1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đổi mới DH ngữ văn 11 theo hướng tích hợp

79 642 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới dạy học ngữ văn 11 theo hướng tích hợp
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đổi mới thiết kế bài học ngữ văn lớp 10 THPT theo hớng tích hợp1790 - 1966 thì ngời thày giáo không phải chỉ "Mang trí thức đến với học sinh" mà quan trọng hơn là phải "Dạy họ cách tìm r

Trang 1

đổi mới thiết kế bài học ngữ văn lớp 10 THPT theo hớng tích hợp

(1790 - 1966) thì ngời thày giáo không phải chỉ "Mang trí thức đến với học sinh" mà quan trọng hơn là phải "Dạy họ cách tìm ra chân lý"; phải tăng cờng

tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu, "Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học", tự nghiên cứu, hớng dẫn hình thành kỹ năng tự học nh T.Maki đã nhấn mạnh: "Nhà giáo, trớc hết không phải là ngời cung cấp thông tin mà là ng-

ời hớng đắc lực cho học sinh tự mình học tập tích cực … Họ phải nh Họ phải nh ờng quyền

cung cấp tri thức cho sách vở, t liệu và cuộc sống", thay vào đó giáo viên phải

là cố vấn, là "Trọng tài khoa học" Muốn vậy, trớc hết cần phải đổi mới cách

dạy, cách học theo phơng hớng hiện đại hoá về nội dung, phơng pháp và phơng

tiện dạy học Nói nh Thủ tớng Phạm Văn Đồng thì "Dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác" (Dạy văn là một quá trình phát triển toàn diện 1973).

1.2 Trong cuốn "Văn học giáo dục thế kỷ XXI" (của giáo s Phan Trọng Luận - NXBGD năm 2002 trang 85), giáo s (GS) đã khẳng định về việc "Đổi mới PPDH TPVC" là "Nhất thiết chúng ta phải đi tiếp không phải chỉ vì đó là

con đờng đang đi của các nớc tiên tiến mà còn là đòi hỏi cấp thiết hàng mấy

Trang 2

chục năm của đời sống s phạm nớc ta"

1.3 Hiện nay đổi mới PPDH nhằm "Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, sáng tạo của học sinh … bồi d bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luyện kỹ năngvận dụng vào thực tiễn Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho học sinh là một việc làm rất cấp thiết" (Trích điều 24 Luật giáo dục).Những năm gần đây nền giáo dục nớc ta có nhiều cải cách, chỉnh lý Mặc dù cảicách đó đã thể hiện sự tiến bộ nhng vẫn còn tồn tại những bất cập nh: Chơngtrình SGK chỉnh lý vẫn còn mang tính chất chắp vá, vụn vặt; việc thi cử, kiểmtra, đánh giá còn hạn chế; thêm vào đó là sự quá tải khiến học sinh phải họcnhiều mà hiệu quả vẫn cha cao Nhận thấy điều đó, ngành giáo dục của chúng ta

đã quyết tâm đổi mới phơng pháp, đổi mới chơng trình SGK các cấp học theo ớng tích hợp nh một số nớc tiên tiến đã thực hiện

h-Trong những năm đầu thực hiện thay đổi chơng trình SGK THPT thí điểm,thay đổi PPDH theo hớng tích hợp, chúng ta không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng trớcvấn đề mới mẻ này Giáo viên và học sinh đang từng bớc làm quen với chơngtrình mới, cách dạy học mới Do đó trong quá trình thực hiện chơng trình cả GD

và HS đã không tránh khỏi những khó khăn Chơng trình SGK mới, cách dạyhọc mới theo hớng tích hợp đòi hỏi GV và HS ở mức độ cao hơn hẳn so với ch-

ơng trình và cách dạy - học cũ

Để thực hiện đợc chơng trình tích hợp, bắt buộc GV phải đầu t nhiều hơncho việc soạn bài, tham khảo tài liệu, suy nghĩ để tìm ra cách tiếp cận phù hợp,tìm ra cách hiểu cách lý giải vấn đề sát thực, có cơ sở lý luận, HS phải đọc bài tr-

ớc khi lên lớp, phải tự tìm tòi, khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức mà bài học chứa

đựng, đồng thời từ kiến thức của bài học, môn học đó HS (và cả GV) biết liên hệ,

mở rộng sang những kiến thức của bài học, môn học khác của liên quan Để thựchiện đợc những yêu cầu đó đối với GV và HS không phải là điều dễ dàng

1.4 Qua khảo sát thực trạng dạy học SGK thí điểm THPT theo hớng tíchhợp nổi lên vấn đề dễ nhận thấy: Phần lớn GV cha hiểu kỹ, hiểu sâu về tích hợpnên khi vận dụng vào bài dạy còn hiện vớng mắc, lúng túng Đó là hiện tợng các

Trang 3

giáo viên trong khi dạy, vẫn phân tách rõ ràng các phần văn, tiếng và làm văn.Giáo viên coi đó là các phân môn độc lập Trong khi thực chất văn học là nghệthuật ngôn từ, dễ hiểu đợc văn chơng thì phải xem xét cả trên bình diện ngữnghĩa của từ Việc dạy tách rời các phân môn của văn đã tạo nên hiện tợng giờhọc khó khăn, gây nên sự nhàm chán cho học sinh, làm cho học sinh tiếp thumột cách thụ động, không phát huy đợc vai trò cha thể sáng tạo, HS không cókhả năng t duy tổng hợp Bên cạnh đó, nhiều khi GV hiểu về tích hợp một cáchlệch lạc nên trong giờ dạy TPVH ngời dạy lại lấn sân sang kiến thức tiếng Việtmột cách quá đà làm cho giờ dạy học TPVH trở thành giờ phân tích từ ngữ, ngữpháp một cách khô cứng Ngợc lại cũng có khi giáo viên dạy tiếng Việt lại lấyquá nhiều ngữ liệu từ văn mà không có sự chọn lọc để lựa ra những giữ liệu thậttiêu biểu, hơn nữa GV lại sa vào phân tích chất văn hơn là một giờ dạy - họctiếng Việt Những hiện tợng này đều cha thể hiện đợc yêu cầu đổi mới củaPPDH mới theo hớng tích hợp

1.5 Năm học 2006 - 2007 SGK Ngữ văn 10 mới chính thức sẽ đợc đa vàodạy học đại trà trên toàn quốc sau ba năm thí điểm Để đáp ứng các yêu cầu về

đổi mới PPDH theo hớng tích hợp thì thiết kế bài học cũng là một phơng diệnquan trọng có ý nghĩa quyết định chất lợng dạy học ngữ văn

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài "Đổimới thiết kế giờ học Ngữ văn lớp 10 theo hớng tích hợp" với mong muốn ít nhiềugóp phần đáp ứng những yêu cầu căn bản nhất của nội dung và phơng pháp xâydựng thiết kế bài học Ngữ văn lớp 10 theo hớng tích hợp Thiết nghĩ đó cũng là ýnghĩa thực tiễn của đề tài

2 Lịch sử vấn đề.

2.1 Về vấn đề tích hợp

2.1.1 Về dạy học theo hớng tích hợp đã có một số công trình nghiên cứu

đợc công bố Trong đó nổi bật là cuốn sách "Khoa s phạm trích lập hay làm thếnào để phát triển các năng lực ở nhà trờng" của tác giả Xavier Roegiers - PhóGiám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào tạo (của nớc nào, hoặc tổ chức

Trang 4

nào?) (BIEF) (NXBGD 1996 do Đào trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch).

Đây là cuốn sách có giá trị lý luận cao giúp ta hiểu đợc nội dung và bản chất củatích hợp và cho thấy những ảnh hởng của khoa s phạm tích hợp đối với chơngtrình SGK cũng nh kiến thức mà HS lĩnh hội đợc

Hiện nay cuốn sách trên đã trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với việc

đổi mới giáo dục, đặc biệt là việc đổi mới dạy học môn văn trong nhà trờng củachúng ta theo hớng tích hợp

2.1.2 SGK Ngữ văn theo hớng tích hợp đã đợc xây dựng xuyên suốt từ cấpTiểu học, THCS và hiện nay đang tiếp tục triển khai ở THPT Chơng trình SGK

đổi mới hợp nhất ba phân môn còn tồn tại độc lập: Văn học, Tiếng Việt, tập làmvăn thành một quyển sách có tên gọi Ngữ văn ở cuốn "Ngữ văn 6" ngay trong

lời nói đầu tổng chủ biên SGK THCS Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định: "Bên cạnh những hớng cải tiến chung của chơng trình nh: Giảm tải tăng thực hành, gắn đời sống cải tiến nổi bật của chơng trình và SGK môn Ngữ văn là hớng tích hợp" Điều này thể hiện rõ ở sự thay đổi cấu trúc bài học trong SGK "Mục kết

quả cần đạt đặt ở đầu nên mục tiêu mà học sinh cần đạt tới, ở mỗi bài gồm đủ cả

ba phần ứng với ba phân môn, các văn bản đợc bố trí theo hệ thống thể loại vàphần nào theo tiến trình văn học sử … bồi d Ngoài số lợng lớn văn bản đợc hớng dẫntìm hiểu tại lớp, còn một số văn bản tự học có hớng dẫn mang tính chất bắt buộcnhằm hình thành phát triển thói quen và khả năng tự học, tìm tòi nghiên cứu

ở sách Ngữ văn 10 - chơng trình đại trà tập 1 do GS Phan Trọng Luậntổng chủ biên, trong phần "Lời nói đầu" đã nêu rõ mục tiêu và cấu trúc của SGK

về việc kế thừa và phát triển vận dụng hớng tích hợp ở mức cao hơn, linh hoạt

hơn, phù hợp với trình độ t duy của học sinh bậc THPT sách nêu rõ "Tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp ở THCS, học Ngữ văn trong nhà trờng không thể tách rời ba bộ phận Văn, Tiếng Việt, và làm văn vốn là những yếu tố hợp thành của chơng trình Mỗi văn bản văn chơng u tú cung cấp nhiều dữ kiện cho sự trau dồi, hoàn thiện tiếng Việt và việc làm văn Ngợc lại kiến thức về tiếng Việt và làm văn càng giúp cho chúng ta am hiểu hơn sự kỳ diệu trong mỗi văn bản, văn

Trang 5

2002, tác giả có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạy học văn

theo hớng tích hợp, giúp ngời đọc hiểu rõ "Việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại (Combination) mà chúng đợc xây dựng theo tinh thần tích hợp (Integration)"

Trong bài viết "Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp", tác giảchỉ ra biểu hiện của tích hợp là "Trong cuốn sách cả ba phân môn văn, tiếngViệt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rènluyện các kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn" Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra

u điểm của nguyên tắc dạy học tích hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây dựngcấu trúc SGK, trong quá trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án,cách kiểm tra đánh giá chất lợng học tập của học sinh

