Do vậy, việc nghiên cứu chủ trương của Đảng trong quá trình củng cố, phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia những năm từ 1979 đến năm 1997 một cách hệ thống, toàn diện, rút kinh n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN MẠNH LINH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN MẠNH LINH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các ý tưởng, các số liệu cũng như kết cấu luận văn là kết quả do quá trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Kim Đỉnh – Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đó là những kết quả trung thực, khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VỚI CAMPUCHIA TỪ
NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1991 8
1.1 Khái quát lịch sử quan hệ Việt Nam – Campuchia đến năm 1979 8
1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ đối ngoại với
Campuchia từ năm 1979 đến năm 1985 9
1.2.1 Bối cảnh lịch sử 9
1.2.2 Chủ trương và các hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
nhằm xây dựng, củng cố quan hệ hữu nghị với Campuchia.Error! Bookmark not defined
1.3 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mối quan hệ với
Campuchia từ năm 1986 đến năm 1991 Error! Bookmark not defined
1.3.1 Bối cảnh lịch sử Error! Bookmark not defined
1.3.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và các hoạt động đối ngoại
với Campuchia Error! Bookmark not defined
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦNG
CỐ, PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ, HỢP TÁC VIỆT
NAM – CAMPUCHIA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1997Error! Bookmark not defined
2.1 Bối cảnh lịch sử Error! Bookmark not defined
2.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản và các hoạt động của Nhà nước, Chính
phủ Việt Nam trong việc củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt
Nam - Campuchia Error! Bookmark not defined
2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đẩy mạnh phối hợp
với Campuchia đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về giải pháp chính trị
toàn bộ cho vấn đề Campuchia Error! Bookmark not defined
2.2.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm củng cố, phát triển
quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với Campuchia, tích cực phối hợp
giải quyết các vấn đề còn tồn tại giữa hai nước.Error! Bookmark not defined
Trang 52.2.3 Các hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam với Campuchia.Error! Bookmark not defined
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM Error! Bookmark not defined
3.1 Nhận xét Error! Bookmark not defined
3.1.1 Một số thành tựu, ưu điểm cơ bản Error! Bookmark not defined
3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế Error! Bookmark not defined
3.2 Một số kinh nghiệm Error! Bookmark not defined
3.2.1 Cần đánh giá đúng sự biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế để
dự báo chính xác về xu thế vận động của thời đại nhằm kịp thời có những
điều chỉnh phù hợp trong hoạt động đối ngoại giữa hai nước.Error! Bookmark not defined
3.2.2 Tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại trong quan hệ với Campuchia đảm
bảo các nguyên tắc, yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn tình hình và xu thế vận
động của thời đại, có sự kế thừa nền tảng của lịch sử quan hệ hai nước.Error! Bookmark not defined
3.2.3 Luôn chủ động, nhạy bén nắm bắt các vấn đề mâu thuẫn giữa các
nước, nhóm nước để đề ra các chủ trương, giải pháp linh hoạt, mềm dẻo.Error! Bookmark not defined TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
(Association of Southeast Asian Nations)
lập, Trung lập, Hòa bình và Hợp tác
(Front Uni National pourun Cambodge Indépendant, Neutre, Pacifique, etCoopératif)
(Jakarta Informal Meeting)
MTĐKDTCN : Mặt trận dân tộc đoàn kết cứu nước
(Supreme Nation Council)
(State of Campuchea)
(United Nations High Commissioner for Refugees)
(United Nations Transitional Authority in Campuchia)
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước, chính sách đối ngoại luôn giữ vai trò quan trọng, góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước Trong quan hệ đối ngoại, quan hệ với các quốc gia láng giềng và khu vực luôn được các nước quan tâm, chú trọng Đúc rút từ kinh nghiệm đối ngoại trong lịch sử dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn mong muốn có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước láng giềng, đặc biệt là các quốc gia trên bán đảo Đông Dương
