Dạy Chính tả là rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết thành thạo chữ tiếngViệt theo các chuẩn chính tả và làm bài tập, qua đó rèn các kĩ năng sử dụngngôn ngữ, cung cấp cho học sinh vốn t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN QUANG THUẦN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ
̉)CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRƯỜNG TIÊU HOC̣ XÃ HẢI NINH HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN QUANG THUẦN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ
̉)CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRƯỜNG TIÊU HOC̣ XÃ HẢI NINH HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Khổng Cát Sơn
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Khổng Cát Sơn, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thưc ̣ hiêṇ khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học - Mầm non, các thầy cô giáo trong thư viện, các bạn sinh viên lớp K 51 ĐHGD Tiểu hoc ̣ B đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Đinḥ đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình khảo sát, thể nghiệm tại nhà trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyêñ Quang Thuần
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Giả thuyết khoa học 5
8 Cấu trúc của đề tài 6
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: Cơ sở lí luận vàcơ sởthưc ̣ tiêñ 7
1.1 Cơ sởlí luâṇ 7
1.1.1 Cơ sở tâm lí học và cơ sở ngôn ngữ học 7
1.1.1.1 Cơ sở tâm sinh lý 8
1.1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 10
1.1.2 Vị trí, tính chất của dạy học Chính tả 11
1.1.3 Tầm quan trong ̣ của daỵ hoc ̣ Chinh́ tả 11
1.1.4 Dạy học Chính tả ở tiểu học 12
1.1.4.1 Nôịdung chương trinh̀ 12
1.1.4.2 Sách giáo khoa 13
1.1.4.3 Sách giáo viên 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học Chinh́ tảtrong nhàtrường 15
1.2.1.1 Vềphiá giáo viên 15
1.2.1.2 Vềphiá hoc ̣ sinh 17
1.2.2 Vềtinh̀ hinh̀ thưc ̣ tếhoc ̣ sinh 20
Trang 61.2.2.1 Thuận lợi 20 1.2.2.2 Khó khăn 20
Trang 71.2.2.3 Khảo sát thực trạng 20
1.2.3 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của HS 25
1.2.3.1 Về phía HS 25
1.2.3.2 Về phía GV 27
1.2.4 Số bài, thời lượng học 29
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: Đềxuất môṭsốbiêṇ pháp khắc phuc ̣ lỗi chính tảcho HSTH 32
2.1 Luyêṇ phát âm 32
2.2 Phân tích so sánh 32
2.3 Giải nghĩa từ 33
2.4 Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập 34
2.4.1 Bài tập điền vào chỗ trống 34
2.4.2 Bài tập tìm từ 35
2.4.3 Bài tập tìm tiếng 35
2.4.4 Bài tập giải câu đố 36
2.4.5 Bài tập lựa chọn 36
2.4.6 Một số bài tập ngoài giờ học chính khóa 36
2.5 Đọc mẫu - Hướng dẫn cách viết 38
2.6 Khắc phuc ̣ lỗi chinh́ tảthông qua day hoc ̣ nhữngphân môn, môn hoc ̣ khác 39 2.7 Khắc phuc ̣ lỗi chinh́ tảthông qua giao tiếp 39
2.8 Chấm chữa bài 40
Tiểu kết chương 2 42
Chương 3: Thể nghiêṃ 43
3.1 Những vấn đề chung 43
3.1.1 Một số yêu cầu của thiết kế 43
3.1.2 Cấu trúc của thiết kế 43
3.2 Thiết kế thể nghiệm 44
3.3 Thể nghiệm 44
3.3.1 Mục đích thể nghiệm 44
3.3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 45
Trang 83.3.2.1 Đối tượng thể nghiệm 45
3.3.2.2 Thời gian và địa bàn thể nghiệm 45
3.3.3 Cách thức thể nghiệm 45
3.3.4 Nội dung, tiêu chíđánh giá 45
3.3.4.1 Nội dung thể nghiệm 45
3.3.4.2 Tiêu chíđánh giá 46
3.3.4.3 Phiếu bài tập thể nghiệm 46
3.3.5 Phương pháp thể nghiệm 46
3.3.6 Kết quả thể nghiệm 47
Tiểu kết chương 3 48
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
3.1 Bài học kinh nghiệm 50
3.2 Kết luận 51
3.3 Kiến nghị 52
3.3.1 Đối với phụ huynh học sinh 52
3.3.2 Đối với nhà trường 52
3.3.3 Đối với Phòng giáo dục 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 9Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiệnmục tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năngnghe cho học sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và pháttriển tư duy cho học sinh Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, gópphần hình thành nhân cách con người mới Phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinhtrong đó có năng lực chữ viết Dạy tốt Chính tả cho học sinh tiểu học là gópphần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt tới Đó là kĩnăng viết đúng, muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì trước hết học sinhcần viết đúng đơn vị từ Chính tả được hiểu là hệ thống quy tắc về cách viếtthống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác, chính tả là những chuẩnmực của một ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân Mục đích của
nó là làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảo cho người viết
và người đọc thống nhất những điều đã viết
Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị
từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện họctốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếngviệt có hiệu quả Trong suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ
viết, người xưa thường nói: “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt” Quả thật
khi viết chữ đã không tốt thì văn không thể hay được Do vậy, việc nghiên cứuphương pháp để dạy tốt môn Chính tả là một việc làm hết sức cần thiết tronggiai đoạn hiện nay nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt
1
Trang 10ở trường Tiểu học Trong thực tế, thói quen và kĩ năng viết đúng chính tả củahọc sinh tiểu học chưa tốt Đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học ở vùng nôngthôn, vùng sâu vùng xa do điều kiện học tập ở nhà trường còn hạn chế Các em ítđược rèn luyện về ngôn ngữ qua các phương tiện sách báo
Một trong những nguyên nhân đưa đến thực trạng học sinh sai chính tảhiện nay là do các em đọc như thế nào viết như thế ấy Các em chưa nắm vữngquy tắc ngữ âm của chữ quốc ngữ và ít được biết đến một số mẹo luật chính tả
cơ bản Riêng với giáo viên việc dạy Chính tả chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạthết nội dung của sách giáo khoa qua bài viết nhưng chưa chú ý đến đặc điểmngôn ngữ vùng miền đang ở Hơn nữa việc nắm các lỗi chính tả cần dạy cho họcsinh chưa được giáo viên quan tâm đúng mức đã dẫn đến hạn chế kết quả giảngdạy của phân môn Chính tả hiện nay
Qua thưc ̣ tiêñ theo doi , tôi nhâṇ thấy có rất nhiều học sinh viết sai chính
sung kiến thức , kinh nghiêṃ cho ban thân khi ra trương , đồng thơi tưng bươc
nâng cao chất lương ̣ daỵ vàhoc ̣ chung
Xuất phát từ những vấn đềtrên , tôi quyết đinḥ choṇ đềtài : “Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HSTH trường Tiểu học xã Hải Ninh huyêṇ Hải Hậu tỉnh Nam Định” Nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả ở
trường Tiểu học
2 Lịch sử vấn đề
Nói và viết đúng chính tả sẽ giúp người nghe và cảm nhận được nội dung
và ý muốn mà người nghe muốn truyền đạt Vì vậy việc rèn luyện, đề xuất cácbiện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học là vấn đề mà nhiều nhànghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Cụ thể với những cuốn cơ bản như:
Trang 11Cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1” của tác giả Lê Phương Nga
-Lê A - -Lê Hữu Thỉnh - Đỗ Xuân Thao - Đặng Kim Nga (NXB Đại học sư phạm
Hà Nội, 2003) cũng đề cập đến phân môn Chinh́ tả về: mục tiêu, cơ sở tâm líhọc, ngôn ngữ học của viêc dạy chính tả, một số nguyên tắc dạy chính tả,phương pháp dạy chính tả
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Giáo trình chính thức đàotạo GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2) của Lê A - ThànhYên Mĩ – Lê Phương Nga - Nguyễn Trí - Cao Đức Tiến cũng đua ra cơ sở líluận và một số phương pháp dạy Chính tả
Cuốn “Vui học Tiếng Việt” (Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo dục 2000).Tài liệu này đã biên soạn những trò chơi, những bài tập vui nhẹ nhàng về tiếngViệt theo yêu cầu kiến thức kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học Qua đógiúp HS rèn luyện tốt các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó có kĩ năng nói vàviết chính tả được chú trọng
Hầu hết các tác giả đều đề cập đến những vấn đề về phân môn Chính tảnhưng còn mang tính chất lí thuyết, chung chung Để kế thừa và phát huy cáctinh thần, tư tưởng của các công trình nghiên cứu nói trên, đồng thời đề xuất một
số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HS lớp 3, tôi chọn đề tài: “Môṭsốbiêṇ pháp khắc phục lỗi chính tả cho HSTH trường Tiểu hoc ̣ xãHải Ninh huyêṇ Hải Hậu tỉnh Nam Định”.