2.1.4 Ngời tâm huyết với vấn đề đọc hiểu và vấn đề tích hợp là GS - TS.Nguyễn Thanh Hùng Trong bài "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn" đăng trên tạpchí "Nghiên cứu giáo dục" (số 6, tháng 3 năm 2006), tác giả đã chỉ ra bản chất

của tích hợp là "Phơng hớng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng nh các phân môn Văn, Tiếng Việt, làm văn trong một môn nh Ngữ văn" Trên cơ sở phân tích t tởng tích hợp tác giả chỉ

ra ý nghĩa của tích hợp: "Tích hợp trong nhà trờng sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phơng pháp của khối l- ợng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie) và hợp lý (Algebra) trong tình huống

Trang 6

khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại"

Trong bài viết này tác giả đã chỉ ra "Cái gốc của quan niệm tích hợp trongdạy học ngữ văn" đồng thời đi phân tích tơng đối kỹ lỡng nội dung và phơngpháp, cách thức việc học, việc tích hợp trong dạy học Ngữ văn, ở đây tác giả nêu

rõ "Mục đích bao quát của nguyên tắc tích hợp trong chơng trình và SGK Ngữ văn là điều kiện giáo dục phù hợp, khả thi, phơng pháp dạy và học mới có hiệu quả và cơ sở lý luận tích hợp một cách khoa học cùng với cách thức và mô hình tích hợp đa dạng để hình thành và dầu kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong văn hoá giao tiếp cho học sinh"

2.1.4 Tiến sỹ Nguyễn Văn Đờng - CĐSP Hà Nội - trong báo cáo khoa học

"tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc THCS" (xuất xứ?) cũng đã đề cập đến một

số cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất của tích hợp và đề ra những phơng hớngthực hiện tích hợp trong bài học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại ở phạm vi ứngdụng cho THCS

Ngoài ra còn có một số sách tham khảo, các bài báo, luận văn… bồi d viết vềvấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ văn

Các tài liệu trên đã đặt cơ sở lý luận cho việc dạy học theo hớng tích hợp,song đối tợng chủ yếu vẫn là THCS Đối với cấp THPT, các tài liệu bàn về vấn

đề dạy học theo hớng tích hợp còn rất ít

2.2 Về chơng trình SGK Ngữ văn 10 và đổi mới thiết kế giờ học tác phẩm văn chơng

SGK Ngữ văn 10 đợc dựa vào dạy học thí điểm ở một số trờng trên toànquốc từ năm học 2003-2004 đợc đa vào dạy thí điểm và năm học 2006 - 2007 ápdụng đại trà Đây là bộ sách biên soạn theo chơng trình mới, cách dạy học mới -dạy học theo hớng tích hợp Vấn đề tích hợp đối với THCS đã đợc đa vào dạyhọc đợc vài năm nen nó không có gì mới mẻ Song đối với các giáo viên bậcTHPT thì đây là một vấn đề hoàn toàn mới; bởi cách dạy, cách soạn giáo án làmột vấn đề còn nhiều bỡ ngỡ mà tài liệu nghiên cứu về vấn đề này thì không

Trang 7

nhiều mà chủ yếu là dựa vào sách giáo viên (SGV) Ngoài ra cũng có một số bàiviết, luận văn nói về việc dạy học tích hợp Ngữ văn bậc THPT song mới dừng lạitích hợp ở một bài, một thể loại, hay một tác giả nào đó SGK Ngữ văn 10 mớiyêu cầu có thiết kế giờ học mới

Về đổi mới thiết kế giờ học tác phẩm văn chơng (TPVC), GS Phan TrọngLuận là ngời có nhiều đóng góp đáng trân trọng

Trong cuốn "Thiết kế bài học TPVC ở nhà trờng phổ thông" (Tập 1) từnhững lý luận nhận thức về vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh trong giờ học

TPVC theo quan niệm dạy học tích cực (DHTC), GS nêu rõ "Một quan điểm

đúng đắn về chủ thể học sinh đa đến một sự thay đổi khá triệt để về cơ cấu giáo

án lên lớp" Từ quan điểm DHTC coi học sinh là chủ thể sáng tạo trong giờ dạy

dẫn đến việc phải có thiết kế dạy học phù hợp với quan điểm đó Từ đó GS

khẳng định: "Một giáo án theo quan niệm phát huy tính hài hoà giữa giáo viên

và học sinh ở trên lớp, là một giáo án trong đó vận dụng nhiều phơng pháp và biện pháp rèn luyện t duy học sinh, song song với quá trình hoàn thành, kiến thức mới là một giáo án trong đó có đợc sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yêu cầu hiểu biết, giáo dục với rèn luyện để họ tự phát triển"

+ Trong chuyên đề "Đổi mới thiết kế dạy học TPVC" (Văn học giáo dục

thế kỷ XXI), GS đã xác định "Giờ học không phải là vấn đề truyền sáng tạo

(xem lại chữ này) mà để khơi dạy sáng tạo của học sinh Học sinh không phải

là cái bình chứa mà là ngọn đèn cần đợc thắp sáng " Dạy văn là sự khơi gợi sáng tạo chứ không phải là sự nhồi nhét, áp đặt Do vậy "Cấu trúc giờ dạy phải

đợc thay đổi về căn bản" Đó là tất yếu bởi chỉ có thay đổi mới phù hợp với sự

tiếp cận của học sinh (ý đúng, nhng cần diễn đạt lại), đặc biệt trong sự biến đổichung của xã hội ngày nay Song việc xây dựng thiết kế giờ DHTPVC không

đơn giản, bởi "Mỗi học sinh là một thế giới tinh thần riêng Mỗi giáo viên là một chủ thể độc đáo sáng tạo và không thể xóa bỏ hay lên án một khuôn mẫu sơ cứng, để thay đổi vào đó là một khuôn mẫu khác, cho dù nó đợc gọi là mới".

Nh vậy đổi mới thiết kế dạy học TPVC là một việc không đơn giản và không

Trang 8

phải là sự phủ định phơng pháp cũ mà là sự kế thừa từ phơng pháp truyền thống.

- Trong bản thảo sách giáo viên lớp 10 thí điểm từ năm học 2003-2004,các tác giả cũng xác định đổi mới thiết kế dạy học nh là một trong những khâuthen chốt để đổi mới phơng pháp dạy học theo yêu cầu của chơng trình và sáchgiáo khoa THPT mới

- Trên cơ sở tiếp thu những ngời đi trớc, chúng tôi muốn tìm hiểu và đề

xuất vấn đề cụ thể hơn đó là "Đổi mới thiết kế bài học Ngữ văn lớp 10 THPT theo hớng tích hợp"

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu một số tiền đề lý luận về đổi mới phơng pháp dạy họcNgữ văn và thực tế của đổi mới chơng trình và SGK Ngữ văn THPT, luận văn đềxuất một hớng thiết kế dạy học Ngữ văn lớp 10 THPT theo chơng trình và SGKmới, thực hiện đại trà trên toàn quốc từ năm học 2006-2007

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu một số tiền đề lý luận về đổi mới phơng pháp dạy họcNgữ văn theo chơng trình và SGK mới và thực tế dạy học Ngữ văn lớp 10 ởTHPT, luận văn này thực hiện các nhiệm vụ:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đổi mới phơng pháp dạy học Ngữvăn ở Trờng THPT theo đặc trng, nhiệm vụ của bộ môn theo hớng tích cực, tíchhợp và một số hệ thống các kiến thức có liên quan đến đề tài

- Khảo sát tình hình thiết kế dạy học Ngữ văn ở THPT để làm cơ sở thựctiễn cho việc đề xuất đổi mới thiết kế dạy học Ngữ văn lớp 10 THPT theo chơngtrình và SGK mới

- Thiết kế thể nghiệm dạy học 3 bài (thuộc 3 phân môn) trong SGK chơngtrình lớp 10 mới

5 Đối tợng nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu chơng trình và SGK mới, đối tợng mà đề tài hớng

Trang 9

tới là: Thiết kế dạy học Ngữ văn lớp 10 THPT (qua việc xây dựng thiết kế bài số (3 bài)

7 Đóng góp mới của luận văn

Bớc đầu nghiên cứu lý luận và đề xuất một phơng án xây dựng thiết kếdạy học Ngữ văn lớp 10 theo hớng tích hợp và phát huy tính tích cực chủ độngcủa học sinh giờ dạy học Ngữ văn

8 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về đổi mới thiết kế bài họcNgữ văn nếu xây dựng đợc thiết kế dạy học Ngữ văn theo hớng tích hợp và pháthuy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh sẽ góp phần nâng caohiệu quả của giờ dạy học Ngữ văn

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng I: Một số vấn đề về cơ sở khoa học của việc đổi mới thiết kế dạy

Trang 10

Phần II: Nội dung

Chơng 1 một số vấn đề về Cơ sở khoa học của việc thiết kế bài học ngữ văn 10 THPT

Quan điểm "Trong nội bộ môn học, trong đó chúng ta u tiên các nội dung củamôn học, quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ

Quan điểm "Đa môn", quan điểm này đề nghị những tình huống, những đềtài khác nhau có thể đợc nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau Nhữngmôn học đợc tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một thời điểm trong quá trìnhnghiên cứu một đề tài, một vấn đề nào đó mà thôi Nh vậy, các môn học khôngthực sự đợc tích hợp

Quan điểm "Liên môn" quan điểm này đề xuất những tình huống chỉ cóthể đợc tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Đồng thờinhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giảiquyết một tình huống cho trớc Các quá trình học tập sẽ không đợc đề cập mộtcách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh những vấn đề phải giải quyết

Trang 11

Quan điểm "Xuyên môn", chủ yếu phát triển những kỹ năng mà học sinh

có thể ứng dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống Kỹ năngnày gọi là kỹ năng chuyên môn

Bốn quan điểm về môn học nêu trên là cơ sở, tiền đề giúp chúng ta hiểu rõhơn về khái niệm, bản chất, đặc điểm của tích hợp thông qua một số quan điểmsau đây:

1.1.1 Quan điểm của Franeois Marie Gerard do ông Xavier Roegier Phó Giám đốc Văn phòng Công nghệ giáo dục và đào tạo (BIFF), tác giả cuốn

-"Khoa s phạm Tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trờng"chọn dịch (diễn đạt lại) ở đây, tác giả cho rằng: "Có thể tích hợp các kiến thức đợclĩnh hội ở nhà trờng bằng nhiều cách:

- Tích hợp trong phạm vi một môn học, bằng cách theo đuôi các mục tiêuhọc tập

- Quan điểm xuyên môn, mà nội dung là phát triển các năng lực chungcho nhiều môn gọi là năng lực xuyên môn

- Quan điểm liên môn hay tích hợp giữa các môn học, mà nội dung là vậndụng các thông tin lấy từ nhiều môn học khác nhau để giải quyết một vấn đề(3,233)

