Nguồn nguyênliệu để cung cấp cho việc chế biến thức ăn chăn nuôi phải dựa vào nguồn nguyênliệu sẵn có rẻ tiền, bảo đảm chất lượng vệ sinh nhất là nấm mốc phải được loại bỏ, vì thú nuôi r
Trang 11 MỞ ĐẦU
Việt nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển với tiềm năng về trồngtrọt và chăn nuôi, mà ngành chăn nuôi chỉ có thể phát triển khi nó đạt được hiệuquả kinh tế nhất định Điều đó rõ ràng năng suất chăn nuôi trước hết phụ thuộcvào việc cung cấp thức ăn cho vật nuôi Hiện nay việc chăn nuôi kiểu chăn thả tựnhiên (nuôi quảng canh) đang có xu hướng thu hẹp, do khả năng khống chế dịchbệnh và các chi phí chăn nuôi cao, mà hình thức chăn nuôi này không mang lạihiệu quả kinh tế cao….Nhiều nơi, nhiều hộ gia đình đã chuyển sang hướng nuôicông nghiệp, chăn nuôi theo các quy mô vừa và lớn dưới dạng trang trại hay xínghiệp
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp có dạng thức ăn hỗn hợp Nguồn nguyênliệu để cung cấp cho việc chế biến thức ăn chăn nuôi phải dựa vào nguồn nguyênliệu sẵn có rẻ tiền, bảo đảm chất lượng vệ sinh nhất là nấm mốc phải được loại bỏ,
vì thú nuôi rất nhạy cảm với thức ăn nhiều nấm mốc, nấm mốc sinh sản ra độc tốaflatoxin có thể gây chết hàng loạt Trong thức ăn chăn nuôi chứa đầy đủ cácthành phần như: Protein, năng lượng, vitamin, chất khoáng, enzim….Nhằm đápứng cho quá trình duy trì tăng trưởng, đẻ trứng ……
Để đáp ứng cho quá trình đó thì phải có các nhà máy sản xuất có trang thiết
bị hiện đại để có thể chế biến ra những loại thức ăn dạng viên.Tuy nhiên kinh phí
để đầu tư một dây chuyền sản xuất thức ăn viên là khá lớn Vì vậy việc nghiên cứuthiết kế, chế tạo dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi dạng viên có giá thành hạ,đáp ứng nhu cầu thực tế ở nhiều doanh nghiệp chăn nuôi mang tính cấp thiết cao
Khó khăn này đã đặt ra cho ngành cơ khí chế tạo máy là tiếp cận với nhữngthành tựu khoa học hiện đại để có khả năng thiết kế, chế tạo ra các dây chuyền sảnxuất thức ăn chăn nuôi dạng viên nhằm trang bị cho sản xuất và hướng tới thamgia thị trường chung của thế giới Kết quả này sẽ khuyến khích và tạo điều kiện
Trang 2thuận lợi xây dựng nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi dạng viên, tạo sự cạnh tranhlành mạnh về chất lượng và đáp ứng nhu cầu người chăn nuôi.
Được sự chấp thuận của Ban chủ nhiệm khoa Cơ khí – Công nghệ, dưới sựhướng dẫn của Thầy Nguyễn Như Nam, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Lắp đặt và khảo nghiệm dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi dạng viên năng suất 1 tấn/h”
Đề tài thực việc lắp đặt, khảo nghiệm để có cơ sở thực tế đưa vào ứng dụngtrong sản xuất dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi dạng viên năng suất 1 tấn/h.Đây là lần đầu tiên chúng em được tiếp cận một cách hệ thống với sản xuất, vì vậycác vấn đề khoa học được nghiên cứu, giải quyết không tránh khỏi những thiếusót Chúng em chân thành cám ơn sự đóng góp của Quý Thầy – Cô, các bạn sinhviên để em có thể dần hoàn thiện các kiến thức trước khi dời khỏi ghế nhà trường
Trang 32 MỤC ĐÍCH LUẬN VĂN.
