc phát huy vị trí, vai trò của phụ nữ ra sao?
7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
Chưa có sự đánh giá đúng vai trò của cán bộ nữ trong hoạt động quản lý
Nữ cán bộ quản lý có mặc cảm về vị thế phụ nữ của mình, họ còn có những định kiến giới thiếu tính tích cực về vị trí, vai trò của chính mình
Xu hướng trong thời gian tới vai trò của cán bộ phụ nữ ngày càng được cải thiện hơn
Vai trò thực hiện luật bình đẳng giới
Vai trò tham gia xây dựng chính sách bồi dưỡng,đào tạo cán bộ nữ
Vai trò trong việc tham gia quyết vấn đề phát triển nguồn nhân lực
Vai trò của nữ cán bộ quản lý
Bộ lao động và phúc lợi xã hội
Giải pháp nâng cao vai trò trong hoạt động
quản lý của đội ngũ nữ cán bộ
Trang 14Biến độc lập: Vai trò của nữ cán bộ quản lý
Biến phụ thuộc:
Dự án phát triển nguồn nhân lực
Thực hiện luật bình đẳng giới
Tham gia xây dựng chính sách bồi dưỡng,đào tạo cán bộ nữ
Tham gia quyết vấn đề phát triển nguồn nhân lực
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
Lý luận và phương pháp luận được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của luận văn để nhận thức các sự kiện, các hiện tượng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các hiện tượng, vấn đề và sự kiện khi xem xét hoàn toàn không theo ý chủ quan hay áp đặt của con người mà được đặt trong những quy luật vận động và phát triển của thực tiễn Điều này có nghĩa là tất cả các vấn đề các hiện tượng đều phải xem xét trong mối liên hệ biện chứng, phụ thuộc, tác động qua lại với nhau, chi phối ảnh hưởng lẫn nhau Đồng thời phải đứng trên quan điểm toàn diện Nghĩa là vấn đề này được đặt trong bối cảnh của sự phát triển, những biến đổi kinh tế - xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể Mà ở đây là quá trình đô thị hóa đã tác động và dẫn đến những
biến đổi nhanh chóng trong đời sống kinh tế - xã hội
Vận dụng phương pháp luận để lý giải vai trò cũng như nâng cao năng lực quản lý của nữ cán bộ trong hoạt động quản lý, hoàn thiện bộ máy cơ cấu tổ chức
Đồng thời phản ánh sự công bằng hay phân biệt về giới trong cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan Bộ lao động và phúc lợi xã hội nói riêng
8.2 Phương pháp định tính
8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác bồi dưỡng và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của nữ cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước, vai trò của phụ nữ trong việc tham gia
Trang 15hoạt động quản lý Kết hợp với các phương pháp phân tích, so sánh, lôgic và tổng kết thực tiễn, hệ thống hóa, khảo sát thực tế để đưa ra kiến nghị và giải pháp Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã có trong nước và ngoài nước có liên quan làm sáng tỏ vấn đề mà mục đích nghiên cứu đã đề ra
8.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 10 đối tượng tại Bộ lao động và phúc lợi xã
hội Trong đó tiến hành phỏng vấn 5 người là nam giới và 5 người là nữ giới để tìm hiểu thực trạng vai trò tham gia hoạt động quản lý của nữ cán bộ trong cơ quan Mặt khác xem xét những yếu tố cấu thành năng lực quản lý và những đánh giá của họ về các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nữ
8.2.3 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp được tiến hành trong quá trình phỏng vấn bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu, thông qua quan sát để xác định vai trò thực tế có đúng với câu trả lời của họ hay không Quan sát về những thay đổi trong hoạt động quản lý hàng ngày trong cơ quan; đạo đức, cách ứng xử với đồng nghiệp; giúp
đỡ, chia sẻ công việc hàng ngày; hiệu quả công việc trong ngày Những thông tin thu được từ quan sát sẽ bổ sung làm tăng thêm độ chính xác của thông tin
trong quá trình nghiên cứu
8.3 Phương pháp định lượng
8.3.1 Phương pháp chọn mẫu
Đề tài thu thập thông tin định lượng bằng bảng hỏi với 120 phiếu hỏi Trong đó số phiếu dành cho nam giới là 60 phiếu và 60 phiếu dành cho nữ giới trong Bộ lao động và phúc lợi xã hội
Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Đó là cách chọn sao cho mọi phần tử của tổng thể đều có cơ hội được lựa chọn như nhau Đây là phương pháp chọn mẫu bằng cách rút thăm lấy ngẫu nhiên một đơn vị đầu tiên sau đó các đơn vị tiếp theo được chọn theo hệ thống Áp dụng công
Trang 16thức chọn mẫu ngẫu nhiên K = N/n, trong đó k là khoảng cách trên danh sách các phần tử được chọn, N là kích thước của tổng thể, n là dung lượng mẫu
8.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin gồm 28 câu hỏi
dành cho đối tượng là nam giới và nữ giới Nội dung bảng hỏi hướng đến những thông tin về cơ hội đào tạo, bồi dưỡng; quy định tuổi nghỉ hưu; năng lực quản lý; những đóng góp của đội ngũ nữ cán bộ; định kiến giới, sự phân công lao động; văn hóa truyền thống và những chính sách nhằm nâng cao năng lực quản
lý của đội nhũ nữ cán bộ
Trang 17NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1.1 Khái niệm vị thế, vai trò
Merton mở rộng khái niệm vị thế - vai trò của Ralph Linton Theo quan niệm của Linton, vị thế là vị trí trong cấu trúc xã hội với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng, và vai trò là kiểu hành vi hướng tới sự mong đợi của người khác Nhưng trong khi Linton cho rằng mỗi một vị thế có có một vai trò tương ứng, thì Merton quan niệm rằng một vị thế có nhiều vai trò mà ông gọi là hệ vai
trò [Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội 2011, tr247-248]
1.1.1.2 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ quản lý trong xã hội học dùng để chỉ một loại tương tác xã hội trong đó các chủ thể hành động bị chi phối lẫn nhau bởi mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt vị trí xã hội Khi ta nói đến khái niệm quản lý nói chung là ta muốn đề cập tới một chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt động thực hiện một chương trình và một mục đích của hoạt động đã được ý thức hóa của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hoặc một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý
Quản lý chính là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra [Vũ
Hào Quang, Xã hội học Quản lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr17]
1.1.1.3 Khái niệm phúc lợi xã hội
Phúc lợi xã hội hiểu theo nghĩa rộng, là hệ thống các định chế, các chính sách và các hoạt động nhằm đảm bảo đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của
người dân, với mục tiêu là làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống
đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người Hệ thống này bao gồm
Trang 18các lĩnh vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các
chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn…) và các
chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, dịch bệnh…) - [Trần Hữu Quang,
Tạp chí Khoa học xã hội số 04(128), 2009]
1.1.1.4 khái niệm giới
Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và
phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam
giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có
thể thay đổi được 1.1.1.5.Khái niệm bình đằng giới
Theo Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới
được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và
có điều kiện đóng góp và thụ hưởng những thành quả phát triển của quốc gia
trên các mặt chính tri, kinh tế, xã hội và văn hóa
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng
1.1.2.1 Lý thuyết cấu chúc - chức năng
Cho đến nay, thuyết cơ cấu chức năng vẫn có thể được coi là một trong
những học thuyết lớn nhất trong xã hội học Nó được khơi nguồn từ cuối thế kỷ
XIX, thịnh hành trong suốt thế kỷ XX và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ xã
hội học hiện đại Đại diện của thuyết chức năng là: Auguste Comte, Emile
Durkheim, Talcott Parsons
Lý thuyết này nhìn xã hội như một hệ thống hoàn chỉnh các quan hệ qua
lại giữa các bộ phận, mỗi bộ phận có thể liên quan tới bộ phận khác Luận điểm
cơ bản của lý thuyết cấu trúc - chức năng là xem xã hội như một cơ thể sống của
con người bao gồm quan hệ giữa các tổ chức khác nhau Mỗi một bộ phận, một
tổ chức xã hội thực hiện một chức năng riêng, tuy nhiên đều hướng đến việc
thực hiện chức năng chung của cả hệ thống
Để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phân tích cấu trúc -
chức năng của nó tức là chỉ ra các thành phần cấu thành (cấu trúc) và các cơ chế
hoạt động (chức năng) của chúng
Trang 19Mọi cấu trúc về mặt văn hóa - xã hội đã được chuẩn hóa đều có những chức năng phù hợp
Lý thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội
Lý thuyết cấu trúc - chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn nằm trong cấu trúc nhất định, mặc dù các cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng xử trong một tình huống cụ thể Những sự lựa chọn của họ được cơ cấu hoá thành
mô hình hoặc được bỏ qua bởi xã hội
Lý thuyết cấu trúc chức năng đề cập tới toàn bộ những vấn đề xã hội, cơ cấu xã hội, tương tác xã hội, sự kiện xã hội… và mỗi một bộ phận đều đảm nhận những chức năng khác nhau và có mối liên giữa các bộ phận đó trong việc thực hiện những mục đích chung
Quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đì là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong gia đình và góp phần ổn định xã hội Quan điểm cấu trúc - chức năng nhấn mạnh sự ổn định và hài hòa của gia đình Và chính sự ổn định của gia đình góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội [25, tr 159] Khi vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng để nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong bộ máy quản lý nhà nước tại Bộ lao động và phúc lợi nước CHDCND Lào để thấy được phụ nữ có vai trò như thế nào trong bộ máy quản
lý, như kỹ năng trong quản lý; năng lực quản lý của họ; chức năng, quyền và và nhiệm vụ của nữ cán bộ so với nam giới trong cơ quan; đóng góp của họ trong việc ổn định cơ cấu tổ chức, vấn đề bình đẳng giới hiện nay
1.1.2.2 Lý thuyết nữ quyền
Nếu như lý thuyết chức năng coi gia đình là một thiết chế phổ biến, một đơn vị thống nhất, hài hòa, có chung lợi ích và đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, thì chủ nghĩa nữ quyền coi gia đình là thiết chế trung tâm của áp bức giới Gia đình
là nơi con người với những hoạt động và quyền lợi khác nhau trong quá trình tương tác sẽ tiến tới xung đột, mâu thuẫn với nhau Gia đình cũng không phải là
Trang 20một yếu tố tự nhiên mang tính chất sinh học có tính phổ biến mà là kết quả của quan hệ xã hội và hoàn toàn có thể thay đổi
Chủ nghĩa nữ quyền bắt đầu từ sự nhận thức về sự áp bức bóc lột phụ nữ trong xã hội, cũng giống như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa nữ quyền không coi sự
áp bức bóc lột phụ nữ là sản phẩm của cá nhân hay sự khác biệt về sinh học giữa phụ nữ và nam giới mà là sản phẩm thuộc về cơ cấu xã hội
Theo các nhà nữ quyền, gia đình là nơi tập trung chủ yếu nhất của sự áp bức phụ nữ, do đó, gia đình cũng là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc cách mạng về giới Phân tích nữ quyền về sự áp bức bóc lột phụ nữ trong gia đình thể hiện ở ba lĩnh vực chính: phân công lao động theo giới trong gia đình, quyền quyết định trong gia đình và bạo lực giới trong gia đình
Cùng với sự phân tích mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa phụ nữ
và nam giới trong xã hội bắt nguồn từ phân công lao động theo giới, từ trật tự của chế độ gia trưởng, sự phân tích nữ quyền về mặt trái của cuộc sống gia đình tập trung vào bạo lực thể chất của đàn ông chống lại phụ nữ trong gia đình, với
tư cách là hậu quả của mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng
Theo cách giải thích nữ quyền, bạo lực của đàn ông có nguồn gốc từ tư tưởng nam trị - họ thiếu sự hiểu biết xác thực về cuộc sống của người phụ nữ, và trong một số trường hợp họ không tính đến hậu quả đối với người phụ nữ vô tội
mà bạo lực gây ra cho họ Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về bạo lực của đàn ông, song các nhà nữ quyền đều đi đến kết luận rằng bạo lực của đàn ông đối với phụ nữ có nguồn gốc từ mối quan hệ xã hội có tính chất gia trưởng Việc áp dụng thuyết nữ quyền vào nghiên cứu bình đẳng giới hiện nay là rất cần thiết Xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh thì quyền bình đẳng giới cần phải được vận dụng ngay vào trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày Dần xóa bỏ
tư tưởng trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng độc đoán từ gia đình đến xã hội Tạo môi trường binh đẳng cho phụ nữ phát triển và hoàn thiện bản thân Phụ nữ cần được tôn trọng hơn và có quyền được tham gia, đóng góp và được hưởng những nhu cầu của xã hội ngang bằng với nam giới Phụ nữ cần được tạo
Trang 21điều kiện hơn trong việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, tạo điều kiện cho họ được tham gia nhiều hơn vào các cơ quan công quyền đề họ phát huy khả năng của họ, cống hiến trí tuệ cho xã hội
1.1.2.3 Lý thuyết, vai trò
Một vai trò, như là động lực đưa những địa vị vào cuộc sống Như Ralph Linton(1936) nói, chúng ta chiếm giữ các địa vị, nhưng chúng ta đóng các vai trò Vai trò và địa vị không thể tách rời nhau, và sự phân biệt chúng chỉ là trong nhận thức khoa học Không thể có vai trò mà không có địa vị và ngược lại
Các nhà xã hội học đã vay mượn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả các vai trò ảnh hưởng như thế nào trong đời sống xã hội Giống như các nghệ sĩ trên sân khấu, tất cả chúng ta đóng các vai trò trong cuộc sống hàng ngày của chúng
ta Gắn với mỗi vai trò là một kịch bản mà nó nói với chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với người khác và họ tương tác trở lại với chúng ta ra sao?
