Lịch sử nghiên cứu vấn đềKhai thác kênh hình trong dạy học phần lịch sử trong môn Tự nhiên, xãhội ở Tiểu học đã được đề cập trong một số công trình, bài viết cụ thể: +“Biểu tượng lịch sử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH VĂN THẮNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI DẠY BÀI 12: “VƯỢT QUA TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” - SÁCH GIÁO KHOA
LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH VĂN THẮNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI DẠY BÀI 12: “VƯỢT QUA TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” - SÁCH GIÁO KHOA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo TS Phạm Văn Lực, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Phòng khoa học, thư viện trườngĐại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học – Mầm non đã tạo điều kiệngiúp đỡ em
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các em học sinhtrường Tiểu học Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã giúp đỡ em trongquá trình khảo sát và thực nghiệm dạy môn Lịch sử
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên
đã có những ý kiến đóng góp thiết thực, những tư liệu tham khảo quý báu đểgiúp em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Người thực hiện
Đinh Văn Thắng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của khóa luận 3
4 Giả thiết khoa học 4
5 Kết cấu của khóa luận 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC KÊNH CHỮ, KÊNH HÌNH 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Nhiệm vụ, mục tiêu của môn học lịch sử ở trường phổ thông 5
1.1.2 Quan niêṃ về“kiến thức” và “kiến thức licḥ sử” 8
1.1.3 Vai trò của kênh hình trong quá trình cung cấp kiến thức cho học sinh 9
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc khai thác kênh hình trong dạy học lịch sử 16
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 24
2.1 Quan niệm của giáo viên và học sinh 24
2.2 Phương pháp dạy học cũ 25
2.3 Phương pháp dạy học mới 25
2.4 Giải pháp 26
2.4.1 Khâu chuẩn bị về kênh hình 27
2.4.2 Cách thức khai thác và hệ thống câu hỏi cho một số dạng kênh hình 28
2.5 Khai thác một số kênh hình trong bài 12: “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” 33 2.5.1 Khai thác kênh hình 1: 33
2.5.2 Khai thác kênh hình 2: 33
2.5.3 Khai thác kênh hình 3: 34
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 36
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 36
Trang 63.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 36
3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm 36
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 36
3.3.2 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 37
3.4 Kết quả thực nghiệm 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kiến thức cơ bản trọng tâm là những đơn vị kiến thức của bài học bắt buộcgiáo viên phải truyền thụ cho học sinh Kiến thức cơ bản trọng tâm của bài họclịch sử ở tiểu học chủ yếu là: mốc thời gian, hiện vật lịch sử, tranh ảnh lịch sử,các phương tiện trực quan quy ước như bản đồ, sơ đồ, lược đồ, đồ thị, biểu đồ…
Để có kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học truyền thụ cho học sinh, đòi hỏigiáo viên phải có biện pháp cách thức cụ thể để khai thác trong sách giáokhoa, nhất là trong kênh hình Thế nhưng, hiện nay vấn đề này vẫn chưa đượcquan tâm một cách đúng mức; nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, songchủ yếu là:
+ Chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ của SGK và coi đây là nguồn cungcấp kiến thức duy nhất trong dạy học lịch sử mà không thấy rằng kênh hìnhkhông chỉ là nguồn kiến thức quan trọng cung cấp một lượng thông tin đáng kể
mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học trở nên sinh động, hấpdẫn hơn, gây hứng thú học tập hơn cho học sinh
+ Không ít giáo viên chưa hiểu rõ xuất sứ nội dung ý nghĩa của kênh hìnhtrong SGK Trong các đợt bồi dưỡng thay sách, giáo viên hầu như chỉ được giảithích về cấu tạo chương trình, những điểm mới về nội dung SGK mà khôngđược chú trọng bồi dưỡng về việc khai thác sử dụng kênh hình, mặc dù số lượngkênh hình trong SGK hiện nay đã được tăng cường đáng kể so với trước
+ Nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị, nội dung của kênh hình nhưnglại ngại sử dụng và sợ mất thời gian hoặc nếu có sử dụng thì phần nhiều vẫn chủyếu là để minh hoạ cho kênh chữ…
Vì thế, việc lựa chọn “Khai thác kênh hình khi dạy bài 12: Vượt qua tình thế hiểm nghèo - sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 5” làm đề tài nghiên cứu,
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 81
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khai thác kênh hình trong dạy học phần lịch sử (trong môn Tự nhiên, xãhội) ở Tiểu học đã được đề cập trong một số công trình, bài viết cụ thể:
+“Biểu tượng lịch sử với học sinh tiểu học” của tác giả Trần Văn Lưu
trường Trung hoc sư phạm Thanh Hóa Tìm hiểu về một số biện pháp cụ thể hóa
sự kiện, nhân vật [1]
+ Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1, Giáo sư Phan NgọcLiên (chủ biên), Phó giáo sư Tiến sĩ Trịnh Đình Tùng, Giáo sư Tiến sĩ NguyễnThị Côi, Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2002, nêu lên những vấn đề khái quátnhất về biểu tượng lịch sử Giúp chúng ta hiểu thế nào là biểu tượng lịch sử, vaitrò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng lịch