Lắp đặt và khảo nghiệm xác định các chỉ tiêu làm việc đạt được của dâychuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi dạng viên năng suất 1.000 kg/h tại Trang trạichăn nuôi Trần Quốc Toản huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Nội dung thực hiện đề tài bao gồm:
1 Tìm hiểu một số dây truyền sản xuất thức ăn dạng viên
2 Tìm hiểu cấu tạo và nguyên lý hoạt động các máy móc thiết bị trong dâychuyền lắp đặt
3 Khảo nghiệm xác định các thông số kỹ thuật của các máy móc, thiết bị trongdây chuyền khảo nghiệm
4 Đánh giá chất lượng và đề xuất nâng cao chất lượng và hiệu quả của dâychuyền
Trang 43 TRA CỨU TÀI LIỆU SÁCH BÁO PHỤC VỤ ĐỀ TÀI.
3.1 Sơ lược về tình hình sản xuất thức ăn viên ở nước ta.
Từ sau năm 1975 thức ăn chăn nuôi dạng viên ở nước ta vắng mặt trên thịtrường cũng như ngành chăn nuôi Việt Nam chỉ có thức ăn dạng bột mà thôi Vàođầu năm 1993 thức ăn chăn nuôi dạng viên thực sự trở lại với thị trường ViệtNam, nó được xem là sự hiện diện mới nhất và mang lại cho nghành chăn nuôinhiều lợi ích
Hiện nay, thức ăn dạng viên đã tìm được vị trí vững chắc trong nghành chănnuôi ở nước ta
Đầu tiên xí nghiệp thức ăn gia súc VIFOCO đã đưa thức ăn dạng viên vàoquy trình sản xuất của xí nghiệp vào tháng 2 năm 1993, với nhiều thiết bị nhập từ
Mỹ Sau đó xí nghiệp đã nhập bộ khuôn mới vào từ đó và từ đó xí nghiệp đã bắtđầu đi vào ổn định với năng suất cả nhà máy có thể đạt từ 4-6 (tấn/h) Nhưng sảnphẩm xí nghiệp lúc này vẫn chưa được tiêu thụ mạnh do người nông dân chưaquen loại thức ăn này vào trong chăn nuôi đồng thời giá thành còn cao, chất lượngcòn thấp do hệ thống quá cũ
Tiếp theo sau đó vào tháng 9 năm 1993 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súcViệt Thái đã phục hồi dây chuyền sản xuất tương tự như dây truyền sản xuất của
xí nghiệp VIFOCO, năng suất có thể đạt từ 4-6 (tấn/h) nhưng vấn đề về chất lượngthời gian đầu vẫn chưa được thỏa mãn, xong xí nghiệp đã đạt được những thànhquả nhất định
Tháng 7 năm 1994 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc PROCONO bắt đầu đivào hoạt động với dây truyền sản xuất thức ăn viên của Pháp, năng suất 6 tấn/h.Tháng 1/1995 nhà máy chế biến thức ăn An Phú đã tiến hành lắp ráp dâychuyền ép viên và đi vào hoạt động tháng 3/1995 với dây chuyền máy Pellet.Cho đến hiện nay, thức ăn chăn nuôi dạng viên đã được sử dụng rộng rãi ởnước ta Nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi đã trang bị hệ thống sản xuất thức ăn
Trang 5dạng viên, như vào tháng 5/2005 nhà máy thức ăn gia súc Bình Minh đã lắp đặt hệthống thức ăn chăn nuôi dạng viên của Buhler (Thụy Sĩ).
Thức ăn gia súc dạng viên chỉ thực sự đến với ngành chăn nuôi vào đầu năm
1993 Thời kỳ đầu đã gặp không ít khó khăn trong sản xuất cũng như trong tiêuthụ Do đa số thiết bị là phục hồi lại nên sản phẩm chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật,thị trường chưa quen sử dụng thức ăn dạng viên vào chăn nuôi, giá thành còn cao.Nhưng hiện nay với trang thiết bị mới, hiện đại, chất lượng và năng suất sản phẩmđược cải thiện đáng kể và ổn định được giá thành nên thức ăn dạng viên chiếmmột vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi ở nước ta, đặc biệt là ngành chăn nuôigia súc, gia cầm, thủy cầm
