1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn mô hình siêu dẫn truyền thống đối với h2s

57 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng H2S Sulfur hydride, một hợp chất khí ở điều kiện nhiệt độ bình thường, rất độc và có mùi trứng thối, sẽ trở thành chất siêu dẫn khi nén hyd

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRÍ LÂN

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

Trong quá trình nghiên cứu luận văn về đề tài: “Mô hình siêu dẫn truyền thống đối với H2S”, tôi đã thực sự cố gắng tìm hiểu,

nghiên cứu đề tài để hoàn thành khóa luận Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành do sự nỗ lực củabản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình hiệu quả của TS Nguyễn Trí Lân Đây là đề tài khôngtrùng với các đề tài khác và kết quả đạt được không trùng với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 08 năm 2016

Tác giả

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Trí Lân, người đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Thầy đã cung cấp những

tài liệu và truyền thụ cho tôi những kiến thức mang tính khoa học và hơn nữa là phương pháp nghiên cứukhoa học Sự quan tâm, bồi dưỡng của thầy đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trong qua trình hoàn thànhluận văn cũng như trong quá trình học tập và nghiên cứu Đối với tôi, thầy luôn là tấm gương sáng về tinhthần làm việc không mệt mỏi, lòng hăng say với khoa học, lòng nhiệt thành quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ.Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Vật Lý trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 và cácthầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học

Hà Nội, tháng 08 năm 2016

Trang 4

MỞ DẦU 1

Lí do chọn đề tài 1

Mục đích nghiên cứu 2

Nhiệm vụ nghiên cứu 2

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

Phương pháp nghiên cứu 2

Những đóng góp mới 2

1 TổlVlG QUAN LÝ THUYET VE SIÊU DAN 3 1.1 Hiện tượng siêu dẫn 3

1.1.1 Vài nét lịch sử về phát hiện hiện tượng siêu dẫn 3

1.1.2 Khái niệm về hiện tượng siêu dẫn 6

1.2 Các tính chất của vật liệu siêu dẫn 6

1.2.1 Tính chất điện 6

1.2.2 Tính chất từ 8

1.2.3 Tính chốt nhiệt 16

1.3 Một số lý thuyết cơ bản về siêu dẫn 21

1.3.1 Lý thuyết nhiệt động lực học và chuyển pha siêu dẫn 21

1.3.2 Sự xâm nhập của từ trường vào chất siêu dẫn 23

1.3.3 Lý thuyết Ginzburg - Landau 25

1.3.4 Mô hình hai chất lỏng 27

2 LÝ THUYẾT BARDEEN-COOPER-SCHRIEFFER (BCS) VE SIÊU DAN 30 2.1 Cặp Cooper 30

2.2 Một số kết quả từ lý thuyết BCS 34

2.2.1 Tính toán giá trị một số đại lượng trong lý thuyết BCS 34

2.2.2 Những kết quả tiên đoán từ lý thuyết BCS 35

2.3 Các tính chất vĩ mô của chất siêu dẫn theo lý thuyết BCS 36

2.3.1 Nhiệt độ tới hạn 36

2.3.2 An nhiệt 37

2.3.3 Từ trường tới hạn nhiệt động lực học 37

2.3.4 Điều kiện về sự tồn tại tính siêu dẫn 38

1

Trang 5

3 MÔ HÌNH SIÊU DẪN BCS Đốl VỚI H2S 39

3.1 Hiện tượng siêu dẫn của H2S 393.2 Nhiệt độ Tc của chất siêu dẫn H2S 44

Trang 6

Lí do chọn đề tài

Chúng ta đã biết điện trở suất của kim loại tăng theo nhiệt độ, khi nhiệt độ giảm đều thì điện trở của kim loại cũng giảm đều Tuy

nhiên không phải đa số các vật liệu đều có tính chất này Một đặc tính kỳ diệu của một số vật liệu là dướimột nhiệt độ nhất định (tùy theo từng chất) điện trở suất của vật liệu bằng không, độ dẫn điện trở nên vôcùng Đó là hiện tượng siêu dẫn Hiện tượng lý thú này được phát hiện lần đầu tiên ở thủy ngân cách đây gần

một thế kỷ (năm 1911) ở vùng nhiệt độ gần không độ tuyệt đối (< 4,2 K).

Để giải thích cơ chế hình thành siêu dẫn trong vật liệu siêu dẫn, nhiều mô hình lý thuyết đã được các nhà khoa học đưa ra Song cho

đến nay một mô hình lý thuyết hoàn chỉnh để giải thích trọn vẹn cơ chế này còn là một câu hỏi chưa có lờigiải đáp thỏa đáng Một trong những mô hình hình thành thành công hơn cả là mô hình BCS Các tác giả củanó: Bardeen, Cooper, Schrieffer đã được giải thưởng Nobel năm 1957 Và nó đã giải thích một cách địnhlượng và rốt thành công những tính chất vi mô của hệ siêu dẫn và nhiệt động lực học của hệ Lý thuyết nàycũng rất tương thích với một lý thuyết khác là "lý thuyết Ginzburg-Landau"

Từ đó đến nay các nhà khoa học không ngừng tìm tòi, nghiên cứu chế tạo ra những vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao

Ngoài đặc tính siêu dẫn, người ta còn phát hiện thấy với chất siêu dẫn, từ trường bên trong nó luôn luôn bằng không và có hiện

tượng xuyên ngầm lượng tử điều đó mở ra khả năng cho những ứng dụng mới về siêu dẫn nhiệt độ cao, do

đó có đóng góp to lớn trong sản xuất ứng dụng thương mại và công nghiệp, để tận dụng hiệu quả chi phí cónguồn ngốc từ một hỗn hợp lạnh giá rẻ (nitơ lỏng)

Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng H2S (Sulfur hydride), một hợp chất khí ở điều kiện nhiệt độ bình thường, rất độc và

có mùi trứng thối, sẽ trở thành chất siêu dẫn khi nén hydro sunfua ở áp suất cực lớn, khoảng 1,5 triệu

atmosphere (150 GPà) đồng thời hạ nhiệt độ của chúng xuống —70° C(203 K ), hiện tượng siêu dẫn sẽ xảy

ra hay H2S không còn điện trở Nhiệt độ -70° c là cao hơn rất nhiều so với các chất siêu dẫn khác vốn đòihỏi việc hạ nhiệt độ xuống âm hàng trăm độ Celsius

Việc này tạo ra một bước tiến lịch sử hướng tới phương pháp tìm ra một chất siêu dẫn hoạt động được ngay trong điều kiện nhiệt độ

phòng Nó làm các nhà khoa học nghiên cứu đang rất quan tâm

1

Trang 7

Dựa vào mô hình BCS ta hy vọng sẽ tìm ra cách lý giải rõ ràng hơn về hiện tượng siêu dẫn đối với H2S Chính vì vậy tôi chọn đề tài

“Mô hình siêu dẫn truyền thống đối với H2S” làm đề tài luận văn của mình

Mục đích nghiên cứu

Dối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

1.1 Hỉện tượng siêu dẫn

1.1.1 Vài nét lịch sử vi phát hiện hiện tượng siêu dẫn

Cố thể nói việc hóa lông heli đã là tiền đề cho sự phát minh ra siêu dẫn Năm 1908 Kamerrlingh Onnes đã hóa lỏng được khí heli lần

đầu tiên trên thế giới, chính ông ba năm sau khi nghiên cứu điện trỏ của thủy ngân, đã phát minh ra hiện

tượng siêu dẫn khi quan sát thấy điện trỏ của thủy ngân đột ngột giảm về không ở nhiệt độ dưới 4,2 K.

Những năm sau đó, một số vấn đề liên quan đến hiện tượng siêu dẫn (SD) cũng được khám phá Năm 1914 hiện tượng dòng điện

phá vỡ trạng thái siêu dẫn được phát hiện và trong năm đổ, Kamerlỉngh Onnes đã chế tạo được nam châmsiêu dẫn Năm 1933, hai nhà khoa học Meissner và Ochsenfeld đã công bố rằng: Chất siêu dẫn khi làm lạnhtrong từ trường dưới nhiệt độ chuyền pha thì các đường cảm ứng từ bị đẩy ra ngoài Hiệu ứng này được mangtên là hiệu ứng Meissner

Trong suốt khoảng thời gian từ năm 1911 đến 1985, các chất siêu dẫn được tìm ra đều cổ nhiệt độ chuyển pha không vượt quá 24 K

và chất lỏng hêli vẫn là môi trường duy nhất được dùng để nghiên cứu hiện tượng siêu dẫn

3

Trang 9

thuyết vi mô, được gọi là lý thuyết BCS đã giải thích được tất cả các tính chất cơ bản của chất siêu dẫn, và lý thuyết này đã nhận

John Bardeen, Leon Co operand John Schneider

1986, J.G.Bednorz và K.A.Muller đã tìm ra hiện tượng siêu dẫn có trong chất gốm La-Ba-Cu-0 với nhiệt độ chuyển pha nằm

trong vùng nhiệt độ nitơ lỏng và cho thấy một cách rõ ràng hơn về siêu dẫn nhiệt độ cao, chúng có thể đượclàm lạnh với nitơ lỏng thay vì heli lỏng, qua đó vật liệu dễ chế tạo và chi phí vận hành cũng rẻ hơn Với phátminh này J.G.Bednorz và K.A.Muller đã được nhận giải thưởng Nobel về vật lý năm 1987

Từ đây, ngành vật lý siêu dẫn đã bắt đầu một hướng mới - đó là siêu dẫn nhiệt độ cao Sự phát minh ra siêu dẫn nhiệt độ cao đã mở

ra một kỷ nguyên mới cho ngành vật lý siêu dẫn Nó đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong quá trình tìmkiếm của các nhà vật lý và công nghệ trong lĩnh vực siêu dẫn

5

(sinh năm 1928, quốc tịch Mỹ và Nga) làm việc tại Argonne National Laboratory, Ar gönne, Illinois, Hoa Kỳ

(sinh năm 1916, quốc tịch Nga) làm việc tại P.N Lebedev Physical Institute, Moscow, Nga

(sinh năm 1938, quốc tịch Anh và Mỹ) làm việc tại University of Illinois, Urbana, Illinois, Hoa kỳ

Đặc trưng của chất siêu dẫn là khả năng tải một chiều khổng có sự tiêu tốn năng lượng và sự đẳy từ trường ra khỏi chất siêu dẫn khi

chất siêu dẫn đặt trong từ trường, về mặt thực tiễn thì những vật liệu này được sử dụng để chế tạo các namchâm điện cực mạnh, dùng trong các thiết bị ảnh hóa cộng hưỏng từ tính (MRI), tàu điện từ maglev và cácthiết bị tạo từ trường hình xuyến Tokamak trong các lồ phản ứng hạt nhân Trong tương lai vật liệu siêu dẫncòn có thể được dùng đề tăng hiệu suất cho các lưới điện bằng khả năng truyền dẫn một lượng điện rất lớnvới tì lệ thất thoát rất thấp