sử [2]
+ Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCSphần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trườngTHPT” tập 1 phần lịch sử Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên chochúng ta nắm được và lựa chọn các phương pháp phù hợp để tạo biểu tượng lịch
sử cho học sinh Vì đặc điểm của tri thức lịch sử ở cấp tiểu học cũng như ở cáccấp học cao hơn, chỉ khác là nó ở mức đơn giản hơn nhưng ta có thể vận dụng.Nguyễn Thị Côi, (2011), “Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu quả bàihọc lịch sử ở nhà trường phổ thông”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội [3]
+ Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường, (2003), “Những vấn đề chung về bộmôn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm”, NXB Đại học sưphạm, nêu lên vai trò, nhiệm vụ của phân môn lịch sử ở trường phổ thông [5]
+ Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, NguyễnMạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình, (2011), “Rèn luyện kĩnăng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB Đại học sư phạm nêu lên những kĩnăng cơ bản mà người GV cần phải có, làm gì để có được những kĩ năng đó [7]
+ Hội Giáo dục Lịch sử (thuộc hội khoa học Lịch sử Việt Nam), khoa Sửtrường Đại học Sư phạm (ĐHQG HN), trung tâm nội dung phương pháp (ViệnKhoa học Giáo dục), (1996), “Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy “học sinh làm
Trang 102
Trang 11trung tâm”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, để ra cách thức, nhiệm vụ cần làm
để đối mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực lấy HS làm trung tâm, ýnghĩa của phương pháp này đối với kết quả giảng dạy [9]
Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình của
PGS.TS Trịnh Đình Tùng Hệ thống các phương pháp dạy học Lịch sử ở trường THCS - Sách CĐSP, xb lần 2 NXB Giáo dục 2001; Phan Ngọc Liên Phương pháp dạy học lịch sử Tập 2 NXB Đại học sư phạm 2002; Phạm Ngọc Liễn Phương pháp giảng dạy môn học lịch sử ở trường phổ thông cấp II, Tập 1.
NXB Giáo dục 1975
Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề này một cáchhoàn chỉnh, hệ thống; nhiều vấn đề khoa học vẫn chưa được làm rõ; vì vậy việc
đi sâu nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của khóa luận
+ Đối tƣợng nghiên cứu: Kênh hình, kênh chữ trong bài 12: vượt qua tình thế hiểm nghèo sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 5
+ Phạm vi nghiên cứu: Do khả năng và điều kiện hạn chế, tôi chỉ nghiên
cứu khai thác kiến thức cơ bản trọng tâm chứa đựng trong kênh hình, kênh chữtrong SGK lịch sử lớp 5, cụ thể là bài 12: “vượt qua tình thế hiểm nghèo” ở trường Tiểu học: trường tiểu học Quyết Tâm- thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La
+ Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc khai thác sử dụng kênh hình,
kênh chữ trong SGK truyền thụ tốt những kiến thức lịch sử cho học sinh, giúphọc sinh lĩnh hội kiến thức lịch sử một cách chủ động tích cực, sáng tạo, đồngthời cải tiến dạy học lịch sử theo phương pháp mới
+ Khách thể và địa bàn nghiên cứu: Học sinh khối 5 trường Tiểu học
Quyết Tâm- thành phố Sơn La- Sơn La
+ Nhiệm vụ nghiên cứu:
* Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc khai thác kênh hình, kênh chữ trong dạy họcLịch sử 5
Trang 123
Trang 13* Tiến hành tìm hiểu thực trạng của việc khai thác kiến thức cơ bản trongkênh hình, kênh chữ trong dạy học Lịch sử 5 ở một số trường Tiểu học ở thànhphố Sơn La.
* Một số giải pháp nhằm khai thác kiến thức cơ bản trong kênh hình, kênhchữ để đạt hiệu quả
* Tiến hành thể nghiệm dạy học ở một số trường Tiểu học
+ Đóng góp của khóa luận:
* Cụ thể và làm phong phú thêm hệ thống các PPDH Lịch sử ở trường Tiểuhọc
* Thiết thực đối với phương pháp, tạo sự sinh động cho bài giảng, gây hứngthú học tập cho học sinh
* Nâng cao chất lượng bài học Lịch sử, đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục,khắc phục tình trạng chán học môn Lịch sử
4 Giả thiết khoa học
Hiện nay việc khai thác kiến thức trọng tâm trong kênh hình, kênh chữmôn Lịch sử ở trường Tiểu học còn chưa được chú trọng và kết quả chưa cao.Nếu đưa ra một số giải pháp cho việc khai thác kiến thức cơ bản của kênh hình,kênh chữ ở trong các bài học nhằm đổi mới phương pháp dạy học để giúp các
em khắc sâu kiến thức hơn, từ đó đạt kết quả học tập cao hơn
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục khóa luận đượckết cấu thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc khai thác kênh hình kênh chữ Chương 2 Thực trạng của việc khai thác kênh hình trong dạy học phần lịch sử ở trường Tiểu học trong những năm gần đây
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 144
Trang 15“Vì lợi ích mười năm phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”
Lời dạy đó của Người đã khẳng định vai trò to lớn của sự nghiệp giáo dụcđối với sự phát triển của xã hội
Theo Nghị quyết của Đại hội X (năm 2006) khẳng định mục tiêu của giáodục phổ thông là: “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt NamXHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tụchọc lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [9].Nhiều văn kiện chính trị cũng khẳng định mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạonhững con người có năng lực, phẩm chất, đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ, đàotạo những con người “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác Hồ đã dạy
