1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá việt nam hiện nay

219 493 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 5,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích là thu thập những quan điểm, nhận định, đánh giá của những người trực tiếp thực hiện sản xuất nội dung về vai trò của báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN SƠN MINH

BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN SƠN MINH

BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 62320101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Xuân Sơn

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá

Luận án Tiến sĩ

PGS.TS Dương Xuân Sơn PGS.TS Đinh Văn Hường

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Dương Xuân Sơn

Các số liệu trong Luận án là trung thực, đảm bảo tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả Luận án

Nguyễn Sơn Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận án này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,

cô giáo, bạn bè đồng nghiệp nhiều thế hệ trong Khoa Báo chí và Truyền thông đã không ngừng dìu dắt và chia sẻ tri thức, niềm say mê giảng dạy và nghiên cứu tới cho tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Dương Xuân Sơn, đã luôn ủng hộ tôi trong quá trình hình thành, triển khai và hoàn chỉnh Luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, những người đã luôn động viên và sát cánh bên tôi, là nguồn cảm hứng cho tôi đạt tới mọi thành công

Xin chân thành cảm ơn tất cả./

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 12

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 12

1.1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các loại hình báo chí và văn hóa,

văn hóa truyền thông đại chúng 13

1.1.2 Nghiên cứu về quan hệ giữa các công cụ truyền thông Internet, trong đó

có báo điện tử, với vấn đề văn hóa 16

1.2 Những nghiên cứu tiêu biểu trong nước 19

1.2.1 Nhóm các nghiên cứu tiêu biểu về văn hóa Việt Nam 20

1.2.2 Nhóm các nghiên cứu về quan hệ giữa báo chí, Internet, báo điện tử và

văn hóa 22

Tiểu kết Chương 1 25

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ, BÁO ĐIỆN TỬ VÀ VĂN HÓA 27

2.1 Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản 27

2.1.1 Báo chí và vai trò của báo chí 27

2.1.2 Báo điện tử và một số vấn đề liên quan 29

2.1.3 Khái niệm “Văn hóa” 33

2.1.4 Nền văn hóa Việt Nam hiện nay 38

2.1.5 Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam 48

2.2 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 49

2.2.1 Một số vấn đề về lý luận báo chí và báo điện tử ở Việt Nam 49

2.2.2 Lý thuyết truyền thông áp dụng trong nghiên cứu đề tài 56

2.2.3 Các thuyết nghiên cứu văn hóa trong đề tài 61

2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 62

2.3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng và phát triển nên văn hóa

Việt Nam hiện nay 62

2.3.2 Về báo điện tử Việt Nam 67

2.3.3 Mối quan hệ giữa báo chí, báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay 69

Tiểu kết Chương 2 75

Trang 6

Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ THÔNG TIN VĂN HÓA TRÊN BÁO ĐIỆN

TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY (Khảo sát báo Nhân dân điện tử, Vietnamnet,

Dân trí điện tử và Tuổi trẻ Online, từ năm 2008 đến đầu năm 2015) 78

3.1 Thành công và hạn chế của báo điện tử về vấn đề xây dựng và

phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay 78

3.1.1 Những thành công của báo điện tử 82

3.1.2 Những hạn chế của báo điện tử 94

3.2 Kết quả phân tích Ý kiến công chúng qua hoạt động điều tra

tháng 4 - 5/2014 99

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của báo điện tử với vấn đề

xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay 115

3.3.1 Vấn đề quản lý nhà nước với thông tin trên báo điện tử Việt Nam 115

3.3.2 Vấn đề quản trị nguồn thông tin văn hóa tại toà soạn báo điện tử 123

Tiểu kết Chương 3 131

Chương 4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ 133

4.1 Đối chiếu lý thuyết truyền thông áp dụng trong nghiên cứu đề tài 133

4.2 Nền văn hóa Việt Nam hiện nay - một số vấn đề đặt ra 135

4.2.1 Mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật 135

4.2.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và giáo dục - đào tạo 137

4.2.3 Mối quan hệ giữa văn hóa với nền kinh tế - xã hội 141

4.2.4 Toàn cầu hóa về văn hóa 144

4.3 Mô hình hiệu quả cho tác nghiệp báo điện tử về đề tài 150

4.4 Đề xuất khuyến nghị và giải pháp 155

4.4.1 Thử đề xuất lý thuyết truyền thông liên quan đến đề tài 155

4.4.2 Đề xuất giải pháp chung 156

4.4.3 Khuyến nghị đối với báo Nhân dân điện tử 158

4.4.4 Khuyến nghị đối với báo Vietnamnet 158

4.4.5 Khuyến nghị đối với báo Tuổi trẻ Online 158

4.4.6 Khuyến nghị đối với báo Dân trí điện tử 158

Tiểu kết Chương 4 159

KẾT LUẬN 160

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 166

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 167 PHỤ LỤC

Trang 7

Qua đó, nền văn hóa Việt Nam được thế giới biết đến nhiều hơn, được ghi nhận và trân trọng hơn Điển hình những năm qua, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Việt Nam được thế giới vinh danh, được UNESCO xếp hạng, đưa vào danh sách bảo tồn, thậm chí được chọn là di sản văn hoá đại diện của nhân loại

Tuy nhiên bên cạnh đó, không phải không có những vấn đề tiêu cực của văn hoá trong hệ giá trị xã hội, không ít giá trị được coi là chuẩn mực truyền thống của người Việt Nam bị va đập và trở nên mờ nhạt; lối sống của một nhóm người mới, nhất là một bộ phận giới trẻ trở nên nặng về thực tế, thực dụng, thiếu chiều sâu, thậm chí suy thoái, đáng lên án

Với vai trò vừa là một sản phẩm của văn hóa, vừa tự thân là một hiện tượng văn hóa, báo chí Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào đời sống văn hóa mới Vì vậy, hoạt động thông tin về đề tài văn hóa trên báo chí cũng bao hàm cả yếu tố tích cực và hạn chế của nền văn hóa Việt Nam hiện nay

Báo chí Việt Nam những năm qua ghi dấu ấn bởi sự phát triển mạnh

mẽ của loại hình báo chí non trẻ nhất, đó là báo điện tử Loại hình này có bước phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng thông tin nhanh chóng về mọi mặt đời sống xã hội, những diễn biến của tình hình thế giới, làm giàu đời sống thông tin và tinh thần của nhân dân Với đặc thù gắn bó với công nghệ hiện đại, báo điện tử có khả năng nhanh chóng đưa chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đến

Trang 8

2

mọi người dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần ổn định xã hội, củng cố và giữ vững an ninh quốc phòng, tham gia phát triển nền văn hóa

Tuy nhiên, một số đơn vị báo điện tử chưa làm tốt vai trò là người chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hóa, sa đà vào xu hướng thương mại hóa, giật gân, câu “view”, câu khách gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần và văn hóa người dân Mặc dù, chỉ có một bộ phận nội dung thông tin báo điện tử, trang tin điện tử trong tình trạng đó, nhưng rõ ràng ở góc nhìn này, báo điện tử đã tuyên truyền, quảng bá, thậm chí góp phần cho

sự suy thoái của văn hóa Việt Nam hiện đại

Qua tổng kết, kết luận của nhiều hội nghị báo chí và trong nhận thức thực tiễn của công chúng, báo điện tử Việt Nam bên cạnh mặt tích cực, những hạn chế của loại hình này cũng thường được nêu tập trung vào các vấn đề

“thiếu đạo đức nghề nghiệp”, “câu view”, “giật gân”, “thông tin thiếu thẩm định”, “sốc, sex, sến”… nghĩa là những biểu hiện cụ thể của sự sa sút đạo đức, sự phá vỡ các chuẩn mực, giá trị văn hóa tinh thần của một nền báo chí

vì công chúng

Tất nhiên, cũng có một thực tế, theo báo cáo thường niên của Bộ Thông tin và Truyền thông, kể từ năm 2005 trở lại đây, nhất là sau Nghị định 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ định hình và tạo hành lang pháp lý cho hệ thống website thông tin trên mạng Internet, thì số lượng và tốc độ tăng trưởng các trang tin điện tử tổng hợp luôn xấp xỉ gấp 10 lần so với các đơn vị báo điện tử chính thống được cấp phép Ví dụ, năm 2013, số lượng trang tin điện

tử tổng hợp là 1110 trang (bao gồm gần 300 trang của đơn vị báo chí), trong khi báo điện tử là 75 đơn vị; năm 2015, số lượng báo điện tử tăng lên 105 đơn

vị, thì số lượng các trang tin điện tử tổng hợp là 1610 trang Các trang tin điện

tử tổng hợp này lại có khả năng “được tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau” Từ đó, có hiện trạng nội dung thông tin trên các trang tin điện tử

Trang 9

3

tổng hợp chủ yếu được tổng hợp từ các nguồn báo chí Vậy là, có một thứ “na ná” báo điện tử ra đời, từng giờ từng phút tác động đến công chúng trên mọi mặt thông tin Khi xuất hiện sự cạnh tranh lượng truy cập của khách hàng (tức

là công chúng) giữa hàng ngàn trang thông tin điện tử trên mạng Internet, thì tất yếu dẫn đến việc kiểm soát nội dung lỏng lẻo, thậm chí có sự cố ý biên tập thông tin không lành mạnh nhằm mục đích lôi kéo công chúng, “câu view” bằng mọi cách, mọi giá

Vấn đề trên đây dẫn đến hai hệ luỵ: thứ nhất, thông tin đời sống xã hội

nói chung, thông tin trong mảng văn hoá nói riêng, trên báo điện tử và trang

tin điện tử có những tác động thiếu lành mạnh đến công chúng; thứ hai, nhiều

quy kết, kết luận về mặt trái của thông tin trên mạng Internet nhắm đến loại hình báo điện tử, nhưng trong thực tế, những tác động, ảnh hưởng đến nhận thức công chúng của loại hình trang tin điện tử tổng hợp còn lớn hơn báo điện

tử nhiều lần

Với những cách nhìn đa chiều trên đây, chúng ta có nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ: Vậy, sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sẽ đi theo chiều hướng nào? Những nội dung cơ bản nào của văn hóa Việt Nam cần được bảo tồn, phát huy, xây dựng và phát triển? Vai trò của báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng cần được nhận thức và làm rõ ra sao? Loại hình báo điện tử hiện đại, mới mẻ giữ vai trò thông tin, hướng dẫn và chính thống như thế nào khi phản ánh các vấn đề văn hóa? Thông tin trên báo điện tử hiện nay tác động tích cực hay tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, thái