3 Mục đích nghiên cứu
Chính tả là một phân môn quan trọng trong chương trình tiểu học nóichung và môn Tiếng Việt nói riêng Qua việc học chính tả các em nắm, biếtđược cách phát âm đúng, chuẩn tiếng Viêṭ Từ đó các em có thói quen viết đúngchính tả, giúp các em tiếp thu tri thức khoa học nhưng trên thực tế, hiện tượngviết sai lỗi chính tả vẫn còn tồn tại
Vì vậy thực hiện đề tài, tôi mong đề xuất được các biện pháp có hiệu quảtrong việc sửa lỗi, rèn kỹ năng và khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học nóichung Qua đó vận dụng các nguyên tắc dạy trong phân môn Chính tả hình thành
kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học
3
Trang 12Đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả cho HS lớp 3 ở TrườngTiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Đinḥ nói riêng và soạn giáo án theo hướngđổi mới, phương pháp và nội dung bài dạy cho sát thực với việc rèn chính tả chohọc sinh địa phương.
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sửa lỗi chính tả cho HS
nhưng vìđiều kiêṇ haṇ chếnên chỉlựa chọn và khảo sát những từ ngữ phổ biến,
dê ymắc lỗi trong các bài chính tả lớp 3 mà HS thường mắc khi phát âm cũng nhưviết trong quá trình học tập và giao tiếp Từ đó đề xuất biện pháp sửa lỗi chính
tả, đồng thời tiến hành thiết kế mẫu giáo án thể nghiệm vận dụng cho HS lớp 3trường Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Đinḥ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ngoài việc nâng cao chất lượng toàn diện giáo viên còn phải quan tâm đếnchữ viết của học sinh Chữ viết có đẹp , đúng chính tả thì mới hấp dẫn đượcngười đọc Chữ viết có đúng thì người đọc mới dễ dàng hiểu rõ nội dung của bàivăn mà mình muốn diễn đạt Do đó viêc dạy phân môn Chính tả trong trườngTiểu học là rất quan trọng mà giáo viên cần phải quan tâm Vì vậy để nghiên cứuđềtài này thì cần phải:
Tìm hiểu cơ sở lý luận của dạy học Chính tả và thực trạng của việc phát
âm tiếng Việt cũng như viết chính tả của HS ở Trường Tiểu học Hải Ninh - HảiHâụ - Nam Đinḥ
Tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của HS lớp 3 trường tiểu hoc ̣ Hải Ninh
Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS địa phương
Trang 13Thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đề ra ở trên, tôi xây dựng nhóm phương pháp như sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu tài liệu và các văn bản chỉ đạo của các cấp có liên quan đến
đề tài
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp thưc ̣ nghiêṃ
- Nhóm phương pháp hỗ
trợ +Thống kê
Trong đótôi chủyếu tâp ̣ trung vào các phương pháp như:
- Phương pháp điều tra, quan sát nhằm:
Khảo sát nội dung sách giáo khoa
Tìm hiểu thực tế địa bàn mình dạy
Tình hình viết chính tả của học sinh.
7 Giả thuyết khoa học
Sửa lỗi chính tả trong dạy học phân môn Chính tả cho HS hiện nay còngặp nhiều khó khăn Đây là vấn đề còn nhiều băn khoăn, trăn trở của không ít
GV Tiểu học Nếu việc tìm hiểu nguyên nhân về các lỗi chính tả của học sinh
thường mắc phải được chinh́ xác thì viêc ̣ đưa ra các biêṇ pháp đểkhắc phuc ̣ lỗichính tả cho HS sẽ có tính khả thi và góp thêm tiếng nói để giải quyết những khókhăn đó, góp phần nâng cao chất lượng sửa lỗi chính tả cho HS Từ đó việc vậndụng các nguyên tắc, biện pháp, phương pháp dạy học về phân môn Chính tả sẽthuận lợi và giúp cho học sinh khắc phục được các lỗi thường mắc, giúp giáo
5
Trang 14viên đạt kết quả cao trong quá trình rèn luyện kĩ năng viết đúng cho học sinhTiểu học.
8 Cấu trúc của đềtài
Đề tài bao gồm những nội dung sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sởthưc tiêñ
+ Chương 2: Đềxuất môṭsốbiêṇ pháp khắc phuc ̣ lỗi chính tả cho HSTH + Chương 3: Thưc ̣ nghiêṃ
- Phần kết luận
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 1.1 Cơ sởlí luâṇ
1.1.1 Cơ sở tâm lí học và cơ sở ngôn ngữ học
Lỗi chính tả là những sai lệch trong cách phát âm dẫn đến viết sai so vớicách phát âm chuẩn làm cho người đoc ̣ người nghe khó hiểu thậm chí hiểu saithành một nghĩa khác
Việc dạy Chinh́ tảcho HS trường T iểu hoc ̣ Hải Ninh có thể chấp nhận theo ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc bộ, phương ngữ Trung bộ, phương ngữ Nam bộ nơi HS sinh sống Với HS ở trường tiểu hoc ̣ Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Đinḥ theo chuẩn phương ngữ Bắc bộ
Đối với HS lứa tuổi tiểu học - là giai đoạn các em chuyển từ hoạt độngchủ đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Đặc biệt, HS lớp 3 ghinhớ không chủ định cũng dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định Hơn nữa, khihọc qua phân môn Học vần, hầu hết các em đã đọc thông viết thạo Tuy nhiên,đối với HS trường T iểu học Hải Ninh ngôn ngữ điạ phương đa ylàm ảnh hưởngđến cách nghĩ, cách học, đặc biệt là cách phát âm… nên ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng học môn Tiếng Việt cụ thể là phân môn Chính tả của các em
Do đó, khi dạy học Chính tả cho HS lớp 3 trường Tiểu hoc ̣ Hải Ninh, GVcần giúp HS hình thành kỹ năng và thói quen phát âm chuẩn khi đoc ̣ Muốn vậycần cho các em luyện đọc nhiều Ngoài ra, trong quá trình luyện phát âm cho
HS, GV cần nắm được chuẩn chính âm (có thể theo ba vùng phương ngữ trên)
và chuẩn chính tả (chỉ có một chuẩn duy nhất) để tránh luyện viết chính tả cho
HS không đạt hiệu quả
Cơ chế của việc phát âm khi đọc là cơ sở của việc dạy viết chính tả Chính
tả biểu thị mối quan hệ mật thiết giữa sự vận động của cách phát âm v à cáchviết Do đó, trong dạy học Chính tả GV cần nắm được đặc điểm tâm sinh lý,ngôn ngữ, tư duy cụ thể của HS lớp 3 để xác định cho mình những phương phápgiảng dạy sao cho phù hợp với đối tượng HS
7
Trang 16Dạy Chính tả là rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết thành thạo chữ tiếngViệt theo các chuẩn chính tả và làm bài tập, qua đó rèn các kĩ năng sử dụngngôn ngữ, cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhaucủa đời sống.