Một vai trò đem lại khía cạnh động lực của một địa vị Cũng như trong trường hợp của địa vị, thuật ngữ vai trò được sử dụng với một nghĩa kép Mỗi một cá nhân có một loại vai trò, được đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự Trong tiến trình cuộc đời, mỗi cá nhân thực hiện một
số những vai trò khác nhau, lần lượt hoặc đồng thời, và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của anh ta đã thực hiện từ khi sinh ra cho đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của anh ta
Một vai trò là một các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị
Thực hiện vai trò Một vai trò là những hành vi được trông đợi mà chúng
ta tạo thành với một địa vị Thực hiện vai trò là những hành vi thực tế của một
cá nhân đang chiếm giữ một địa vị Trong đời sống thực tế, thường tồn tại một khoảng cách giữa những cái mà con người sẽ làm và cái mà họ thực sự làm Và, người ta không giống nhau trong việc họ thực hiện các quyền và các nghĩa vụ được tạo nên với nhũng vai trò của họ
Trang 22Một địa vị có thể có nhiều vai trò, tạo thành một tập hợp vai trò Ví dụ, địa
vị của người sinh viên liên quan đến một vai trò như một học sinh, một vai trò như là một người bạn cùng lớp với các sinh viên khác, một vai trò là người đọc sách cửa thư viện.v.v…
Xung đột Vai trò Xung đột vai trò là kết quả khi các cá nhân đương diện
với những trông đợi mâu thuẫn phát sinh do cùng lúc chiếm giữ hai hay nhiều hơn hai địa vị Khi một cá nhân tham gia nhiều nhóm xã hội khác nhau, họ phải đáp ứng những mong đợi của những nhóm đó Nhưng nhiều khi những trông đợi đó xung đột nhau về lợi ích Đôi khi, xung đột cũng có thể xảy ra trong một vai trò, khi những biểu hiện các hành động của vai trò không theo cùng một hướng
Căng thẳng vai trò Căng thẳng vai trò xuất hiện khi các cá nhân nhận
thấy những trông đợi của một vai trò không thích hợp, do vậy họ có khó khăn trong việc thực hiện vai trò đó Nhất là những vai trò mà được nhiều người có liên quan mong đợi, kỳ vọng, và đòi hỏi quá nhiều ở vai trò mà cá nhân đang đóng Để đáp ứng lại sự kỳ vọng đó, cá nhân luôn ở trong trạng thái căng thẳng, phải nỗ lực cao trong quá trình thực thi vai trò
Trong hoạt động quản lý, địa vị xã hội giữ vai trò quan trọng đối với mỗi
cá nhân trong một tổ chức Nói đến địa vị xã hội người ta nói đến địa vị chung
của một cá nhân trong con mắt của cộng đồng và của xã hội Một cá nhân trong
xã hội thường chiếm nhiều vị trí và đóng nhiều vai trò trong những tổ chức xã hội khác nhau, do đó vị thế gắn với họ cũng theo nhiều cách khác nhau Có thể nói địa vị xã hội của một cá nhân là phức hợp của tất cả các loại vị thế gán cho, đạt được nếu xét từ góc độ chung nhất
Trong quá trình hoạt động thường thường địa vị được gắn với một vị trí cụ thể mà cá nhân chiếm giữ trong một tổ chức nào đó Tuy nhiên, ở vị trí cụ thể
đó cá nhân nhận được những ảnh hưởng nhất định có thể là tích cực có thể là tiêu cực của các loại địa vị khác mà cá nhân chiếm giữ trong những tổ chức xã hội khác nhau Ví dụ giám đốc một nhà bang chuyển sang làm chủ tịch hội đồng
Trang 23quản trị của một trường đại học, hiệu trưởng của một trường đại học đồng thời kiêm chức chủ nhiệm khoa, khi đó địa vị giám đốc có ảnh hưởng tích cực đến cương vị chủ tịch hội đồng quản trị nếu uy tín giám đốc của nhà bang được khẳng định, trong trường hợp này, uy tín của ông giám đốc nhà bang được xem như địa vị tiềm ẩn Địa vị tiềm ẩn có ảnh hưởng đển địa vị tích cực theo những
mự độ khác nhau Tóm lại những khái niệm về địa vị tích cực và địa vị tiềm
ẩn được sử dụng để làm sáng tỏ mối quan hệ độc lập và phụ thuộc của các cương vị mà cá nhân chiếm giữ trong các tổ chức trong hệ thống xã hội
Vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu về thực trạng vai trò trong công tác quản lý của đội ngũ nữ cán bộ trong Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào; phân tích các yếu tố, các tiêu chí cấu thành nên những vai trò Thông qua đó đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ nữ cán bộ; đánh giá việc thực hiện các vai trò trong hoạt động quản lý; những xung đột, căng thẳng vai trò trong chính bản thân nữ cán bộ công chức trong công tác quản lý; đưa ra những chính sách phù hợp nhằm năng cao chất lượng trong công tác quản lý đối với nữ cán bộ hiện nay
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng nhân dân cách mạng Lào về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ
1.1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán
bộ nữ
Chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao vai trò, vị trí và khả năng của phụ nữ
và cán bộ nữ Theo các nhà kinh điển thì trong lịch sử nhân loại không có một phong trào nào của những người bị áp bức mà lại không có phụ nữ tham gia, bởi vì phụ nữ lao động là những người bị cùng khổ nhất trong tất cả những người bị
áp bức, nên không bao giờ họ đứng ngoài và không thể đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng chính bản thân họ Trong thời kỳ công xã, thời nô lệ hay trong chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa, phụ nữ sát cánh cùng nam giới chiến đấu để đánh đổ giai cấp bóc lột.Từ thực tiễn lao động
đó Lênin đã khái quát:
Trang 24“Không còn nghi ngờ gì nữa, ở nước ta, những tổ chức đó đã trở nên ngày càng nhiều hơn và bắt đầu thay đổi tính chất Không còn nghi ngờ gì nữa, trong giới phụ nữ công nông, số người tổ chức có tài, tức là những người biết tổ chức công việc một cách thực tiễn làm cho một số lớn người lao động và một số lớn hơn nữa những người tiêu dùng tham gia vào đó, mà không phải tốn nhiều lời, không bận rộn túi bụi, không tranh cãi, không ba hoa về kế hoạch, về hệ thống tức là những mắc phải những bệnh mà những "nhà trí thức" tự phụ một cách lố lăng, hoặc những "người cộng sản" non nớt vẫn thường mắc phải, số người như thế đã có nhiều hơn con số mà chúng ta đã biết, nhưng chúng ta chưa chăm sóc đúng mức những mầm mống đó của cái mới” [6, tr.28- 29]
Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết cách mạng và khoa học, đứng trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mới tìm ra nguyên nhân đích thực của sự bất bình đẳng nam nữ, thấy được lực lượng và điều kiện cụ thể cùng với những biện pháp hiệu quả để giải phóng phụ
nữ Mỗi bước chuyển của lịch sử xây dựng, mỗi nấc thang tiến bộ của nhân loại đều in đậm công lao của phụ nữ, cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng của xã hội, vì
sự phát triển của nhân loại C.Mác lấy mức độ giải phóng phụ nữ để làm một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trình độ văn minh của nhân loại, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn trong bài Phụ nữ quốc tế: "xem tư tưởng và việc làm của đàn bà, con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào" [13, tr.288]
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học cũng đã chỉ ra điều kiện, biện pháp để giải phóng phụ nữ Xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng quyền lợi
về kinh tế, Ăngghen đã khẳng định: "Sự nghiệp giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có được và mãi mãi không thể có được, chừng nào mà phụ nữ vẫn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất xã hội và còn phải bị
bó hẹp trong công việc riêng tư của gia đình" [8, tr.506]
Lênin, người học trò xuất sắc của Mác - Ăngghen, đã kế tục và phát triển những quan điểm cách mạng của Mác - Ăngghen về vai trò của phụ nữ trong điều kiện giai cấpvô sản đã có chính quyền Người đã viết nhiều, nói nhiều về
Trang 25phụ nữ và đã thực hành giải phóng phụ nữ ngay trên đất nước Nga Xô viết Lênin đã vạch ra bản chất của chủ nghĩatư bản trong giai đoạn tột cùng của nó là đã chứa đựng biết bao hiện tượng nghèo nàn, bị bóc lột và bị áp bức Chế độ tư bản giống các chế độ nông nô là ở chỗ đều là kẻ bóc lột, mặc dầu hình thức bóc lột có khác nhau Trong tất cả các nước văn minh, ngay cả những nước tiên tiến nhất, phụ nữ vẫn ở vào địa vị mà người ta gọi đúng là nô lệ gia đình
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), chính quyền Xô viết được thành lập, Lênin đã chỉ rõ nhiệm vụ của chính quyền Xô viết là phải xóa
bỏ sự hạn chế quyền lợi của người phụ nữ, thu hút lực lượng phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội, tham gia công việc quản lý nhà nước Đây là cuộc cách mạng phải trải qua quá trình đấu tranh lâu dài và khó khăn, không thể dễ dàng
và ảo tưởng Lãnh tụ Lênin vạch rõ:
“Mặc dù có mọi luật lệ giải phóng, nhưng phụ nữ vẫn còn là nô lệ trong gia đình vì những công việc nội trợ còn đè nặng lên lưng họ, làm cho họ nghẹt thở,
mụ mẫm, nhọc nhằn, ràng buộc họ vào bếp núc, vào con cái, lãng phí sức khỏe của họvào công việc cực kỳ không cần thiết, làm cho họ đần độn, bị gò bó Chỉ
có chủ nghĩa xã hội mới có thể cứu giúp phụ nữ thoát ra khỏi tình trạng đó Chỉ chừng nào chúng ta chuyển từ nền kinh tế nhỏ lên nền kinh tế công cộng và chế
độ canh tác chung, thì phụ nữ mới có thể hoàn toàn giải thoát và giải phóng triệt
để được” [3,tr.26]
Lực lượng phụ nữ là một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng Coi giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, đó là một trong những điểm để phân biệt cuộc cách mạng vô sản với các cuộc cách mạng xã hội khác Lênin cho rằng:
“Chừng nào mà phụ nữ không những chưa được tự do tham gia đời sống chính trị nói chung mà cũng chưa được quyền gánh vác một công việc thường xuyên và chung cho cả mọi người, thì chừng ấy không những chưa nói đến chủ nghĩa xã hội được, mà cũng chưa thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ toàn vẹn và bền vững được” [3, tr.73-74]
Trang 26Lênin đã phát triển một cách sáng tạo quan điểm của Mác - Ăngghen về giải phóng phụ nữ trong điều kiện giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia lãnh đạo nhà nước và quản lý xã hội Khi điều kiện cho phép, Lênin đã đề ra và thực hành nhiều biện pháp hữu hiệu để đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao trình độ cho phụ nữ có
đủ khả năng tham gia quản lý nhà nước Lênin cho rằng ngày nay đã có chính quyền công nông thì việc giáo dục chính trị cho phụ nữ lao động có một tầm quan trọng hàng đầu Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao ngày càng có nhiều công nhân tham gia vào việc quản lý nhà nước Trong khi tham gia quản lý phụ
nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp nam giới
Học thuyết Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng đã chỉ ra nguyên nhân kinh tế của bất bình đẳng nam nữ mà biểu hiện đầu tiên là sự phân biệt đối xử giữa đàn ông với đàn bà; từ đó lên án, phê phán quan điểm phong kiến và tư sản đối với phụ nữ Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một quá trình gắn liền với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ
ra những điều kiện để giải phóng phụ nữ:
Một là, sự phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại cùng với sự nghiệp
cách mạng giải phóng giai cấp công nhân
Hai là, đưa phụ nữ tham gia lao động sản xuất, có khả năng độc lập về
kinh tế, có đóng góp về kinh tế chung trong gia đình và xã hội
Ba là, phụ nữ biết làm việc nước, tham gia các hoạt động xã hội và trực
tiếp tham gia quản lý nhà nước
● Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán
bộ nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề phụ nữ và cán bộ nữ Người đã đánh giá đúng vai trò và khả năng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Phụ nữ là những người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên trong gia đình và nuôi dậy
Trang 27những mầm non của đất nước Ngoài ra, phụ nữ còn có khả năng và trên thực tế đã trực tiếp đóng góp nhiều công sức xây dựng và bảo vệ đất nước
