1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số tiểu thuyết của nhà xuất bản công an nhân dân

16 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 421,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong địa hạt của Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa hầm ẩn theory of implicit meaning là một trong những lĩnh vực quan trọng nằm trong phạm vi nghiên cứu, bên cạnh các lĩnh vực như chi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ MINH THU

KHẢO SÁT NGHĨA HÀM ẨN QUA CÁC LỐI NÓI VÕNG

TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11

1.1 Nghĩa của câu và phát ngôn 11

1.1.1 Câu và phát ngôn 11

1.1.2 Nghĩa của phát ngôn 12

1.1.2.1 Khái niệm ý nghĩa 12

1.1.2.2 Ý nghĩa của phát ngôn 13

1.2 Nghĩa hàm ẩn 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Các loại nghĩa hàm ẩn 17

1.2.3 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn 18

1.2.3.1 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa 18

1.2.3.2 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn ngữ dụng 19

1.2.4 Phân biệt nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 21

1.3 Lối nói vòng 25

1.3.1 Khái niệm 25

1.3.2 Phương thức tạo lối nói vòng 27

1.3.2.1 Phương thức thế danh ngữ đồng sở chỉ 27

1.3.2.2 Phương thức sử dụng dẫn dắt 27

1.3.3 Phân loại lối nói vòng thường gặp 28

1.3.3.1 Tiêu chí phân loại lối nói vòng 28

1.3.3.2 Kết quả phân loại lối nói vòng 28

1.3.3.3 Vai trò của lối nói vòng trong việc biểu đạt nghĩa hàm ẩn 29

Chương 2: LỐI NÓI VÕNG TRONG MỘT SỐ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 33

2.1 Phân loại lối nói vòng dựa vào phép thế danh ngữ đồng sở chỉ 33

2.1.1.Thống kê các loại lối nói vòng bằng danh ngữ 33

Trang 3

2.1.1.1.Lối Nói vòng thay cho danh từ gốc chỉ quan hệ họ hàng 33

2.1.1.2 Lối nói vòng thay cho tên riêng 34

2.1.1.3 Lối nói vòng thay cho “Tôi” – người đang nói 35

2.1.1.4 Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ đối tượng 35

2.1.1.5 Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ địa điểm, nơi chốn 36

2.1.1.6 Lối nói vòng thay cho động từ gốc 37

2.1.1.7 Lối nói vòng thay cho danh từ chỉ sự việc 38

2.1.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện của lối nói vòng bằng danh ngữ 39

2.2 Kết quả phân loại lối nói vòng dựa vào tính dẫn dắt và hiệu quả đạt được về điều khác 41

2.2.1 Lói nói vòng đạt đích hoàn toàn, đặc điểm và cơ chế biểu hiện 41

2.2.1.1 Lối nói vòng đạt đích hoàn toàn 41

2.2.1.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện 45

2.2.2 Lối nói vòng đạt đích không hoàn toàn, đặc điểm và cơ chế biểu hiện 47

2.2.2.1 Lối nói vòng đạt đích không hoàn toàn 47

2.2.2.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện 53

Chương 3: NGHĨA HÀM ẨN QUA LỐI NÓI VÕNG TRONG MỘT SỐ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 56

3.1 Nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng bằng danh ngữ 56

3.2 Nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng đạt đích hoàn toàn 59

3.3 Nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng đạt đích không hoàn toàn 66

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 82

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NHANN: Nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa

NHAND: Nghĩa hàm ẩn ngữ dụng

NVDN: Nói vòng danh ngữ

VPPCTT: Vi phậm phương châm tán thưởng

VPQTCV: Vi phạm quy tắc chiếu vật

VPPCL: Vi phạm phương châm lượng

VPPCCT: Vi phạm phương châm cách thức

VPPCQH: Vi phạm phương châm quan hệ

VPPCC: Vi phạm phương châm chất

VPPCRR: Vi phạm phương châm rộng rãi

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

1.1 Lý do thực tiễn

Trong cuộc sống hàng ngày của con người, giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu được Có rất nhiều kênh giao tiếp khác nhau như giao tiếp bằng tay chân, ánh mắt,… song giao tiếp bằng ngôn ngữ vẫn là hoạt động giao tiếp chủ yếu và quan trọng nhất của con người Lý do giao tiếp là để truyền đạt với nhau những thông điệp nhằm đạt được mục đích nào đó Những thông điệp truyền đạt ấy, có lúc hiển hiện thật dễ hiểu, nhưng cũng có lúc phải trải qua quá trình suy luận, xét đoán,… mới có thể hiểu được Sở dĩ các bên giao tiếp vẫn có thể hiểu được các thông điệp không hiển hiện ấy là bởi những yếu tố khách quan xung quanh như ngữ cảnh, khung hiểu biết chung về văn hóa xã hội,… Những thông điệp ngầm ấy có thể được thể hiện qua nhiều cách khác nhau như ngầm dùng cái này để ám chỉ cái khác, hoặc cũng có thể là dùng cách nói vòng vo tam quốc để ám chỉ điều cần nói tới Hơn thế nữa, người Việt Nam với lối sống trọng tình, thích giao tiếp, thích nói năng với nhiều lối dẫn dắt, nói gần nói xa thì việc dùng cách nói này để ngầm chỉ ý khác cũng là hiện tượng thường thấy Thêm vào đó, với những đặc trưng văn hóa nông nghiệp nói chung, và những đặc trưng riêng của dân tộc Việt Nam, dùng lối nói vòng để thể hiện một ngầm ý cũng có những đặc trưng rất riêng đáng để được quan tâm và nghiên cứu về cả mặt lý thuyết và thực tiễn

1.2 Lý do lý luận

Như đã biết, ngữ dụng học là ngành khoa học nghiên cứu ngữ nghĩa

trong bối cảnh giao tiếp Trong địa hạt của Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa hầm ẩn (theory of implicit meaning) là một trong những lĩnh vực quan trọng

nằm trong phạm vi nghiên cứu, bên cạnh các lĩnh vực như chiếu vật, hành vi

Trang 6

ngôn ngữ, hội thoại,… Và trong hầu hết các giáo trình về Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn luôn nằm ở vị trí sau cùng chắc bởi để nghiên cứu

về nó cần có tri thức của các lĩnh vực khác Có lẽ bởi vậy, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này chưa nhiều

Mặt khác, như đã nói, trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ „hiện hình‟ qua các thông điệp mà các bên giao tiếp trao đổi với nhau nhằm đạt được mục đích nào đó, có lúc thật hiển hiện, dễ hiểu (được gọi là hiển ngôn) song cũng

có lúc để hiểu được nó cần trải qua suy nghĩ, suy luận,… (được gọi là hàm ngôn, hàm ý, nghĩa hàm ẩn) Tần suất xuất hiện của các nghĩa hàm ẩn trong

hoạt động giao tiếp là rất nhiều Song những nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn lại

chưa tương xứng với tần suất ấy Thêm vào đó, một trong những vấn đề quan trọng mà Ngữ dụng học đề cập đến chính là vấn đề về hành vi ngôn ngữ

Trong khi nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ, Searle đã từng đề cập tới lối nói vòng: Người nghe nhận ra một hành vi gián tiếp như thế nào khi mà người ta được nghe một điều hoàn toàn khác [54, 11] Là một vấn đề chức năng của

đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, một vấn đề mà lý thuyết về hành

vi ngôn ngữ có thể soi sáng, song lối nói vòng lại chưa thực sự được các nhà

nghiên cứu quan tâm nhiều

Với những lý do thực tiễn và lý luận nêu trên, người viết quyết định

chọn đề tài “Khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số tiểu thuyết của Nhà xuất bản Công an nhân dân” với hi vọng nghiên cứu này

qua những thống kê và chỉ ra các kiểu nói vòng như một cách biểu hiện của nghĩa hàm ẩn, sẽ góp phần lý giải về một số nhân tố ảnh hưởng tới việc nói và hiểu trong giao tiếp hội thoại, qua đó giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn

về một phương diện quan trọng trong giao tiếp, đó là cách biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng - một lối nói quen thuộc được khá nhiều người dân Việt Nam ưa dùng

Trang 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lý thuyết về nghĩa hàm ẩn là một trong những lĩnh vực nghiên cứu của ngữ dụng học, bởi vậy, lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn luôn đi cùng với việc nghiên cứu của khuynh hướng Ngữ dụng học

Grice là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn khi ông phân biệt ý nghĩa không tự nhiên (non-natural meaning) và ý nghĩa tự nhiên (natural meaning), giữa hàm ẩn ước định (conventinonal implicature)

và hàm ẩn hội thoại (conversational implicature) Ông cho rằng có một hiện

tượng thường xảy ra trong khi giao tiếp là khi ta nói ra điều này nhưng thực chất là muốn nói tới điều khác và theo ông đó là Hàm ngôn hội thoại (hàm ẩn hội thoại - conversational implicature) Hàm ngôn này được sinh ra khi người nói vi phạm một trong bốn quy tắc Cộng tác hội thoại (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức)