độ, nhận thức văn hóa của công chúng? v.v…

Xuất phát từ những phân tích đó, chúng tôi chọn đề tài: “Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay” làm

đề tài cho Luận án này, công trình được triển khai trong khuôn khổ nghiên cứu ngành Báo chí học

Trang 10

4

Vấn đề nghiên cứu loại hình báo điện tử được triển khai nhiều năm nay Các nội dung nghiên cứu thường tập trung vào đặc điểm loại hình, như các nghiên cứu về tính thời sự, tính tương tác, các chương trình trực tuyến, công chúng báo điện tử; đặc điểm thể loại tác phẩm báo chí, như nghiên cứu về thể loại tin, ảnh trên báo điện tử; một số thành tố trong cấu trúc tác phẩm, như nghiên cứu về title báo, ngôn ngữ báo điện tử… Các nghiên cứu về nội dung thông điệp không nhiều Như vậy, một trong những lý do chính để Luận án lựa chọn đề tài này là hướng đến việc phân tích vai trò của một loại hình báo chí trên cơ sở đánh giá nội dung thông điệp mà loại hình đó đưa ra công chúng Thông qua tính đặc thù của loại hình, thông điệp đã có những tác động, ảnh hưởng đến công chúng truyền thông Ở góc độ đó, rõ ràng loại hình báo điện tử thể hiện vai trò của mình trong đời sống xã hội

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích:

Luận án phân tích, đánh giá vai trò của báo điện tử với vấn đề xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ:

Thứ nhất, thống kê và phân tích hiện trạng, đánh giá ưu điểm, hạn chế của nội dung thông tin trên báo điện tử về vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay Việc đánh giá này dựa trên cơ sở quan điểm Đảng, Nhà nước, qua tham khảo các tập hợp nghiên cứu liên quan đến đề tài, phỏng vấn một số nhà chuyên môn và những người làm báo

Thứ hai, tìm hiểu một số yếu tố tác động đến quá trình thực hiện mối quan hệ truyền thông giữa báo điện tử và nền văn hóa Việt Nam hiện nay: Hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; Công tác toà soạn báo điện tử, nơi trực tiếp xuất bản nội dung, trên các mặt: nhận thức, quan điểm, quy trình quản trị, quy trình sản xuất nội dung thông tin về đề tài

Trang 11

5

Thứ ba, phân tích nguyên nhân của thành công, hạn chế của báo điện tử trong việc thể hiện vai trò với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay

Thứ tư, đề xuất, khuyến nghị những giải pháp để báo điện tử thực hiện

tốt hơn vai trò của mình trong lĩnh vực đề tài nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát

3.1 Đối tượng:

Tin, bài về văn hoá được khảo sát trên 4 báo điện tử Việt Nam; vai trò của báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay thông qua nội dung các tin, bài đó

3.3 Đối tượng khảo sát:

Đề tài thực hiện khảo sát sản phẩm nội dung trên chuyên trang Văn hóa báo Nhân dân điện tử, báo Vietnamnet, báo Dân trí điện tử và chuyên trang Văn hóa - Giải trí báo Tuổi trẻ Online

Báo Nhân dân điện tử, địa chỉ Internet: www.nhandan.org.vn, đây là một sản phẩm trong hệ thống các loại hình báo chí trực thuộc Bộ biên tập báo Nhân dân, đồng thời là một trong những đơn vị báo điện tử hàng đầu Việt Nam Báo Nhân dân luôn được công chúng, giới nghiên cứu trong nước và ngoài nước đánh giá là đơn vị báo chí quan trọng, có dòng thông tin chủ lưu,

Trang 12

6

chính thống, được coi là “phát ngôn chính thức” của báo chí Việt Nam Báo Nhân dân là cơ quan trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam

Báo điện tử Vietnamnet, tiền thân là mạng thông tin trực tuyến VNN năm 1997, địa chỉ Internet: www.vietnamnet.vn Vietnamnet là một đơn vị báo điện tử độc lập, khác với nhiều báo điện tử thực chất là “phiên bản thêm”, được hình thành và phát triển từ một đơn vị báo chí trước đó, như trường hợp: Nhân dân điện tử, Tuổi trẻ Online Vietnamnet là đơn vị báo điện tử có nhiều đầu tư áp dụng công nghệ, đổi mới tư duy làm báo, mạnh dạn triển khai các chuyên mục, chương trình, thiết kế thử nghiệm

Báo Dân trí điện tử, địa chỉ Internet: www.dantri.com.vn Dân trí điện

tử là một đơn vị báo chí non trẻ trong làng báo Việt Nam, thời gian phát triển mới gần đây nhưng lại nhanh chóng có vị trí cao trong hoạt động báo chí điện

tử Năm 2012 báo điện tử Dân trí còn là website tin tức hàng đầu ở Việt Nam được người từ 15-54 tuổi truy cập bằng Internet và bằng phương tiện di động (khảo sát công bố tháng 10/2012 của Kantar Media) Tuy nhiên, bên cạnh thành công, Dân trí điện tử cũng có những vấn đề bất cập do tăng trưởng nhanh mang lại

Tuổi trẻ Online, địa chỉ Internet: www.tuoitre.vn, là đơn vị báo điện tử thuộc hệ thống sản phẩm của báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Cơ quan này luôn được đánh giá là đơn vị có nghiệp vụ báo chí hàng đầu Việt Nam, với đội ngũ cán bộ, phóng viên tinh thông chuyên môn và chính sách thông tin riêng biệt, đặc thù, ít có ở các cơ quan báo chí khác Báo Tuổi trẻ TPHCM cũng là đơn vị báo chí có đường lối thông tin mang đậm tính “phản biện xã hội”, bản lĩnh thông tin vững vàng, được công chúng đánh giá cao và có lượng phát hành bản in lớn, lượng truy cập website khá lớn

Trang 13

7

4 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài được triển khai để trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

1) Thực trạng các thông điệp truyền thông thể hiện vai trò thông tin của báo điện tử Việt Nam với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay như thế nào?

2) Trong vai trò thông tin về đề tài trên, báo điện tử có những thành công, hạn chế gì?

3) Nguyên nhân của thành công, hạn chế đó là gì?

4) Có những yếu tố nào tác động đến việc thực hiện vai trò của báo điện

tử với vấn đề nêu trên?

5) Báo điện tử cần có giải pháp gì để nâng cao vai trò của mình trong vấn

đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Nội dung thông tin các đề tài văn hóa trên báo điện tử

Việt Nam thời gian qua có những tác động tiêu cực đến công chúng, gây ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam

Giả thuyết 2: Toà soạn báo điện tử Việt Nam luôn có một quy trình

hoạt động, nhưng chưa chú ý nghiên cứu một cách bài bản tính đặc thù của từng loại nội dung, cụ thể trong nghiên cứu đề tài này là nội dung về xây dựng và phát triển nền văn hóa

Giả thuyết 3: Báo điện tử có năng lực thông tin nhanh, dễ tiếp cận, phù

hợp với thị hiếu của công chúng hiện đại Nếu có được giải pháp hiệu quả, báo điện tử sẽ là phương tiện truyền thông đóng vai trò đi đầu, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Trang 14

8

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin về chủ

nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về báo chí và văn hóa Việt Nam Trên cơ sở đó, Luận án triển khai 3 phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp Hoạt động cụ thể của

phương pháp này là sưu tầm, thống kê, phân loại và phân tích tài liệu liên quan đến đề tài Luận án Phương pháp này có ưu điểm về tính hệ thống trong quá trình thu thập thông tin nghiên cứu, là bước tạo dữ liệu tiền đề cho hoạt động nghiên cứu trong Luận án Các tài liệu gồm có:

- Văn bản, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến đề tài Qua hệ thống văn bản này, Luận án sẽ có được cách nhìn cụ thể về đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và cách thức tổ chức, quản lý của Nhà nước về vấn đề văn hóa Việt Nam hiện nay, về báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng

- Một số công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước (tiếng Anh) liên quan đến đề tài Thông qua đánh giá các tài liệu này, có thể xây dựng bức tranh tổng quan về những nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả có thể kế thừa được những gì từ các nghiên cứu trước, có thể có kết quả nghiên cứu gì mới trong Luận án; đồng thời, bước đầu xây dựng khung lý thuyết liên quan đến đề tài, việc vận dụng những lý thuyết cụ thể về báo chí, văn hóa

- Các báo cáo tổng kết của đơn vị chức năng, bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu Với những tài liệu này, Luận án có được những đánh giá định lượng và định tính từ phía các đơn vị có chuyên môn về các vấn đề nêu trong đề tài nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn Hoạt động cụ thể của phương pháp này là

trên cơ sở nghiên cứu nội dung cơ bản của đề tài, tác giả thiết kế các câu hỏi

Trang 15

9

cho phỏng vấn sâu và câu hỏi/chủ đề cho phỏng vấn nhóm Phương pháp này

thu thập thông tin, ý kiến, bàn luận của nhân sự làm công tác lãnh đạo, quản

lý báo chí, các nhà chuyên môn, các nhà báo về vai trò của thông tin báo điện

tử nói chung, thông tin về xây dựng và phát triển nền văn hóa nói riêng, về sự hình thành nhận thức, thay đổi quan điểm, các giá trị và hành vi văn hóa của công chúng Ngoài giá trị định tính và thu thập thông tin, phương pháp phỏng vấn giúp tác giả Luận án có được sự tích luỹ về ý tưởng và những nhận xét bước đầu về đề tài Cách thức phỏng vấn được triển khai như sau:

- Phỏng vấn sâu: Tác giả thiết kế các câu hỏi dành cho 4 đối tượng:

Lãnh đạo cơ quan Đảng về báo chí (Ban Tuyên giáo Trung ương); Quản lý nhà nước về báo chí (Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử, Cục Báo chí - Bộ Thông tin và Truyền thông); Chuyên gia

về văn hóa; Chuyên gia về báo chí Với hoạt động này, mục đích của Luận án là thu thập những đánh giá vĩ mô về quy trình triển khai thông tin văn hóa trên báo điện tử, vai trò của báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam: Từ Quan điểm thông tin - Triển khai vĩ mô - Triển khai tổ chức thực hiện - Đánh giá vai trò của nội dung sản phẩm báo chí Dự kiến: phỏng vấn mỗi loại đối tượng 5 người (thu về 20 ý kiến)

- Phỏng vấn nhóm: Thiết kế câu hỏi/chủ đề nhằm thu thập thông tin từ 2

nhóm: một là, lãnh đạo cơ quan báo điện tử; hai là, biên tập viên, phóng viên các đơn vị báo điện tử Mục đích là thu thập những quan điểm, nhận định, đánh giá của những người trực tiếp thực hiện sản xuất nội dung về vai trò của báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tác nghiệp, trong sự biến chuyển nhận thức của công chúng báo điện tử Dự kiến: chủ đề gồm 5 - 10 câu hỏi Đơn vị thực hiện phỏng vấn nhóm gồm 4 đơn vị báo điện tử: báo Nhân dân, Vietnamnet, Dân trí và Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 16

10

Phương pháp phân tích nội dung Có thể nói, phương pháp này được

áp dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Cụ thể, tác giả sử dụng nhằm thực hiện nhiệm vụ đánh giá ưu điểm, hạn chế về nội dung và hình thức của tin, bài đã xuất bản trên báo điện tử Sản phẩm báo chí là nơi biểu hiện cụ thể nhất vai trò của báo điện tử với vấn đề văn hóa Việt Nam hiện nay Để tiến hành phân tích nội dung, tác giả thu thập tin, bài qua website của các đơn vị khảo sát, lập bảng thống kê và download (tải về) những tin, bài tiêu biểu

Hoạt động điều tra ý kiến công chúng qua bảng hỏi (anquette survey)

Các yếu tố định lượng từ hoạt động này dùng để tham chiếu, tăng tính thuyết phục cho những phân tích trong Luận án Địa bàn hỏi ý kiến là tỉnh Lào Cai, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Nghệ An và Thành phố Hồ Chí Minh Nội dung bảng hỏi tập trung vào những đánh giá của công chúng về vai trò, nhiệm vụ của báo điện tử với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam giai đoạn hiện nay; cách thức mà công chúng tương tác hiệu quả với website báo điện tử Chúng tôi cố gắng lựa chọn địa bàn điều tra sao cho có tính mở rộng nhất trong khả năng nghiên cứu của mình, đồng thời dựa trên nghiên cứu đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội - văn hóa của mỗi địa bàn

Lào Cai là một trong những tỉnh đặc thù biên giới phía Bắc; Thái Nguyên là tỉnh giao thoa giữa đồng bằng và miền núi, giữa Đông Bắc với Tây Bắc; Nghệ An là tỉnh miền Trung Việt Nam; Thành phố Hồ Chí Minh là đơn

vị dẫn đầu kinh tế Việt Nam, nằm ở phía Nam, có lượng người nước ngoài đầu tư, làm việc, học tập, sinh sống tập trung cao

7 Đóng góp mới của Luận án

Nghiên cứu về một loại hình báo chí là báo điện tử, trong hệ thống các phương tiện truyền thông mới, về vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay, là đề tài ít được thực hiện từ trước đến nay ở Việt Nam

Nghiên cứu về vai trò của báo điện tử với nền văn hóa Việt Nam khác những

nghiên cứu trước đây về báo điện tử như là: đặc điểm của báo điện tử, thể loại tác phẩm trên báo điện tử, cách làm chương trình giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến trên báo điện tử v.v…

Trang 17

11

Các nghiên cứu của Luận án đề cập chính đến nội dung và một phần hình thức thông tin, có phân tích sâu về công tác chỉ đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quy trình quản trị toà soạn báo điện tử - những yếu tố tác động không nhỏ đến nội dung thông tin báo điện tử

Luận án làm rõ các vấn đề: xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay trong mối quan hệ với báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng; đặc thù của loại hình báo điện tử khi phản ánh về đề tài; báo điện tử thể hiện vai trò như thế nào với vấn đề này; quản trị toà soạn và tác nghiệp của phóng viên như thế nào để đạt được hiệu quả tốt nhất

Luận án có những khuyến nghị và giải pháp (gồm giải pháp chung và giải pháp riêng) cho báo điện tử Việt Nam về đề tài đã nghiên cứu

8 Dự kiến kết quả lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Về lý luận, tổng kết thực tiễn công tác thông tin báo điện tử về các đề

tài văn hóa; vai trò của báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa; đóng góp lý luận về loại hình báo điện tử

Về thực tiễn, khuyến nghị với công tác lãnh đạo, quản lý báo chí;

khuyến nghị với bốn báo điện tử khảo sát các giải pháp để thực hiện tốt hơn vai trò trong hoạt động quản trị, tác nghiệp về đề tài

Luận án cũng là một tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo đội ngũ quản

lý và tác nghiệp báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng

9 Cấu trúc của Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến Luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án có cấu trúc

4 chương

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí, báo điện tử và văn hóa Chương 3 Thực trạng thông tin văn hóa trên báo điện tử Việt Nam

hiện nay (khảo sát báo Nhân dân điện tử, Vietnamnet, Dân trí điện tử và Tuổi trẻ Online, từ năm 2008 đến đầu năm 2015)

Chương 4 Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị

Trang 18

12

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Văn hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của con người Văn hóa luôn hiện hữu và thẩm thấu trong mọi sự vận động của đời sống xã hội Không chỉ có vậy, văn hóa còn tồn tại ở cả những sự vật, hiện tượng tự nhiên, thông qua lăng kính và sự khúc xạ chủ ý của con người Bởi vậy, văn hóa là một trong những đối tượng cơ bản của các nghiên cứu ngành khoa học xã hội Trong nội dung đó, những nghiên cứu về mối quan hệ giữa phương tiện truyền thông đại chúng và văn hóa được nhiều học giả trong nước và nước ngoài chú trọng, thể hiện ở nhiều công trình, sách chuyên khảo, tham khảo Bởi lẽ, sự tác động nhanh và trên diện rộng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong thời kỳ hiện đại làm thay đổi và ảnh hưởng sâu sắc đến sự chuyển biến văn hóa của công chúng

Trong một góc tiếp cận khác, 15 năm trở lại đây, Internet phát triển rất mạnh Theo đó, các quốc gia trên thế giới sử dụng Internet như một nền tảng trao đổi và chia sẻ thông tin hiệu quả Ở góc độ thông tin thời sự, báo điện tử (một loại hình báo chí - một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng) và các phương thức sản xuất thông tin trên báo điện tử ngày càng định hình và hoàn thiện Đồng thời, xu hướng sử dụng và bị tác động bởi các phương tiện Internet nói chung, báo điện tử nói riêng cũng thể hiện ngày càng sâu rộng Tuy nhiên, những nghiên cứu, thể hiện dưới dạng sách xuất bản và bài báo khoa học, hiện nay tập trung nghiên cứu chung về quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng và văn hóa Mối quan hệ giữa báo điện tử và văn hóa không xuất hiện như một công trình riêng biệt, có thể chỉ là một chương, một phần trong sản phẩm đó

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Để thực hiện đề tài nghiên cứu trong Luận án, chúng tôi tập hợp và tìm hiểu một số nội dung cơ bản trong các công trình nghiên cứu của các tác giả

Trang 19

13

ngoài nước xung quanh nội dung về các phương tiện truyền thông đại chúng, các phương tiện truyền thông mới, về các yếu tố liên quan đến văn hóa và văn hóa truyền thông đại chúng, sự tác động, ảnh hưởng của thông tin văn hóa trên các phương tiện này Trong quá trình tập hợp đó, chúng tôi nhận thấy nội dung liên quan đến Việt Nam không có nhiều, đặc biệt về các nghiên cứu liên quan đến phương tiện truyền thông mới, như báo điện tử, với sự phát triển của văn hóa Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, thông qua việc tìm hiểu này, chúng tôi cố gắng thu thập những thông tin, quan điểm ít nhiều bàn luận về mối quan hệ đa chiều giữa báo chí và văn hóa nói chung, nhằm mục đích thấy được bức tranh lý luận về vấn đề này

Những nghiên cứu tiêu biểu ngoài nước liên quan tương đối gần với đề tài bao gồm một số nội dung sau đây:

1.1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các loại hình báo chí và văn hóa,

văn hóa truyền thông đại chúng

Có thể kể đến các tác giả Bottomore, T (1989), Morley, D (1980,

1991, 1992), McGuigan, J (1992), Colin, A (1993), Anura Goonasekera và Youichi Ito (1999), Dominic Strinati (1999), Aluja-Fabregat, A (2000), Ajzen, I và Fishbein, M (2005), Brett Frischmann (2006), Jennings Bryant

và Mary Beth Oliver, Carolyn A Lin (2009), Richard Campbell, Christopher

R Martin và Bettina Fabos (2010) …

Các tác giả trên đã có những nghiên cứu tổng hợp về văn hóa, các trường phái nghiên cứu văn hóa trên thế giới, sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng (PTTTĐC) đến công chúng, văn hóa đại chúng, những lý thuyết liên quan như: Văn hóa công cộng và văn hóa đại chúng; Trường phái Frankfurt và công nghiệp văn hóa; Cấu trúc luận, triệu chứng học và văn hóa đại chúng; Chủ nghĩa Marx, tư tưởng và kinh tế chính trị; Chủ nghĩa vị nghệ thuật và văn hóa đại chúng Đặc biệt, họ cũng chú trọng nghiên cứu về các hiện tượng qua đó hiển thị các yếu tố của văn hóa đại chúng như: kiến trúc, điện ảnh, truyền hình, quảng cáo, âm nhạc đại chúng v.v…