Địa vị kinh tế, chính trị, xã hội quy định quyền bình đẳng của phụ nữ Vì vậy, điều căn bản có ý nghĩa quyết định cho sự bình đẳng của phụ nữ là phải giải phóng sức lao động của phụ nữ, tạo điều kiện để chị em tham gia lao động sản xuất, quản lý kinh tế, tham gia công tác xã hội cùng với nam giới Người nghiêm khắc phê bình thái độ thành kiến, hẹp hòi của cán bộ lãnh đạo các cấp trong việc đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ Tại Hội nghị cán bộ cao cấp Trung ương năm 1966, Người căn dặn: "Đặc biệt phải chú ý cất nhắc cán bộ phụ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, nhất là các ngành hoạt động thích hợp với phụ nữ" [12, tr.21]
Người cho rằng phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cũng làm tốt không thua kém gì nam giới Cán bộ nữ hoàn toàn có đầy đủ tinh thần và khả năng tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp với phong trào chung Đặc biệt cán bộ
nữ có tác dụng trực tiếp rất mạnh đối với việc phát triển và thúc đẩy phong trào phụ nữ Muốn có phong trào phụ nữ thì phải có cán bộ nữ Ngược lại, phong trào phụ nữ phát triển nhanh hay chậm, thành quả đến mức độ nào là do cán bộ đóng vai trò quyết định Cán bộ nữ là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng phụ
nữ là những người tiên phong của phong trào phụ nữ, người thiết tha nhất với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Muốn giáo dục động viên phụ nữ phải có đội ngũ cán
bộ nữ tốt và giỏi
Đối với cán bộ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tình cảm đặc biệt, sự bao dung, độ lượng và chăm chút thương yêu Người không dừng lại ở sự cảm thông, thương xót số phận của người phụ nữ, mà đã tìm ra căn nguyên của sự bất bình đẳng đối với người phụ nữ, chỉ ra biện pháp để giải phóng người phụ
nữ Theo Người, giải phóng phụ nữ phải được thực hiện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng đem lại những quyền lợi vật chất, tinh thần đồng thời mở ra tương lai phát triển tốt đẹp cho chị em phụ nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn các cấp ủy đảng các ngành khi giao công việc cho phụ nữ phải căn cứ vào trình độ của từng người và hết sức
Trang 28giúp đỡ họ Người cho rằng việc chị em phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo các cấp, các ngành là nhiệm vụ Đảng phải quan tâm thường xuyên và đó cũng là biểu hiện cụ thể của ý thức, trình độ và năng lực thực hiện nam nữ bình đẳng về chính trị và xã hội
Trên cơ sở đánh giá đúng vai trò và khả năng của phụ nữ trong gia đình
và ngoài xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ Chính Người đã mạnh dạn cất nhắc đề bạt cán bộ nữ vào sử dụng đúng sở trường và khả năng cán bộ nữ
Theo Người, muốn giải phóng phụ nữ một cách triệt để thì ngoài việc mang đến cho họ những quyền lợi và sự bình đẳng với nam giới cần phải đào tạo và bồi dưỡng họ trở thành những cán bộ giỏi có ích cho đất nước Vì vậy, phải mạnh dạn cất nhắc, đề bạt cán bộ nữ Nếu có cất nhắc phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ Quan điểm của Người là tăng cường cán bộ nữ và đưa phụ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, không phải là bênh vực chị em mà là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn lịch sử của cách mạng và từ chính khả năng, năng lực của cán bộ nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng vào khả năng to lớn của phụ nữ, mạnh dạn cất nhắc và đề bạt cán bộ nữ, bởi vì Người nhận thấy cán bộ nữ có nhiều ưu điểm là "ít mắc bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, không hay chè chén như một
số cán bộ nam" [11, tr.165], đồng thời Người cũng chỉ ra những khuyết điểm của chị em cần khắc phục đó là hay có thái độ tự ti, ỷ lại, ngại đấu tranh phê và
tự phê bình Người khuyên chị em phải tự lực tự cường vươn lên, bản thân chị
em phải cố gắng tranh thủ thời gian để học tập chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, cần kiệm xây dựng gia đình và làm tốt các công việc được giao Chỉ có như vậy Đảng và Chính phủ mới sẵn sàng cất nhắc và giao cho những nhiệm vụ quan trọng
Đây là quan điểm đúng trong việc sử dụng bố trí cán bộ nữ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Người coi trọng việc phát huy ưu điểm của cán bộ nữ, những ưu điểm đó xuất phát từ đặc điểm tâm lý, bản chất tốt đẹp của phụ nữ là cẩn thận,
Trang 29chu đáo, tiết kiệm trong tiêu dùng và có quan điểm quần chúng, gần gũi và hòa mình với phong trào quần chúng Bố trí cán bộ nữ vào những vị trí, chức vụ phù hợp với khả năng thì chị em phụ nữ có điều kiện để phát huy và phát triển hết năng lực của mình
Người luôn luôn gắn liền đội ngũ cán bộ nữ với phong trào phụ nữ Người sớm xác định giải phóng phụ nữ, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ là một mục tiêu của cách mạng Trong sự nghiệp cách mạng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng là phải động viên thu hút được toàn bộ lực lượng và tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội cùng tham gia góp sức thì cách mạng mới thắng lợi được Bởi vì, cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng hoàn toàn mới, khác hẳn về chất so với các cuộc cách mạng trước nó Mục đích là xóa bỏ hoàn toàn và triệt để mọi áp bức bóc lột, do đó càng phải thu hút lực lượng phụ nữ
Đây là tư tưởng vừa thể hiện sự kế thừa, vừa phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, còn thể hiện quan điểm nhân đạo và quan điểm kinh tế - xã hội đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ xuất phát từ tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa mà còn xuất phát từ một niềm tin vững chắc vào tinh thần yêu nước và khả năng lao động sáng tạo và những phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Theo quan điểm của Người, nguyên nhân gây ra nỗi khổ cực của phụ nữ Việt Nam cũng như phụ nữ trên thế giới là do ách áp bức giai cấp và nô dịch dân tộc
Từ đó Người đã vạch ra con đường giải phóng phụ nữ, đó là con đường tham gia cách mạng để đánh đổ ách áp bức bóc lột Khi đất nước đã giành được độc lập dân tộc, phụ nữ đã thoát khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân, cách mạng phải bắt tay ngay vào xây dựng cuộc sống mới, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân Hồ Chí Minh còn chỉ ra những điều kiện chủ yếu để giải phóng phụ nữ Điều kiện