Có thể dạy Chính tả theo hai cách : có ý thức và không có ý thức
+ Cách không có ý thức : (phương pháp máy móc, cơ giới)
Dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, dựatrên sự lặp lại không cần biết lí do, quy luật của hành dộng
Phương pháp này củng cố trí nhớ một cách máy móc, không thúc đẩy sựphát triển của tư duy
+ Cách có ý thức : (phương pháp dạy học có tính tự giác)
Bắt đầu từ việc nhận thức quy tắc, mẹo luật chính tả Trên cơ sở đó tiếnhành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả Việc hình thành các kĩxảo chính tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức Đó
là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao
1.1.1.1 Cơ sở tâm sinh lý
Viết đúng chính tả là viết đúng âm đầu, phụ âm, rõ ràng từng chữ Đối vớiviệc hình thành kỹ xảo viết chính tả , đặc tính của mỗi thể loại văn bản, đoạntrích mà HS dựa vào đó để lĩnh hội từ ngữ, ngôn ngữ tiếng Việt là rất quantrọng Theo đó khi phát âm theo nguyên tắc chữ viết là các biểu tượng âm vị,chữ cái, vần, thanh điệu từ đó được thể hiện bằng biểu tượng chữviết
Để sửa lỗi chính tả và rèn kỹ năng nói và viết chuẩn trong dạy học Chính
tả cho HS lớp 3 ngoài việc nắm được các lỗi mà HS điạ phương thường mắc dẫnđến việc viết sai, chưa đúng, nắm được bản chất hay nguyên nhân mắc lỗi chính
tả chúng ta cần hiểu được đặc điểm tâm sinh lý các em HS
Việc sửa lỗi chính tả cho HS lớp 3 ở địa phương phụ thuộc rất nhiều vàoyếu tố tâm lý của HS Ở giai đoạn này, các em đã có bước chuyển mới từ hoạtđộng chủ đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập và hầu hết các em đãbiết đọc, biết viết Tuy nhiên, nhận thức của các em vẫn là nhận thức chưa cóchủ định và có thói quen phát âm của ngôn ngữ điạ phương nên ảnh hưởng
Trang 17nhiều đến việc viết vàhoc ̣ Chinh́ tả Do đó GV phải nắm được tâm lý HS, từ đó
có những định hướng sửa lỗi chính tả trong dạy học phân môn Chính tả chothích hợp, để HS có kết quả học tập khả quan hơn
Ở giai đoạn Tiểu học, do các cơ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện
nên bộ máy phát âm của các em chưa chuẩn các em thường đọc lẫn l/n, ?/~… hoặc đọc các từ khó còn lệch lạc như: khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, rồi… hay
những khiếm khuyết nào đấy trong bộ máy phát âm sẽ là nguyên nhân trực tiếpgây ra lỗi chính tả (nói và viết sai)
Ảnh hưởng của cách phát âm điạ phương đã tr ở thành thói quen với HS trong vùng nói chung và HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh nói riêng, khi học một ngôn ngữ mới các em khó làm quen với thao tác phát âm mới, nhất là những
âm khó, những âm không có trong tiếng điạ phương Bởi vậy khi các em viết và
sử dụng tiếng Việt vẫn còn mang dấu ấn của tiếng điạ phương ở đâu đó trong âm sắc ngữ điệu Cụ thể: Các em không phân biệt đươc l /n Vì vậy có khi đọc và viết se ysai
Ví dụ: “nên” laịviết thành “lên”
“lớp” laịviết thành “nớp”
HS lớp 3 trường Tiểu học Hải Ninh có điều kiện sống và hoàn cảnh khácnhau, nhưng đa phần môi trường sống của các em chủ yếu là người điạ phươngnên thời gian sử dụng tiếng Việt chung của các em rất ít, bị bó hẹp Chính vì vậykhi dạy Chính tả cho HS lớp 3, GV cần phải chú ý đến cách phát âm, chú ý sửalỗi phát âm cho HS một cách có định hướng, toàn diện nhằm giúp các em vâṇdụng có hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp
HS ở địa phương không phải bao giờ cũng nói và viết chính xác, hiểunhững từ mình phát âm (tiếng địa phương, yếu tố sinh lý, yếu tố xã hội) nên hầunhư toàn bộ sự chú ý của các em tập trung vào việc nhận mặt chữ, đánh vần đểphát thành âm Mặt khác HS thường phát âm sai nhưng các em không thể phânbiệt được lỗi sai của mình do đó nó có ảnh hưởng đến khả năng nói và viết chính
tả của các em
9
Trang 18Vì vậy để giúp HS sửa lỗi chính tả, rèn luyện kỹ năng phát âm chuẩn đểhọc tốt phân môn này, GV cần có sự quan tâm sát sao, có những định hướng tíchcực trong việc sửa lỗi phát âm chính tả cho HS, nhưng cũng cần có sự am hiểusâu sắc tâm sinh lý HS nhất là HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu -Nam Đinḥ.
1.1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Nói đến việc sửa lỗi chính tả cho HS, ta đề cập đến hai vấn đề lớn là nói
và viết
Vấn đề nói (đúng chính âm và thanh điệu trong tiếng Việt):
Chính âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực
về mặt xã hội Chính âm quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học Chính âmliên quan đến vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.Việc hiểu biết của chính âm sẽ giúp ta xác định được nội dung cần đọc đúng, đểviết chính tả một cách có nguyên tắc
Chính âm có mối quan hệ chặt chẽ tới quá trình dạy học Chính tả cho HStiểu học và HS điạ phương phát âm đúng sẽ giúp cho các em học tập cách phát
âm chuẩn, từ đó viêc ̣ nói và viết sẽ chính xác Do đó, GV phải xác định chuẩnchính âm khi dạy học Chính tả cho HS điạ phương để sửa lỗi, rèn kỹ năng viếtđúng chính tả cho HS
Thanh điệu là một loại đơn vị siêu đoạn tính bao trùm lên toàn bộ âm tiết
và có chức năng thay đổi đơn vị cao của âm tiết Đối với các ngôn ngữ ĐôngNam Á trong đó có tiếng Việt thì thanh điệu có chức năng âm vị học tức là cóchức năng khu biệt nghĩa
Hệ thống thanh điệu gồm sáu thanh: Ngang (-), huyền (\), hỏi (?), sắc (/),ngã (~), nặng (.) được chia làm hai nhóm: cao (sắc, ngã, không) và thấp (ngang,huyền); nếu xét về âm vực được chia là bằng phẳng (ngang, huyền), không bằngphẳng (hỏi, ngã, sắc, nặng); nếu xét về âm điệu
Trang 19Bảng 1: Phân loại thanh điệu theo âm điệu
Các thanh điệu dễ hòa nhập với nhau đó là nặng với ngã, sắc với hỏi; điềunày cộng với tính chất dễ thay đổi âm vực của các thanh điệu hai chiều như hỏi,ngã đã dẫn đến hiện tượng nhập thanh ở một số vùng phương ngữ tiếng Việt
Trong quá trình nói và viết cần kết hợp hài hòa giữa các yếu tố để có kếtquả cao; Trong quá trình HS viết chính tả GV cần phải hướng dẫn các em cáchphối hợp thanh điệu để việc dạy học có chất lượng
1.1.2 Vị trí, tính chất của dạy học Chính tả
Chính tả rèn cho H S biết quy tắc vàcóthói quen viết chữghi tiếng Viêṭđúng với chuẩn
Chính tả cùng với tập , tâp ̣ đoc ̣, tâp ̣ nói giúp cho người hoc ̣ chiếm linhyđươc ̣ tiếng Viêṭvăn hóa, công cu ̣đẻgiao tiếp, tư duy vàhoc ̣ tâp ̣
Đối với người sử dụng t iếng Viêṭ, viết đúng chính tả chứng tỏ đó là người
có trình độ vă n hoa vềmăṭngôn ngư Viết đung chính tả giúp HS có điều kiện
1.1.3 Tầm quan trong ̣ của daỵ hoc ̣ Chính tả
Viêc ̣ daỵ vàhoc ̣ Chinh́ tảcung cấp cho HS các quy tắc vàrèn luyêṇ đểcác
em cóki ynăng vàthói quen viết đúng chính tả
Rèn cho HS một số phẩm chất : tính kỉluâṭ, tính cẩn thận (vì phải viết đúng quy tắc , viết nắn nót từng nét), óc thẩm mĩ (vì phải viết ngay ngắn , thẳng
11
Trang 20hàng, đep ̣ đe… ); đồng thơi bồi dương cho cac em long yêu quy tiếng Viêṭva
bảng, nhìn sách); giáo viên đoc ̣, HS viết chính tả; viết các căp ̣ từ dê ylâñ lôṇ phu ̣
âm đầu, vần, thanh Bài chính tả dài 20 - 30 chữ
Yêu cầu: chữviết đều nét , rõ ràng, thẳng dòng, viết hoa chữcái đ ầu tiên
và tên riêng, tốc độ viết 40 chữtrong 15 phút
Lớp 3.