Quan điểm này đã giúp chúng ta nắm rõ bản chất nội dung, cách thức củatích hợp Cũng ở đây ông nhấn mạnh "Quan điểm liên môn, có thể đợc thể hiệnbằng những ứng dụng chung cho nhiều bộ môn, đợc trình bày khi có điều kiệntrong các mô đun (đơn nguyên) tích hợp, hoặc bằng sự phối hợp các quá trìnhhọc tập của nhiều bộ môn, sự phối hợp này thực hiện bằng cách theo đuổi mụctiêu tích hợp duy nhất, hoặc thực hiện bằng cách triển khai nhiều bộ môn có nộidung gần nhau trên cơ sở tơng tác liên tục, nhng mỗi bộ môn vẫn giữ những mụctiêu riêng của mình

Nh chúng ta đã biết việc dạy học tách biệt các phân môn ràng rẽ tách biệttồn tại trong thời gian dài vừa qua dù nó cũng có u thế riêng song không tách

Trang 12

khỏi sự trùng lặp, d thừa kiến thức một cách không cần thiết, mất nhiều thời giancủa cả ngời học và ngời dạy mà lợng kiến thức thu đợc của học sinh lại khôngcao Hiện nay cách dạy học theo quan điểm này không còn phù hợp, với sự bùng

nổ thông tin nh hiện nay nếu dạy theo cách dạy học cũ thì sẽ trở thành lạc hậu.Vì thế giáo dục hiện đại đã có một cái nhìn mới vợt cái nhìn bộ môn ở một khíacạnh mới hơn đó là tích hợp

1.1.2 Cũng trong cuốn "Khoa s phạm tích hợp hay làm thế nào để pháttriển các năng lực ở nhà trờng" tác giả Xivier Roegiers đa ra định nghĩa về khoa

sự phân tích hợp nh sau: "KSPTH là một quan niệm về quá trình học tập gópphần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trớc những điều cầnthiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tơng lai, hoặc nhằmhoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Nh vậy, KSPTH tìm cách làm choquá trình học tập có ý nghĩa

Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đóKSPTH dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụngphối hợp những kiến thức, những kỹ năng và những động tác đã lĩnh hội mộtcách rời rạc

KSPTH sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các nănglực và mục tiêu tích hợp

1.1.3 Quan điểm của SGK Ngữ văn THCS:

Trong SGV Ngữ văn 6 - tập 1 - NXB GD, HN, 2003, do GS Những KhắcPhi tổng chủ biên có nêu: Tích hợp là "Một phơng hớng nhằm phối hợp một cáchtối u các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thứcmô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu

cụ thể khác nhau"

1.1.4 Quan điểm của SGK Ngữ văn THPT:

Trong "Lời nói đầu" cuốn SGK Ngữ văn 10 tập 1 bộ đại trà do GS PhanTrọng Luân chủ biên viết "SGK Ngữ văn 10 tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp

Trang 13

ở THCS cụ thể là học Ngữ văn trong nhà trờng không thể tách rời ba bộ phânvăn, tiếng việt và làm văn vốn là những yếu tố hợp thành sinh động của chơngtrình… bồi d".

Mỗi văn bản văn chơng u tú cung cấp nhiều dữ kiện cho sự trau dồi, hoànthiện tiếng việt và việc làm văn Ngợc lại kiến thức về Tiếng việt và làm văncàng giúp cho chúng ta am hiểu hơn sự kì diệu trong mỗi văn bản văn chơng

1.1.5 Một số quan điểm khác về tích hợp:

- GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài viết "Tích hợp trong dạy học Ngữ

văn" cho rằng "Có thể hiểu tích hợp (Integration) là một phơng hớng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học".

TS Đỗ Ngọc Thống - ngời tham gia biên soạn SGK Ngữ văn THCS và

THPT đã đa ra quan điểm: "Tích hợp (theo cách hiểu trên thế giới hiện nay) là theo tinh thần ba phân môn hợp nhất lại" hoà trộn "trong nhau, học cái này thông qua các kia và ngợc lại" {8, 130}.

- TS Nguyễn Minh Phơng và TS Cao Thị Thăng trong bài viết "Xu thế tích

hợp môn học trong nhà trờng Phổ thông" thì cho rằng: "Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Trong giáo dục, tích hợp có thể hiểu là sự lồng ghép, kết hợp tổ hợp các nội dung với nhau".

- PGS.TS Nguyễn Huy Quát trong cuốn "Nâng cao năng lực đổi mới

PPDH Văn (T 149) PGS thì "Khái niệm tích hợp là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng

và vững chắc".

- TS Nguyễn Trọng Hoàn trong bài "Tích hợp và liên hội hớng tới kết nối

trong dạy học Ngữ văn" thì "Tích hợp là thuật ngữ mà nơi làm của nó chỉ hớng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một (hoặc một số) văn bản có vai trò là kiến thức nguồn".

- Trong báo cáo khoa học "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc THCS"

TS Nguyễn Văn Đờng lại cho rằng: "Tích hợp (Intergation) không phải là

Trang 14

tổ hợp (combinaison) càng không phải là sự ghép nối hay phép cộng đơn giản Tích hợp đợc biểu hiện ở các cấp độ khác nhau trên các bình diện khác nhau".

Với các quan điểm, các khái niệm về tích hợp nêu trên chúng ta thấy tuy

có quan điểm các giả thể hiện các cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau nhữngtrong các quan điểm đều thể hiện nội dung, bản chất của tích hợp qua các từ,

cụm từ: Phối hợp, chỉnh thể thống nhất, nhất thể, hợp nhất, hoà trộn… Họ phải nh Các

quan điểm trên đều nêu lên đợc vấn đề trọng tâm, cốt lõi của tích hợp và đều có

điểm chung hợp nhất trong tinh thần tích hợp là làm sao để có thể gắn kết cácmôn học với nhau, thể hiện rõ đợc mối liên hệ, tác động lần nhau, tránh việc dạymột cách biệt lập riêng rẽ giữa các môn học Trong Ngữ văn thì đó là sự gắn kếtgiữa ba phân môn Văn - Tiếng việt - Làm văn nh nó vốn có cũng nh làm rõ mốiliên hệ giữa Ngữ văn với các bộ môn gần gũi, có liên quan nh môn sử, địa, triếthọc, tâm lí… bồi d

Với tinh thần học hỏi, tiếp thu, kế thừa các quan điểm của ngời đi trớc, tácgiả luận văn mạnh dạn bày tỏ cách hiểu của mình về vấn đề này nh sau: Tích hợp

là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn trong bộ môn, giữa các bộ môn cóliên quan, giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thểthống nhất nhằm tránh tình trạng dạy học tách biệt, riêng rẽ giữa các phân môntrong bộ môn Qua đó rèn luyện kỹ năng liên môn, xuyên môn để ngời học pháthuy khả năng t duy sáng tạo, t duy tổng hợp, để vận dụng vào thực tiễn ở nhữngmức độ, bình diện khác nhau

1.2 Bản chất của quan điểm dạy học theo h ớng tích hợp.

Tích hợp các môn học không chỉ nhằm rút gọn thời lợng trình bày tri thứccủa nhiều môn học, mối quan trọng hơn là hớng dẫn cho học sinh cách thức vậndụng tổng hợp các tri thức học tập vào thực tiễn cuộc sống SPTH với sự kế thừa

và phát triển những thành tựu mà các lý thuyết về quá trình học tập và các trào lu

s phạm thế giới đã đạt đợc quan tâm xung quanh ba vấn đề lớn của nhà trờng, đólà:

Trang 15

+ Học nh thế nào ? (Theo cơ chế nào?).

+ Cách tổ chức quan hệ giáo viên - học sinh - môi trờng xung quanh nhthế nào và dạy học sinh cái gì?

+ Vai trò của môn học và tơng tác giữa các môn học?

* Vấn đề thứ nhất: SPTH [cha qui ớc viết tắt sao đã đa thuật ngữ ra?] cho

rằng HS cần học cách sử dụng kiến thức của mình vào tình huống có ý nghĩa,nghĩa là lĩnh hội các năng lực song song với lĩnh hội kiến thức đơn thuần

Tình huống có ý nghĩa đối với học sinh là những tình huống gần gũi vớihọc sinh hoặc gần với những tình huống học sinh sẽ gặp Trong sách giáo khoacác tình huống có ý nghĩa biểu hiện bằng tranh, ảnh và lợi, hoặc bằng sự kết hợpcủa hình ảnh, lời, quan sát… bồi d tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phứchợp, rất gần với các tình huống tự nhiên mà học sinh sẽ gặp, trong đó có cảthông tin cốt yếu và thông tin nhiễu (không thích hợp với tình huống) và vậndụng các kiến thức, kỹ năng đã đợc học từ trớc để giải quyết tình huống

* Vấn đề thứ hai: SPTH nhấn mạnh việc phát triển các mục tiêu học tập

đơn lẻ cần đồng thời tích hợp các quá trình học tập này trong một tình huống có

ý nghĩa đối với HS Cần tiến hành đa số các quá trình này ở lớp chứ không cótrên hiện trờng để làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa đối với học sinh Vềtình huống có vấn đề, đóng góp của SHTH là nhấn mạnh tính liên môn của tìnhhuống có vấn đề: Tình huống có vấn đề là tình huống có ý nghĩa chứ không phải

là cái cớ để học tập Giáo viên có vai trò tổ chức các hoạt động học tập trong cáctình huống có ý nghĩa đó

Về phơng pháp giảng dạy phân hoá, SPTH chủ trơng đa số quá trình họctập là những quá trình học tập tập thể, đồng thời vẫn tạo điều kiện cho học sinhphát triển theo nhịp độ của hình SPTH cũng chủ trơng giao những nhiệm vụ chohọc sinh thực hiện nhằm đào tạo các em thành những công dân có trách nhiệm,song nhấn mạnh đến nhiều năng lực cần phát triển hơn là nhấn mạnh khâu tổchức lớp - SPTH cố gắng giải quyết vấn đề "Làm thế nào để phát triển các năng

Trang 16

lực ở nhà trờng".

Mục tiêu riêng lẻ: (Hay mục tiêu học tập) là mục tiêu đợc tạo nên khi tác

dụng một kỹ năng cơ bản nên một nội dung học tập trong một hoặc nhiều tìnhhuống có ý nghĩa Mỗi mục tiêu riêng lẻ có thể là mục tiêu nhỏ hơn của một bàihọc hoặc chi tiết hoá thành các mục tiêu nhỏ hơn của nhiều bài học Một nănglực sẽ đợc hình thành khi các kỹ năng cơ bản đợc vận dụng vào một tình huốngtích hợp ở mỗi môn học, trong một năm học, các năng lực cần hình thành chohọc sinh tạo nên các

Mục tiêu tích hợp trong SGK, các năng lực đề cập trong SGK dẫn đến

hình thành một năng lực, tích hợp khi kết thúc một năm học gọi là mục tiêu tíchhợp của năm học Điều đó làm cho quá trình học tập trong năm học có tính mục

đích rõ rệt

Vấn đề thứ 3: Vai trò của môn học và tơng tác giữa các môn học SPTH

đa ra 4 quan điểm

- Quan điểm "Trong nội bộ môn học - Duy trì các môn học riêng rẽ

- Quan điểm "Đa môn", đề xuất những "Tình huống", những "đề tài" cóthể đợc nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, cách riêng rẽ và chỉ gặpnhau ở một thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài

- Quan điểm "liên môn", chủ trơng đề xuất những tình huống chỉ có thểtiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học, sự liên kết các mônhọc làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trớc

- Quan điểm "Xuyên môn", chủ yếu phát triển những kỹ năng mà học sinh

có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống (tìm, xử lý,nêu một giả thuyết, thông báo thông tin… bồi d) Những kỹ năng này gọi là kỹ năngxuyên môn

Hiện nay, nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hớng tới quan điểmliên môn và xuyên môn: Cần phải tích hợp các môn học

1.3 ý nghĩa, tác dụng của quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung

Trang 17

và dạy học tác phẩm văn chơng nói riêng.

1.3.1 Dạy học theo h ớng tích hợp phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà tr ờng hiện đại.

1.3.1.1 Tránh tình trạng quá tải, trùng lặp, d thừa kiến thức nhằm tiết kiệm thời gian trong đào tạo.

Quá tải kiến thức ở nhà trờng, nhất là trờng Phổ thông là một thực tế sphạm lâu đời trên con đờng phát triển hoá xã hội và khoa học kỹ thuật, nhất làkhi khoa học công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ và sự bùng nổ về thôngtin ngày càng dày đặc nh hiện nay thì vấn đề này lại càng trở nên gay cấn và bứcxúc đối với các nhà quản lý, các nhà liên quan SGK các bậc phụ huynh và nóirộng là toàn xã hội

Trong bài "Bài toán quá tải của chơng trình và SGK Phổ thông" trong cuốn

"Xã hội văn học nhà trờng" của GS Phan Trọng Luận đã nói đến khá kỹ vấn đềnày

ở bài viết này GS đã đa ra những nguyên nhân dẫn đến sự quá tải của

ch-ơng trình và SGK mà trong đó " Biện pháp giảm nhẹ tình trạng quá tải của chch-ơngtrình hay SGK không thể bằng cách thêm bớt chút ít liều lợng nội dung d thừa "bởi đó chỉ là giải pháp tình thế, chỉ là biện pháp tức thời thiếu tính chiến lợc Con

đờng đó vẫn không thể bảo đảm đợc yêu cầu giảm nhẹ kiến thức khi mà lợngthông tin hàng năm, hàng chục năm đang đợc bổ sung không ngừng" {10,208}

Để giải quyết đợc vấn đề này thì điều quan trọng trớc tiên là "Phải có mộtquan điểm hiện đại, thực sự đổi mới ở ngời soạn chơng trình và nhất là SGK vềmục tiêu đào tạo ngời học sinh ngày nay" {10, 208} Một số tác giả chơng trình

và SGK vẫn giữ quan điểm coi mục đích biến loạn chơng trình và SGK là đểcung cấp càng nhiều càng tốt khối lợng tri thức tối đa cho học sinh nên dẫn đếntình trạng quá tải đối với học sinh Cũng có không ít tác giả SGK vẫn cho rằngcần cung cấp Kiến thức khoa học cơ bản, chính xác, phong phú, hiện đại, cònnhững yêu cầu có tính chất s phạm là thuộc chức năng của ngời đứng lớp Cách

Trang 18

nghĩ này không những sai lầm về ý thức đối với ngời dùng sách mà còn không

đúng về mục tiêu đào tạo và quan điểm đánh giá chất lợng thông tin khoa học

Để đáp ứng nhịp độ phát triển khoa học, SGK của một số nớc tiên tiến đã đợcbiên soạn theo phơng châm là viết sách để học sinh tự học, tự chiếm lĩnh kiếnthức thông qua sự hớng dẫn của giáo viên Học SGK để học cách học để tự hoàntoàn khác với lối học SGK truyền thụ thông tin tri thức một cách thụ động Điềunày đòi hỏi "Ngời soạn sách phải luôn có ý thức thờng trực trên từng trang viết"

để "SGK không chỉ là nguồn cung cấp thông tin mà còn là một phơng tiện tựphát triển của học sinh trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin SGK cũngkhông phải là t liệu, một văn khoa học để thầy giáo làm công cụ thông tin mộtchiều cho học sinh mà là một công cụ để thầy giáo tổ chức hoạt động, học tậpcủa học sinh một cách chủ động, một cách sáng tạo đúng với tinh thần "Học sinh

là trung tâm" nhằm kích thích tác động làm biến đổi thái độ, động cơ học tập củacác em, giúp các em phát huy vai trò chủ động tích cực và tìm tòi sáng tạo trong

học tập "Cách nhận thức mới về mục tiêu đào tạo, mục tiêu biên soạn chơng trình nh trên nhất định đòi hỏi ngời biên soạn SGK phải thay đổi một cách cơ bản phơng thức biên soạn để thoát khỏi tình trạng nhồi nhét chồng chất kiến thức d thừa nh hiện nay" {10, 209} "Một tiết học làm văn của ta có khi cung

cấp non 10 trang chữ lý thuyết nặng nề cho một tiết học nghị luận trong khi đómột định nghĩa về nghị luận của pháp chỉ có 4 - 5 dòng với nội dung cô đọng,xúc đích, sinh động kèm theo một hệ thống bài tập đa dạng, gây hứng thú chohọc sinh" {10, 209}, viết SGK một cách êm đềm về kiến thức với những con số

đợc thống kê trong bài viết tác giả khẳng định "Không bao giờ nhà trờng có thểbắt kịp tốc độ phát triển thông tin hiện đại" và "Bài toán để gỡ ra khởi nghịch lýmuôn thủa này là một mặt tăng cờng tỉ lệ tri thức khái quát bản thể nhng quantrọng hơn là vũ trang cho ngời học tri thức về phơng pháp xử lý thông tin để họ

có tiềm lực, tự bổ sung tri thức trên con đờng học vấn vô tận của mình {10,210}

Nhận thức đúng đắn nh trên SGK mới của chúng ta đã thay đổi một cáchtriệt để về việc lựa chọn kiến thức một cách tinh giản, cấu tạo nội dung SGK đã

Trang 19

làm cho học sinh thực sự hoạt động trên một hệ thống bài tập để từ đó nắm vữngnội dung thông tin.

SGK không đơn thuần chỉ có khối lợng tri thức mà quan trọng khó khăn vàmới mẻ hơn là hệ thống bài tập hoạt động của học sinh ở nhà và ở lớp "Cách viếtSGK theo hớng này vừa tinh chắc về nội dung vừa thoát khỏi nạn quá tải" Ch-

ơng trình SGK Ngữ văn mới lần này đã thực sự là cuối sách viết cho học sinh,viết dể học sinh tự học, tự phát triển, không giống với cuốn sách chỉ nhằm biêntập một khối lợng tri thức, chủ yếu là làm t liệu cho giáo viên thuyết giảng

ở nhà trờng phổ thông của các nớc tiên tiến ngày nay khuynh hớng tíchhợp và liên môn liên ngành trong dạy học ngày càng đợc chú ý Việt Nam cũng

đang dần thay đổi trong biên soạn chơng trình SGK và phơng pháp giảng dạytheo con đờng này Bởi "Khuynh hớng tích hợp cho phép rút ngắn đợc thời giandạy học vừa tăng cờng đợc khối lợng và chất lợng thông tin của chơng trình và

SGK phổ thông" Song "Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các bộ môn trong nhà trờng phổ thông nhất là tình trạng biệt giữa các bộ môn trong nhà trờng phổ thông nhất là tình trạng biệt lập giữa chơng trình và SGK ở các cấp học đặc biệt

sẽ đi sâu vào phần nào của lịch sử hiện đại hay cận đại để cùng phối hợp" {10,

211} Trong khi thời gian đào tạo của chúng ta không có nhiều mà kiến thứcnhiều khi lại trùng lặp ở các môn học, cấp học gây mất thời gian một cách khôngcần thiết

Để xoá bỏ tồn tại trên, giáo dục nớc ta đã sáng suốt lựa chọn hớng tíchhợp Hiện nay chơng trình SGK của học, THCS của chúng ta theo hớng tích hợp

đang dần đợc khắc phục nạn quá tải, trùng lặp ở trùng lặp d thừa kiến thức và

Trang 20

năm học tới này SGK THPT theo hớng tích hợp bắt đầu đợc triển khai trong toàn

quốc Vì "Dạy học tích hợp và liên kết các bộ môn là con đờng khả dĩ giúp cho hạn chế đợc nạn quá tải kiến thức của chơng trình và SGK Phổ thông hiện nay

mà nhiều nớc tiên tiến thực thi có kết qủa" Chúng ta càng vận dụng quan điểm

tích hợp triệt để bao nhiêu, càng hạn chế đợc những tồn tại trên bấy nhiêu

1.3.1.2 Vai trò của việc dạy học tích hợp trong việc rèn luyện t duy sáng tạo cho học sinh.

Nghị quyết Đại hội Đảng toan quốc lần thứ IX đã khẳng định: "Đổimớiphơng pháp dạy và học, phát huy t duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo củangời học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét,học vẹt, học chay" Để nâng cao chất lợng giáo dục Cải tiến nội dung có ý nghĩaquan trọng hàng đầu, tuy nhiên cải tiến nội dung chính là cải tiến sự lựa chọn cácchất liệu rút ra từ các thành tựu đã có của nền khoa học, của văn minh văn hoánhân loại Nh vậy, cải tiến nội dung chính là cải tiến sự lựa chọn, sắp xếp nộidung sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trờng, hay là phù hợp với

"Đơn đặt hàng" của xã hội Về thực chất đó cũng thuộc phạm trù phơng pháp

Trong nhà trờng Phổ thông chơng trình đợc xây dựng trên quan điểm giáodục tích hợp trớc hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển nănglực ngời học Xuất phát điểm của vấn đề là do cuộc sống đặt ra, yêu cầu ngời học

có đủ khả năng vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tổng hợp để giải quyết

Tính sáng tạo là phẩm chất đặc biệt của con ngời Nó xuất phát từ nhu cầu

đợc đổi mới, đợc phát triển của con ngời Nó là một quá trình bất tận, không baogiờ kết thúc và trở thành nhu cầu, động lực của sự sáng tạo Tính sáng tạo khôngchỉ dành riêng cho nhóm cá nhân nào mà là của mọi ngời Tuy rằng ở mỗi ngời,

nó thể hiện ở một mức độ khác nhau Song tính sáng tạo không phải ngẫu nhiên

mà có, nó chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó là sản phẩm của quá trình t duy sáng tạo

Sự sáng tạo chỉ có đợc khi bản thân con ngời có sự đầu t thích đang về trí tuệ,công sức… bồi d

Muốn có một ý tởng sáng tạo, con ngời phải trải qua một quá trình t duy

Trang 21

và muốn ý tởng đó trở thành hiện thực chỉ t duy thôi không cha đủ mà phải có tduy sáng tạo Tác giả Card Roger cho rằng: "Cái chính yếu của sự sáng tạo là sựmới mẻ của nó, và bởi thế chúng ta không có trên tiêu chuẩn qua đó để xét đoán

nó Theo định nghĩa trong từ điểm Tiếng việt thì "Sáng tạo là tìm ra cái mới,cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có"

Đối với học sinh sự sáng tạo là một phẩm chất đặc biệt không thể thiếutrong quá trình học tập và nó đợc thể hiện ở việc vận dụng đợc tri thức vào tìnhhuống mới Trong quá trình đào tạo nhất là đào tạo hiện nay, việc rèn luyện t duysáng tạo cho học sinh là một điều vô cùng quan trọng và cần thiết Làm đợc việcnày, đòi hỏi các nhà soạn chơng trình, SGK các nhà trờng, các giáo viên giảngdạy phải có ý thức trách nhiệm cao, có tâm huyết trong việc đào tạo con ngờimới - con ngời nhiệt tình linh hoạt, năng động, sáng tạo trong mọi lĩnh vực, mọingành nghề Trong bài viết "Đổi mới dạy học nằm ở Trung học - đôi điều cầnbàn thêm", GS Phan Trọng Luận đã xem đây là một vấn đề chiến lợc, vấn đềbức bách "Nói đến giáo dục lại không thể không quan tâm đến yêu cầu phát huy

tiềm năng sáng tạo của thế hệ trẻ", mà "Dạy học sáng tạo phát huy tiềm năng sáng tạo của thế hệ trẻ học đờng là một vấn đề chiến lợc của giáo dục và là một

đòi hỏi bức bách đối với mọi nhà trờng ngày nay" {11, 7}.

Theo quan điểm dạy học truyền thống, khi nói đến nhà trờng, ngời ta chỉchú trọng đến vai trò ngời thầy, ngời thầy đợc coi là trung tâm, thầy giáo làm tấtcả là nguồn kiến thức; là ngời gói hàng, giao hàng, là ngời rót kiến thức vào bình

và học sinh đợc coi là "Cái bình chứa" chứ không đợc coi là "Ngọn đèn cần đợcthắp sáng" Do vậy, tài liệu học tập của học sinh dờng nh bị giáo viên che chấp

và không đợc chú ý, học sinh trở thành khách thể của quá trình nhận thức "Theoquan điểm này thì PPDH theo kiểu thông tin - tái hiện và diễn giải là phơng phápchủ đạo Trên lớp thầy trở hành diễn thuyết, thuyết giảng và học trò đợc đào tạotrở nên ít sáng tạo, trở lên thụ động trong công việc bởi từ trong nhà trờng họ đã

có thói quen học vẹt, học theo điệu sáo" {11, 23}

Chính vì quan điểm dạy học cũ đã lỗi thời, chứa chất trong nó nhiều hạn

Trang 22

chế, chính vì việc rèn luyện t duy sáng tạo cho học sinh có ý nghĩa quan trọngmang tầm chiến lợc nh vậy cho nên giáo dục - đào tạo của chúng ta đã dần từngbớc đổi mới PPDH, đổi mới triệt để chơng trình, SGK theo hớng tích hợp với xuthế chung đáp ứng đợc yêu cầu cái mới của thời đại, của ngời học, khắc phục đ-

ợc lối dạy học "Thôi miên", "Ban phát kiến thức" và thói quen học vẹt, học sáo

Nói nh GS Nguyễn Thanh Hùng: "Tích hợp trong nhà trờng sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phơng pháp của khối lợng tri thức toàn diện, hài hoà (Harmonie) và hợp lí (Algebra) trong giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại" {4,

đại mà chúng ta đang sống là thời đại của sự "Đa môn", "Liên môn" và "Xuyênmôn", các môn học ngày có sự thâm nhập vào nhau Nếp cũ lối mòn trong quanniệm dạy học biệt lập giữa các môn học, các phân môn dẫn đến việc dạy họcvăn của chúng ta còn quá khép kín, các giáo s Mỹ đã từng phê phán lối dạy vănnhiều năm chịu ảnh hởng sai lầm của trờng phái phê bình mới khiến cho việc

học bị khép kín "Văn bản là đối tợng độc nhất cho sự khám phá của giáo viên Những yếu tố ngoài tác phẩm, nhất là việc phản ứng và nhu cầu ngời học Học sinh bị bỏ qua, văn bản nh vậy chỉ là một văn bản chất" {13, 30} cũng vấn đề này GS Nguyễn Thanh Hùng đã từng nói: "Cứ muốn rạch ròi và chia tách, nên mọi nghiên cứu trở thành những lãnh địa khép kín, đơn tử Nhìn bức tranh khoa học chỉ thấy cây mà không thấy rừng và lại càng không thấy sự cộng sinh của mỗi ngành, mỗi bộ môn khoa học trong trờng tơng tác của nó" {11, 17}

Với yêu cầu mới của xã hội, của thời đại rõ ràng cách thức giáo dục theo

Trang 23

hớng tách biệt các bộ môn, phân môn không còn đáp ứng đợc yêu cầu nữa Ngàynay, sự gia tăng về số lợng và khả năng dễ tiếp nhận của các thông tin nhờ nhữngphơng tiện thông tin đại chúng hay mạng internet không những làm cho PPDHtruyền thống không phù hợp nữa mà còn nảy sinh nhu cầu đòi hỏi ở con ngờimột khả năng tiếp thu, nhìn nhận, nhận thức cao hơn Để hoà nhập vào cuộcsống hiện đại, khi mà khoa học công nghệ ngày càng tiến bộ thì con ngời khôngchỉ giỏi về một chuyên môn đơn thuần nào đó mà con ngời hiện đại là phải cónhiều năng lực khác: biết sử dụng máy tính, có vốn ngoại ngữ nhất định, có khảnăng giao tiếp, hiểu biết về văn hoá… bồi d và điều quan trọng là phải biết vận dụngnhững khả năng đó vào một tình huống cụ thể, một công việc cụ thể một cách

Đành rằng con ngời đào tạo phải đi đến khả năng t duy độc lập trong hành động,nhng thời hiện đại, ngày nay chúng ta không thể chấp nhận t duy độc lập ở mộtlũnh vực, một khía cạnh một trình độ chuyên môn mà kết quả của khả năng tduy độc lập phải thông qua năng lực liên môn, đa môn tổng hợp

Chính vì vậy mà việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học ở các cấp

nh chúng ta đang thực hiện là con đờng đúng đắn, thích hợp nh đối với nền giáodục nớc ta hiện nay

Dạy học theo quan điểm tích hợp với các bộ môn nói chung và với môn

văn nói riêng "Vấn đề quan trọng trong công việc dạy học theo quan điểm tích hợp là xác định vị trí, chức năng có tính chất "Nguồn", "Định hớng" của kiểu và thể loại văn bản trong mối quan hệ với các phân môn khác trong bài học Khi

Trang 24

xác định kiểu và thể loại văn bản là trục cơ bản để tiến hành tích hợp thì việc học tập bộ môn sẽ là quá trình tiếp nhận kiến thức công cụ và chuyển hoá kiến thức công cụ đó sang một dạng kiến thức khác, kiến thức phơng pháp" {12, 21}.

Do đó mà việc dạy học tích hợp "Đợc nhìn nhận nh là quá trình giáo viên tổ chức và hớng dẫn ngời học tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ thể tiềm năng sang khả năng hiện thực" {12, 21}.

Dạy học theo hớng tích hợp sẽ tạo ra khả năng hình thành và rèn luyện chohọc sinh t duy khái quát tổng hợp, học sinh sẽ nhận thấy những kiến thức lĩnhhội có liên quan hữu cơ với nhau, và nh vậy thì trình độ t duy của học sinh mới

đợc nâng lên một tầm cao mới, đúng nh nhà giáo Đặng Hiển từng phát hiện ra

một điều rằng: "Thế giới hiện thực luôn vận động phát triển mang tính hệ thống

và tính hệ thống cũng là thuộc tính của hoạt động t duy Tính hệ thống càng lô gíc, càng chặt chẽ, tiêu chí hệ thống càng khái quát thì độ t duy càng cao" {14,

185}

Nh trên đã nói, dạy học theo hớng tích hợp không những giải quyết đợcvấn đề giảm tải cho học sinh, tránh trùng lặp, d thừa kiến thức, tiết kiệm đợc thờigian đào tạo mà còn rèn luyện cho học sinh khả năng t duy tổng hợp và nh vậychúng ta sẽ đào tạo đợc con ngời đã năng, năng động, sáng tạo, những con ngời

có thể hiểu biết và giỏi nhiều lĩnh vực cùng một lúc Họ có thể chuyên sâu lĩnhvực này nhng chuyển sang lĩnh vực khác họ vẫn đủ khả năng giải quyết vấn đề

có liên quan đến chuyên môn của mình

Nh vậy cũng có nghĩa là, dù ở vị trí nào, lĩnh vực nào họ cũng vững vàng,cũng có những đóng góp, cống hiến nhất định cho đất nớc cho xã hội Nói nh TS

Nguyễn Trọng Hoàn: " Những tri thức riêng lẻ, tri thức bộ phận khi dạy học tích hợp sẽ đợc tiếp cận một cách có định hớng trong mối quan hệ đồng bộ của một bài học hoàn chỉnh và nhất quán theo đặc trng bộ môn Nói cách khác, dạy học theo hớng tích hợp có thể giúp học sinh vừa nắm đợc kiến thức cơ bản, vừa hình thành đợc các thái độ, năng lực và kỹ năng thực tiễn mà môn học đặt ra" {12,

22} Đó cũng chính là việc rèn luyện cho học sinh t duy tổng hợp

Trang 25

1.4 Tinh thần cơ bản về đổi mới môn Ngữ văn THPT.

1.4.1 Đổi mới về quan niệm và tên gọi:

Theo quan điểm và cách gọi cũ, môn văn trong nhà trờng có tên gọi

"Giảng văn", "văn học trích giảng" hay "văn học" Cách gọi này cha khoa học vì

tự nó đã tách văn học ra khỏi Tiếng việt và làm văn Từ đó dẫn đến việc định h ớng nhiệm vụ và phơng pháp dạy văn là: Thầy guáo làm trung tâm, thầy cảm thụ,rồi truyền lại cho học sinh nên chỉ chú trọng dạy sao cho hấp dẫn, truyền cảm

-HS thì thụ động, lắng nghe nh một con chiên ngoan đạo Nói nh GS Phan TrọngLuận thì đó là kiểu dạy "Mớm cảm xúc" và "Rung cảm hộ", lối dạy nh vậy làmcho học sinh "Đã kém lại càng kém hơn"

Để khắc phục sự thiên lệch trên, Bộ đã đổi mới tên gọi là môn Ngữ văn.Tên gọi này đã thể hiện tính tổng hợp của ba phân môn (văn học, tiếng việt, làmvăn) và tính công cụ của bộ môn với mục tiêu đào tạo bốn kỹ năng cơ bản chohọc sinh Nghe nói, đọc, viết để các em có khả năng học tốt không phải chỉ trongmôn văn mà còn ở các môn khác

Riêng đối với phân môn văn học không sử dụng khái niệm giảng văn nhtrớc nữa bởi giảng văn để nghĩ đó là công việc của ngời thầy, biến giờ giảng vănthành giờ hoạt động chính của ngời thầy Ngời thầy làm trung tâm và học sinh sẽcha thực sự hoạt động trong giờ học Bây giờ sẽ sử dụng khái niệm đọc - hiểu,một khái niệm mới nói lên vị trí, vai trò Trung tâm của học sinh trong quá trìnhdạy và học Dạy học theo hớng này, mục tiêu của môn Ngữ văn không chỉ cungcấp kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu hớng cho học sinh tiến tớigiúp các em có năng lực đọc bất kỳ văn bản nào và các em gặp trong nhà trờngcũng nh trong cuộc sống (diên đạt lại)

Quan niệm dạy học mới, tên gọi môn học mới đề cao vai trò của học sinhsong không hề thủ tiêu hay hạ thấp vai trò, vị trí của ngời thầy, ngời thầy khôngphải chi là cầu nối giữa học sinh và sách giáo khoa nh quan niệm trớc kia, trong

sự đổi mới PPDH văn giáo viên là ngời tổ chức, hớng dẫn, là trọng tài để giúphọc sinh phát huy năng lực tự bộc lộ, tự nhận thức

Trang 26

1.4.2 Đổi mới về SGK:

1.4.2.1 Nguyên tắc xây dựng chơng trình Ngữ văn THPT:

* Nguyên tắc kế thừa và phát triển:

SGK Ngữ văn THPT đợc xây dựng theo nguyên tắc kế thừa và phát triển

Kế thừa các thành tựu mà các phân môn văn học, tiếng việt, làm văn trớc đây đã

đạt đợc Đặc biệt là kết quả mà học sinh đã đạt đợc từ các cấp học dới (Tiểu học

và THCS) kế thừa và vận dụng có chọn lọc các nguyên tắc xây dựng chơng trìnhcủa các nớc có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực cũng nh trên thế giới Bêncạnh việc kế thừa, SGK còn phát triển thêm tri thức mới vừa phải có tính nhậtdụng, phục vụ cho việc đọc văn và nâng cao năng lực biểu đạt cho học sinhTHPT Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và phơng pháp theo yêu cầu củaNghị quyết 40/2000 của Quốc hội khoá X Vì thế SGK lần này là SGK mở đểhọc sinh tự học

* Nguyên tắc tích cực và tích hợp:

Nguyên tắc tích cực nhằm đổi mới mô hình giảng văn cũ lấy giáo viên làmTrung tâm thành mô hình mới lấy đọc văn làm văn và hoạt động của học sinhlàm Trung tâm, kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trongquá trình học tập SGK đa ta một số hệ thống câu hỏi, bài tập dẫn dắt học sinhtừng bớc tìm đến những kết luận khoa học cần thiết dới sự gợi dẫn của giáo viên

Nguyên tắc tích hợp dựa trên sự liên kết các phân môn hữu quan thànhmột chỉnh thể thống nhất, nhằm tạo thành hợp lực để nâng cao hiệu quả giờ dạyhọc Ngữ văn

Tích hợp trong Ngữ văn thực hiện cơ chế "3 trong 1", bao gồm ba bộ phận:Văn học, tiếng Việt, làm văn, tạo thành một môn học thống nhất có tên gọi làNgữ văn

, trong đó đối tợng nghiên cứu chung là văn bản tiếng việt với mục đíchchung là rèn luyện bốn kỹ năng, nghe, nói, đọc, viết giữa bốn kỹ năng cơ bảnnày có mối quan hệ khăng khít biện chứng với nhau Nghe tốt có quan hệ với nói

Trang 27

tốt, đọc tốt làm tiên đề cho viết tốt và nâng cao lên thàng năng lực học văn củahọc sinh Năng lực đó đợc biểu hiện thành năng lực đọc - hiểu bao gồm các nănglực cảm nhận, lý giải, thởng thức, ghi nhớ và đọc nhanh, đọc sáng tạo, trong đónăng lực lý giải là quan trọng hơn cả.

Ngôn ngữ văn học - tiếng Việt ở đây là vừa là công cụ giao tiếp mang tinhthông tin, vừa là công cụ giao tiếp thẩm mĩ Mặt khác, bản thân văn học nghệthuật cũng là một phơng tiện giao tiếp, giao tiếp t tởng và giao tiếp thẩm mĩ Do

đó nhiệm vụ của môn văn không chỉ là cung cấp kiến thức về văn học, trang bịnhững đánh giá nhận định về tác giả, tác phẩm, mà còn đào tạo một năng lực sửdụng tơng đối thành thạo các công cụ nói trên

Trong Ngữ văn, nguyên tắc tích hợp không chỉ dừng lại ở phạm vi mộtmôn học mà nó còn mở rộng ra nhiều môn khác Văn với sử, văn với địa, vớinhạc và sân khấu Nh vậy, cơ hội tích hợp trong môn Ngữ văn sẽ đạt hiệu quảcao hơn nhiều so với việc dạy học riêng rẽ từng phân môn nh trớc đây

Ví dụ: Dạy học bài thơ "Bên kia sông Đuống" của nhà thơ Hoàng Cầm cóthể vận dụng nguyên tắc tích hợp giữa ba phân môn: Văn, sử, địa để mở rộngtrục liên tởng về tầm nhìn, về không gian nghệ thuật trong bài thơ

1.4.2.2 Cấu trúc chơng trình:

Để thực hiện các nguyên tắc trên chơng trình môn Ngữ văn THPT đợctrình bày theo cách mới, nội dung cách học đợc xây dựng theo hai trục: Đọc văn

Trang 28

thể nh cũ mà rèn luyện các thao tác t duy, kỹ năng xây dựng luận cứ, luận điểm

và phơng pháp lập luận cách hiểu tích cực, sáng tạo của học sinh

Chơng trình Ngữ văn THPT mới chủ yếu hớng học sinh vào hoạt động đọcvăn không chỉ là phần tác giả, văn học sử nh SGK cũ mà là đọc còn văn bản đợchọc để có thể trả lời các câu hỏi trong hớng dẫn học bài Đặc biệt phần hớng dẫntìm hiểu bài, hớng dẫn chuẩn bị bài trớc đây đợc thay bằng "Yêu cầu cần đạt vàhớng dẫn học bài sẽ làm cho học sinh có ý thức chủ động hơn khi học, vì trả lời

đợc câu hỏi trong bài tức là đã nhiều bài Số lợng câu hỏi theo cấp độ, từ dễ đếnkhó, nội dung câu hỏi đã yêu cầu học sinh phải có sự tích cực, sáng tạo hơn Hạnchế đợc câu hỏi tái hiện và chú trọng những câu hỏi liên tởng, tởng tợng, suy

luận, so sánh đánh giá, nói nh Đặng Thị Mai "Cảm thấy hay cha đủ, còn phải hiểu nữa thì sự cảm thụ mới hoàn toàn".

1.4.3 Đổi mới về ph ơng pháp:

Việc xây dựng môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp không chỉ tích hợp

ba phần (Văn học, tiếng việt, làm văn) mà còn tích hợp việc học văn với lý luậnvăn học, lịch sử văn học, tri thức văn hoá và tích hợp lý luận giao tiếp với kỹnăng t duy, óc suy nghĩ chặt chẽ với t duy hình tợng bóng bẩy, lấy khâu đọc văn

và làm văn làm hai trục chính, đòi hỏi phải có sự đổi mới về PPDH Ngữ văn

Bản chất của đổi mới phơng pháp dạy học chính là :"Thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ chức và hớng dẫn

đúng mức của giáo viên nhằm phát triển t duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phơng pháp và nhu cầu tự học, bồi dỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập" Nhng đổi mới không có nghĩa là bỏ qua các phơng pháp truyền thống mà là "Tiếp tục tận dụng các u điểm của PPDH truyền thống và dần dần làm quen với những PPDH mới" {15, 5}

Đổi mới về phơng pháp theo quan điểm tích hợp, cụ thể ở môn Ngữ văn

chính là: "Các phần văn học, Tiếng việt, làm văn phải gắn kết với nhau, hỗ trợ nhau" và "Làm văn kết hợp với kiểu văn bản ở phần đọc văn Phần tiếng việt cũng lấy ngữ liệu ở phần văn, khai thác các hiện tợng ngôn ngữ để nâng cao

Trang 29

năng lực đọc văn Cơ sở của việc tích hợp này là Tiếng Việt là nền tảng của văn học và làm văn Làm văn là thực hành của Tiếng Việt, phần văn học là tinh hoa của tiếng việt do các bậc thầy văn chơng thực hiện" {16, 37}.

PPDH mới giúp học sinh tiếp xúc trực tiếp với văn bản, với các giá trị củavăn học, làm nh thế cũng chính là tích cực hoá việc học tập của học sinh, biếnquá trình truyền thụ kiến thức của ngời thầy thành quá trình học sinh tự chiếmlĩnh tri thức và quá trình hình thành kỹ năng

1.4.4 Đổi mới về cách kiểm tra, đánh giá:

Khắc phục lối kiểm tra, đánh giá phiến diện chỉ đóng khung trong văn bản

đã học, đổi mới PPDH đợc chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mụctiêu nên kiểm tra, đánh giá đã có sự chuyển biến theo hớng phát triển trí thôngminh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kỹnăng đã học vào những tình huống thực tế làm bộc lộ những cảm xúc, thái độcủa học sinh trớc những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và xãhội Kiểm tra đánh giá sẽ bám sát mục tiêu của từng bài, từng chơng và từng lớp,từng cấp học, câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần có thể hiện sự phân hoá

Hình thức kiểm tra không chỉ là một bài tự luận nh trớc mà còn thêm hìnhthức trắc nghiệm, u điểm của phơng pháp kiểm tra đánh giá trắc nghiệm lànhanh gọn khách quan chính xác, kích thích học sinh hứng thú học tập, khắcphục tình trạng sao chép, học vẹt

Trớc xu thế đổi mới PPDH nói chung, môn Ngữ văn ở bậc THPT đòi hỏiphải đổi mới toàn diện từ quan niệm về bộ môn cho tới SGK, phơng pháp giảngdạy và phơng pháp kiểm tra đánh giá, nguyên tắc

Tích hợp đợc quán triệt trong toàn bộ môn học, trong mọi khâu của quá

trình dạy học "Nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động của học sinh trong mọi mặt trên lớp, ngoài giờ, trên cách phát huy năng lực tự học của học sinh Xem tự học là có ý nghĩa và nh vậy đào tạo mới có kết quả" {17, 37}

Trang 30

1.5 Những vấn đề đổi mới về chơng trình và SGK Ngữ văn 10:

Ngoài những điểm đổi mới chung của chờng trình TH SGK Ngữ văn 10 cónhững đổi mới cụ thể sau:

1.5.1.2 Vị trí, mục tiêu, quan điểm xây dựng chơng trình:

* Về vị trí của bộ môn trong hệ thống chơng trình giáo dục THPT chơngtrình lần này nhấn mạnh đến ba mặt gắn bó với nhau một cách hữu cơ Trớc hếtmôn văn là một môn thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó cho thấy tầm quantrọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, t tởng, tình cảm cho hóc inh Mônngữ văn vẫn còn là môn học thuộc môn học công cụ, học tốt môn Ngữ văn sẽ cótác động tích cực đến kết quả học tập của các môn khác, đồng thời học tốt mônNgữ văn sẽ giúp cho học sinh có năg lực, giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống,cũng từ vị trí đó, toát lên yêu cầu tính thực hành, giảm lý thuyết và gắn với đờisống Sau cùng, xét về một vài phơng diện nào đó, môn Ngữ văn lại có quan hệkhá mật thiết với các môn thuộc nhóm nghệ thuật Vì thế không thể coi nhẹ ph-

ơng diện thẩm mĩ của môn Ngữ văn đặc biệt là phần văn của chơng trình

* Xuất phát từ những căn cứ đó, chơng trình nêu rõ mục tiêu tổng quát củamôn Ngữ văn:

- Trang bị kiến thức phổ thông, cơ bản hiện đại có tính hệ thống về ngônngữ và văn học, trọng tâm là tiếng việt và văn học Việt Nam Phù hợp với trình

độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nớc

Trang 31

- Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng Tiếng Việt, tiếpnhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, phơng pháp học t duy, đặc biệt là phơng pháp tựhọc, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống.

- Bồi dỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá, tình yêu gia

đình, yêu thiên nhiên, đất nớc, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cờng, lý tởngxã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục học sinh trách nhiệmcông dân, tinh thần Hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy cácgiá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại

* Từ mục tiêu tổng quát trên chơng trình đợc xây dựng theo ba quan điểmkhoa học s phạm và thực tiễn sai:

- Quan điểm khao học thể hiện ở sự vận dụng những thành tựu ổn định củacác ngành khoa học tiếng việt, văn học và các khoa học tâm lý s phạm hiện đại.Phơng pháp dạy học coi trọng nguyên lý chuyển trung tâm vào ngời học Cáckiến thức và kỹ năng trong chơng trình đợc sắp xếp theo một hệ thống khoa họchợp lý

- Quan điểm s phạm thể hiện chủ yếu ở tinh thần phát huy tiềm năng sángtạo của học sinh và ở tinh thần tích hợp

- Quan điểm thực tiễn thể hiện ở yêu cầu đáp ứng nguồn nhân lực cho xãhội và năng lực hoạt động thực tiễn cho học sinh, chơng trình cũng gắn với thựctiễn và hoàn cảnh của nớc ta trớc mắt cũng nh sắp đến

1.5.1.2 Điểm mới trong chơng trình Ngữ văn 10:

- Chơng trình lần này đợc xây dựng nh một chỉnh thể văn hoá mở giúp họcsinh có thể tự học Về kiến thức đợc nhà xuyên suốt từ cấp Tiểu học cho đếnTHPT nên tránh đợc sự trùng lập về kiến thức giữa các cấp học

- Nhận thức đúng bản chất và vị trí của môn Ngữ văn trong nhà trờng nênchơng trình lần này nhấn mạnh dến cả ba phơng diện về tri thức khoa học xã hội

và nhân văn về kỹ năn và giáo dục tình cảm nhân văn thẩm mĩ Mối quan hệ hữucơ giữa hiểu biết, kỹ năng và thái độ đợc coi trọng

Trang 32

- Tiếp tục thực hiện nguyên tắc tích hợp, chơng trình chuẩn đã chú trọnggắn kết phần đọc văn với tiếng việt và làm văn.

- Coi trọng sự phát triển của thể loại Ngoài các thể loại quen thuộc, nay

có thêm nhiều văn bản mới nh bình sử, văn bia, điều trần… bồi d khá mới mẻ vàkhông dễ dạy đối với giáo viên

- Khắc phục khoảng cách giữa chơng trình với đời sống xã hội và văn họckhá lớn, để khắc phục nhợc điểm đó chơng trình đã đa thêm một số tác phẩm sau

1975 và những văn bản nhật dụng để làm cho chơng trình gần với cuộc sốnghơn

Trên cơ sở của mục tiêu đào tạo và vị trí, quan điểm biên soạn của ch ơngtrình nh sau:

1.5.2.1 Biên soạn trong mối liên thông với chơng trình lớp dới và trongmối liên kết giữa các phân môn văn học, tiếng việt và làm văn, giữa ba phơngdiện kiến thứckỹ năng và thái độ

Tránh đựơc nhợc điểm của chơng trình và SGK cũ bị thu gọn trong mộtmôn học, tách rời các phân môn có liên quan và xa rời cuộc sống hàng ngày

đang biến đổi… bồi d sách mới đợc xây dựng trên tinh thần nh một chỉnh thể văn hoámở

1.5.2.2 Chú trọng phơng diện kỹ năng, nhng không coi nhẹ tính thẩm mĩ

và tính nhân văn, hai tính chất cần đợc chú ý theo đúng đặc trng của bộ môn,góp phần phát huy sức mạnh đặc thù của văn chơng, chống lối dạy học xã hộihọc tầm thờng hay chính trị hoá một cách thô thiển Trong hoàn cảnh xã hội hiện

Trang 33

nay việc trú trọng giáo dục cái đẹp và tình cảm nhân văn là vô cùng cần thiết.

1.5.2.3 Sách đã trú trọng đến tính nhật dụng trong tuyển chọn văn bản vàdữ kiện đời sống trong nội dung phần tiếng việt và làm văn Tính nhật dụng làmcho việc dạy học ngữ văn trong nhà trờng gắn với đời sống hằng ngày hơn

1.5.2.4 Chú trọng tới tính lịch sử song có chú ý thêm về mặt loại thể SGKmới lần này ngoài đa vào những thể loại trong chơng trình cũ còn đa vào một sốthể loại mới nh kịch, văn bia, sử kí, địa chí, tựa… bồi d và Nghị luận không chỉ nghịluận văn học mà cả nghị luận chính trị xã hội, tránh lỗi làm văn sách vở, tách rờicuộc sống nhất là của sống của thanh niên vốn đang trăn trở bao nhiêu, vấn đề về

lẽ sống, về hạnh phúc, về thị hiểu thẩm mĩ… bồi d

1.5.2.5 Tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp đã có ở THCS:

Thực hiện tinh thần tích hợp ở THCS nhng thoáng hơn, rộng hơn, khônghoàn toàn máy móc THPT vẫn duy trì tích hợp với tích hợp có ý nghĩa phơng án

xu thế tiến triển của t duy nhận thức của con ngời, phản ánh nhận thức khoa họcphân loại, xu thế khoa học hiện nay là tri thức hoá, bối cảnh hoá Vì thế phải rèncho học sinh thói quen t duy tổng hợp, t duy liên kết, thói quen nghiên cứu khoahọc trong liên kết đó

- Về biện pháp thực hiện đã làm nh sau:

+ Nh đã phân tích ở trên, bộ sách đợc nhìn nhận nh một chỉnh thể văn hoá,trong đó tichs hợp nhiều yếu tố hữu cơ chứ không phải là sự lắp ghép máy móccác phần Văn học, tiếng việt và làm văn Đây là điểm mấu chốt cần đợc nhậnthức thật thấu triệt và thơng trực trong t duy dạy học của mỗi giáo viên đứng lớp

+ Về kết cấu nội dung, có sự sắp xếp về nội dung, thuận lợi cho việc sosánh đối chứng (gắn xử thi ấn Độ và Ôđixe với sử thi Việt Nam, gắn thơ đờngTrung Quốc với luật thơ đờng trong phần Tiếng Việt… bồi d

+ Các phần làm văn và tiếng việt đều tận dụng tối đa các văn bản đọc hiểu nh là những dữ liệu cơ sở cho sự hình thành khái niệm và kỹ năng cần có… bồi d

-+ Chơng trình có quy định những tri thức đọc hiểu, bộ sách này chủ trơng

Trang 34

không tách thành một phần riêng biệt về kiến thức đọc - hiểu mà lồng ghép vàongay các phần tiêu dẫn Phần câu hỏi đọc - hiểu hay các bài luyện tập Tinh thầntích hợp nh vậy càng đợc thực hiện triệt để hơn.

+ Các đề làm văn hàng tháng luôn gắn liền với nội dung tơng ứng về đọchiểu và tiếng Việt… bồi d

Chơng 2 Yêu cầu về nội dung của thiết kế bài học ngữ văn

lớp 10 thpt theo hớng tích hợp

-2.1 Yêu cầu của thiết kế

2.1.1 Thiết kế bài học theo hớng tích hợp phù hợp với yêu cầu đổi mới PPDH TPVC trong nhà trờng hiện nay:

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định "Đổi mới

phơng pháp dạy và học, phát huy t duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của ngời học, coi trọng thực hành thí nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay Đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử … Họ phải nh

Để nâng cao chất lợng giáo dục và đào tạo, chúng ta phải thờng xuyên cải tiến nội dung và cải tiến phơng pháp giáo dục cải tiến nội dung có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, tuy nhiên cải tiến nội dung chính là cải tiến sự lựa chọn các

Trang 35

chất liệu rút ra từ những thành tựu đã có của nền khoa học, của văn minh văn hoá nhân loại Nh vậy cải tiến nội dung chính là cải tiến sự lựa chọn, sắp xếp nội dung sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trờng, hay là phù hợp

với đơn đặt hàng" của xã hội Về thực chất, đó cũng thuộc phạm trù phơng

rõ: "Vấn đề quan hệ giữa cái học và cách học cũng đã đợc đặt ra nh một nguyên tắc cơ bản của cuộc đổi mới PPDH Ngời ta cho rằng What cần nhng How còn cần hơn Học để biết là cần nhng biết cách để biết còn quan trọng hơn nhiều"

[11,16]

Từ khi đổi mới PPDH đến nay, nền Giáo dục - Đào tạo của nớc ta đã cónhững kết quả đáng kể Có đợc kết quả đó, ngoài những công sức của đội ngũgiáo viên nhiệt tình yêu nghề, chúng ta không thể không kể đến thành tựu củanhững chuyên ngành nh: Lý luận văn học, lý luận tiếp nhận tâm lý học hiện

đại… bồi d Lý luận văn học, lý luận tiếp nhận tâm lý học hiện đại… bồi d Lý luận văn học

đã quý cho việc cân đối các hớng tiếp cận TPVC, tâm lý học tiếp nhận đã pháthiện những đặc trng hoạt động đặc thù của bạn đọc Tâm lý học hoạt động, thành

tựu nổi bật của thế kỷ đã đề cao "Hớng nội", "Chuyển giao trong" của chủ thể

nhận thức T tởng sự phạm hiện đại đã khẳng định lại mục đích bản chất của quá

trình dạy học: "Học là công vịêc cá nhân Học là hoạt động của bản thân ngời

học Kết quả học tập không thu nhận bằng con đờng truyền mớm mà thông qua hoạt động của từng cá nhân" ("Đổi mới dạy văn ở Trung học - đôi điều cần bàn

thêm" - Tài liệu hội thảo "Đổi mới dạy học môn văn - Tiếng Việt ở THCS" - HàNội, tháng 12/1999

Tiếp nhận thành tựu đó, lý luận dạy học hiện đại vốn dĩ đã hứa hẹn những

Trang 36

khởi sắc lại càng tự tin hơn cho những bớc đi của mình Hệ thống phơng pháp cũtác động từ bên ngoài tác động một phía từ thầy đến HS đợc thay thế bằng hệthống phơng pháp mới, hệ thống phơng pháp vật chất hoá hoạt động bên trongcủa HS Ngời ta bắt đầu nói nhiều đến cơ chế dạy học mới, đến tiến trình lên lớp,cấu tạo giáo án, lựa chọn phơng pháp, hiệu quả giờ dạy, chơng trình, SGK, v.v… bồi dtất cả nhằm mục đích phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể

HS và "Kết quả giờ giảng văn không phải tính bằng số lợng kiến thức giáo viên

truyền thụ cho học sinh mà bằng sự tự phát triển của bản thân các em, không phải ở chỗ dạy cái gì mà là dạy nh thế nào, không phải ở tần số học sinh xuất hiện, số lợng câu hỏi giáo viên đặt ra trong lớp nhiều hay ít, hay ở những hình thức hoạt động bên ngoài mà chính là ở hoạt động bên trong bản thân học sinh"

[2,4]

Ngày nay, xu thế hội nhập toàn cầu, nền giáo dục mỗi nớc đang đứng trớcnhững thử thách mới Nguy cơ giáo dục bị tụt hậu càng rõ ràng Khi chúng tanhận ra lợng thông tin vùn vụt phát triển mà lại dễ dàng tiếp nhận qua nhiều ph -

ơng tiện hiện đại Vì thế, nền giáo dục của các nớc tiên tiến, các nớc phát triển

đã chú trọng đến quan điểm tích hợp Tích hợp đợc áp dụng vào biên soạn chơngtrình SGK phơng pháp giảng dạy Sự ra đời của quan điểm tích hợp đã đánh dấubớc đi mới của khoa s phạm trên con đờng nâng cao chất lợng giáo dục của thời

đại mới

Đổi mới PPDH thực chất là một quá trình nâng cao hiệu quả của công tácdạy học, làm cho công tác này gắn bó, phục vụ tốt hơn và ngày càng cao hơn chovịêc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách của con ngời Việt Namtrong thời đại mới Đổi mới PPDH vì thế đòi hỏi chúng ta vừa phải nhạy bénsáng tạo, đồng thời phải bám sát thực tiễn cuộc sống hiện tại và tơng lai vì thế,

đổi mới thiết kế bài soạn theo hớng tích hợp không có nghĩa là đi chệch ra khỏinhững định hớng của việc đổi mới PPDH văn Dạy học theo hớng tích hợp và đitheo quỹ đạo của PPDH mới Bài soạn theo hớng tích hợp vẫn chú trọng đến việcphát huy tính tích cực chủ động trong học tập và vai trò chủ thể sáng tạo của HS

Trang 37

theo PPDH mới, nhng nó đợc đặt trong nhiều mối quan hệ: Mối quan hệ vớiTiếng việt và TLV quan hệ với lý luận văn học, quan hệ với các tác giả kháccùng thể loại… bồi d

Thiết kế bài học theo hớng tích hợp dựa trên tinh thần phát huy tính tíchcực chủ động sáng tạo của chủ thể HS bằng những thao tác cụ thể nhằm kíchthích quá trình hoạt động bên trong của HS đáp ứng đợc nhu cầu của PPDH mới

đề cao "Hớng nội", "Chuyên vào trong" của chủ thể nhận thức phù hợp với cơ

chế dạy học văn mới và phù hợp với quy luật tiếp nhận TPVC

Nh vậy, dạy học theo hớng tích lập không phải là phủ nhận hoàn toànPPDH truyền thống mà vẫn kế thừa và phát triển những thành tựu của khoa họccuối thế kỷ XX Những thành tựu khoa học này là tiên đề, là dữ kiện khôngnhững buộc phải thay đổi PPDH thờng thấy bằng PPDH mới, đặc biệt chú trọng

đến chủ thể HS mà nó còn là những cơ sở lý luận giúp cho việc xây dựng thiết kếmới theo hớng tích hợp

Thứ nhất: Thiết kế bài học TPVC theo hớng tích hợp là phải dựa trên

những thành tựu của tâm lý học hoạt động Những thành tựu quan trọng nhất củatâm lý học hoạt động thế kỷ XX gắn liền với các tên tuổi nh: Brunơ, Watxơn, V-gôtxki, Ganperin, G.Piagiê, đó là việc phát hiện ra "Hoạt động chuyên vào trong"(xem lại tính chính xác củ thuật ngữ) (Interiorisieren) Trong khái niệm này tâm

lý học s phạm đã phát ra mối quan hệ gắn bó của con ngời, giữa hoạt động bênngoài và hoạt động tâm lý bên trong của con ngời, giữa chúng có sự chuyển hoá

cho nhau Việc phát hiện ra quá trình "Chuyển vào trong" có những đóng góp

lớn cho khoa s phạm, đó là: PPDH truyền thống thầy giữ vai trò chủ đạo, hớng

đạo, điều khiển vịêc tiếp nhận văn chơng của học sinh theo lối thầy cảm, thầyhiểu rồi truyền thụ, thuyết giảng trong suốt quá trình lên lớp, ngời học lắng nghe,ghi chép và khi làm bài kiểm tra chi cần tái hiện lại đã tạo nên những con ngờithụ động, không phù hợp với xã hội hiện tại và tơng lai Đích cần hớng tới củaPPDH văn mới là GV phải là cố vấn, trọng tài, là ngời hớng dẫn, khơi gợi, dẫndắt HS đến những đối tợng để tự các em tác động lên đối tợng, từ đó mà nảy sinh

Trang 38

những yêu cầu cần hiểu biết, cần khám phá và chiếm lĩnh đối tợng HS không lệthuộc vào thầy nh trớc mà trong t thế chủ động, tự giác, tích cực, tự lực Có rèncho học sinh thói quen tự thân vận động tự mình tác động lên đối tợng thì ở các

em mới nảy sinh suy nghĩ bên trong, tạo điều kiện cho tính chủ quan trọng tiếpnhận có dịp phát huy ở HS Có nh vậy mới giúp HS từ bỏ đợc tính thụ động, thóiquen ỷ lại, chờ đợi những kiến thức đa vẵn từ phía GV; HS hoàn toàn chủ độngtrong quá trình tiếp nhận, lĩnh hội tri thức dới sự điều khiển, định hớng, tổ chứccủa GV

Thứ hai: Thiết kế bài học TPVC theo hớng tích hợp còn dựa trên những

thành tựu của lý luận tiếp nhận văn chơng

Lý thuyết tiếp nhận văn chơng ra đời cho phép chúng ta đánh giá lại vaitrò của ngời tiếp nhận Hầu nh mọi vấn đề đều xuất phát từ TPVC và ngời ta cóthể xem TPVC từ nhiều góc độ khác nhau, nhiều cách tiếp cận khác nhau nh:Tiếp cận theo khuynh hớng chức năng tác động Trớc kia TPVC thờng đợc quanniệm là một hệ thống tĩnh tại khép kín Vấn đề cảm thụ văn cha thực sự đợc coitrọng và trị, bị xem nh một hiện tợng biết lập không liên quan gì đến quá trìnhsáng tác của nhà văn, vai trò bạn đọc bị xem nhẹ và cha đợc, đặt đúng vị trí.Quan niệm đó ảnh hởng rất lớn trong vịêc nghiên cứu và giảng dạy TPVC Điềunày đợc thể hiện rất rõ trong PPDH văn truyền thống, đó là ngời thầy chỉ quantâm đến việc cảm thụ, chiếm lĩnh tác phẩm mà cha thấy đợc mối quan hệ biệnchứng, sâu sắc, giữa tác phẩm và bạn đọc, nhất là bạn đọc HS Mỗi bạn đọc khácnhau, điều này tạo nên giá trị sức sống cho TPVC Nếu không có bạn đọc thìTPVC chỉ là một đống giấy vô hồn và mọi ngôn từ trong văn bản chỉ là nhữngngôn từ chết, cho dù đó là một kiệt tác đi nữa Bạn đọc là ngời tạo nên giá trị chotác phẩm Bởi chỉ có bạn đọc, thông qua bạn đọc mới làm cho ngôn từ trong tácphẩm có linh hồn và trở thành một TPVH theo đúng nghĩa của nó, để TPVH thực

sự có cuộc sống riêng t và đi vào đời t của mỗi ngời Đúng nh J.P.Saten đã từng

nhận định: "TPVH là một con quay kỳ lạ, chỉ tồn tại trong vận động, muốn làm

cho nó xuất hiện cần phải có một hành động cụ thể, đợc gọi là sự đọc và TPVH

Trang 39

chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục Ngoài sự đọc ra, TPVH chỉ là những vệt đen trên giấy trắng" Cũng đồng tình với nhận định trên nhng I.Lalich

lại diễn đạt một cách khác: "Cái bóng của độc giả đang cúi xuống sau lng nhà

văn khi nhà văn ngồi trớc tờ giấy trắng, nó có mặt ngay cả khi nhà văn không

muốn thừa nhận sự có mặt của nó" Chính độc giả đã ghi lên tờ giấy trắng dấu

hiệu vô hình không thể tẩy xoá đợc của mình

Qua đây, ta thấy bạn đọc có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồntại và sức sống của TPVC, trớc khi sáng tác nhà văn đã phải hình dung ra tầnglớp độc giả của mình và thái độ của độc giả đối với tác phẩm, vì thế độc giả cómặt ngay cả khi tác phẩm còn đong thai nghén, đúng nh N.I.Kuđrisep khẳng

định: "Thiếu ngời đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu cô

vọng, vang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại".

Những thành tựu cảu lý thuyết tiếp nhận còn giúp chúng ta giải thíchnguyên lý của quá trình cảm thụ TPVC Một văn bản để trở thành một TPVH có

ý nghĩa và có sự trờng tồn theo thời gian nhất định văn bản đó phải đợc đây đảobản đọc của mọi thời đại đón nhận Bạn đọc có nhiệm vụ vô cùng quan trọng làgiúp cho tác phẩm hoàn thiện vòng đời của mình (Hiện thực khách quan - tác giả

độc giả? Trả lời cho thắc mắc đó, lý luận tiếp nhận tự nó đã giải thích rất rõ

"Tiếp nhận văn học là một hoạt động của t duy mang sắc thái cá nhân và đặc

điểm tâm sinh lý của ngời tiếp nhận Vì vậy có thể điều chỉnh đợc quá trình tiếp nhận" [18,105].

Do đó cả GV và HS cần có nhìn nhận đúng đắn, khoa học về mối quan hệgiữa công việc sáng tác văn chơng và thởng thức văn chơng TPVH phải đợc

Ngày đăng: 04/06/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w