Tổng quan về chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa.. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO ĐỔI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHU ÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ C NG NGH
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHU ÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ C NG NGH
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Cao Đàm
Hà Nội, 2016
Trang 3Mục lục
LỜI CẢM ƠN … 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Mẫu khảo sát 8
6 Câu hỏi nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Kết cấu của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHÈ NHỎ VÀ VỪA 11
1.1 Chính sách 11
1.1.1 Khái niệm chính sách 11
1.1.2 Các loại tác động của chính sách 13
1.1.3 Phân loại chính sách 14
1.1.3.1 Phân loại chính sách theo chủ thể ban hành 14
1.1.3.2 Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách 14
1.1.3.3 Phân loại theo tầm hạn của chính sách 14
1.1.3.4 Phân loại theo thời hạn 15
1.1.4 Chính sách tài chính 15
1.1.4.1 Các Quỹ hỗ trợ 15
1.1.4.2 Chính sách tín dụng 20
1.1.4.3 Chính sách thuế 20
1.2 Công nghệ 21
1.2.1 Khái niệm về công nghệ 21
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động công nghệ 22
1.3 Đổi mới công nghệ 22
1.3.1 Khái niệm đổi mới công nghệ 22
1.3.2 Quản lý đổi mới công nghệ 24
1.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 26
1.4.1 Khái niệm DNNVV 26
1.4.2 Vai trò của DNNVV 28
1.4.3 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp NVV 32
1.4.3.1 Tính chất hoạt động kinh doanh 32
1.4.3.2 Về nguồn lực vật chất 32
1.4.3.3 Về năng lực quản lý điều hành 33
1.4.3.4 Về tính phụ thuộc hay bị động 33
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH
CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
CHÈ NHỎ VÀ VỪA 34
2.1 Tổng quan về ngành chè Việt Nam 34
2.1.1 Thị trường trong nước 35
2.1.2 Tình hình xuất khẩu thực tế năm 2012 36
2.1.3 Thị trường thế giới 37
2.2 Tổng quan thực trạng công nghệ và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa 38
2.2.1 Tiêu chí xác định DNNVV 38
2.2.2 Công nghệ và đổi mới công nghệ 39
2.2.3 Thực trạng công nghệ của các DNNVV nói chung và DNNVV ngành chè 51
2.3 Tổng quan về chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa 53
2.3.1 Chính sách tín dụng 53
2.3.2 Chính sách thuế 57
2.4 Thực trạng việc huy động các nguồn vốn từ các Quĩ 60
2.4.1 Các Quỹ liên quan đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và các Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 60
2.4.2 Thực trạng việc huy động các nguồn vốn từ các quỹ 64
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHÈ NHỎ VÀ VỪA TRONG NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 77
3.1 Phân tích những hạn chế trong chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa 77
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp chè 79
3.2.1 Kinh nghiệm nước ngoài về chính sách đổi mới công nghệ 79
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách tài chính hỗ trợ đổi mới công nghệ 85
3.2.2.1 Nghiên cứu kỹ trước khi ban hành chính sách 85
3.2.2.2 Điều chỉnh lại chính sách tín dụng cho doanh nghiệp 86
3.2.2.3 Hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin 87
3.2.2.4 Hỗ trợ nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ trong nước 88
3.2.2.5 Hỗ trợ về chính sách thuế 89
3.2.2.6 Hỗ trợ các DNVVN khai thác nguồn vốn từ các Quĩ hiện có cho hoạt dộng đổi mới công nghệ 89
KẾT LUẬN 94
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, học viên đã có cơ hội tiếp nhận kiến thức và sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Quản lý nói riêng
và các Thầy, Cô giáo trong trường cũng như Ban lãnh đạo nhà trường nói chung
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Cao Đàm – người thầy đã dành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Một lần nữa, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các chuyên gia, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cám ơn
Học viên
Lê Phương
Trang 6DANH MỤC C C T VIẾT TẮT
Bộ KH&CN Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn BVTV Bảo vệ thực vật
CGCN Chuyển giao công nghệ
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
KH&CN Khoa học và Công nghệ
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tƣ
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hội nhập kinh tế thế giới, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển đòi hỏi phải dựa vào công nghệ, phải thực hiện đổi mới công nghệ để có được năng suất và chất lượng sản phẩm có tính cạnh tranh cao Việc ứng dụng
và đổi mới công nghệ là một trong những giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh từ việc giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã, nâng cao mức độ an toàn sản xuất, giảm tác động xấu đến môi trường và góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp.Tuy nhiên việc đổi mới công nghệ còn nhiều khó khăn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất chè Trên thực tế chè là cây công nghiệp thế mạnh của Việt Nam Theo đánh giá của Hiệp hội chè Việt Nam thì nước ta đứng thứ 5 về diện tích và thứ 6 về sản lượng chè trên thế giới nhưng giá chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt khoảng 60-70% giá chè bình quân của thế giới và chất lượng chè Việt Nam chỉ ở mức trung bình trên thế giới Đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia và nhiều khảo sát cho thấy phần lớn các doanh nghiệp sản xuất chè là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần thiết phải đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh không chỉ là trên thị trường quốc
tế mà ngay cả trên thị trường nội địa Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung và ngành chè nói riêng, đồng thời bản thân các doanh nghiệp cũng có nhận thức cần đổi mới để tồn tại trong xu hướng hội nhập quốc tế, trước sức ép cạnh tranh khi nước ta tham gia vào các hiệp định thương mại song phương và đa phương Trên thực tế, các doanh nghiệp sản xuất chè cho đến nay không có nhiều sự đổi mới về công nghệ, ít đầu tư cho khoa học và công nghệ và chất lượng cũng như giá thành của chè Việt Nam ít có sự cải thiện Nguyên nhân thì có nhiều như vấn
đề nhân lực, qui mô sản xuất song vấn đề tài chính là khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới công nghệ Là một người đang
Trang 9công tác tại một công ty sản xuất xuất khẩu chè, với mong muốn tìm ra giải pháp về tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình đổi mới công nghệ nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hướng tới
sự phát triển bền vững và đưa cây chè Việt Nam lên vị trí xứng đáng trên thị
