Xuất phát từ những vấn đề trên, việc “Nghiên cứu bài tập bổ trợ cho học tập kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi nhằm nâng cao thành tích cho học sinh Trường trung học phổ thông Phan Đình Giót” l
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn học sinh lớp 11B8 Trường THPT Phan Đình Giót đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy Ths
Phạm Đức Viễn, người đã trực tiếp giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt thời gian
thực hiện đề tài
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song thời gan nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên khó tránh khỏi những thiếu xót trong đề tài Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của hội đồng khoa học, các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Thực hiện đề tài
Vì Văn Doan
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
7 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 6
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Khái niệm và các quan điểm về huấn luyện kỹ thuật thể thao 8
1.2 Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn 11
1.3 Nhiệm vụ và vai trò của bài tập bổ trợ chuyên môn trong dạy học động tác 12
1.4 Kỹ thuật nhảy xa 13
1.4.1 Chạy đà 13
1.4.2 Giậm nhảy 15
1.4.3 Bay trên không 16
1.4.4 Rơi xuống đất 17
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng và quyết định đến độ bay xa của lần nhảy 17
1.6 Các phương tiện và phương pháp giảng dạy kỹ thuật nhảy xa cho học sinh Trung học phổ thông 18
1.6.1 Các phương tiện giảng dạy 18
1.6.2 Các phương pháp giảng dạy chủ yếu 20
1.7 Tố chất thể lực trong kỹ thuật nhảy xa 21
1.7.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh 21
1.7.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh, sức mạnh tốc độ 23
1.8 Xu hướng sử dụng bài tâp bổ trợ trong thể thao nói chung và trong giảng dạy nhảy xa nói riêng 24
Trang 31.9 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP KỸ
HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH GIÓT 28
2.1 Đặc điểm học sinh trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót 28 2.2 Thực trạng giáo trình giảng dạy kỹ thuật nhả xa kiểu “Ngồi” 28 2.3 Thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy
xa kiểu ngồi cho học sinh Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót 30 2.4 Thực trạng kết quả học tập môn nhảy xa kiểu ngồi của học sinh lớp 11B8 Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót 32
Chương 3: LỰA CHỌN VÀ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG BÀI TẬP BỔ TRỢ CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI CÁC GIAI ĐOẠN KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU “NGỒI” CHO NAM HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH GIÓT 34
3.1 Lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót 34 3.1.1 Cơ sở lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy
kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi 34 3.1.2 Xác định các yêu cầu lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót 35 3.1.3 Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót 37 3.2 Sắp xếp hệ thống các bài tập bổ trợ chuyên môn 50
Chương 4: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HỆ THỐNG BÀI TẬP BỔ TRỢ CHUYÊN MÔN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY KỸ THUẬT NHẢY
XA KIỂU “NGỒI” CHO NAM HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH GIÓT 54
4.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm 54 4.2 Nội dung và giáo trình thực nghiệm 54
Trang 44.3 Lựa chọn test kiểm tra đánh giá 54
4.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 KẾT LUẬN: 62
2 KIẾN NGHỊ 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê về số lượng các bài tập bổ trợ được sử dụng theo các giai đoạn giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh Trường THPT Phan Đình Giót 30 Bảng 2.2 Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi (n = 20) 30 Bảng 2.3: Kết quả học tập môn nhảy xa kiểu ngồi của học sinh lớp 11B8 Trường THPT Phan Đình Giót……….… 32 Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn các cơ sở lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Tường THPT Phan Đình Giót (n = 20) 35 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn xác định các yêu cầu lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót (n = 20) 36 Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn đánh giá mức độ ưu tiên các bài tập bộ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót (n = 20)……… … 39 Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn xác định các yêu cầu sắp xếp hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót (n = 20) 51 Bảng 4.1 Các nội dung kiểm tra trước và sau thực nghiệm 55 Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra các chỉ số hình thái và thể lực trước thực nghiêm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng (nA = nB = 15) 56 Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra các chỉ số hình thái và thể lực sau thực nghiệm của hai nhóm thực nhiệm và đối chứng (nA = nB = 15) 57 Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra thành tích sau khi thực nghiệm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng (nA = nB = 15) 58 Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra trình độ kỹ thuật sau thực nghiệm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng (nA = nB = 15) 59 Bảng 4.6 Kết quả so sánh hai phương pháp giảng dạy của nhóm thực nghiệm và đối chứng bằng test x2 61
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
CP - Creatinphotphat HLV - Huấn luyện viên
KL - Khối lượng NĐC - Nhóm đối chứng NTN - Nhóm thực nghiệm PGS - Phó giáo sư
M - mét
TS - Tiến sỹ THPT - Trung học phổ thông GDTC - Giáo dục thể chất TDTT - Thể dục thể thao
TG - Thời gian VĐV - Vận động viên
Kg - Kilôgam
S - Giây
SL - Số lần
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta từ năm 2000 đến 2010 và những năm tiếp theo, TDTT đóng vai trò hết sức quan trọng Đó là góp phần vào đào tạo con người mới, phát triển toàn diện, với đầy đủ: Đức, Trí, Thể, Mỹ, vừa giỏi về chuyên môn, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thế hệ trẻ việt nam ngày nay, đang được sống và học tập dưới một xã hội ưu việt, được thừa hưởng những thành quả vĩ đại của ông cha ta để lại trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước Trải qua các thời kỳ cách mạng của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới công tác TDTT nói chung và công tác TDTT trong các trường nói riêng Nghị Quyết Trung ương 2 của Đảng về giáo dục và
đào tạo đã khẳng định: “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện không chỉ về trí tuệ, trong sáng đạo đức mà còn phải là con người cường tráng về thể chất Chăm lo con người về thể chất là trách nhiệm của toàn
xã hội, của các cấp, các ngành, các đoàn thể, trong đó có ngành Giáo dục - Đào tạo, ngành Y tế và TDTT” [10]
Trong thời đại ngày nay, phấn đấu cho nền TDTT của đất nước phát triển đúng hướng, mạnh mẽ, có tính dân tộc, khoa học và nhân dân không chỉ góp phần quan trong đem lại sức khỏe cho nhân dân, mà còn tạo ra những khả năng to lớn cho sự phát triển các thành tích kỷ lục thể thao trong nước, khu vực và quốc tế TDTT thực sự đem lại cho nhân dân, đất nước những giá trị cao đẹp như sự phát triển thể chất của nòi giống, góp phần tăng cường mở rộng tình hữu nghị giữa nước ta và các nước trên thế giới, lá cờ vẻ vang của tổ quốc không ngừng phấp phới bay trên các đấu trường thể thao khu vực và Quốc tế Sinh thời Hồ Chí Minh, ngoài sự quan tâm chỉ hướng phong trào TDTT vì dân cường nước thịnh, Người còn ân cần chỉ bảo, khuyến kích thể thao nước ta phát triển, tiến tới hội nhập với thế giới
Điền kinh là một môn thể thao có lịch sử lâu đời nhất, được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi trên thế giới Với nội dung rất phong phú và đa dạng, Điền kinh chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình thi đấu của các Đại hội thể thao Olympic Quốc tế và trong đời sống thể thao của nhân loại
Trang 8Trong Điền kinh, nhảy xa là môn được tập luyện và thi đấu rộng rãi nhất trong các trường phổ thông Trong các hội khỏe phù đổng từ cấp trường cho đến cấp trung ương đều có thi đấu nhảy xa, và các em học sinh đã lập được nhiều thành tích đáng khen ngợi Tuy nhiên nhảy xa của học sinh nước ta so với thành tích của học sinh các nước trên thế giới còn ở mức chênh lệch quá lớn So với thành tích của học sinh cùng
độ tuổi trong khu vực thì ở mức khiêm tốn Việc giảng dạy môn nhảy xa nói chung và nhảy xa kiểu “Ngồi” nói riêng trong nhiều năm qua đã được chú trọng, và đạt kết quả nhất định, song cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa mới đáp ứng được với phong trào ngày càng mạnh mẽ Chúng ta biết rằng cũng như các môn thể thao khác, nhảy xa đòi hỏi sự căng thẳng rất lớn của hệ thống thần kinh, cơ bắp của con người Thông qua tập luyện và thi đấu môn nhảy xa, cơ thể con người ngày càng hoàn thiện hơn Tập luyện nhảy xa có tác dụng rất lớn trong việc phát triển các tố chất thể lực, nâng cao khả năng tập trung chú ý, tự chủ và rèn luyện lòng dũng cảm, tính kiên trì và khắc phục khó khăn trong tập luyện Thông qua các bài tập của kỹ thuật của chạy đà và giậm nhảy, làm tăng cường và phát triển các tố chất sức nhanh, sức mạnh và tốc độ của người tập Thực hiện tốt các kỹ thuật trên không và rơi xuống đất, đã rèn luyện được sự khéo léo, tính chính xác, nâng cao khả năng phối hợp vận động, giúp cho người tập nâng cao sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần, phục vụ đắc đực cho lao động sản xuất và chiến đấu Trong quá trình học tập, để có sự tập luyện và tiếp thu kỹ thuật một cách tốt nhất thì phải áp dụng tập luyện các bài tập bổ trợ, mà các bài tập bổ trợ càng đa dạng, phong phú thì càng giúp cho người tập tiếp thu kỹ thuật chính xác và nhanh hơn đặc biệt có cảm giác tốt khi hoạt động và có thành tích cao
Chính vì vậy, nghiên cứu áp dụng một số bài tập bổ trợ để nâng cao thành tích nhảy xa kiểu “Ngồi” là công việc rất cần thiết, nhằm làm phong phú thêm phương tiện giáo dục thể chất, qua đó phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu TDTT nói chung và môn nhảy xa nói riêng, để tham gia thi đấu ở quận, huyện, tỉnh, toàn quốc, góp phần bồi dưỡng mần non TDTT cho địa phương và đất nước
Tuy nhiên, ở nước ta việc nghiên cứu áp dụng các phương tiện, phương pháp tập luyện tiên tiến, các thành tựu khoa học và giảng dạy còn hạn chế, chưa được phát động đồng loạt Đặc biệt là ở các trường phổ thông trong điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phương tiện tập luyện còn thô sơ, đơn giản Vì vậy mà cho tới nay việc áp dụng các phương pháp học mới nhằm nâng cao trình độ thể lực thành tích cho học sinh đang
Trang 9còn ít được sử dụng Quá trình tập luyện các bài tập TDTT đang theo một chương trình rập khuân, chưa có tính sáng tạo để cải tiến hình thức, phương pháp giảng dạy cho giáo viên cũng như sự lĩnh hội tiếp thu các tri thức kỹ năng kỹ xảo cho người học
Vì thế mà ở học sinh chưa có tính tự giác cao trong tập luyện đã làm hạn chế một phần
sự phát triển thể chất, thành tích học tập của các em Vì vậy để góp phần vào sự nghiệp khoa học của nước nhà và để góp phần nhỏ nào đó giải quyết các khó khăn trên Vấn
đề đặt ra cho chúng tôi là nghiên cứu đa dạng một số bài tập để sắp xếp nội dung học tập sao cho phù hợp với trình độ của các em và điều kiện thực tế để nhằm nâng cao thành tích nhảy xa kiểu “Ngồi” trong chương trình giảng dạy ở các trường phổ thông
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc “Nghiên cứu bài tập bổ trợ cho học tập kỹ
thuật nhảy xa kiểu ngồi nhằm nâng cao thành tích cho học sinh Trường trung học phổ thông Phan Đình Giót” là yêu cầu cấp bách không thể thiếu được trong quá trình
giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo của nhà trường
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh THPT Phan Đình Giót trong những năm gần đây, đề tài tiến hành nghiên cứu lựa chọn và sắp xếp hệ thống các bài tập bổ trợ chuyên môn (bao gồm các bài tập bổ trợ kỹ thuật và thể lực) theo các giai đoạn trong quá trình giảng dạy
kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi Kết quả nghiên cứu của đề tài là những tài liệu chuyên môn có giá trị góp phần hoàn thiện hồ sơ giảng dạy, là tài liệu tham khảo cho các giáo viên cũng như học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập môn nhảy xa kiểu ngồi
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết các nhiệm vụ sau:
3.1 Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công
tác giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót
3.2 Nhiệm vụ 2: Lựa chọn xác định các bài tập bổ trợ chuyên môn đối với các giai
đoạn kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót
3.3 Nhiệm Vụ 3: Ứng dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ
thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh trường THPT Phan Đình Giót
Trang 104 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ thể của đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các bài tập bổ trợ chuyên môn giảng dạy
kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót
4.2 Khách thể nghiên cứu
30 học sinh nam lớp 11B8 Trường THPT Phan Đình Giót
4.3 Phương tiện nghiên cứu
Hố cát, bục nhảy xa
Thước đo, thước dây, cân
Lốp kéo, tạ gánh
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Địa điểm nghiên cứu
Căn cứ vào nội dung của đề tài, để phù hợp với yêu cầu của một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường và chủ động trong công tác nghiên cứu khoa học tại Trường THPT Phan Đình Giót
5.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Học sinh Trường THPT Phan Đình Giót
5.3 Nội dung nghiên cứu
Ứng dụng và đánh giá hiệu quả việc sử dụng bài tập bổ trợ để hoàn thiện kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu là một phương pháp nghiên cứu khoa học rộng rãi trong các công trình nghiên cứu về lý luận và thực hành phương pháp trong TDTT Mục đích của phương pháp nhằm thu thập tài liệu tổng hợp các nguồn thông tin hiện có trong và ngoài nước đã được công nhận trên sách báo và tạp chí Giúp cho việc nhìn rõ tổng thể trong kho nghiên cứu, đồng thời cũng là chỗ dựa về mặt lý luận và thực tiễn để nghiên cứu đề tài này
6.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu khoa học về tâm lý, giáo dục sư phạm… Từ những thông tin chúng tôi thu được sau khi đưa
Trang 11đi phỏng vấn các Giáo viên, HLV, sẽ có thêm được những nguồn kiến thức, các suy nghĩ và ý tưởng để có được tầm nhìn rộng hơn Từ đó chúng tôi hình thành được các giả thuyết khoa học
Trong đề tài này, để giải quyết các vấn đề cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn của việc lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các giáo viên, HLV ở khu vực thành phố Điện Biên Phủ về các vấn đề sau:
Thực trạng của việc sử dụng các hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn hiện nay đối với học sinh
Cơ sở để lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy và huấn luyện cho học sinh và VĐV
Những yêu cầu cần thiết khi lựa chọn các bài tập
Mức độ ưu tiên của các bài tập và cách sắp xếp theo trình tự hệ thống các bài tập cho mỗi giai đoạn của kỹ thuật
Ngoài ra chúng tôi có thêm những căn cứ quan trọng làm tăng thêm ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng rộng rãi trong khi nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến công tác sư phạm Đặc điểm nổi bật của phương pháp quan sát sư phạm là nghiên cứu tiếp cận trực tiếp với thực tế khách quan (với đối tượng thực nghiệm, đối tượng nghiên cứu)
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là phương pháp được sử dụng để NCKH ở mọi lĩnh vực Trong đó, hiện tượng
và điều kiện quản lý chịu sự tác động kiểm tra trực tiếp của nhà nghiên cứu Thực tế sẽ đưa tới khả năng sáng tạo ra những điều kiện cần thiết cho nhà nghiên cứu, loại trừ ảnh hưởng của các tác động bên ngoài và cuối cùng là khả năng tái diễn hiện tượng làm cho thực nghiệm có giá trị thay thế
6.5 Phương pháp sử dụng test
Khả năng động lực học trong hoạt động thể thao là khái niệm để chỉ về những khả năng vận động thao tác các hành vi chuyên môn Nó được thể hiện về cơ bản ở hai mặt sau:
Khả năng thể lực của người tập
Trang 12Khả năng phối hợp vận động của người tập
Những bài kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện của người tập hiện nay, chủ yếu được tập trung vào hai mặt này Bởi vì nó phù hợp với đặc điểm công việc giảng dạy
và huấn luyện trên sân bãi mà ít có điều kiện thực nghiệm phòng thí nghiệm
6.6 Phương pháp toán học thống kê
Sau khi kiểm tra số liệu trước và sau thực nghiệm, chúng tôi tiến hành xử lý số liệu bằng phương pháp toán học thống kê
Các thuật toán sử dụng bao gồm:
Li: tần số lý thuyết
7 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
7.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016 và được chia làm 4 giai đoạn:
Trang 13Giai đoạn 1: Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015 Đọc tài liệu tham
khảo, hoàn thành đề cương
Giai đoạn 2: Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016 giải quyết nhiệm vụ 1
Nghiên cứu cơ sở xác định hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn đối với các giai đoạn kỹ thuật
Giai đoạn 3 Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2016 giải quyết nhiệm vụ 2
Lựa chọn và xác định hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn đối với các giai đoạn kỹ thuật
Đánh giá hiệu quả ứng dụng của hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi
Giai đoạn 4 Từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 6 năm 2016
Hoàn thiện đề tài
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm và các quan điểm về huấn luyện kỹ thuật thể thao
Bất cứ hoạt động vận động nào cũng có nhiệm vụ vận động, tức là một mục đích
cụ thể nào đó cần đạt được Ví dụ, mục đích trực tiếp của nhảy xa là vượt khoảng cách
xa nhất định, của nhảy cao là vượt độ cao nào đó Một hành vi vận động thường bao gồm một hệ thống các cử động (hay động tác) Cách thức thực hiện hành vi vận động - tức là tổ chức các động tác theo một trình tự và kiểu cách nhất định, trước hết tùy thuộc vào nhiệm vụ vận động và các điều kiện khách quan và chủ quan khi thực hiện
Ví dụ, để đẩy tạ đi xa hơn phải sắp xếp các động tác khác với khi ném đĩa Trong nhiều trường hợp, cùng một nhiệm vụ vân động lại có những cách thức thực hiện khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm riêng của từng VĐV
Kỹ thuật bài tập là cách thức xắp xếp, tổ chức và thực hiện hệ thống các động tác
để giải quyết nhiệm vụ vận động, hoặc nói ngắn gọn hơn, đó là những cách thức để giải quyết nhiệm vụ vận động Những cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động hợp lý
và có hiệu quả được gọi là kỹ thuật thể thao
Kỹ thuật thể thao luôn luôn được đổi mới và hoàn thiện Sự tìm tòi, khám phá khoa học về các quy luật vận động của cơ thể, sự tiến bộ về trình độ thể lực VĐV, sự hoàn thiện các phương pháp giảng dạy, huấn luyện, sự đổi mới các thiết bị, dụng cụ, sân bãi thể thao đang là những yếu tố chủ yếu thúc đẩy sự ra đời các kỹ thuật thể thao mới trong hầu hết các môn thể thao
Mỗi loại hình bài tập (ở đây chủ yếu nói về các môn thể thao) có những yêu cầu chuyên biệt về mặt kỹ thuật thể thao Xét theo yêu cầu chuyên biệt đó, có thể phân tích chia các môn thể thao thành ba nhóm
Nhóm thứ nhất bao gồm các môn thể thao có quy định chặt chẽ cách thức thực
hiện động tác, như các môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, nhào lộn, nhảy cầu, một số môn võ (wushu), biểu diễn
Nhóm thứ hai phần lớn gồm các môn vận động có chu kỳ, trong đó kỹ thuật phụ
thuộc yêu cầu đạt thành tích mức tối đa, như các môn cử tạ, điền kinh, bơi, đua xe đạp, chèo thuyền… Trong các môn thể thao này, có sáng tạo ra các kiểu kỹ thuật phù hợp trong phạm vi luật thi đấu cho phép
Trang 15Nhóm thứ ba gồm tất cả các môn thi đấu đối kháng và các môn bóng Đó là
những môn đòi hỏi sự biến hóa nhiều trong chiến thuật, kỹ thuật thực hiện các động tác cho phù hợp với các tình huống luôn luôn thay đổi do sự tác động qua lại với các đối thủ và các điều kiện khác
Các bài tập TDTT, đặc biệt là các bài tập thể thao, thường bao gồm một hệ thống khá phức tạp các động tác có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, trong lý luận và thực hành giáo dục thể chất người ta thường phân biệt phần cơ bản của kỹ thuật, khâu chủ yếu của kỹ thuật và các chi tiết kỹ thuật bài tập
Phần cơ bản của kỹ thuật là phần quan trọng và có ý nghĩa quyết định nhất trong kỹ thuật Ví dụ, giậm nhảy trong nhảy xa, nhảy cao; ra sức cuối cùng trong ném, đẩy… Chi tiết kỹ thuật là những phần (yếu tố) thực hiện của động tác, có thể thay đổi trong những phạm vi nhất định mà không phá vỡ cơ chế chủ yếu của động tác Ví
dụ, trong nhảy xa, chân lăng có thể nhiều hay ít Sự khác nhau trong chi tiết kỹ thuật chủ yếu phụ thuộc vào những đặc điểm cá nhân VĐV và những điều kiện thực hiện bài tập
Kỹ thuật càng ngày càng phù hợp với đặc điểm cá nhân thì càng có khả năng đạt thành tích cao Người ta gọi đó là sự cá biệt hóa kỹ thuật, tức là khả năng vận dụng những đặc điểm về thể lực và chừng nào đó của đặc điểm tâm lý để hình thành kỹ thuật phù hợp với từng người cụ thể Thông thường, VĐV càng có trình độ cao thì kỹ thuật càng được cá biệt hóa Vì vậy, bắt chước kỹ thuật cá nhân của các VĐV ưu tú một cách mù quáng có thể ảnh hưởng xấu đến thành tích thể thao
Kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cấu trúc thành tích hầu hết của các môn thể thao
Đối với các môn thể thao sức bền: kỹ thuật bảo đảm cho việc thực hiện các bài tập thi đấu thu được hiệu quả cao và tiết kiệm năng lượng
Đối với các môn thể thao mang tính chất sức mạnh, sức mạnh tốc độ, sức mạnh tối đa, kỹ thuật là cơ sở để VĐV có thể phát huy sức mạnh một cách nhanh nhất và lớn nhất
Đối với các môn thể thao có kỹ thuật phức tạp thì kỹ thuật là yếu tố quyết định trực tiếp đối với thành tích
Từ những ý nghĩa trên cho thấy rằng huấn luyện kỹ thuật có thể được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của huấn luyện thể thao
Trang 16Có nhiều phương pháp huấn luyện khác nhau, bởi lẽ một môn thể thao có những cấu trúc kỹ thuật khác nhau và có những yêu cầu khác nhau Để đạt được thành tích tốt trong Điền kinh, VĐV phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý và hiệu quả nhất Kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm cá nhân của VĐV và điều kiện thực hiện động tác
Kỹ thuật thể thao phải dựa trên sự huấn luyện thể lực tốt nhất của VĐV Để nắm được kỹ thuật hiện đại, VĐV phải có các tố chất vận động như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, tốc độ mền dẻo và khả năng phối hợp vận động phát triển ở mức độ cao
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình huấn luyện kỹ thuật và phát triển năng lực đó là phải biết vận dụng các biện pháp nhằm đơn giản hóa kỹ thuật, thực hiện bằng cách phân chia nhỏ và sử dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật, VĐV phải hiểu rõ từng động tác, không được lặp lại động tác của ai đó vì sao kỹ thuật mà mình áp dụng
là sự phối hợp hợp lý Cần phải nâng cao thành tích của VĐV
Trong khi trình độ thành tích thể thao đang ở mức rất cao, nếu không nghiên cứu sâu để ngày càng hoàn thiên kỹ thuật thì không thể đạt được thành tích cao, nhất là những môn có kỹ thuật phức tạp, việc hoàn thiện kỹ thuật phải được tiến hành trong suốt quá trình huấn luyện HLV không được bỏ qua việc giảng dạy các thành phần kỹ thuật riêng lẻ, khắc phục các sai lầm trong kỹ thuật Vốn dự trữ kỹ năng vận động tạo nên thông qua áp dụng các bài tập huấn luyện chung và huấn luyện chuyên môn khác nhau Điều quan trọng là phải tính đến mối quan hệ hữu cơ giữa việc phát triển tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật
Việc đạt thành tích cao ở mức độ đáng kể phụ thuộc vào việc huấn luyện kỹ thuật
và chiến thuật thể thao hợp lý
Kỹ thuật hoàn thiện đó là tập hợp các thách thức thực hiện động tác thể thao có hiệu quả nhằm mục đích đạt được thành tích tốt nhất trong quá trình giảng dạy Mức
độ nắm vững kỹ thuật được thay đổi từ những kỹ thuật sơ đẳng của người mới tập đến
kỹ thuật hoàn thiện được hình thành trên cơ sở các quy luật sinh cơ và sinh hóa sẽ cho phép VĐV thực hiện các động tác, hoạt động tiết kiệm hơn và hiệu quả hơn
Trong huấn luyện VĐV trẻ, việc giảng dạy và hoàn thiện kỹ thuật thể thao chiếm một vị trí quan trọng vì trong thời kỳ lứa tổi của học sinh này, chức năng của hệ thần kinh trung ương đối với việc hình thành những đường liên hệ phản xạ có điều kiện vững chắc được nâng cao, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai của con người được
Trang 17đẩy mạnh Tất cả các điều kiện đó được tạo nên khả năng đặc biệt thuận lợi để hình thành những kỹ năng kỹ xảo vận động
Quá trình tiếp thu kỹ thuật thể thao được diễn ra trên chặng đường từ một VĐV mới bắt đầu bước vào tập để trở thành kiện tướng thể thao Quá trình này được chia thành ba giai đoạn chủ yếu
1- Giai đoạn học tập ban đầu
2- Giai đoạn học chuyên sâu
3- Giai đoạn củng cố và tiếp thu hoàn thiện
Ở giai đoạn học tập ban đầu cần giải quyết nhiệm vụ nắm vững các cơ sở vật của
kỹ thuật thể thao hợp lý (cấu trúc động tác nắm được ở giai đoạn đầu được nâng lên ở mức độ nắm vững các động tác và thực hiện việc trau chuốt các yếu tố riêng biệt của
1.2 Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về bài tập bổ trợ chuyên môn Bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập nhằm hỗ trợ cho việc nhanh chóng tiếp thu và thực hiên có hiệu quả bài tập chuyên môn, trong đó bài tập chuyên môn là những bài tập hỗ trợ cho việc tiếp thu kỹ thuật động tác Theo quan điểm của PGS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn thì: “Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn dắt tác động có chủ đích và
có hiệu quả đến sự phát triển các tố chất và các kỹ xảo vận động ở chính ngay môn thể thao đó” Còn một số tác giả nước ngoài thì cho rằng: Bài tập bổ trợ là một trong những biện pháp giảng dạy, bao gồm các bài tập bổ trợ chuyên môn là những bài tập
Trang 18mang tính chuẩn bị cho vận động, bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập bổ trợ chuyên môn là những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhưng luôn có sự thống nhất về ý nghĩa Như vậy, “Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính chuẩn
bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau” Ví dụ, Trong nhảy xa, người ta phân tích kỹ thuật thành bốn giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất Trên cơ sở đó, người học nắm bắt kỹ thuật động tác từng giai đoạn sau đó liên kết lại thành động tác hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật, để giúp người học hình thành được kỹ thuật, người ta sử dụng các bài tập:
- Mang tính chuẩn bị, nhằm đưa người học vào trạng thái sinh lý, tâm lý thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật
- Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến hoàn thiện kỹ thuật cần học
- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với cảm giác không gian và thời gian khác nhau nhằm tạo ra sự lợi dụng các kỹ thuật kỹ năng đã có hình thành ra các kỹ năng mới
Ngoài ra, để có thể đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi các kỹ năng đang học, người ta còn tập các bài tập bổ trợ thể lực chuyên môn cho người tập Ví dụ, muốn vượt qua được độ xa nhất định người tập phải có sức mạnh đôi chân để bật xa, đồng thời cần phải có sức nhanh, sức mạnh tốc độ và khả năng phối hợp động tác Vì vậy, đi đôi với bài tập bổ trợ chuyên môn về kỹ thuật, người ta cũng rất chú trọng đưa vào trong quá trình giảng dạy các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực cần thiết Có thể nói, bài tập bổ trợ chuyên môn vừa là biện pháp để nằm kỹ thuật phức tạp
và khó, vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng vận động
1.3 Nhiệm vụ và vai trò của bài tập bổ trợ chuyên môn trong dạy học động tác
Nhiệm vụ chính của dạy học động tác, đặc biệt là kỹ thuật cho đối tượng là học sinh là:
Tạo một vốn vận động ban đầu làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo Dùng làm các bài tập bổ trợ hoặc các phương tiện để tác động có chủ đích đến sự phát triển các năng lực thể chất riêng
Trang 19Hình thành và đạt đến mức độ hoàn thiện cần thiết các kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản cần có trong cuộc sống hàng ngày, lao động, thể thao và các lĩnh vực vận động khác
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học động tác và phát triển các năng lực thể chất đó là dùng các bài tập thể chất đặc biệt là bài tập “ bổ trợ” như các phương tiện để tác động có chủ đích đến quá trình dạy học động tác Trong giảng dạy vì vậy việc giảng dạy cho từng kỹ thuật là rất khó nếu như không biết vận dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật thì khó có thể hình thành được kỹ năng kỹ xảo động tác kỹ thuật mới, đặc biệt là trong dạy kỹ thuật các môn điền kinh
Như vậy có thể nói dạy học kỹ thuật Điền kinh, các bài tập bổ trợ có vai trò rất quan trọng để giúp người học nắm vững được kỹ thuật chính xác và rút ngắn thời gian tập luyện cũng như hướng tới việc phát triển năng lực cần thiết để đạt hiệu quả cao trong tập luyện và thi đấu
1.4 Kỹ thuật nhảy xa
Kỹ thuật nhảy xa là quá trình liên tục, nhưng để tiện cho việc phân tích giảng dạy
có thể chia kỹ thuật thành 4 giai đoạn:
- Tư thế chuẩn bị trước khi chạy đà : để thực hiện chạy đà được ổn định, chính xác, hiệu quả cần thiết phải có tư thế chuẩn bị phù hợp ổn định Có 3 cách thường
Trang 20được sử dụng:
+ Vận động viên đứng 2 chân song song cách nhau 10 - 15cm, hai gối hơi trùng xuống, hai tay thả lỏng hoặc chống vào gối, thân trên ngả về trước và bắt đầu chạy Cách này dễ thực hiện ổn định, dễ đạt được độ chính xác trong chạy đà và giậm nhảy nhưng bị gò bó, căng thẳng lúc bắt đầu chạy đà
+ Vân động viên đứng chân trước, chân sau cách nhau 1 - 2 bàn chân, trọng tâm thân thể rơi vào chân trước, chân sau, hai tay thả lỏng hoặc tay trước tay sau ngược chiều với chân, thân trên ngả nhiều về trước (giống xuất phát cao trong chạy ngắn Cách này thực hiện được dùng nhiều với vận động viên không chuyên, học sinh, sinh viên
+ Cách chuẩn bị di động: vận động viên đứng chân trước, chân sau cách nhau khoảng 2 - 3 bàn chân, trọng tâm thân thể dồn vào chân trước, sau đó chuyển trọng tâm về chân sau, có khi nhấc hẳn chân trước rời khỏi mặt đất và thẳng thân người người lên rồi chạy Vận động viên có thể đi, chạy chậm 2 - 6 bước đến vạch xuất phát rồi bắt đầu chạy Hiện nay cách này các vận động viên có trình độ cao hay thực hiện vì tạo được sự tự nhiên thoải mái lúc bắt đầu chạy, tăng tốc độ nhanh, tuy vậy khó thực hiện chính xác nhất là chuẩn bị giậm nhảy với tốc độ cao
Song dù sử dụng cách nào cũng cần phù hợp với khả năng của người nhảy, phải luyện tập thành thói quen ổn định thì mới phát huy được hiệu quả
- Kỹ thuật chạy đà
Có nhiều phương pháp tăng tốc độ khi chạy đà song điều chủ yếu đạt tốc độ cao nhất ở giai đoạn cuối trước lúc giậm nhảy Các vận động viên nhảy xa ưu tú khi chạy gần đến ván giậm có thể đạt tới tốc độ 10 - 11 m/s (đối với nam và 9 - 10 m/s (đối với nữ)
Thông thường có 2 cách tăng tốc phổ biến:
Tăng tốc độ ngay từ đầu
Sau khi xuất phát người nhảy dùng hoàn toàn sức để tăng tốc độ chạy và đến khoảng 2/3 quãng đường thì đạt tốc độ cao nhất rồi tiếp tục giữ vững tốc độ đến hết cự
ly đà trên cơ sở duy trì độ dài, tần số bước chạy
Phương pháp này phù hợp với những vận động viên có trình độ tập luyện cao, nó
có những ưu điểm sau:
- Nhanh đưa cơ thể đạt được tốc độ cao khi chạy đà
Trang 21- Độ dài bước chạy đà đoạn cuối ổn định, tạo điều kiện tốt cho giậm nhảy chính xác, hiệu quả
Cách tăng tốc từ từ
Vận động viên chạy với tốc độ tăng lên một cách nhịp nhàng cho đến trước khi giậm nhảy thì đạt được tốc độ tối đa Cách chạy này thích hợp đối với những người mới tập hoặc đối với những vận động viên tầm vóc thân thể cao, tần số bước chạy chậm
Căn cứ vào đặc điểm và sự biến đổi tốc độ, độ dài bước và tần số bước, ta có thể chia cự ly chạy đà ra làm 2 phần:
Phần 1: từ vạch bắt đầu đà đến trước 4 bước cuối cùng mục đích của phần này là
tạo ra tốc độ nằm ngang lớn Vì vậy kỹ thuật chạy đà giống như kỹ thuật chạy tăng tốc
độ trong cư ly ngắn Bước chạy có nhịp điệu, tiếp xúc đất bằng 1/2 bàn chân trước Kết thúc phần 1 tốc độ đạt cao nhất
Phần 2: 4 bước cuối cùng
Mục đích: giữ vững tốc độ nằm ngang và chuẩn bị tích cực cho giậm nhảy
Kỹ thuật 4 bước cuối cùng có sự thay đổi về độ dài và nhịp điệu bước chạy để chuẩn bị cho giậm nhảy Nhìn chung độ dài 4 bước cuối cùng lớn hơn các bước đà trước đó Nếu tính từ ván giậm trở ra: bước 1 ngắn nhất, bước 2 dài nhất bước 3 ngắn hơn bước 4
Bước trước bước cuối cùng và bước cuối cùng có vai trò đặc biệt trong việc chuẩn bị tới giai đoạn giậm nhảy bởi vì việc tăng độ dài của bước trước bước cuối cùng và hạ thấp trọng tâm lúc kết thúc nó cho phép người nhảy có thể bắt đầu nâng cao trọng tâm cơ thể được nâng lên một chút và sau đó được chuyển mạnh theo vòng cung lên trên lúc giậm nhảy Điều này có tác dụng tăng cường hiệu quả giậm nhảy do
sử dụng được tốc độ nâng thẳng vừa tạo ra Nó góp phần làm giảm ảnh hưởng kìm hãm khi chuyển từ đà này đến giậm nhảy
Bước cuối cùng thường ngắn hơn bước trước đó khoảng 22 - 30cm và thực hiện đặt chân lên bục giậm nhảy càng nhanh càng tốt Lúc này tư thế của thân trên và cách đặt chân cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả giậm nhảy
1.4.2 Giậm nhảy
Nhiệm vụ: giữ vững và lợi dụng tốc độ nằm ngang, tạo ra tốc độ thẳng đứng để
có được tốc độ bay ban đầu lớn nhất và góc bay hợp lý
Trang 22Đặt châm giậm nhảy có liên quan tới bước chạy đà cuối cùng Khi kết thúc bước cuối cùng, việc đặt chân lên ván giậm nhảy cần thực hiện nhanh, mạnh, tích cực theo hướng từ trên xuống dưới - ra sau và tiếp xúc với ván giậm gần điểm dọi trọng tâm cơ thể (cách khoảng 1 - 1,5 bàn chân) để không làm giảm tốc độ nằm ngang
Chân đặt xuống ván giậm bằng cả bàn và khi tiếp xúc chân hầu như thẳng khớp gối Góc độ đặt chân giậm khoảng 60 - 650 Lúc này chân lăng ở phía sau chuẩn bị đá lăng ra trước Hai tay vung bình thường như khi chạy
Sau khi chân giậm chạm ván, do ảnh hưởng của quán tính và trọng lực, người nhảy gấp nhanh các khớp của chân giậm (chủ yếu là khớp gối) để giảm chấn động lúc đặt chân đồng thời làm căng các nhóm cơ (tạo cho cơ có thế năng) chuẩn bị cho hoạt động giậm nhảy tích cực tiếp theo
Độ gấp lại hợp lý của chân giậm khi hoãn xung không những làm người nhảy giữ được khối lượng lớn trên chân giậm lúc chống mà còn tạo điều kiện cho nó duỗi ra nhanh, mạnh hơn khi bật lên
Nhà sinh lý học nga xêtrênốp đã nói: “sự căng cơ làm nảy sinh trong lòng nó một thế năng tạo điều kiện phát huy sự nỗ lực của chúng lúc co lại”
Kết thúc thời kỳ hoãn xung là lúc góc độ giữa đùi cẳng chân giậm đạt khoảng
140 - 1450 Nếu góc độ này không hợp lý (lớn hoặc nhỏ quá) sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả hoãn xung và làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giậm nhảy
Lúc này, điểm dọi tâm cơ thể đi qua điểm đặt của chân giậm, cẳng chân lăng gấp với góc độ nhỏ nhất, gối chân lăng ngang gối chân giậm, thân trên gần như thẳng đứng
Sau khi điểm dọi trọng tâm cơ thể vượt qua điểm chống là thời điểm bắt đầu giậm nhảy Lúc này chân giậm duỗi thẳng nhanh, mạnh, mạnh hết các khớp hông, gối,
cổ chân để đẩy trọng tâm cơ thể lên cao Góc độ giậm nhảy khoảng 70 - 750 Đồng thời với việc duỗi ra của chân giậm là động tác lăng chân tích cực của chân lăng từ sau
ra trước lên trên Kết thúc giậm nhảy đùi chân lăng gần như song song với mặt đất, cẳng chân vuông góc với đùi và chân giậm bắt đầu rời đất
Khi giậm nhảy tay bên chân giậm đánh mạnh từ sau ra trước lên trên và dừng lại khi cánh tay ngang vai, cẳng tay vuông góc với cánh tay
1.4.3 Bay trên không
Nhiệm vụ: tận dụng quỹ đạo bay, giữ thăng bằng và tạo điều kiện thuận lợi cho người nhảy với xa chân về trước khi rơi xuống cát
Trang 23Sau khi kết thúc giậm nhảy, cơ thể rời khỏi mặt đất chuyển vào giai đoạn bay trên không và trọng tâm cơ thể bay theo một đường cong nhất định Về lý thuyết, góc bay tối ưu phải là 450 song trong nhảy xa do tốc độ nằm ngang (có được trong chạy đà) lớn hơn tốc độ thẳng đứng (do giậm nhảy) nhiều và độ cao của trọng tâm cơ thể lúc bay ra lớn hơn so với lúc chạm đất nên trong thực tế góc bay ra của nhảy xa chỉ từ 18-260 Kết thúc giậm nhảy, người nhảy dường như tiếp tục duy trì tư thế “bước bộ” lúc bay
ra Lúc này chân giậm thẳng lưu lại phía sau một chút rồi mới gấp lại và nâng cẳng chân lên; chân lăng gập nhiều bắt đầu duỗi do hạ đùi và chuyển cẳng chân theo quán tính về trước; hai tay hơi hạ xuống, duỗi thẳng để giữ thăng bằng; thân trên thẳng
Tư thế bước bộ được duy trì khoảng gần 1/4 độ xa lần nhảy và có thể có một vài đặc điểm khi thực hiện các kiểu nhảy khác nhau, song về cơ bản cấu trúc động tác bước bộ là không thay đổi
1.4.4 Rơi xuống đất
Nhiệm vụ: giữ vững thành tích đã đạt được, tránh phạm quy và xảy ra chấn thương Rơi xuống đất không chỉ mang ý nghĩa là kết thúc một lần nhảy, hạn chế sự chấn động đối với cơ thể, mà còn giữ vai trò quan trọng đảm bảo cho độ xa đã đạt được Trong thực tế không ít những vận động viên do thực hiện động tác rơi xuống đất không chính xác đã làm mất đi độ xa tới hàng chục centimét thậm chí bị phạm quy
Trong tất cả các kiểu nhảy, việc thu chân chuẩn bị rơi xuống đất được bắt đầu khi tổng trọng tâm cơ thể ở cách mặt cắt ngang với lúc khi họ kết thúc giậm nhảy
Để chuẩn bị cho việc rơi xuống cát, đầu tiên cần nâng đùi, đưa 2 đầu gối lên sát ngực, gập thân trên nhiều về trước Cẳng chân lúc này được hạ xuống dưới, hai tay được chuyển từ trên cao ra phía trước Tiếp đó là duỗi chân, nâng cẳng chân để gót chân chỉ thấp hơn mông một chút Thân trên lúc này không nên gập về trước quá nhiều
vì sẽ gây khó khăn cho việc nâng chân lên cao Tay lúc này hơi gập ở khuỷu và được
hạ theo xuống dưới và sau Sau khi 2 gót chân chạm cát cần gập chân ở khớp gối để giảm chấn động và tạo điều kiện chuyển trọng tâm cơ thể xuống dưới, ra trước vượt qua điểm chạm cát của gót Thân trên lúc này cũng cố gập về trước để giúp không đổ người về sau làm ảnh hưởng đến thành tích (có thể đổ người sang 2 bên trong hố cát)
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng và quyết định đến độ bay xa của lần nhảy
Về mặt lý thuyết, trong điều kiện không có sức cản của môi trường không khí, điểm bay ra và điểm rơi cùng trên một mặt phẳng thì độ bay xa của một vật thể được
Trang 24phóng ra tỷ lệ thuận với bình phương tốc độ bay ban đầu, sin 2 lần góc bay và tỷ lệ nghịch với gia tốc rơi tự do
V0 Sin 2α
g Trong đó: S Là độ bay xa của vật thể
V0 là tốc độ bay ban đầu
α là góc độ bay
g là gia tốc rơi tự do = 9,8m/giây
Qua phân tích công thức trên ta thấy sự ảnh hưởng của g là không đổi luôn bằng 9,8m/giây nên V0 và α là 2 yếu tố quyết định đến độ bay xa Trong thực tế nhảy xa, chạy đà và giậm nhảy là hai giai đoạn tạo cho cơ thể có tốc độ bay ban đầu lớn, góc độ bay hợp lý nhất vì thế nó là hai giai đoạn có ảnh hưởng quyết định đến độ bay xa của lần nhảy
Nhảy xa là một kỹ thuật hoàn chỉnh, song để tiện phân tích và giảng dạy có thể phân thành các giai đoạn chạy đà và chuẩn bị giậm nhảy, giậm nhảy, bay trên không
và rơi xuống đất
1.6 Các phương tiện và phương pháp giảng dạy kỹ thuật nhảy xa cho học sinh Trung học phổ thông
1.6.1 Các phương tiện giảng dạy
Phương tiện giảng dạy thể lực chung nhằm củng cố sức khỏe, phát triển hệ thống
tim mạch, hô hấp, hoàn thiện sức bền chung và nâng cao khả năng làm việc, củng cố
hệ vận động và hoàn thiện tính linh hoạt trong các khớp và dây chằng cơ, khả năng phối hợp chung và tính hiệp đồng của các động tác
Các phương tiện giảng dạy thể lực chuyên môn đối với học sinh nhảy xa nhằm
phát triển tố chất sức mạnh - tốc độ, biết kiểm tra sự thả lỏng của động tác trong các tốc độ khác nhau và trên cơ sở này không ngừng hoàn thiện kỹ thuật
Các phương tiện giảng dạy kỹ thuật được sử dụng khi hình thành và hoàn thiện
nhịp điệu nhảy, nâng cao tính hiệu quả và độ chính xác các động tác của học sinh để đạt được thành tích thể thao ổn định trong các điều kiện thi đấu phức tạp
Các phương tiện giảng dạy tâm lý tạo điều kiện hình thành trạng thái tâm lý, thần
kinh vững vàng của học sinh trong những điều kiện tập luyện, nhằm nâng cao khả năng làm việc và động viên tất cả sức lao động của họ trong các cuộc thi đấu
Trang 25Việc huấn luyện tâm lý lâu dài bao gồm phát triển tri thức, các phẩm chất trí tuệ, các hiểu biết về mặt lý luận của học sinh, nhất là việc nắm vững những cách tập luyện điều hòa tâm lý và hoàn thiện chúng Có thể tiến hành việc chuẩn bị tâm lý dưới hình thức tọa đàm (trong quá trình tọa đàm có thể xác định mục đích, nhiệm vụ, thảo luận các vấn đề lập kế hoạch huấn luyện, hoàn thiện kỹ thuật), dưới hình thức tự kiểm tra,
tự phân tích và giải quyết các nhiệm vụ tự đề ra của người nhảy Tính tích cực của học sinh, việc hiểu biết rõ nhiệm vụ được đặt ra cho họ, tính tự giác, tự chủ, kỷ luật cao và việc thực hiện chế độ huấn luyện là cơ sở của nguyên tắc giảng dạy
Việc giảng dạy tâm lý ngắn hạn giải quyết các nhiệm vụ chuẩn bị học sinh đến thời hạn thi đấu nhất định, trong những điều kiện nhất định cũng như vấn đề điều hòa trạng thái trước lúc xuất phát liên quan tới sự ganh đua sắp tới của những người tham gia và trách nhiệm nặng nề của những lần tham gia thi đấu Mục đích chủ yếu của việc chuẩn bị là đạt được sự hưng phấn tối ưu của hệ thần kinh trung ương ở học sinh, hạn chế
sự nhảy cảm đối với những kích thích của môi trường bên ngoài
Phương tiện chủ yếu của việc giảng dạy tâm lý là:
Phương tiện sư phạm - đánh giá mức độ huấn luyện về thể lực và kỹ thuật, các
điều kiện thi đấu khách quan, phân tích thành tích của các đối thủ và xây dựng kế hoạch giảng dạy chiến thuật thi đấu (tất cả điều này nhằm tạo ra trạng thái yên tĩnh và cảm giác tin tưởng)
Phương tiện sinh học - khẩu phần và chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và ngủ, vitamin
và thuốc
Phương tiện sinh lý - khởi động, thể dục thở, các bài tập thả lỏng, xoa bóp, bơi,
rèn luyện, dạo chơi trước khi ngủ
Phương tiện tâm lý - ám thị và tự ám thị, tự phân tích và tự điều chỉnh nhằm tận
dụng tất cả những khả năng của mình (đáp ứng được cuộc thi không lệ thuộc vào vị trí), điều hòa trạng thái tâm lý khi có sự giúp đỡ lời nói và tự điều hòa (tập điều hòa tâm lý, tập trấn tĩnh và tập động viên sức lực)
Chỉ có sự kết hợp toàn bộ kho tàng sư phạm với các biện pháp áp dụng một cách sáng tạo, việc chuẩn bị tâm lý mới tiến hành có hiệu quả, tạo điều kiện cho việc đạt thành tích thể thao ổn định trong các điều kiện khác nhau và những thành tích kỷ lục trong điều kiện thi đấu căng thẳng, trong các điều kiện thi đấu quan trọng nhất
Trang 26Thực tiễn thi đấu thể thao hiện đại thể hiện một cách rõ ràng những khả năng kỳ diệu của con người, những tố chất thể lực của họ tương ứng trực tiếp với các phẩm chất ý chí, nghĩa là với khả năng động viên sức mạnh để đạt được mục đích đã đặt ra Hiệu quả giảng dạy phụ thuộc vào việc tổ chức và sử dụng khéo léo trong quá trình học tập, tập luyện theo trình tự nhất định các phương pháp khác nhau của việc áp dụng các phương tiện đã nêu trên
1.6.2 Các phương pháp giảng dạy chủ yếu
Khi giảng dạy và hoàn thiện kỹ thuật nhảy xa, cần áp dụng các phương pháp thực hiện bài tập theo từng phần và thực hiện hoàn chỉnh toàn bộ có kết hợp giải thích, phân tích (phương pháp dùng lời nói), làm mẫu, xem phim ảnh và các bài tập tự làm
Khi phát triển và hoàn thiện các tố chất thể lực cần áp dụng các phương pháp lặp lại (chủ yếu) và tập đến mệt; phương pháp thay đổi trong đó có tốc độ, cự ly, độ dài đà trong các lần nhảy, độ lớn và hình thái của các lực cản, cường độ thực hiện được luôn phiên; các phương pháp gắng sức tĩnh lực và gắng sức động lực (biểu hiện sức mạnh một cách nhanh chóng) cũng như những phương pháp quay vòng
Khi hoàn thiện song song kỹ thuật cũng như các tố chất thì phương pháp tác động ghép (khi độ lớn của lực cản không khí làm ảnh hưởng tới kỹ thuật chạy hoặc nhảy), cũng như phương pháp luôn phiên lượng vận động (từ nhỏ đến lớn nhất) trong các bài tập riêng, tổng tập luyện và trong các chu kỳ tập luyện hàng tuần có hiệu quả nhất Khi chuẩn bị cho các cuộc thi đấu khác nhau (các cuộc thi đấu hay các giải vô địch
có các cuộc thi đấu kiểm tra trình độ vào buổi sáng chủ yếu và chung kết vào buổi chiều),
có thể áp dụng phương pháp luôn phiên khoảng cách với sự bố trí các khoảng thời gian nhất định giữa các lần nhảy, giữa các lần tập buổi sáng và tập buổi chiều
Việc đánh giá mang tính chất nghiệp vụ quá trình huấn luyện theo tiến trình và theo các giai đoạn tiến hành chung được đảm bảo nhờ phương pháp bài tập kiểm tra và phương pháp thi đấu, cũng như nhờ phương pháp tính toán và phân tích các mặt của việc chuẩn bị
Trong các buổi tập, HLV nên thường xuyên nhắc nhở học sinh chú ý sử dụng phương pháp tự kiểm tra để theo dõi kỹ thuật động tác, sự thoải mái và tự nhiên, sự nỗ lực và nhịp điệu Nhắc nhở học sinh tự kiểm tra thời gian (trên các giai đoạn, trong đà)
và các khoảng cách (độ dài bước, thành tích của lần nhảy)
Trang 27Phương pháp chủ yếu để giáo dục đạo đức cho học sinh là sự mẫu mực của HLV, là yêu cầu, sự quy định và tuân thủ các nghi thức trang trọng, truyền thống trong tập thể
1.7 Tố chất thể lực trong kỹ thuật nhảy xa
Tố chất thể lực đặc trưng cho từng môn thể thao được xem như là một trong các tiêu chí cơ bản để đánh giá tài năng của VĐV LaPinSo 1965, VM Bátgacốp, A.M.Dúiốpki, V.B.Pop 1984, Carơpova 1969, Gurevích 1970, Javoxky, Vazmi 1970 đều nhận xét rằng: khả năng về tiềm năng có thể xác định thông qua các tố chất đặc trưng và nhịp độ tăng cường ở mọi hoạt động thể thao
Là một hoạt động không có chu kỳ bao gồm nhiều động tác được liên kết với nhau một cách chặt chẽ với mục đích sử dụng nỗ lực của cơ bắp để đưa cơ thể lên trên một cách tối đa, ngoài sự phát triển thể lực toàn diện, nhảy xa còn đòi hỏi học sinh phải có một tố chất thể lực đặc thù riêng Đặc điểm của các môn nhảy nói chung và môn nhảy xa nói riêng là cần phải nâng cao trọng tâm cơ thể để đưa cơ thể bay xa nhờ quá trình chạy đà và giậm nhảy tạo nên Quỹ đạo của trọng tâm cơ thể của người nhảy lúc bay phụ thuộc vào quá trình tạo đà nhằm tạo ra tốc độ nằm ngang lớn cần thiết và chuẩn bị tốt cho động tác giậm nhảy Quá trình giậm nhảy vừa có nhiệm vụ là tạo ra tốc độ thẳng đứng, vừa có nhiệm vụ tạo ra góc độ bay thích hợp Góc độ bay được tạo nên bởi tốc độ nằm ngang phần lớn được chuyển thành tốc độ thẳng đứng, vì vậy góc độ bay lớn khoảng 18 - 650 Chính vì vậy, có thể nói rằng: thành tích thể thao của các VĐV nhảy xa phụ thuộc chủ yếu vào hai giai đoạn là chạy đà và giậm nhảy Để tạo ra được tốc độ chạy đà và sức mạnh giậm nhảy lớn đòi hỏi người tập phải có năng lực sức mạnh và sức mạnh chuyên môn Tất nhiên để thực hiện kỹ thuật chính xác hiệu quả trong các giai đoạn kỹ thuật nói chung và giai đoạn bay trên không nói riêng, người học không thể thiếu được khả năng phối hợp vận động
Phân tích nguyên lý, đặc điểm kỹ thuật, tính chất hoạt động của nhảy xa và nghiên cứu mối tương quan giữa các tố chất thể lực đặc trưng của VĐV nhảy xa bao gồm: sức mạnh, sức nhanh - tốc độ và khả năng phối hợp vận động
1.7.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh
Sức nhanh (tốc độ) là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Sức nhanh như một tố chất thể lực có thể biểu hiện ở dạng đơn giản và dạng phức tạp
Trang 28Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm: thời gian phản ứng; thời gian của một động tác đơn lẻ và tần số hoạt động cục bộ
Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền anh,
Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả sức nhanh ở dạng phức tạp Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạt động phức tạp sẽ càng cao Song các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản lại phát triển tương đối độc lập với nhau Thời gian phản ứng có thể rất tốt, nhưng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc tần số động tác lại thấp Vì vậy sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tấn số hoạt động
Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các sức nhanh nêu trên là độ linh hoạt của các quá trình thần kinh và tốc độ co cơ
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong trung tâm thần kinh Ngoài ra, độ linh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ngoại vi Sự thay đổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao và làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số của động tác Tốc độ hưng phấn của tế bào thần kinh còn ảnh hưởng trực tiếp tới thời kỳ tiềm tàng và cùng với tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ngoại vi, chúng quyết định thời gian phản ứng
Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi chậm trong bó
cơ Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A có khả năng tốc
độ cao hơn
Trong các hoạt động TDTT, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với nhau Mức độ phát triển sức mạnh có ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh, trong nhiều môn thể thao, kết quả hoạt động phụ thuộc không chỉ vào sức nhanh hay sức mạnh riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa hai tố chất Các hoạt động như vậy gọi là hoạt động sức mạnh tốc độ (ném nhảy, chạy ngắn )
Như vậy là sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của thần kinh và tốc độ
co cơ Cả hai nhóm các yếu tố ảnh hưởng đó, mặc dù có biến đổi dưới tác động của tập luyện, nhưng nói chung đều là yếu tố được quyết định bởi đặc điểm di truyền Do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm, ít hơn sức mạnh và sức bền Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh là tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ,
Trang 29nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Các yêu cầu nêu trên có thể đạt được bằng cách sử dụng các bài tập có tần số cao, trọng tải nhỏ, có thời gian nghỉ dài
1.7.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh, sức mạnh tốc độ
Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ Sức mạnh
mà cơ phát ra phụ thuộc vào: số lượng đơn vị vận động tham gia vào căng cơ; chế độ
co của các đơn vị vận động đó và chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co
Sức mạnh tích cực tối đa (trong giáo dục thể chất thường được gọi là sức mạnh tuyệt đối) của cơ chịu ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chính là:
Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi: nhóm này gồm có: điều kiện cơ học của sự co cơ
như cánh tay đòn của lực co cơ với điểm bám trên xương; chiều dài ban đầu của cơ;
độ dày (tiết diện ngang) của cơ; đặc điểm cấu tạo (cơ cấu) của các loại sơi cơ chứa trong cơ
Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các sợi cơ
và cơ
Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ trước khi co, đó là các yếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh Hoàn thiệt kỹ thuật động tác chính là tạo điều kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ
Do sức mạnh của cơ phụ thuộc vào tiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực được gọi là phì đại cơ
Sợi cơ là một tế bào được biệt hóa rất cao Vì vậy sợi cơ có thể phân chia để tạo
ra tế bào mới Sự phì đại cơ xảy ra chủ yếu là do các sợi cơ có sẵn dày lên (tăng thể tích) Khi sợi cơ đã dày lên đến một mức độ nhất định, theo một số tác giả, chúng có thể tách ra để tạo thành những sợi cơ con có cùng một đầu gân chung với sợi cơ mẹ
Sự tách dọc sợi cơ đó có thể gặp khi tập luyện sức mạnh nặng và lâu dài
Sự phì đại cơ xảy ra do số lượng và khối lượng các tơ cơ, tức là bộ máy co bóp của sợi cơ, đều tăng lên Mật độ các tơ cơ trong sợi cơ vì vậy tăng lên đáng kể Quá trình tổng hợp đạm trong sợi cơ tăng lên, trong khi sự phân hủy chúng lại giảm đi.hàm lượng ARN và ADN trong cơ phì đại tăng cao hơn so với cơ bình thường Hàm lượng creatin cao trong cơ khi hoạt động có khả năng kích thích sự tổng hợp actin và myozin
và như vậy thúc đẩy sự phì đại cơ
Sự phì đại cơ nêu trên được gọi là phì đại tơ cơ, khác với một loại phì đại cơ khác
là phì đại cơ tương Phì đại cơ tương là một loại phì đại cơ chủ yếu do tăng thể tích cơ tương tức là bộ phận không co bóp của sợi cơ Sự phì đại này phát sinh do hàm lượng
Trang 30các chất dự trữ năng lượng trong sợi cơ như glycogen, CP, myoglôbin tăng lên; số lượng các mao mạch tăng lên cũng làm phì đại cơ kiểu này Phì đại cơ tương là loại phì đại cơ thường gặp trong tập luyện sức bền, nó ít ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ Đặc điểm cấu tạo các loại sợi cơ chứa trong cơ là tỷ lệ các loại sợi cơ chậm nhóm (nhóm I) và nhanh (nhóm II-A và II-B) chứa trong cơ Vì vậy cơ có tỷ lệ các sợi nhanh càng cao thì có sức mạnh càng lớn Tập luyện sức mạnh càng lớn Tập luyện sức mạnh, cũng như các hình thức tập luyện khác, không làm thay đổi được tỷ lệ các loại sợi trong cơ Tuy nhiên, tập luyện sức mạnh có thể làm tăng tỷ lệ sợi cơ nhanh gluco phân nhóm II-B, giảm tỷ lệ sợi cơ nhanh oxy hóa nhóm II-A và làm tăng sự phì đại các sợi cơ nhanh
Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp hoạt động giữa các cơ trước tiên là khả năng của nơron thần kinh vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao Như đã biết, sức mạnh tối đa phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động Vì vậy, để phát lực lớn, hệ thần kinh trung ương cần phải gây hưng phấn ở rất nhiều nơron vận động Sự hưng phấn đó phải không quá lan rộng để không gây hưng phấn các cơ, tạo điều kiện cho các cơ chủ yếu phát huy hết sức mạnh Trong quá trình tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinh trung ương được hoàn chỉnh dần, nhất là khả năng điều kiện sự phối hợp giữa các nhóm cơ của thần kinh trung ương Các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh chủ động tối đa đáng kể Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh là tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp Trọng tải đó phải không hơn 70% sức mạnh tích cực tối đa
Sức mạnh tốc độ - tốc độ khả năng sinh lực trong các động tác nhanh Sức mạnh bột phát là khả năng con người phát huy một lực lớn trong khoảng thời gian ngắn nhất
Để đánh giá sức mạnh bột phát, người ta thường dùng chỉ số sức mạnh - tốc độ
1.8 Xu hướng sử dụng bài tâp bổ trợ trong thể thao nói chung và trong giảng dạy nhảy xa nói riêng
Khi giảng dạy kỹ thuật cho học sinh xu hướng hiện nay là phải đảm bảo phát triển tích cực về khả năng vận động của người tập, khả năng làm việc cao và tâm lí ổn định Đó là những điều kiện cần thiết để nâng cao trong thành tích nhảy xa
Trang 31Con đường đi đến thành tích phải qua huấn luyện toàn diện có kết hợp các động tác bổ trợ để phát triển tính mền dẻo và sự phối hợp các động tác để phát triển sức nhanh Các động tác sức mạnh trong giậm nhảy, các động tác phát triển sức bền cũng như tập các động tác chuyên môn
Nhìn chung, ta có thể thấy các xu thế nghiên cứu sử dụng các bài tập bổ trợ như sau:
- Cải tiến sáng tạo nhiều loại công cụ và phương tiện để sử dụng cho các bài tập
bổ trợ
Các cuộc thi chính thức khởi nguồn lịch sử môn nhảy xa lần đầu tiên có hơn từ
100 năm trước Kĩ thuật nhảy xa ngày càng được hoàn thiện, từ nhảy xa kiểu ngồi đến nhảy xa kiểu ưỡn thân và nhảy xa kiểu cắt kéo Việc hoàn thiện về kỹ thuật phát triển đồng thời với việc nâng cao thành tích tập luyện môn nhảy xa (kỹ thuật nhảy xa kiểu cắt kéo đem lại thành tích tối ưu cho VĐV), công cụ và phương tiện phục phụ cho tập luyện còn hạn chế Do vậy, các hình thức của các bài tập bổ trợ cũng đơn điệu, nghèo nàn Nhưng từ tập kỉ 80 của thế kỉ XX, nhờ sự ra đời của đường chạy nhựa tổng hợp
và các máy móc, thiết bị khác làm cho bài tập bổ trợ ngày càng đa dạng và phong phú hơn, đáp ứng có chủ đích các yêu cầu chuyên biệt của các môn thể thao
- Tận dụng các phương tiện về ánh sáng, âm thanh tăng hiệu quả các bài tập bổ trợ
Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa ngũ quan (thính giác, xúc giác, thị giác, khứu giác và vị giác) đều có tác dụng quan trọng tới việc nắm bắt kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tố chất vận động Vì vậy, ngoài việc dùng các giáo quan trực quan hoặc ngôn ngữ nhiều chuyên gia thể thao đã dùng ánh sáng hoặc âm thanh, tiếng động để tác động vào tâm lý cũng như quá trình hưng phấn của người tập, giúp cho việc tập luyện đạt hiệu quả cao
- Xu thế mô hình hóa cảm giác để dẫn dắt và chương trình hóa động tác
Nhịp sinh học được các nhà khoa học Fuse và Snaplôta (Mỹ) đề xuất vào thế kỷ XIX Theo hai ông, nếu tính từ ngày sinh thì cứ 23 ngày là một chu kỳ thể lực, 28 ngày
là một chu kỳ tình cảm và 33 ngày là một chu kỳ trí lực Nếu tập luyện vào nhịp sinh học cao nhất của thể lực, trí lực hoặc tình cảm thì hiệu quả sẽ cao hơn Còn các ngày khác cần có sự điều chỉnh thích hợp Khi mở rộng kỹ năng, kỹ xảo, nếu tập luyện vào thời điểm nhịp sinh học cao thì sẽ có hiệu quả hơn
- Xu thế mô hình hóa cảm giác để dẫn dắt và chương trình hóa động tác
Đặc biệt, trong hình thành nhịp điệu động tác, ví dụ trong nhảy xa, muốn hình
Trang 32thành tốt một lần nhảy thì người nhảy phải chạy đà với nhịp điệu ra sao, tốc độ chạy đà trước lúc giậm nhảy cần đạt bao nhiêu mét trên giây Giai đoạn giậm nhảy, thời gian,
vị trí không gian của cơ thể ra sao, lực giậm nhảy cần đạt bao nhiêu kg trên một kg trọng lượng cơ thể tất cả những vấn đề đó đều được mô hình hóa và chương trình hóa Người tập sẽ bám vào mô hình hóa và chương trình hóa đó mà dùng các bài tập
để hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật, thể lực và thành tích thể thao
Trong xu thế hiện nay, việc dạy các bài tập bổ trợ chuyên môn cho từng kỹ thuật
là phổ biến và có hiệu quả đã được nhiều chuyên gia đề cập Theo xu hướng chung của các nước có nền khoa học tiên tiến thì học các bài tập bổ trợ, dẫn dắt tách ra như bài tập phân chia nhỏ sẽ giúp cho việc nắm kỹ thuật riêng lẻ sâu và chuẩn xác hơn mà thôi Mặc dù kỹ thuật các giai đoạn như trong nhảy xa là chạy đà, giậm nhảy, bay trên không và tiếp đất khác nhau, song về mặt cấu trúc kỹ thuật thì giữa chúng lại có mối tương quan rất chặt chẽ Vì vậy, nếu mỗi giai đoạn của kỹ thuật trong khi thực hiện một lần nhảy mà không được thực hiện một cách thích hợp thì lần nhảy đó sẽ không đạt được thành tích tốt nhất Do vậy, người ta thường sử dụng nhiều bài tập bổ trợ chuyên môn cho từng giai đoạn kỹ thuật
Tóm lại: bốn xu thế để nâng cao hiệu quả của các bài tập bổ trợ chuyên môn đang ngày càng được các nước có nền thể thao tiên tiến sử dụng rộng rãi trong giảng dạy và huấn luyện các môn thể thao nói chung và môn nhảy xa nó riêng
1.9 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công trình nghiên cứu về môn Điền kinh nói chung và môn nhảy xa nói riêng gồm: Cuốn sách “thiết bị tập luyện các bài tập chuyên môn trong điền kinh” do một tập thể lớn HLV và nhà sư phạm Liên xô biên soạn dưới sự chủ biên lai phó tiến sĩ khoa học giáo dục, HLV V.G.Alabin và M.P.Crivônôxốp, là một công trình nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm phong phú, đã được thử thách qua thực tiễn giảng dạy - huấn luyện điền kinh ở Liên Xô
Trong công trình này, các nhà chuyên môn đã tìm thấy những lời chỉ dẫn, những bài tập có giá trị trong giảng dạy, huấn luyện các môn điền kinh nói chung và môn nhảy xa nói riêng
Tác giả Quang Hưng (2004) với “bài tập chuyên môn trong Điền kinh” đã trình bày hệ thống các bài tập chuyên môn dùng trong giảng dạy và huấn luyện Điền kinh cùng các chỉ dẫn cụ thể khi sử dụng chúng cho các đối tượng khác nhau Công trình
Trang 33nghiên cứu đã mang lại lợi ích thiết thực đáp ứng được yêu cầu của giáo viên, HLV, VĐV, Học sinh các trường THPT và Đại học Cao đẳng TDTT
Nguyễn Kim Minh, Phạm Khắc Học (2000), nhóm tác giả đã cho xuất bản cuốn
“Nhảy xa” Trong đó trình bày chi tiết về nguyên lý kỹ thuật, phương pháp giảng dạy các môn nhảy xa, các sai lầm thường mắc và các biện pháp sửa chữa các sai lầm trong tập luyện nhảy xa
Nguyễn Đại Dương, Nguyễn Đăng Điệp (1999), xây dựng một số chỉ tiêu thể lực trong tuyển chọn học sinh chuyên sâu nhảy xa trường Đại học TDTT I
Nguyễn Thanh Đề, GS - TS Lê Văn Lẫm Cơ sở khoa học việc lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh cơ chân ở môn nhảy xa cho nam học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm thể dục trung ương 2, thông tin khoa học kỹ thuật TDTT
Từ kết quả trên, chúng tôi đi đến những nhật xét sau:
Nhảy xa kiểu ngồi là một kỹ thuật tương đối khó trong môn điền kinh Phân tích nguyên lý, đặc điểm kỹ thuật, tính chất hoạt động của nhảy xa và nghiên cứu mối tương quan giữa các tố chất thể lực đặc trưng của VĐV nhảy xa bao gồm: Sức nhanh, sức manh tốc độ và khả năng vận động
Trong giảng dạy cũng như trong huấn luyện các kỹ thuật Điền kinh, các bài tập
bổ trợ có vai trò quan trọng để giúp người học nắm vững được kỹ thuật chính xác và rút ngắn thời gian tập luyện cũng như hướng tới việc phát triển các năng lực cần thiết
để đạt được hiệu quả cao trong tập luyện và thi đấu
Đi đôi với các bài tập bổ trợ chuyên môn về kỹ thuật, người ta cũng rất chú trọng đưa vào trong quá trình giảng dạy các bài tập tăng cường một số tố chất thể lực cần thiết Có thể nói, bài tập bổ trợ chuyên môn vừa là biện pháp để nắm kỹ thuật phức tạp
và khó, vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ thuật kỹ năng vận động
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đây là những đóng góp quý báu cho công tác giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật nhảy xa, đồng thời là cơ sở khoa học quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP KỸ THUẬT
NHẢY XA KIỂU “NGỒI” CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH GIÓT
2.1 Đặc điểm học sinh trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể các em đã đạt tới mức phát triển của các em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như tuổi thanh niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuôc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi )
Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Nên hoạt động thể chất của các em ở độ tuổi này phát triển rất mạnh mẽ rất sung sức năng động
Các em được học ở môi trường đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên có chuyên môn và giảng dạy tốt học sinh có nhiều điều kiện để tham gia rất nhiều môn thể thao đa dạng trong trường như bóng đá, cầu lông, bóng rổ, bóng chuyền, bóng bàn, đá cầu, điền kinh
Chương trình giáo dục thể chất được thiết kế khoa học và tiện dụng nhất trong các trường THPT đem lại cảm hứng học tập phấn khích cho học sinh sau những giờ học căng thẳng các em chỉ muốn được tham gia các hoạt động TDTT để giảm bớt căng thẳng trong học tập, để rèn luyện thêm sức khỏe và khả năng vận động của mình trong những điều kiện khắc nhiệt Nhà trường luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh học tập ở trường
2.2 Thực trạng giáo trình giảng dạy kỹ thuật nhả xa kiểu “Ngồi”
Bằng phương pháp quan sát sư phạm, chúng tôi đã tìm hiểu được thực trạng
Trang 35giáo trình giảng dạy hiện nay của bộ môn Điền kinh - Thể dục - Bơi lội dùng cho việc giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh được thực hiện ở phục lục 1 Qua đề cương bài giảng cho thấy:
Nội dung của đề cương bài giảng phù hợp với chương trinh giảng dạy, việc phân chia các nhiệm vụ đúng trình tự giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi Tuân thủ các nguyên tắc tuần tự, hệ thống, tính kế thừa giữa các nhiệm vụ của kỹ thuật là
từ học kỹ thuật giậm nhảy, giậm nhảy - Bước bộ, chạy đà - giậm nhảy bước bộ, học
kỹ thuật trên không, kỹ thuật tiếp đất và hoàn thiện toàn bộ kỹ thuật
có 8 giáo án có tập thêm phần thể lực trong khoảng 10 - 12 phút/ giáo án Tính tổng thể, thời gian tập thể lực từ 80 - 90 phút trong cả 30 tiết học (dưới 5%) Số lượng bài tập quá ít, chỉ có 4 bài tập là: chạy đạp sau, chạy tăng tốc độ cao 30m, 50m bật thu gối trên cát (đệm) và nhảy lò cò đổi chân 20m, 30m Việc sử dụng các bài tập thể lực quá đơn giản và chỉ thực hiện trong thời gian quá ngắn nên hầu như không
có tác dụng phát triển được thể lực chuyên môn của hoc sinh trong suốt thời gian học kỹ thuật nhảy xa
Bài tập đưa ra cho học kỹ thuật từng phần động tác và phối hợp các giai đoạn tương đối thống nhất Qua tìm hiểu thực tế cho thấy là nhưng nội dung chính mà giảng viên, HLV quan tâm và áp dụng các bài tập cho việc hình thành kỹ thuật lại quá ít Cụ thể, giai đoạn giậm nhảy trong nhảy xa đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện kỹ thuật giai đoạn này Để thấy rõ hơn về thực trạng giáo trình giảng dạy
kỹ thuật nhảy xa, chúng tôi đã lập bảng thống kê về số lượng các bài tập, thời gian
sử dụng các bài tập theo các giai đoạn giảng dạy kỹ thuật Kết quả thống kê được trình bày trong bảng 2.1
Trang 36Bảng 2.1: Bảng thống kê về số lượng các bài tập bổ trợ được sử dụng theo các giai đoạn giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh
Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót
2.3 Thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót
Để có cơ sở thực tiễn lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy
kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh Trường THPT Phan Đình Giót Bằng hai phương pháp là phỏng vấn và quan sát sư phạm, chúng tôi đã phỏng vấn 20 giáo viên, HLV đang trực tiếp giảng dạy trong trường THPT Phan đình giót và ở trung tâm đào tạo VĐV tỉnh Về thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi, chúng tôi tiến hành phỏng vấn các bài tập bổ trợ cho từng giai đoạn dạy học kỹ thuật Kết quả được thực hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn
trong giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi (n = 20)
Nội dung
kỹ thuật Nội dung bài tập
Kết quả Thường
xuyên
Bình thường
Ít sử dụng
n % n % n %
Nhóm bài
tập giậm
nhảy
Tại chỗ đặt chân giậm nhảy 12 60 4 20 4 20
Đi một bước đặt chân giậm nhảy bước
Trang 37hợp đánh tay Chạy 5 - 7 bước giậm nhảy bước bộ qua rào thấp vào hố cát 10 50 60 30 4 20
báo hiệu 4 - 6 bước cuối 16 80 6 30 2 10 Chạy toàn đà thực hiện giậm nhảy nhẹ
Chạy toàn đà có vạch báo hiệu 4 - 6 bước cuối kết hợp giậm nhảy nhẹ 6 30 8 40 6 30 Chạy toàn đà kết hợp giậm nhảy 4 20 5 25 11 55 Nhóm bài
Chạy 3- 5 bước giậm nhảy thực hiện động tác trên không và tiếp đất có bục
Trang 38Qua bảng 2.2 phỏng vấn thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ trong giảng dạy và huấn luyện nhảy xa cho thấy có nhiều ý kiến trả lời phân tán không tập trung giữa cách chọn bài tập cũng như đánh giá mức độ cần thiết của bài tập
Ở đây chúng tôi nhận thấy tồn tại ba vấn đề lớn:
Thứ nhất: Bài tập đưa ra cho kỹ thuật trên không, tiếp đất và kỹ thuật hoàn
chỉnh tương đối thống nhất giữa nội dung bài tập cũng như số lượng bài tập Qua tìm hiểu và quan sát thực tế chúng tôi được biết đây là những nội dung chính mà các giáo viên quan tâm sử dụng nhiều bài tập cho việc hình thành kỹ thuật và hoàn chỉnh kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi
Thứ hai: Ở nội dung kỹ thuật chạy đà và giậm nhảy chưa được quan tâm đúng
mức biểu hiện ở việc giáo viên sử dụng bài tập bổ trợ cho nội dung chạy đà còn quá ít
Thứ ba: Về nội dung phối hợp hoàn chỉnh kỹ thuật, khi quan sát và qua phỏng
vấn chúng tôi thấy việc sử dụng các bài tập và nội dung các bài tập đều phù hợp với mục đích và yêu cầu kỹ thuật của giai đoạn kỹ thuật đó
Song vấn đề cần đặt ra là việc sử dụng các bài tập cho hoàn thiện toàn đà lại được đầu tư quá ít Góc độ chạy đà, nhịp điệu chạy đà tốt thì mới tạo ra lợi thế cho các khâu tiếp theo như giậm nhảy, trên không và tiếp đất
2.4 Thực trạng kết quả học tập môn nhảy xa kiểu ngồi của học sinh lớp 11B8 Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót
Bảng 2.3: Kết quả học tập môn nhảy xa kiểu ngồi của học sinh lớp 11B8
Trường Trung học phổ thông Phan Đình Giót
Lớp Số lượng
Thành tích
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lương
so với hai loại còn lại B và C
Trang 39Khi quan sát lớp 11B8 Trường THPT Phan Đình Giót, chúng tôi thấy rõ, việc
tổ chức dạy cho các em theo đúng chương trình giảng dạy, số thời gian dành cho việc hình thành kỹ thuật là phù hợp nhưng số lượng các bài tập bổ trợ và việc sử dụng các phương tiện trong tập luyện còn hạn chế Vì vậy, đối với những học sinh tiếp thu chậm lĩnh hội kỹ thuật động tác, có những bài tập các em chưa nắm vững được đã phải chuyển sang học kỹ thuật động tác khác nên việc nắm kỹ thuật đúng còn hạn chế Phần lớn các giáo viên giảng dạy chú trọng tới thành tích nhảy hơn là chú trọng việc nắm vững kỹ thuật động tác Điều này ảnh hưởng tới quá trình tập luyện tập sau này cũng như ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo của lớp nói riêng và của nhà trường nói chung
Như vậy, qua việc tìm hiểu thực trạng quá trình tổ chức giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh trường THPT Phan Đình Giót, chúng tôi có một số kết luận
Học sinh lớp 11B8 đạt trình độ thể lực loại khá so với mặt bằng chung của học sinh toàn trường, có đủ khả năng thực hiện các nội dung trong chương trình môn học với kết quả tốt
Song, thực tế kết quả học tập kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi của học sinh lại không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu chuyên môn của môn học (thành tích còn hạn chế cũng như tỷ lệ kỹ thuật loại A còn thấp)
Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là việc sử dụng các bài tập
bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy cho học sinh còn ít về số lượng, đơn điệu về nội dung, tỷ lệ các bài tập phát triển thể lực chuyên môn còn quá ít Các bài tập bổ trợ chuyên môn sử dụng trong giảng dạy các giai đoạn kỹ thuật, làm ảnh hưởng đến kết quả học tập
Để đảm bảo cho việc giảng dạy và học tập kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi có chất lượng cao, rút ngắn được thời gian và tiết kiệm được sức lực, đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn thì việc lựa chọn xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi theo hệ thống có cơ sở khoa học là một trong những công tác hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 40Chương 3 LỰA CHỌN VÀ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG BÀI TẬP BỔ TRỢ CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI CÁC GIAI ĐOẠN KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU “NGỒI” CHO NAM HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
để lựa chọn bài tập sau:
1 Căn cứ vào nguyên lý, đặc điểm cấu trúc kỹ thuật
2 Căn cứ vào đặc điểm đối tượng giảng dạy
3 Căn cứ vào điều kiện tổ chức giảng dạy
4 Căn cứ vào nhiệm vụ giảng dạy kỹ thuật nhảy xa
5 Căn cứ vào đặc điểm quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo
Việc xác định căn cứ để lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh nam Trường THPT Phan Đình Giót là điều cần thiết và có cơ sở khoa học Đề tài đã tham khảo ý kiến của các cán bộ thể thao, giảng viên, các HLV Điền kinh về những căn cứ trên, kết quả được trình bày trong bảng 3.1
Qua bảng 3.1 cho thấy, việc dựa vào các cơ sở xác định các căn cứ lựa chọn
hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn là cần thiết và có cơ sở khoa học Thông qua phỏng vấn các căn cứ trên số ý kiến tán thành chiếm tỷ lệ cao 90% trở lên