1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.

86 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tổ chức dạy học dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong dạy học Vật lí 11 nhằm phát huy tính tích cực, phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS trong học tập. đây là mẫu cho các sinh viên sư phạm vật lý làm luận văn tốt nghiệp.

Trang 1

1

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận tình của GV hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, tôi đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của riêng cá nhân tôi mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Quý Thầy Cô ở Bộ môn Vật lí - Khoa Vật lí – Trường Đại học Sư phạm

đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

TS Việt Hải - người trực tiếp khuyến khích, hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài bằng tất cả sự tận tình và trách nhiệm

Ban Giám Hiệu và quý Thầy Cô trường THPT Nguyễn Trãi, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành thực nghiệm Cảm ơn toàn thể các em HS lớp 11/3 đã nhiệt tình, cộng tác với tôi để quá trình thực nghiệm diễn ra thành công, tốt đẹp

Cuối cùng, cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia

đình và bạn bè - những người đã luôn bên cạnh, cổ vũ tinh thần, luôn ủng hộ tôi hết mình và là chỗ dựa vững chắc trong suốt thời gian qua, giúp tôi vượt qua những khó khăn trong khoảng thời gian thực hiện khóa luận

Mặc dù đã cố gắng hết sức, cẩn thận, dồn tất cả tâm huyết vào đề tài nhưng

do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm dạy học thực tế nên đề tài chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn

để đề tài được hoàn thiện

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016

Sinh viên

Trang 2

2

MỤC LỤC (xem lại mục lục)

Phần 1 MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

PHẦN 2 NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DHDA 8

1.1 Dạy học Dự án 8

1.1.1 Khái niệm Dự án [2], [3] 8

1.1.2 Lịch sử dạy học Dự án [3] 8

1.1.3 Khái niệm dạy học Dự án [2], [3] 10

1.1.4 Mục tiêu của dạy học Dự án [2] 11

1.1.5 Đặc điểm của dạy học Dự án 11

1.1.6 Yêu cầu của dạy học Dự án [3] 14

1.2 Phân loại dạy học Dự án [2], [3] 14

1.2.1 Phân loại theo chuyên môn 15

1.2.2 Phân loại theo quỹ thời gian 16

1.2.3 Phân loại theo hình thức tham gia 16

1.2.4 Phân loại theo nhiệm vụ 16

1.3 Các giai đoạn của dạy học theo Dự án 17

1.3.1 Giai đoạn 1: Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề 18

1.3.2 Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án 21

1.3.3 Giai đoạn 3: Thực hiện dự án 21

1.3.4 Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm 21

1.3.5 Giai đoạn 5: Đánh giá 22

1.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học Dự án [2], [3] 22

1.4.1 Vai trò của giáo viên 22

1.4.2 Vai trò của học sinh 23

1.5 Một số kỹ năng cần hình thành cho học sinh trong quá trình thực hiện Dự án [2] 23

Trang 3

3

1.5.1 Hướng dẫn học sinh tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Dự án 23

1.5.2 Hướng dẫn học sinh lựa chọn chủ đề để thực hiện Dự án 25

1.5.3 Hướng dẫn học sinh tạo bài trình chiếu trong dạy học Dự án 25

1.5.4 Hướng dẫn học sinh đánh giá và tự đánh giá 25

1.5.5 Hướng dẫn học sinh thu thập và xử lí thông tin 25

1.5.6 Hướng dẫn học sinh thuyết trình (trình bày trước đám đông) 26

1.6 Cách bố trí các tiết học Dạy học Dự án trong chương trình vật Lí phổ thông 26

1.7 Tác dụng và ý nghĩa của dạy học Dự án [2], [3], [4] 27

1.7.1 Đối với học sinh 27

1.7.2 Đối với giáo viên 28

1.8 Sự khác biệt giữa phương pháp dạy học Dự án với các phương pháp dạy học thông thường khác [2] 29

1.9 Thảo luận 76

Phần 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

1 Kết luận 78

2 Kiến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 85

Trang 4

4

CỤM TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

Trang 5

Xuất hiện từ khá sớm, từ thế kỷ XIX dạy học Dự án (DHDA) là một trong những phương pháp dạy học (PPDH) tích cực, nhấn mạnh việc kết hợp, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, hướng tới phát triển các năng lực tư duy, nhận thức bậc cao như: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực Ngoài mục tiêu truyền đạt kiến thức, DHDA còn kích thích hứng thú say mê nghiên cứu, rèn luyện năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, rèn luyện năng lực cộng tác làm việc theo nhóm, kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, đưa ra và bảo vệ ý kiến, bên cạnh đó phương pháp DHDA còn góp phần bồi dưỡng bản thân người học

Nghiên cứu sách giáo khoa vật lí lớp 11 cơ bản, tôi nhận thấy chương “Cảm

ứng điện từ” có nội dung kiến thức phong phú, mang tính ứng dụng cao nhưng lại

tương đối trừu tượng với HS, vì vậy cũng gây nhiều khó khăn cho việc dạy và học Với ưu điểm là giúp HS có thể tự chủ, linh hoạt tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc, có thể phát huy tư duy, tiềm năng trí tuệ của mình, kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, thì việc áp dụng các PPDH tích cực, hiện đại, trong đó có PPDH Dự án để tổ chức dạy học dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong SGK Vật lí 11 cần được nghiên cứu thử nghiệm

Trang 6

6

Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu

quả dạy và học Vật lí tôi nghiên cứu đề tài: “Tổ chức dạy học theo dự án về ứng

dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong dạy học Vật lí 11”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tổ chức dạy học dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong dạy học Vật lí 11 nhằm phát huy tính tích cực, phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS trong học tập

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về dạy học dự án, trọng tâm là quy trình tổ chức DHDA

- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”-SGK vật lí làm cơ sở

để tổ chức DHDA

- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học, thực trạng áp dụng DHDA trong môn Vật lí

ở một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng và Tỉnh Quảng Nam

- Thiết kế ý tưởng một số dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ và các công cụ đánh giá

- Thiết kế tiến trình tổ chức DHDA về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong chương trình vật lí 11

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá khả thi của tiến trình dạy học đã soạn thảo đối với việc phát huy tính tích cực, và năng lực giải quyết vấn đề Từ đó, tiến hành bổ sung và sửa đổi tiến trình dạy học cho phù hợp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Dạy học dự án

- Hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh về kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”, vật lí 11

- Nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở lý luận của PPDH Dự án và quy trình tổ chức hoạt động DHDA

- Điều tra, khảo sát thực tế: Tìm hiểu thực tế về hoạt động dạy học và nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 ở trường THPT

- Quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết dạy của GV trong trường

- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành ở 2 lớp

Trang 7

7

- Phương pháp thu thập số liệu: Dùng phiếu điều tra

- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:

6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Ở Việt Nam, những năm gần đây cũng đã có nhiều bài viết, luận văn thạc sĩ,

luận án tiến sĩ lựa chọn DHTDA trong dạy học Vật lí , như: “Dạy học theo dự án và

tiến trình thực hiện" của Đỗ Hương Trà; Tổ chức dạy học dự án một nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” - Sách giáo khoa Vật lí 11 nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập của Đào Thị Thu Thủy;

Tổ chức dạy học dự án “Sử dụng năng lượng nhiệt mặt trời” cho học sinh lớp 11

của Nguyễn Cao Cường; Tổ chức dạy học dự án các nội dung kiến thức chương

“Mắt Các dụng cụ quang học”- Sách giáo khoa Vật lí 11 của Trần Thị Hải;… Các

đề tài trên mặc dù mới chỉ dừng ở mức vận dụng lí luận DHDA để tổ chức dạy học một số kiến thức, nhưng bước đầu đã đạt được kết quả khả quan, tạo hứng thú và khích lệ HS

Trang 8

8

PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DHDA

Ngày nay, DHDA được sử dụng trong các trường phổ thông và đại học trên toàn thế giới Những thành công của PPDH này khi áp dụng trong thực tiễn chứng tỏ rằng: Đây là một PPDH tích cực, hiện đại

DHDA hướng đến mục tiêu ngoài việc truyền đạt củng cố kiến thức, còn củng

cố kích thích hứng thú, say mê nghiên cứu, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề phức hợp, mang tính thực tiễn, gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, rèn luyện năng lực cộng tác làm việc theo nhóm

Trong phần này, tôi trình bày một số nét chính của PPDH Dự án đã được công

bố trong các công trình [1], [2], [3], làm cơ sở cho các vấn đề nghiên cứu

1.1 Dạy học Dự án

1.1.1 Khái niệm Dự án [2], [3]

Thuật ngữ “Dự án” trong tiếng Anh là “project”, có gốc tiếng La tinh là

“projicere” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Theo từ điển bách khoa toàn thư

mở Wikipedia thì “Dự án là tập hợp các công việc nối tiếp nhau, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, với những nguồn lực nhất định nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng hướng đến” Khái niệm Dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau

Khái niệm Dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một PPDH mở tạo điều kiện cho HS phát triển toàn diện

1.1.2 Lịch sử dạy học Dự án [3]

DHDA (Project based - learning) hay còn gọi là dạy học theo Dự án, dạy học tiếp cận Dự án, là một phương pháp đã được sử dụng một thời gian khá lâu trên thế giới Tuy nhiên, trong gần một thập kỷ trở lại đây, việc triển khai DHDA đã phát triển chính thức thành một PPDH ở nước ta Theo các nhà giáo dục học thì học tập

Trang 9

9

Dự án sẽ khiến HS hứng thú hơn vì họ được tham gia vào giải quyết những vấn đề mang tính thách thức cao và gắn liền với thực tế đời sống

Từ đầu thế kỷ XIX, với nguồn gốc từ xu hướng tạo dựng cho rằng kiến thức

không phải là tuyệt đối mà được “tạo dựng” bởi người học dựa trên những kiến

thức sẵn có và thế giới quan riêng của họ, cách học theo Dự án đã được xây dựng trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí và các nhà giáo dục như: Jerome - Bruner, Jean Piaget, Jonh Deway, William H Kilpatric, …

Một trong những thử nghiệm đầu tiên đã được Deway tiến hành tại đại học Chicago của nước Mĩ, HS được chia thành các nhóm nhỏ mà trong đó họ tham gia học đọc, viết, tính toán, và học cách lắng nghe người khác, cách đảm nhận trách nhiệm, … Từ đó Deway rút ra ba khẳng định chắc chắn:

 Tất cả HS để học tập, phải tích cực và làm ra một cái gì đó

 Tất cả HS phải học cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề

 Tất cả HS phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội

Deway nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lý thuyết, ông cho rằng HS có thể học cách tư duy thông qua hoạt động tư duy và tranh luận và bằng cách giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế

Quá trình học tập theo Dự án cho phép lớp học trở thành môi trường làm việc

mà HS là trung tâm của việc học Dự án Tầm quan trọng của Dự án học tập là kinh nghiệm và những kiến thức thu được trong quá trình thực hiện Dự án chứ không chỉ

là kết quả cuối cùng

Năm 1918, William H Kilpatric (1871 - 1965) viết một bài báo gây tiếng vang lớn, có tiêu đề là “Phương pháp Dự án” Sau đó, ông đã phổ biến rộng rãi phương pháp này trong các giờ dạy của mình, qua các cuộc hội thảo và qua sách báo Ông cho rằng: Một Dự án là một hoạt động có mục đích cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường xã hội

Người tiên phong trong DHDA ở Châu Âu là Celestin Freinet (1896 - 1966), theo ông lớp học là một nơi phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu các thông tin, trao đổi ý kiến hoặc trả lời thư nhận được từ các lớp HS khác, hoặc chuẩn

bị các điều tra ngoài lớp học, phân tích các dữ kiện, trình bày các bài báo cáo, … Trong môi trường như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú, góp phần

Trang 10

10

tạo nên những cá nhân có đầu óc phát triển chứ không phải các cá nhân có đầu óc được rót đầy kiến thức

Trong DHDA, công cụ dạy học là một vấn đề khá quan trọng, đặc biệt là việc

sử dụng công nghệ thông tin Khi tổ chức DHDA, máy tính nối mạng giúp các học viên khai thác các thông tin từ nhiều nguồn, giúp gia tăng sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm để đạt được một cách tối ưu mục đích học tập

Khi nước ta bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt thì mục tiêu của giáo dục ở nước ta có nhiều đổi mới dẫn đến đòi hỏi phải có PPDH mới Do đó, tại Việt Nam đầu thế kỷ XXI các PPDH mở, đặc biệt là phương pháp DHDA đã được đưa vào nhằm đáp ứng tình hình phát triển thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

1.1.3 Khái niệm dạy học Dự án [2], [3]

DHDA (Project Based - Learning) là một PPDH tích cực trong đó GV hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả

DHDA đặc biệt nhấn mạnh tới việc hướng dẫn HS thực hiện Dự án học tập gắn

liền với thực tiễn và gắn liền với nội dung môn học Do đó các hoạt động học tập

được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy HS làm trung tâm và hòa nhập với những vấn đề, thực tiễn của thế giới thực tại Xuất phát từ nền tảng kiến thức mà HS đã được học, GV đưa ra một Dự án học tập hấp dẫn kích thích người học tham gia thực hiện Dự án học tập là một bài tập tình huống mà HS phải giải quyết bằng những kiến thức theo nội dung đã học HS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao phải tự tìm hiểu nội dung cần học thông qua các nguồn tài liệu và thông qua trao đổi một cách có định hướng các nhiệm vụ cần thực hiện

DHDA nhắm đến những mục tiêu giáo dục cụ thể, quan trọng như các chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, bài học, phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo, tư duy bậc cao, hay các kỹ năng cần cho cuộc sống và công việc như khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, …

Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, mỗi HS phải cộng tác với các thành viên khác trong nhóm trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết vấn đề và

Trang 11

11

đưa ra kết quả của Dự án Kết quả của Dự án là những sản phẩm có thể công bố, giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, sản phẩm thật hoặc chương trình hành động cụ thể

1.1.4 Mục tiêu của dạy học Dự án [2]

Mục tiêu của một dự án là để học nhiều hơn một chủ đề chứ không phải là tìm

ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được GV đưa ra Vì vậy, các mục tiêu

mà DHDA hướng tới là:

- DHDA hướng tới phát triển các kỹ năng tư duy, nhận thức bậc cao như phân

tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực, tinh thần học tập suốt đời

- DHDA hướng tới việc nâng cao kỹ năng chuyên môn và kỹ năng sử dụng công

nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

- DHDA hướng tới các vấn đề của thực tiễn nhằm gắn kết nội dung học với

cuộc sống thực

- DHDA hướng tới phát triển kỹ năng làm việc và kỹ năng sống như kỹ năng

lắng nghe và giao tiếp, trao đổi, tranh luận, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng làm việc tập thể, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, đưa ra và bảo vệ ý kiến

Với các mục tiêu trên chúng ta thấy rằng: DHDA không chỉ tập trung vào các kiến thức trong chương trình mà đôi khi HS còn khám phá ra các kiến thức vượt khỏi chương trình này, HS phải đặt câu hỏi, phải tìm kiếm những mối liên hệ và tìm

ra giải pháp DHDA có thể thay đổi môi trường học từ “GV nói” thành “HS thực

hiện”

1.1.5 Đặc điểm của dạy học Dự án

Có thể mô tả các đặc điểm của DHDA thông qua hình 2.1

Trang 12

12

Hình 1.1 Đặc điểm của dạy học Dự án

1.1.5.1 Định hướng vào thực tiễn

Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn Chủ đề của dự án thường gắn liền với những hoàn cảnh cụ thể, với những tình huống thực của đời sống xã hội, … Các Dự

án học tập góp phần gắn liền nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội và có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

Ví dụ: Dự án gắn với các ngành nghề trong xã hội, như ngành cơ khí Chủ đề

“Sản xuất ô tô” có liên quan tới kiến thức trong suốt 3 năm học:

DHDA

Mang tính

phức hợp

Tính tự lực cao của HS

Định hướng sản phẩm

Cộng tác

làm việc

Định hướng hành động

Định hướng hứng thú

Định hướng thực tiễn

Trang 13

13

- Lớp 10: Động lực học chất điểm, động lực học chất điểm, tĩnh học vật rắn, các định luật bảo toàn, cơ học chất lưu, cơ sở của nhiệt động lực học (hình dáng, tốc độ, nguyên tắc hoạt động của động cơ)

- Lớp 11: Điện tích, điện trường, dòng điện tong các môi trường, cảm ứng điện

Ví dụ: Để có thể chế tạo được bếp năng lượng mặt trời, HS phải sử dụng kiến

thức về hiện tượng Cảm ứng điện từ, phản xạ ánh sáng và tìm kiếm thông tin về thông số sản phẩm trên các nguồn khác nhau (internet, sách, báo,…) để chế tạo và giải thích nguyên tắc hoạt động của bếp

Ví dụ: Một trong những mối quan tâm hàng đầu của HS là phát triển nghề

nghiệp tương lai, có thể khơi gợi hứng thú của người học với những Dự án như “Để

trở thành kỹ sư giỏi”

1.1.5.4 Định hướng sản phẩm

Kết quả của dự án phải là một sản phẩm có thể công bố, trưng bày được: bài báo, tranh ảnh, các sản phẩm thật…

Ví dụ: Sản phẩm của Dự án “tuyên truyền phòng chống ma túy” có thể là bài

báo hoặc tranh cổ động

1.1.5.5 Tính tự lực cao của học sinh

HS tham gia tích cực và tự lực vào tất cả các GĐ của quá trình dạy học: Đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả thực hiện

Trang 14

14

1.1.5.6 Cộng tác làm việc

DHDA thúc đẩy sự cộng tác giữa các HS và GV và giữa các HS với nhau Trong nhiều trường hợp, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng và không còn bó hẹp trong phạm vi của một lớp học, của một môn học

1.1.5.7 Mang tính phức hợp

DHDA yêu cầu HS sử dụng các kiến thức của nhiều môn học khác nhau và có liên quan đến nhiều lĩnh vực để giải quyết vấn đề

Ví dụ: Dự án “Để trở thành kỹ sư điện giỏi” đòi hỏi sự am hiểu môn Vật lí bên

cạnh các kiến thức Toán học, Công nghệ

1.1.6 Yêu cầu của dạy học Dự án [3]

Với những đặc điểm trên DHDA có một số yêu cầu cụ thể:

 DHDA không thích hợp với việc truyền đạt những kiến thức lý thuyết mang tính hệ thống GV nên chọn những kiến thức, nội dung môn học có ý nghĩa thực tiễn cao để thực hiện Dự án

 DHDA yêu cầu GV phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, tổ chức thành thạo các hoạt động của dạy học theo nhóm, còn HS phải tích cực, chủ động, sáng tạo, biết cách làm việc độc lập và làm việc hợp tác

 DHDA thường yêu cầu có phương tiện vật chất và tài chính phù hợp

 DHDA cần sự tích hợp công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng Internet

 Cần lựa chọn thời gian phù hợp với điều kiện học tập của HS để thực hiện Dự án

1.2 Phân loại dạy học Dự án [2], [3]

DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương điện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại Dự án:

Trang 15

15

1.2.1 Phân loại theo chuyên môn

- Dự án trong môn học: Loại Dự án chỉ giới hạn trong bộ phận một môn học cụ

Ví dụ: Khi thực hiện Dự án “Nghiên cứu chế tạo bếp năng lượng mặt trời” HS

phải sử dụng kết hợp kiến thức môn Vật lí, Công nghệ, Toán học, … để hoàn thành sản phẩm

Dự án nhỏ

Dự ántrung bình

Dự án lớn

Theo hình thức tham gia

Dự án

cá nhân

Dự án nhóm

Dự án toàn lớp

Dự án toàn trường

Theonhiệm vụ

Dự ántìm hiểu

Dự án NC, chế tạo

Dự án thực hành

Dự án hỗn hợp

Hình 1.2 Sơ đồ phân loại Dự án

Trang 16

16

- Dự án ngoài môn học: Dự án này không nằm trong nội dung các môn học

trong nhà trường

Ví dụ: Chẳng hạn như các Dự án về chủ đề: Thiết kế một buổi trình diễn thời

trang cho lứa tuổi học đường, xây dựng chương trình cho một buổi nói chuyện, gặp

gỡ với các chuyên gia tư vấn

1.2.2 Phân loại theo quỹ thời gian

- Dự án nhỏ: Thực hiện trong thời gian ngắn từ 2 đến 6 tiếng đồng hồ

- Dự án trung bình: Thực hiện trong một hoặc một số ngày (“Ngày Dự án”),

nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

- Dự án lớn: Dự án được thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần

(hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần Dự án”)

Cách phân loại theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông

1.2.3 Phân loại theo hình thức tham gia

- Dự án cá nhân: Bản thân mỗi HS tiến hành làm Dự án học tập cho riêng

mình Thường thì những Dự án như thế tương đối đơn giản và không mất nhiều thời gian

- Dự án nhóm: Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm thực hiện một Dự án học

tập

- Dự án toàn lớp: Cả lớp làm chung một Dự án

- Dự án toàn trường: Dự án được thực hiện trên quy mô lớn do toàn bộ các khối

HS trong nhà trường thực hiện

1.2.4 Phân loại theo nhiệm vụ

Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của Dự án, có thể phân loại các Dự án theo các dạng sau:

- Dự án tìm hiểu: Là Dự án khảo sát thực trạng đối tượng

Ví dụ: HS tiến hành một cuộc điều tra để tìm hiểu về tình trạng HS đi học muộn

trong một tuần, một tháng, một năm

- Dự án nghiên cứu, chế tạo: Là Dự án nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích

các hiện tượng, quá trình

Ví dụ: Dự án nghiên cứu, chế tạo bếp năng lượng mặt trời, chế tạo một rơle điện

từ, chế tạo một kính thiên văn

Trang 17

17

- Dự án thực hành: Có thể gọi đây là Dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là

việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

Ví dụ: Dự án lắp ráp máy phát điện theo thiết kế có sẵn và vận hành máy phát

điện đó

- Dự án hỗn hợp: Trong khi thực hiện Dự án HS phải tiến hành đồng thời nhiều

hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành

1.3 Các giai đoạn của dạy học theo Dự án

Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia tiến trình của DHDA làm nhiều giai đoạn khác nhau Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo dự án theo 5 giai đoạn

Có thể sơ đồ hóa các giai đoạn của DHDA thông qua hình 2.3 dưới đây:

Hình 1.3 Hoạt động của GV và HS tương ứng với từng GĐ của

DHDA

GĐ1: XÂY DỰNG Ý TƯỞNG DA, QUYẾT ĐỊNH CHỦ ĐỀ

GV /HS đề xuất sáng kiến chủ đề, xác định mục tiêu dự án

GĐ 2: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THỰC HIỆN DA

Học sinh lập kế hoạch làm việc, phân công nhiệm vụ

GĐ 5: ĐÁNH GIÁ

GV và HS đánh giá kết quả và quá trình

(thông qua các phiếu ĐG) Rút ra kinh nghiệm

Trang 18

18

Cụ thể các công việc cần làm của GV và HS trong mỗi GĐ được trình bày ở các

mục sau:

1.3.1 Giai đoạn 1: Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề

- Trước khi tiến hành Dự án thì GV và HS đều phải chuẩn bị những điều kiện nhất định, đặc biệt là người GV phải chuẩn bị rất kĩ lưỡng những điều kiện để việc DHDA có thể tiến hành

- GV và HS cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định chủ đề và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú

ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai đoạn này còn được mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận về sáng kiến

- GV cần xây dựng bộ câu hỏi định hướng: Bộ câu hỏi định hướng sẽ cung cấp một cấu trúc trong việc đặt câu hỏi xuyên suốt các Dự án, phát triển tư duy ở các cấp độ Bộ câu hỏi giúp các Dự án tập trung vào các kiến thức quan trọng, giúp HS hiểu rõ bản chất vấn đề, hình dung ra Dự án, tạo mối quan hệ giữa HS và nội dung kiến thức Bộ câu hỏi định hướng bao gồm các câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung

 Câu hỏi khái quát (CHKQ): Là câu hỏi giới thiệu khái quát, đầy đủ những ý

tưởng xuyên suốt môn học, là những câu hỏi mở, khơi dậy sự thích thú, kích thích

tư duy bằng việc đặt câu hỏi có hơn một câu trả lời đúng duy nhất và có thể được sử dụng để liên kết nhiều bài học hay nhiều chủ đề CHKQ có các đặc điểm:

 Là yếu tố trọng tâm của chủ đề

 Thường là những câu hỏi thực tế, có thể đưa ra nhiều câu trả lời, đòi hỏi phải

tư duy bậc cao, không thể trả lời được bằng việc đơn thuần nhắc lại các dữ kiện

 Được lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử môn học

 CHKQ dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác làm mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi mở hướng nghiên cứu

Ví dụ

- Đối với Dự án “Nghiên cứu, lắp ráp máy lọc bụi” thì CHKQ có thể là: “Làm thế nào để không khí trở nên trong lành hơn?”

Trang 19

19

- Đối với Dự án “Tìm hiểu về nguyên tắc hoạt động của máy in Lazer” thì

CHKQ có thể là: “Những thiết bị nào hoạt động dựa trên sự tương tác giữa các điện

tích?”

- Đối với Dự án “Tìm hiểu về tụ điện” thì CHKQ có thể là: “Linh kiện điện tử

nào là bộ phận không thể thiếu trong các bảng mạch điện tử?”

 Câu hỏi bài học (CHBH): Là những câu hỏi gắn với một nội dung bài học cụ

thể, chúng được thiết kế để hỗ trợ và phát triển cho CHKQ

CHBH có các đặc điểm:

 Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể đối với câu hỏi

khái quát Các CHBH định hướng vào một bộ bài học cụ thể, chúng được thiết kế

để chỉ ra và khai thác những câu hỏi khái quát thông qua chủ đề

 Các CHBH thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn luận

Chúng khai thác các phương diện, tính phong phú của vấn đề Chúng được dùng để

khởi đầu cho một sự tranh luận, hợp tác chứ không phải dẫn đến một câu trả lời mà

GV cần

 Được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của HS Các CHBH sẽ

có hiệu quả cao hơn nếu chúng được thiết kế với mục đích khuyến khích người học

Những câu hỏi như thế thường thúc đẩy sự tranh luận và làm phương tiện để duy trì

sự khám phá, sự hứng thú của người học Các câu hỏi này nên có tính mở để phù

hợp với các sở thích khác nhau, các kiểu học khác nhau

Nói tóm lại, CHKQ và CHBH đưa ra lý do căn bản của việc học, giúp HS nhận

thức được “vì sao” và “như thế nào”, khuyến khích tìm hiểu, thảo luận và nghiên

cứu Để trả lời những câu hỏi như thế HS phải xem xét kĩ các chủ đề, xác lập ý

nghĩa nội dung rồi mới xây dựng câu trả lời cụ thể từ những thông tin thu thập

được

Ví dụ:

- Đối với Dự án “Nghiên cứu, lắp ráp máy lọc bụi” thì CHBH có thể là: “Tại

sao máy lọc bụi có thể làm cho không khí trở nên trong lành hơn?”

- Đối với Dự án “Tìm hiểu về nguyên tắc hoạt động của máy in Lazer” thì

CHBH có thể là: “Tại sao máy in Lazer có thể in được nhiều bản trong một thời

gian ngắn?”

Trang 20

20

- Đối với Dự án “Tìm hiểu về tụ điện” thì CHBH có thể là: “Tại sao tụ điện là

linh kiện không thể thiếu trong các bảng mạch điện tử?”

 Câu hỏi nội dung (CHND): Là các câu hỏi trọng tâm hỗ trợ trực tiếp về nội

dung và mục tiêu học tập Đó là những câu hỏi yêu cầu người học trả lời dựa trên thực tế bài học, có liên quan trực tiếp đến hệ thống các kiến thức HS thu được sau khi thực hiện xong Dự án

CHND giúp HS xác định “ai”, “cái gì”, “ở đâu”, và “khi nào” cũng như hỗ

trợ cho CHKQ và CHBH bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu các chi tiết trong Dự

án Các câu hỏi này giúp HS tập trung vào những thông tin xác thực cần phải tìm hiểu để đáp ứng các tiêu chí về nội dung và những mục tiêu học tập

CHND hầu hết chú trọng vào nội dung hơn là giải thích sự kiện đó và có câu trả lời rõ ràng

Ví dụ:

- Đối với Dự án “Nghiên cứu, lắp ráp máy lọc bụi” thì câu hỏi nội dung có thể là:

+ Máy lọc bụi hoạt động dựa trên hiện tượng vật lí nào?

+ Máy lọc bụi được cấu tạo từ những bộ phận chính nào?

+ Nêu nguyên tắc hoạt động của máy lọc bụi?

+ Dòng điện mà máy lọc bụi sử dụng là dòng điện xoay chiều hay dòng điện một chiều? Tại sao?

+ Làm thế nào để có thể lấy bụi ra khỏi lưới của máy lọc bụi?

+ Ngoài máy lọc bụi còn có những thiết bị nào trong thực tế đời sống hoạt động dựa trên nguyên tắc tương tự như nguyên tắc hoạt động của máy lọc bụi?

+ Để có thể khử mùi của không khí, ngoài hai lưới lọc bụi máy lọc bụi cần có thêm thiết bị nào? Tại sao máy lọc bụi có thể làm cho không khí trở nên trong lành hơn?

- Đối với Dự án “Tìm hiểu về nguyên tắc hoạt động của máy in Lazer” thì câu

hỏi nội dung có thể là:

+ Hãy kể tên một số loại máy in mà em biết Nguyên tắc hoạt động của các loại

máy in này có giống nhau không?

+ Máy in lazer hoạt động dựa trên hiện tượng vật lí nào?

+ Hãy trình bày sơ đồ khối của máy in lazer

Trang 21

- Đối với Dự án “Tìm hiểu về tụ điện” thì câu hỏi nội dung có thể là:

+ Hãy trình bày cấu tạo của tụ điện?

+ Hãy nêu cách để nạp điện cho tụ điện?

+ Để phân loại cho tụ điện người ta dựa vào yếu tố nào? Theo đó có thể phân chia tụ điện thành máy loại? Đó là những loại nào?

+ Điện dung của tụ điện phụ thuộc vào những yếu tố nào?

+ Tại sao trong thực tế phải ghép tụ điện thành bộ? Có mấy cách ghép tụ điện thành bộ? Đó là những cách nào? Đối với mỗi cách ghép hãy viết công thức xác định điện dung của bộ tụ?

+ Hãy nêu những ứng dụng trong thực tế của tụ điện?

+ Tại sao tụ xoay lại thường được lắp trong các mạch chọn sóng của Rađio?

1.3.2 Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án

- Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

1.3.3 Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

- HS học cách nhìn đúng chỗ với cái nhìn nhiều chiều (phỏng vấn nhân chứng; quan sát; mạng Internet, thư viện, bảo tàng,…; Sách, tạp chí, phim ảnh,…; trao đổi thư tín – các mối liên hệ với quốc tế,…)

- Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức

lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

1.3.4 Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm

- Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực

Trang 22

22

hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội

1.3.5 Giai đoạn 5: Đánh giá

- GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài

Việc đánh giá sẽ gồm các mặt sau:

+ Nội dung (tiêu chí) – giá trị của sản phẩm là ở chỗ nào?

+ Rút ra được bài học gì? (kiến thức, kĩ năng, thái độ,…)

+ Làm việc tập thể như thế náo?

+ Sự thoải mái và tích cực tham gia ở mức độ nào?

+ Điều gì cần tiếp tục phát huy ở những lần sau?

+ Điều gì cần thay đổi? Những điểm nào cần được cải thiện?

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực

tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn

4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn Khi đó tiến trình dự án

có thể được mô tả theo 4 giai đoạn: xác định chủ đề và mục tiêu dự án; lập kế hoạch; thực hiện; đánh giá dự án

1.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học Dự án [2], [3]

1.4.1 Vai trò của giáo viên

- Trong DHDA đòi hỏi GV phải thoát li khỏi PPDH truyền thống, không còn lệ

thuộc vào giáo trình hoặc các tài liệu dạy học cho sẵn

- GĐ chuẩn bị Dự án đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để lựa chọn các nội dung kiến thức phù hợp thực hiện Dự án, lên kế hoạch và thiết kế Dự

án, thiết kế các tài liệu hỗ trợ, chuẩn bị điều kiện cho Dự án và đặc biệt phải thấy được sự liên quan của nội dung bài học đến các vấn đề của thực tiễn cuộc sống

- Thúc đẩy vai trò tự chủ của HS và tính tích cực, chủ động của HS trong việc giải quyết các nhiệm vụ được giao

Trang 23

23

Như vậy, trong suốt quá trình này GV không còn là người truyền thông tin mà

là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động của HS, tạo cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu và hướng dẫn HS, tạo môi trường học tập,

hợp tác, … Vai trò của người GV là người hướng dẫn (guide), một thành viên cộng

tác và tham vấn (advise) chứ không phải là cầm tay chỉ việc cho HS của mình

1.4.2 Vai trò của học sinh

- HS học bằng việc tham gia một dự án có liên quan chặt chẽ với nội dung bài học

- HS tự lực triển khai dự án, quyết định cách tiếp cận vấn đề, tự hoạch định và

tổ chức các hoạt động để giải quyết vấn đề

- HS thu thập và xử lí thông tin từ Dự án và những nhiệm vụ trong Dự án mà mình đảm nhận

- Trình bày và bảo vệ sản phẩm có tích hợp công nghệ thông tin của mình

- HS tham gia vào việc tự đánh giá và đánh giá HS khác

Như vậy, trong DHDA HS đóng vai trò là trung tâm của quá trình dạy học

1.5 Một số kỹ năng cần hình thành cho học sinh trong quá trình thực hiện Dự án [2]

Trước khi thực hiện phương pháp này GV cần tập huấn và rèn luyện cho HS những kỹ năng như: kỹ năng thảo luận nhóm, làm việc độc lập, tìm đọc và chọn lọc tài liệu, kỹ năng đánh giá và tự đánh giá, kỹ năng trình bày, …

1.5.1 Hướng dẫn học sinh tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Dự án

DHDA đòi hỏi HS phải làm việc theo nhóm thì mới hoàn thành được nhiệm vụ học tập đã đề ra vì đây là khâu rất quan trọng trong DHDA Làm việc theo nhóm thúc đẩy sự tham gia tích cực của các thành viên, tăng cường hiệu quả học tập, giúp cho sản phẩm có chất lượng hơn, ít thời gian hơn so với sản phẩm của một cá nhân

HS, nhờ đó mà tăng cường trách nhiệm cá nhân và có thể áp dụng được nhiều năng

lực khác nhau

Về cách chia nhóm

Ngay từ khâu chia nhóm GV cũng nên chú ý đến tính công bằng cho các nhóm

Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách có ưu và nhược điểm riêng

Cách 1: Căn cứ vào vị trí chỗ ngồi trong lớp học

Cách 2: Chia nhóm ngẫu nhiên theo danh sách lớp

Cách 3: Chia nhóm bạn thân

Trang 24

24

Cách 4: Chia nhóm thông qua trình độ HS, khả năng sử dụng công nghệ thông tin, đảm bảo trong mỗi nhóm có HS khá, giỏi, thành thạo máy vi tính và khai thác tốt thông tin trên mạng Internet

Về tổ chức thực hiện hoạt động nhóm

Các bước tiến hành tổ chức học tập theo nhóm trên lớp có thể như sau:

Bước 1: Làm việc chung cả lớp

- GV nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

- Chia lớp thành các nhóm

- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn gợi ý cho mỗi nhóm các vấn đề cần lưu ý khi trả lời câu hỏi, hoàn thành bài tập

Bước 2: Làm việc theo nhóm

- Phân công trong nhóm (cử nhóm trưởng, thư ký, phân việc cho các thành viên trong nhóm)

- Từng cá nhân làm việc độc lập

- Thảo luận trong nhóm và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ vủa nhóm

- Mỗi nhóm cử đại điện trình bày kết quả làm việc của nhóm (không nhất thiết phải là nhóm trưởng hay thư ký)

Bước 3: Làm việc chung cả lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

- Các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung cho nhau

- GV tổng kết và chuẩn xác kiến thức

 Tóm lại, những kỹ năng cơ bản của làm việc nhóm mà GV cần rèn luyện cho

HS trong quá trình thực hiện Dự án là:

 Thiết lập mục tiêu hoạt động nhóm: Nhóm trưởng phải nêu ra được mục tiêu,

nhiệm vụ của nhóm để mỗi thành viên trong nhóm nhận thức được vai trò của mình đối với nhóm

 Thiết kế nhiệm vụ học tập nhóm

 Thiết kế nhóm học tập (bao gồm hình thành nhóm, các loại nhóm và cấu trúc

nhóm, xác định quy mô nhóm)

 Thiết lập, duy trì và kiểm soát các mối quan hệ tương tác trong nhóm

 Tổ chức, hướng dẫn và quản lí, đánh giá hoạt động học theo nhóm

Như vậy, với cách tổ chức học nhóm đòi hỏi người GV phải đầu tư thời gian,

Trang 25

25

công sức Đứng sau các hoạt động của HS không có nghĩa là phó thác hoàn toàn cho

HS mà ngược lại phải theo dõi sát sao, hướng dẫn và có biện pháp hỗ trợ kịp thời Nếu tổ chức hoạt động nhóm tốt, kết hợp với phương pháp đánh giá công bằng, khách quan sẽ kích thích khả năng học tập của HS, ngược lại sẽ làm cho HS chán nản

1.5.2 Hướng dẫn học sinh lựa chọn chủ đề để thực hiện Dự án

Đầu tiên GV cần xác định:

- Dự án HS (hoặc GV) đưa ra phải có liên quan đền chương trình và phần kiến thức đang học

- HS thu được gì sau khi thực hiện Dự án

- Nội dung Dự án có giúp được gì cho HS trong việc học

Sau đó, GV cần hướng dẫn HS lựa chọn Dự án từ sách giáo khoa (SGK) Cụ thể như sau:

- Tìm những nội dung mà có thể tích hợp các kiến thức và kỹ năng khác nhau

- Tìm những nội dung có tính thực tiễn, có liên quan đến các vấn đề lớn mang tính xã hội cấp bách, thời sự như: vật liệu, năng lượng, ứng dụng của vật lí trong kỹ thuật, công nghệ và đời sống, lao động sản xuất, …

- Xác lập được mối quan hệ giữa các tri thức và kỹ năng của các môn học

- Tự đặt ra những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học, đến thực tiễn cuộc sống từ đó hình thành ý tưởng Dự án

1.5.3 Hướng dẫn học sinh tạo bài trình chiếu trong dạy học Dự án

Sản phẩm của Dự án ngoài mô hình thật thì còn có rất nhiều cách để trình bày sản phẩm như tạo trang Web hay ấn phẩm Tuy nhiên, trong khuôn khổ khóa luận tôi chỉ hướng dẫn HS một cách chi tiết về kỹ năng tạo bài trình chiếu bằng chương trình Microsoft Powerpoint

1.5.4 Hướng dẫn học sinh đánh giá và tự đánh giá

Việc đánh giá và tự đánh giá của HS được thực hiện nhờ các bảng tiêu chí đánh giá kết quả Dự án mà GV soạn thảo

1.5.5 Hướng dẫn học sinh thu thập và xử lí thông tin

Thu thập thông tin là những bước đi cơ bản để mở rộng tầm nhìn khi giải quyết vấn đề, HS phải biết rằng thông tin có thể thu thập được từ nhiều nguồn như: sách báo, trên mạng Internet, … đồng thời có thể thu thập thông tin qua nhiều con đường khác nhau như: trao đổi ý kiến, khảo sát thực tế, điều tra,…

Trang 26

26

Chất lượng và hiệu quả của việc thu thập thông tin phụ thuộc rất lớn vào phương pháp thu thập nó hay trình tự thực hiện các bước trong quá trình thu thập

Do đó HS cần thực hiện các bước như sau:

Bước 1: Xác định đối tượng cần thu thập thông tin

Bước 2: Tiến hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn và đi theo nhiều con

đường khác nhau

Bước 3: Thẩm định, kiểm tra, xác định mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập

được

Bước 4: Trao đổi với các thành viên trong nhóm để xác định liệu những thông

tin mà các cá nhân thu thập được có phải là tốt nhất, có mâu thuẫn với các nguồn khác hay không?

1.5.6 Hướng dẫn học sinh thuyết trình (trình bày trước đám đông)

Khi muốn trình bày một kế hoạch, ý kiến cá nhân hay ý kiến của nhóm trong quá trình thực hiện Dự án của HS trước tập thể lớp, thì kỹ năng thuyết trình là một

kỹ năng quan trọng mà học sinh cần có Để rèn luyện được kỹ năng thuyết trình GV phải định hướng cho HS những công việc cần làm như sau:

- Xác định nội dung cần trình bày, sau đó nghiên cứu kỹ tài liệu để nắm chắc

được những nội dung cần trình bày sau đó phát triển thành các ý tưởng

- Sắp xếp các ý tưởng theo từng phần mở bài, thân bài và kết luận Ghi sẵn những ý chính trọng tâm, ngắn gọn và súc tích

- Luyện tập nhiều lần trước khi thuyết trình

- Cần thuyết trình một cách tự nhiên như đang trò chuyện với mọi người, đôi khi pha thêm một chút hài hước để tăng hứng thú cho người nghe

- Khi thuyết trình cần kết hợp với ngôn ngữ hình thể

1.6 Cách bố trí các tiết học Dạy học Dự án trong chương trình vật Lí phổ thông

Áp dụng phương pháp DHDA cho HS là một hướng đi đúng trong dạy học Nhưng chương trình học hiện nay của HS THPT có khối lượng nhiều và rất nặng

nề, do đó nếu áp dụng phương pháp DHDA trong các tiết học chính khóa thì việc này rất khó để thực hiện

DHDA áp dụng cho những kiến thức liên quan đến thực tiễn nên các buổi ngoại khóa là thời điểm thích hợp nhất và là môi trường thuận lợi nhất để tổ chức DHDA Các buổi ngoại khóa diễn ra trong vài tiết, một buổi hoặc một ngày, do đó qua quá

Trang 27

27

trình báo cáo kết quả Dự án của HS không bị gò bó về mặt thời gian Đồng thời, quá trình thực hiện Dự án được tiến hành ngoài giờ lên lớp và phụ thuộc vào thời gian làm việc của các nhóm HS và nếu HS gặp khó khăn hay những thắc mắc không thể tháo gỡ trong quá trình thực hiện Dự án, thì luôn có những cuộc gặp gỡ, trao đổi với

GV thường xuyên để được giúp đỡ và giải đáp thắc mắc nên lại càng không ảnh hưởng đến tiến độ của các Dự án học tập

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là GV không thể tổ chức DHDA trong các giờ trên lớp Bằng cách sử dụng kết hợp các hình thức làm việc tập thể, nhóm

và cá nhân thì GV có thể tổ chức DHDA được, tuy nhiên để làm được như vậy GV cần:

- Biết cách phân tích và lựa chọn những nội dung kiến thức, lựa chọn bài học và đưa ra Dự án học tập phù hợp vì không thể bài nào cũng dạy học theo Dự án được

- Trong tiết học GV cần xác định từng mốc thời điểm khác nhau, thời điểm nào

là truyền thụ kiến thức cơ bản, thời điểm nào bắt tay vào thực hiện Dự án học tập Như vậy, HS thực hiện Dự án mà vẫn đảm bảo khám phá kiến thức cơ bản

- Phải biết lựa chọn để hướng dẫn HS thực hiện Dự án Nếu trong một lớp, cùng một thời gian mà có nhiều thầy cô cùng giao Dự án học tập cho HS thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS

Có nhiều cách khác nhau để tổ chức DHDA, có thể sử dụng cả bài dạy, nhưng cũng có thể sử dụng chỉ một phần của bài dạy Có thể tổ chức dạy trong một buổi riêng nhưng cũng có thể lồng vào trong từng tiết học Tùy theo quỹ thời gian, cách dạy mà GV có thể điều chỉnh để kết quả dạy học tốt hơn

Để đảm bảo dạy và học theo phân phối chương trình như hiện nay, khóa luận xin đề cập đến vấn đề vận dụng phương pháp DHDA trong các buổi ngoại khóa

1.7 Tác dụng và ý nghĩa của dạy học Dự án [2], [3], [4]

DHDA mang lại rất nhiều lợi ích cho cả GV lẫn HS, cụ thể như sau:

1.7.1 Đối với học sinh

- HS nắm vững và vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn

- Phát huy tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực, sáng tạo và cải thiện thái độ học tập của HS

- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác Do khi tham gia vào Dự án HS sẽ trách nhiệm hơn trong học tập so với

Trang 28

28

các hoạt động truyền thống khác trong lớp học

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn

- Hình thành cho HS một phương pháp làm việc khoa học

- Khơi gợi hứng thú học tập, niềm đam mê nghiên cứu khoa học của HS, giúp cho HS tự tin vào chính mình

- Làm cho việc học trở nên thực tế và gần gũi với việc học của HS

- Góp phần phát triển các kỹ năng phức hợp cho HS như: tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, …), tự giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp và năng lực tự đánh giá

1.7.2 Đối với giáo viên

- Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ

- Nâng cao sự hợp tác với đồng nghiệp, cải thiện mối quan hệ với HS

- Rèn luyện các kỹ năng sư phạm

- Tìm ra được mô hình cho phép tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn cho HS trong lớp học và thậm chí ngoài lớp học

Bất kỳ một phương pháp hay hình thức tổ chức dạy học nào cũng có những tác dụng và ý nghĩa nhất định, không có phương pháp hay hình thức tổ chức dạy học nào là vạn năng Đối với DHDA mặc dù có rất nhiều tác dụng và ý nghĩa như đã trình bày ở trên, hình thức tổ chức dạy học này cũng còn có những hạn chế nhất định:

- DHDA đòi hòi cần phải có nhiều thời gian cũng như phương tiện vật chất và tài chính phù hợp

- Không thích hợp cho việc truyền thụ các kiến thức mới, kiến thức mang tính trừu tượng, có tính hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản

- Đây là một hình thức tổ chức dạy học mới, do đó đòi hỏi phải thay đổi cách dạy và học của GV và HS

- Không phải bất kì bài học nào cũng áp dụng được DHDA mà nên thực hiện đối với những nội dung có tính thực tiễn cao

- Để thực hiện được Dự án, HS phải có những kiến thức nhất định về công nghệ thông tin cũng như phải biết khai thác thông tin từ mạng Internet

Với những ưu và nhược điểm như trên, khi áp dụng vào Việt Nam hình thức tổ chức dạy học này cũng phải đối mặt với nhiều thách thức:

Trang 29

29

- Do DHDA đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, vật chất nên nhiều GV sẽ cảm thấy phải chịu nhiều áp lực hơn trong việc thực hiện chương trình dạy so với khi áp dụng các PPDH truyền thống

- Do HS đã quen với PPDH truyền thống nên các em sẽ không quen với việc chủ động định hướng quá trình học tập vì vậy các em sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải làm như vậy trong học theo Dự án Tương tự, rất nhiều GV cảm thấy thoải mái với vai trò dạy học theo phương pháp truyền thống Khi họ bắt đầu áp dụng DHDA

thì đó là một thời kì chuyển tiếp khó khăn

1.8 Sự khác biệt giữa phương pháp dạy học Dự án với các phương pháp dạy học thông thường khác [2]

- DHDA vượt ra ngoài khuôn khổ của giáo dục truyền thống và dạy học truyền thống Các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài,

liên quan tới nhiều môn học, lấy HS làm trung tâm, tập trung vào vấn đề thực tế hàng ngày và dựa trên kinh nghiệm của người thực hiện HS được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học

- Kết thúc Dự án phải có một sản phẩm cụ thể Đây là một trong những nét

khác biệt rất cơ bản giữa phương pháp DHDA với PPDH thông thường khác Sản phẩm Dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết mà còn tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành

- Công nghệ thông tin tham gia vào mọi quá trình học tập của HS và quá trình dạy học của GV HS không học các kỹ năng công nghệ thông tin một cách riêng lẻ

mà các kĩ năng công nghệ thông tin này được tích hợp trong quá trình học tập Như

vậy, phương pháp DHDA có thể được xem như có tác dụng đổi mới PPDH đồng thời dạy HS các kỹ năng công nghệ thông tin một cách rất tự nhiên

- DHDA đặt trọng tâm đánh giá trên những hoạt động và kỹ năng mà HS sẽ thu

được khi thực hiện Dự án Đồng thời, việc đánh giá được thực hiện trong suốt quá

trình học tập chứ không chỉ đánh giá mỗi kết quả học tập của HS

- Một điểm khác biệt nữa là trước đây chúng ta đánh giá HS theo bài kiểm tra trên giấy, còn trong DHDA ta sẽ dùng nhiều công cụ đánh giá phối hợp với nhau,

kể cả quan sát Quan sát cũng là một công cụ đánh giá được sử dụng trong DHDA

Trang 30

30

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ

ÁN VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”

TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

2.1 Vị trí và vai trò của chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11

Dựa trên cơ sở là những kiến thức tương ứng đã học ở chương trình lớp 9, chương trình vật lí lớp 11 đem lại sự nghiên cứu chuyên sâu hơn về hiện tượng cảm ứng điện từ và các định luật liên quan đến hiện tượng này Những nội dung cơ bản liên quan đến hiện tượng cảm ứng điện từ được phân bố trong 3 bài học trong 3 tiết thuộc chương “Cảm ứng điện từ” đó là:

Bài 23: Từ thông Cảm ứng điện từ

Bài 24: Suất điện động cảm ứng

Bài 25: Tự cảm

Hiện tượng cảm ứng điện từ là một trong những hiện tượng cơ bản nhất của chương “Cảm ứng điện từ” Tuy nhiên, SGK chỉ giới hạn việc nghiên cứu hiện tượng cảm ứng điện từ trong phạm vi lí thuyết là chủ yếu Việc nghiên cứu hiện tượng này không đơn thuần là tìm hiểu một hiện tượng, mà còn để tích lũy vốn tri thức, đảm bảo việc hiểu sâu sắc những ứng dụng vật lí của hiện tượng vào đời sống,

kỹ thuật

Trong hệ thống cấu trúc chương trình vật lí, “Cảm ứng điện từ” là chương kết thúc phần Điện học- Điện từ học Có thể nói, chương “Cảm ứng điện từ” là nhịp cầu nối giữa kiến thức và các hiện tượng điện từ đã nghiên cứu trước đó (dòng điện sinh

ra từ trường, từ trường của một số dòng điện đơn giản) với những nội dung sẽ nghiên cứu (nguyên tắc sinh ra dòng điện xoay chiều, nguyên tắc hoạt động của máy phát điện một chiều và máy phát điện xoay chiều, máy biến thế, động cơ không đồng bộ ba pha, )

Nội dung chương “Cảm ứng điện từ” bao gồm những kiến thức gắn liền với thực tế cuộc sống qua những vật dụng như: nam châm, máy phát điện, đàn ghita điện, do đó tạo ra sự thích thú cho HS khi làm bài tập, kích thích sự tìm tòi sáng tạo của HS, áp dụng những kiến thức đó để giải thích các hiện tượng trong thực tế

Như vậy, chương này có rất nhiều kiến thức rất quan trọng với học sinh và gắn

liền với thực tế cuộc sống Do đó quá trình học ở chương này cho phép GV tổ chức

Trang 31

31

những tình huống dạy học theo quan điểm DHDA, kích thích học sinh tự chủ xây dựng tri thức, rèn luyện các kỹ năng thực hành, hoạt động trí óc và chân tay, qua đó

mở rộng vốn hiểu biết cơ bản, kỹ năng tổng hợp, phát triển trình độ tư duy

Chúng ta có thể biểu diễn các nội dung cơ bản của chương theo sơ đồ cấu trúc sau:

Trang 32

32

2.2 Mức độ nội dung kiến thức, kỹ năng HS cần đạt được khi học chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11

2.2.1 Yều cầu về kiến thức

- Viết được công thức tính từ thông qua một diện tích và trình bày được đơn vị

đo từ thông

- Trình bày được các cách làm biến thiên từ thông

- Trình bày được ý nghĩa của từ thông

- Định nghĩa được dòng điện cảm ứng và trình bày được điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng

- Mô tả được thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ

- Định nghĩa được hiện tượng cảm ứng điện từ

- Phát biểu được định luật Len-xơ về chiều dòng điện cảm ứng

- Trình bày được lợi ích và hạn chế của của dòng điện Fu-cô

- Định nghĩa được và viết được công thức tính suất điện động cảm ứng

- Định nghĩa được hiện tượng tự cảm và suất điện động tự cảm

- Viết được công thức tính suất điện động tự cảm

- Phát biểu được định luật Fa-ra-đây về hiện tượng cảm ứng điện từ

- Định nghĩa được độ tự cảm và trình bày được đơn vị đo độ tự cảm

- Viết được công thức xác định hệ số tự cảm của ống dây

- Viết được công thức tính năng lượng của ống dây có dòng điện

- Biết được năng lượng tích trữ trong ống dây chính là năng lượng từ trường

2.2.2 Yêu cầu về kỹ năng

- Vận dụng được công thức Φ = Bscosα để tính từ thông qua diện tích S hoặc tìm một đại lượng khi biết ba đại lượng còn lại

- Làm được thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ

- Nhận biết được sự xuất hiện của dòng điện cảm ứng trong mạch kín

- Xác định được chiều của dòng điện cảm ứng theo định luật Len-xơ

- Tính được suất điện động cảm ứng và suất điện động tự cảm trong trường hợp từ thông qua một mạch kín biến đổi đều theo thời gian

- Vận dụng được công thức hệ số tự cảm, suất điện động tự cảm và suất điện động cảm ứng để giải một số bài tập liên quan

- Giải thích được thí nghiệm về hiện tượng tự cảm khi đóng và ngắt mạch

Trang 33

33

- Giải thích được sự tồn tại của năng lượng từ trường

- Giải thích được một số hiện tượng vật lí trong đời sống

- Rèn luyện được kĩ năng quan sát thí nghiệm để rút ra kết luận

- Rèn luyện được kĩ năng quan sát, phân tích, đánh giá hiện tượng

- Rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm

- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ vật lí

2.2.3 Yêu cầu về thái độ, tình cảm

- Nghiêm túc trong quá trình học tập, tích cực, tự giác trong thực hiện nhiệm vụ

- Có tinh thần hợp tác, đoàn kết học tập và làm việc nhóm

- Có thái độ khách quan, trung thực, có tác phong nghiêm túc, ham học hỏi

- Có ý thức vận dụng kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” vào thực tiễn

2.3 Tìm hiểu thực tế dạy và học nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 ở trường phổ thông

2.3.2 Phương pháp điều tra

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp điều tra

sau đây:

- Điều tra GV: Tham khảo giáo án các tiết dạy của GV, trao đổi trực tiếp với giáo viên

Trang 34

34

- Dự giờ một số tiết dạy

- Điều tra HS: Trao đổi trực tiếp với HS

- Phân tích kết quả điều tra

2.3.3 Kết quả điều tra

Tình hình học tập của học sinh

- Đa số HS cho rằng Vật lí là một môn học khó và khô khan

- Nhiều khái niệm trừu tượng, đòi hỏi trình độ suy luận cao dẫn đến HS khó hiểu và khó nhớ, khó vận dụng để giải thích các hiện tượng vật lí liên quan

- Học sinh chưa vận dụng được kiến thức đã học vào thực tiễn hàng ngày cũng như hạn chế trong việc vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng vật lí xảy ra trên thực tế

- Các quy luật, quy tắc xác định chiều dòng điện cảm ứng đòi hỏi sự tưởng tượng không gian tốt Do đó, khi xác định chiều dòng điện cảm ứng, HS thường hiểu: Từ trường do dòng điện cảm ứng sinh ra ngược chiều với từ trường sinh ra dòng điện cảm ứng

- Chưa hiểu rõ ý nghĩa vật lí của các khái niệm như: Cảm ứng từ, từ thông,

- Khả năng diễn đạt ngôn ngữ vật lí của HS yếu, thường lúng túng khi phải trình bày

- Kỹ năng làm thí nghiệm của HS còn rất kém

- Mục tiêu học tập của HS vẫn thiên về điểm số, thi cử

- Tính tích cực của học sinh trong giờ học chưa cao, rất nhiều học sinh học một cách thụ động

Tình hình dạy học của giáo viên

- Hầu hết các GV sử dụng PPDH truyền thống, các PPDH hiện đại chưa được

GV quan tâm, tìm hiểu

- Chưa có nhiều giờ dạy tích hợp công nghệ thông tin vào trong dạy học

- GV chưa bám sát mức độ nội dung kiến thức cơ bản mà HS cần nắm vững nên chưa làm nổi bật và khắc sâu được kiến thức đó

- Hiện tượng dạy chay còn phổ biến, HS không được làm thí nghiệm hoặc quan sát thí nghiệm mà chủ yếu nghe GV mô tả, minh họa GV chưa phát huy được vai trò của đồ dùng dạy học vào việc phát triển nhận thức của học sinh

Trang 35

35

- Việc kiểm tra xuất phát từ phía GV thông qua kiểm tra miệng, tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan, chú trọng đến đánh giá kết quả học tập chứ chưa chú ý tới đánh giá quá trình

- GV vẫn đóng vai trò trung tâm còn HS vẫn giữ vai trò thụ động trong quá trình học tập

- Một số GV chưa thực sự coi trọng các kiến thức ứng dụng liên quan đến thực

tế, do đó các kiến thức đã học chưa được ứng dụng trong thực tiễn, vẫn nặng về mô

tả, lý thuyết

Nguyên nhân của thực trạng trên

- Chương trình học nặng nề, khối lượng kiến thức ngày càng nhiều, thời gian học kéo dài gây áp lực cho GV và HS

- Đa số các em mang áp lực học rất lớn, các em chú trọng vào điểm số do đó ngại tham gia vào các hoạt động khác dẫn đến các em không năng động, tích cực

- Hầu hết các GV đều đã được tập huấn thay SGK và các PPDH tích cực, tuy nhiên GV chưa nhận thức đầy đủ và toàn diện về đổi mới PPDH Và một phần do tâm lí ngại thay đổi của GV khi chuyển sang các PPDH mới

- Học sinh chưa quen với lối học chủ động, tích cực

- Các kiến thức ứng dụng trong thực tế còn chưa được coi trọng, vẫn còn nặng

nề về tính toán và lý thuyết

- Trang thiết bị thí nghiệm ở trường phổ thông còn thiếu thốn và chưa được sử dụng hiệu quả

Đề xuất biện pháp khắc phục những khó khăn, hạn chế thực trạng trên

Để khắc phục những hạn chế nói chung, theo tôi cần có những điều kiện cơ bản sau:

- Đảm bảo cơ sở vật chất và thiết bị dạy học Thiết bị dạy học cần được trang bị đầy đủ, giảm sỉ số học sinh trong mỗi lớp

- Đổi mới hoạt động của người GV về quan điểm sư phạm, quan hệ thầy trò và trách nhiệm của người GV trong quá trình giáo dục

- Đổi mới quy chế kiểm tra, đánh giá và cho điểm để phù hợp với mục tiêu dạy học mới Cần đánh giá cả quá trình học tập của học sinh chứ không chỉ riêng đánh giá kết quả học tập của HS Đồng thời cần phát huy vai trò tự đánh giá của HS và đánh giá bạn học

Trang 36

“Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 Với những yêu cầu cần đạt được về nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ và tình cảm của chương này, tôi đưa ra một số Dự án sau:

2.4.1 Dự án 1: Chế tạo sạc không dây cho thiết bị di động (canh lề)

1 Ý tưởng Dự án

- Ngày nay, nhu cấu sử dụng các thiết bị hiện đại như điện thoại di động, laptop, máy tính bảng của con người rất cao Đặc điểm chung của các thiệt bị di động này là đều cần sạc điện

- Như chúng ta đã biết, để sạc điện thì các thiết bị phải được nối với nguồn điện thông qua dây dẫn Tuy nhiên, trong các chuyến công tác hoặc du lịch, không phải mọi nơi đều có sẵn nguồn điện và dây dẫn

- Vậy thì có cách gì có thể sạc các thiết bị trên mà không cần dây dẫn dẫn hay không?

2 Bộ câu hỏi

định hướng

Câu hỏi khái quát

Làm thế nào để chế tạo sạc không dây cho thiết bị di động?

Câu hỏi bài học

Điện được tạo ra dựa trên nguyên tắc nào?

Câu hỏi nội dung

- Dòng điện cảm ứng là gì? Trình bày điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng?

- Suất điện động cảm ứng là gì?

Trang 37

37

- Hiện tượng cảm ứng điện từ là gì?

- Trình bày nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của máy biến thế dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

- Cảm ứng điện được tạo ra trong máy biến thế như thế nào?

- Các kiến thức trên có liên quan gì đến việc chế tạo sạc không dây cho thiết bị di động hay không?

- Mô tả được hiện tượng cảm ứng điện từ

- Trình bày được các nguyên tắc cơ bản tạo ra dòng điện của máy biến thế dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

- Trình bày được các ứng dụng của hiện tượng cảm ứng điện từ trong sản xuất điện

- Biết được nguyên tắc tạo ra dòng điện cảm ứng

- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của máy biến thế dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

- Rèn luyện được kỹ năng lắp ráp thiết bị

- Biết cách thu thập và xử lí thông tin

- Quan sát, phân tích, đánh giá được hiện tượng

- Rèn luyện kỹ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm

- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Vật lí

Trang 38

38

- Rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập

- Rèn luyện kỹ năng đánh giá và tự đánh giá

- Báo cáo và trình bày được kết quả trước lớp

Một thiết bị sạc không dây đảm bảo:

- Đúng nguyên tắc cấu tạo

- Các từ khóa: Chế tạo thiết bị truyền điện không dây truyền điện cảm ứng, sạc không dây, truyền điện không dây của Tesla……

6 Đánh giá

Sử dụng các hình thức đánh giá:

- HS tự đánh giá kết quả Dự án của nhóm mình và của các nhóm khác

- GV đánh giá kết quả Dự án của các nhóm

2.4.2 Dự án 2: Chế tạo mô hình máy phát điện mini chạy bằng sức gió

1 Ý tưởng Dự án

- Chúng ta đang sống giữa rất nhiều nguồn năng lượng

sạch và vô tận như năng lượng mặt trời, gió, đại

dương,…

- Trong đó, năng lượng gió đã được sử dụng hàng trăm

Trang 39

39

năm nay, con người đã dùng năng lượng gió để di chuyển thuyền buồm hay khinh khí cầu, ngoài ra còn được dùng để tạo công cơ học nhờ vào các cối xay gió

- Có thể sử dụng năng lượng gió để tạo ra điện hay không?

- Giải pháp đưa ra là cần chế tạo một máy phát điện sử dụng năng lượng gió với tên gọi: Máy phát điện mini chạy bằng sức gió

2 Bộ câu hỏi

định hướng

Câu hỏi khái quát

Làm thế nào để tạo ra điện bằng sức gió?

Câu hỏi bài học

Điện được tạo ra dựa trên nguyên tắc nào?

Câu hỏi nội dung

- Dòng điện cảm ứng là gì? Trình bày điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng?

- Suất điện động cảm ứng là gì?

Hiện tượng cảm ứng điện từ là gì?

Trình bày nguyên tắc, cấu tạo và hoạt động của máy phát điện dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

- Có thể làm quay nam châm (roto) bằng cách nào?

- Có thể dùng sức gió để làm quay nam châm không? Nếu có thì làm như thế nào?

- Các kiến thức trên có liên quan gì tới việc chế tạo mô hình máy phát điện mini chạy bằng sức gió?

3 Mục tiêu

Dự án

Kiến thức

- Trình bày được khái niện dòng điện cảm ứng, từ thông

- Trình bày được điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng

- Mô tả được hiện tượng cảm ứng điện từ

- Trình bày được các nguyên tắc cơ bản tạo ra dòng điện của máy phát điện dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

- Trình bày được các ứng dụng của hiện tượng cảm ứng

Trang 40

40

điện từ trong sản xuất điện

- Biết được nguyên tắc tạo ra dòng điện cảm ứng

- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của máy phát điện dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

- Rèn luyện được kỹ năng lắp ráp các thiết bị

- Biết cách thu thập và xử lí thông tin

- Quan sát, phân tích, đánh giá được hiện tượng

- Rèn luyện kỹ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm

- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Vật lí

- Rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập

- Rèn luyện kỹ năng đánh giá và tự đánh giá

- Báo cáo và trình bày được kết quả trước lớp

Một máy phát điện chạy bằng sức gió đảm bảo:

- Đúng nguyên tắc cấu tạo

Ngày đăng: 11/09/2016, 21:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Đặc điểm của dạy học Dự án - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình 1.1. Đặc điểm của dạy học Dự án (Trang 12)
Hình 1.2. Sơ đồ phân loại Dự án - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình 1.2. Sơ đồ phân loại Dự án (Trang 15)
Hình 1.3. Hoạt động của GV và HS tương ứng với từng GĐ của - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình 1.3. Hoạt động của GV và HS tương ứng với từng GĐ của (Trang 17)
Hình thức - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình th ức (Trang 46)
Bảng 4.1. Tiêu chí đánh giá kết quả Dự án - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Bảng 4.1. Tiêu chí đánh giá kết quả Dự án (Trang 47)
Bảng 4.2. Kế hoạch tổ chức thực nghiệm sư phạm - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Bảng 4.2. Kế hoạch tổ chức thực nghiệm sư phạm (Trang 50)
Hình 4.1. Các nhóm thuyết trình về sản phẩm của nhóm mình - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình 4.1. Các nhóm thuyết trình về sản phẩm của nhóm mình (Trang 56)
Hình 4.2. Các nhóm trình bày và cho sản phẩm của nhóm mình hoạt động - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình 4.2. Các nhóm trình bày và cho sản phẩm của nhóm mình hoạt động (Trang 57)
Hình 4.3. Sơ đồ và mạch đuổi muỗi do Nhóm 1 thiết kế. - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Hình 4.3. Sơ đồ và mạch đuổi muỗi do Nhóm 1 thiết kế (Trang 59)
Bảng 4.4. Điểm thu được từ thang đo hứng thú học môn vật lí của HS đối với lớp - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Bảng 4.4. Điểm thu được từ thang đo hứng thú học môn vật lí của HS đối với lớp (Trang 65)
Bảng 4.3. Bảng tổng hợp kết quả của các nhóm - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Bảng 4.3. Bảng tổng hợp kết quả của các nhóm (Trang 65)
Bảng 4.7. So sánh kết quả từ thang đo kỹ năng của HS lớp TN và lớp sTN - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Bảng 4.7. So sánh kết quả từ thang đo kỹ năng của HS lớp TN và lớp sTN (Trang 72)
Bảng 4.8. HS tự đánh giá sự thích thú học tập theo phương pháp DHDA - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
Bảng 4.8. HS tự đánh giá sự thích thú học tập theo phương pháp DHDA (Trang 75)
BẢNG HỎI HS VỀ HỌC TẬP MÔN VẬT LÍ - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
BẢNG HỎI HS VỀ HỌC TẬP MÔN VẬT LÍ (Trang 81)
BẢNG HỎI HS SAU KHI HỌC THEO DỰ ÁN - Luận văn Tổ chức dạy học theo dự án về ứng dụng hiện tượng cảm ứng điện từ trong Vật lí 11.
BẢNG HỎI HS SAU KHI HỌC THEO DỰ ÁN (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w