Chương trình tiểu học mới nóichung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểuhọc là: - Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng ViệtNghe
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THANH QUÝ
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO
HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỊ TRẤN THUẬN CHÂU - SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THANH QUÝ
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO
HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỊ TRẤN THUẬN CHÂU - SƠN LA
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Trần Thị Thanh Hồng
Sơn La, năm 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng, người
đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóaluận này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo khoaTiểu Học - Mầm Non, Trung tâm Thông tin thư viện Trường Đại học Tây Bắc
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Đinh Thanh Qúy
Trang 4DANH MỤC CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Giả thuyết khoa học 7
8 Đóng góp của đề tài 7
9 Cấu trúc của khóa luận 7
B - PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc 8
1.1.1.Khái niệm đọc 8
1.1.2 Chính âm 9
1.1.3 Trọng âm 9
1.1.4 Ngữ điệu 9
1.1.5 Đọc diễn cảm 10
1.1.6 Văn bản 10
1.2 Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2 11
1.2.1 Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc 11
1.2.2 Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc 12
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học 13
1.3 Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2 17
1.3.1 Mục tiêu 17
1.3.2 Nhiệm vụ 18
1.4 Những vấn đề đổi mới phương phương pháp giáo dục tiểu học hiện nay .20
Tiểu kết chương 1 21
Trang 6CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 22
2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 22
2.1.1 Mục đích khảo sát 22
2.1.2 Đối tượng và thời gian địa bàn khảo sát 22
2.1.3 Nội dung khảo sát 23
2.1.4 Phương pháp khảo sát 23
2.2 Kết quả khảo sát 23
2.2.1 Chương trình phân môn tập đọc lớp 2 23
2.2.2 Thực trạng dạy học rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 27
2.2.3 Thực trạng rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 Trường tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 30
2.3 Một số vấn đề đặt ra khi khảo sát 32
Tiểu kết chương 2 33
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 34
3.1 Vận dụng các phương pháp dạy học TV vào trong dạy – tập đọc 34
3.1.1 Phương pháp luyện đọc theo mẫu 34
3.1.2 Phương pháp đọc diễn cảm 34
3.1.3 Phương pháp giao tiếp (phương pháp đàm thoại) 35
3.1.4 Phương pháp trực quan 35
3.2 Thiết kế mẫu bài “ Bóp nát quả cam” ( SGK TV2 tập 2, tr) 36
3.2.1.Thiết kế giáo án mẫu 36
3.2.1.1 Mục đích của thiết kế giáo án 36
3.2.1.2 Yêu cầu của thiết kế 36
3.2.2 Thiết kế giáo án mẫu ( trang …, phần phụ lục) 37
Tiểu kết chương 3 37
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
1 Kết luận 38
2 Đề xuất 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 7A - PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là công cụ tổ chức quá trình tư duy và là phương tiện bộc lộ tư duy Ngôn ngữ còn
là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.
Ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài người.Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học Bởi vì Tiếng Việt làphương tiện để học sinh giao tiếp và học tập Chương trình tiểu học mới nóichung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểuhọc là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt(Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt độngcủa lứa tuổi
Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của
tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và nhữnghiểu biết sơ giản về xã hội Tự nhiên và con người, về văn hóa văn học của ViệtNam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa
1.2 Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của day đọc ở tiểu học
Tập đọc là một phân môn cụ thể hóa các mục tiêu của môn Tiếng Việt.Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Nănglực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của
“đọc” đọc đúng, đọc nhanh ( đọc lưu loát, trôi chảy ) đọc có ý thức ( không hiểuđược nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm.Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng vàđọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiệnmột trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực tới những kĩ năng khác
1
Trang 8Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểunội dung văn bản Ngược lại nếu không hiểu điều đang đọc thì sẽ không đọcnhanh và diễn cảm được Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm
cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng màđọc đúng Vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào
Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phương pháp và thói quenlàm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách trở thànhmột sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường đó là một trong những điều kiện đểtrường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việcdạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là cólợi ích cho học sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong nhữngcon đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển
Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnhnhiệm vụ rèn luyện kĩ năng, giáo dục lòng yêu sách phân môn Tập đọc còn cónhiệm vụ
+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
+ Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh
+ Giáo giục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩn nĩ cho học sinh
1.3 Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt theo chương trình mới
Môn Tiếng việt trong chương trình tiểu học mới, thể hiện sự đổi mới cả
về mục tiêu – nội dung và phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, các hìnhthức tổ chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh
Hiện nay mục tiêu giáo dục đã xác định được rõ ràng, chương trình SGKtương đối ổn định – nội dung… Chính vì vậy để thường xuyên nâng cao chấtlượng dạy học thì phương pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng
Tầm quan trọng đó phải thể hiện theo quan điểm : “Dạy học lấy học sinhlàm trung tâm” Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh Do
đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc đổi mới phương pháp dạy học
Trang 92
Trang 10Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học tập đọc nóiriêng, là một việc làm rất cần thiết và thường xuyên để nâng cao chất lượng họctập đọc Tạo cho học sinh nắm được các kiến thức kĩ năng theo yêu cầu của mônhọc đúng, để hiểu được nội dung được đọc Còn vận dụng các phương phápphù hợp với đặc điểm tâm sinh lí trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trường
ở vùng miền núi là cần thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mớiphương pháp dạy theo quan điểm giao tiếp
1.4.Thực trạng dạy đọc ở trường tiểu học hiện nay
Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinhchưa đọc được như ta mong muốn, đọc chưa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vìcác em chưa hiểu được nội dung câu thơ câu văn nên các em ngắt nghỉ khôngđúng với nội dung biểu cảm của tác giả
Học sinh chưa hiểu cách nói văn chương, vốn lí luận chưa có các emthường ngắt giọng giữa từ ghép, các em chưa đọc đúng chỗ nào cần lên giọng,chỗ nào cần hạ giọng xuống khi đọc câu hỏi giọng đọc của các em còn đều đềuchưa toát lên được nội dung câu hỏi Khi đọc các câu hội thoại các em chưaphân biệt được giọng của nhân vật, giọng của tác giả
Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bước khi dạy tập đọc theo chươngtrình mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sáchthiết kế bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phương
Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) như thế nào, làm thế nào đểchưa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng,đọc nhanh hơn, rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn,diễn cảm hơn Làm thế nào để hiểu được “văn”, làm sao để phối hợp đọc thànhtiếng và đọc hiểu, với cách dạy như thế nào để cho những gì được đọc hiểu vàtác động vào chính cuộc sống của các em… Đó là những trăn trở của mỗi giáoviên trong giờ tập đọc, từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả chưa cao
mà trong chương trình chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa đúc rút kinh nghiệmtrong giảng dạy
Trang 113
Trang 12Xuất phát từ những lí do nêu trên trong khóa luận này tôi chọn nghiên cứu
đề tài : “Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu- Sơn La.
và ở Tiểu học nói riêng Thực hiện khóa luận này, chúng tôi qyan tâm tới một sốcông trình nghiên cứu sau
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học”( NXB Đại học Sư phạm –2002) với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện đại vàcác kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học Giáo trình cung cấp thôngtin về những vấn đề chung của phương pháp dạy học Tiếng Việt và dạy học cácphân môn Tiếng Việt ở tiểu học Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra nhiềuphương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cự củahọc sinh trong từng phân môn cụ thể
“Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới” ( NXB
Giáo Dục – 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chương trình dạytiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nước trên thế giới Tác giả cho rằng :việc dạy Tiếng Việt phải nhằm cả vào hia chức năng của ngôn ngữ ( công cụ tưduy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc,viết ); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp Bên cạnh
đó, các tác giả cũng đưa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạytiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng như nhược điểm cần khắc phục của những loạichương trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trước đó Đó chính là cơ sở khoahọc và thực tiễn của việc xây dựng chương trình mới, đổi mới phương pháp dạyhọc môn Tiếng Việt nói chung và môn Tập đọc nói riêng
Trang 134
Trang 14Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” – tài liệu đàotạo GV – 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển GV Tiểu học đã tổchức biên soạn các modun đào tạo, bồi dưỡng GV nhằm nâng cao năng lựcchuyên môn – nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương phápdạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình, SGKtiểu học mới Điểm mới ở các tài liệu này là đưa ra nhiều phương pháp dạy họcmới như sử dụng băng hình, phương pháp giao tiếp… nhằm tích cực hóa hoạtđộng học tập.
Nhìn chung các tác giả đều đã cập nhật tới những vấn đề dạy học chungnhất của dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới cũng nhưđưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của từng phân môn,trong đó có phân môn Tập đọc Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập vấn đề rènluyện kĩ năng đọc đúng cho HS tiểu học ở vùng cao cũng như HS chưa có kĩnăng đọc văn bản, Đọc văn bản Tiếng Việt chưa lưu loát
Các công trình nghiên cứu của các tác giả là những định hướng quan
trọng làm cơ sở lí luận để cho người tôi nghiên cứu thực hiện đề tài: “ Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La”.
3 Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy học phân mônTập đọc và rèn kĩ năng đọc văn bản tiếng Việt cho học sinh nhằm tìm ra biệnpháp đọc đúng, đọc hay để giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2 Qua
đó giúp các em nắm được các quy tắc đọc: đọc rõ tiếng, rõ lời và đúng chính
âm, ngắt giọng đúng chỗ, đọc đúng ngữ điệu, thể hiện yếu tố phù hợp ngôn ngữkhi đọc, tốc độ âm lượng đọc Nhờ đó mà nâng cao hiệu quả giờ học tập đọc củahọc sinh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng đọc chưa tốt của học sinh và tìm hiểu nguyên nhânhọc sinh tiểu học đọc sai, đọc chưa diễn cảm khi đọc các văn bản Tiếng Việt
Trang 155
Trang 16- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho họcsinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La.
- Khảo sát nội dung tìm hiểu ở SGK
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc dạy tập đọc Tìm hiểu
về nội dung và phương pháp dạy tập đọc lớp 2
- Khảo sát thực trạng dạy đọc thông qua các giờ dạy tập đọc
- Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh qua một bài tập đọc
5 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và trình độ của bản thân nên tác giả chỉ còn nghiêncứu vấn đề rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học thị trấn ThuậnChâu – Sơn La
Nghiên cứu thực tiễn qua trình đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh ởtrường tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong qua trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứutheo các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phương phápdạy học nói chung và phương pháp dạy tiếng Việt nói riêng trong đó có phươngpháp dạy tập đọc
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu nhằm rút ra được những vấn đề cần thiết để
sử dụng cho thực hiện đề tài, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài,đưa đề tài vào áp dụng phù hợp với thực tế
Bên cạnh đọc các tài liệu trên còn nghiên cứu thêm SGK, sách giáo viên
từ lớp 1, 2 của chương trình mới
Trên cơ sở nghiên cứu SGK để nắm bắt được chương trình các môn, mốiquan hệ giữa các môn học đối với SGK còn tập nghiên cứu sâu vào phân mônTập đọc
Trang 176
Trang 186.2 Phương pháp điều tra khảo sát
- Điều tra thực trạng dạy học ở Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu –Sơn La
- Dạy một tiết tập đọc ở lớp 2 bài “ Bóp nát quả cam”
- Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2
7 Giả thuyết khoa học
Hiện nay học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn Lacòn hạn chế về việc đọc văn bản Tiếng Việt nếu giáo viên có biện pháp phù hợptrong quy trình hướng dẫn học sinh đọc một cách khoa học thì sẽ góp phần khắcphục những khó khăn đó Các biện pháp đề xuất trong khóa luận được nghiệmthu hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói giúp học sinh lớp 2 luyện đọc tốt hơn
8 Đóng góp của đề tài
Về lí luận: Nghiên cứu được những vấn đề lí luận về vai trò của phân mônTập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng; Khẳng định những cơ sở khoahọc của việc dạy học tập đọc Đề xuất những biện pháp rèn luyện kĩ năng đọcvăn bản Tiếng Việt cho học sinh
Về thực tiễn: Khảo sát đánh giá được thực trạng rèn kĩ năng đọc văn bảnTiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La;Thiết kế mẫu giáo án bài tập đọc ứng dụng những biện pháp đã đề xuất
9 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận gồm 3chương:
Chương 1, Cơ sở lí luận
Chương 2, Cơ sở thực tiễn
Chương 3, Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc lớp 2
Trang 197
Trang 20B - PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc
1.1.1.Khái niệm đọc
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lựchoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiệntrong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng, nghe, nói, đọc,viết Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là một quá trình chuyển dạng từ hìnhthức viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (úng dụng với hình thức đọcthành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vịnghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ) Hai mảng này có liên quan vớinhau bởi vì đọc thành tiếng đúng thì mới hiểu và ngược lại có hiểu thì mới đọcđúng đọc hay.[7, trang 7]
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hóa khoa học
tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phầnlớn đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thểtiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bìnhthường có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại Biết đọccon người đã nhận được khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con người biếttìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội tư duy,biết đọc con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bảngiúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tưtưởng, tình cảm của người khác đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, conngười không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nởnhững ước mơ tốt đẹp được khơi dậy năng lực hành động, sức sáng tạo cũngnhư bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không có điều kiệnhưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được nhâncách một cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin đang bùng
nổ thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồnthông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tựu học học cả đời
8
Trang 21Vì những lí do trên, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học Đọc trởthành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên là trẻ phảihọc đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc chiếm lĩnh được một ngôn ngôn ngữ
để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập Nó tạo điều kiện đểhọc sinh có khả năng có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là mộtkhả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũngnhư tư duy của người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp cho học sinh hiểu biết hơn bồidưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp dạy cho các em biết suy nghĩ một cáchlôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì
nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
1.1.2 Chính âm
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệulực về mặt xã hội Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở Tiểu học.Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp ta xác định nội dung đọc đúng,đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc [7, trang 12, 13]
1.1.3 Trọng âm
Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng) Dựa vào sựphát âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanhđiệu rõ hay không rõ, người ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng cótrọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm (tiếng có trọng âmyếu) Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quantrọng trong câu Trọng âm yêu đi với những từ không có hoặc có ít thông tinmới Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài những từ quantrọng trong bài [7, trang 16]
1.1.4 Ngữ điệu
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấpgiọng nói, giọng đọc Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợpcác phương tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) có quan hệ tương tác lẫn nhau
Trang 229
Trang 23được sử dụng ở bình diện câu như cao độ (độ cao thấp của âm thanh), cường độ(độ lớn, nhỏ, mạnh, yếu của âm thanh), tốc độ (độ nhanh chậm, ngắt nghỉ), trường
độ (độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói,yếu tố tham gia tạo thành lời nói Ngữ điệu được sử dụng để biểu thị ý nghĩa vàphạm trù ngữ pháp cũng như các sắc thái cảm xúc biểu cảm [7 , trang 16]
1.1.5 Đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm ở đây được hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọcnhững văn bản văn chương hoặc các yếu tố của ngôn ngữ văn chương Ở Tiểuhọc không yêu cầu HS có phong cách riêng khi đọc mà yêu cầu HS có ý thứcđọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắmtrong văn bản được đọc, đồng thời cũng biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ củangười đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ
và việc hiểu là cơ sở của đọc diễn cảm Vì vậy để đọc diễn cảm, trước hết phảixác định nội dung, nghĩa lí của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệuchung của bài Đây là nhiệm vụ của quá trình đọc hiểu Kết thúc quá trình đọchiểu, HS phải xác định được cảm xúc của bài, ví dụ cần đọc với giong: vui,buồn, tự hào, thiết tha, trang nghiêm, sâu lắng, ngợi ca, vui tươi, nhẹ nhàng,trầm hùng, mạnh mẽ, tâm tình Xác định giọng điệu chung của một bài đọc cũngnhư xác định được cảm xúc chung của một bài hát mà người nhạc sĩ thườngchỉ dẫn trên đầu mỗi bản nhạc [ 7, trang 17]
1.1.6 Văn bản
Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thườngbao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề vàtrọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mụcđích giao tiếp nhất định [7, trang 20]
Chương trình tập đọc lớp 2 đã sử dụng những văn bản nhiều thể loại khácnhau, có thể gọi chung là nhóm Các văn bản nghệ thuật ( truyện, thơ…) nhómCác văn bản khác ( khoa học, hành chính, báo chí) phản ánh nhiều lĩnh vực đờisống khác nhau
Trang 2410
Trang 251.2 Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2
1.2.1 Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc
Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắmbản chất kĩ năng đọc Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc là cơ sở của việcdạy đọc
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tinbằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ qua thị giác
Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết mới nhau,
là việc sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn
tự ghi lại bằng lời nói âm thanh Đó là vận động tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ
mã chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệmchứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì được đọc Đọcbao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm,các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc, càng ngày những yếu
tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn
Nhiệm vụ cuối cùng là sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữanhững mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc Đó là sự phân biệt người mới biết đọc
và người đọc thành thạo Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên baonhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác hoàn thiện bấy nhiêu
Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với kĩ thuật đọc ( tức là việc chuyểndạng hình thức chữ viết của từ và âm thanh ) đọc được hiểu và kĩ thuật đọc cùngvới sự thông hiểu đọc ( không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài ) ýnghĩa cả hai mặt của thuật ngữ “đọc” được ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học
và phương pháp dạy học
Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dàiT.G.E Gôrốp chia việc hình thành kĩ năng này qua ba giai đoạn phân tích, tổng hợp(còn gọi là phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giaiđoạn tự động hóa
Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp Thời gian gần đây người ta đã chútrọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng
Trang 2611
Trang 27đọc, làm việc với văn bản Đòi hỏi giờ tổ chức tập đọc sao cho việc phân tích nộidung của bài học, đồng thời hướng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hướng đếnđọc có ý thức bài đọc.
Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đưa ra chocác em đọc thì các em sẽ có hứng thú học tập và không có khả năng thành công
Do đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc
Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp có
ý thức một phương tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêuđạt tới sự chiếm lĩnh ngôn ngữ Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọcthầm
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bước sau:
+ Hiểu nghĩa các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các khối đoạn
+ Hiểu nghĩa được cả bài
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những câuđiều mình học Hầu như toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặtchữ, đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì chưa đủ thì giờ và sức lực để nhận biết.Mặt khác, do vốn từ còn năng lực liên kết câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu
và nội dung còn khó khăn Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp hình thành nănglực đọc hiểu cho học sinh tiểu học
1.2.2 Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc
Phương pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở giáo dục học Giáo dục họccung cấp cho phương pháp dạy học tập đọc những hiểu biết về mục tiêu giáodục nói chung Mục đích của giáo dục là phát triển tâm hồn và thể chất của họcsinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tham gia vào cuộc sống Phân môn Tập đọcchính là sự cụ thể hóa mục tiêu của khoa học giáo dục, nó hiện thực hóa mụctiêu nhiệm vụ giáo dục học đề ra: phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách, hìnhthành thói quen khoa học, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh
Trang 2812
Trang 29Phương pháp dạy học Tập đọc phải vận dụng các nguyên tắc cơ bản củagiáo dục như: nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn với líthuyết, nguyên tắc gắn với thực hành, nguyên tắc trực quan…
Phương pháp dạy học Tập đọc chọn ở giáo dục học những hình thức tổchức dạy học theo đặc trưng môn học của mình Ở nhà trường cũng như trong
đời sống xã hội, chúng ta thường gặp các hình thức đọc như: đọc thành tiếng, đọc nhẩm,đọc đồng thanh, đọc diễn cảm, đọc thầm.
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học
Phương pháp dạy tập đọc, phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học nó liên quanmật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm, chính tả,chữ viết, ngữ điệu, nghĩa của từ, câu, đoạn Dựa trên cơ sở nghiên cứu của ngônngữ học xác lập nội dung và phương pháp dạy tập đọc Bốn phẩm chất của đọckhông thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học không coi trọng đúng mức những
cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo hiệu quả dạyhọc
Những hiểu biết về chính âm trong tiếng Việt sẽ giúp GV dạy tốt hơnphân môn Tập đọc ở tiểu học
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệuquả về mặt xã hội
Theo đa số nhà nghiên cứu nội dung cơ bản của chính âm trong TiếngViệt hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm ( cách phát âm ) của phương ngữ Bắc Bộ
mà tiêu biểu là tiếng Hà Nội làm căn cứ bổ xung cách phát âm Một số phụ âmquặt lưỡi ( tr, s, r ) và không phát âm phân biệt d/gi
Những hiểu biết về vấn đề ngữ điệu Tiếng Việt là cơ sở để GV hướng dẫn
HS đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên cao hay hạ thấpgiọng đọc, giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu,ngữ điệu gồm toàn bộ các phương tiện siêu đoạn ( siêu âm đoạn tính ) được sửdụng bình diện câu như độ thấp của âm thanh cường độ mạnh yếu, hay là môi
Trang 3013
Trang 31trường chuyền dẫn (độ dài ngắn của âm thanh, hay là thời gian thực tế của âmthanh) âm sắc ( là sắc thái riêng của âm thanh)
Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng Việt như các ngônngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng(trường độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả cường độ và trường độ)
Những hiểu biết về lí thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc chohọc sinh là cơ sở để GV hướng dẫn học sinh đọc văn bản theo thể loại.Việc dạyhọc không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để phân tích, đánhgiá một văn bản nói chung cũng như lý thuyết để phân tích đánh giá các tácphẩm văn chương nói riêng Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải dựatrên những tiêu chuẩn đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và tínhthẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng,các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm của thể loại văn chương dùnglàm ngữ liêu đọc ở Tiểu học
Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh,một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử… là khác nhau Việc hướngdẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đềtài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung hình thức, các biện pháp thểhiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phươngtiện, biện pháp tu từ
Khi luyện đọc cho học sinh GV cần quan tâm tới hình thức đọc thành tiếng Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc Khi đọc cần ngồingay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nằm trong khoảng từ 30-35cm, cổ vàđầu thẳng, phải hít sâu và thở ra chậm để lấy hơi Ở lớp khi được cô giáo gọiđọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin không hấp tấp đọc ngay
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cường độ và tư thếkhi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thànhtiếng người đọc đóng một lúc hai vai: Một vai – và mặt này thường được nhấnmạnh – là người tiếp nhận thông tin, bằng chữ viết, vai thứ hai là người
Trang 3214
Trang 33trung gian để truyền thông tin, đưa văn bản tới người nghe Khi giữ vai thứ hainày, người đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản Vì vậy khi đọc thành tiếngngười đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai Đọc cùngvới phát biểu là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nêngiáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em
sự tự tin cần thiết Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến người nghe Giáoviên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ để cho mình cô giáo
mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cùng đọc đủ lớn cho tất cả những ngườinày nghe rõ Nhưng như thế hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá to hoặc gằnlên Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí” giáo viên cần tập cho các emđọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi Giáo viên nên chohọc sinh đứng lên bảng để đối diện với những người nghe tư thế đứng đọc phảiđàng hoàng, vừa thoải mái và cân bằng hai tay
Đọc thành tiếng nhằm mục đích luyện đọc đúng cho học sinh Đọc đúng
là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi Đọcđúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng Đọc đúng phải thể hiệnđúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theocách phát âm địa phương lệch chuẩn, với những học sinh dân tộc thì lưu ýkhông để hệ thống ngữ âm mẹ đẻ ảnh hưởng tiêu cực đến phát âm Tiếng Việt.Đọc đúng bao gồm bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắtnghỉ hơi đúng chỗ ( đọc đúng ngữ điệu)
Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị TiếngViệt Chẳng hạn đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch Đọc đúng các chính âm: Có
ý thức phân biệt để không đọc “ Ơn, ân” “hoa lay ơn”, “hoa lay ân” Đọc đúngcác âm cuối Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phương như lẫn thanh(~) và thanh nặng (.) VD: Dũng sĩ – Dụng sĩ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiểutấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữacác tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng Khi đọc không được tách một từ làm hai.VD: Vậy tại sao chiều hôm/ qua con im lặng Không tách từ chỉ loại với danh từ
mà nó đi kèm:Ví dụ không đọc: Lặng rồi cả/ tiếng con ve Con ve cũng/ mệt vì hè
Trang 3415
Trang 35nắng oi Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Mẹ
là / ngọn gió của con suốt đời.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn
ở dấu chấm Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ởcuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm,với câu ccauf khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiếnkhác nhau Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm
Trình tự luyện đọc đúng : Trước khi lên lớp giáo viên phải dự tính đểngăn ngừa các lỗi khi đọc Tùy từng đối tượng học sinh, giáo viên xác định cáclỗi phát âm mà học sinh địa phương hoặc học sinh dân tộc thiểu số dễ mắc phải
để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc trước
Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh,cuối cùng cho các em đọc cá nhân thành tiếng, từ khó này, với những câu màgiáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai phách câu Cũng tiến hành như vậy,cuối cùng mới luyện đọc cả bài
Luyện đọc nhanh : Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, làviệc đọc không ê, a ngặc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng.Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc.Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ nhanh nhưng
để cho người nghe hiểu kịp thời Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc liếnthoắng Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc
độ của lời nói
Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủtốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ quy định Đơn vị đểđọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cáchgiữ nhịp đọc Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sựkiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài
có tiếng cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút Định đọc tốc độ nhưthế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc
Trang 3616
Trang 37Bên cạnh luyện đọc thành tiếng để HS đọc đúng, GV cần hướng dẫn HSđọc hiểu văn bản Tiếng Việt bằng hình thức đọc thầm Ở hình thức đọc này GVcần chú ý tới học sinh tư thế đọc.
Cũng như khi ngồi đọc (và ít khi đứng đọc) thành tiếng, tư thế ngồi đọcthầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm
Kỹ năng đọc thầm phải chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to → đọcnhỏ → đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt, khôngmấp máy môi (đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bước: Di chuyển mắt theoque trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển Giáo viên phải tổ chức quátrình chuyển từ ngoài vào trong này
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thờigian đọc thầm cho từng đoạn và bài
Đọc hiểu : được thể hiện qua hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khảnăng thông hiểu nội dung văn bản đọc Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có
ý thức đọc hiểu Kết quả của đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm
từ, câu, đoạn, bài Tức là toàn bộ những gì được đọc Như tâm lí ngôn ngữ học
đã chỉ ra để hiểu và nhớ những gì được đọc người đọc không phải xem tất cảcác chữ đều quan trọng như nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ
“chìa khóa” những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản Đó là những từ để giúp tahiểu được nội dung của bài Trong những bài khoa văn chương đó là những từdùng “đắt” để tạo nên giá trị nghệ thuật của từ có tín hiệu nghệ thuật Đó lànhững từ giàu màu sắc biểu cảm như các từ láy, những từ đa nghĩa, những từmang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chương
Tiếp đó cần hướng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quantrọng của bài Những câu nêu ý nghĩa chung của bài
1.3 Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2
1.3.1 Mục tiêu
Phân môn Tập đọc lớp 2, là môn học rất quan trọng Vì đây là cơ sở banđầu giúp các em rèn kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu văn bản …Từ
Trang 3817
Trang 39đó giúp các em hiểu biết về thiên nhiên xã hội, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt…Góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.
- Mục tiểu của phân môn Tập đọc lớp 2 về chuẩn kiến thức kĩ năng
chương trình Tiểu học mới là:
+ Đọc đúng và trôi chảy một đoạn văn, đoạn đối thoại hoặc một bài vănngắn
+ Hiểu được ý chính của đoạn
- Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát ra âm thanh (tiếng) hình thức đọcnày dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của người mới tập đọc là: muốnđọc hiểu cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác: miệng đọc, mắtnhìn tai nghe như vậy mới dễ dàng nhớ nội dụng
Đọc thành tiếng có các mức độ sau:
Đọc đúng: phát âm chính xác các tiếng… cần điều tra lỗi phát âm của học
sinh từng vùng để có biện pháp sửa chữa thích hợp
Đọc rõ ràng, rành mạch: đọc rõ tiếng, từ, cụm từ, ngắt nghỉ đúng chỗ,
đúng dấu câu, cường độ vừa phải, (không đọc to quá hoặc quá nhỏ, tốc độ vừaphải không ê a ngắc ngứ, không liến thoắng)
Đọc lưu loát: đọc với tốc độ nhanh Phát âm rõ ràng, rành mạch không bị
vấp váp, biết ngừng nghỉ đúng dấu câu Phải luyện tập dần dần, từ đọc đúng tiếntới đọc nhanh
Đọc diễn cảm: là kĩ năng dùng ngữ điệu, chỗ ngưng giọng và các thủ pháp
khác để làm nổi bật các ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi trong nội dung bàihọc, đồng thời biểu lộ sự cảm thụ của cá nhân đối với bài học Đọc
Trang 4018