Để đạt được mục tiêu trên đây mỗi môn học có vai trò, vị trí nhất định,trong đó môn lịch sử có ưu thế đặc biệt trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức,hình thành thế giới quan cho thế hệ trẻ Cũng như các môn học khác môn lịch sử
có 3 nhiệm vụ cơ bản: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Cùng với các môn họckhác, các hoạt động ở trường phổ thông, môn Lịch sử với chức năng và nhiệm
vụ của mình góp phần tích cực cùng xã hội hoàn thành sứ mạng giáo dục thế hệtrẻ trong điều kiện hiện tại
* Giáo dưỡng
Môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa họclịch sử, trên cơ sở cung cấp, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở Tiểuhọc, THCS, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử của bậc THPT
5
Trang 16Ở bậc Tiểu học, môn lịch sử trang bị cho các em một số hiểu biết cơ bản,đơn giản, những kiến thức chủ yếu về quá trình phát triển lịch sử với những sựkiện nổi bật ở từng thời kì từ nguồn gốc đến nay mà trọng tâm là thời kì cận đại
và hiện đại chú trọng đến những vấn đề, sự kiện có liên quan đến lịch sử dân tộc
Ở cấp học này các em được tiếp cận ban đầu với quan điểm duy vật lịch sử, vềvai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự phát triển hợp quy luật của xãhội loài người, vai trò, ý nghĩa của lao động sản xuất với sự phát triển của conngười và xã hội
Ở bậc THCS, THPT học sinh được nâng cao những hiểu biết đã được họcmột cách có hệ thống, sâu sắc hơn Môn học Lịch sử ở trường THCS, THPTcung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản,các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên đất, niên đại, những hiểu biết về quanđiểm lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập phùhợp với yêu cầu và trình độ học sinh Ở cấp học này học sinh được nâng cao vàhoàn chỉnh hơn, những kiến thức về lịch sử xã hội loài người từ thời nguyênthuỷ, cổ đại, trung đại đến các thời kì cận đại, hiện đại Qua đó, học sinh hiểu rõhơn quy luật phát triển của xã hội loài người, những tác động, ảnh hưởng củalịch sử thế giới đến lịch sử dân tộc, mối quan hệ giữa lịch sử nước ta với lịch sửthế giới
* Giáo dục
Tất cả các môn học từ tự nhiên đến xã hội ở những mức độ khác nhau đềugóp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh Ví dụ như: mônĐịa lí dạy cho học sinh hiểu rõ đất nước mình để tăng thêm lòng yêu Tổ quốc,yêu quê hương, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, thiên nhiên; môn Vănhọc giúp cho học sinh hiểu tính nhân văn, yêu quý con người, dân tộc và văn hoáViệt Nam Riêng môn Lịch sử có những ưu thế rất lớn mà không bộ môn nào cóđược trong giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước; truyền thống đấu tranhkiên cường và bất khuất của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ
Tổ quốc và lao động xây dựng đất nước, cùng những truyền thống đạo lý và ýthức tốt đẹp của dân tộc Lịch sử không chỉ giáo dục học sinh tình cảm yêu
Trang 176
Trang 18ghét trong đấu tranh giai cấp, sự căm thù, chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà cònbồi dưỡng cho học sinh biết yêu quý trân trọng lao động và các giá trị của laođộng, yêu cái đẹp, có óc thẩm mĩ, biết cách ứng xử đúng đắn trong cuộc sống.
Như vậy, tác dụng giáo dục của lịch sử ở trường Tiểu học,THCS,THPT làgiáo dục trí tuệ, tư tưởng tình cảm, đạo đức; lịch sử còn góp phần quan trọng vàoviệc giáo dục lí tưởng cho thế hệ trẻ Tác dụng giáo dục của Lịch sử là “dạy chữnên người” [2]
* Phát triển
Bộ môn Lịch sử góp phần rèn luyện tư duy lịch sử cho học sinh và trên cơ
sở đó hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường Tiểuhọc, cụ thể là:
Thứ nhất: Bồi dưỡng học sinh tư duy biện chứng trong nhận thức và hànhđộng, biết đánh giá, phân tích, liên hệ
Thứ hai: Bồi dưỡng kỹ năng học tập, thực hành bộ môn: sử dụng sáchgiáo khoa, các tài liệu tham khảo khác, khả năng trình bày nói và viết, làm và sửdụng một số đồ dùng trực quan nhất là loại đồ dùng trực quan quy ước, nhữnghoạt động ngoại khoá của môn học
Thứ ba: Vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay
Như vậy, mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường Tiểu học là cung cấp nhữngkiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và
xã hội loài người Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành.Thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.Việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông góp phần nâng cao sự hiểu biết mà họcsinh đã tiếp thu ở Tiểu học đặc biệt là trình độ lí thuyết trong nhận thức lịch sử
và năng lực tư duy, thực hành
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên có nhiều yếu tố chi phối, tácđộng: sự quan tâm của xã hội với môn Lịch sử, sự đầu tư trang thiết bị dạy họclịch sử Song yếu tố quyết định là vấn đề phương pháp dạy học lịch sử Gần đâyliên tục có những hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong đó các
Trang 197
Trang 20nhà giáo dục lịch sử khá quan tâm đến một phương pháp sử dụng đồ dùng trựcquan bao gồm cả việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huytính tích cực học tập của học sinh.