Trang 30đó không chỉ là phát triển của văn hóa, giáo dục mà phải thu hút phụ nữ, giúp
đỡ họ tham gia vào các tổ chức kinh tế, lao động sản xuất có ích Phụ nữ phải được giải phóng khỏi lao động bếp núc gia đình, phụ nữ phải trở thành lực lượng lao động của toàn xã hội
Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là một nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà chính trị kiệt xuất đã tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp giải phóng phụ nữ và xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ nữ Người đã thu phục, động viên được cả phong trào phụ nữ to lớn và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà
Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện một
cách nhất quán vị trí, vai trò của phụ nữ và đội ngũ cán bộ nữ trong các giai đoạn lịch sử của Đảng, đặc biệt là giai đoạn Đảng cầm quyền
Đảng với tư cách là lãnh tụ chính trị và là đội tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, trước hết phải đề ra được chủ trương, nghị quyết, đường lối chính trị đúng đắn Để làm được việc đó, Đảng phải có những đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí thức và kinh nghiệm, có đạo đức cách mạng, nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể
1.1.3.2 Quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ
Năm 1975, sau khi hoàn toàn giải phóng đất nước trong điều kiện mới với những đòi hỏi mới của nhiệm vụ cách mạng, Đảng NDCM Lào tiếp tục phát huy truyền thống đã có, luôn chăm lo công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ nữ, coi đây là vấn đề mấu chốt là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ nước CHDCND Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phụ nữ là một lực lượng xã hội rộng lớn, đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực xã hội Vì vậy, sự nghiệp vận động phụ nữ là nhiệm vụ, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, là công tác có tầm chiến lược của cách mạng
Trang 31Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, các nguồn lực phải được huy động tối đa, đặc biệt nguồn lực con người Cán bộ nữ là bộ phận quan trọng của nguồn lực ấy Quan điểm đầu tiên của Đảng trong chiến lược cán bộ là phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới mà xây dựng đội ngũ cán bộ Đội ngũ cán bộ nữ của Lào còn nhỏ bé, chưa ngang tầm nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế thị trường
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (11-1986) đã mở ra thời kỳ mới cho cả dân tộc Đổi mới đồng bộ, toàn diện để xây dựng đất nước Lào độc lập, hòa bình, dân chủ, thống nhất, phồn vinh Phân tích tình hình kinh tế xã hội, Đảng NDCM Lào cho rằng những sai lầm trong lãnh đạo kinh tế xã hội bắt đầu từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng tổ chức và công tác cán
bộ của Đảng Trong công tác tổ chức, khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ chậm đổi mới công tác cán bộ Từ sự đánh giá như vậy, Đảng NDCM Lào cho rằng "Nói đến đổi mới công tác cán bộ, điều quan trọng là phải đổi mới quan điểm đánh giá, lựa chọn và bố trí cán bộ, để trên cơ sở đó mà đánh giá lại cán bộ một cách có hệ thống, lựa chọn cán bộ một cách công minh, bố trí cán bộ một cách đúng đắn, hợp lý"(1)
Đại hội IV của Đảng NDCM Lào đã nêu rõ tình trạng cán bộ nữ: "Hiện nay tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ các dân tộc thiểu số còn tương đối thấp trong các cơ quan lãnh đạo các cấp, các ngành Vì vậy chúng ta vừa phải tích cực bồi dưỡng, đào tạo, vừa phải vận dụng tiêu chuẩn cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể trong việcbố trí cán bộ nữ và cán bộ các dân tộc Mặt khác, cán bộ nữ, cán bộ các dân tộc phải phấn đấu vươn lên làm tròn nhiệm vụ được giao"(2)
Năm 1986, nhất là từ sau Nghị quyết 5 khóa IV và sau đó là Nghị quyết 7 khóa V "về phát triển nguồn lực ở CHDCND Lào" (1994), công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng được đặc biệt quan tâm, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ nữ
Trang 32Trong giai đoạn hiện nay, giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một mục tiêu của cách mạng Lào, có ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến sự phát triển của đất nước Vì vậy, bồi dưỡng lực lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm
lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ Đồng thời, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ là một yêu cầu quan trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và phát triển toàn diện người phụ nữ Trong những năm qua, cơ cấu đội ngũ cán bộ nữ cán bộ lao động và cán bộ quản lý ở CHDCND Lào đã từng bước hoàn thiện, phát triển hợp lý Trên thực tế, đội ngũ cán bộ nữ
ở Lào đang làm công tác lãnh đạo và quản lý đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Nhiều chị đã đảm nhận và làm tốt cương vị lãnh đạo trong tổ chức Hội Phụ nữ các cấp của mình cũng như ở các tổ chức quần chúng và tổ chức xã hội khác Hiện nay trên toàn quốc ở CHDCND Lào số cán bộ công chức nữ chiếm 38,8% trong tổng số cán bộ Do có sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ Lào, của bản thân chị em phụ nữ đã góp phần to lớn trong hoạt động của phong trào, trong tổ chức xã hội khác và trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của Đảng NDCM Lào Chị em phụ nữ đã kề vai sát cánh cùng với nam giới cống hiến cả trí tuệ và sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, "nhiều chị em đã được Đảng và ban chỉ huy tặng danh hiệu là nữ anh hùng chiếm 24,46% tổng số anh hùng dân tộc và danh hiệu chiến sĩ thi đua xuất sắc chiếm 2,81% "(3)
Công tác phát triển đảng viên nữ cũng được các cấp ủy đảng quan tâm, tỷ lệ đảng viên nữ được kết nạp ở các cơ quan từ Trung ương đến địa phương ngày càng tăng Nhiệm kỳ 1986 - 1991 là 8,3%; nhiệm kỳ 1991 -
1996 là 9,6%; nhiệm kỳ 1991-2001 là 12,6% và từ giai đoạn năm 2001 - 2004 là 13,6% Đây là nguồn quan trọng để quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ nữ Đổi mới công tác cán bộ của Đảng nói chung và cơ cấu đội ngũ cán