Trang 20

14

Những nghiên cứu của tác giả trên cũng chỉ ra mối quan hệ hữu cơ và

sự tác động qua lại, những ảnh hưởng từ “cưỡng bức” đến “chủ động” của công chúng như là một quy trình phản ứng trước những biến đổi văn hóa do các PTTTĐC mang lại 108, tr.181

Có thể tạm phân loại nội dung những nghiên cứu này theo 2 quy trình:

thứ nhất, nghiên cứu sự tác động của các PTTTĐC đến công chúng, làm thay

đổi họ, biến đổi lối sống, thói quen, sở thích của họ Thông qua nghiên cứu các trường hợp báo chí in ấn, phát thanh, truyền hình, có thể thấy sự tương quan giữa thông tin về các lĩnh vực chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội và văn hóa là khá tương đồng Nội dung thông tin báo chí tạo thành xu hướng, trào lưu và ảnh hưởng đến công chúng, họ gọi là “làn sóng” Song song với quá trình đó, báo chí nói chung và mạng Internet nói riêng lại ảnh hưởng đến văn hóa chúng ta hiện nay theo một cách khác Từ trường hợp Google, các tác giả có nghiên cứu riêng về quảng cáo, nơi chứa đựng thông điệp không phải là tin tức báo chí, nhưng có sự ảnh hưởng của quảng cáo trên các phương tiện báo chí và Internet gây ra sự tác động, ảnh hưởng đến văn hóa công chúng 114, tr.52 Trong hướng nghiên cứu này, chúng tôi thấy nhận định của tác giả Carolyn A Lin (Đại học Connecticut) về những tác động, ảnh hưởng và hệ quả của truyền thông Internet là gần gũi với nghiên cứu của Luận án Tác giả cho rằng: “những hệ quả của Internet đối với xã hội,

là một xã hội tiến bộ hay không tiến bộ, tăng trưởng hay không tăng trưởng,

có nghĩa hay vô nghĩa, tiêu cực hay tích cực liên quan đến cuộc sống các cá nhân với vai trò là một nhà truyền thông điện tử, nó có thể tốt hoặc cực xấu”

104, tr.584

Thứ hai, những nghiên cứu về xu hướng phát triển nội dung thông điệp

trên các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là Internet, trong đó họ chỉ ra

sự độc lập tương đối và những tác động trở lại của đời sống xã hội, của một

“lớp văn hóa đại chúng” đối với các phương tiện truyền thông Không chỉ có công chúng biến đổi, mà cách thức truyền thông điệp và nội dung thông điệp

Trang 21

15

của người làm truyền thông/tổ chức truyền thông cũng có những thay đổi nhất định Hay nói cách khác, các tác giả chỉ ra sự tác động và ảnh hưởng ở chiều thứ hai, giữa văn hóa và các phương tiện báo chí

Ngoài ra, những nghiên cứu trên còn chỉ ra tính cố hữu của văn hóa, nhất là những văn hóa bản địa/bản sắc, vẫn luôn tồn tại một sự tiềm ẩn nhất

định Anura Goonasekera và Youichi Ito (1999) khi phân tích về mối quan hệ

giữa các loại hình báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình, một phần của mạng Internet) với vấn đề bản sắc văn hóa, đã nhấn mạnh sự phát triển văn hóa có tính quá trình và đa dạng này, đó như là một sự tất nhiên và cố hữu của con người Các tác giả nghiên cứu về sự hình thành dân tộc và sự tiếp biến văn hóa qua nhóm người di cư, dựa trên nghiên cứu các trường hợp Ấn Độ, Trung và Tây Java (Indonesia), Malaysia, Pakistan, Philippine, Singapore, Sri Lanka trong quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa Các nghiên cứu đánh giá vai trò mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc, của văn hóa truyền thống các quốc gia này - đó là một nền văn hóa “đa văn hóa”, mà không thể áp dụng khuôn mẫu cứng nhắc để có sự tồn tại chung giữa các tộc người, “thậm chí là nguy hiểm

để nói về những mô hình đó” 99, tr.5 Đến mức, qua hàng thế kỷ người dân sống trong hoà bình và ổn định, nhưng với những sự xâm nhập từ bên ngoài vào, có phần của các phương tiện truyền thông đại chúng, ngay lập tức họ có những phản ứng bạo lực

Như vậy, vấn đề về văn hóa trong mối quan hệ với báo chí, với các PTTTĐC luôn là nội dung quan trọng, được quan tâm của các nhà nghiên cứu truyền thông, đó là những nhận định đầy đủ và toàn diện về sự tác động của các phương tiện truyền thông tới xã hội và công chúng

Trong các nghiên cứu nêu trên, các tác giả không chỉ vận dụng quan điểm nghiên cứu hình thành từ hệ tư tưởng Mác-xit, các trường phái nghiên cứu văn hóa truyền thông đại chúng như trường phái Frankfurt, trường phái Birmingham, mà luôn quy chiếu vào đặc điểm cụ thể của từng quốc gia, dân tộc, vùng lãnh thổ, hoặc vào một loại hình phương tiện truyền thông đại

Trang 22

16

chúng, là truyền hình, đài phát thanh hay báo in Tất nhiên, những quy chiếu

về mặt loại hình phương tiện chỉ quan tâm đến các công cụ truyền thông sử dụng nền tảng Internet bắt đầu từ những năm 1980 trở đi, khi Internet toàn cầu hình thành và có sự chi phối đến đời sống xã hội Hoặc giả như trong sự phát triển của các công cụ truyền thông Internet, các mô hình truyền thông đại chúng cũng ngày càng trở nên bình đẳng trong mối quan hệ tương tác với các

mô hình truyền thông phi đại chúng, truyền thông chuyên biệt, thậm chí là truyền thông cá nhân Tuy nhiên, trong phạm vi những bàn luận này, Luận án cũng chú trọng hơn đến các phương tiện truyền thông đại chúng, mà có sự sử dụng phương tiện truyền tải là Internet

1.1.2 Nghiên cứu về quan hệ giữa các công cụ truyền thông Internet, trong

đó có báo điện tử, với vấn đề văn hóa

Các tác giả thuộc nhóm nghiên cứu này có thể kể đến Crawford Kilian (1999), Deuze, M (2003), Kahn, R và Kellner, D (2004), James Glen Stovall (2004), Jason Whittaker (2004), David Gauntlett và Ross Horsley (2004), Tremayne, Mark (2004), Gunkel, Davis J (2005), Thiel, Shayla (2005), Stuart Allan (2006), DiMassa và Cara Mia (2006), Beers, Davis (2006), Auksė Balčytienė, Lina Auškalnienė, Inesa Birbilaitė, Aušra Vinciūnienė (2009), Orcutt, D (2011), Robinson, Sue (2011), Ravi, B K (2012), Hilton, Anthony (2012) và một tác giả khác là Thomas L Friedman (2005) với công trình đã dịch ra tiếng Việt “Thế giới phẳng” (2008)…

Qua nghiên cứu của các tác giả trên đây, chúng ta nhận thấy, sự ra đời của nền tảng Internet, sự phát triển của phương tiện truyền tải nội dung mạnh

mẽ và phong phú nhất từ trước đến nay là website đã cho phép lịch sử loài người bước sang một trang mới Đến mức, Friedman (2005) gọi là thời kỳ toàn cầu hóa 3.0, một thế giới phẳng mà mọi mối quan hệ trở nên “siêu nhỏ” Bản thân sự tăng tiến của các thế hệ web từ 1.0 đến 2.0 đã khiến cho mối quan hệ trong thế giới ảo thay đổi kinh ngạc Đó không phải chỉ là sự phát triển công nghệ, mà đó là sự đổi thay xã hội, văn hóa Cách thông tin trước

Trang 23

17

đây là một chiều tuyến tính, thì hiện nay rất đa chiều, và ai cũng có thể trở thành người sản xuất, phát tán thông điệp Người ta lý giải được vì sao thế giới ảo tác động đến thế giới thực: Tác động đến máy tính và web 1.0 là tác động với phương tiện độc lập, đơn giản là con người chỉ làm việc với máy móc Nhưng, với web 2.0, người này tương tác với người khác, họ chủ động tạo ra phương thức tương tác trên nền tảng Internet đã được trao cho Hay nói cách khác, đó là một thế giới thực, theo một cách tiếp cận nào đó Đặc biệt, các tác giả có những phân tích về đời sống web, các nhận diện web, nghệ thuật web và văn hóa web, trong đó có nhận định quan trọng “người dùng cá nhân phải tạo ra cho họ những quyết định có tính cá nhân, tính đạo lý và tính đạo đức để đối phó với sự phá hoại đầy mê hoặc của Internet” 106, tr.161

Những nghiên cứu này cũng đề cập đến những sự thành công của báo điện tử (họ sử dụng phổ biến thuật ngữ “online journalism”, rất ít tác giả sử dụng thuật ngữ “e-journalism”, hay “web-journalism”) trên các lĩnh vực chính trị (như bầu cử), tài chính (như thị trường chứng khóan), văn hóa (như sự trách nhiệm cộng đồng, hay “nền báo chí lười biếng được tạo ra bởi Internet”), xã hội (“nhà báo công dân”)…