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia có vị trí địa lý cận kề, chung đường biên giới trên đất liền và trên biển, có lịch sử quan hệ bang giao lâu đời Đặc biệt từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia ra đời, mối quan hệ đó tiếp tục được hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước vun đắp ngày một sắt son khi cả hai dân tộc cùng đoàn kết sát cánh chiến đấu, đồng cam cộng khổ, một lòng ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài chống lại bọn thực dân, đế quốc hung hãn xâm lược nhằm giành lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do cho nhân dân mỗi nước Trong thực tế lịch sử đã chứng minh, mối tình đoàn kết Việt Nam – Campuchia
đã trở thành sức mạnh giúp hai dân tộc lật đổ ách thống trị của bọn thực dân, đế quốc xâm lược, gây chiến tranh phi nghĩa đem lại hòa bình, độc lập tự do cho các dân tộc trên bán đảo Đông Dương Có thể nói, liên minh chiến đấu Việt Nam – Campuchia trở thành quy luật phát triển của cách mạng hai nước, là quy luật sống còn của nhân dân hai nước, là một trong những điều kiện cơ bản để cả hai dân tộc cùng sống trong tự do, hòa bình, hạnh phúc, ấm no
Tuy nhiên, lịch sử luôn có những nốt thăng, trầm của nó, quan hệ giữa Việt Nam – Campuchia là mối quan hệ đặc thù riêng biệt, với nhiều biến cố lịch
sử, không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió Ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất đất nước, non sông thu về một mối, tập đoàn Khmer Đỏ do Pol pot, Iêng Xari và Khiêu Xamphon cầm đầu đã gây hấn, phản bội lại tình đoàn kết, gắn bó giữa hai dân tộc Để bảo vệ an ninh, quốc phòng, chủ quyền, lãnh
Trang 8thổ, tính mạng và tài sản của nhân dân, đáp lời kêu cứu của nhân dân Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quân đội nhân dân Việt Nam giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Pol pot diệt chủng; giúp đỡ nhân dân Campuchia xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng; không ngừng tăng cường, củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai đảng, hai nhà nước và hai dân tộc
Có thể nói, quan hệ với Campuchia luôn được coi là ưu tiên đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực không ngừng hoàn thiện về chủ trương, đường lối, chính sách để quan hệ giữa hai nước không ngừng phát triển toàn diện Trong bối cảnh hiện nay, trước những biến đổi lớn của tình hình trong nước và quốc tế, quan hệ của Việt Nam với Campuchia tiếp tục đạt được những thành tựu, kết quả quan trọng, đồng thời có nhiều thách thức, khó khăn Do vậy, việc nghiên cứu chủ trương của Đảng trong quá trình củng cố, phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia những năm từ 1979 đến năm 1997 một cách hệ thống, toàn diện, rút kinh nghiệm từ thành tựu và hạn chế mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, gợi
mở những vấn đề, giải pháp thiết thực nhằm tiếp tục đưa quan hệ hai nước phát triển ổn định trong hiện tại và tương lai, góp phần phục vụ lợi ích của nhân dân hai nước
Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam với
quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997” làm đề tài
luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về quan hệ Việt Nam - Campuchia từ xưa đến nay được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên do việc tiếp cận nhiều tài liệu, văn bản gốc về vấn đề này ở trong nước còn nhiều hạn chế Qua khảo cứu, chúng tôi xin điểm qua một vài nhóm công trình tiêu biểu về nội dung liên quan đến quan hệ hai nước:
- Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam với thế giới, khu vực và các nước Đông Dương: Tam giác Trung Quốc –
Campuchia – Việt Nam của (U Bớc – sét (1981), Nxb Thông tin lý luận, Hà
Trang 9Nội); Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của chúng ta (Lê Duẩn (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội); Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001 (Luận án Tiến sỹ lịch sử của Nguyễn Thị Mai Hoa, Lưu tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội); Ngoại giao Việt Nam hiện đại
vì sự nghiệp đổi mới (Vũ Dương Huân (2002), Nxb CTQG, Hà Nội)…