1.1.2 Quan niêṃ về“kiến thức” và “kiến thức licḥ sử”
Kiến thức là những tri thức tương đối hoàn chỉnh, có ý nghĩa thiết thực
đối với cuộc sống của mỗi người cũng như cả cộng đồng và được truyền cho nhau “Kiến thức” và“tri thức” đều lànhững hiểu biết của con người vềtư ̣ nhiên,
xã hội và bản thân mình, nhưng kiến thức lànhững tri thức đươc ̣ choṇ loc ̣ nên hoàn chinh̉ hơn, có ý nghĩa giáo dục, có tác dụng thiết thực đối với đời sống con người vàxa ̃hôị Những tri thức, kiến thức đó chỉ có thể trở thành kiến thức của mỗi HS thông qua quá trình nhận thức, học tập
Thuật ngữ “lịch sử” có hai ý chính là “hiện thực lịch sử” và “nhận thức lịch sử” Kiến thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá trình phát
triển của xa ̃hôịloài người vàdân tôc ̣ từ xưa đến nay đa ̃đươc ̣ khoa hoc ̣ licḥ sử xác nhận
Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông đươc ̣ lưạ choṇ từ kiến thức sử h ọc,
mang đầy đủđăc ̣ trưng của kiến thức lịch sử và được ghi vào sách giáo khoa (SGK) Chúng b ao gồm sư ̣kiêṇ , nhân vâṭ, không gian , thời gian , biểu tương ̣ , khái niệm, nguyên lý, quy luâṭ, những hiểu biết vềphương pháp học tập … giúp
HS nhâṇ thức licḥ sử m ột cách cu ̣thể, toàn diện, có hệ thống Những đặc trưng
cơ bản của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông gồm: tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính toàn diện
Bên cạnh những đặc trưng ấy, kiến thức lịch sử ở trường phổ thông cònđược chia thành nhiều loại khác nhau như kiến thức các lớp 4, 5… đến 12; kiếnthức mang tên các yếu tố sự kiện, biểu tượng, khái niệm, quy luật…; kiến thứclịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới; kiến thức “sử” và “luận”; kiến thức về cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá…; kiến thức cơ bản và kiến thứckhông cơ bản Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, người ta dùng tất cảcác cách ấy, trong đó cách phân loại kiến thức lịch sử thành kiến thức cơ bản vàkiến thức không cơ bản được sử dụng nhiều nhất
Trang 218
Trang 221.1.3 Vai trò của kênh hình trong quá trình cung cấp kiến thức cho học sinh Đặc điểm của tri thức lịch sử và vai trò của việc sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử
Tri thức lịch sử có nhiều đặc điểm song có những đặc điểm sau chi phốimạnh mẽ đến việc sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử nói chung và trongdạy học phần Lịch sử Việt Nam nói riêng
Tính quá khứ
Lịch sử là bộ môn mang đậm tính quá khứ bởi vì lịch sử là quá trình pháttriển của xã hội loài người từ khi con người xuất hiện đến nay Đó là tất cảnhững gì đã xảy ra trong quá khứ, là những chuyện đã xảy ra và kết thúc trongquá khứ, ví dụ : chiến tranh thế giới 1, chiến tranh thế giới 2, cách mạng thángTám ở Việt Nam, chiến tranh của Mĩ ở Việt nam … Vì vậy trong học tập lịch sửhọc sinh không thể trực tiếp quan sát (“trực quan sinh động”) đối tượng nghiêncứu như trong các bộ môn khoa học khác Trong học tập lịch sử cũng không thểtiến hành các thí nghiệm để dựng lại hiện thực lịch sử khách quan (trừ một vàitrường hợp đặc biệt) Người ta thường chỉ nhận thức được lịch sử một cách giàntiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, các dấu vết của quá khứ hoặc dựa vàocác hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích,suy nghĩ những vấn đề chúng ta đang nghiên cứu cần phải lưu ý rằng khi sửdụng các nguồn tài liệu chỉ sử dụng để tham khảo, cần phải loại bỏ yếu tố chủquan, phi hiện thực, yếu tố hư cấu để nhận thức đúng hiện thực lịch sử như nó đãdiễn ra trong quá khứ
Tính không lặp lại
Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và khônggian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần trong một thời gian vàkhông gian nhất định Điều đó để phân biệt sự kiện này với sự kiện khác (ví dụchiến tranh thế giới 2 gần với khoảng thời gian từ 1939 đến 1945, gắn với khônggian là chiến trường ở các khu vực ở Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, BắcPhi…), Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII gắn với mốc thời gian năm
1789 với không gian là nhà ngục Baxti…) Không có một hiện tượng nào hoàn
Trang 239
Trang 24toàn giống với sự kiện nào mà chỉ có những sự kiện giống nhau lặp lại trên cơ sởkhông lặp lại (ví dụ như cùng xảy ra trên dòng sông Bạch Đằng song cuộc khángchiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền và cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên thời Trần diễn ra trong những khoảng thời gian khác nhau và có diễnbiến ý nghĩa… khác nhau).