bộ nữ ở CHDCND Lào là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay Bởi vì thời đại ngày nay là thời đại cách mạng khoa học, công nghệ, thời đại bùng nổ thông tin, đứng trước yêu cầu đó đội ngũ cán bộ nữ ở CHDCND Lào nhất thiết cần
Trang 33phải có trí thức, có trình độ, trí tụê, năng lực để tổ chức lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Nếu không thì không thể lãnh đạo tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách có hiệu quả.Cán bộ nữ có trình độ văn hóa thấp nhất là cấp hai, cao nhất là trình độ đại học Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
tỷ lệ cán bộ nữ được cấp: tiến sĩ hoặc tương đương 10,1%; trên thạc sĩ là 3,2%; thạc sĩ hoặc tương đương 20%; cử nhân chuyên sâu là 26,5%; cử nhân hoặc tương đương 32,8%; cao đẳng 30,7%; trung cấp là 42,1%; sơ cấp 43,1%; không
có chuyên môn chiếm 30,4%.Trong công cuộc đổi mới của Đảng đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh
tế, tạo sự chuyển biến tích cực về xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng
an ninh được củng cố, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện Phong trào phụ nữ nói chung và công tác cán bộ nữ nói riêng cũng thu được những thành tựu quan trọng Đối với CHDCND Lào, công tác cán bộ nữ từ khi đổi mới cũng thu được kết quả đáng khích lệ Tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IV (năm 2001) Đảng NDCM Lào đã đánh giá cao vai trò và sự đóng góp của phụ nữ rằng: "Hội Liên hiệp phụ nữ, cũng như tổ chức của phụ nữ các cấp đã
cố gắng nhiều trong việc giáo dục chị em cùng nhau giữ gìn bảo tồn văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chống lại hiện tượng tiêu cực, lối sống trái với phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Lào Đồng thời các đồng chí cũng cố gắng chuyển công việc của mình xuống cơ sở, đưa nhiều công trình xuống tổ chức thực hiện tốt ở các bản làng, cơ sở sản xuất cả ở nông thôn và thành
4 thị, đó cũng là sự đóng góp phát triển phụ nữ cũng như dân làng ở nhiều cơ sở, địa phương, vừa đào tạo được một số chị em phụ nữ trở thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp Đảng và Chính phủ đánh giá cao thành tích và sự đóng góp trên và coi đây là sự đóng góp quan trọng không thể thiếu được trong thành tích chung của sự nghiệp cách mạng của đất nước ta"(4) Sự đánh giá như vậy đã khẳng định sự tin cậy của Đảng và Chính phủ đối với Hội Liên hiệp phụ nữ, là niềm tự hào và nguồn động viên rất lớn đối với đội ngũ cán bộ nữ ở CHDCND
Trang 34Lào.Thông qua phong trào thi đua "3 tốt" của Hội Liên hiệp phụ nữ Lào, "công dân tốt, phát triển tốt, xây dựng gia đình văn hóa tốt" đã đem lại quyền lợi thiết thực cho phụ nữ cũng như cho đất nước Đó là việc thực hiện quyền bình đẳng nam - nữ trên thực tế, là đóng góp đáng khen thưởng vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược bảo vệ và xây dựng đất nước cũng như sự nghiệp đổi mới của đất nước
1.2 Tình hình kinh tế xã hội Lào những năm gần đây và cơ cấu tổ chức của
Bô ̣ Lao đô ̣ng và Phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào
1.2.1 Khái quát chung về nước CHDCND Lào
Là một quốc gia không giáp biển duy nhất tại Đông Nam Á Lào tiếp giáp với nước Myanma và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây Lào còn được gọi là “đất nước Triệu Voi” hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là Tiếng Lào
Theo Cục Thống kê Lào, năm 2009, tổng dân số của nước này là 6.127.910 người, xếp thứ 105 trong tổng số 206 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Dân số Lào đang tăng nhanh, và, nếu với tốc độ như hiện nay, dân số Lào
sẽ tăng gấp đôi trong khoảng 28 - 30 năm tới: Mật độ dân số ở Lào thấp, chỉ có
Thực tế cho thấy, khả năng hoạt động kinh tế, nói chung, chỉ gắn với bộ phận dân số có đủ sức khỏe và trí tuệ, trong một khoảng tuổi nhất định, thường tính từ 15 đến 64 tuổi Số dân có khả năng hoạt động kinh tế của Lào tăng mạnh
và nhanh hơn mức tăng của tổng dân số nói chung Đây là một lợi thế của Lào trong quá trình phát triển Hơn nữa, dân số Lào có thể bước vào giai đoạn có “cơ cấu vàng” (tỷ số phụ thuộc từ 50 trở xuống hay 2 lao động/1 phụ thuộc) trong khoảng 20 năm nữa, nếu thực hiện phương án mức sinh giảm nhanh
Để đánh giá “chất lượng dân số”, người ta thường sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) Để tính HDI, người ta dựa vào các chỉ tiêu: Tuổi thọ
Trang 35trung bình; tỷ lệ biết chữ; tỷ lệ nhập học chung và GDP bình quân đầu người Theo đó, có thể thấy chất lượng dân số và nguồn nhân lực của Lào có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, tuổi thọ trung bình của người dân Lào tăng nhanh nhưng vẫn còn
lên tới 59 tuổi Đối với nữ, các con số tương ứng là 52 và 63 Như vậy, chỉ sau 10 năm, tuổi thọ của nam giới tăng thêm 9 năm, còn tuổi của nữ giới tăng thêm tới
11 năm Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình của dân số Lào vẫn ở mức thấp, cụ thể là, tuổi thọ của cả nam và nữ đều xếp thứ 154/206 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Ở nhiều tỉnh, chỉ tiêu này đặc biệt thấp, như Xê-kông: 54 tuổi, A-ta-pơ: 55
tố ảnh hưởng mạnh đến tuổi thọ trung bình là tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR)
và tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi còn khá cao Trên phạm vi toàn quốc, vào năm
2005, các tỷ lệ tương ứng là 70‰ và 97,6‰ Ở nhiều tỉnh như Xê-kông, A-ta-pơ, Sa-ra-van, Khăm-muội, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi lên tới hơn 100‰ Những số liệu trên cho thấy, tình trạng sức khỏe của dân số nói chung cũng như của nguồn nhân lực nói riêng tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa tốt
Thứ hai, hệ thống giáo dục, đào tạo đạt nhiều thành tựu nhưng trình độ