Báo điện tử thay đổi diện mạo của công chúng - người nhận thông tin,

“trước đây họ được giáo dục trong môi trường một chiều Chúng ta phải tạo

ra mối liên hệ hai chiều trong môi trường web” 105, tr.34 James Glen Stovall (2004) có những bàn luận cụ thể hơn về nội dung website, cách thức xây dựng và phát tán thông tin trên website, đặc điểm và đặc tính của các loại phương tiện thông tin: văn bản, ảnh, đồ hoạ, hoạt hình, âm thanh, hình ảnh video v.v… Trong đó, những bàn luận của tác giả về sự tương tác với công chúng trên trang web báo điện tử có đề cập đến “sự chủ động của công chúng, nhu cầu của công chúng với việc chia sẻ nguồn thông tin” 111, tr.192 Thực

tế, văn hóa công chúng thay đổi thông qua chính hoạt động của họ trong mối quan hệ tương tác và chủ động với báo điện tử, với các website Họ có quyền

và có “điều kiện công cụ” tốt hơn, chủ động hơn trong công bố thông tin

Trang 24

18

Không chỉ có báo chí, sự ra đời của phương thức blog, những khủng hoảng sau sự kiện 11/9, những scandal nhạy cảm, cuộc chiến Iraq, cộng đồng thông tin thời sự như IndyMedia, OhmyNews, Wikinews và sự hình thành khái niệm “nhà báo công dân” qua sự kiện đánh bom nhà ga London và cơn bão Katrina, xây dựng một bức tranh tổng thể về báo điện tử, các phương thức truyền thông tận dụng mạng Internet khác và mối quan hệ giữa các thực thể này với nhau Đặc biệt, các tác giả có một vài nhận định về hệ quả của sự tác động qua lại trong truyền thông Internet và văn hóa báo điện tử nước Anh thông qua sự kiện đánh bom tự sát tại nhà ga London năm 2005 “riêng BBC nhận về từ công chúng hơn 1000 bức ảnh, 20 đoạn video, 4000 thông điệp văn bản và 20.000 email… Rất nhiều trang tin tức nhận thức được sự hữu dụng của blog cá nhân hay nhật ký trực tuyến của người London về các sự kiện, kết quả của các sự kiện đó Và nhiều người dân thì lập web cá nhân hay nhật ký để kể lại những câu chuyện của họ trên Internet” 118, tr.148-149

Các tác giả cũng phân tích chi tiết về sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới trong thiên niên kỷ thứ ba, nơi mà việc sử dụng hay không sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại dẫn đến sự khác nhau về kiến thức và văn hóa; những ảnh hưởng và tác động tích cực cũng như tiêu cực, sự điều chỉnh phù hợp giữa văn hóa và công nghệ được cộng đồng quan tâm; những biến đổi của các định nghĩa văn hóa, cũ và mới; trong bối cảnh toàn cầu hóa và truyền thông điện tử rất cần phải thiết lập Chương trình nghị

sự tin tức toàn cầu… 113

Năm 2006, DiMassa, Cara Mia cũng có những trao đổi về thuật ngữ “hội tụ” (convergence) Tác giả bàn luận về những nghiên cứu của Henry Jenkins, người sáng lập ra trường phái nghiên cứu so sánh văn hóa truyền thông Học viện MIT (Hoa Kỳ), và đi đến kết luận: Sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới làm xuất hiện khái niệm “hội tụ văn hóa” - nơi mà “các nhà thơ, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ, các nhà văn có thể phát tán tác phẩm của họ, mà không phụ thuộc vào phương tiện chính thống, mà vẫn có được giải thưởng mà không phải giải thưởng nào cũng có, đó là người hâm mộ” 106

Trang 25

19

Đề cập đến những nghiên cứu liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy

có mối liên hệ chặt chẽ giữa “văn hóa” và “phương tiện truyền thông đại chúng”, “văn hóa đại chúng”, “văn hóa truyền thông” Điểm này liên quan đến những nghiên cứu của các tác giả thuộc 2 trường phái nghiên cứu nổi tiếng là Frankfurt và Birmingham của thế kỷ XX, với những quan điểm không đồng nhất với nhau, trong đó nổi trội nhất là quan niệm về các đặc trưng của

“văn hóa đại chúng” Đại diện cho trường phái Frankfurt là Walter Benjamin, Herbert Marcuse, Theodor Adorno, Max Horkheimer, Leo Lowenthal phê phán các đặc trưng của văn hóa đại chúng, trong đó có xu hướng “cưỡng bức hóa” khi bản thân đại chúng không quyết định được văn hóa của họ mà do một nhóm thống trị quyết định Ngược lại, trường phái Birmingham với các đại diện Raymond Williams, Stuard Hall, Tony Bennett, Janet Wollacott và John Fiske thì lạc quan với “văn hóa đại chúng”, mà sau này John Fiske khái quát qua các nghiên cứu sự ảnh hưởng của truyền hình đến văn hóa châu Âu: công nghiệp văn hóa hay không, muốn trở thành một bộ phận của văn hóa đại chúng thì phải mang lại lợi ích cho công chúng

Như vậy, bước đầu qua khảo sát những trình bày khoa học này, chúng tôi thấy, sách, tập hợp chuyên đề nghiên cứu, bài viết nghiên cứu của tác giả nước ngoài đã đề cập tương đối đầy đủ, toàn diện và cập nhật về những yếu tố của văn hóa mới; mối quan hệ giữa văn hóa và các phương tiện truyền thông đại chúng; những biến động và biến chuyển văn hóa qua “lăng kính” truyền thông đại chúng; mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông mới (trong

đó có báo điện tử) và văn hóa đương đại Tuy nhiên, những nghiên cứu được công bố có liên quan đến báo điện tử và văn hóa Việt Nam rất ít

1.2 Những nghiên cứu tiêu biểu trong nước

Hoạt động nghiên cứu và các công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung, đặc biệt là về văn hóa Việt Nam được các nhà nghiên cứu triển khai sôi nổi Trước hết, đó là vì những nhu cầu cấp bách trong vấn đề khai thác, tìm hiểu, tổng kết thực tiễn hình thành và phát triển nền văn hóa của một dân

Trang 26

20

tộc Ngoài ra, văn hóa Việt Nam cũng là một trong những nền văn hóa đặc sắc, có sự giao hoà đa dạng và phức tạp giữa các luồng văn hóa khu vực và thế giới Tuy nhiên, về hoạt động nghiên cứu các đề tài liên quan đến văn hóa,

sự tác động văn hóa qua loại hình/trên loại hình báo điện tử thì ở Việt Nam không có nhiều Ở một góc tiếp cận khác, ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về sự tác động của các loại hình báo chí (báo chí in ấn, phát thanh, truyền hình) đến văn hóa, ở các cấp độ khác nhau, nhưng lại thiếu vắng một loại hình báo chí thứ tư - đó là báo điện tử Vì vậy, chúng tôi thấy có một số

nội dung nghiên cứu cơ bản liên quan gần đến đề tài Luận án như sau:

1.2.1 Nhóm các nghiên cứu tiêu biểu về văn hóa Việt Nam

Qua các công trình như “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (1938), “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc (2000), “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng (2000), “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm (2001), “Biên khảo thuần phong mỹ tục Việt Nam” của Sơn Nam (1994), “Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc” của GS Hà Minh Đức (2005) v.v… các nhà nghiên cứu thống nhất nền

văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển với ba đặc trưng chính:

Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật

Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân

bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hóa có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc Từ các vùng

Trang 27

21

đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến

sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên

Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc

và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21 Việt Nam đã có những thay đổi

về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại

Ngoài ra, một số yếu tố thường được coi là đặc trưng của văn hóa Việt Nam khi nhìn nhận từ bên ngoài bao gồm tôn kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học Phương Tây cũng cho rằng những biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam bao gồm rồng, rùa, hoa sen và tre

Qua tìm hiểu một số công trình khác: Phan Ngọc (2013), Nền văn hóa mới của Việt Nam; Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm; Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam; Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa; Trường Lưu (2006), Văn hóa Việt Nam - truyền thống và hiện đại; Hà Văn Tấn (2005), Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, GS.TS Đỗ Huy (2013), Văn hóa Việt Nam

- Trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển; Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, Ngô Thị Thanh Quý (2013), Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay… chúng tôi thấy, các nhà

nghiên cứu không chỉ xây dựng căn bản những kiến thức quan trọng nhất về

sự hình thành, định hình và những bước phát triển, đổi thay của nền văn hóa Việt Nam, từ khởi thuỷ đến hiện nay mà các nghiên cứu gần đây về sự phát

Trang 28

22

triển của văn hóa thường là những nghiên cứu liên ngành văn hóa - chính trị học, văn hóa - xã hội học, văn hóa - tôn giáo học Điều đó, cho thấy một bức tranh hiện đại về mối quan hệ, giao thoa giữa văn hóa với các hoạt động khác, trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Những bài viết khoa học gần đây của các tác giả Trần Ngọc Thêm (2007), Nguyễn Ngọc Thơ (2007), Phạm Xuân Nam (2008), Nguyễn Thị Đức (2013), Nguyễn Bích Thục (2014), Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Mạnh Dũng (2014), Lê Xuân Kiêu (2014)… là những minh chứng làm chắc chắn thêm các nội dung về mối quan hệ đa dạng của văn hóa với các lĩnh vực của đời sống

xã hội, những “tiếp biến và hội nhập” văn hóa Việt Nam hiện nay

1.2.2 Nhóm các nghiên cứu về quan hệ giữa báo chí, Internet, báo điện tử

và văn hóa

Những nghiên cứu về các mối quan hệ này, qua đó thể hiện vai trò của báo chí với các vấn đề văn hóa - xã hội ở Việt Nam, có thể chia thành 3 nhóm nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu từ góc độ xã hội học truyền thông và

quản lý văn hóa như Trần Hữu Quang (2001, 2006), Bùi Hoài Sơn (2006), Nguyễn Quý Thanh (2006, 2011), Trần Bá Dung (2008), Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2012), Tống Văn Chung (2013), Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, Ngô Thị Thanh Quý (2013) không chỉ thực hiện nghiên cứu, điều tra trên nghiệp vụ xã hội học, mà có những bàn luận, lý giải

về sự chuyển biến xã hội, quá trình thay đổi hệ giá trị của người Việt (thành thị và nông thôn), nhu cầu về thông tin báo chí, phân tích về công chúng truyền thông và những tác động của Internet đối với người dân Việt Nam hiện nay, nhất là giới trẻ Tác giả Bùi Hoài Sơn xuất phát từ ý tưởng về những tác động tích cực và tiêu cực của phương tiện Internet đến học sinh, sinh viên ở các đô thị lớn ở Việt Nam, trong đó có Hà Nội Trên cơ sở thống kê, phân tích hiện trạng chung về sự phát triển của Internet Việt Nam, tác giả đã có những nghiên cứu bước đầu về sự ảnh hưởng, tác động đến nhận thức và hệ giá trị