Đời sống xã hội là một dòng chảy không ngừng mà ở đó mọi mặt từ kinh
tế, chính trị, văn hoá … đều thay đổi ít nhiều cùng thời gian Do đó trong giảngdạy lịch sử giáo viên cần chú ý đến thời gian và không gian diễn ra các sự kiện,hiện tượng lịch sử đó
Lịch sử mang tính cụ thể đậm nét
Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, cácdân tộc khác nhau và quy luật phát triển của nó Trên cơ sở những quy luậtchung của lịch sử xã hội loài người, mỗi quốc gia, dân tộc đều có diện mạo riêng
do những điều kiện riêng quy định Lịch sử mỗi nước phản ánh, mô tả chi tiết,
cụ thể và đầy đủ về tiến trình phát triển của dân tộc mình Tuy cùng chịu sự tácđộng của quy luật lịch sử chung song mỗi nước lại chịu tác động ở mỗi mức độkhác nhau, ví dụ: Nhân loại trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyênthuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa nhưng ởnhiều quốc gia quá trình đó không diễn ra tuần tự như vậy, ví dụ Mĩ bỏ qua hìnhthái phong kiến từ chế độ chiếm hữu nô lệ tiến thẳng lên tư bản chủ nghĩa,
Việt Nam, Trung Quốc bỏ qua hình thái tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xâydựng chủ nghĩa xã hội Hay như với việc cùng trải qua thời kì chiếm hữu nô lệsong ở Trung Quốc là chế độ nô lệ gia trưởng khác hẳn chế độ nô lệ ở phươngTây, hoặc như việc cùng trải qua hình thái kinh tế xã hội phong kiến song chế độphong kiến ở Trung Quốc là chế độ phong kiến Trung ương tập quyền cònphong kiến Tây Âu là lãnh địa phong kiến
Đặc điểm này của khoa học lịch sử để phân biệt lịch sử dân tộc này vớikịch sử dân tộc khác, sự hình thành và phát triển của quốc gia nay với quốc giakhác Điều đó đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thểbao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu càng hấp dẫn bấy nhiêu
Trang 2510
Trang 26Lịch sử mang tính hệ thống
Lịch sử phản ánh toàn bộ hoạt động của đời sống con người từ kinh tế,chính trị, văn hoá, tư tưởng, khoa học Những nội dung tri thức lịch sử đó lại cómối quan hệ chằng chịt, phức tạp, tác động qua lại lẫn nhau, ví dụ cơ sở hạ tầngquyết định kiến trúc thượng tầng Vì thế người giáo viên lịch sử phải luôn chú ýđến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề lịch sử
Mặt khác lịch sử là một quá trình vận đông không ngừng, là mối quan hệnhân quả và tác động qua lại lẫn nhau cả về thời gian và không gian Do đó cầnlàm rõ mối quan hệ ấy để nhận thức lịch sử một cách khách quan
Tính hệ thống, lôgíc của lịch sử được thể hiện qua việc xây dựng chươngtrình lịch sử Đó là việc sắp xếp hai chương trình Lịch sử thế giới và Lịch sửViệt nam nhưng Lịch sử thế giới được dạy trước bởi Lịch sử Việt Nam là một bộphận của Lịch sử thế giới, cần phải đi từ cái chung, cái khái quát trước rồi mới đivào cái cụ thể, riêng lẻ Sắp xếp như vậy học sinh sẽ thấy được tác động củaLịch sử thế giới đối với Lịch sử Việt Nam và những đóng góp của lịch sử dântộc cho lịch sử thế giới
* Đặc điểm của nhận thức lịch sử
Quá trình học tập lịch sử cũng là một quá trình nhận thức cho nên việcnhận thức môn học này cũng tuân thủ theo quy luật chung của quá trình nhậnthức: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở vềvới thực tiễn Song xuất phát từ những đặc trưng của môn lịch sử mà quá trìnhnhận thức lịch sử cũng có những đặc điểm riêng:
Trong học tập lịch sử học sinh không thể “trực quan sinh động” được đốitượng nghiên cứu Do đó giai đoạn trực quan trong nhận thức lịch sử là giaiđoạn học sinh tiếp xúc với tài liệu, với những dấu vết của quá khứ
Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp vì con người là bộ phận không táchrời của đối tượng nghiên cứu - xã hội loài người Do đó giai đoạn tư duy trừutượng trong nhận thức lịch sử là giai đoạn mà học sinh thông qua tiếp xúc với tàiliệu dùng những thao tác tư duy của mình: tưởng tượng, tái tạo, ghi nhớ… để từ
đó đi sâu vào bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử
Trang 2711
Trang 28Cuối cùng giai đoạn từ trực quan sinh động trở về thực tiễn là quá trình
mà học sinh trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc về lịch sử vận dụng các tri thức
ấy để hiểu hiện tại và có nhưng hành động phù hợp trong thực tiễn và tương lai
Mặt khác chương trình lịch sử được cấu tạo từ các sự kiện ở quá khứ chođến hiện tại mà quá trình nhận thức của học sinh lại đi từ gần đến xa do đó họcsinh dễ rơi vào tình trạnh “hiện đại hoá” lịch sử
Do những dặc điểm như vậy, qua trình nhận thức lịch sử bắt đầu từ việcnắm các sự kiện Khoa học chân chính khác với các quan niệm duy tâm ở chỗ nódựa trên các sự kiện chân thực: “Bất cứ lĩnh vực khoa học nào trong lĩnh vực tựnhiên cũng như xã hội, lịch sử phải xuất phát từ sự kiện chúng ta biết được” [9]
Từ những điều đã nói ở trên việc tổ chức dẫn dắt học sinh tạo biểu tượnglịch sử là cái chốt để đi vào khám phá hiện thực lịch sử Sử dụng kênh hìnhtrong dạy học lịch sử là chìa khoá hữu hiệu để mở cái chốt ấy Vì vậy giáo viênlịch sử cấn nắm được cách khai thác và nội dung các kênh hình đồng thời phảihướng dẫn học sinh khai thác được nội dung kiến thức chứa đựng trong phầnkênh hình có trong sách giáo khoa