trường thế giới, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “X D N CH NH S CH
T CH NH H TR Đ M C N N H C C DO NH N H P
NH V VỪ TRON N NH CH V T N M (N H ÊN CỨU TR N
H P: CÔNG TY CHÈ Á CHÂU)“
Ý nghĩa lý thuyết của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ
sung cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ tài chính cho DNNVV đổi mới công nghệ
Ý nghĩa thực tế: Thông qua việc phân tích những hạn chế trong chính
sách hỗ trợ tài chính hiện tại từ đó cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà quản lý và các cấp chính quyền trong việc hoạch định chính sách nhằm
hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta, theo khảo sát của Tổng cục thống kê tính đến cuối năm 2011 hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam thuộc loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa Đã có nhiều nghiên cứu, khảo sát về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta
- Năm 2000, đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của tác giả Nguyễn Thị Minh
Hạnh - Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN “Nâng cao hiệu quả một
số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các DN đổi mới công nghệ ” đã
nghiên cứu bất cập trong việc vận hành chính sách thuế và tín dụng hỗ trợ các DN đổi mới công nghệ , phát triển sản xuất Tuy nhiên đề tài mới chỉ
đề cập đến các doanh nghiệp nói chung chưa đi sâu về các doanh nghiệp
có quy mô nhỏ và vừa Tác giả cũng mới nghiên cứu một số chính sách về thuế và tín dụng nhưng chưa đi sâu vào những khó khăn về tài chính của doanh nghiệp trong việc đổi mới công nghệ
Trang 10- GS TS Nguyễn Cúc đã thống kê, phân tích thực trạng các chính sách
hỗ trợ DNVVN, từ đó có đề xuất một số điều kiện để phát triển DNVVN
ở Việt Nam trong nội dung cuốn sách “Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam” ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2000) Đây là một công trình nghiên cứu tập trung về chính sách đề cập đến nhiều vấn đề như chính sách thuế, hỗ trợ tín dụng, chính sách thương mại và có đề cập đến chính sách công nghệ Tuy nhiên trong cuốn sách các tác giả nhấn mạnh đến yếu tố thị trường và sự định hướng của Nhà nước, chưa thực sự đi sâu vào các khó khăn của doanh nghiệp trong việc đổi mới công nghệ
- Năm 2010 tác giả Trương Quang Thông có tác phẩm “Tài trợ tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - một nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh - Hà Nội” Tác giả đã đúc kết những cơ sở lý thuyết khác nhau về các đặc điểm về tổ chức, quản lý của các doanh nghiệp nhỏ và vừa và tài trợ tín dụng của ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đề xuất những gợi ý chính sách phù hợp đối với việc hỗ trợ việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như việc tiếp cận các quan hệ tín dụng Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu vào vấn đề đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp
- Thời gian gần đây nhóm tác giả Vũ Hoàng Nam và Đoàn Quang Hưng của Viện Kinh tế và Thương mại quốc tế (Trường Đại học Ngoại thương) cũng có nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, song các tác giả chú trọng vào vấn
đề đổi mới sản phẩm và đổi mới phương thức marketing
Ngoài ra có nhiều nghiên cứu, khảo sát của các tổ chức và cá nhân về doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung và doanh nghiệp chè nói riêng Tuy vậy các khảo sát và nghiên cứu mới chỉ ra những điểm yếu còn tồn tại của doanh nghiệp, những điểm cần đổi mới nhưng chưa thực sự đi sâu về chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ nâng cao khả năng năng
Trang 11suất lao động và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa
Trong nền kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trong đó đổi mới công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu này được lựa chọn và thực hiện nhằm phân tích những điểm còn hạn chế về chính sách hỗ trợ tài chính và đưa ra những giải pháp khắc phục để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa trong quá trình đổi mới công nghệ
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho việc khắc phục các rào cản về tài chính đang cản trở quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp
sản xuất chè nhỏ và vừa ở Việt Nam
* Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ tài chính cho quá trình đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam Tập trung phân tích các văn bản pháp qui về hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ
và vừa ngành chè nói riêng
- Những vấn đề chung về doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế quốc dân
- Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách hỗ trợ tài chính cho quá trình đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa
- Đưa ra khuyến nghị về giải pháp khắc phục những yếu tố hạn chế trong chính sách hỗ trợ tài chính cho quá trình đổi mới công nghệ trong doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa ở Việt Nam
Trang 12Nghiên cứu trường hợp cụ thể: Công ty TNHH Chè Á Châu
Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành chè
trong khoảng 10 năm trở lại đây
- Phạm vi không gian khảo sát: Nhà máy sản xuất tại Ba Vì, Phú Thọ
của công ty chè Á Châu và một số doanh nghiệp sản xuất chè trên địa bàn hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ
- Phạm vi về nội dung: Tập trung nghiên cứu phân tích những hạn chế
trong chính sách hỗ trợ tài chính gây cản trở quá trình đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa của Việt Nam
5 Mẫu khảo sát
5.1 Khảo sát tại 10 DNNVV trong ngành chè là đối tác của công ty Chè Á Châu về những hạn chế trong chính sách hỗ trợ tài chính cản trở việc đổi mới công nghệ
5.2 Khảo sát những hạn chế về chính sách thuế và tín dụng cản trở việc đổi mới công nghệ tại Công ty TNHH Chè Á Châu,là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chè
6 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo của đề tài là: Cần xây dựng chính sách h
tr tài chính như thế nào để tr giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam đổi mới công nghệ ?
Một số câu hỏi phụ:
- Các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa có tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong qua trình đổi mới công nghệ hay không và quá trình tiếp cận có những thuận lợi, khó khăn gì?
- Các chính sách tài chính hỗ trợ quá trình đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam đặc biệt là chính sách về thuế và tín dụng đã đủ đáp ứng nhu cầu thực tiễn hay chưa?
- Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước có phù hợp và mang lại hiệu quả
cho doanh nghiệp trong hoạt dộng đổi mới công nghệ hay không?