3.2 Các nguồn nguyên liệu thường dùng làm thức ăn cho gia cầm và thuỷ cầm.
Nguyên liệu thức ăn là sản phẩm từ nguồn gốc động thực vật, vi sinh vật,chất khoáng và những chất tổng hợp hóa học khác Những nguyên liệu thức ănnày vừa bảo đảm cung cấp chất dinh dưỡng cho nhu cầu sinh lý sinh trưởng pháttriển sinh sản của gia cầm; vừa mang tính chất kích thích tăng trưởng, tăng sứckhỏe chống lại bệnh và vừa dễ hấp thu
Căn cứ vào thành phần dinh dưỡng có trong nguyên liệu và hàm lượng củachúng, các nguyên liệu chính thường dùng làm thức ăn cho gia cầm và thuỷ cầmgồm các nhóm:
+ Thức ăn tinh bột
+ Thức ăn giàu Protein
+ Thức ăn giàu khoáng
+ Thức ăn giàu Vitamin
3.2.1.Nhóm thức ăn tinh bột.
Đây là nhóm thức ăn được gọi là “thức ăn năng lượng”, “thức ăn cơ sở”,thường chiếm 60 -70% Khẩu phần bao gồm các loại bột ngũ cốc (hòa thảo) vàphụ phẩm của chúng
Nhóm này có tỷ lệ Protein dưới 20%, chất sơ dưới 18%, mỡ từ 2-5%, cũng
có loại chứa tới 12-13% dầu Dầu mỡ có trong ngũ cốc phần lớn được tạo thành từcác acid béo không no Chất lượng Protein của nhóm thức ăn này không cao và
Trang 6thiếu lyzin Việc thay đổi loại thức ăn cơ sở này bằng thức ăn cơ sở khác khônglàm tăng hoặc giảm đáng kể chất lượng protein của khẩu phần thức ăn ngũ cốc cónguồn khoáng cao cho gia cầm giàu phospho, nhưng nghèo can xi, thức nănglượng gồm khối lượng là cacbohydrate, khả năng tiêu hóa đến 95%.
Một số loại nguyên liệu thức ăn năng lượng thường sử dụng:
- Ngô: là thức ăn cơ sở của gia cầm, và thuỷ cầm với tỷ lệ thường chiếm 70% Ngô là thức ăn được gia cầm thích ăn, có vị thơm ngon, chứa năng lượngcao nhất so với thức ăn ngũ cốc khác, là nguyên liệu dùng để điều chỉnh mức nănglượng trong khi xây dựng thực đơn thức ăn hỗn hợp, protein thô từ 8-10%, mỡ thô4,5% Ngoài ra ngô chứa hàm lượng đáng kể caroten (tiền vitamin A), gia cầm ănngô đỏ da và lòng đỏ trứng vàng, làm tăng giá trị của thịt trứng Ngô là loại thức
45-ăn dễ tiêu hóa, tống số vật chất tiêu hóa 85-90%
Vì ngô chứa hàm lượng lượng bột đường cao, mỡ cao, nên ngô dễ bị nhiễmnấm mốc khi độ ẩm trên 15%, làm giảm chất lượng ngô, chứa độc tố aflatoxin Vìvậy cần phải qua chế biến để khắc phục những nhược điểm trên
- Thóc: là nguồn thức ăn chính trong chăn nuôi vịt, ngan truyền thống ở cácvùng và trong chăn nuôi thâm canh nuôi nhốt bán hoặc chăn thả đều dùng Thóc làmột loại thức ăn năng lượng chính, một lý do nữa là thóc ít bị mốc và nhiễm độctố
Hàm lượng chất dinh dưỡng của thóc: protein thô 6,5%, gluxit 59,3%, mỡthô 2,2% Tổng vật chất tiêu hóa của thóc là trên 65-70% Thóc tuy có giá trị dinhdưỡng thấp hơn ngô, nhưng là thức ăn được thủy cầm thích ăn, là nguyên liệudùng để cân đối năng lượng thấp trong khẩu phần thức ăn