Mỗi tuần có 2 tiết Chinh́ tả Có 3 hình thức chính tả : GV đoc ̣, Hs viếtchính tả, viết chính tả theo trí nhớ một đoạn bài học thuộc lòng ; viết các căp ̣ từ
dê ylôṇ phu ̣âm đầu, vần, thanh Bài chính tả dài khoảng 80 chữ
Yêu cầu: chữviết đều nét, rõ ràng Tốc đô ̣viết 60 dòng trong 15 phút
Lớp 4.
Mỗi tuần có 1 tiết Chinh́ tả Có 2 hình thức chính tả : GV đoc ̣, HS viết ;viết các căp ̣ từ dê ylâñ lôṇ phu ̣âm đầu , vần, thanh vàphân biêṭnghiã các từ đótrong khi viết
Yêu cầu: chữviết đều nét , rõ ràng, sạch sẽ, không mắc lỗi chính tả thông thường Tốc đô ̣viết 80 chữtrong 15 phút
Lớp 5.
Mỗi tuần có 1 tiết Chinh́ tả Có 2 hình thức chính tả như ởlớp 4 Viết cácbài chính tả đã học và các bài chọn ngoài , HS tư ̣ghi dấu câu (dấu phẩy , dấu
Trang 2112
Trang 22Yêu cầu: Như ởlớp 4, ngoài ra còn phải tự đánh dấu câu đúng vị trí Tốc
đô ̣viết 100 chữtrong 15 phút
1.1.4.2 Sách giáo khoa
Trong hê ̣thống giáo khoa CCGD hiêṇ hành không cóSGK riêng đểdaỵChính tả
Ở lớp 2 và lớp 3, cuối mỗi tuần , sau những bài tâp ̣ đoc ̣ , học thuộc lòng , bài đọc thêm là bài chính tả Sang lớp 4 và lớp 5, Chính tả được viết thành chương trinh̀ tách biêṭ
Cấu taọ môṭbài chính tả trong SGK nhìn chung gồm các phần sau:
- Bài viết: quy đinḥ khối lương ̣ bài HS phải viết trong bài chính tả Có khi
HS viết trọn vẹn cả bài, có khi chỉ viết 1 đoaṇ (đối với bài dài ởlớp 4,5)
- Viết đúng: nêu các trường hơp ̣ cu ̣thểcần phải viết đúng Đây làyêu cầutrọng tâm cần rèn luyện của tiết chính tả
- Luyêṇ tâp ̣: Mỗi bài chính tả thường cómôṭsốbài tâp ̣ đểcác em luyêṇ tâp ̣ thêm nhằm khắc sâu hiêṇ tương ̣ chính tả được học như bài tập điền âm , điền vần dê ylâñ lôṇ vào các âm tiết , các câu, các đoạn dùng các từ có vấn đề chính tả
để đặt câu…
1.1.4.3 Sách giáo viên
Phân môn Chinh́ tảởtiểu hoc ̣ có3 dạng cơ bản là:
- Tâp ̣ chép
- Nghe - viết
- Nhớviết
Tương ứng với nôị dung chương trinh̀ SGK , SGV TV Tiểu hoc ̣ cũng đưa
ra mâũ bài soaṇ tương ứng Chúng ta có thể khái quát thành quy trinh̀ như sau:
Quy trình dạy 1 tiết Chính tả
Hoạt động 1 Kiểm tra bài cũ:
+GV cho HS viết vào bảng con môṭsốtừ khómàcác em đa yhọc ở tiết trước
+Kiểm tra bài chính tả HS làm ở nhà +GV nhâṇ xét vàchấm điểm môṭsốbài
Trang 23Hoạt động 2 Dạy bài mới:
Bươc 1 Giơi thiêụ bai:
lại nội dung bài chính tả
+ Hương dâñ HS nhâṇ xet bai chính tả theo gợi ý trong SGK
(cách trình bày bài văn, bài thơ…)
+ Hương dâñ HS tâp ̣ viết 1 sốtư kho
Bươc 3 Hương dâñ HS viết chính tả:
* Đối với bài chính tả tập chép
GV yêu cầu HS nhin bang hoăc ̣ nhìn SGK để chép (Chú ý: yêu
̃̀ ̃z
cầu HS đoac ̣ nhẩm cảcâu ngắn, cả cụm từ rồi viết liền mạch)
* Đối với bài chính tả nghe - viết (đoc ̣ - chép)
GV đoc ̣ trươc môṭlần toan bô ̣bai Sau đo đoc ̣ tưng câu ngắn , tưng cuṃ
từ để HS viết (nên đoc ̣ 3 lần) Cần đoc ̣ rõràng từ, cụm từ phải có nghĩa Sau khiviết xong GV đoc ̣ laịtoàn bài đểHS tư ̣soát lại (Lưu ý: Khi đoc ̣ cho HS viết GVnên đứng giữa lớp, đảm bảo tốc đô,̣yêu cầu chương trinh̀ đềra)
* Đối với bài chính tả nhớ viết
GV cho HS nhớlaịnôịdung bài hoc ̣ đa yhoc ̣ ở tiết trước vàtư thếviết, GVhướng dâñ HS cách tư ̣nhớlaịbài hoc ̣ thuôc ̣ lòng đó Hướng dâñ HS đoc ̣ nhẩmtừng câu sau đóviết laịtừng dòng theo thứ tư ̣từ đầu đến cuối (Chú ý: Nhắc HSviết đúng đăc ̣ điểm của từng thểloaịvăn bản)
Bước 4 Chấm vàchữa bài:
GV cho HS tư ̣soát lỗi bài chính tả của mình
Yêu cầu HS đổi vởchéo cho nhau vàsoát lỗi bài viết của bạn (dùng bútchì ghạch chân dưới lỗi sai và sửa ra ngoài lề)
GV thu môṭsốbài đểchấm taịlớp Sau đónhâṇ xét vàtuyên dương
Trang 2414
Trang 25+ HS làm các bài tâp ̣ đúng vào vở
Hoạt đông 3 Củng cố dặn dò:
+ GV nhâṇ xét tiết hoc ̣ vàtuyên dương HS+ Dăṇ HS làm bài tâp ̣ ởnhà
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học Chính tảtrong nhàtrường
1.2.1.1 Vềphica giáo viên
Hiện nay ở các trường Tiểu học miền xuôi nói chung đặc biệt là trường Tiểuhọc Hải Ninh thuộc địa bàn huyện Hải Hâụ tinhz Nam Đinḥ nói riêng phần lớn bộ phận các GV trong nhà trường đã có sự quan tâm rất nhiều tới vấn đề nói vàviết chính tả của các em HS Vì vậy nhiều GV đã có những đề xuất về phương hướng sửa lỗi chính tả cho HS nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng nói và viết chuẩn Tuy nhiên bên cạnh sự quan tâm sát sao đó thì thực trạng sửa lỗi chính tả cho HSở trường Tiểu học Hải Ninh còn tồn tại nhiều hạn chế Cụ thể là:
* Trình độ của GV chưa đồng đều
Chất lượng dạy Chinh́ tả cho HS Tiểu học trước hết phải nói đến trình độ
đã được đào tạo của đội ngũ GV Trình độ đào tạo của GV ảnh hưởng khôngnhỏ và là yếu tố trực tiếp tác động đến chất lượng học của HS Đều là GV Tiểuhọc và với cùng một chương trình đào tạo như nhau nhưng thời gian đào tạo củamỗi GV ở mỗi trình độ khác nhau là khác nhau Cụ thể: thời gian đào tạo đối với
GV trình độ ĐH là 4 năm, còn thời gian đào tạo GV trình độ TC và CĐ chỉ là 2