Trang 13- Doanh nghiệp gặp những khó khăn gì khi tiếp cận nguồn tài chính từ
các Quỹ hỗ trợ?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính theo hướng thu hút các nguồn tài chính và đa dạng, linh hoạt trong các phương thức tiếp cận với các Quĩ hỗ trợ và điều chỉnh chính sách thuế, tín dụng s tạo điều kiện thuận lợi, phù hợp thực tiễn để trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam đổi mới công nghệ
- Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều bất cập hoặc chưa thưc
sự phù hợp với doanh nghiệp Nguồn ngân sách Nhà nước không đủ đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp trong quá trình đổi mới công nghệ
- Chính sách thuế và tín dụng hiện tại không đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp đặc biệt là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Các Quỹ hỗ trợ chưa thực sự phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ
8 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Các văn bản pháp qui về tài chính
cho KH&CN, cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Các quy định về điều kiện tiếp cận các ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp theo các văn bản luật Các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Chính phủ, các tài liệu liên quan đến chủ trương, chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng Phân tích những điểm hạn chế, bất hợp lý
Trang 14- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát thực tế ở 10 doanh nghiệp trong ngành chè trên hai địa bàn Phú Thọ và Yên Bái là các doanh nghiệp có quan hệ đối tác với công ty TNHH Chè Á Châu
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thảo luận trao đổi trực tiếp với 20
cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ tài chính là những người liên quan đến hoạt động tài chính, hoạt động đổi mới công nghệ ở 10 doanh nghiệp đối tác
với công ty TNHH Chè Á Châu và tại công ty Chè Á Châu
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho
quá trình đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa
Chương 2 Thực trạng chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công
nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa
Chương 3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ
trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY D NG CHÍNH SÁCH H
TR TÀI CHÍNH CHO QUÁ TRÌNH Đ I MỚI C NG NGH TẠI
DOANH NGHI P SẢN XUẤT CH NHỎ VÀ V A
1.1 Chính sách
1.1.1 Khái niệm chính sách
Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng chú ý là James E Anderson1 đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”
Từ tiếp cận xã hội học, chúng ta có thể hiểu“ chính sách là tập h p biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo l i thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm l i thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới”
Từ tiếp cận tâm lý học, chúng ta có thể hiểu “chính sách là tập h p biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động
cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực”
Từ tiếp cận thiết chế xã hội thì “ chính sách là một thiết chế xã hội, nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị đư c cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, đư c xã hội thừa nhận dưới dạng các điều khoản pháp luật, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội”
Theo tác giả Vũ Cao Đàm2: “Chính sách là một tập h p biện pháp đư c thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm
1 James E Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec 1983)
2 Vũ Cao Đàm: iáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, 2007
Trang 16này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào
đó trong chiến lư c phát triển của một hệ thống xã hội.”
Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường, v.v
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức
(doanh nghiệp, trường học, v.v…)
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, v.v… Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải tác động hướng vào động cơ của các cá nhân và nhóm
xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm về chính sách của tác giả
Vũ Cao Đàm và như vậy khi nói đến chính sách cần phải chú ý đến các yếu tố dưới đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp lý,
Trang 17nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi
- Bản chất của chính sách là sự phân biệt đối xử trong xã hội đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có
sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó là nhóm đóng vai trò tác nhân của mục tiêu phát triển hệ thống
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Một chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội Có một điểm cần lưu ý là nhóm được lợi không nhất thiết lúc nào cũng chiếm số
mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một yếu tố khách quan và chính là cơ sở để suy xét ban hành những chính sách tốt hơn cho quá trình phát triển xã hội
* Tác động âm tính của chính sách:
Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách
Trang 18* Tác động ngoại biên của chính sách:
Tác động ngoại biên của chính sáchlà những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện chính sách.Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính
- Tác động ngoại biên dương tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách
- Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách
1.1.3 Phân loại chính sách
1.1.3.1 Phân loại chính sách theo chủ thể ban hành
Chủ thể nào cũng cần và có thể dưa ra những chính sách phục vụ cho mục tiêu tồn tại và phát triển của mình Chủ thể ở đây có thể được hiểu là một nhà nước, một tỉnh/thành phố, một doanh nghiệp, một nhà trường, một tổ chức xã hội, v.v…
1.1.3.2 Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách
Dù thuộc chủ thể nào, mỗi chính sách đều nhằm vào một hoặc một số mục tiêu Chọn mục tiêu nào là tuỳ yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển của
hệ thống xã hội Ví dụ chính sách thu hút nhân tài cho nghiên cứu khoa học, chính sách kiềm chế lạm phát, chính sách bình ổn giá hàng tiêu dùng…
1.1.3.3 Phân loại theo tầm hạn của chính sách
- Chính sách vĩ mô
Đây là chính sách ở tầm hệ thống lớn, chẳng hạn, chính sách của quốc gia Chính sách vĩ mô có tác dụng tới toàn hệ thống Ví dụ chính sách thuế, chính sách an sinh xã hội
Khái niệm “vĩ mô” và “vi mô” mang ý nghĩa hết sức tương đối Chính sách của quốc gia là vĩ mô còn cấp tỉnh là vi mô khi xem xét ở cấp quốc gia nhưng chính sách của tỉnh là vĩ mô còn chính sách của xã là vi mô khi xem xét ở cấp tỉnh
- Chính sách vi mô
Trang 19Đây là chính sách của các đơn vị cơ sở Thông thường chính sách vi mô nằm trong khuôn khổ của chính sách vĩ mô nhưng chính sách vi mô cũng có tính độc lập tương đối với chính sách vĩ mô
1.1.3.4 Phân loại theo thời hạn
Có thể phân loại chính sách theo thời hạn hiệu lực của chính sách, trong