Ở Việt Nam, vấn đề về ý nghĩa hàm ẩn được tiếp cận trong mối tương

quan với các lý thuyết khác như lý thuyết chiếu vật, chỉ xuất, lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lập luận,… cũng như những lĩnh vực của Ngữ dụng học

Nới tới Ngữ dụng học, cần nhắc tới các công trình tiêu biểu như: Nguyễn

Đức Dân, Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb Giáo dục, 1998; Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Tập II - Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, 2001; Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008; Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ - Q.2-Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, Nxb Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh…

Ngoài ra còn có một số chuyên đề, luận án, bài viết bàn về ý nghĩa hàm

ẩn (trực tiếp hoặc gián tiếp) như: Ý nghĩa của hàm ngôn – Hoàng Phê; Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn – Cao Xuân Hạo; Về hàm ngôn quy ước (trên tư

Trang 8

liệu tiếng Việt) – Nguyễn Văn Hiệp; Ý tại ngôn ngoại – nhũng thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí – Nguyễn Đức Dân; Phương thức chiếu vật mơ hồ hàm ẩn trong phát ngôn tiếng Việt - Huỳnh Công Hiển ; Những phương thức cấu tạo hàm ngôn trong hội thoại – Đỗ Thị Kim Liên;… Đặc biệt trong đó,

Hoàng Phê đã đưa ra ý kiến rất đáng lưu ý là: Khi một lời nói có hàm ngôn thì

ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn mới là ý chính

Tuy chưa có công trình nào nâng Lý thuyết về ý nghĩa hàm ngôn lên

thành một phạm trù lý thuyết tương xứng với các vấn đề cần quan tâm song

các tác giả nói trên đề đã góp phần làm cho bức tranh về nghĩa hàm ẩn ngày

càng trở nên rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn

2.2 Lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng

Lối nói vòng tồn tại trong lời nói như một điều hiển nhiên, quen thuộc, song cho tới nay, trên phương diện nghiên cứu ngôn ngữ học, đây vẫn là một hiện tượng còn bỏ ngỏ, chưa có bất kỳ công trình chuyên sâu và tường minh nào nghiên cứu Mặc dù, trong một số công trình lớn nhỏ khác nhau của một

số nhà nghiêncứu đã nhắc đến tên nó

Ví dụ như các thuật ngữ về nói giảm, nói tránh, uyển ngữ, nhã ngữ,…

trong một số công trình của các tác giả như Cù Đình Tú (1983), Đinh Trong Lạc (1994, 1995), Hữu Đạt (2000, 2001),… hay trong luận án tiến sỹ của Trương Viên (ĐHQG HN, 2003) “Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Anh và việc chuyển dịch sang tiếng Việt” Qua việc xem xét uyển ngữ trên ba phương diện từ vựng, phong cách học và ngữ dụng học, tác giả này đã rút ra kết luận

là: Về mặt từ vựng, Uyển ngữ bằng một từ hay một đơn vị đồng nghĩa, một

ngữ phối hợp nằm trong một nhóm đồng nghĩa hay một trường nghĩa; về mặt

phong cách học, Uyển ngữ là một biện pháp tu từ xuất hiện trong các phong

cách chức năng nhằm mục đích lịch sự, tế nhị, thẩm mỹ; về mặt ngữ dụng học,

Trang 9

Uyển ngữ như một hành động lời nói hoặc một yếu tố ngôn ngữ tạo thành

hành động lời nói

Những khái niệm nói trên thực sự mới chỉ được nghiên cứu chủ yếu trên cấp độ câu và dưới câu Còn với cấp độ diễn ngôn, lối nói vòng vẫn là một khái niệm chưa tường minh và có nhiều đồng nhất với hàm ngôn Bởi vậy lối nói vòng thường được nhắc đến trong sự đồng nhất hoặc bao hàm từ việc nghiên cứu hàm ngôn Mặc dù thực chất giữa chúng vừa có sự giống nhau lại

có sự khác biệt

Hiển ngôn là cái dễ nhận ra với cơ chế sử dụng hết sức đơn giản, còn

hàm ngôn là ý nghĩa sâu sắc hơn, thuộc sự kiện bề sâu, với cơ chế hàm ẩn

riêng Lối nói vòng tận dụng được đặc trưng trên của cả hiển ngôn và hàm ngôn

Chính bởi vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về hàm ngôn, hay cơ chế hàm ẩn của nó giúp ích rất nhiều trong việc khám phá, tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu về lối nói vòng, đặc biệt trên bình diện Ngữ dụng học Về lịch sử việc nghiên cứu hàm ngôn, hàm ý, phần 3.1 trong luận văn này đã đề cập đầy