* Vai trò của kênh hình trong dạy học lịch sử
Khái niệm kênh hình trong sách giáo khoa
Kênh hình trong sách giáo khoa là những ảnh chụp, tranh vẽ, hình vẽ, sơ
đồ, đồ thị, biểu đồ… theo quan điểm có tính chất “cổ điển” song có tính sưphạm của việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa, sách giáo khoa gồm haiphần: bài viết và cơ chế sư phạm Theo quan điểm này “kênh hình là một bộphận của phần cơ chế sư phạm”[3] Còn theo quan điểm phổ biến thì kênh hình
là một bộ phận tương đương với phần bài viết (theo quan điểm sách giáo khoagồm phần kênh chữ và kênh hình)
Phân loại kênh hình trong sách giáo khoa
* Phân loại theo chức năng
Theo chức năng kênh hình chia làm 4 loại chính:
- Loại minh hoạ để cụ thể hoá nội dung sự kiện lịch sử quan trọng Loại
nay thường được ghi kèm những yêu cầu và hướng dẫn thực hiện
Trang 2912
Trang 30- Loại cung cấp thông tin, thường không có giải thích, tuy nhiên có thể chú
thích ngắn gọn để học sinh tìm hiểu nội dung của sự kiện, mà không diễn tảthành văn (thường là tranh, ảnh tư liệu lịch sử)
- Loại vừa cung cấp thông tin, vừa minh hoạ cho kênh chữ, loại này thường
có kèm theo câu hỏi và hướng dẫn sử dụng
- Loại dùng để rèn luyện kỹ năng thực hành, kiểm tra kiến thức (loại bài tập
thực hành) Loại này thường kèm theo câu hỏi và hướng dẫn sử dụng
* Phân loại theo hình thức
- Sơ đồ, đồ thị: phản ánh tiến trình phát triển của một sự kiện, hiện tượng,quá trình Theo hình thức thì kênh hình được phân thành các loại chủ yếu sau:
- Lược đồ lịch sử: thường là diễn tả không gian, diễn biến của một sự kiện,phong trào lịch sử nào đó
Vai trò của kênh hình trong dạy học lịch sử
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồmnhiều loại: hiện vật lịch sử, tranh, ảnh lịch sử, các phương tiện trực quan quyước như bản đồ, sơ đồ, đồ thị,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phầnkhông nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy, cungcấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năng thựchành… vì vậy, nội dung sách giáo khoa lịch sử hiện nay, trong điều kiện kinh tế,
kĩ thuật, mĩ thuật… cho phép, đã dành cho kênh hình một tỉ lệ đáng kể
Kênh hình trong sách giáo khoa không chỉ sử dụng trong khi trình bày kiếnthức mới mà cả khi ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt động ngoại khoá và thựchành Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử có chức năng chủ yếu nhằm đadạng nguồn kiến thức,tạo hình ảnh giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cáchsinh động, làm cho bài giảng lịch sử bớt phần khô khan và thêm phần hấp dẫn
Trang 3113
Trang 32Kênh hình là một phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử Sử dụngkênh hình trong sách giáo khoa có ý nghĩa to lớn trong việc bồi dưỡng kiến thứccho học sinh Do tính quá khứ của lịch sử quy định nên học sinh không thể trựctiếp tri giác, quan sát những sự kiện, hiện tượng lịch sử đang học Do đó để tạobiểu tượng lịch sử chân thực, để dựng lại bức tranh quá khứ với bộ mặt đúngnhư nó đã diễn ra thì ngoài lời nói sinh động của giáo viên phải có phương tiệntrực quan mà phổ biến nhất hiện nay vẫn là kênh hình trong sách giáo khoa.Trong sách giáo khoa lịch sử bao giờ kênh hình cũng luôn phải gắn liền với nộidung bài viết, câu hỏi và bài tập nhằm tạo nên tổ hợp kiến thức phong phú Do
đó khi biên soạn sách giáo khoa lịch sử, nhiều loại kênh hình đã thay thế mộtphần nội dung đáng kể của phần bài viết Đồng thời kênh hình cũng có tác dụng
cụ thể hóa, minh hoạ cho kiến thức của phần bài viết Nội dung bài viết là cơ sở
để hiểu kênh hình Ngược lại kênh hình lại làm phong phú, sâu sắc thêm kiếnthức của phần bài viết Học sinh được sự hướng dẫn của giáo viên tìm hiểu nộidung kênh hình, qua đó nhận thức sự kiện đang học một cách hứng thú, sinhđộng, sâu sắc mà lại nhớ lâu Như vậy, nội dung kiến thức trong hai kênh thôngtin bổ sung và hỗ trợ cho nhau Trong dạy học lịch sử, chúng ta không nên xemnhẹ bất cứ một loại kênh thông tin nào cả Thế nhưng suốt một thời gian dài đãqua, phần kênh hình chưa được sử dụng, khai thác trong dạy học lịch sử
Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử còn có vai trò quan trọng trongviệc giáo dục thái độ, tư tương,tình cảm, đạo đức cho học sinh Qua quan sátkênh hình trong sách giáo khoa, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinhkhông chỉ hiểu sâu sắc sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn hình thành lên nhữngcảm xúc với sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử đó: khâm phục, quý trọng,yêu, ghét, căm giận, thương xót, lên án…
Qua khai thác kênh hình trong sách giáo khoa còn có tác dụng truyền cảnmạnh mẽ, bồi dưỡng cho học sinh những quan điểm và cảm xúc thẩm mĩ Bằng
sự quan sát có chủ định cùng với những hình ảnh rõ ràng, sinh động từ kênhhình cộng với lời nói truyền cảm của giáo viên sẽ tạo ra ở các em sự rung độngthẩm mĩ, những cảm nhận có tính chất hội hoạ, nghệ thuật, biết đánh giá, yêu
Trang 3314
Trang 34thích những bức tranh, bức ảnh đẹp, hiểu được tư tưởng đạo đức ẩn chứa trongcác kênh hình.