Trang 29

23

của thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội Trong công trình này, tác giả có những kết luận quan trọng về “một thế giới ảo được hình thành qua Internet”,

“một số các giá trị xã hội mới được hình thành” như tình bạn “nhiều thay đổi”

68, tr.81, tình yêu “biến dạng nhất định” 68, tr.81, “tội phạm mới được phát sinh”, “sự phá vỡ vòng xoáy của sự im lặng” 68, tr.83

Thứ hai, nhóm các nhà nghiên cứu xuất phát từ góc độ văn hóa học,

báo chí học, nghiên cứu truyền thông như Nguyễn Thị Minh Thái (2013, 2014), Đặng Thị Thu Hương (2013), Nguyễn Thành Lợi (2013), Hoàng Thị Thu Hà (2013), Nguyễn Thuý Hoa (2013), Phan Văn Tú (2007, 2013)… Nội dung nghiên cứu của các tác giả trên vừa tiếp cận từ góc độ văn hóa học lịch

sử, vừa tiếp cận từ những trường phái nghiên cứu văn hóa truyền thông mới, đặc biệt là họ đặt vấn đề nghiên cứu sự tác động của các phương tiện truyền thông mới đến lĩnh vực văn hóa, khởi đầu từ sự tác động của các phương tiện báo chí như báo chí in ấn, phát thanh, truyền hình và sau đó là Internet và báo điện tử Những nghiên cứu này chỉ ra mối quan hệ tác động và khẳng định vai trò của báo chí với sự phát triển văn hóa, hình thành văn hóa mới, nhóm văn hóa mới, nói như tác giả Nguyễn Thị Minh Thái thì “văn hóa phải được truyền thông”, hay như tác giả Nguyễn Thành Lợi thì đã hình thành khái niệm

“hình thái văn hóa” và “quyền lực văn hóa” của truyền thông hội tụ trong thời

kỳ hiện đại Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Thu Hương, Hoàng Thị Thu Hà (2013) có những bàn luận thấu đáo về “văn hóa đại chúng”, những lý thuyết truyền thông về văn hóa đại chúng trong thời kỳ hiện đại, kỷ nguyên của kỹ thuật số, những ảnh hưởng của Internet đến văn hóa đại chúng, một bộ phận của văn hóa Tuy nhiên, những nghiên cứu này lại nằm ở phần cuối của báo cáo khoa học của các tác giả, như là một sự gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam hiện nay

Thứ ba, những nghiên cứu ở các công trình Khóa luận, Luận văn, Luận

án được thực hiện thời gian qua tại các cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông

Trang 30

24

cũng không có đề tài liên quan đến đề tài báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay

Có đề tài liên quan đến văn hóa Việt Nam thì được khảo sát trên loại

hình truyền hình, ví dụ: “Quảng bá văn hóa Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài qua kênh VTV4”, Lê Thanh Thuỷ, 2012 (Luận văn Thạc sỹ); hoặc báo in “Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí”, Lê Vũ Điệp, 2007 (khảo sát trên loại hình báo in); Hay liên quan đến báo điện tử thì lại chuyển tải vấn đề nội dung khác, ví dụ: “Chương trình giao lưu trực tuyến - phương thức hiệu quả của tính tương tác trên báo mạng điện tử”, Trần Thị Kim Dung, 2010 (Khóa luận Cử nhân)

Một số Khóa luận Cử nhân do tác giả Luận án trực tiếp hướng dẫn có liên quan gần gũi với đề tài nghiên cứu nhiều hơn Trong số hơn 30 Khóa luận và sản phẩm webiste do chính tác giả hướng dẫn sinh viên thực hiện, có

một số đề tài như:“Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hóa - giải trí”, Ngô Lan Hương, 2010; “Khảo sát chuyên trang “1000 năm Thăng Long - Hà Nội” trên báo điện tử Dân trí, Dương Thị Ngọc Ánh, 2011; “Tác động của thông tin giải trí trên báo điện tử Dân trí đến văn hóa người Việt”, Nguyễn Thuý Mai, 2013… Như vậy, các nghiên cứu của sinh

viên, học viên cao học hiện nay có tập trung đến những vấn đề của báo điện

tử, tuy nhiên, họ chủ yếu nghiên cứu về các đặc điểm, phương thức hoạt động của báo điện tử như tính thời sự, tính tương tác, khả năng thông tin đa phương tiện, mối quan hệ nội dung giữa báo điện tử và một số công cụ truyền thông Internet khác như blog, mạng xã hội; nghiên cứu về nội dung thông tin các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội; nghiên cứu về các thể loại báo chí trên báo điện tử như Tin tức, Phỏng vấn và một vài yếu tố hình thức khác như title, chapeau…

Cụ thể, chúng ta có thể nhận thấy kết quả của những nghiên cứu trên có nhiều điểm khác biệt so với mục đích nghiên cứu của Luận án này Lê Vũ

Trang 31

25

Điệp (2007), riêng về vấn đề chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể Việt Nam, đã đưa ra một hệ thống 10 giải pháp Tuy nhiên, trong đó có nhiều quan điểm và sự phân tích giải pháp khá chung chung, như là: Hợp tác quốc tế trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; Cần có cơ chế thống nhất quản lý nhà nước đối với nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể; Cần có những chính sách thích hợp và ưu đãi đặc biệt cho việc đầu tư khoa học và đầu tư kinh phí cho việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể; Cho phép người Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam…

Nguyễn Thuý Mai (2013) thực hiện nghiên cứu về những tác động của thông tin giải trí trên báo Dân trí điện tử đến văn hóa người Việt cũng có cách tiếp cận tương đối cụ thể, trực tiếp trên cơ sở nghiên cứu trường hợp của 1 đơn vị báo chí Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả cũng mới dừng lại ở góc độ đánh giá thông qua hệ thống tương tác bình luận (comment) của công chúng báo điện tử khi tiếp nhận thông điệp báo chí Do vậy, kết quả nghiên cứu của tác cũng dừng lại ở mức độ góp ý cho toà soạn báo Dân trí trong việc đăng tải nội dung, xử lý phản hồi của bạn đọc, thay đổi tư duy tiếp cận các sự kiện giải trí nhằm đưa đến cho công chúng những thông tin lành mạnh

Tiểu kết Chương 1

Văn hóa là một hiện tượng xã hội của con người Nhận thức văn hóa và nghiên cứu sự tác động của văn hóa đến đời sống có vai trò quan trọng đối với giới học giả các quốc gia, Việt Nam cũng nằm trong quá trình chung đó Quan trọng hơn, vì văn hóa lại có mối quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, nên ở góc độ nghiên cứu truyền thông, nghiên cứu báo chí, các nhà nghiên cứu ngoài nước và trong nước từ lâu đã hình thành những nghiên cứu, thậm chí là trường phái nghiên cứu, để thực hiện việc lý giải mối quan hệ giữa truyền thông, báo chí và văn hóa

Trang 32

26

Qua những nghiên cứu như vậy, chúng ta đã có được một hệ thống các quan niệm cơ bản và cách thức thực hiện nghiên cứu của các tác giả về vai trò của báo chí với sự hình thành, hay thay đổi, phát triển một nền văn hóa Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới, các cách thức truyền thông mới về vấn đề phát triển văn hóa, dựa trên nền tảng Internet là một thực tiễn bộn bề đòi hỏi các nhà nghiên cứu dày công cày xới Những nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng nhanh chóng tiếp cận với hệ thống quan điểm nghiên cứu mới về văn hóa như “văn hóa đại chúng”, “công nghiệp văn hóa”, “văn hóa Internet”, “văn hóa web 2.0” v.v… Qua những nghiên cứu bước đầu đó, Luận án có được bức tranh tổng thể và nền tảng khi nghiên cứu đề tài báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay

Như vậy, qua quá trình đánh giá tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án ở trong nước và nước ngoài chúng ta thấy, vấn đề nghiên cứu về ảnh hưởng, tác động của thông tin báo chí đến nền văn hóa - xã hội được thực hiện từ lâu, thậm chí đã hình thành các trường phái nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới Ở Việt Nam, hoạt động nghiên cứu theo xu hướng này cũng ngày càng phát triển, có nhiều công trình ở nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về báo điện tử Việt Nam với các vấn đề của văn hóa Việt Nam chưa nhiều

Luận án xác định hướng nghiên cứu liên quan đến báo điện tử trên nền tảng Internet là lĩnh vực hiện nay còn có nhiều “khoảng trống” trong hệ thống

lý luận, lý thuyết của riêng Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam Đồng thời, vấn đề nghiên cứu về mảng nội dung văn hóa, vai trò của báo điện tử trong mối quan hệ tương quan với nền văn hóa Việt Nam hiện nay cũng chưa có nhiều công trình đề cập tới

Trang 33

27

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ BÁO CHÍ, BÁO ĐIỆN TỬ VÀ VĂN HOÁ

2.1 Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản

2.1.1 Báo chí và vai trò của báo chí

2.1.1.1 Khái niệm “Báo chí”

Trong giáo trình “Lý luận báo chí truyền thông”, tác giả Dương Xuân

Sơn (2015, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.64) đưa ra khái niệm: “Báo chí và phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng nhằm tích cực hoá đời sống thực tiễn”