đủ, chỉ xin được nêu thêm một số kết quả nghiên cứu quan trọng có liên quan chặt chẽ hơn tới lối nói vòng như sau

Đỗ Hữu Châu trong [5] đã đề cập đến cái nền hàm ẩn của câu và ý nghĩa hàm ẩn liên hệ đến thông điệp miêu tả của P của câu Hồ Lê thì nói về Lối nói khúc xạ trong sự đối lập với lối nói thẳng đồng thời cho rằng đó là tên gọi dùng trong sinh hoạt bình thường Trong cuốn Phương pháp nghiên cứu cú pháp, ông có nhắc tới sự nói vòng nhưng lại không giới thuyết về nó[29]

Các nghiên cứu còn cho thấy, lối nói vòng có quan hệ trực tiếp với hành

vi ngôn ngữ gián tiếp Như Searle đã đề cập: Người nghe nhận ra một hành vi gián tiếp như thế nào khi mà người ta được nghe một điều hoàn toàn khác? Cách hiểu một hành vi gián tiếp khác với cách hiểu một hành vi tại lời trực

Trang 10

tiếp thế nào? [47, 65] Cách đặt về đề này không chỉ dành cho hành vi ngôn

ngữ gián tiếp mà cũng chính là cách để tiếp cận với Lối nói vòng Trong cuốn

Ngữ dụng học tập 2 của Đỗ Hữu Châu cũng nhắc tới Lối nói cây tre đè bụi hóp nhưng ông lại không giải thích rõ về lối nói này

Ngoài ra, gần đây, Nguyễn Đăng Khánh với luận án tiến sỹ lối nói vòng trong giao tiếp tiếng Việt đã phần nào đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ khá

nhiều góc khuất của vấn đề này Tác giả không chỉ đưa ra một định nghĩa mang tính minh xác và rõ ràng nhất về Lối nói vòng cũng như cơ chế biểu hiện của chúng dưới góc nhìn của Ngữ dụng học và của Lý thuyết giao tiếp

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong

một số tư liệu khảo sát

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Một số truyện ngắn và tiểu thuyết khảo

sát

Được sự đồng ý của người hướng dẫn khoa học, cũng như của hội đồng chấm luận văn, trong luận văn này, với lý do nguồn tư liệu dự kiến ban đầu là một

số tiểu thuyết của Nhà xuất bản Công an nhân dân không đáp ứng đủ cứ liệu

để khảo sát theo mục đích luận văn, bởi vậy, người viết đã chuyển tư liệu khảo sát thành các truyện ngắn và tiểu thuyết “Bước đường cùng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan

 Xác lập cơ sở lý luận nhằm khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số một số truyện ngắn và tiểu thuyết khảo sát

 Mô tả, phân loại và rút ra nhận xét về lối nói vòng trong một số truyện ngắn và tiểu thuyết khảo sát

 Khảo sát và rút ra nhận xét về nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng trong một số truyện ngắn và tiểu thuyết

Trang 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp – văn bản – mạch lạc – liên kết – đoạn văn, KHXH, H

2 Dương Hữu Biên (1997), Vài ghi nhận về lôgic và nghĩa hàm ẩn, Ngôn ngữ, số1

3 Brown G., Yule G (2001), Phân tích diễn ngôn, ĐHQG HN

4 Nguyễn Huy Cẩn (2003), Sự sản sinh phát ngôn – lời nói, trong

“Những vấn đề văn học và ngôn ngữ”, KHXH, Hà Nội

5 Nguyễn Hữu Cầu (1999), Bình diện ngữ dụng trong dạy tiếng, Kỷ yếu Những vấn đề “Ngữ dụng học”, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội

6 Đỗ Hữu Châu (1983), Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1

7 Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2003), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội

8 Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

9 Mai Ngọc Chừ - Chủ biên (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

10 Nguyễn Đức Dân (1985), Phương thức thể hiện ý tuyệt đối, Ngôn ngữ,

Số 3

11 Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội

12 Nguyễn Đức Dân (2004), Ý tại ngôn ngoại – những thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí, Tạp chí Ngôn ngữ (2/2004), tr.1-10

13 Cao Xuân Hạo (1999), Chủ biên, Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Q.1, Câu trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Ngày đăng: 09/09/2016, 11:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w