Bên cạnh đó kênh hình còn có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển họcsinh Khi nhìn vào bất cứ kênh hình nào học sinh cũng muốn nhận xét, phánđoán, hình dung, tưởng tượng quá khứ lịch sử được phản ánh ở trong đó rồi suynghĩ tìm cách diễn đạt bằng lời nói sao cho phù hợp với kênh hình đó Như vậy,qua khai thác kênh hình đã rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, trí tưởngtượng, phân tích, đánh giá và năng lực tư duy ngôn ngữ Qua sử dụng kênh hìnhhọc sinh cũng dần trở lên năng động, tự tin, linh hoạt trước tập thể và ngày cànglàm chủ kiến thức của mình
Như vậy, sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là một biện pháp hữuhiệu nằm trong tổng thể các biện pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản
Từ đó, bồi dưỡng học sinh tư tuởng, tình cảm, đạo đức tốt đẹp cho học sinhđồng thời góp phần phát triển toàn diện các em Có thể nói, sử dụng, khai tháckênh hình trong sách giáo khoa lịch sử, với tư cách là một nguồn kiến thức quantrọng là một đòi hỏi của việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, khắc phụctình trạng mà hơn 30 năm trước cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Lịch sử đâu có phải là một chuỗi những sự kiện để người viết sử ghi lại, rồingười giảng sử đọc lại, người học sử lại học thuộc lòng” Việc đổi mới phươngpháp dạy học phải tiến hành “một cuộc cách mạng”, khắc phục thói quen cũ:
“đọc- chép”, phải bỏ nhiều công sức mới có thể thực hiện có hiệu quả bài họclịch sử Việc đổi mới trong sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình nóichung riêng, trong dạy học lịch sử, trước hết phải nắn vững nội dung lịch sửđược phản ánh trong tranh, ảnh , bản đồ và các loại đồ dùng trực quan khác.Không nắm được nội dung lịch sử thì không thể đổi mới phương pháp dạy họclịch sử nói chung và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan nói riêng
Yêu cầu với kênh hình trong sách giáo khoa
Để đạt hiệu quả trong nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển nói trên,kênh hình trong sách giáo khoa phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Trang 3515
Trang 36- Kênh hình phải phản ánh đúng nội dung đối tượng nghiên cứu, phù hợpvới nội dung trình bày ở phần kênh chữ, không có những thông tin sai lệch vềmặt khoa học hoặc làm phân tán sự tập trung chú ý của học sinh về sự kiện
đang học
- Màu sắc hài hoà, tươi sáng gần gũi với tự nhiên
- Các hình ảnh đặt ngay cạnh phần kênh chữ phải có nội dung tương ứng,
có bố cục cân đối Tranh,ảnh, đồ dùng trực quan quy ước được đánh số thứ tự từ
số 1 đến số cuối ở mỗi bài kèm theo lời ghi chú ngắn gọn (nếu thấy cần thiết)
- Phần kênh hình phải đa dạng, phong phú Nếu chưa tăng ngay được sốlượng kênh hình trong sách giáo khoa thì trước mắt phải bổ sung ngay một sốbản đồ quan trọng Cần bổ sung ở mức độ cần thiết các hình vẽ minh hoạ, cácbảng so sánh, các bảng thống kê, niên biểu tổng hợp để tăng cường sự hiểu biếtbằng hình ảnh cho học sinh
- Các tranh ảnh cần ghi chú ngắn gọn về nguồn gốc (chụp năm nào, do aichụp hay vẽ) Đối với chân dung các nhân vật lịch sử cần lựa chọn những nhânvật tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm cả nhân vật chínhdiện và phản diện Có thể là hình ảnh những anh hùng chiến đấu, những anhhùng lao động, những con người thông minh, sáng tạo lao động sản xuất, pháttriển khoa học kĩ thuật, những nhà yêu nước cách mạng hoặc những nhân vật tàn
ác, phản động sẽ góp phần đắc lực vào việc giáo dục tư tưởng, đậo đức, phẩmchất cho các em học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc khai thác kênh hình trong dạy học lịch sử
Mặc dù thời lượng dành cho môn Lịch sử là không nhiều so với các mônhọc khác chỉ 1- 2 tiết/ tuần, nhưng môn Lịch sử cũng đã có những đóng góp tolớn vào những thành tựu chung của nền giáo dục Việt Nam Đó là nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa
Trong thời gian qua việc dạy học lịch sử cũng đã đạt được những thành tựuđáng kể:
Trang 3716
Trang 38Thứ nhất: Nội dung chương trình luôn được điều chỉnh, bổ sung, cập nhậtbắt kịp với sự phát triển của khoa học lịch sử Chương trình sách giáo khoa đượcgiảm tải, hoàn thiện đảm bảo cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử đầy