Khái niệm trên giới thiệu vừa có tính khái quát, vừa có tính cụ thể về loại hình báo chí, đặc biệt là tính chất của thông tin trên báo chí Loại thông tin này phân biệt báo chí với các loại hình thông tin xã hội khác như xuất bản, văn học… ở đặc điểm vừa có tính thời sự “đang diễn ra”, vừa đảm bảo thông tin “chính xác, trung thực”, không tưởng tượng, hư cấu Tuy nhiên, có thể thêm một nội dung thông tin là “nhân vật” thì sẽ đầy đủ hơn Đó cũng là một trong những xu hướng được báo chí tập trung phản ánh trong giai đoạn hiện nay, là mảng thông tin về những nhân vật nổi tiếng, chính trị gia, nhà kinh tế, nhà quản lý, giới thể thao, nghệ sĩ… như chuyên mục Hotface, Thư viện (các gương mặt-TG) của báo điện tử Vietnamnet chẳng hạn

2.1.1.2 Khái niệm “Vai trò của báo chí”

Tác giả Dương Xuân Sơn trong giáo trình Lý luận báo chí truyền thông (2015, Sđd) nêu một số biểu hiện cụ thể của “vai trò báo chí” trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội Về lĩnh vực văn hoá, tác giả nhận xét:

“Vai trò của báo chí trong lĩnh vực văn hoá thể hiện trên các mặt: làm giàu,

Trang 34

28

làm đẹp văn hoá, ngôn ngữ dân tộc; đăng tải các sản phẩm văn hoá; công chúng có cơ hội tiếp nhận tri thức văn hoá qua báo chí; năng cao văn hoá, giải trí…” Sđd, tr.50

Định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt điện tử leipzig.de/~duc/Dict/): Vai trò là “tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó” Ví dụ: Vai trò của người quản lí; Giữ một vai trò

(http://www.informatik.uni-quyết định Như vậy, Vai trò thường là danh từ, chỉ tính chất của sự vật, sự việc, hiện tượng, dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ, mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào

đó Ví dụ: Vai trò của Đảng đối với sự phát triển đất nước; Vai trò của tác

phẩm văn học nào đó đối với sự nghiệp sáng tác văn học của tác giả…

Như vậy, vai trò của báo chí là sự tổng hợp chức năng, nhiệm vụ, mục đích hoạt động của báo chí trong quá trình phát triển đời sống xã hội Ví dụ: Báo chí có vai trò quan trọng trong vấn đề xây dựng nông thôn

mới ở Việt Nam hiện nay Điều đó có nghĩa là báo chí với chức năng của mình, thực hiện nhiệm vụ thông tin, nhằm góp phần đạt được mục đích đề ra trong vấn đề xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

Báo chí là lĩnh vực hoạt động đa dạng và phức tạp của đời sống xã hội

Do vậy, có nhiều quan niệm về vai trò của báo chí, nhưng tựu trung lại, các quan niệm đều đánh giá “báo chí giữ vai trò hết sức quan trọng” 71, tr.28trong đời sống chính trị - xã hội Các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang trong Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí - truyền thông (2004) thống kê những biểu hiện cụ thể về vai trò của báo chí trong đời sống

xã hội trên các lĩnh vực: Chính trị, Kinh tế, Văn hóa - xã hội

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, là đề tài có xu hướng về vai trò của báo chí với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa, chúng tôi thống nhất với các tác giả giáo trình trên trong quan điểm nghiên cứu: “Thông qua tác phẩm của mình, các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò truyền

Trang 35

29

bá những tiêu chuẩn và các giá trị tinh thần được xã hội công nhận; xây dựng

ý thức công dân, chống lại những quan niệm và hành động lệch lạc với chuẩn mực, định hướng công chúng đến với Chân - Thiện - Mỹ” 71, tr.34-35

2.1.2 Báo điện tử và một số vấn đề liên quan

2.1.2.1 Thuật ngữ “Báo điện tử”

Loại hình báo điện tử xuất hiện trên thế giới đầu những năm 90 của thế

kỷ XX, được Việt Nam đưa vào Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

báo chí năm 1999 Theo quy định tại Điều 3: “Báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính)” Cách hiểu này đã dẫn đến sự xuất hiện của

các “Ban Điện tử” ở các tờ báo in có phiên bản trên mạng Internet, như Nhân Dân, Lao Động và được sử dụng rộng rãi trong xã hội hiện nay

Tác giả Thang Đức Thắng (2001) định nghĩa: “Một tờ báo Internet là một tờ báo thực hiện các chức năng báo chí bằng phương tiện Internet”

Nhưng cũng theo chính tác giả: “Gọi tên loại hình báo chí này một cách chính xác nhất là báo chí Internet nhưng trong tiếng Việt gọi vậy hơi dài nên chúng

ta gọi là báo trực tuyến” 75

Các tác giả Nguyễn Sơn Minh, Bùi Tiến Dũng, Đỗ Anh Đức (2003)

quan niệm: “Báo trực tuyến là loại hình phương tiện truyền thông đại chúng

sử dụng nền tảng Internet để thực hiện các chức năng báo chí”

Năm 2007, tác giả Phạm Thành Hưng, trong cuốn “Thuật ngữ báo chí - truyền thông” bàn luận về báo điện tử trên nền tảng trang web như sau: “Khi

có phát minh ra trang web, báo chí định kỳ đã thấy ngay cơ hội tận dụng tiềm năng thời sự của web: Báo điện tử ra đời… Thế mạnh của báo điện tử trên trang web là xử lý và chuyển tải thông tin nhanh nhất Tin tức có thể cập nhật từng giờ theo đường dây nóng, có thể đối thoại trực tuyến và có hình ảnh động” 42, tr.217-218

Tác giả Phan Văn Tú (2007) định nghĩa: “Báo chí trực tuyến là loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web,

Trang 36

30

với ngôn ngữ HTML, dành cho công chúng sử dụng Internet” (Bài giảng

“Nhập môn Báo trực tuyến” tại Khoa Báo chí và Truyền thông – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010): “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet” (“Báo mạng điện tử - những vấn đề cơ bản”,

Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, 2010)

Tác giả Triệu Thanh Lê (2014) định nghĩa: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được phát hành trên Internet, có khả năng tích hợp đa phương tiện và được công chúng tiếp nhận thông qua các thiết bị kết nối Internet” (Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Báo chí học, bảo vệ ngày

17/11/2015, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Ngoài ra, chúng ta thấy, thuật ngữ “Online newspaper” được sử dụng rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu báo chí học, nhất là trong lĩnh vực truyền thông mới (new media) để chỉ các khái niệm cùng đặc tính như:

“online publishing” (xuất bản trực tuyến), “online media” (phương tiện truyền thông trực tuyến), “online journalism” (báo chí học trực tuyến), “online radio” (phát thanh trực tuyến), “online television” (truyền hình trực tuyến),

“online journalist” (nhà báo hoạt động trong lĩnh vực báo trực tuyến) Bởi vì, theo những phân tích từ Từ điển Tin học, “online” dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng Internet và sẵn sàng hoạt động Khái niệm “online" dịch sang tiếng Việt là “trực tuyến”, thuật ngữ này phù hợp với việc đọc báo phát hành trên mạng, vì muốn đọc được báo, người đọc phải có một máy tính có khả năng kết nối vào mạng và ở tình trạng trực tuyến

Như vậy, ở Việt Nam có ít nhất 4 khái niệm được dùng thông dụng: báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo Internet Việc phân tích và

sử dụng các khái niệm này gắn bó chặt chẽ đến cách nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy tác nghiệp loại hình báo chí này Tuy nhiên, đến thời điểm hiện

Trang 37

31

tại, do những quy định pháp lý về báo chí, mà nó không chỉ là vấn đề quy phạm pháp luật cho hoạt động báo chí, mà nó quy định đến “tính hợp pháp” của loại hình báo điện tử, là loại hình báo chí mà Luận án đề cập đến Do vậy, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “báo điện tử” trong nghiên cứu này

Từ góc độ nghiên cứu và qua thực tiễn đào tạo báo chí, chúng tôi đưa ra khái

niệm về loại hình này như sau: “Báo điện tử là một hệ thống truyền thông

đa phương tiện, sử dụng nền tảng Internet để thực hiện các chức năng báo chí”

2.1.2.2 Một số vấn đề liên quan đến tư duy về loại hình báo điện tử

Thứ nhất, trước khi có loại hình “báo điện tử”, như cách hiểu và tác nghiệp hiện nay, đã có nhiều loại hình công cụ truyền tin trên mạng Internet Trong lĩnh vực báo chí, “báo điện tử” có từ năm 1989, với tư cách là “phiên bản điện tử” (electronic version) của báo chí in ấn Sau khi Internet toàn cầu hoàn thiện vào những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà công nghệ, các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà truyền thông đã triển khai mạnh mẽ việc khai thác Internet trước hết như một nền tảng truyền thông Đầu tiên, đó là sự xuất hiện của các dịch vụ chuyển tin và cung cấp thông tin, như Gopher (môi trường chuyển tin Internet), WAIS (dịch vụ thông tin liên vùng), FTP (giao thức chuyển file trước WWW), E-mail (dịch vụ thư điện tử), Mailing List/Newsletter/LISTSERV (dịch vụ chuyển tin tự động theo địa chỉ thư điện

tử xác định) v.v…

Tiếp đó, Internet phát triển ở cấp độ cao hơn hoạt động chia sẻ, cung cấp các thông tin có yếu tố tương tác, như: IRC (Internet Relay Chat - Chat), Usenet News (dịch vụ chia sẻ thông tin theo nhóm người dùng), Bulletin Board (môi trường bảng tin Internet), Bản tin điện tử (e-journal, e-newspaper, e-zine, hay còn gọi là các phiên bản pre-print), bắt đầu thử nghiệm việc chuyển âm thanh (sound) và hình ảnh quét chậm (video) qua Internet

Bản tin điện tử (phiên bản pre-print) xuất hiện lần đầu tiên năm 1989 chính là phiên bản điện tử của loại hình báo chí in ấn Điều này cũng một