-3 năm Với 2 - -3 năm để hoàn thành một chương trình đào tạo khổng lồ như thế
và cũng khoảng thời gian ấy mỗi người GV trang bị được cho mình một hànhtrang vững vàng cả về mặt kiến thức và năng lực sư phạm để đảm bảo yêu cầu
15
Trang 26một người GV chuẩn bị khi ra trường thì quả là một khó khăn lớn Do đó, vớiđội ngũ GV được đào tạo như trên khi ra trường sẽ dẫn tới một thực trạng đó làtrình độ, năng lực còn hạn chế, cụ thể nó được thể hiện ở phương pháp giảngdạy, việc tổ chức dạy và học trong một giờ học còn có những hạn chế nhất định.
Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung, trình độ của đội ngũ GV không đồng đều
và trường Tiểu học Hai Ninh ở huyện Hai Hâụ là điển hình Qua thực tế khảo sát
trình độ của GV dạy khối lớp 3 ở Trường Tiểu học Hai Ninh mà tôi tiến hành
̃znghiên cứu cho thấy: có 3 GV dạy khối lớp 3 thì có 1 GV trình độ CĐ (chiếm33%) và 2 GV trình độ đào tạo là TC (chiếm 66%) không có GV ở trình độ ĐH.Đây là một thực tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy - học trong trường nóichung và chất lượng hoc ̣ Chinh́ tảcủa HS nói riêng
* Trong các giờ học Tiếng Việt đôi khi chưa được quan tâm đúng mức
1 Hiện nay, trong khi cả nước đang tiến hành đổi mới phương pháp vàcách thức dạy học phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức và đặc điểm tâmsinh lý của HS Thì một số bộ phận GV vẫn duy trì và dập khuôn theo cách dạyhọc truyền thống Đó là sử dụng hình thức dạy học lấy GV làm trung tâm, GV làngười tổ chức tất cả các hoạt động trên lớp của HS, toàn bộ mạch kiến thức hầunhư được GV giới thiệu, xem xét, đánh giá và kết luận, còn HS thì thụ động tiếpthu kiến thức của bài học, không tự mình tìm tòi, khám phá ra cái mới Do đóviệc truyền thụ kiến thức còn chưa thực sự quan tâm đến đối tượng HS, và việclĩnh hội tri thức của HS bị phụ thuộc nặng nề vào bài giảng của GV HS khôngchịu khó suy nghĩ, ỷ lại, thụ động Mà ít có cơ hội bộc lộ năng lực bản thân đặcbiệt đối với HS trình độ nhận thức còn chưa cao, khả năng tư duy kém, việc tiếpthu kiến thức bài học một cách thụ động như vậy có thể ngay lúc đó các em đãnhớ nhưng có thể quên ngay sau đó Do vậy, hiệu quả giờ học mang lại của cácmôn học nói chung và phân môn Chinh́ tảnói riêng là rất thấp
Tuy nhiên phải nói thêm rằng, bên cạnh những GV vẫn duy trì cách dạytruyền thống như trên thì vẫn có một số bộ phận GV tiếp thu được và đã có một
số đổi mới trong phương pháp truyền đạt kiến thức của mình đến cho HS trongcác giờ học của các phân môn hay môn học khác Còn đối với phân môn Chinh́
Trang 27tả thì phần lớn vẫn duy trì cách dạy truyền thống cũ ; điều đó cũng là nguyênnhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học Chinh́ tảtrong nhà trường.
2 Những khó khăn về đời sống riêng tư cũng như cơ sở vật chất phục vụcho việc giảng dạy của GV cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy
Đời sống của môṭsốGV còn gặp rất nhiều khó khăn về: kinh tế, hoàn cảnhgia đình,… đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giảng dạy của GV Thực tế
đã cho thấy, kinh tế của người GV chưa ổn định sẽ kéo theo nhiều vấn đề như:Đến trường muộn, chưa thể vận dụng tối ưu các phương pháp, hình thức vàphương pháp dạy học phong phú (máy chiếu, bảng phụ, các tư liệu, tài liệu thamkhảo, các đồ dùng phục vụ cho giảng dạy…) Ngoài ra kinh tế gia đình chưa ổnđịnh, người GV chưa thể yên tâm công tác mà cái lo nhiều vẫn là “cơm áo, gạotiền” Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để họ giảm bớt mối lo trên, để giúp họ cảithiện đời sống yên tâm công tác
Bên cạnh đó cơ sở vật chất của trường còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chấtchưa thể đáp ứng được nhu cầu dạy và học: bàn ghế thô sơ, đồ dùng phục vụ choviệc dạy và học còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học Điều này
đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy của GV
3 Những vấn đề đặt ra từ khảo sát
Từ thực trạng trên đã đặt ra một việc hết sức cấp bách và cần thiết đó làviệc sửa lỗi chính tả và rèn luyện c ách viết vànói cho HSTH nói chung và HSlớp 3 của Trường Tiểu học Hải Ninh nói riêng Đưa các em nói đúng, viết chuẩn
là việc rất quan trọng để các em học tập tốt hơn, nâng cao việc tiếp thu tri thứckhoa học để trở thành người có ích cho xã hội góp phần xây dựng quê hươngngày càng tươi đẹp hơn
1.2.1.2 Vềphica hoc ̣ sinh
* Thực trạng học Chính tả trong nhà trường Tiểu học
1 Nói và viết chưa đúng, chưa chuẩn và còn mang âm sắc địa phương
HS khi tới trường bắt đầu được tiếp xúc, làm quen và học tập bằng mộtngôn ngữ hoàn toàn mới là tiếng phổ thông; các em thường chỉ tiếp xúc vớingười địa phương nên khi tới trường các em phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói
17
Trang 28và ngôn ngữ viết Các em phải làm quen với một hệ thống âm không hoàn toàngiống tiếng địa phương.