Công trình “Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam” của U Bớc - sét cung cấp rất nhiều tư liệu, tác giả đã vẽ nên bức tranh khá đầy đủ về cuộc sống của nhân dân Campuchia trong thời kỳ Pol pot - Iêng Xary lãnh đạo đất nước Đồng thời công trình làm sáng tỏ được phần nào thái độ của Việt Nam đối lập hẳn với thái độ giới cầm quyền Bắc Kinh đối với sự sống còn của nhân dân Campuchia
Luận án: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001 (Luận án Tiến sỹ lịch sử của Nguyễn Thị
Mai Hoa, Lưu tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội) đã trình bày và phân tích chủ trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc từ sau khi đất nước hòa bình thống nhất đến năm 2001 Luận án đã đề cập đến quá trình giải quyết mặt quốc tế của vấn đề Campuchia, nhằm mục tiêu thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt – Trung, bởi Trung Quốc là nước liên quan, có những ảnh hưởng, chi phối trực tiếp quá trình này
- Các công trình nghiên cứu về quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam với Campuchia: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945 – 2005) (Lưu Văn
Lợi (1998), tập 2, Nxb CAND, Hà Nội); Tội ác diệt chủng của bọn Pol pot – Iêng Xari (Nxb Sự thật (1979), Hà Nội); Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000) (Nguyễn Đình Bin (chủ biên, 2006), Nxb CTQG, Hà Nội); Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng (Nxb Sự thật (1982), Hà Nội)…
Nhìn chung, nhóm công trình này chú trọng đến mói quan hệ đặc biệt giữa hai nước từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2 năm 1930) đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, khi Quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia Một số công trình đã thể hiện được mối quan hệ chính trị - ngoại giao hữu nghị, bền chặt giữa Việt Nam với Campuchia trong các giai đoạn lịch sử quan trọng đối với hai nước
Trang 10- Các công trình nghiên cứu về quan hệ quân sự Việt Nam – Campuchia
và vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước: Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt
Nam – Lào – Campuchia (Hoàng Văn Thái (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội); Vấn đề Campuchia (Trường Chinh (1979), Tạp chí Quân đội nhân dân số ra tháng 2, Hà Nội); Bộ đội tình nguyện Quân khu 9 qua hơn 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (Nguyễn Đệ (2005), Nxb QĐND, Hà Nội); Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ cao cả trên đất ban Campuchia (Lê Đức Anh (1986), Nxb
QĐND, Hà Nội)…
Tác phẩm Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia
(Hoàng Văn Thái (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội) đã nêu bật quan hệ liên minh chặt chẽ về quân sự của Việt Nam và Campuchia trong các giai đoạn lịch sử quan trọng và cả trong thời kỳ CHND Campuchia hồi sinh đất nước sau họa diệt chủng Cuốn sách khẳng định: Trong mọi thời kỳ, những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam không quản ngại hy sinh, gian khổ đã cùng kề vai, sát cánh với quân, dân Campuchia đánh đuổi kẻ thù chung, giành lấy những thắng lợi to lớn cho cách mạng mỗi nước
- Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - thương mại, văn hóa Việt Nam – Campuchia: Cộng hòa nhân dân Campuchia mười năm bảo vệ và
xây dựng đất nước (Phạm Thành (1989), Nxb, Sự thật, Hà Nội); Kỷ yếu tám năm hoạt động của Ban Liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia (Ban
Liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia (2007), Nxb, GTVT, Hà
Nội); Kỷ yếu Hội nghị về quan hệ Việt Nam – Campuchia (Viện KHXH (1980,
Trang 11Tóm lại, thông qua các công trình trên, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã phân tích, làm rõ những chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trước những biến đổi mang tính bước ngoặt và chủ trương đối ngoại của Đảng ta đối với Campuchia Tuy nhiên, nhìn chung các công trình trên chưa đề cập đến quan hệ của Việt Nam với Campuchia một cách hệ thống, toàn diện, đặc biệt dưới góc độ nghiên cứu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác giả chưa khai thác sâu vào việc phân tích, nhận định, đánh giá về chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan
hệ với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997 như đề tài chúng tôi đã lựa chọn
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia trong thời gian
từ năm 1979 đến năm 1997, tuy nhiên, để có cơ sở kiểm chứng những chủ trương
đó, luận văn nghiên cứu quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện những chủ trương, quan điểm đó trong bối cảnh lịch sử chung, bước đầu có những tìm hiểu sâu vào chi tiết
4 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997, trên cơ sở đó, mạnh dạn đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan
về ưu điểm, hạn chế trong chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với việc củng cố, phát triển quan hệ anh em Việt Nam với Campuchia; từ đó đúc rút
ra những kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho hiện tại và tương lai trong phát triển quan hệ đối ngoại giữa hai nước
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể như sau
- Trình bày, phân tích những nội dung cơ bản, chủ yếu trong chủ trương, chính sách làm bật lên quan điểm của Đảng đối với mối quan hệ Việt Nam với Campuchia trong thời gian từ năm 1979 đến năm 1997
Trang 12- Dựng lại một cách khách quan bức tranh về mối quan hệ Việt Nam – Campuchia; qua đó, phân tích những thành tựu và hạn chế trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách qua các thời kỳ lịch sử
- Một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Những đường lối, chủ trương cơ bản thể hiện quan điểm của Đảng với mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia; những chính sách thực hiện của Nhà nước Việt Nam thông qua các sự kiện chính trong quá trình triển khai thực hiện các quan điểm đó trong phát triển quan hệ ngoại giao của hai nước với giới hạn thời gian từ năm 1979 đến năm 1997
5 Nguồn tư liệu, hướng sử dụng và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu và hướng sử dụng
- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lenin, Hồ Chí Minh về đối ngoại, quan hệ quốc tế là cơ sở lý luận cho luận văn
- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, thông tư,…của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, quan hệ quốc tế, quan hệ Việt Nam với Campuchia; các báo cáo của các bộ, ngành như Ngoại giao, Quốc phòng, Giáo dục và Đào tạo…(đã công bố và chưa công bố) là những tài liệu gốc của luận văn
- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia về chính sách đối ngoại của Đảng, quan hệ Việt Nam – Campuchia,…là nguồn tư liệu quan trọng, được luận văn kế thừa, khai thác, sử dụng để làm sáng tỏ những nội dung có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời trong quá trình nghiên cứu, là một đề tài lịch sử, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ phương pháp lịch sử Ngoài việc phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, tác giả cố gắng trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các sự kiện lịch sử, chân thực lịch sử, để tái hiện lại bức tranh sinh động trong việc giải quyết vấn đề Campuchia nhằm hội nhập với cộng động quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam
Trang 13Đồng thời với quá trình đó, tác giả kết hợp kết hợp sử dụng phương pháp lôgic
để lí giải một số vấn đề mang tính chất phức tạp trong quan hệ đối ngoại quốc tế, phát hiện ra bản chất và những đặc điểm manh tính quy luật đang ẩn mình vô vàn sự kiện phức tạp tiềm ẩn trong vấn đề Campuchia trong giai đoạn này
Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp liên ngành: Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế, chính trị, thống kê để xử lí số liệu, phương pháp trao đổi, thảo luận để tranh thủ ý kiến mang tính phản biện cho những nhận định, đánh giá của mình, nhằm làm giảm bớt tính chủ quan trong quá trình nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận văn
Về tư liệu: Luận văn sưu tầm, hệ thống và khai thác, giới thiệu nguồn tư
liệu phong phú, có giá trị về các chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với Campuchia của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về nội dung khoa học:
- Trình bày hệ thống, khách quan, tương đối toàn diện, làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương đối ngoại cũng như sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997
- Đưa ra những ý kiến đánh giá, nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong đề ra chủ trương và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng trong quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia, qua đó, rút ra một số kinh nghiệm lịch
sử chủ yếu phục vụ hiện tại nhằm phát triển quan hệ hai nước
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, học tập lịch sử ở một số nội dung có liên quan