đó, có chính sách dài hạn, chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn và chính sách nhất thời, rất ngắn hạn để ứng phó với một tình huống đột xuất nào đó Thật ra, khái niệm dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn cũng mang ý nghĩa hết sức tương đối, không có một ranh giới quá chặt ch
1.1.4 Chính sách tài chính
Chính sách tài chính là một chính sách công cụ nhằm phục vụ một mục tiêu phát triển nào đó, chẳng hạn, chính sách phát triển của quốc gia hoặc một ngành cụ thể, một nhóm đối tượng cụ thể trong quốc gia Chính sách tài chính rất đa dạng như chính sách tín dụng, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách giá Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ tập trung vào ba chính sách là xây dựng các quỹ hỗ trợ, chính sách thuế và chính sách tín dụng Có thể nói đây là ba chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc đổi mới công nghệ
1.1.4.1 Các Quỹ hỗ trợ
Nguồn tài chính huy động từ các Quỹ là một trong những nguồn tài chính quan trọng hỗ trợ cho doanh nghiệp Có thể nói chính sách xây dựng các Quỹ hỗ trợ là một trong những chính sách tài chính quan trọng quyết định
sự phát triển của doanh nghiệp cũng như thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Sau đây tác giả trình bày một số Quỹ hỗ trợ có liên quan đến KH&CN hoặc DNNVV đã hoặc s được thành lập ở Việt Nam
Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia
* Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia được thành lập nhằm thực hiện các mục đích sau đây:
- Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ được khuyến khích chuyển giao như : Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh
Trang 20tranh cao; Tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới; Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; Bảo vệ sức khỏe con người; Phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; Sản xuất sạch, thân thiện môi trường; Phát triển ngành, nghề truyền thống
- Thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản ở vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ;
- Hỗ trợ đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ việc chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ
* Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia hỗ trợ việc chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ bằng các hình thức sau đây:
- Cho vay ưu đãi;
- Hỗ trợ lãi suất vay;
- Bảo lãnh để vay vốn;
- Hỗ trợ vốn
* Quỹ ĐMCN quốc gia được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài;
- Lãi của vốn vay;
- Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước dành cho sự nghiệp phát triển KH&CN;
- Các nguồn khác
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp: là tổ chức
do doanh nghiệp thành lập để đầu tư cho hoạt động KH&CN nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu, ứng dụng, ĐMCN, đổi mới sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất của doanh nghiệp Quỹ là một bộ phận, không có tư cách pháp nhân và trực thuộc doanh nghiệp, do người có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp chịu trách nhiệm điều hành
* Nguồn vốn của Quỹ được hình thành từ:
- Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp : Doanh nghiệp được thành
Trang 21lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam được trích lập tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm trước khi tính thuế TNDN để lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp Doanh nghiệp tự xác định mức trích lập Quỹ phát triển KH&CN theo quy định trước khi tính thuế TNDN
- Một phần điều chuyển từ Quỹ phát triển KH&CN của tổng công ty, công ty mẹ (đối với các công ty con hoặc doanh nghiệp thành viên) hoặc điều chuyển từ Quỹ phát triển KH&CN của các công ty con, doanh nghiệp thành viên về Quỹ phát triển KH&CN của tổng công ty, công ty mẹ (đối với tổng công ty, công ty mẹ) Việc điều chuyển và tỷ lệ điều chuyển nguồn giữa các Quỹ phát triển KH&CN của tổng công ty, công ty mẹ với các Quỹ phát triển KH&CN của các công ty con, doanh nghiệp thành viên và ngược lại do Chủ tịch hội đồng quản trị, Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc, Giám đốc quyết định trên cơ sở tỷ lệ trích Quỹ theo quy định tại điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ, nhu cầu đầu tư cho hoạt động KH&CN tại các doanh nghiệp thành viên và nhu cầu, kế hoạch phát triển KH&CN của toàn hệ thống
- Các nguồn khác theo quy định của Pháp luật:
+ Nguồn vốn đóng góp tự nguyện, không vì mục đích lợi nhuận của các
tổ chức hợp pháp, cá nhân trong và ngoài nước
+ Nguồn vốn hợp pháp khác
* Mục đích thành lập
Quỹ do doanh nghiệp thành lập để tạo nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp tại Việt Nam thông qua hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển, ĐMCN, đổi mới sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Quỹ phát triển doanh nghiệp
* Mục đích hoạt động: Tài trợ các chương trình giúp nâng cao nâng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, chú trọng hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường; đầu tư, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng
Trang 22cao năng lực quản trị doanh nghiệp
* Nguồn vốn của Quỹ Phát triển doanh nghiệp (gọi tắt là Quỹ): vốn cấp
từ ngân sách nhà nước; vốn đóng góp của các tổ chức trong nước; các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức nước ngoài, các tổ chức quốc tế; lợi nhuận từ các hoạt động của Quỹ và các nguồn vốn hợp pháp khác
* Các hoạt động chính:
- Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính trong và ngoài nước để thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật
- Tài trợ kinh phí cho các chương trình, các dự án trợ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực kỹ thuật, công nghệ, năng lực quản trị doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp triển khai thực hiện sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt
- Ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi các doanh nghiệp có
dự án đầu tư khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước và phù hợp với mục đích hoạt động của Quỹ
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
* Mục đích hoạt động: tài trợ, cấp kinh phí cho việc thực hiện nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; tài trợ, cấp kinh phí cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn, nhiệm vụ khoa học và công nghệ tiềm năng; cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi để thực hiện việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống; bảo lãnh vốn vay đối với một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ chuyên biệt; hỗ trợ nhà khoa học trẻ tham gia hội nghị, hội thảo quốc tế; hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học
và công nghệ quốc gia
* Nguồn vốn của Quỹ: hình thành từ nguồn vốn được cấp ban đầu, vốn cấp bổ sung hằng năm từ ngân sách nhà nước dành cho phát triển khoa học và
Trang 23công nghệ, kết quả hoạt động của quỹ; khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng của tổ chức, cá nhân và nguồn hợp pháp khác
* Các hoạt động chính:
- Tiếp nhận và nhận uỷ thác các nguồn vốn của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; huy động các khoản đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để cấp kinh phí, tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; quản lý và sử dụng đúng mục đích,
có hiệu quả các nguồn vốn của Quỹ
- Công bố các định hướng ưu tiên, nội dung, yêu cầu, thể thức cụ thể để
đề xuất các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thích hợp đề nghị Quỹ tài trợ, cho vay, hỗ trợ và bảo lãnh vốn vay
- Tổ chức việc xét chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ để Quỹ tài trợ, cho vay, hỗ trợ và bảo lãnh vốn vay; đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Quỹ tài trợ
- Hợp tác với tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước để vận động tài trợ cho Quỹ hoặc uỷ thác cho Quỹ tài trợ, cho vay để thực hiện các đề tài, dự án
khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật
Quỹ bảo lãnh tín dụng được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước đốivới hoạt động bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Vốn hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng được hình thành từ các nguồn sau:
- Vốn cấp của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc rung ương, tối đa không quá 30% vốn điều lệ tối thiểu quy định tại Điều 4 Quy chế này
Trang 24- Vốn góp của các tổ chức tín dụng
- Vốn góp của các doanh nghiệp
- Vốn góp của các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức đại diện và hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa
- Vốn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triểnchính thức ODA) trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển các doanh nghiệpnhỏ và vừa, các hợp tác xã, các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp
- Vốn bổ sung từ kết quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định
Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia
Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia là tổ chức tài chính nhà nước để đầu tư vốn, cung cấp dịch vụ tư vấn cho tổ chức, cá nhân hình thành
và phát triển doanh nghiệp ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao Nguồn tài chính của Quỹ được cấp từ nguồn ngân sách Nhà
nước
1.1.4.2 Chính sách tín dụng
Tín dụng là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính thống nhất Tín dụng được xem là một khâu tài chính độc lập muốn đề cập ở đây là hoạt động của các tổ chức tín dụng có tính chuyên nghiệp Tính chất đặc biệt của sự vận động của các nguồn tài chính trong quan hệ tín dụng là có thời hạn Tín dụng chính là tụ điểm của các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi Ở nước ta hiện nay các tổ chức tín dụng bao gồm: Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (như công ty tài chính, công ty CTTC ), các tổ chức tín dụng hợp tác (quỹ tín dụng nhân dân)
1.1.4.3 Chính sách thuế
Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước đã có từ lâu đời Thuế trở thành công cụ để Nhà nước có được nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc các dân cư và các tổ chức kinh tế đóng góp cho Nhà
Trang 25nước Từ sự phân tích khái quát trên có thể cho thấy, thuế là hình thức đóng góp nghĩa vụ theo luật định của các pháp nhân và thể nhân cho Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
1.2 Công nghệ
1.2.1 Khái niệm về công nghệ
Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là
kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng
Anh có thể hiểu là sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật
Có nhiều khái niệm về công nghệ
- Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra quan niệm: “Công nghệ là mọi loại
kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp đư c sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”
- Ngân hàng thế giới thì định nghĩa (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”
- F.R.Root cho rằng: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đươc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sang tạo ra sản phẩm mới”
- J.R.Dunning cho rằng: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức
đư c áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”
- Nawar Sharif đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất hoặc/và thông tin” Công nghệ là một tập hợp
phần cứng và phần mềm bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức
Trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa về công nghệ do tác giả
Trần Ngọc Ca đưa ra: “Công nghệ có thể đư c hiểu như là mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) đư c lưu giữ dưới
Trang 26các dạng khác nhau (con người, ghi chép ) và mọi loại hình thiết bi, công
cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác ( tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) đư c áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”
Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:
- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, hệ
thống hạ tầng );
- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm );
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp );
- Dạng thiết chế tổ chức (sắp xếp cơ cấu nhân lực, cách thức điều hành,
thiết kế, sắp đặt hệ thống thiết bị…)
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động công nghệ
Hoạt động công nghệ là khái niệm chỉ các hoạt động sử dụng công nghệ vào các mục đích khác nhau của con người Nói đến hoạt động công nghệ cần phải nhấn mạnh 3 đặc điểm cơ bản rất quan trọng của hoạt động công nghệ:
-Tính lặp lại chu kỳ một thao tác đã chuẩn hóa giúp cho công nghệ tạo
ra những sản phẩm cùng loại giống hệt nhau
- Tính tin cậy của quá trình: quá trình công nghệ không được phép rủi
ro bởi s dẫn đến phế phẩm, phá vỡ mục tiêu của sản xuất Toàn bộ quá trình công nghệ phải đảm bảo tính tin cậy trong từng khâu và trong từng thao tác
- Tính xác định của sản phẩm: đây là tính xác định của sản phẩm theo thiết kế từ trước khi đầu tư vào sản xuất Nếu những sản phẩm tạo ra không
đủ những tính năng theo thiết kế thì xem như không đạt tiêu chuẩn
1.3 Đổi mới công nghệ
1.3.1 Khái niệm đổi mới công nghệ
Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có sự ra đời của công nghệ mới thay thế cho công nghệ cũ Trong lịch sử nhân loại có từng giai đoạn gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một hoặc nhiều loại hình công nghệ đặc
Trang 27trưng quyết định sự phát triển của xã hội ở giai đoạn đó ví dụ như thời đại đồ đồng thay thế cho đồ đá rồi từ đồ đồng phát triển lên đồ sắt Thời đại công nghiệp bắt đầu từ máy hơi nước thay thế sức lao động thủ công Công nghệ mới mang đến quả to lớn đối với sự phát triển của từng doanh nghiệp, mỗi quốc gia và toàn thế giới Nếu như trước đây doanh nghiệp chỉ có thể quảng
bá sản phẩm qua báo giấy, qua truyền hình thì nay không chỉ doanh nghiệp
mà từng cá nhân có thể quảng bá sản phẩm qua mạng internet đi khắp toàn cầu với nhiều hình thức đa dạng Có thể nói đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội
Đối với doanh nghiệp có thể nói đổi mới công nghệ là hoạt động nhằm đổi mới hoàn toàn hoặc cải tiến công nghệ đã có với mục tiêu cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đổi mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu
mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và khả năng cạnh tranh lớn hơn; hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí thấp hơn, năng suất, hiệu quả cao hơn; hoặc chuyển giao công nghệ mới từ bên ngoài thay thế công nghệ hiện có Hoạt động đổi mới công nghệ không chỉ dừng lại ở khâu nghiên cứu và triển khai mà còn bao gồm cả khâu phổ biến, chuyển giao những kết quả nghiên cứu đổi mới đó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm đổi mới công nghệ
như sau: đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, làm cho quá trình sản xuất, kinh doanh và quản lý đạt hiệu quả cao hơn so với lúc còn sử dụng công nghệ cũ
Trang 28Đổi mới công nghệ có thể chia ra:
- Đổi mới quá trình: nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất, chất lượng, hiệu quả…
- Đổi mới sản phẩm: nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của thị trường
1.3.2 Quản lý đổi mới công nghệ
Quản lý đổi mới công nghệ là một chuỗi các hoạt động xuyên suốt các hoạt động khác như cơ cấu tổ chức, các quy trình sản xuất, thời gian tồn tại công nghệ, các biện pháp liên quan đến quan hệ giữa con người với các yếu tố
kỹ thuật, mối quan hệ giữa con người với quá trình kinh doanh dịch vụ Trong quá trình quản lý công nghệ thì các vấn đề liên quan đến công nghệ của DN bao gồm:
- DN tạo ra công nghệ mới căn cứ theo đầu vào là các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực), đó là các hoạt động từ việc mua hoặc nhập các nguồn lực, hoạt động nghiên cứu (có thể dựa trên các ý tưởng mới), đưa ra các mẫu thử nghiệm, chuyển sang hoạt động sản xuất, phân phối
- Trong quá trình sử dụng hoặc kinh doanh công nghệ, DN tiếp tục xem xét các tiêu chí liên quan đến quản lý công nghệ như năng suất, chất lượng…
và các hoạt động cải tiến công nghệ, ví dụ như thay đổi nhỏ (công nghệ bắt đầu có những cải tiến nhất định) hoặc đổi mới lớn (công nghệ được sáng chế
ra gần như hoàn toàn mới)
Phạm vi của quản lý đổi mới công nghệ bao gồm các yếu tố có liên quan:
- Mục tiêu phát triển công nghệ
- Các tiêu chuẩn chọn lựa công nghệ
- Thời hạn kế hoạch cho các công nghệ
- Các ràng buộc để phát triển công nghệ
- Thiết chế để phát triển công nghệ
- Các hoạt động công nghệ
Trang 29Các yếu tố trên có mối quan hệ tương hỗ với nhau, ở phạm vi doanh nghiệp, quản lý đổi mới công nghệ liên quan đến bốn lĩnh vực chủ yếu, mỗi lĩnh vực gồm một số chức năng mà mỗi chức năng có thể sử dụng một hay một số công nghệ, đó là các lĩnh vực:
- Lĩnh vực sản sinh sản phẩm, tạo ra hay đổi mới sản phẩm, bao gồm: nghiên cứu, triển khai, thiết kế và chế tạo
- Lĩnh vực phân phối, bao gồm: marketing, bán hàng, phân phối sản phẩm và dịch vụ khách hàng
- Lĩnh vực quản lý, bao gồm: quản lý nguồn nhân lực, tài chính và kế toán, thông tin, sở hữu trí tuệ, quan hệ xã hội, mua sắm nguyên liệu, vật liệu
- Lĩnh vực các hoạt động hỗ trợ, bao gồm: mối quan hệ với khách hàng
và nhà cung cấp
Khi thực hiện hoạt động đổi mới công nghệ cần lưu ý đến chi phí đầu
tư cho bốn thành phần của công nghệ, đó là:
1 Chi phí để đổi mới phần kỹ thuật;
2 Chi phí đào tạo nhân lực cho kỹ thuật mới;
3 Chi phí cho thông tin, tư vấn, bí quyết công nghệ;
4 Chi phí đổi mới sắp xếp lại bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu cầu của công nghệ mới
Đối với các DN lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh thì có thể liên kết với các đơn vị nghiên cứu – triển khai (R&D) hoặc tự thành lập bộ phận R&D để tạo
ra các công nghệ mới hoàn toàn chưa từng tồn tại trên thị trường Việc tạo ra các công nghệ mới thông thường s phát sinh chi phí lớn, độ rủi ro cao Nhưng đối với đa số doanh nghiệp, nhất là các DNNVV thì việc này là rất khó khăn, bởi vậy họ chọn con đường mua lại những công nghệ đã có Tuy nhiên hình thức này cũng đòi hỏi nguồn kinh phí không nhỏ và vấn đề tài chính là một trong những rào cản lớn khiến cho DNNVV khó có thể đổi mới công nghệ
Trang 301.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.4.1 Khái niệm DNNVV
Thuật ngữ DN bắt nguồn từ tiếng Pháp “entreprendre” có nghĩa là
“đảm nhận” hay “hoạt động” Do đó một nhà DN thường được dùng để chỉ những người chấp nhận rủi ro để khởi đầu một công việc kinh doanh nhỏ Các tiêu chí của DN được xây dựng trên:
- Phối hợp những lợi thế đang có theo một cách mới và hiệu quả hơn
- Tạo ra nhiều giá trị hơn từ những nguyên thiệu thô và nhân lực và trước đây bị coi là vô ích
- Cải thiện những gì đã xuất hiện với việc sử dụng các kĩ thuật mới
- Di chuyển tài nguyên kinh tế ra khỏi khu vực năng xuất thấp tới khu vực sản xuất hiệu quả và lớn hơn
- Có phương pháp tìm kiếm và hưởng ứng lại những nhu cầu chưa được thoả mãn và các đòi hỏi của khách hàng
Doanh nghiệp NVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp NVV có thể chia thành ba loại, cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng
để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa Nhưng tiêu chí xác định doanh nghiệp NVV được thể hiện trong nghị định 90/2001/NĐ ngày 23-11-2001 của Chính Phủ như sau: “Doanh nghiệp NVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng
ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
Trang 31đồng hoặc số lao động trung bình hành năm không quá 30 người” Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh
và thoả mãn một trong hai điều kiện trên đều được coi là doanh nghiệp NVV Theo cách phân loại này ở Việt Nam có khoảng 93% trong tổng số doanh nghiệp hiện có là doanh nghiệp NVV, cụ thể là 80% các doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm doanh nghiệp NVV, trong khu vực kinh tế tư nhân doanh nghiệp NVV chiếm tỷ trọng 97% xét về vốn và 99% xét về lao động so với tổng số doanh nghiệp của cả nước
Trên thế giới, quan niệm về doanh nghiệp NVV cũng khác nhau, tùy theo trình độ phát triển của mỗi nước và tùy thuộc vào lĩnh vực ngành nghề Điều này ta có thể thấy rõ thông qua số liệu ở bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.1 : Tiêu thức áp dụng để xác định doanh nghiệp NVV của một số
Hàn Quốc < 300, Trong CN, XD
< 200, trong Thương mại, dịch vụ
Trang 321.4.2 Vai trò của DNNVV
Các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau ở mỗi nền kinh tế quan trọng như:
iữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các DNNVV thường chiếm tỷ
trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số DN (ở Việt Nam chỉ xét các DN có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể
iữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các
DNNVV là những nhà thầu phụ cho các DN lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
Làm cho nền kinh tế năng động: vì DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ
điều chỉnh hoạt động(xét về mặt lý thuyết)
Các DNNVV với đặc điểm quy mô nhỏ, cần ít vốn phát triển rộng khắp
cả thành thị và nông thôn đã thu hút một số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ
Các DNNVV phát triển ở các địa phương thì s hình thành và phát triển các khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương Khác với khu công nghiệp tập trung cấp quốc gia, khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương có phạm vi nhỏ, cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao, phục vụ trực tiếp cho các DNNVV, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ tr quan trọng: DNNVV
thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như DN lớn thường đặt cơ sở ở
những Trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Đối với Việt Nam, vị trí doanh nghiệp NVV lại càng quan trọng Cụ thể:
Trang 33- Doanh nghiệp NVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp
Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay doanh nghiệp NVV có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Theo tiêu chí mới thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 93% tổng số các doanh nghiệp thuộc các hình thức: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó, theo tiêu chí về vốn thì doanh nghiệp NVV chiếm 99.6% tổng số các doanh nghiệp tư nhân, chiếm 97.38% trong tổng số hợp tác xã, chiếm 94.72% trong tổng số các công ty trách nhiệm hữu hạn, chiếm 42.37% trong tổng số các công ty cổ phần và 65.88% trong tổng số các doanh nghiệp nhà nước (Theo tiêu chí về vốn của công văn 681/CP – KT ngày 20-06-1998) Như vậy có thể nói rằng hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam là doanh nghiệp NVV
- Doanh nghiệp NVV là nơi tạo ra việc làm chủ yếu ở Việt Nam
Thực tế những năm qua cho thấy toàn bộ các doanh nghiệp NVV, mà phần lớn là khu vực ngoài quốc doanh, là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho tất cả các lĩnh vực Cụ thể, từ số liệu của tổng cục thống kê cho thấy doanh nghiệp NVV tuyển dụng gần 1 triệu lao động, chiếm 49% lực lượng lao động trên phạm vi cả nước Ở duyên hải miền Trung, số lao động làm việc tại các doanh nghiệp NVV so với số lao động trong tất cả các lĩnh vực chiếm cao nhất trong cả nước (67%), Đông Nam Bộ có tỷ lệ thấp nhất (44%) so với mức trung bình của cả nước
Cụ thể, từ năm 1996 đến nay, số lao động làm việc trong khu vực kinh
tế tư nhân chỉ giảm trong năm 1997, còn lại đều tăng So sánh với tổng lao động toàn xã hội thì khu vực này chiếm 11% qua các năm, riêng năm 2000 là 12% Năm 2000 số lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân là
463844 người, so với năm 1999 tăng 78681 người (tăng 20.14%) Từ năm
1996 đến năm 2000, tốc độ tăng lao động ở doanh nghiệp bình quân là
Trang 342.01%/năm, số lao động làm việc trong doanh nghiệp tăng thêm 48745 người (tăng 137.57%)
Trong khu vực kinh tế tư nhân, lao động trong công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất 2712228 người, chiếm 45.67%, lao động trong ngành khai thác
786792 người chiếm 16.94% Qua những số liệu trên ta có thể thấy các doanh nghiệp NVV có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm chủ yếu ở Việt Nam, đáp ứng nhu cầu việc làm của người dân, góp phần tạo
ra thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân
- Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động
Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sàng lập ra chúng Do đặc thù là số lượng doanh nghiệp NVV là rất lớn và thường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng với những tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập trung hoá sản xuất Sự sáp nhập, giải thể và xuật hiện các doanh nghiệp NVV thường xuyên diễn ra trong mọi giai đoạn Đó là sức ép lớn buộc những người quản lý và sáng lập ra chúng phải có tính linh hoạt cao trong quản lý và điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạo hiểm Sự hiện diện của đội ngũ những người quản lý này cùng với khả năng, trình độ, nhận thức của họ về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh s tác động lớn đến hoạt động của từng doanh nghiệp NVV Họ luôn là người đi đầu trong đổi mới, tìm kiếm phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh Đối với một quốc gia, sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này và chính đội ngũ này s tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động, linh hoạt phù hợp cới thị trường
- Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại ch
Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp NVV
đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp NVV đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa
Trang 35phương Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ Chúng ta có thể chứng minh thông qua nguồn lực lao động: doanh nghiệp NVV đã sử dụng gần 1/2 lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp (49%) trong cả nước và tại một số vùng, đã sử dụng tuyệt đại đa
số lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp Ngoài lao động ra, doanh nghiệp NVV còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh
Như vậy, qua các phân tích ở trên có thể thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của các doanh nghiệp NVV ngày càng tăng lên và tiềm năng phát triển của khu vực này rất rộng lớn Các doanh nghiệp NVV đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và huy động nguồn vốn trong nước… Vì những lý do đó, việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển của doanh nghiệp NVV
là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội đến năm 2020, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta
Trong cộng đồng DN Việt Nam, thì DNNVV là loại hình DN chiếm đa
số và chủ yếu trong nền kinh tế Theo đó, loại hình DN này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP…
Số tiền thuế và phí mà các DNNVV tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác Do vậy, đã tạo tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư, để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh
Do vài trò quan trọng của DNNVV, nhiều quốc gia đã chú trọng công tác khuyến khích loại hình DN này phát triển Các hỗ trợ mang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: các hỗ trợ nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh
Trang 36thuận lợi (xây dựng và ban hành các luật về DNNVV, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, cung cấp thông tin ), những hỗ trợ bồi dưỡng năng lực DN (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ ), và những hỗ trợ về tín dụng (thành lập ngân hàng chuyên cho DNNVV vay, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp, thành lập các công ty đầu tư mạo hiểm…)
1.4.3 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp NVV
1.4.3.1 Tính chất hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp NVV thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn Tuy vậy, ở các nước phát triển, các doanh nghiệp NVV còn tham gia sản xuất những mặt hàng tinh xảo, số lượng ít nhưng giá trị cao để phục vụ cho các doanh nghiệp sản xuất lớn, nhưng đối với các sản phẩm này họ không quan tâm phát triển sản xuất Trong đó:
- Doanh nghiệp NVV là vệ tinh, chế tạobộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư
- Doanh nghiệp NVV thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ
- Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ
Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.4.3.2 Về nguồn lực vật chất
Nhìn chung các doanh nghiệp NVV bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp Mặt khác, còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 37Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cựu hỗ trợ các doanh nghiệp NVV để họ có thể tham gia tốt hơn trong chuoix các dây chuyền sản xuất
1.4.3.3 Về năng lực quản lý điều hành
Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô các quản trị gia doanh nghiệp NVV thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh Thông thường họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu Chính vì vậy, nhiều kỹ năng, nghiệp
vụ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất thấp so với yêu cầu
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1 tác giả nghiên cứu các định nghĩa về chính sách, công nghệ, đổi mới công nghệ và các căn cứ pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp
để nghiên cứu về cơ sở lý luận liên quan, tác giả muốn xây dựng một hệ lý thuyết
để làm cơ sở cho phần Chương 2 và Chương 3 khi nghiên cứu về thực trạng và giải pháp
Trang 38CHƯƠNG 2 TH C TRẠNG CH NH S CH H TR TÀI CH NH CHO Đ I MỚI C NG NGH Ở C C DOANH NGHI P SẢN XUẤT
CH NHỎ VÀ V A
2.1 Tổng quan về ngành chè Việt Nam
Trong hàng chục thập niên qua, Việt Nam luôn nằm trong tốp 5 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới Cho đến nay, không ai có thể phủ nhận được những giá trị kinh tế của cây chè, của ngành chế biến chè đã góp phần quan trọng trong xóa đói giảm nghèo và mang một lượng ngoại tệ lớn về cho đất nước
Thế nhưng nhìn tổng thể, sản xuất, kinh doanh chè đang gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế mang lại không tương xứng với tiềm năng vốn có Đặc biệt, từ khi xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang nền cơ chế thị trường, sản xuất chè ngày càng bết bát Mặc dù là một “cường quốc” về xuất khẩu chè nhưng thật đáng tiếc là giá chè của chúng ta lại quá thấp, bình quân 1,5 USD/kg và chỉ bằng 70% giá bán bình quân cùng sản phẩm chè so với các nước cùng xuất khẩu chè
Năm 2012 khép lại với những thành tựu đáng mừng của ngành xuất khẩu chè Việt Tổng lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 146,7 nghìn tấn, thu về 224,6 triệu USD, tăng 9,6% về lượng và 10,1% về kim ngạch so với năm 2011; giá chè xuất khẩu bình quân năm 2012 đạt 1.531 USD/tấn, tăng 8 USD/tấn so với năm 2011 Mặt hàng chè đã đóng góp một phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt trong năm 2012 Như vậy, với mục tiêu xuất khẩu 135.000 tấn, kim ngạch 220 triệu của ngành chè trong năm 2012, xuất khẩu chè của nước ta trong năm qua đã vượt mục tiêu đề ra, tiếp tục giữ vững vị trí là nước xuất khẩu lớn thứ 5 thế giới về mặt hàng chè Tuy nhiên, hiện giá chè xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang xếp cuối bảng trong số các nước xuất khẩu chè lớn, chỉ bằng 60% giá bình quân của thế giới Nguyên nhân là do Chè Việt không có thương hiệu trên thị trường quốc tế; phương thức quản lý nương chè và thu hái không hợp lý; cạnh tranh không
Trang 39lành mạnh khiến cho chè xuất khẩu của Việt luôn bị ép giá bởi khách hàng trung gian nước ngoài
Hiện ngành Chè Việt đã xuất khẩu các sản phẩm chè đến hơn 100 quốc gia và khu vực trên thế giới Thế mạnh nhất mà mặt hàng chè đang nắm giữ
đó là có tỷ lệ nội địa 100%, trong khi nhiều ngành, nhiều mặt hàng khác có tỷ
lệ nội địa thấp, nguồn nguyên liệu phụ thuộc nhiều vào thế giới cùng với nhu cầu tiêu dùng chè trên thế giới ngày càng tăng, do vậy, trong thời gian tới tiềm năng phát triển của ngành Chè còn rất lớn
2.1.1 Thị trường trong nước
Mặc dù sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè năm 2012 của Việt Nam
tăng so với năm 2011, nhưng hiện ngành chè vẫn phải đối mặt với tình trạng sản phẩm chè có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Vấn đề này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín chè Việt và nếu không giải quyết triệt để s dẫn tới nguy cơ mất thị trường xuất khẩu chè Nguyên nhân của tình trạng này
là khó kiểm soát được quá trình sản xuất từ trồng đến chăm sóc, thu hái, chế biến và bảo quản chè Theo thống kê, hiện cả nước có trên 300 cơ sở chế biến chè lớn nhỏ thì chỉ có 5% số nhà máy có vùng nguyên liệu riêng để phục vụ chế biến Một số thị trường nhập khẩu chè lớn của Việt Nam như Pakistan, Đài Loan, Indonesia, Malaysia hiện đều không có yêu cầu cao về chất lượng
và dư lượng thuốc BVTV Tuy nhiên, một số thị trường khác như Ba Lan, Nga đã chuẩn bị kế hoạch kiểm soát chất lượng và dư lượng thuốc BVTV đối với chè nhập khẩu theo các quy định hiện hành của EU Đây là thách thức lớn cho các doanh nghiệp chè Việt Nam, vì 90% sản lượng chè nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến hiện nay thuộc sở hữu của nông dân, và nông dân tự quyết định việc phun thuốc BVTV như thế nào Nhằm khắc phục tình trạng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật với sản phẩm chè, đảm bảo uy tín cho chè Việt Nam, năm 2013, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) s tăng cường kiểm tra, đánh giá phân loại điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến chè, rau củ quả; xử phạt nghiêm những đơn vị, cá nhân vi phạm quy trình sản xuất không an toàn
Trang 40Đồng thời, chú trọng thực hiện quy trình sản xuất an toàn theo chuỗi-từ trang trại tới bàn ăn và tăng cường sự tham gia giám sát của cộng đồng với công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
2.1.2 Tình hình xuất khẩu thực tế năm 2012
+ Kim ngạch xuất khẩu
Xuất khẩu chè của nước ta trong tháng 12/2012 đạt xấp xỉ 12 nghìn tấn với kim ngạch 18,85 triệu USD, so với tháng 11/2012 giảm nhẹ 2,1% về lượng nhưng tăng 0,3% về kim ngạch Tính chung trong cả năm 2012, tổng lượng chè xuất khẩu của nước ta đã đạt 146,7 nghìn tấn, kim ngạch 224,6 triệu USD, tăng 9,6% về lượng và 10,1% về kim ngạch so với năm 2011
ớc tính, xuất khẩu chè trong tháng đầu tiên của năm 2013 đạt khoảng
11 nghìn tấn với kim ngạch 17 triệu USD, giảm 8% về lư ng và 8,9% về kim ngạch so với tháng 12/2012 nhưng nếu so với cùng kỳ năm ngoái vẫn tăng trên 20% cả về lư ng và kim ngạch
Như vậy, với mục tiêu xuất khẩu 135.000 tấn, kim ngạch 220 triệu của ngành chè trong năm 2012, xuất khẩu chè của nước ta trong năm nay đã vượt mục tiêu đề ra
Mặt hàng chè đã đóng góp một phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Tuy nhiên, lượng xuất lớn nhưng giá trị thu về vẫn ở mức khiêm tốn, do chè Việt không có những thương hiệu riêng biệt, đa phần là xuất thô
Việt Nam là nước xuất khẩu chè đứng thứ năm thế giới (sau Kenya, Ấn
Độ, Trung Quốc và Sri Lanca), đứng thứ hai về sản xuất chè xanh (sau Trung Quốc) Thị trường xuất khẩu chủ yếu của chè Việt là Pakistan, Đài Loan, Indonesia, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ
+ Về giá xuất khẩu
Giá xuất khẩu chè của nước ta trong tháng 12/2012 tăng 39 USD/tấn (tương đương tăng 2,54%) so với tháng 11/2012, đạt mức 1.576 USD/tấn và tăng 1,9% so với tháng 12/2011