Trang 38

32

phần lý giải về những quan niệm “báo điện tử và báo in gắn bó chặt chẽ với nhau”, tất nhiên đó chỉ là nhận định trên một góc độ rất nhỏ Đó là phiên bản của PACS Review (Đại học Houston), phiên bản “scholarly skywriting” (Đại học Princeton), TimesFax - một ấn phẩm thuộc The New York Times… Trong giai đoạn từ năm 1989 đến 1993, báo điện tử (phiên bản điện tử) không

có WWW nên sử dụng các công nghệ chuyển trên Internet khác, LISTSERV

là một ví dụ Cho đến năm 1993, với dịch vụ công nghệ WWW và ứng dụng website, loại hình báo điện tử như chúng ta sử dụng ngày nay mới chính thức

ra đời Post Modern Culture (Hoa Kỳ) là một trong những tờ báo đầu tiên được xây dựng trên nền tảng WWW Cũng phải nói thêm rằng, không chỉ có WWW, các nhà công nghệ và truyền thông còn sử dụng một phương thức khác để chuyển các phiên bản báo chí trong giai đoạn này, đó là phương thức Portable Document Format (PDF)

Thứ hai, báo điện tử, như cách hiểu và tác nghiệp hiện nay, chỉ có thể xuất hiện năm 1993, vì lúc đó World-Wide Web mới được đưa ra ứng dụng rộng rãi

Thứ ba, báo điện tử được xây dựng trên nền tảng website Nên, không

có cách gọi “tờ báo”, cách này nên dùng cho báo in ấn Từ góc độ phân loại nội dung, ngoài những cách phân loại khác, có nhiều loại website chứa đựng nội dung khác nhau, với mục đích khác nhau, ta nên gọi loại hình này là

“website báo điện tử” Trong bài viết gần đây trên tạp chí Người làm báo, chúng tôi thống nhất: “báo điện tử được phát triển trên nền tảng công nghệ World-Wide Web (WWW), chứ không phải công nghệ website như nhiều người gọi tắt Website là sản phẩm được tạo thành trên nền tảng công nghệ WWW” Nguyễn Sơn Minh (2014), “Sơ đồ tư duy và kỹ năng tác nghiệp báo

điện tử”, tạp chí Người làm báo, số tháng 7/2014, tr.49-51

Website là một trang thông tin có địa chỉ xác định trên mạng Internet, cung cấp thông tin và tài liệu cho người truy cập dưới dạng văn bản động, có chức năng truyền thông đa phương tiện Tận dụng những khả năng to lớn của

Trang 39

33

mạng Internet và ngôn ngữ HTML, một website bao giờ cũng là một tài liệu

đa phương tiện và có chức năng truyền thông đa phương tiện - multimedia Nghĩa là, website có tác dụng như một phương tiện truyền thông chuyển thông tin đến người đọc dưới nhiều hình thức: chữ viết, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, hoạt hoạ… Một website tổng hợp nhiều hình thức cung cấp thông tin có tác động đến đối tượng tiếp nhận qua nhiều giác quan, cải thiện môi trường và điều kiện truyền thông Người

sử dụng có thể đọc lướt qua bản tin, chọn những tin tức được họ quan tâm nhất, chuyển qua xem một phóng sự truyền hình, sau đó nghe một đoạn nhạc, quay trở lại nghiên cứu biểu đồ về thị trường chứng khóan v.v… Nói chung, người truy cập website có nhiều khả năng để lựa chọn nhất trong một quá trình tiếp nhận thông tin Hơn nữa, chức năng multimedia khiến cho người đọc trở nên chủ động hơn, linh hoạt hơn

2.1.3 Khái niệm “Văn hóa”

Trên thế giới có hơn 500 khái niệm về văn hóa Mỗi trường phái nghiên cứu, mỗi nhà nghiên cứu đều có quan điểm khác nhau, từ những xuất phát điểm khác nhau, từ sự hình thành và phát triển của văn hóa trong xã hội con người, từ cấu trúc văn hóa, từ không gian văn hóa hay từ mối quan hệ với con người trong sự hình thành văn hóa Có thể thấy qua một số khái niệm tiêu biểu sau đây:

Định nghĩa văn hóa của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn

hóa của Liên hợp quốc): “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể

Trang 40

34

hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” (2002, theo Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, tr 23-24, Nxb

Giáo dục, 2006)

Là tổ chức lớn nhất toàn cầu liên quan đến các vấn đề văn hóa, khái niệm

do UNESCO đưa ra có tính tổng hợp nhiều quan điểm, có thể thấy sự phức hợp trong cách nhận định của UNESCO: Văn hóa được hình thành từ một cộng đồng, cộng đồng đó là một xã hội, hay chỉ là một nhóm người trong một xã hội - văn hóa mang nét đặc thù của cộng đồng đó; Văn hóa bao gồm một cấu trúc nhiều bộ phận có năng lực tác động đến nhân sinh quan, thế giới quan của con người; Văn hóa có tính chất “con người xã hội” và ngược lại, con người có vai trò to lớn trong mối quan hệ hữu cơ hình thành và phát triển văn hóa

Trở về trước đó, cuối thế kỷ XIX, Edward Bur Tylor (nhà nhân học

người Anh) định nghĩa: Văn hoá là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kỳ năng lực, thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội” 1889, theo Brett Frischmann 2006, bài “Defining Culture”

Tylor đưa ra khái niệm về văn hoá từ quan điểm về cấu trúc hợp thành của văn hoá và vai trò của văn hoá đối với sự phát triển của con người trong

xã hội, đối lập với sự “phi văn hoá” của con người tự nhiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc

sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo

và phát minh đó tức là văn hóa” (theo Lê Xuân Kiêu, tạp chí Nghiên cứu văn hóa, bài “Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa, suy nghĩ về nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay”)

Ngày đăng: 12/09/2016, 09:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội nhà văn tái bản năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn tái bản năm 2001
Năm: 1938
3. Angela Booth (2000), Tự nghiên cứu nhanh chóng và dễ dàng hiệu quả trên Internet, Nxb Trẻ, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự nghiên cứu nhanh chóng và dễ dàng hiệu quả trên "Internet
Tác giả: Angela Booth
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000
4. Anya Schiffrin, Amer Bisat (2004), Đưa tin thời toàn cầu hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa tin thời toàn cầu hóa
Tác giả: Anya Schiffrin, Amer Bisat
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
9. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 58- CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 58-"CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
10. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam (1943), Đề cương về văn hóa Việt Nam, năm 1943 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương về
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1943
11. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết 03- NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998, Hội nghị lần thứ Năm, khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 03-"NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998, Hội nghị lần thứ Năm, khóa VIII về Xây
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
12. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014, Hội nghị lần thứ Chín, khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số "33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014, Hội nghị lần thứ Chín, khóa XI về "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2014
13. Bộ Thông tin và Truyền thông - Cục Báo chí, Báo cáo tổng kết công tác và phương hướng, nhiệm vụ các năm từ 2008 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác và
14. Bộ Thông tin và Truyền thông - Cục Thông tin đối ngoại, Báo cáo tổng kết công tác và phương hướng, nhiệm vụ các năm từ 2008 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết
15. Bộ Thông tin và Truyền thông - Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Báo cáo tổng kết công tác và phương hướng, nhiệm vụ các năm từ 2008 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác và phương hướng, nhiệm vụ các
16. Bộ Thông tin và Truyền thông - Cục báo chí (2004), Các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí in Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản quy phạm
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông - Cục báo chí
Năm: 2004
20. Bộ Thông tin .và Truyền thông (2011), Thông tư số 33/2011/TT-BTTTT ngày 01 tháng 11 năm 2011 về Quy định chi tiết việc cấp Giấy phép hoạt động báo chí điện tử, Giấy phép chuyên trang báo chí điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 33/2011/TT-BTTTT ngày "01 tháng 11 năm 2011 về Quy định chi tiết việc cấp Giấy phép hoạt động
Tác giả: Bộ Thông tin .và Truyền thông
Năm: 2011
21. Bộ Thông tin và Truyền thông (2012), Báo cáo đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá mức độ ứng dụng "công nghệ thông tin của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2012
22. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
23. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2001), Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 về Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 55/2001/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2001
24. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2008), Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 97/2008/NĐ-CP "ngày 28 tháng 8 năm 2008 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2008
25. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2013), Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 72/2013/NĐ-CP "ngày 15 tháng 7 năm 2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2013
27. Đảng cộng sản Việt Nam - Ban chấp hành Trung ƣơng (2014), Báo cáo Hội nghị toàn quốc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội "nghị toàn quốc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa "VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam - Ban chấp hành Trung ƣơng
Năm: 2014
28. Hà Minh Đức (2005), Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
29. Nguyễn Thị Đức (2013), “Đa dạng văn hóa với bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam”, website Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tháng 6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa với bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam”, "website Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Đức
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1a Tổng hợp số lượng tin, bài khảo sát trong Luận án - Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá việt nam hiện nay
Bảng 3.1a Tổng hợp số lượng tin, bài khảo sát trong Luận án (Trang 85)
Bảng 3.1c Số liệu 8 loại nội dung thông tin văn hóa báo Vietnamnet - Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá việt nam hiện nay
Bảng 3.1c Số liệu 8 loại nội dung thông tin văn hóa báo Vietnamnet (Trang 86)
Bảng 3.1b Số liệu 8 loại nội dung thông tin văn hóa báo Nhân dân điện tử - Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá việt nam hiện nay
Bảng 3.1b Số liệu 8 loại nội dung thông tin văn hóa báo Nhân dân điện tử (Trang 86)
Bảng 3.2.1 Tỷ trọng lĩnh vực hoạt động, ngành nghề của công chúng khảo sát - Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá việt nam hiện nay
Bảng 3.2.1 Tỷ trọng lĩnh vực hoạt động, ngành nghề của công chúng khảo sát (Trang 107)
Bảng 3.2.3 Nhu cầu thích đọc 8 loại thông tin văn hóa của công chúng - Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá việt nam hiện nay
Bảng 3.2.3 Nhu cầu thích đọc 8 loại thông tin văn hóa của công chúng (Trang 108)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w