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng mối quan
hệ đối ngoại với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1991
Chương 2: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác Việt Nam – Campuchia từ năm 1991 đến năm 1997
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 14Chương 1:
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VỚI CAMPUCHIA
TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1991
1.1 Khái quát lịch sử quan hệ Việt Nam – Campuchia đến năm 1979
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có nhiều nét tương đồng về văn hóa và phong tục tập quán Hai nước có chung đường biên giới trên bộ, trên biển và có chung dòng sông Mêkông nối liền hai nước Đất nước Campuchia và vùng đất Nam bộ và Tây Nguyên của Việt Nam trên cơ bản thuộc địa vực hạ lưu và châu thổ sông Mêkông Đây là một vùng có nền văn hóa lâu đời và tập trung những quan hệ văn hóa truyền thống Từ những kết quả nghiên cứu khảo cổ học, người ta có thể nhận ra rằng mấy ngàn năm lịch sử Việt Nam và Campuchia cùng nằm trong một khu vực văn hóa chung với những đặc trưng thống nhất trong lối làm ăn, lối sống, văn hóa nghệ thuật, tôn giáo Tất cả đã gắn bó với nhau, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử
Trong tiến trình lịch sử, nhân dân Đại Việt và Chân Lạp1
1 Thuật ngữ Chân Lạp và Đại Việt để chỉ chung cho phần lãnh thổ thuộc Campuchia và Việt Nam ngày nay Trong suốt các thế kỷ XI-XVI, quốc hiệu Đại Việt và Chân Lạp có một thời gian ngắn bị giánđoạn: Trong đó, đối với Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt được khởi đặt năm 1054 dưới thời vua Lý Thánh Tông kéo dài đến đầu thế
kỷ XIX, tuy nhiên quốc hiệu này có thời gian bị gián đoạn đó là dưới thời Hồ (1400-1407) có quốc hiệu là Đại Ngu và trong những năm 1407-1428 là dưới thời kỳ thuộc Minh Còn đối với Campuchia, tên Chân Lạp xuất hiện trong chính sử Việt Nam và Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ VI và thứ VII, bị gián đoạn trong thời kỳ họ đánh chiếm và cai trị Chiêm Thành (từ năm 1199 đến đầu thế kỷ XII), thời kỳ mà chính sử Trung Quốc gọi họ là Chiêm Lạp và phải đến khi nhà Nguyên thành lập (năm 1279) mới gọi lại là Chân Lạp
Trang 15đầu hình thành liên minh chiến đấu giữa cách mạng ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào trên tinh thần quốc tế vô sản
Trong suốt thời gian dài đấu tranh, cách mạng ba nước dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đã có những bước trưởng thành to lớn, tăng cường đoàn kết, kề vai sát cánh từng bước đánh bại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, chấm dứt chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ
Với lòng yêu hòa bình, nhân dân Việt Nam – Campuchia cùng với nhân dân Lào đã anh dũng, kiên cường, cần cù, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn kề vai sát cánh giành lấy thắng lợi cuối cùng ở Campuchia vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 và ở Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã chiến thắng trước chiến tranh phi nghĩa của kẻ thù xâm lược, từ đây đã mở ra một thời kỳ mới để nhân dân ba nước Đông Dương xây dựng và phát triển đất nước
Thế nhưng, tập đoàn Khmer Đỏ do bè lũ Pol pot – Iêng Xari – Khiêu Xamphon đã thi hành các chính sách phản động, dã man đẩy nhân dân Campuchia bên bờ diệt chủng Về đối ngoại, Khmer Đỏ liên tục gây xung đột ở biên giới, tàn sát hàng vạn người dân vô tội tại vùng biên giới với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam Khmer Đỏ khước từ mọi đề nghị thiện chí, mong muốn đàm phán hòa bình từ phía Việt Nam Trước sự tấn công vũ trang mang tính chiến tranh xâm lược của tập đoàn Khmer Đỏ, các đơn vị quân đội của Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng, tổng phản kích đánh đuổi bè lũ phản động Khmer Đỏ ra khỏi biên giới đất nước, đáp lời kêu cứu của nhân dân Campuchia tiến lên giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng để xây dựng và khôi phục đất nước Mở ra thời kỳ mới trong lịch sử đất nước Campuchia và quan hệ của Việt Nam với Campuchia
1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ đối ngoại với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1985
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ XX, tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có nhiều biến động tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho cách