Rang một số vặt liệu siêu dẫn điển hình

Trang 10

Từ bảng trẽn ta thấy, các chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao là những hợp chất chứa đồng (Cu) và oxy (O) Một số lý thuyết tập chung vào

mối liên kết đặc biệt giữa các nguyên tử đồng và oxi tạo nên các mặt CuŨ2 và các chuỗi Cu trong cấu trúctinh thể, là mạch nối cho những lý thuyết về cơ chế của các siêu dẫn nhiệt độ cao không chứa đồng, một nhànghiên cứu về siêu dẫn đã phát biểu như sau: “Siêu dẫn đã mở ra kỷ nguyên mới giống như Laser và bóngbán dẫn, nó có thể sản sinh ra toàn bộ một nền công nghiệp mới hoặc chí ít cũng là một khâu cơ bản củanhiều ngành công nghiệp hiện đại trên thế giới”

Hiện nay các nhà khoa học thực nghiệm về vật lý và vật liệu đã và đang nghiên cứu để tìm ra các chất siêu dẫn có nhiệt độ chuyển

pha cao hơn, nhằm mục đích ứng dụng trong khoa học kĩ thuật và đời sống

1.1.2 Khái niệm về hiện tượng siêu dẫn

Siêu dẫn là một trạng thái vật lý phụ thuộc vào nhiệt độ tới hạn mà ở đó nó cho phép dòng điện chạy qua trong trạng thái không có

điện trở và khi đặt siêu dẫn vào trong từ trường thì từ trường bị đảy ra khỏi nó

Hiện tượng siêu dẫn là hiện tượng mà điện trở của một chất nào đó đột ngột giảm về 0 ở một nhiệt độ xác định

1.2 Các tính chất của vật liệu siêu dẫn

1.2.1 Tính chất điện1.2.1.1 Nhiệt độ tới hạn và độ rộng chuyển pha

Năm 1911, Kamerlingh Onnes đã khỏa sát điện trở của những kim loại khác nhau trong vùng nhiệt độ hêli Khi nghiên cứu điện trở

của thủy ngân (Hg) trong sự phụ thuộc nhiệt độ, ông đã quan sát được rằng: điện trở của Hg ở trạng thái rắn

trước điểm nóng chảy cỡ 234 K (—390° c ) là 37.7 Í2, trong trạng thái lỏng tại cỡ 0° c (273 K) có giá trị là

ở nhiệt độ T < 4 K điện trở của Hg biến mất (hoặc xấp xỉ bằng 0) ở nhiệt độ xác định (Tc ) điện trở của một chất đột ngột biến mất được gọi là nhiệt độ tới hạn hoặc nhiệt độ chuyển pha siêu dẫn (kí hiệu là Tc).

Nhiệt độ chuyển pha siêu dẫn là nhiệt độ mà tại đó một chất chuyển từ trạng thái thường sang trạng thái siêu

AT phụ thuộc vào bản chất của từng vật liệu, và công nghệ chế tạo chất siêu dẫn.

Trang 11

về nguyên tắc, ở dưới nhiệt độ chuyển pha, điện trd của chất siêu dẫn xem như hoàn toàn biến mất Vậy thực chất: trong trạng thái

siêu dẫn, điện trở thành không hay là có giá trị rất nhỏ?

Tất nhiên, không thể chứng minh được bằng thực nghiệm rằng điện trở trong thực tế là 0; bởi vì điện trở của nhiều chất trong trạng

thái siêu dẫn cố thể nhỏ hơn độ nhạy mà các thiết bị đo cho phép có thể ghi nhận được Trong trường hợpnhạy hơn, cho dòng điện chạy xung quanh một xuyến siêu dẫn khép kín, khi đó nhận thấy dòng điện hầu như

không suy giảm sau một thời gian rất dài Giả thiết rằng tự cảm của xuyến là L , khi đó nếu ở thời điểm t = 0

i(t) = i(0)e(-*) (1.1)

là điện trở của xuyến Chúng ta có thể đo từ trường tạo ra dòng điện bao quanh xuyến Phép đo từ trường không lấy năng

lượng từ mạch điện mà vẫn cho ta khả năng quan sát dòng điện luân chuyển không thay đổi theo thời gian và

kim loại siêu dẫn bằng 0

Trang 12

1.2.2 Tính chất từ

1.2.2.1 Tính nghịch từ của vật dẫn lí tưởng

Chất siêu dẫn ở dưới nhiệt độ chuyển pha của nó biểu hiện không có điện trở Hãy xem xét các tính chất từ của vật dẫn không có

điện trở Những vật dẫn như vậy được gọi là vật dẫn lý tưởng hoặc vật dẫn hoàn hảo

Giả thiết rằng: làm lạnh mẫu kim loại xuống dưới nhiệt độ chuyển pha của nó, mẫu trở thành vật dẫn hoàn hảo Điện trở vòng quanh

đoạn đường khép kín tưởng tượng bên trong kim loại là 0 Do đó, tống từ thông bao quanh vật là không đổi.Điều này chỉ đúng trong những trường hợp mật độ từ thông ở tất cả các điểm bên trong kim loại không thaydổi theo thời gian, ví dụ:

Đó sự phân bố từ thông trong kim loại cần phải được duy trì giống như trước khi kim loại mốt điện trở

Giả thiết rằng mẫu bị mất điện trở khi không có từ trường ngoài tác dụng Vì mật độ từ thông trong kim loại không thay đổi, cho

nên nó phải là 0 thậm chí cả sau khi có từ trường đặt vào Trong thực tế, từ trường có tác dụng nên mẫu siêudẫn gây ra dòng điện chạy quanh bề mặt mẫu và như vậy, tạo ra mật độ từ thông ở mọi nơi trong lòng mẫu,chính xác bằng và ngược chiều với mật độ từ thông của từ trường ngoài Vì các dòng này không biến mất,

nên mật độ từ thông mạng bên trong vật liệu vẫn duy trì là 0 Các dòng mặt I sinh ra mật độ bên trong kim

loại Các dòng mặt này thông thường được gọi là các dòng chắn

Mật độ từ thông tạo nên do những dòng mặt dư (spersistent) không biến mất ở biên của mẫu, mà các đường từ thông tạo thành các