- Cám gạo: ở nước ta nguồn cám gạo rất nhiều, vì tống sán lượng thóckhoảng trên 20 triệu tấn, lượng cám thu được qua xay xát thóc tới trên dưới 5 triệutấn Cám gạo thông thường có màu nâu sang, chứa mỡ, hơi “ nhớt”, nên ít bay bụi.Cám lụa màu trắng Theo định nghĩa của FAO (Tổ chức nông nghiêp và thựcphẩm Liên hiệp quốc), cám gạo là sản phẩm phụ của quá trình xay xát thóc gạo,được cấu tạo từ lớp ngoài của hạt gạo với toàn bộ lớp phôi nhũ, mầm Còn cámlụa là sản phẩm phụ của quá trình sát gạo, được tạo thành từ lớp trong của hạt vàphần nhỏ nhân tinh bột của hạt gạo Cám lụa có giá trị dinh dưỡng cao
Trang 7Rõ ràng cám có lượng vật chất khô tiêu hóa, protein tiêu hóa không kém ngô,riêng protein tiêu hóa cao hơn ngô, chỉ kém mỳ Nhiều nhà nghiên cứu đã xácđịnh trong protein của cám chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học Hàm lượnglyzin, albumin của cám gạo cao hơn gạo Cám sau khi ép lấy dầu (gọi là cám ép),
có mầu nâu xẫm, chứa hàm lượng protein cao khoảng trên 15%, có mùi thơm, nên
sử dụng làm nguyên liệu thức ăn cho gà Nhưng vì năng lượng thấp, xơ cao nênkhông nên chiếm tỷ lệ quá 15-20% cho các loại gà.Cám có thể sử dụng trong thức
ăn cho ngan, vịt rất tốt
Kê: Kê là thức ăn hạt, sản lượng không nhiều, chủ yếu được trồng ở vùng đấttận dụng vùng trung du và vùng núi.Giá trị dinh dưỡng sau ngô:Lượng protein thô10-11%, mỡ 2,5-3%, xơ biến động 2,2 (bỏ vỏ) 13,4% (ngiền cả vỏ) Năng lượngtrao đổi 2.670-3.100 Kcal/kg Trong thức ăn hỗn hợp thường chiếm tỷ lệ 35-40%
Kê có vị thơm ngon Cám kê được sử dụng làm thức ăn cho gà, ngan
Mỳ: Mỳ cũng là loại nguyên liệu thức ăn cơ bản của gia cầm Ở nước ngoài
sử dụng mỳ với tỷ lệ cao trong thức ăn hỗn hợp: 30-45% Ở nước ta thường chỉdùng cho người, vì hầu như không phát triển nghề trồng mỳ, mạch vì nước ta lànước nhiệt đới, năng suất thấp Những năm gần đây nước ta hàng năm thỉnhthoảng có nhập cám mỳ, mạch nhưng với số lượng chỉ vài trăm tấn/năm, dùngtrong thức ăn hỗn hợp của gà dò, gà đẻ Giá trị dinh dưỡng của mỳ cao hơn ngô,đặc biệt hàm lượng lizin, tryptophan Tổng vật chất dinh dưỡng tiêu háo 85%;protein thô 12,5%; mỡ thô 1,5-2%; xơ 2,5; canxi 0,1; photpho tổng số 3,5%; lyzin0,38; metionin 0,18%; ME 3100 Kcal/kg
- Đỗ tương: là thức ăn thực vật giầu protein với giá trị sinh học tương đươngprotein của các loại thức ăn động vật Trong đỗ tương có những tác nhân kháng
Trang 8dinh dưỡng, khi chưa được xử lý có thể tác động mạnh vào đường ruột đoongj vậtgây ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa và Sử dụng chất dinh dưỡng, vì vậy phảiqua chế biến
-Lạc: nước ta có nhiều vùng trồng lạc tốt, tỷ lệ dầu trong lạc cao 48-50%.Với độ ẩm trên 15% khô dầu lạc dễ bị mốc, giảm chất lượng, có nhiều độc tốnhất là aflattoxin rất độc cho thủy cầm Khô lạc, khô vừng là nguồn thức ănprotein từ thực vật có giá trị dinh dưỡng cao, nó chiếm phần thức ăn chủ yếu cho
gà và tỷ lệ khoảng 25-35%; và cũng chiếm khoảng trên dưới 50% tổng số lượngprotein thô trong khẩu phần, khi không có khô dầu đậu tượng
Khô dầu lạc là thức ăn có giá trị , giá hạ, là nguyên liệu dùng để cân đối tốtlượng protein trong khẩu phần Tuy vậy có nhược điểm hay bị lên men mốc vàsảm sinh độc tố aflatoxin, hay bị “ôi” do mỡ còn lại (do không ép kỹ) dễ bị oxyhóa Vì vậy hạt lạc trước khi đưa vào ép lấy dầu, cần phơi cho độ ẩm còn 9-10%;
để khô dầu cũng chứa độ ẩm như vậy cần bảo quản khô dầu lạc trong kho khô ráo,mát, tránh bị nấm mốc
Bột cá đắt tiền, cần tính toán câu đối hợp lý pha trôn thức ăn để có giá thànhkhông cao
Bột đầu tôm: là nguồn thức ăn có giá trị tốt cho chăn nuôi ngan vịt, từ phụphẩm chế biến tôm xuất khẩu như đầu, càng, xơ, tôm chọn loai
3.2.4: Thức ăn khoáng và vitamin.
Trong khẩu phần thức ăn nuôi ngan, vịt, ngỗng thì khoáng và vitamin có tỷ lệ
ít nhưng rất quan trong cho sinh trưởng và sinh sản, thừa hoặc thiếu điều bị ảnhhưởng, chậm lớn còi xương giảm đẻ…
- Nguồn bổ xung khoáng cho gia cầm là các phức hợp chứa canxi photpho,muối amoni Nacl, muối của khoáng vi lượng
Trang 9-Thức ăn bổ xung vitamin gồm premix vitamin (hổn hợp nhiều loại vitamin)cho các loại, tuổi và tính năng sản xuất của gia cầm Vitamin bao gồm các loạivitamin A, D, E, B1, B2, B12 … kháng sinh phòng bệnh chống oxy hóa.
-Thuốc bổ sung vào thức ăn: hiện nay trong thức ăn hổn hợp cho gia cầm,ngoài việc cần băng tốt các vật chất dinh dưỡng: còn bổ sung một số thuốc làmtăng giá trị thức ăn phòng bệnh, kháng nấm mốc và vi khuẩn gây bệnh, kích thíchsinh trưởng Những hoạt chất sinh học đó là antibiotit, antihemi… các anzin, cáchoocmon… để chông lại sự phát triển sinh sản của vi trùng gây bệnh Các bệnhnhư bệnh đường ruột…Các anzin làm tăng sự tiêu hóa thức ăn kể cả các vật chấtkhó tiêu như chất xơ
3.3 Công nghệ sản xuất thức ăn cho gia cầm, thuỷ cầm
Thức ăn cho gia cầm, thuỷ cầm nuôi công nghiệp là loại thức ăn được hổnhợp từ các nguồn nguyên liệu khác nhau, thông qua các công nghệ nghiền, trộn,gọi là thức ăn hỗn hợp dưới dạng bột hoặc viên Thức ăn hổn hợp chứa đầy đủ cácvật chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh lý phát triển và sinh sản của gia cầm đemlại hiệu quả cao như: protein, năng lượng, vitamin và chất khoáng Ngoài ra cònđược bổ sung các chất kích thích sinh trưởng như các enzim, các kháng sinh…Thành phần các nguyên liệu dùng để phối trộn và nhu cầu thành phần dinhdưỡng cũng không khác gì so với các loại thức ăn bột, sợi Về mặt cơ cấu nguyênliệu dùng để sản xuất thường là: bột cá, bột ngũ cốc, các loại đậu Về thành phầndinh dưỡng chúng cũng cần chủ yếu là protein, gluxit, lipit, vitamin, các khoángchất,…
Tiếp nhận, bảo
quản nguyên
liệu
Làm sạch nguyên liệu
Trộn sơ bộ
bảo quản
Trang 10Hình 1 Sơ đồ công nghệ sản xuất thức ăn viên.
3.4 Đặc điểm và yêu cầu kích thước của viên thức ăn chăn nuôi.
Các viên thức ăn chăn nuôi tạo ra có thể có dạng hình trụ, lăng trụ hoặc viênđịnh hình
Độ dài của viên dược xác định phụ thuộc vào đường kính của viên, thường tỷ
lệ giữa độ dài của viên và đường kính của viên là: (1,3-1,4):1
Bảng 1 trình bày số liệu của công ty Stolz (Pháp) về đường kính của viên đốivới một số vật nuôi
Bảng 1 Số liệu về đường kính của viên đối với một số vật nuôi.
Loại vật nuôi Đường kính viên (mm)
lỗ khuôn, tính chất của nguyên liệu chế ra nó Tùy theo đường kính của viên mà
có độ cứng được đánh giá qua lực phá vỡ của viên như sau:
+ Đường kính của viên đến 4 mm chịu lực phá vỡ 50 N
+ Đường kính của viên đến 8 mm chịu lực phá vỡ 60 N
+ Đường kính của viên trên 8 mm chịu lực phá vỡ 80 N
Viên phải có độ bền, chịu được sự rung động, viên đưa vào đóng bao phải
có độ ẩm ở chế độ bảo quản (dưới 14%), và nhiệt độ bền bằng nhiệt độ môitrường Viên cần có độ đồng đều cao Năng suất cảu máy phải cao, chi phí nănglượng riêng phải thấp khoảng 50 kWh/tấn cho viên có đường kính d = 2,5 mm;15-20 kWh/tấn cho viên có đường kính d=(6-8) mm
Trang 113.5 Một số phương pháp đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật quá trình chế biên thức ăn viên:
3.5.1 Phương pháp xác định độ nhỏ bột nghiền
Độ nhỏ bột nghiền là kích thước hình học của các phần tử bột nghiền Đốivới mọt thể tích khối bột người ta dùng kích thước trung bình của khôi bột để đặctrưng cho độ nhỏ của bột, vì các phần tử bột nghiền có kích thước đa phân tán.Phương pháp xác định tương tự như khi đo cho các sản phẩm rời
Phương pháp xác định độ nhỏ bột nghiền:
Căn cứ vào kích thước hạt bột mà ta có các phương pháp xác định như sau:
- Phương pháp phân tích sàng, dùng sàng để sàng thành các lớp nếu cácphần tử có kích thước lớn hơn 40µm.
- Phương pháp lắng tụ: áp dụng cho các phần tử có kích thước giới hạn từ5-10µm.
- Phương pháp soi kính hiển vi: áp dụng cho các phần tử có kích thước <
50µm Bằng cách đo kích thước chiều dài (tuyến tính) dặc thù của các phần tửđược quan sát dưới kính hiển vi qua lưới đo của thị kính
Thiết bị xác định thành phần kích thước hạt bằng phép phân tích sàngthường dùng loại máy sang kiểu treo Các phương pháp sàng đã được thống nhấthóa, các sàng sử sử dụng trong máy sàng kiểu treo thường là loại sàng kim loạiđột lỗ, loại sợi kim loại hay loại sợi kim loại đan.Ở Liên Xô trước đây các kíchthước sàng thử nghiệm với loại nhỏ được chọn theo tiêu chuẩn lỗ có kích thước ≥
40µm Còn lỗ sàng lớn hơn theo tiêu chuẩn có lỗ từ 1- 2,5 mm.
Để sàng sản phẩm nghiền từ các nguyên liệu thức ăn gia súc, người ta sưdụng sàng đột lỗ với kích thước lỗ hình tròn khi kích thước các phần tử ≥ 1mm.Nếu kích thước < 1 mm thì dùng sàng bằng sợi đan lỗ vuông Các lỗ sàng được bốtrí trong một hộp lần lượt từ lỗ to đến lỗ nhỏ kể từ trên xuống, và dưới cùng là tấmđáy không khoan lỗ Trong nghành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, độnhỏ hạt được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 1535-93 Theo tiêu chuẩn này,đường kính trung bình của các phần tử được xác định theo công thức sau:
)(100
)5,35,25,15,0
mm P P
P P
(3.1)
Trang 123.5.2 Phương pháp xác định độ trộn đều bột nghiền.
Trộn là quá trình kết hợp các khối lượng của các vật liệu khác nhau vớimục đích nhận được một hỗn hợp đồng nhất của các phần tử ở mỗi cấu tử trong tất
cả khối lượng hỗn hợp, bằng cách sắp xếp lại chúng dưới tac dụng của ngoại lực.Hỗn hợp tạo ra như thế để tăng cường quá trình trao đổi nhiệt và trao đổi khốilượng
Ta có thể sử dụng phương pháp KHAPHARROP để xác định độ trộn đều của bộtnghiền:
Có thể xác định độ nhỏ bột nghiền dựa vào tỷ số giữa tỷ lệ chứa của mỗithành phần trong từng mẫu đo Ci với tỷ lệ chứa của thành phần có trong hỗn hợp
Co.Thành phần được chọn kiểm tra (mẫu kiểm tra) là thành phần có tỷ lệ nhỏ nhấttrong hỗn hợp
Sau khi lấy ra n mẫu đo và xác định tỷ lệ Ci trong từng mẫu ta tính độ trộnđều K với 2 trường hợp: Ci ≤ Co và Ci ≥ Co
Nếu Ci ≤ Co thì:
1
1 1
1
n C
C K
1100100
n C
C K
Trang 13Độ trộn đều K là giá trị trung bình cộng của hai lớp mẫu đo n1 và n2:
K= (n1.K1 + n2.K2)/(n1 + n2) (3.4)Trong đó : Ci – Tỷ lệ thành phần kiểm tra có trong mẫu thứ i;
Co – Tỷ lệ thành phần kiểm tra có trong toàn bộ hỗn hợp;
n1 – Số mẫu có tỉ lệ thành phần tra Ci ≤ Co
n2 – Số mẫu có tỉ lệ thành phần tra Ci ≥ Co
3.5.2 Phương pháp xác định độ bền và độ cứng viên thức ăn
Độ bền viên thức ăn là khả năng thắng được sự tác động của ngoại lực hoặcmôi trường của viên thức ăn mà nó vẫn giữ được hình dạng ban đầu và không bịphá hủy
Có thể xác định độ bền viên thức ăn bằng phương pháp chuyên dùng hayphương pháp ngâm nước
+ Phương pháp chuyên dùng:
Độ bền viên thức ăn là tỉ lệ viên thức ăn không bị phá hủy sau khi chịu tácđộng cơ học trong một thiết bị đo dùng là sàng lưới hay máy đảo trộn có gắn cánhtrộn (hình 3.2) Thiết bị là hộp chữ nhật kín, có nắp mở ở phía trên có kích thước(12 x 5 x 12) in Phía trong hộp có đặt một tấm phẳng kích thước (2 x 9) in truyềnđộng quay cho tấm phẳng bằng động cơ điện Cách đo như sau:
Cho 500gam thức viên thức ăn cần kiểm tra độ bền vào hộp, đóng nắp lạicho quay trong thời gian 10 phút Sau đó lấy ra và tiến hành sàng để loại các thànhphần có kích thước nhỏ
Trang 14Hình 3.2 Thiết bị kiểm tra độ bền viên thức ăn.
Độ bền viên thức ăn được xác định theo công thức:
(%)100
Trong đó: W1 – Khối lượng của thức ăn nằm trên sàng sau khi rây, gam;
W2 – Khối lượng của viên thức ăn sau khi rây, 500g
Ngoài ra, có thể dùng phương pháp ngâm nước để đo độ bền của viên như sau:
Độ bền viên thức ăn được đặc trưng bởi thời gian ngâm nước mà viên thức
ăn không bị phá hủy nước cho vào cốc chiếm 2/3 thể tích cốc (1000 ml), cho 100gam viên thức ăn đã có nước Quan sát và bấm thời gian bắt đầu từ khi bỏ thức ănvào cho tới khi bắt đầu tan
3.6 Một số dây chuyền sản xuất thức ăn viên
3.6.1 Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc dạng viên năng suất 5-6 tấn/giờ AWLA (cộng hòa liên bang Đức).
9 8
10
12
13 14 15 11
Hình 3.3 Dây chuyền sản xuất thức ăn viên năng suất 5-6 tấn/giờ của công ty
AWILA- cộng hòa lien bang Đức.
1.Gầu tải, 2.Máng cấp liệu, 3.Trục phân phối, 4 Máy nghiền sơ bộ, 5 Vít tải, 6.silo chứa, 7.Trộn vít trục ngang, 8.Silo chứa, 9 Bộ phận thu hồi, 10 Máy làmnguội, 11 siclon lọc bụi, 12.Máy ép viên, 13,14,15 Bộ phận thu hối sản phẩm
3.6.2 Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc dạng bột 10 tấn/giờ, dạng viên 7 tấn/giờ của công ty VAN- AASEN (Hà Lan).
Trang 1511 9
8 6
7 4
Hình 3.4 Dây chuyền sản xuất thức ăn dạng bột năng suất 10 tấn/giờ, thức ăn dạng viên năng suất 7 tấn/giờ của công ty VAN-AASEN (Hà Lan).
Nguyên tắc hoạt động của dây chuyền như sau:
Nguyên liệu dạng cục, dạng hạt được gầu tải đưa vào các silo chứa Dướimỗi silo đều có các vít tải để đưa nguyên liệu từ silo tới các bộ phận định lượngtheo kiểu cộng dồn Hỗn hợp sau khi được định lượng đưa vào máy nghiền sau đó
đi qua máy trộn kiểu vít xoắn Đối với dây chuyền sản xuất thức ăn dạng bột thìthức ăn sau khi được trộn sẽ chuyển sang bộ phận thu hồi sản phẩm, còn dâychuyền sản xuất thức ăn dạng viên, bột sau khi nghiền chuyển sang máy ép viên,tới, máy làm nguội, sàng phân loại
Trang 164 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN.
4.1 Phương pháp nghiên cứu
4.1.1 phương pháp thu thập thông tin
Tài liệu thu thập là các ấm phẩm, và thông tin trên mạng Iternet:
Các ấn phẩm gồm có các giáo trình và sách chuyên khảo như: thức ăn giasúc, máy gia công cơ học, chi tiết máy, máy nâng chuyển…
Ngoài ra còn có các tài liệu như luận văn tốt nghiệp, luận án, các thông tinkhoa học khác
4.1.2 Phương pháp nghiên cứu kết cấu dây chuyền sản xuất thức ăn viên cho dây chuyền sản xuất thức ăn viên cho gia cầm và thuỷ cầm năng suất 1000 kg/giờ
+ Nghiên cứu lý lịch của các máy và thiết bị trong dây chuyền lắp đặt ba0 gồmcác bản vẽ thiết kế, lắp đặt và thuyết minh
+ Tìm hiểu kết cấu thực tế dây chuyền lắp đặt bằng cách quan sát tìm hiểu từng bộphận, từng công đoạn của dây chuyền
+ Trao đổi, phỏng vấn các cán bộ kỹ thuật, quản lý, công nhân vận hành
4.1.3 Phương pháp khảo nghiệm dây chuyền
Khảo nghiệm dây chuyền được tiến hành khảo nghiệm theo từng công đoạn
ở từng bộ phận: công đoạn vận chuyển, nghiền, trộn, ép viên, sấy, đến làm nguội + Chất lượng viên thức ăn: Các thông số đo đạc bao gồm: độ bền, độ cứng, độđồng đều của viên
+ Năng suất: Xác định năng suất của dây chuyền bằng cách xác định thời gian giacông hết một khối lượng nguyên liệu gia công Khối lượng nguyên liệu gia côngđược đo bằng cân, thời gian đo bằng đồng hồ đo đếm thời gian
+ Xác định công suất tiêu thụ và mức tiêu thụ điện năng riêng: Công suất tiêu thụđược xác định bằng đồng hồ đo đếm điện năng và đồng hồ đo thời gian Mức tiêuthụ điện năng riêng được xác định bằng đồng hồ đo đếm điễn năng và cân khốilượng gia công