Đất nước ngày càng phát triển, đi cùng với sự phát triển đó là chất lượng cuộc sống người dân dần được cải thiện về mọi mặt. Đặc biệt, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, việc nghiên cứu và áp dụng khoa học – công nghệ tiên tiến vào khám, chữa bệnh đã mang lại những kết quả chữa trị thật sự hiệu quả. Tuy nhiên, đi cùng với nền y học hiện đại là chi phí khám, chữa bệnh ngày càng cao. Chính vì vậy, việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế cho người dân trở thành chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn sâu sắc với tinh thần tương thần tương ái “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Bảo hiểm y tế là phương thức phù hợp với nền kinh tế thị trường, là biện pháp chi trả tiến bộ, văn minh, đảm bảo tính công bằng, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đại đa số người dân, nhất là người nghèo, tránh được nguy cơ đói nghèo do việc chi trả viện phí khám, chữa bệnh. Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng. Tại Phú Yên, bảo hiểm y tế là một chính sách rất quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của tỉnh. Bảo hiểm y tế không những giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc thanh toán chi phí khám, chữa bệnh mà còn góp phần đảm bảo sự công bằng trong khám, chữa bệnh của người dân. Cùng với sự quan tâm, lãnh đạo của ngành y tế tỉnh trong việc chú trọng đầu tư về trang thiết bị hiện đại, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, đội ngũ y bác sĩ có trình độ vào quá trình khám, chữa bệnh của người dân việc triển khai thựchiện chính sách BHYT đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhưng vấn đề thu hút người dân tham gia chính sách BHYT còn gặp nhiều hạn chế ở tỉnh, ngay sau khi Luật BHYT được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01072009 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT thông qua ngày 01012015 qua 5 năm thực hiện Luật BHYT và 6 tháng thực hiện Luật BHYT sửa đổi, bổ sung, công tác phát triển mở rộng diện bao phủ BHYT ở tỉnh vẫn còn thấp so với tỉ lệ chung của cả nước. Trong năm 2014, toàn tỉnh có tỷ lệ tham gia BHYT chiếm 64%, thấp hơn so với tỷ lệ tham gia BHYT ở các tỉnh khác. Đặc biệt, tỷ lệ người dân tham gia BHYT hộ gia đình còn rất thấp, chiếm 14%; đối với những người thuộc hộ cận nghèo thì có tổng số đối tượng tham gia BHYT là 51,182 người, chiếm 49% trong tổng số 104,343 đối tượng thuộc diện cận nghèo; với các đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi thì vẫn chưa được cấp thẻ BHYT kịp thời (nhất là trẻ em ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa); tỷ lệ tham gia của các đối tượng bắt buộc trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh cá thể... chưa đạt 100% theo quy định nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này; tỷ lệ tham gia BHYT của các đối tượng tự nguyện còn rất thấp chỉ chiếm 20% trong tổng số đối tượng tham gia BHYT là 64,004 người so với tổng số đối tượng là 315,566 người. Vì vậy, quá trình thực hiện chính sách BHYT trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp một số vấn đề khác nhau, xuất phát từ phía người thực hiện cũng như người tham gia BHYT làm cho tỷ lệ tham gia BHYT của người dân trong tỉnh chưa cao. Trong thực trạng chung của việc tham gia chính sách BHYT của người dân, những năm gần đây tại địa bàn xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên có thể thấy việc tham gia chính sách BHYT đã làm giảm gánh nặng về chi phí khám, chữa bệnh cho người dân tại địa phương. Tuy nhiên, với đặc thù là một xã miền núi nghèo nên mức độ bao phủ của BHYT tại địa phương vẫn còn chưa cao. Để tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT của người dân đồng thời phát hiện ra nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo việc tham gia BHYT của người dân được tăng lên trên địa bàn nghiên cứu. Tác giả đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên” để làm khóa luận tốt nghiệp cho ngành học của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC & CTXH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VIỆC THAM GIA CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ HÒA THỊNH, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