Cách nói và viết của HS còn chưa đúng, chưa chuẩn, các em thường nhầmgiữa một số phụ âm đầu, âm vần, thanh điệu của các tiếng, từ tiếng phổ thông;khi giao tiếp bằng tiếng phổ thông mặc dù đã có ý thức hơn song việc nhận thứccủa các em để được một cuộc giao tiếp đạt hiệu quả thì rất khó
2 HS coi Chính tả như một môn học bắt buộc phải học
Không chỉ riêng gì với HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh Hải Hậu Nam Định mà hầu hết các HS ở các nơi khác và ngay cả các cấp học cao hơnvẫn nhìn nhận Chính tả là một môn học “phụ”, bổ chợ cho kỹ năng sử dụngtiếng Việt trong ngôn ngữ nói Với quan niệm trên, nếu chỉ dừng lại ở mức độhọc cho biết, cho xong thì người Việt Nam không ai là không mắc lỗi chính tả.Chính tả là một phân môn nhỏ nhưng nó góp phần khá lớn vào việc hình thành
-kỹ năng sử dụng đúng và chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt, đồng thời còn là cơ sở choviệc sử dụng ngôn ngữ để học tập các môn học khác HS lớp 3 trường tiểu họcHải Ninh hầu hết cũng chỉ quan tâm đến phân môn Chính tả ở góc độ học chobiết nói, biết viết cái chữ, chứ chưa thực sự quan tâm đến các lỗi sai mà mìnhmắc phải, sử dụng ngôn ngữ trong khi nói sao cho đúng, cho chuẩn
Nói và viết sai ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen và ảnh hưởngkhông nhỏ đến sau này; nói và viết không chỉ là công cụ giúp HS chiếm lĩnh vănhóa, trau dồi kiến thức, tư duy để học tập mà còn tạo điều kiện ban đầu trong hànhtrang ngôn ngữ cả đời người trong các em Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phânmôn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà trường; thế nhưng trên thựctế lại không như vậy, không riêng gì với HS trường Tiểu học Hải Ninh mà hầu hếtcác em HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Chính tả Điều đóđược thể hiện cụ thể: theo thống kê phiếu điều tra khảo sát HS lớp 3 của TrườngTiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Định mà tôi tiến hành nghiên cứu cho thấy: cótới 65% HS là không thích học phân môn Chính tả, 35% thích và rất thích học mônnày khi hỏi: “em có thích học Chính tả không?” hay với câu hỏi: “theo em, phânmôn Chính tả có vai trò như thế nào?” thì có tới 61% HS trả lời không
Trang 29quan trọng, chỉ 39% HS cho là quan trọng và rất quan trọng Còn với câu hỏi:
“em dành thời gian như thế nào đối với việc học phân môn Chính tả?” đa số các
em trả lời dành thời gian ít (chiếm 58%) hoặc không dành thời gian (chiếm25%), rất ít HS trả lời dành nhiều thời gian cho môn học (chỉ với 17%) và bìnhthường
Như vậy chúng ta thấy một thực tế của HS lớp 3 Trường Tiểu học HảiNinh cho biết là các em chỉ quan tâm tới phân môn Chính tả ở góc độ sử dụngtiếng Việt bằng lời nói và chữ viết và là một môn học bắt buộc phải học trongnhà trường, chứ chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học Chính tả, nói
và viết thế nào cho đúng, cho chuẩn, chưa thực sự quan tâm đến lỗi mà mìnhmắc để nói, viết sao cho đúng, chuẩn tiếng Việt
Mấy năm gần đây các trường Tiểu học trong huyện Hải Hâụ nói chung vàtrường Tiểu học Hải Ninh nói riêng , phong trào chữ viết đã được chú trọng vàngày càng nâng cao Tuy nhiên, qua khảo sát bài viết của học sinh khối lớp 3còn hạn chế Nhiều em chưa nắm vững các quy tắc, mẹo luật chính tả, có emphát âm sai dẫn đến bài viết sai nhiều lỗi chính tả Mặt khác một số em do thiếucẩn thận nên để thừa hoặc thiếu một số nét, thiếu dấu dẫn đến sai lỗi chính tả
* Lỗi chính tả của học sinh ở trường
Qua dự giờ một số tiết chính tả ở khối lớp 3 của trường, sau khi khảo sátmột số bài chính tả ở các lớp, tôi thống kê được một số lỗi của học sinh mắcphải như sau :
Bảng 2 Bảng thống kê một số lỗi của học sinh mắc phải.
90
19
Trang 30+ Về lỗi âm đầu:
HS thường viết sai các cặp phụ âm : l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi, ng/ngh, g/gh Trong đó lỗi chính tả tập trung ở r/d/gi, ch/tr , l/n, s/x ( khoảng 70%)
+ Về lỗi phần vần:
HS vẫn còn lẫn lộn các cặp vần : ui/ uơi, in/inh, ưu/ươu, iêu/iu (chiếm
80%) hoặc viết sai ở các vần khó như : uya, uyn, uyt, ươt (chiếm 20%)
+ Về lỗi dấu thanh:
Chủ yếu là sai thanh hỏi / thanh ngã, đặc biệt do các từ láy hoặc từ Hán
-Việt, các em thường không phân biệt thanh hỏi - thanh ngã
1.2.2 Vềtình hình thưc ̣ tếhoc ̣ sinh
1.2.2.1 Thuận lợi
- Sĩ số học sinh không đông, thuận lợi cho việc kiểm tra (chấm bài viếtchính tả thường xuyên, phát hiện lỗi sai kịp thời để học sinh sữa chữa và khắcphục viết đúng)
- Học sinh có đầy đủ vở Chính tả và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ nộidung bài tập chính tả)
- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ tuần đầunăm học (thống kê phân loại học sinh học yếu chính tả để theo dõi thường xuyênvào những giờ chính tả)
1.2.2.2 Khó khăn
- Tình hình thực tế học sinh lớp 3 ở đây vốn từ các em còn hạn chế Các
em chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ tiếng Việt
vô cùng phong phú
- Đa số gia đình các em sống về nghề nông còn nghèo, cha mẹ còn lo đilàm đồng để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em
- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức về học Chính tả
1.2.2.3 Khảo sát thực trạng
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu :”Biện pháp khắc phuc ̣lỗi chinh́ tảcho học sinh lớp 3”, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việcviết chính tả của 60 học sinh thuôc ̣ 2 lớp 3A và3B ngay từ khi bắt đầu thời gian
Trang 31thưc ̣ tâp ̣ Qua khảo sát tôi thấy học sinh còn mắc lỗi chính tả rất nhiều, có một sốhọc sinh viết sai 14 lỗi trong một bài chính tả Cụ thể khảo sát chất lượng mônTiếng Việt trong đó có bài viết chính tả tôi thống kê số lỗi chính tả như sau:
Bảng 1 : Bảng thống kê lỗi viết sai chính tả của học sinh lớp 3 trường
tiểu hoc ̣ Hai Ninh
̉)
Số Các lỗi Chính tả thường mắc
Viết sai phụ âm Viết sai phần Viết sai về thanh
HS đầu: l/n, d/r/gi, vần: ay/ây, điệu: ngã/hỏi
Ngoài những lỗi điển hình nêu trên thì các em còn bị lẫn và viết sai những
âm, vần, những từ do ảnh hưởng từ tiếng địa phương
Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng tớikết quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
Nhận xét: Qua bảng số liệu thống kê trên cho thấy HS của Trường Tiểu
học Hải Ninh đều mắc lỗi chính tả tương đối nhiều:
Thứ nhất: Về phụ âm
Số lượng HS mắc lỗi về phụ âm chiếm tỉ lệ lớn Tập trung nhiều ở trườnghợp phân biệt l/n, r/d/gi Trong đólớp 3A là 21/30 em (chiếm 70%), lớp 3B là22/30 em (chiếm 73%)
Ví dụ: Trong bài cótừ: “ lên lớp” HS viết thành “ nên nớp”
21
Trang 32Thứ hai: Về phần vần
So với số lượng HS mắc lỗi về phụ âm thì tỉ lệ HS mắc lỗi phần vần về cơbản cũng có phần giảm hơn Tuy nhiên số lượng HS mắc lỗi về phần vần vẫnchiếm tỉ lệ tương đối cao trong đó lớp 3A có 13/30 em mắc lỗi (chiếm 43%), lớp3B có 13/30 em mắc lỗi (chiếm 43%)
Ví dụ: Trong bài cótừ: “huyền” HS viết thành “ huền”.