phát triển còn thấp Tỷ lệ mù chữ của nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên mặc dù giảm rất mạnh, từ 30% (năm 1995) giảm xuống còn 20% (năm 2005), nhưng vẫn là mức khá cao Đối với nhóm tuổi trẻ (6 - 19 tuổi), tỷ lệ chưa bao giờ đến trường chiếm khoảng 16,5%; tỷ lệ đang đi học không cao, đặc biệt là nữ Khoảng 2/3 thanh, thiếu niên là nữ ở độ tuổi từ 15 - 19 tuổi đã bỏ học hoặc chưa bao giờ đến trường Tình trạng này dẫn đến chỗ họ lấy chồng, sinh đẻ sớm nên không có hoặc có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp Nhóm dân số 30 - 59 tuổi chiếm 52% dân số trong độ tuổi lao động, nhưng hơn 25% số này chưa bao giờ đến trường và cơ hội học tập của họ trong hệ thống giáo dục hầu như rất thấp (chưa đến 0,5% đang theo học tại các trường) Điều này cho thấy, nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất lớn nhưng khó thực hiện được qua hệ thống giáo dục chính quy
Trang 36Đối với hệ đào tạo chuyên nghiệp, số lượng sinh viên các hệ còn ít và có dấu hiệu ngày càng mất cân đối Năm 2009, có 129.175 học sinh đang được đào tạo chuyên nghiệp, chiếm 9,7% tổng số dân trong độ tuổi 15 - 24 Hệ đại học đang chiếm ưu thế và tăng lên, còn ở các hệ cao đẳng, trung cấp, tỷ lệ học sinh theo học thấp và có dấu hiệu giảm sút Do hệ thống đào tạo chuyên nghiệp chưa phát triển nên tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn khá thấp Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2005, trong số 3.404.043 người từ 15 tuổi trở lên, có 87.091 người có trình độ chuyên môn sơ cấp, chiếm 2,6%; trung cấp: 104.542 người, chiếm 3,1%; đại học: 47.202 người, chiếm: 1,4% và sau đại học: 7.024 người, chiếm: 0,2% Như vậy, chỉ có 7,3% lực lượng lao động ở Lào được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật từ sơ cấp trở lên
Thứ ba, GDP của Lào trong những năm qua tuy tăng mạnh, nhưng Lào
vẫn chưa thoát khỏi nhóm các nước nghèo Dân số Lào chủ yếu sống ở nông thôn Năm 2005, tỷ lệ dân số nông thôn là 72,8%, nhưng tỷ lệ lao động làm nông nghiệp lên tới 78,5% Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật thấp nên năng suất lao động cũng thấp Do vậy, mặc dù kinh tế tăng trưởng liên tục,
GDP bình quân đầu người năm 2009 - 2010 mới đạt khoảng 1.069 USD Năm
2011, Ngân hàng Thế giới (WB) vẫn xếp Lào vào nhóm nước có thu nhập thấp
Do các chỉ tiêu thành phần về sức khỏe, giáo dục và kinh tế còn thấp nên HDI của Lào (theo cách tính mới của Liên hợp quốc áp dụng từ năm 2010) tuy tăng lên không ngừng, nhưng năm 2010 cũng mới chỉ đạt 0,497, xếp thứ 122 trong số 169 nước có số liệu so sánh”(4)
[Trích Tạp chí cộng sản, cơ quan lý
luận và chính trị của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam]
1.2.2 Vài nét về cơ cấu bộ máy tổ chức Bộ lao động và phúc lợi xã hội nước CHDCND Lào
Bộ lao động và phúc lợi xã hội là một cơ quan Trung ương của nước CHDCND Lào, Bộ có nhiệm vụ triển khai và thực hiện chủ trương, đường lối,
Trang 37chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ yếu là thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao tay nghề của người lao động, tạo việc làm cho người lao động, quản lý lao động, thúc đẩy về mặt phúc lợi xã hội, giúp đỡ những trẻ em
mồ côi, những người già không nơi nương tựa, người tàn tật, những người yếu thế có cơ hội hòa nhập với cộng đồng và xã hội.v.v…
Bộ lao động và phúc lợi xã hội tổ chức thực hiện tốt các chính sách đối với những người có công với cách mạng, đất nước; thương binh, bệnh binh, liệt sỹ; cán bộ nghỉ hưu, tàn tật và những người huy sinh vì đất nước
Bộ lao động và phúc lợi xã hội đã được thành lập năm 1993 đến nay đã được 40 năm Từ ngày đó ngành lao động và phúc lợi xã hội đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển tay nghề và tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, đảm bảo an toàn trong lao động, kinh doanh, sản xuất và dịch vụ có thu nhập theo nguyện vọng của người lao động
Bộ lao động và phúc lợi xã hội nằm ở Huyện Chăn Tha Bu Ly, Thủ đô Viêng Chăn
Bộ lao động và phúc lợi xã hội là một khung nằm trong hệ thống bộ máy của chính phủ theo đề nghị của thủ tướng chính phủ
Bộ lao động và phúc lợi xã hội có vai trò tham mưu cho chính phủ về việc quản lý nhà nước về ngành lao động và phúc lợi xã hội toàn đất nước
Cơ cấu tổ chức của Bộ lao động và phúc lợi xã hội:
7 Cục Bảo trợ xã hội
8 Cục Bảo hiểm xã hội
9 Cục Thanh tra
Trang 38Theo thống kê của Cục tổ chức cán bộ ngày 27 tháng 12 năm 2013, ngành lao động và phúc lợi xã hội đã có cán bộ tất cả 1.640 người, nữ 556 người, cấp
Bộ có tất cả 365 người, nữ 147 người, chiếm tỷ lệ 22,27%; Cấp tỉnh 610 người,
nữ 213 người, chiếm tỷ lệ 37,19%; Cấp huyện 665 người, nữ 196 người, chiếm
tỷ lệ 40,54%
Trong đó ở cấp Bộ 147 phụ nữ cán bộ cũng đã có một số phụ nữ cũng đã
có khả năng và kiến thức ngang bằng nam giới trong việc hoạt động quản lý đã thể hiện ra như sau: Bộ trưởng có 1 người; Phó Bộ trưởng có 1 người; Phó Cục trưởng có 11 người; Vụ trưởng có 7 người và Phó Vụ trưởng có 5 người
Trang 39CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 2.1 Thực trạng đội ngũ nữ cán bộ quản lý
2.1.1 Cơ cấu số lượng, độ tuổi, trình độ
2.1.1.1 Cơ cấu số lượng
Tổng số cán bộ tại Bộ lao động và phúc lợi xã hội Lào của năm 2015:
Vụ trưởng
Phó vụ trưởng
Trưởng phòng
Phó trưởng phòng
2.1.1.3 Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
♦ Trình độ chuyên môn
Tổng số
nữ
CBQL
Trình độ chuyên môn
Đánh giá năng lực chuyên
môn
67
Sau đại học
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Giỏi Khá Trung
bình
Trang 40QL nhân viên các phòng ban
QL các
dự
án
QL các nguồn lực
QL quan
hệ đối tác
Tốt Khá Trung
bình
2.1.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ nữ cán bộ quản lý
Trong những năm qua, được sự quan tâm của chính phủ , cùng với sự phát triển của sự nghiệp ngành lao động thương binh và phúc lợi xã hội, đội ngũ nữ cán bộ quản lý ngành lao động thương binh và phúc lợi xã hội đã không ngừng phát triển năm 2010, số nữ cán bộ quản lý là 43 người, đến năm 2015 tăng lên
Tuy nhiên, từ thực trạng này chúng ta thấy vẫn còn có những hạn chế, tồn tại như sau: