1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn thi môn vấn đề con người trong văn học trung đại việt nam

15 1,7K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 28,57 KB
File đính kèm Đề cương ôn thi hết môn.rar (26 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn học trung đại Việt Nam, vấn đề ứng xử với tình cảm con người chịu ảnh hưởng k nhỏ bởi các học thuyết triết học đạo đức – tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, vì thời kì hình thành văn học viết Việt Nam (khoảng thế kỉ X) ngang với thời Tống, là thời kì phát triển của Lí học với chủ trương kiểm soát tình càm rất nghiêm ngặt, cũng là thời kì Phật giáo thiền tông phát triển với chủ trương tu tâm, đạt đến tâm hư, tâm thanh tịnh, thực chất là chủ trương diệt tình. Quan niệm của Nho giáo đối với tình, cảm xúc được thể hiện khá rõ trong sách Trung Dung. Sách này nói về đạo “trung hòa”, bàn đến việc làm chủ hay kiểm soát tình cảm, cảm xúc, đưa tình cảm vào quỹ đạo, khuôn khổ của tính, của đạo. T

Trang 1

Môn: Vấn đề con người trong văn học trung đại Câu 1: Xu hướng giải phóng tình cảm trong văn học thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX.

Bài làm

Trong tác phẩm văn học, nhân vật tức là con người Ở mỗi giai đoạn văn học khác nhau, cách xây dựng hình tượng nhân vật có những đặc điểm riêng, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó, quan trọng nhất là ảnh hưởng của quan niệm của tác giả cũng như của cả thời đại về vấn đề con người Cảm xúc, tình cảm của con người luôn là đối tượng của khoa nghiên cứu phê bình văn học Vấn đề kiểm soát hay giải phóng cảm xúc luôn được đặt ra trong văn học xưa

và nay

Trong văn học trung đại Việt Nam, vấn đề ứng xử với tình cảm con người chịu ảnh hưởng k nhỏ bởi các học thuyết triết học đạo đức – tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, vì thời kì hình thành văn học viết Việt Nam (khoảng thế kỉ X) ngang với thời Tống, là thời kì phát triển của Lí học với chủ trương kiểm soát tình càm rất nghiêm ngặt, cũng là thời kì Phật giáo thiền tông phát triển với chủ trương tu tâm, đạt đến tâm hư, tâm thanh tịnh, thực chất là chủ trương diệt tình Quan niệm của Nho giáo đối với tình, cảm xúc được thể hiện khá rõ trong sách Trung Dung Sách này nói về đạo “trung hòa”, bàn đến việc làm chủ hay kiểm soát tình cảm, cảm xúc, đưa tình cảm vào quỹ đạo, khuôn khổ của tính, của đạo Theo Nho giáo, tâm có hai trạng thái, “tâm vị phát” và “tâm

dĩ phát” “Tâm vị phát” là cảm xúc chưa phát lộ, ở dạng tiềm ẩn, chưa thể thiên lệch Đây là trạng thái lí tưởng cần phải duy trì “Tâm dĩ phát” thì phải kiểm soát chặt chẽ, đưa vào khuôn khổ của đạo Khổng Tử đề cao thứ cảm xúc trung hòa, không thái quá mà k bất cập “lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương” Phàm người ta ai cũng có tính, tình và vật HỌc giả nên bảo tồn tâm, nuôi dưỡng bản tính mà tiết chế tình Tồn tâm dưỡng tính, bảo toàn chân tâm, tiết chế tình thực ra đối với nhà nho là bảo toàn tâm phù hợp với đạo đức,

Trang 2

nhân nghĩa Nói cách khác, Nho gia thu hẹp phạm vi của tâm vào bản tính đạo

lí, đề cao chủ nghĩa duy lí đạo đức mà tỏa chiết tình cảm con người

Văn học Trung đại VN thời kì đầu còn chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo thiền tông Phật giáo nói chung, phật giáo thiền tông nói riêng còn chủ trương kiểm soát tâm lí tình cảm con người triệt để hơn, nghiệt ngã hơn cả Nho giáo NHững khái niệm như “hư tâm”, “không tâm”, “vô tâm” của nhà Phật hướng đến lí tưởng diệt dục,vô dục, xóa sạch tất cả những hỉ, nộ, ái, ố, dục để tìm sự

an lạc trong tĩnh mịch, thanh tịnh Tất nhiên trong bối cảnh văn hóa Phật giáo

đó, tình bị coi là nguồn gốc dẫn đến đau khổ, tội lỗi, nghiệp chướng Nếu Nho giáo chủ trương chế tình, tòng tính, thì Phật giáo chủ trương vô tình, diệt dục Tình khó mà mở đường đi vào văn học như một đối tượng được quan tâm, đề cao Trong áp lưc văn hóa của Nho giáo và Phật giáo cộng lại, tình bị áp chế,

bị dồn nén để cho chí, đạo, tu tâm, quả dục, diệt dục thắng thế

3 Trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến XVII, vấn đề ứng xử với tình cảm theo một đường hướng chính là kiểm soát cảm xúc tình cảm của mẫu hình thánh nhân, quân tử Thơ Thiền Lí trần không đề cập đến những tình cảm, cảm xúc cá nhân của con người Các thiền sư thường thể hiện cái tình “say mùi thiền”, “đượm mùi thiền”, những hỉ, nộ, ái, ố đều được kiểm soát trong “đạo”, sung sướng hay khổ đau, sống hay chết không phải là vấn đề các thiền sư quan tâm nên dường như k nói đến và k có cảm xúc Khi nói đến chuyện sống – chết thì các thiền sư, trong các bài kệ của mình, đều thể hiện thái độ bình thản, sống gửi thác về

Đến thế kỉ XV, trong thơ văn Nguyễn Trãi, ta cũng chưa thấy có dấu hiệu của việc đề cao tình cảm, cảm xúc Nguyễn Trãi “say mùi đạo, trà ba chén / Tả lòng phiền, thơ 4 câu” Những tình cảm được nói đến trong thơ Nguyễn Trãi

là những “tình vị phát”, tình còn nằm trong tầm kiểm soát, đó là lòng yêu nước thương dân, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thanh bần hài hòa với thiên nhiên…

Trang 3

Trong văn xuôi, ở thế kỉ XVI, các tác phẩm truyện, kí vẫn chưa có xu hướng

đề cao tình cảm, cảm xúc Chuyện người con gái Nam Xương có nói đến tình cảm vợ chồng của Vũ Nương và Trương Sinh Nhưng không hề có đoạn nào nói về tình yêu của hai người, chỉ là “Trương Sinh mến vì dung hạnh của nàng nên hỏi nàng làm vợ” Đến khi Trương Sinh đi lính, trong cảnh chia ly, không thấy Vũ Nương bày tỏ tình cảm yêu thương, nhớ nhung, buồn bã mà là một lời nhắn nhủ, dặn dò “ Chàng đi chuyến này thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong được hai chữ bình yên thế là đủ rồi” Trong suốt ba năm, nỗi nhớ được tả chỉ là “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời lại k thể nào ngăn được” Rõ ràng, văn học thời kì này chưa chú tâm tả tình cảm, cảm xúc mà chủ yếu kể sự việc Tình cảm nếu có thì cũng là tình cảm nằm trong tầm kiểm soát của đạo

Phải đến thế kỉ XVIII, khi hoàn cảnh chính trị, xã hội văn hóa có nhiều thay đổi, trong văn học có xu hướng giải phóng tình cảm cảm xúc Chính xác hơn

là khoảng giữa thế kỉ XVIII, trong đời sống văn học có dấu vết chắc chắn của việc đề cao tình Rất nhiều thể loại đi sâu thể hiện tâm tư, tình cảm, cảm xúc của con người như ngâm khúc, hát nói, truyện nôm bác học, thơ đường luật Các cung bậc cảm xúc đa dạng của con người được thể hiện trong văn thơ, bao gồm cả tình yêu lứa đôi Sự phát triển của các tác phẩm văn học theo xu hướng đề cao tình cảm, cảm xúc đã làm thành một trào lưu văn học đề cao tình (trào lưu chủ tình) trong văn học trung đại VN thế kỉ XVIII – XIX

Có thể mô tả trào lưu này từ nhiều góc độ khác nhau Trên phương diện quan niệm về con người, ta nhận thấy mẫu nhân vật sống chủ tình, “việt danh giáo nhiệm tự nhiên” rất rõ nét Tiếng khóc như là biểu hiện của cảm xúc k bị kiềm chế nữa mà đã đi vào trong thơ Một nhà nho thế kỉ XIX nhận xét: Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như khóc Kiều, người đời nay khóc người đời xưa, người đời sau khóc người đời nay, hai chữ tài tình là một mối thông lụy của bọn tài

tử khắp gầm trời, suốt xưa nay NHững người phụ nữ k che giấu xúc cảm,

Trang 4

cam chiu lặng câm theo giáo lí nữa mà đã nói lên tiếng lòng với những nỗi khát kha chảy bỏng về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi Đó là người chinh phụ, người cung nữ, là Hồ Xuân Hương Nguyễn CÔng Trứ theo đuổi lối sống phong lưu, trọng tình cảm và có những nét “nhiệm đản”: ngất ngưởng, công khai ca ngợi thú tài tình, lên chùa dẫn theo ả đào…

Về phương diện thể loại, những thể loại quan trọng của giai đoạn này như ngâm khúc, truyện thơ, hát nói đều chuyên chở nội dung đề cao tình của con người tự nhiên, trần thế Ngâm khúc là bài thơ dài miêu tả thế giới nội tâm với nhiều trạng thái cảm xúc của người phụ nữ

VD: Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi Buồn rầu nói chẳng nên lời Hoa đèn kia với bóng người khá thương

Chinh phụ ngâm được Phan Huy Ích đánh giá là “tình cao điệu lạ đứng đầu rừng thơ văn” Cả khúc ngâm là những tiếng lòng, những tâm tình sâu kín của người phụ nữ xa chồng với buồn nhớ, hoài niệm, hồi tưởng Tóm lại là các trạng thái tâm lí, tình cảm phong phú, phức tạp đều được thể hiện trong Chinh phụ ngâm

Truyện thơ Nôm bác học có tính chất trữ tình đậm đà, tiêu biểu cho chất trữ tình của truyện Nôm là Truyện Kiều, tác phẩm được giới nghiên cứu mệnh danh là cuốn bách khoa toàn thư của một ngàn tâm trạng ND đã nén thời gian hàng năm trong1 đôi câu thơ và để miêu tả nội tâm nhân vật, ông sẵn sàng

“dãn” thời gian của một vài tuần trong vài chục câu thơ, Trong khoảng thời gian được dãn rộng đó, đối tượng được miêu tả k phải là sự kiện mà chính là các trạng thái tâm lí, cảm xúc Phạm trù thời gian cá thể xuất hiện trong truyện Nôm bác học nhất là trong Truyện Kiều gắn liền với khuynh hướng đề cao tình cảm riêng tư, cá nhân nhân vật Trong Truyện Kiều, ND cũng đã đề

Trang 5

cập đến tình yêu lứa đôi với nhiều cung bậc khác nhau, là tình cảm không được thể hiện trong văn học các giai đoạn trước đó

“Người về chiếc bóng năm canh / Người đi muôn dặm một mình xa xôi Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Hát nói là thể loại ra đừi trong không gian văn hóa vui chơi giải trí thích hợp cho nội dung diễn tả con người cá nhân tự do, siêu việt danh giáo Trong không gian này người văn nhân tài tử được thể hiện tính cách phong lưu ngất ngưởng của mình Ngay những bài hát nói của NCT về chí nam nhi đầy khí phách thì chất cá nhân vẫn rất rõ nét

Những thể loại có nguồn gốc ngoại nhập như thơ Đường luật cũng được cách tân để chuyển tải cảm xúc riêng tư, nhất là tình yêu Tập Lưu Hương Ký của HXH có nhiều bài thơ Đường luật viết gửi tặng những người bạn tình, ghi lại nỗi nhớ nhung, tình cảnh cô đơn

Trong văn xuôi chữ Hán việc nhận diện nhân vật trong cuộc sống thường ngày, nhìn nhận con người tự nhiên là xu hướng nổi trội

Như vậy, văn học trung đại giai đoạn XVIII- XIX đã có những đổi mới trong cách ứng xử với tình cảm, cảm xúc, theo xu hướng đề cao tình, lấy con người

tự nhiên, phàm trần làm đối tượng thể hiện Mẫu hình nhân vật như vậy thiên

về đề cao tình cảm, bộc bạch những cảm xúc đa dạng, mang đậm màu sắc cá nhân thầm kín, riêng tư chứ không phải là những lí tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của con người xã hội, con người cộng đồng, con người theo lí tưởng “nội thánh ngoại vương”, tu kỉ trị nhân Trào lưu chủ tình đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong tiến trình văn học trung đại, làm nên những giá trị chủ yếu của văn học giai đoạn này

Trang 6

Câu 2: Cái mới trong quan niệm về con người nhìn từ góc độ “Thân” trong Truyện Kiều

Bài làm

Trong tác phẩm văn học, nhân vật tức là con người Thân (thân thể) của con người là một đối tượng cần được phân tích bên cạnh các khái niệm liên quan khác Việc phân tích nhân vật văn học từ góc độ “thân” là một cơ sở quan trọng để hiểu được giá trị tư tưởng của tác phẩm

Trước khi tìm hiểu cái mới trong quan niệm về con người nhìn từ góc độ

“thân” trong Truyện Kiều, ta phải hiểu được quan niệm về “thân” và cách ứng

xử với thân của các tư tưởng triết hoc phương Đông Một nhận xét tổng quát

là các học thuyết Nho – Phật – Đạo vốn có ảnh hưởng sâu sắc đến trí thức Việt Nam thời trung đại đều tìm cách hạn chế, kiểm soát con người bản năng Thân biểu hiện phần bản năng của con người Bản năng chính của con người được thực hiện qua nhu cầu ăn, - mặc - ở, tình dục, sống chết Cả ba nhu cầu này của thân xác đều được các học thuyết nhìn nhận và lí giải, về cơ bản có nhiều điểm giống nhau Ở đây, chúng tôi xin nói khái quát về quan niệm “dĩ tâm khống nhân” của Nho gia và quan niệm về “thân” và “khổ” của Phật gia Con người lí tưởng của Nho gia là thánh nhân Để đạt đến con người lí tưởng

là thánh nhân thì nhà nho phải tu dưỡng bằng những hình thức tu trì rất nghiêm khắc Nguyên lí tu thân của các nhà nho có thể bao gồm các mệnh đề như “tồn thiên lí, khử nhân dục”, “dĩ tâm khống thân” Về vấn đề ăn – mặc - ở

- những nhu cầu bản năng của thân, Nho giáo quan niệm rằng, “Quân tử thực

vô cầu bão, cư vô cầu an”, người quân tử không đề cao việc ăn – mặc - ở, ăn

là để tồn tại chứ không cần ăn ngon hay ăn no, mặc cốt đủ che thân chứ không cần nhà cao, cửa rộng, không cần lụa là gấm vóc Về vấn đề tình dục, Khổng Tử cũng rất nghiêm khắc với sắc đẹp của phụ nữ, có quan niệm chống lại bản năng tình dục vì cho rằng nó có hai cho việc tu dưỡng theo lí tưởng thánh nhân Văn hóa cổ đại Trung Quốc đã hình thành thuyết cấm dục vơi 3

Trang 7

mệnh đề chính là: 1 Tồn thiên lí, diệt nhân dục; 2 Nam nữ thụ thụ bất thân;

3 Vạn ác dâm vi thủ Đối với vấn đề sống – chết, một bản năng hết sức lớn của con người, Khổng Tử đưa ra mô hình lí tưởng của nhà nho là: đặt các giá trị luân lí đạo đức cao hơn giá trị của thân xác Nhà nho phân biệt hai phạm trù thân: nhục thể chi thân (thân xác thịt) và danh tiết chi thân (thân danh tiết) Thân xác thịt cũng cần bảo vệ nhưng thân danh tiết quan trọng hơn, vào thời điểm bất đắc dĩ thì phải biết hi sinh thân xác thịt cho thân danh tiết

Phật giáo là một học thuyết chú trọng đến tâm nhưng cũng có một triết lí về thân Thái độ của nhà Phật đối với “thân” cũng dựa trên căn bản quan niệm phủ nhận thân thể qua các giác quan (ngũ quan) Phật học chủ trương kiểm soát nghiệt ngã với thân xác bản năng Về vấn đề ăn – mặc - ở, các nhu cầu của các thiền sư được tiết giảm đến mức tối thiểu Về vấn đề tình dục thì Phật giáo quan niệm phải “diệt dục” để tu đạo, tu thành chính quả Về vấn đề sinh

tử, Phật giáo Thiền tông cho rằng một khi ta diệt trừ bỏ tâm, tức các ý nghĩ xung quanh điều sống chết thì hiển nhiên không còn tồn tại vấn đề sinh tử nữa “Phổ thuyết sắc thân” trong “Khóa hư lục” có ghi rõ: “Thân là gốc của khổ, chất là nhân của nghiệp” Một khi giác ngộ rằng thân xác là nguồn gốc của đau khổ tất con người không chạy theo dục vọng bản năng của thân xác Các học thuyết tư tưởng Nho giáo, Phật giáo gặp nhau trong chủ trương ứng

xử khá nghiệt ngã, đầy khắc kỉ với thân xác Quan niệm trên vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có tính không tưởng Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng của quan niệm khắc kỉ của Nho giáo, Phật giáo đến văn học trung đại VN, nhất là văn học từ thế kỉ X đến hết XVII

Trong văn học Phật giáo thời đại Lí Trần, có thể quan sát thấy khá rõ lí tưởng khắc phục thân xác bản năng Trần Đình Sử đã nhận xét khá sắc sảo: “ Con người trong văn học Lí trần vừa có mặt yêu nước, thượng võ, vừa có cảm nhận sâu sắc về tính chất hư huyễn của cuộc đời, trước hết là cái thân con người”

Trang 8

“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô / Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô”

(Thân như ánh chớp có rồi không / Muôn cây xuân tốt thu não nùng)

(Vạn Hạnh – Thị đệ tử)

Thân cá biệt là huyễn ảo, hoa bướm là huyễn ảo (Giác Hải) Sống là chết, chết

là sống (Giới Không) Thân xác chỉ là một chặng trong chuỗi hóa sinh, chuyển tiếp giữa hữu và vô, giữa không và sắc, cái chết như là sự trở về Con người nếu giác ngộ được rằng cả sắc và không đều k có thật thì vượt được vòng sợ hãi thông thường Gắn với cái nhìn như vậy về thân xác là thái độ an nhiên, bình thản trước cái chết,một thái độ mà bọn người phàm tục không có được

Như vậy, cảm hứng về thân xác trong thơ thiền sư tập trung trong một phổ hạn hẹp, hình tượng con người mang tính chất siêu thoát Mô hình ứng xử với thân xác của các bậc thiền sư có nhiều nét tương đồng với các thánh nhân theo hình mẫu lí tưởng của Nho gia – vẫn lại là khắc phục các bản năng thể hiện qua tai, mắt, thân thể

Văn học của các nhà nho từ thế kỉ XV trở đi mang đậm nét ảnh hưởng của Nho giáo trong cách ứng xử với thân xác Thơ Nguyễn Trãi có nói đến chuyện ăn uống,một trong những bản năng lớn nhất của con người liên quan đến thân xác Nhưng Nguyễn Trãi không ca ngợi thú ăn uống mà ngược lại, mượn đề tài ăn uống để tuyên ngôn về sự ngộ đạo của mình, một lối ăn uống rất đạm bạc

“Cơm ăn dầu có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là”

Coi thường dục vọng về ăn, mặc, ở nên con người có dũng khí đề từ chối bả vinh hoa, danh lợi – những thứ luôn đặt ra trước nhà nho Nhà nho đặt thân ra ngoài vòng tục lụy của danh lợi, hưởng “thân nhàn”: “Qua ngày qua tháng dưỡng thân nhàn” “Lánh thân nhàn được thú màu” Để không bị vật dục cám

dỗ, danh lợi quấy rầy, thì cách tốt nhất là chủ động tách thân ra khỏi xã hội, tự

Trang 9

đặt mình giữa thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên Lối sống đó chính là một cách diễn đạt lí tưởng tu thân theo mô hình thánh nhân, quân tử

Sang thế kỉ XVI, có nhiều dấu hiệu cho thấy trong văn học xuất hiện ngày càng rõ nét hình tượng ẩn sĩ Nhìn từ góc độ ứng xử với thân xác, ẩn sĩ là người phản ứng mạnh mẽ nhất nhưng cũng đầy tiêu cực trước xu thế chạy theo vật dục của xã hội quyền quý Ngợi ca cuộc sống ẩn dật đạm bạc, lên án thói đời mê đắm trong vật dục là hai mặt của thế ứng xử với thân xác của nhà nho, theo cách biểu đạt lí tưởng thánh nhân về thân

Trong trường thẩm mĩ của các sáng tác thơ ca của các nhà nho, ta không thấy

đề cập đến yếu tố giới tính Người nam nhi, bậc quân tử hiện ra trong văn thơ nhà nho là người biết dồn sức mạnh của tinh thần và sức lực vào sự nghiệp xây dựng trật tự xã hội lí tưởng thái bình thịnh trị Tình yêu nam nữ bị lễ giáo chế ngự Những rung động bản năng bị lên án, phê phán

Trong Truyền kì mạn lục ở thế kỉ XVI có một số trang nói đến hoan lạc ái ân

nam nữ, tuy nhiên khó có thể nói tác giả ủng hộ tình yêu thân xác đó Nhìn

trong hệ thống, các mối tình có cảnh hoan lạc ái ân ở Truyền kì mạn lục đều

được hình dung đó là những mối tình ma quái, phản ánh tâm thức khinh miệt,

ghê sợ tình ái tự do, ngoài hôn nhân Trong Truyền kì mạn lục có một câu

chuyện về dũng khi xả thân chủ nghĩa, sát thân thành nhân của nho gia – Người con gái Nam Xương Khi bị chồng nghi oan rằng không chung thủy,

Vũ Nương đã dùng cái chết để chứng minh sự trong trắng của mình

Cũng theo Phạm Tú Châu, sự xuất hiện nghèo nàn các tiểu thuyết tình dục chữ Hán trong VHTĐ VN có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu có lẽ là quan niệm tu thân khắc kỉ đều nuôi dưỡng nhân cách cao thượng

mà các tư tưởng triết học – tôn giáo tuyên truyền Phải đến thế kỉ XVIII mới lác đác xuất hiện một vài truyện có màu sắc tình dục, khi cách nhìn của các nhà nho về con người, về thân xác có nhiều thay đổi

Trang 10

Sang thế kỉ XVIII, tác phẩm Truyện Kiều ra đời đã thể hiện một quan niệm mới mẻ, tiến bộ của nhà nho Nguyễn Du về thân xác của con người Nhìn chung, quan niệm này khác với quan niệm coi thường thân của truyền thống văn hóa và văn học trước đó Nguyễn Du tại nhiều điểm đã có khuynh hướng

đề cao thân xác, coi thân xác là một phạm trù giá trị Quan niệm mới mẻ về thân của Nguyễn Du trong Truyện Kiều có thể khái quát thành các luận điểm: Thương thân, xót thân; Người đẹp như một giá trị; Quyền sống của thân xác; Thụ cảm thế giới qua giác quan

Về quan niệm thương thân, xót thân, trong Truyện Kiều, ND thể hiện sự tôn

trọng con người, mà sự tôn trọng đó phải được thể hiện trước hết qua sự trân trọng thân xác của nó Nguyễn Du thường công khai phản đối việc đánh đập Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có miêu tả khá nhiều cảnh đánh đập: Cảnh cha con vương ông bị bọn sai nha đánh đập, cảnh Thúy Kiều bị Tú Bà đánh đập, cảnh Thúy Kiều bị quan phủ đánh đòn, cảnh Thúy Kiều bị Hoạn bà đánh đón phủ đầu… Khi miêu tả, Nguyễn Du không dùng lối “bạch miêu” như tác giả Kim Vân Kiều Truyện, không chỉ quan tâm đến việc dựng lại chân thật, chi tiết cảnh tượng mà ông luôn thể hiện nỗi thương xót cho thân thể con người bị chà đạp, giày xéo Nguyễn Du đã ‘Thương người như thể thương thân”, tình thương con người được bộc lộ ngay trong sự cảm nhận đầy chất nghiệm sinh của thân thể bị đòn vọt Nguyễn Du bình luận:

Dường cao rút ngược dây oan Dẫu là đá cũng nát gan lọ người”

“Trúc côn ra sức dập vào Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh”

Việc phản đối sự lăng nhục thân xác con người là một điểm mới trong triết lí con người của ND, cũng là một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của ông

Ngày đăng: 09/09/2016, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w