Thứ ba: Về thanh điệu
Lỗi sai do thanh điệu thì đa số các em thường nhầm lẫn giữa hai thanh đó
là thanh hỏi vàthanh nga.y
Ví dụ: Từ “đô”̃ HS laịviết thành “ đổ”.
Cụ thể như sau:
a Về thanh điệu
Học sinh chưa phân biệt được hai thanh hỏi và thanh ngã
* Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sữa lỗi (từ đúng: sửa lỗi ), …
b Về âm đầu
- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ g/ gh: đua ge, gi bài
+ ng/ ngh: ngỉ nghơi.
+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc
+ s/ x : sẻ gỗ, chim xẻ.
+ d/ gi: dữ gìn, da vị
Qua thực tế giảng dạy môṭsốtiết tôi nhận thấy lỗi về s/x ; g/gh; ng/ngh; d/
gi là phổ biến hơn cả.
c Về âm chính
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay).
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe).
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).
Trang 33+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp).
+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng).
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
d Về âm cuối
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các (đất cát).
+ an/ang: cái bàng (cái bàn).
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo).
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng).
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu).
+ ân/âng: vân lời (vâng lời).
+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)
+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật).
+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha).
+ uôn/uông: mong muống (mong muốn).
+ uôt/uôc: suốc đời (suốt đời).
+ ươn/ương: vường rau (vườn rau).
e Lỗi viết hoa
Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em,trong tất cả bài viết của học sinh trong lớp thì chỉ có một em duy nhất không sailỗi nào đó là em: Hoàng Xuân Tùng
Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:
* Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-T1, tr.20) - Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá.
Học sinh viết: “nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”.
* Viết hoa tùy tiện:
Ví dụ: Nghe - viết: Người mẹ (TV3 - Tập 1), tr.30
23
Trang 34- Câu: Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả.
Học sinh lại viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được
tất cả”.
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác như:
Trình bày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là
“mền”; “miền Nam” lại viết “miềm Nam”).
Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đềumắc (kể cả học sinh khá, giỏi) số lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa,lỗi phụ âm đầu và lỗi âm chính So với yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (khôngquá 5 lỗi trong một bài) thì trình độ kĩ năng viết chính tả của học sinh còn quáthấp (số bài có từ 6 lỗi trở lên chiếm 41%: khảo sát chính tả đầu năm)
Thực trạng trên đây là rất đáng lo ngại đòi hỏi mỗi chúng ta cần phảinghiên cứu và tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ các em khắc phục lỗi chính tả
- Qua nghiên cứu phân tích, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc viết sai lỗi
chính tả của học sinh là do phát âm sai thanh hỏi/ thanh ngã lẫn lộn.
Ví dụ : Suy nghĩ / suy nghỉ
Nghĩ ngợi / nghỉ ngợi
Cũ kĩ / củ kỉ
Do đặc điểm phương ngữ của học sinh còn phát âm sai các tiếng có phụ
âm đầu tr/ch, s/x, d/r/gi, l/n, nên dẫn đến việc phát âm sai các tiếng có phụ âm
này:
Ví dụ : giải phóng / dải phóng; rì rào/dì dào
xúc động / súc động truyền thống / chuyền thống là nếp / nà nếp long lanh / nong nanh.
Theo thống kê số âm tiết sai về vần cũng chiếm tỉ lệ đáng kể Nguyên nhân của hiện tượng này là do HS chưa nắm vững cấu tạo nên còn viết lẫn lộn
- Ở một số cặp vần khó phân biệt hay do phát âm sai (không chuẩn) dẫn đến viết sai:
Trang 35Ví dụ : ươu / ưu : con hươu / con hưu
ưu / iu : nghỉ hưu / nghỉ hiu ươi / ui : quả chuối / quả chúi
- Với các cặp vần có âm ă, â học sinh thường hay nhầm lẫn như
sau: Ví dụ : bà cháu / bà chấu
gặp gỡ / gập gỡ thứ sáu / thứ sấu
Ngoài ra theo phương ngữBắc Bô ̣các em thường hay mắc các phu ̣âm
đầu như: ch,tr; r,d,gi; l,n;…
1.2.3 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của HS
Trong cuộc sống, hình thức giao tiếp quan trọng giữa người với người làtiếng nói và chữ viết Muốn cho người giao tiếp hiểu được tiếng nói, chữviếtcủa mình thì yêu cầu người nói người viết phải phát âm đúng, viết đúng rõ ràng.Nếu phát âm sai, viết sai sẽ làm cho người nghe hiểu sai hoặc không hiểu đượcnghĩa của điều mình muốn truyền đaṭ Như vậy chính tả đóng vai trò quan trọngtrong hoạt động giao tiếp và học tập Tuy nhiên trên thực tế khảo sát điều tra chothấy HS nói chung và đặc biệt là HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh nói riêngcòn sai nhiều lỗi chính tả Trong đó có rất nhiều nguyên nhân gây ra lỗi chính tả
và một trong những nguyên nhân chính phải kể đến trước hết là do chính HS,sau đó là GV - những người hướng dẫn trực tiếp, tiếp xúc với HS trong quá trìnhhọc tập
1.2.3.1 Về phía HS
Thứ nhất: Do môi trường sử dụng tiếng Việt của HS
Các em HS sinh ra tại địa phương nơi mà cha ông đã gắn bó từ lâu đời và
ngôn ngữ sử dụng chủ yếu là tiếng điạ phương ; các em it́ sử dụng tiếng Việt chung ngay cả khi giao tiếp; hầu hết các em chỉ nói tiếng Việt khi đến trường, đến lớp còn khi về nhà đều sử dụng tiếng điạ phương, coi trọng tiếng điạ phương
Sự phát âm địa phương cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc nói và luyêṇviết của HS Tiểu học trong những năm đầu cấp Ở lớp thầy cô có thể uốn nắnsửa sai nhưng về nhà với thói quen nói tiếng điạ phương lại không ý thức được,
Trang 3625
Trang 37bốme ̣hầu như không để ý tới việc sửa lỗi chính tả cho con mình; hơn nữa việchọc tập cũng không đưa ra một mục đích rõ rệt, ít quan tâm đến việc viết và nóicủa các em Chính cha mẹ là những người lớn nói ngọng, viết sai nên khôngnhận ra con mình nói và viết như thế nào là sai, như thế nào là chuẩn để sửa Do
đó các em không được sửa chữa kịp thời
Ví dụ:
Các phụ âm như: +“long lanh” các em nói và viết là “nong nanh”
+ uống rượu” các em nói và viết là “uống riệu”
Ngoài ra, việc phân biệt các phụ âm cuối cũng có sự ảnh hưởng khôngnhỏ tới việc mắc lỗi phát âm của HS
Ví dụ: phân biệt: “ ăn cơm” thành “ăm cơn”, “cảm ơn” thành “cản ơm”… Như
vậy, đối với HS khi học Chính tả GV nên lưu ý HS phải chú ý nghe thầy (cô)
phát âm để nói cho đúng; do đó GV phải cố gắng phát âm cho rõ ràng,tốc độ vừa phải mới có thể giúp HS nói và viết đúng
Thứ hai: Nguyên nhân tâm lý
HS thường hay sợ sệt, rụt rè; không mạnh dạn khi tiếp xúc với thế giớixung quanh nên các em thường sợ khi tiếp xúc trực tiếp với các thầy cô giáo củamình Có những em nhiều khi muốn hỏi thầy cô giáo mình về một số từ khó phát
âm, khó viết khi đang phân vân không biết nên nói và viết thế nào là đúng,chuẩn thì các em không đủ can đảm, tự tin để hỏi và trình bày ý kiến của mình.Như vậy, những vấn đề HS thắc mắc đã không được đề xuất với GV, làm chonhững gì không biết bị quên lãng, HS không có cơ hội nhận được lời giải
Thứ ba: Do ý thức của HS
Do trình độ nhận thức của HS còn chậm nên nhận thức các em về việc họctập nói chung còn chưa cao; và ở lứa tuổi này các em thích chơi hơn là thích học, sự tự ý thức của bản thân ở các em còn thấp, nhất là đối với các em HS trường Tiểu học Hải Ninh chưa ý thức được tầm quan trọng của vấn đề nói và viết đúng, chuẩn Nên khi tôi đặt câu hỏi : “Em dành thời gian như thế nào đối với việc hoc ̣ Chinh́ tả?” đa số các em trả lời dành thời gian ít (chiếm 58%) hoặc
26
Trang 38không dành thời gian (chiếm 25%), rất ít HS trả lời dành nhiều thời gian cho môn học (chỉ với 17%) và bình thường.