đủ, chính xác và hệ thống qua đó làm rõ các giai đoạn phát triển của Lịch sử dântộc và Lịch sử thế giới Từ đó rút ra các quy luật, bài học lịch sử Hệ thống kiếnthức đưa vào đảm bảo trình độ phổ thông
Thứ hai: Nhiều giáo viên lịch sử đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và áp dụngcác phương pháp, phương tiện dạy học mới để tạo hứng thú học tập lịch sử chohọc sinh Giáo viên lịch sử đã chú trọng đến vận dụng phương pháp liên mônVăn - Sử, chú ý cách trình bày miệng sao cho sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh
để lôi cuốn học sinh; cố gắng kết hợp nhiều phương pháp trong một giờ học đểthay thế cho một phương pháp truyền thống là phương pháp thuyết trình; ápdụng các phương pháp dạy học mới theo hướng phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh: dạy học theo nhóm, dạy học nêu vấn đề, và bước đầu vận dụngphương pháp tích cực… Giáo viên lịch sử cũng chú trọng đến sử dụng cácphương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học: Power point, Violet… tạo ra hứng thúhọc tập lịch sử cho học sinh
Thứ ba: Hằng năm có nhiều cuộc thi lịch sử được tổ chức: Thi Olympiclịch sử, thi học sinh giỏi môn lịch sử các cấp… đem lại thành công to lớn, pháthiện ra nhiều nhân tài cho đất nước Nhiều cuộc thi tìm hiểu lịch sử được phátđộng trên các phương tiện truyền thông đại chúng: “Theo dòng lịch sử”, thi tìmhiểu và học tập theo tấm gương đạo đưc Hồ Chí Minh …thu hút được sự quantâm, tham gia và hưởng ứng của đông đảo quần chúng Trong các sân chơi trítuệ như: “Ai là triệu phú”, “Đấu trường 100”, “Đường lên đỉnh Ôlympia”… Sốlượng các câu hỏi thuộc lĩnh vực Sử học chiếm tỉ lệ khá lớn Đó là những tínhiệu đáng mừng cho các nhà giáo dục lịch sử
Tuy nhiên quá trình day-học lịch sử vẫn còn đang tồn tại những bất cập vàhạn chế lớn chưa thể khắc phục:
Một hiên trạng rất đáng buồn là trong những năm gần đây có hiện tượng
“dân ta” không biết “sử ta” Trong thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân chủ
Trang 3917
Trang 40quan và khách quan chất lương dạy-học lịch sử ngày càng giảm sút đến mức báođộng Các phương tiện truyền thông đại chúng đã lên tiếng về tình trạng giảmsút chất lượng một cách nghiêm trọng của môn Lịch sử Qua một cuộc thi trêntruyền hình nhiều người không khỏi bàng hoàng, giật mình khi trường họp mộtsinh viên của Trường Đại học Văn Lang lại không biết tên quốc hiệu của nước tathời các Vua Hùng Một cuộc điều tra với chủ đề “Thanh niên Hồ Chí Minhtrong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc” đã thu được những kết quảđấng buồn sau: Trong số 1800 người được hỏi thì có 39% số người không biếtHùng Vương là ai, 65% số người không biết về Trương Định, 49% nói sai vềTrần Quốc Tuấn; 64% trong tổng số 468 sinh viên của một số trường đại họckhông biết gì về Lương Thế Vinh; 83%học sinh, sinh viên không biết về cácnhân vật, sự kiện lịch sử đặt tên cho các đường phố, địa danh mà họ đang sốnghoặc rất quen thuộc Nhiều bài báo đã nêu lên những nhầm lẫn lớn như cho rằng
Lý Thường Kiệt là 1 trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, Nguyễn Thị MinhKhai lãnh đạo cách mạng tháng Tám Hay như Đài truyền hình Việt Nam đãphản ánh một số trường hợp xuyên tạc lịch sử do có ý hoặc nhầm lẫn như đó làviệc viết chỉ thị “Nhật-Pháp chơi nhau, Việt Nam vớ bở” thay vì phải viết là Chỉthị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” hoặc có thí sinh đã viết:Hoà thượng Thích Quảng Đức treo cổ tự tử ở Ngã Tư Sở trong khi sự kiện làHoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở một ngã tư đường phố Sài Gòn Rấtnhiều bài thi lịch sử cười ra nước mắt khiến cho cả xã hội và các nhà giáo dụclịch sử không biết nên khóc hay nên cười Kì thi Đại học năm 2008 đã lượm lặtđược rất nhiều những bài thi lịch sử cười ra nước mắt mà trước đó chưa từng thuđược Nhiều thí sinh trả lời sai kiến thức, sự kiện, khái niệm cơ bản, diễn đạthành văn lủng củng, sai từ ngữ, sự nhầm lẫn và nhận thức lịch sử lệch lạc Mộtthí sinh đã viết: “Chiến dịch Hồ Chí Minh 1970, quân ta tiến vào Him Lam, BảnKéo, lần lượt giành các đồi A1, C1, D, E…Hai bên chiến đấu giằng co quyết liệt
và cuối cùng ta đã giành được thắng lợi cuối cùng buộc địch phải kí kết Hiệpđịnh Pari năm 1972 Cũng câu hỏi về Chiến dịch Hồ Chí Minh, có thí sinh đã trảlời: “…Đêm 30-12, rạng sáng ngày 1-1-1975, nhân lúc quân Mĩ đang say sưa,