đường cong khép kín liên tục vòng qua không gian bên ngoài mẫu, mặc dù mật độ từ thông này ở mọi nơibẽn trong mẫu là bằng nhau và ngược với từ thông sinh ra do từ trường ngoài

Bây giờ hãy xem xét một trình tự khác cho việc làm lạnh trong từ trường đối với một vật liệu không có điện trở Giả thiết rằng, từ

cho điện trở của nó biến mất Sự biến mất điện trở này không gây ảnh hưởng lên độ từ hóa và sự phân bố từthông vẫn duy trì không đổi Khi giảm từ trường về 0 thì mật độ từ thông bên trong kim loại có độ dẫn lýtưởng không thể thay đổi và dòng bề mặt sẽ xuất hiện để duy trì từ thông bên trong nó Ta thấy rằng trạngthái từ hóa của vật dẫn lý tưởng không xác định duy nhất bằng các điều kiện bên ngoài, mà nó phụ thuộc vào

Trang 13

1.2.2.2 Hiệu ứng Meissner

Một vật dẫn lý tưởng có thể có điện trở không ở nhiệt độ tuyệt đối (0 K) Tuy nhiên, nó không phải là chất siêu dẫn Người ta thấy

rằng biểu hiện tính chất của chất siêu dẫn khi nó có từ trường khác với vật dẫn lí tưởng Năm 1933, Meissner

và Ochsenfied phát hiện ra rằng: Nếu chất siêu dẫn được làm lạnh trong từ trường xuống dưới nhiệt độ

chuyển pha Tc, thì đường sức của cảm ứng từ B sẽ bị đẩy ra khỏi chất siêu dẫn Tức là chất siêu dẫn nằm

Tính chất từ của chất siêu dẫn

cho biết, chất siêu dẫn biểu hiện tính chất: trong lòng nó các đường cảm ứng từ B = 0 Nghĩa là, siêu dẫn biểuhiện như một chất nghịch từ lý tưởng

tưởng Mặt khác, đặc trưng cơ bản của chất siêu dẫn về tính chất điện là điện trở không (p = 0).

H = H a + M = 0,

(1.6)

Trong trạng thái siêu dẫn p = 0, nên:

Trang 14

f - °- (1'9)

Như vậy, các đường cảm ứng từ B phải là một hằng số

thì B = const Nghĩa là, ngay cả khi làm lạnh chất siêu dẫn xuống dưới nhiệt độ Tc thì phướng trình B = const vẫn đúng.

Vậy, hiệu ứng Meissner cho biết cảm ứng từ trong lòng chất siêu dẫn bằng 0 là hiệu ứng thực nghiệm quan sát được, về phương

diện lý thuyết xét d đây chỉ là chấp nhận B = const = 0 theo thực nghiệm

Tỉnh chảt từ của chất siẽn dần

1.2.2.3 Vật siêu dẫn không lý tưởng

Trang 15

chế tạo những mẫu gần như lý tưởng sao cho chúng biểu hiện các tính chất gần giống vật liệu lý tưởng Mẫu lý tưởng có từ trường

tới hạn rất sắc nét và đường cong từ hóa là hoàn toàn thuận nghịch Cố thể thấy rằng độ từ hóa là khôngthuận nghịch khi từ trường tăng và giảm, các đường cong từ hóa biểu hiện khác nhau 0 đây xuất hiện hiệntượng từ trễ Khỉ từ trường giảm đến 0 vẫn có thể còn sốt lại một chút độ từ hóa dương của mẫu và nó làm

dẫn giống như nam châm vĩnh cửu Như vậy mẫu không lý tưỏng cho thấy:

+ Có ba từ trường tới hạn khác nhau (Hci, Hc,Hcs,)- + Có đường cong từ trễ.

Trang 16

1.2.2.5 Dòng tới hạn

Dòng cực đại đạt được trong trạng thái siêu dẫn được gọi là dòng tới hạn Nói cách khác dòng tới hạn trong trạng thái siêu dẫn là

chạy qua thì trạng thái siêu dẫn cũng bị phá vỡ Đó là hiệu ứng dòng tới hạn Ba năm sau (năm 1916) Silsbeemới giải thích và làm sáng tỏ hiện tượng này Ông cho rằng vai trò quyết định để đưa vật liệu từ trạng thái

siêu dẫn sang trạng thái thường trong hiệu ứng dòng tới hạn không phải do bản thân dòng lớn I gây ra mà chính là từ trường do dòng I sinh ra trong dây dẫn đã phá vỡ trạng thái siêu dẫn Điều này có bản chất giống

như hiệu ứng Meissner đã được xét ở mục trước

trường tới hạn và các đại lượng I và a sẽ là:

21

H c =— (1.11)

a

Công thức trên được gọi là công thức Silsbee[2], chỉ đúng cho một số chốt siêu dẫn nhất định, chủ yếu là các chất siêu dẫn đơn kim

loại (còn gọi là chất siêu dẫn lý tưởng) Các chất siêu dẫn là hợp chất, hợp kim hoặc chất siêu dẫn có tạp chấtđều không thỏa mãn hệ thức Silsbee (Các chất siêu dẫn loại này còn gọi là chất siêu dẫn không lý tưởng)

Phàn trẽn đã cho thấy, nếu dòng điện chạy trong mạch lớn hơn dòng tới hạn thì trạng thái siêu dẫn bị phá vỡ Thực nghiệm cho thấy

Thông thường, có hai sự đóng góp vào dòng điện chạy trên bề mặt chất siêu dẫn Hãy xem xét dòng điện chạy dọc theo dây siêu dẫn

Trang 17

London biểu diễn mối liên hệ giữa mật độ dòng siêu dẫn ở các điểm và mật độ

từ thông tại điểm đó Mối liên hệ này giữ cho dòng siêu dẫn là dòng chắn, dòng truyền hoặc

là sự kết hợp của cả hai Do vậy, khi dòng điện chạy trong chất siêu dẫn thì mật độ từ thông

B sẽ ở trên bề mặt và độ lớn từ trường tương ứng H = — liên quan với mật độ dòng mặt

ụ-0

Ja

“Chất siêu dẫn bị mất đi điện trở không của nó khi mà tổng độ lớn từ trường do dòng truyền và từ trường đặt vào vượt quá độ lớn từ

Giá trị cực đại của dòng truyền dọc theo một nguyên tố siêu dẫn không có điện trở chính là dòng tới hạn của nguyên tố đó Rõ ràng

rằng từ trường đặt vào chất siêu dẫn càng lớn thì dòng tới hạn của nó càng nhỏ

Do đó dòng tới hạn tương ứng sẽ là:

Trang 18

i c = 2 TĩaHị (1.14)

nghiệm cho thấy rằng: trong trường hợp không có từ trường ngoài, phương trình (1.14 ) tiên đoán được chính

xác giá trị i c

Trong từ trường yếu hoặc khi không có từ trường thì giá trị dòng tới hạn của các chất siêu dẫn có thể rất cao Ví dụ, một dây dẫn

siêu dẫn bằng Pb có đường kính 1 mm được làm lạnh xuống 4,2 K (nhúng trong hêli lỏng) thì từ trường tới

Như vậy, khi không có từ trường ngoài thì dây có thể tải dòng điện lên đến 140 Ả trong trạng thái không có điện trở.

Hãy xét xem nguyên nhân làm cho dòng tới hạn giảm đi do sự có mặt của trường ngoài Đầu

H 2 = H 2 + (^) 2 (1.15)

H 2 = H 2 +

Đây là phương trình ellip Hệ quả là, đồ thị biểu diễn sự giảm dòng tới hạn theo lớn của từ trường đặt vào theo chiều dọc tâng lên,

có dạng một phần tư của ellip Trong cấu hình này, mật độ từ thông phân bố đều trên bề mặt của dây và cácđường từ thông chạy theo hình xoắn ốc

Trường hợp quan trọng khác xuất hiện khi từ trường đặt vào là vuông góc với trục của dây (giả thiết là từ trường không đủ mạnh để

đưa chất siêu dẫn vào trạng thái trung gian) Trong trường hợp này, tổng mật độ từ thông là không đồng đềutrẽn bề mặt dây Độ lớn của từ trường cực đại xuất hiện dọc theo đường L Do có hiện tượng khử từ nên từ

Trang 19

1.2.2.7 Phân loại các chất siêu dẫn theo tính chất từ

nghịch từ lý tưỏng - nố biểu hiện hoàn toàn hiệu ứng Meissner và dược gọi siêu dẫn loại I Siêu dẫn loại I

Trang 20

H ;i H : hi;,

Từ tniãrvg ncpai H —

Từ trưàng ngoái H a

•-1 Dựa vào hiệu ứng Meissner: [2]

Siêu dẫn loại I: Hoàn toàn đúng

1.2.3 Tính chất nhiệt

1.2.3.1 Sự lan truyền nhiệt trong chất siêu dẫn

Xét quá trình điện trô hoàn trở lại với dây dẫn khi dòng điện chạy trong dây siêu dẫn vượt quá dòng tới hạn Giả thiết dây là hình

trụ Trong thực tế khổng cổ dây dẫn nào mà toàn bộ chiều dài của nó, tất cả các nguyên tố dây dẫn có tínhchất hoàn toàn đồng tính Bởi vì những thay đổi về thành phần, về độ dày có thể xuất hiện hoặc là nhiệt độ

ỏ một số điểm trong dây dẫn cao hơn những điểm khác

Như vậy thì giá trị dòng tới hạn sẽ thay đổi từ điểm nọ đến điếm kia và sẽ xuất hiện một số điềm trên dây dẫn có dòng tới hạn thấp

hơn so với các điểm khác Giả thiết dòng điện chạy dọc theo dây dẫn và độ lớn của nó tăng cho đến khi vượt

Trang 21

lên và xuất hiện dòng nhiệt chạy từ A dọc theo kim loại và đi vào môi trường xung quanh Dòng nhiệt này phụ thuộc vào nhiệt độ

tăng lên ở A, phụ thuộc vào độ dẫn nhiệt của kim loại và nhiệt lượng bị mất thông qua bề mặt dây dẫn Nhiệt

sinh ra là thấp thì nhiệt độ tại A chỉ tăng lên một lượng nhỏ, trong trường hợp này dòng siêu dẫn vẫn được duy trì Tuy nhiên, nếu nhiệt sinh ra có tỉ số lớn vì điện trở của A cao hoặc do dòng i là lớn, thì nhiệt độ ở A

có thể tăng lên vượt quá nhiệt độ tới hạn của dây dẫn Trong thực tế sự xuất hiện dòng điện đã làm giảm

nhiệt độ chuyển pha của dây siêu dẫn từ nhiệt độ Tc đến nhiệt độ thấp hơn Tc(i) Vậy, nếu có nhiệt sinh ra

ở A thì các vùng cận kề với A cũng bị nung nóng lẽn trên nhiệt độ Tc(i ) và các vùng này sẽ trở thành vùng thường Dòng điện i chạy qua các vùng thường này và lại sinh ra nhiệt Nhiệt lượng này lại đưa các vùng lân

cận trở thành vùng thường và cứ thế tiếp diễn Kết quả là, mặc dù dòng điện duy trì là hằng số, nhưng vùng

thường cứ thế mở rộng mãi ra từ A cho đến khi toàn bộ đây dẫn trở thành trạng thái thường Khi đó, trong

có thể mở rộng ra từ trung tâm điện trở cho đến toàn bộ dây dẫn Quá trình này được gọi là sự truyền nhiệt.Quá trình này xuất hiện nhiều hơn nếu dòng tới hạn lớn và điện trở ở trạng thái kim loại có giá trị cao

Để tính toán sự truyền nhiệt, cần phải xác định dòng tới hạn Việc đo dòng tới hạn của mẫu có thể gặp khó khăn, đặc biệt là trong từ

trường thấp hoặc là trong từ trường bằng không, thường có giá trị dòng rất cao Hãy xét dòng siêu dẫn có độdày đồng nhất và giả thiết là dòng tới hạn đo được bằng cách tăng dòng điện chạy trong dây siêu dẫn cho đếnkhi quan sát được hiệu điện thế Nếu dòng điện bé hơn dòng tới hạn, thì không có sự sụt thế dọc theo mẫu vàcũng không có nhiệt sinh ra trong mẫu Tuy nhiên, các dây dẫn mang dòng điện tới mẫu thường là kim loạikhông siêu dẫn Như vậy, nhiệt sẽ sinh ra trong các dây dẫn đó do dòng điện chạy qua Kết quả là các phầncuối của mẫu tiếp xúc với dây dẫn sẽ nóng lên chút ít và tại đó dòng tới hạn sẽ thấp hơn so với phần thân củamẫu Do dòng điện tăng lên, các phần cuối của mẫu chuyển thành phần thường tại nơi mà dòng điện nhỏ hơn

so với dòng tới hạn thực của mẫu Các vùng thường còn lại tiếp tục lan rộng ra toàn bộ dây dẫn nhờ sựtruyền nhiệt Cuối cùng, ta quan sát được hiệu điện thế ở mọi nơi có dòng điện nhỏ hơn dòng tới hạn thực

Để làm giảm khả năng truyền nhiệt tới các điểm tiếp xúc, cần phải sử dụng các dây dẫn dày sao cho nhiệtsinh ra tại các điểm tiếp xúc là nhỏ hoặc không đáng kể Như vậy có thể đo được dòng tới hạn của tiết diệnmong muốn trước khi có sự truyền nhiệt bắt đầu từ các điểm tiếp xúc

Đặc trưng sự trở lại của điện trở do sự truyền nhiệt là sự xuất hiện hoàn toàn của điện trở thường, ngay lập tức khi dòng điện xác

định vượt qua dòng tới hạn Kết quả là, vùng thường lan rộng chiếm suốt toàn bộ mẫu và trạng thái siêu dẫn

bị phá vỡ

Trang 22

1.2.3.2 Nhiệt dung của chất siêu dẫn

Một số kết quả nghiên cứu về nhiệt dung và độ dẫn nhiệt đã trùng hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm

Nhiệt dung của một chất thường bao gồm sự đóng góp của mạng (phonon) và của điện tử Nó được biễu diễn theo công thức sau:

Thông thường ở dưới nhiệt độ chuyển pha, nhiệt dung của kim loại siêu dẫn là rất nhỏ, nhỏ hơn cả nhiệt dung của kim loại ở nhiệt

độ thường

Thực nghiệm cho thấy rằng tại điểm chuyển pha từ trạng thái thường sang trạng thái siêu dẫn, nhiệt dung có bước nhảy Mặt khác,

các giá trị đo được của nhiệt dung mạng cho thấy ở cả hai trạng thái siêu dẫn và trạng thái thường, phần nhiệt

thái siêu dẫn chỉ do sự đóng góp của nhiệt dung điện tử (7T) Nhưng rất khó xác định chính xác giá trị nhiệtdung của các chất siêu dẫn bằng phương pháp thực nghiệm, bởi vì ở nhiệt độ thấp giá trị nhiệt dung rất nhỏ.Tuy nhiên, một số thiết bị đo chính xác ở nhiệt độ thấp đã chứng minh được rằng ở trạng thái dưới nhiệt độ

chuyển pha (T < Tc ), nhiệt dung điện tử của kim loại trong trạng thái siêu dẫn thay đổi theo nhiệt độ theo

quy luật sau:

Ce = a.exp{~P^-) (1.21)

và ò là các hằng số Sự thay đổi theo hàm e mũ cho thấy rằng, nhiệt độ đã làm tăng các điện tử bị kích thích vượt qua khe

năng lượng ở trẽn trạng thái cơ bản của chúng, số điện tử bị kích thích vượt qua khe cũng sẽ thay đổi bằnghàm e mũ theo nhiệt độ (vấn đề này đã được lý thuyết BCS xác nhận mà ta sẽ xét ở phần sau) Điều này cũngchứng tỏ trong trạng thái siêu dẫn có sự tồn tại của các khe năng lượng và đó chính là một đặc trưng cơ bảncủa trạng thái siêu dẫn

Lần đầu tiên Keesom và Bok đưa ra rằng: khi không có từ trường ngoài tác dụng, khi có sự chuyển pha siêu dẫn thì nhiệt dung điện

tử (7T) cũng dạng gồm hai phần và có đặc trưng riêng

+ Tại điểm chuyển pha T = Tc , bước nhảy của nhiệt dung có giá trị là:

C e (T)*3C e (T) (1.22)

Trang 23

Latent mà là các trạng thái của hệ thay đổi liên tục tạo ra sự thay đổi đột ngột về sự đối xứng của hệ Hai là nhiệt dung có bước

nhảy 0 nhiệt độ chuyển pha, entropy của trạng thái siêu dẫn và trạng thái thường là như nhau Nói cáchkhác, tại điểm chuyển pha, entropy của hệ không thay đối và do đó nó không có ản nhiệt Latent Trong

trường hợp có từ trường tác dụng (H Ỷ 0); nếu mẫu chuyển pha trong vùng T < Tc thì quá trình chuyển

pha có kèm theo ẩn nhiệt và khi đó sẽ là chuyển pha loại I

Sự tăng, giảm entropy trong quá trình chuyển pha siêu dẫn có liên quan trực tiếp đến nhiệt dung

1.2.3.3 Độ dẫn nhiệt của chất siêu dẫn

) của kim loại là vấn dề phức tạp Đây là bài toán về các quá trình không cần bằng với các thành phần da dạng

Ta biết rằng, năng lượng nhiệt được truyền trong kim loại bằng cả điện tử và photon Quá trình truyền nhiệt là quá trình truyền nhiệt

va chạm của từng loại hạt tải với chính loại đó, với các loại hạt tải khác, với các sai hỏng mạng và các biênhạt Cơ chế này phụ thuộc nhiệt độ, nồng độ, tạp chốt và kích thước mẫu 0 trạng thái siêu dẫn còn phụ thuộc

cả vào từ trường và các xoáy từ Vì vậy, khó có thể làm sáng tỏ mọi sự đóng góp vào độ dẫn nhiệt của vậttrong trạng thái siêu dẫn, mà chỉ có thể xác định được những thành phần tương đối đơn giản và để phân tíchtrong quá trình thực nghiệm

Các kết quả thực nghiệm cho rằng:

Thông thường độ dẫn nhiệt (k ) trong trạng thái siêu dẫn thấp hơn nhiều so với trạng thái thường Trạng thái siêu dẫn, độ dẫn nhiệt

của vật liệu (ksũ) giảm mạnh trong vùng nhiệt độ T < Tc Về mặt định lượng, có thể giả định mô hình hai

chất lỏng Bản chất của nó là: khi nhiệt độ giảm, nồng độ của chất siêu chảy điện tử tâng lên (electronsuperíluid) Chất siêu chảy điện tử trong Heli lỏng không mang năng lượng cho nên độ dẫn nhiệt bị giảm

xuống theo nhiệt độ Trong nhiều chất siêu dẫn khi T < Tc độ dẫn nhiệt giảm giảm xuống xốp xỉ hoặc bằng

0

Như vậy, có thể cho rằng các điện tử siêu dẫn không đóng vai trò trong sự dẫn nhiệt Tính chất này không được áp dụng để chế tạo

các công tắc nhiệt siêu dẫn trong kĩ thuật nhiệt độ thấp

Trong một số hợp kim hoặc hợp chất siêu dẫn, người ta còn quan sát thấy độ dẫn nhiệt tăng tại vùng chuyển pha, sau đó mới giảm

theo nhiệt độ Hiện tượng này được Hulm giải thích là: trong siêu dẫn loại II, quá trình chuyển pha siêu dẫn

Trang 24

1.2.3.4 Hiệu ứng đồng vị

Kinh nghiệm cho thấy rằng nhiệt độ tới hạn của các chất siêu dẫn (Tc ) thay đổi theo khối lượng đồng vị Maxwell, Regnols và các

đồng nghiệp lần đầu tiên đã tiến hành thí nghiệm chứng minh vấn đề này[3] Một số kết quả đã đươc kiểm

định trên các đồng vị của Pb và Hg, nhiệt độ chuyển pha (Tc ) thay đổi theo khối lượng đồng vị như:

khi khối lượng đồng vị M là 199,5 và Tc = 4,146 K khi M là 203,4.

Tc ~ - với a = — (1-24)

Từ sự phụ thuộc của nhiệt độ Tc vào khối lượng đồng vị cho thấy rằng tác dụng quan trọng của các dao động mạng đến chất siêu

dẫn và do đó các tương tác điện tử và mạng cũng rất quan trọng trong trạng thái siêu dẫn Đây là một phát

minh cơ bản Bản chất của hiệu ứng đồng vị là: nhiệt độ chuyển pha siêu dẫn Tc phụ thuộc vào số nơtron

1.2.3.5 Các hiệu ứng nhiệt điện

Cả lý thuyết và thực nghiệm đều thấy rằng các hiệu ứng nhiệt điện không xuất hiện trong chất siêu dẫn

Tuy nhiên các hiệu ứng nhiệt điện có thể xuất hiện trong một số chất siêu dẫn loại II

1.2.3.6 Các tính chất khác

Chất siêu dẫn không thay đổi kích thước khi chuyển pha trong từ trường bằng 0 (H = 0) Tuy nhiên có xuất hiện từ giảo nhỏ trong

trạng thái siêu dẫn ở những nhiệt độ thấp hơn và có sự thay đổi đột ngột về kích thước khi mẫu trở lại trạngthái thường dưới tác dụng của từ trường, điều này cho thấy tính dị hướng của tinh thể Trong siêu dẫn nhiệt

Trang 25

Siêu âm tắt dần trong chất siêu dẫn Sự tắt dần này tương ứng với sự tương tác của các sóng âm với các điện tử dẫn phonon và các

sai hỏng mạng Hiệu ứng này cho thấy sự suy giảm điện tử

Khi nghiên cứu các hiệu ứng về suất điện động nhiệt điện Daunt và Mendelssohn đã tìm được rằng: hệ số Thomson của siêu dẫn chì

gần bằng không nhỏ hơn rất nhiều hệ số Thomson ở trạng thái thường

1.3 Một số lý thuyết cơ bản về siêu dẫn

1.3.1 Lý thuyết nhiệt động lực học và chuyển pha siêu dẫn1.3.1.1 Năng lượng tự do trong trạng thái siêu dẫn

Bằng thực nghiệm Van Laer và Keesom đã chứng minh rằng: quá trình chuyển từ trạng thái siêu dẫn sang trạng thái thường theo

quan điểm nhiệt động lực học là một quá trình thuận nghịch Từ hiệu ứng Meissner cũng cho biết, quá trìnhchuyển pha là quá trình thuận nghịch Trong trạng thái siêu dẫn, cảm ứng từ B bị đẩy ra ngoài, ở trạng tháithường thì cảm ứng từ B lại đi qua chất đó: như vậy, có thể áp dụng các phương trình nhiệt động cho quátrình chuyển pha siêu dẫn Tính toán tử phương trình nhiệt động sẽ cho ta các biểu thức về hiệu năng giữahai trạng thái thường và siêu dẫn Các kết quả tính toán cho biết hiệu entropy của hai trạng thái đó Hiệu ứngnày chứng tỏ sự giảm entropy trong trạng thái siêu dẫn Từ các phương trình nhiệt động, còn cho ta biểu thức

về giá trị bước nhảy nhiệt dung của chất siêu dẫn tại điểm chuyển pha

Tc-Biểu thức nhiệt động của năng lượng tự do Gibbs ở trạng thái siêu dẫn trong từ trường là:

G = u — TS — H M (1.26)

ảư = TdS-HdM (1.27)

Trang 27

1.3.1.2 Entropy của trạng thái siêu dẫn và trạng thái thường

Ta có thể tính hiệu entropy của trạng thái siêu dẫn và trạng thái thường bằng thuyết nhiệt động lực học, và có kết quả trong từ

trường không đối là:

Từ trường tới hạn luôn giảm khi nhiệt độ tăng nên luôn luôn âm, nghĩa là vế bên phải của phương trình trên luôn dương

0 nghĩa là entropy của trạng thái siêu dẫn nhỏ hơn trạng thái thường, như vậy bằng lý thuyết nhiệt động học ta đẽ

tìm ra tính chất giảm entropy của trạng thái siêu dẫn đã quan sát được bằng thực nghiệm.[5]

1.3.2 Sự xâm nhập của từ trường vào chất siêu dẫn

Để giải thích hiệu ứng Meissner khi từ thông bị đẩy khỏi chất siêu dẫn (B = 0), người ta cần giả định chất siêu dẫn là nghịch từ lý

tưởng Giả định này chỉ đúng cho các chất siêu dẫn lý tưởng (siêu dẫn loại I) vì nó không tính đến vấn đề từthông có thể thấm sâu vào các vật liệu trong siêu dẫn loại II

Lý thuyết London đã thiết lập được các phương trình (gọi là phương trình London) biến đổi từ các phương trình nhiệt động lực để

nhận lại hiệu ứng Meissner Như vậy lý thuyết London đã chứng minh được sự tồn tại của hiệu ứng Meissnertrong chất siêu dẫn.[6]

Xuất phát từ đinh luật Ohm trong trạng thái thường của các điện tử dẫn có mật độ dòng trong từ trường là J:

Trang 28

: là độ dân điện; ơ = — với p là điện trở suất,

cA

Từ biểu thức này để dẫn đến minh chứng cho hiệu ứng Meissner, cần phải biểu diễn phương trình London dưới dạng khác có liên

quan đến từ trường bên trong chốt siêu dẫn, đó là cảm ứng từ B = rotA

c

Và thực hiện các biến đổi toán học ta được phương trình:

Phương trình này có nghiệm duy nhất B = 0 vì từ trường đồng nhất không thể tồn tại trong chốt siêu dẫn và B (x) = B (0) = const

Kết quả này mô tả đúng với hiệu ứng Meissner trong lòng chốt siêu dẫn mà thực nghiệm quan sát thấy Tuy nhiên chỉ đúng hoàn

toàn cho chất siêu dẫn loại I

Trong chất siêu dẫn loại II, từ trường không hoàn toàn bị đẩy khỏi chất siêu dẫn Nếu B (0) là từ trường ở mặt biên thì khi đó từ

trường bên trong chất siêu dẫn là một hàm mũ e giảm theo khoảng cách từ mặt ngoài vào trong chất siêu dẫn:

B (x) = B (0) exp ; (1-45)

phương trình này mô tả từ trường tiến vào trong chất siêu dẫn loại II và B (x) chính là cách giải phương trình London (1.44) cho

siêu dẫn loại II Từ trường thấm sâu này được giả định là song song với từ trường ngoài

là số đo độ dài thấm sâu của từ trường ngoài vào trong chất siêu dẫn và được gọi là độ thấm sâu London

Ngày đăng: 12/09/2016, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Thí nghiệm đo - Luận văn mô hình siêu dẫn truyền thống đối với h2s
Hình 3.1 Thí nghiệm đo (Trang 45)
Hình 3.4: Sự phụ thuộc nhiệt độ của điện trở của Sulfur hydride đo ở các áp suất khác nhau, và sự phụ thuộc - Luận văn mô hình siêu dẫn truyền thống đối với h2s
Hình 3.4 Sự phụ thuộc nhiệt độ của điện trở của Sulfur hydride đo ở các áp suất khác nhau, và sự phụ thuộc (Trang 50)
Hình 3.6: Sự phụ thuộc nhiệt độ và điện trở của Sulfur hydride ở    143 GPa - Luận văn mô hình siêu dẫn truyền thống đối với h2s
Hình 3.6 Sự phụ thuộc nhiệt độ và điện trở của Sulfur hydride ở 143 GPa (Trang 52)
Hình 3.7: Sự phụ thuộc nhiệt độ và điện trỏ của Sulfur hydride trong các từ trường khác nhau. - Luận văn mô hình siêu dẫn truyền thống đối với h2s
Hình 3.7 Sự phụ thuộc nhiệt độ và điện trỏ của Sulfur hydride trong các từ trường khác nhau (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w