Như vậy các em dành thời gian quá ít cho việc học Chinh́ tả , rèn kỹ năng chính tả và cho việc học tập đọc do đó khi nói vàviết các em mắc rất nhiều lỗi ;
đó cũng là một phần chưa có ý thức thường xuyên ở nhà Bên cạnh đó, các em còn chưa có ý thức trong việc học hỏi những vấn đề liên quan đến viêc ̣ nói và viết; đó cũng là lý do khiến các em lơ là khi nói vàviết
1.2.3.2 Về phía GV
Thứ nhất: Do GV phát âm chưa chuẩn và còn nói sai.
Các GV dạy trong trường phần lớn là người điạ phương vàcác tinhz lân câṇ (Thanh Hóa, Hưng Yên) đến công tác tại trường
Do chịu ảnh hưởng của lối phát âm địa phương đặc trưng nên nhiều GVcòn phát âm chưa chuẩn Đối với hầu hết các GV thường mắc lỗi phát âm đối
với các âm: l - n, ch - tr, s - x và giữa dấu hỏi, dấu ngã như: “Suy nghĩ” phát âm thành “suy nghỉ”, “sạch sẽ” phát âm thành “sacḥ sẻ”
Bên cạnh đó, GV nhiều khi còn nói và viết sai Nhiều câu trên bảng của
GV không rõ ràng Như khi tôi dự giờ môn Chính tả của cô Dương Thi Hiềṇ
trường Tiểu học Hải Ninh, cô nói: “cả lớp” thành “cả nớp”, trong lúc giảng bài
cho HS Và đôi khi có một số chỗ cô nói và viết trên bảng chưa thật rõ ràng làm cho HS không nghe được hoặc nghe sai
Như chúng ta đã biết, với HS tiểu học các em luôn coi GV của mình là
“một tấm gương chuẩn mực” để soi mình vào đó; mọi việc đều nghe và làm theothầy, cô giáo của mình Do đó việc GV phát âm chưa chuẩn và còn nói sai, viếtsai sẽ dẫn đến HS nói và viết sai lỗi chính tả là điều không thể tránh khỏi
Thứ hai: Do GV phải dạy nhiều cho HS và nhiều đối tượng HS khác nhau Với
thời gian của một giờ học là 35 phút mà GV phải dạy nhiều cho HS trong một
lớp học thì sẽ không có điều kiện cũng như thời gian để quan tâm sátsao đến từng cá nhân HS trong một lớp Đặc biệt trình độ nhận thức của các em
HS còn yếu, khả năng tiếp thu bài chậm; hơn nữa với ngôn ngữ địa phương vẫncòn nói ngọng và sai Do đó tỉ lệ mắc lỗi chính tả là rất cao; thêm nữa điều kiện
Trang 39cũng như thời gian để GV quan tâm sát sao, uốn nắn lỗi sai của các em không cónhiều Có nhiều em mắc lỗi không được uốn nắn, chỉnh sửa kịp thời nên đã sailại càng sai nhiều hơn.
Bên cạnh đó, phần hướng dẫn chính tả của bài viết chính tả (tập chép,nghe - viết, nhớ viết) có nhiều GV chỉ hướng dẫn qua trong một thời gian ngắnrồi cho HS viết Do đó HS khó nắm được các phụ âm, vần, thanh cần phân biệt,các từ cần viết hoa…
Thứ ba: Trong quá trình dạy, do GV nhận thức được nhưng chưa làm được
Theo điều tra thì 100% các thầy cô giáo đều cho rằng phân môn Chính tả
có vai trò quan trọng trong nhà trường khi tôi đặt câu hỏi: “Theo thầy (cô), mônChính tả trong nhà trường có vai trò như thế nào?” Điều này chứng tỏ, các GVđều có nhận thức cao về vai trò và tầm quan trọng của phân môn Chính tả Vậyphân môn Chính tả phải được coi trọng trong nhà trường và cùng với đó là chấtlượng dạy học Chính tả của HS sẽ được đảm bảo; thế nhưng trên thực tế lạikhông như vậy bởi trình độ chuyên môn của đội ngũ GV còn chưa cao Do đókết quả học của HS còn thấp, các em mắc lỗi chính tả còn rất nhiều, trở thànhtình trạng xảy ra phổ biến ở các em
Như vậy một trong những nguyên nhân dẫn đến HS mắc lỗi chính tả là do
GV trong quá trình dạy nhận thức được nhưng chưa làm được
Ngoài ra học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từlớp dưới, chưa nắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáoviên, chưa hiểu rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ýkhi viết chính tả
Bên canḥ đóhoc ̣ sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:
+ Lỗi do vô ý, chưa - cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh).
+Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, uêch, …) + Lỗi do phát âm sai (at/ac, et/ec, an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, …) + Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn, …).
28
Trang 40+ Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â, o,
ô, ơ, u, ư và gh, ngh chỉ ghép với e, ê, i ).
Từ những điều trên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học phân môn Chính tả của các em và đó cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng sai lỗi nhiều
Ví dụ:
Nói và viết “ngã rồi ” mà thực chất là “ngã lồi” Nói
và viết “nớp học’’ mà thực chất là “lớp học” Nói và
viết “mầu sắc’’ mà thực chất là “ màu sắc ’’.
Chính vì thế, nếu ta không hiểu nghĩa từ thì khó mà viết đúng Việc nói vàviết chưa chuẩn ấy luôn diễn ra trước học sinh trong lớp, trong trường và ngoài
xã hội
Vậy nguyên nhân chính dẫn đến mắc lỗi chính tả của học sinh là :
- Thứ nhất, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương
- Thứ hai, do chưa hiểu biết đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dungngữ nghĩa của các từ
1.2.4 Số bài, thời lượng học
Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết Cả năm học sinh đượchọc 62 tiết chính tả
Chương trình của phân môn Chính tả ở khối lớp 3 gồm các dạng
sau: * Chính tả đoạn, bài:
Học sinh nhìn – viết ( tập chép) hoặc nghe – viết một đoạn hay một bài có
độ dài trên dưới 60 chữ (tiếng) Phần lớn các bài chính tả này được trích từ bàitập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc
* Chính tả âm, vần :
Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần dễ
viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c/k, g/gh,
ng/ngh, ia/ya, i/y,…)
Hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương ( l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi,
an/ang, ac/ at, dấu hỏi, dấu ngã )