NIÊN KHÓA: 2012 – 2016
Quy Nhơn, tháng 05 – 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC & CTXH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VIỆC THAM GIA CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ HÒA THỊNH, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Giảng viên hướng dẫn : ThS
Sinh viên thực hiện :
Quy Nhơn, tháng 05 – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại họcQuy Nhơn, Ban chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục và Công tác xã hội đã tạo điềukiện để tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn các Giảng viên trong Tổ Công tác xã hội, Giáo viên chủ nhiệmLớp Công tác xã hội Khóa 35 đã tạo điều kiện và hướng dẫn tận tình tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện khóa luận
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô chú, anh chị em của
Uỷ ban nhân dân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, các ban ngành đoànthể và nhân dân trên địa bàn xã đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ và cung cấp cho tôinhững thông tin hữu ích trong quá trình thu thập tài liệu và khảo sát thực tế để khoaluận để hoàn thành tốt đẹp
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo ThS … người đã tậntình hướng dẫn, chia sẻ những kinh nghiệm bổ ích, động viên tôi trong suốt quátrình thực hiện khóa luận
Vì khả năng và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài khóa luậnkhông tránh khỏi thiếu sót Kính mong quý thầy cô thông cảm và cho ý kiến đónggóp để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quy Nhơn, ngày18 tháng 05 năm 2016
Thực hiện khóa luận
Sinh viên:
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ cái viết tắt Cụm từ đầy đủ
KCB Khám, chữa bệnhBHYT Bảo hiểm y tếBHXH Bảo hiểm xã hộiCQĐP Chính quyền địa phươngUBND Uỷ ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình tham gia BHYT theo nhóm đối tượng năm 2015 33
Bảng 2.2 Độ tuổi 37
Bảng 2.3 Giới tính 37
Bảng 2.4 Nghề nghiệp 38
Bảng 2.5 Trình độ học vấn 38
Bảng 2.6 Thu nhập hàng tháng 39
Bảng 2.7 Nguyên nhân người dân không tham gia BHYT 41
Bảng 2.8 Sự quan tâm, khuyến khích của cơ quan BHYT để người dân KCB có sử dụng BHYT 43
Bảng 2.9 Bảng tương quan giữa việc đau ốm có sử dụng BHYT KCB và sự hài lòng của người dân 46
Bảng 2.10 Bảng tương quan giữu giới tính với việc tham gia BHYT 52
Bảng 2.11 Bảng tương quan giữa độ tuổi với việc tham gia BHYT 53
Bảng 2.12 Tương quan giữa nghề nghiệp với việc tham gia BHYT 54
Bảng 2.13 Bảng tương quan giữa trình độ học vấn với việc tham gia BHYT 56
Bảng 2.14 Bảng tương quan giữa thu nhập với việc tham gia BHYT 57
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tham gia BHYT của người dân 40
Biểu đồ 2.2 Sự tham gia các nhóm BHYT của người dân 40
Biểu đồ 2.3 Chính quyền địa phương có đưa ra biện pháp khuyến khích người dân tham gia BHYT 42
Biểu đồ 2.4 Khó khăn của người dân khi KCB có sử dụng BHYT 44
Biểu đồ 2.5 Mức độ sử dụng BHYT trong khám, chữa bệnh 47
Biểu đồ 2.6 Mức đóng BHYT hiện nay 49
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ngày càng phát triển, đi cùng với sự phát triển đó là chất lượng cuộcsống người dân dần được cải thiện về mọi mặt Đặc biệt, trong lĩnh vực chăm sócsức khỏe, việc nghiên cứu và áp dụng khoa học – công nghệ tiên tiến vào khám,chữa bệnh đã mang lại những kết quả chữa trị thật sự hiệu quả Tuy nhiên, đi cùngvới nền y học hiện đại là chi phí khám, chữa bệnh ngày càng cao Chính vì vậy, việcthực hiện chính sách bảo hiểm y tế cho người dân trở thành chính sách xã hội quantrọng, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn sâu sắc với tinh thần tương thần tương ái
“Mình vì mọi người, mọi người vì mình” Bảo hiểm y tế là phương thức phù hợpvới nền kinh tế thị trường, là biện pháp chi trả tiến bộ, văn minh, đảm bảo tính côngbằng, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đại đa số người dân, nhất
là người nghèo, tránh được nguy cơ đói nghèo do việc chi trả viện phí khám, chữabệnh Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xã hộihóa công tác chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng
Tại Phú Yên, bảo hiểm y tế là một chính sách rất quan trọng trong hệ thốngchính sách an sinh xã hội của tỉnh Bảo hiểm y tế không những giải quyết nhữngvấn đề phát sinh trong việc thanh toán chi phí khám, chữa bệnh mà còn góp phầnđảm bảo sự công bằng trong khám, chữa bệnh của người dân Cùng với sự quantâm, lãnh đạo của ngành y tế tỉnh trong việc chú trọng đầu tư về trang thiết bị hiệnđại, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, đội ngũ y bác sĩ có trình độ vào quá trìnhkhám, chữa bệnh của người dân việc triển khai thựchiện chính sách BHYT đạt đượcnhiều kết quả đáng ghi nhận Nhưng vấn đề thu hút người dân tham gia chính sáchBHYT còn gặp nhiều hạn chế ở tỉnh, ngay sau khi Luật BHYT được Quốc hộithông qua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2009 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật BHYT thông qua ngày 01/01/2015 qua 5 năm thực hiện Luật BHYT và 6tháng thực hiện Luật BHYT sửa đổi, bổ sung, công tác phát triển mở rộng diện baophủ BHYT ở tỉnh vẫn còn thấp so với tỉ lệ chung của cả nước Trong năm 2014,toàn tỉnh có tỷ lệ tham gia BHYT chiếm 64%, thấp hơn so với tỷ lệ tham gia BHYT
ở các tỉnh khác Đặc biệt, tỷ lệ người dân tham gia BHYT hộ gia đình còn rất thấp,chiếm 14%; đối với những người thuộc hộ cận nghèo thì có tổng số đối tượng tham
Trang 9gia BHYT là 51,182 người, chiếm 49% trong tổng số 104,343 đối tượng thuộc diệncận nghèo; với các đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi thì vẫn chưa được cấp thẻ BHYTkịp thời (nhất là trẻ em ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa); tỷ lệ tham gia củacác đối tượng bắt buộc trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh cáthể chưa đạt 100% theo quy định nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phụctình trạng này; tỷ lệ tham gia BHYT của các đối tượng tự nguyện còn rất thấp chỉchiếm 20% trong tổng số đối tượng tham gia BHYT là 64,004 người so với tổng sốđối tượng là 315,566 người Vì vậy, quá trình thực hiện chính sách BHYT trên địabàn tỉnh vẫn còn gặp một số vấn đề khác nhau, xuất phát từ phía người thực hiệncũng như người tham gia BHYT làm cho tỷ lệ tham gia BHYT của người dân trongtỉnh chưa cao.
Trong thực trạng chung của việc tham gia chính sách BHYT của người dân,những năm gần đây tại địa bàn xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên có thểthấy việc tham gia chính sách BHYT đã làm giảm gánh nặng về chi phí khám, chữabệnh cho người dân tại địa phương Tuy nhiên, với đặc thù là một xã miền núinghèo nên mức độ bao phủ của BHYT tại địa phương vẫn còn chưa cao
Để tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT của người dân đồng thời phát hiện ranguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo việc tham giaBHYT của người dân được tăng lên trên địa bàn nghiên cứu Tác giả đã tiến hành
thực hiện nghiên cứu đề tài: “Việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người
dân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên” để làm khóa luận tốt nghiệp
cho ngành học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân xã HòaThịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên Từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp gópphần nâng cao hiệu quả việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân tạiđịa bàn nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và tổng hợp cơ sở lý luận chung về bảo hiểm y tế
Trang 10- Tìm hiểu thực trạng tham gia chính sách bảo hiểm y tế tại xã Hòa Thịnh,huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc tham gia chính sách BHYT của ngườidân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo việc tham gia chính sách bảohiểm y tế của người dân trên địa bàn xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân xã Hòa Thịnh, huyệnTây Hòa, tỉnh Phú Yên
3.2 Khách thể nghiên cứu
Người dân (trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên) trên địa bàn xã Hòa Thịnh, huyệnTây Hòa, tỉnh Phú Yên
4 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về việc tham gia chính sách bảo hiểm
y tế của người dân được thực hiện trên địa bàn xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa,tỉnhPhú Yên
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Người dân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên đã có ý thức thamgia bảo hiểm y tế
- Việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân, xã Hòa Thịnh, huyệnTây Hòa, tỉnh Phú Yên còn hạn chế là do nhiều nguyên nhân khác nhau
- Việc tăng cường các nguồn lực hỗ trợ sẽ khuyến khích người dân tích cựctham gia bảo hiểm y tế
Trang 116 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng một số phương pháp sauđây:
6.1 Phương pháp chọn mẫu
Nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu và thu thập, tổng hợp những thông tinmang tính khách quan, phản ánh một cách trung thực, chính xác về diễn biến thực tếcủa vấn đề, tác giả dùng phương pháp chọn mẫu Mặt khác, trong quá trình nghiêncứu do có nhiều yếu tố khác nhau chi phối nên mẫu nghiên cứu được lựa chọn gồm
200 đối tượng là người dân thuộc địa bàn xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh PhúYên
6.2 Phương pháp thu thập thông tin
6.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích là thu thập được nhiều thôngtin từ trực tiếp đối tượng nghiên cứu Từ đó, có những thông tin thiết thực hơn, pháthiện ra những đặc trưng khác nhau phù hợp với điều kiện khảo sát trên địa bànnghiên cứu
6.2.2 Phương pháp thu thập thông tin tư liệu
Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu các số liệuthống kê từ các nguồn khác nhau, các thông tin từ báo chí các trang mạng Đặc biệt,
là báo cáo của văn phòng uỷ ban xã…nhằm phục vụ đề tài nghiên cứu
6.2.4 Phương pháp quan sát
Tác giả sử dụng phương pháp quan sát để hỗ trợ, lồng ghép các phương pháptrưng cầu ý kiến, phương pháp phỏng vấn trong quá trình điều tra Quan sát cáchlàm việc của cán bộ xã khi thực hiện chính sách bảo hiểm y tế tại địa phương, quan
Trang 12sát những biểu hiện, thái độ của người dân khi tiến hành khảo sát trên địa bàn xãHòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
6.3 Phương pháp xử lý thông tin
Thực hiện theo phương pháp này, kết quả thu được từ những câu trả lời đãphát từ phiếu trưng cầu ý kiến thu thập từ người dân và chính quyền tại địa phương,tác giả thực hiện công việc thống kê các phương án trong từng câu hỏi, sử dụngphần mềm SPSS để xử lý số liệu, tính tỷ lệ phần trăm và xem xét các mối tươngquan giữa các câu hỏi với nhau, nhằm phục vụ đề tài nghiên cứu
7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
7.1 Ý nghĩa lý luận
Những thông tin thu thập được từ thực tế thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tại
xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên sẽ góp phần bổ sung, đóng góp thêmvào hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận về bảo hiểm ytế
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài trên làm cơ sở để đưa ra một số giải phápgóp phần nâng cao hiệu quả việc tham gia bảo hiểm y tế của người dân xã HòaThịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên để đảm bảo sức khỏe, góp phần nâng cao chấtlượng cuộc sống của người dân nơi đây
8 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp.
Bố cục khóa luận gồm có phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo Trong đó, phần nội dung gồm có 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân xã HòaThịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên: Thực trạng và biện pháp
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa nhânvăn hướng tới mục tiêu công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe người dân
ở mỗi quốc gia, vì vậy ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển BHYT là mộttrong những công cụ đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân Ở Việt Nam,nhận thức được sự cần thiết của BHYT trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước đã
có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao việc thực hiện chính sách này Tuy nhiên, với đặcthù phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước chưa ổn định, do đó việc hỗ trợ người dân tham gia BHYT còn gặp nhiều khókhăn, bất cập Vì vậy, để giúp người dân cải thiện chất lượng cuộc sống nhất làtrong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có cơ hội tiếp cận với chính sách BHYT luôn làvấn đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Đã có nhiều công trình nghiêncứu, điều tra, khảo sát các vấn đề liên quan đến chính sách BHYT qua từng giaiđoạn khác nhau, với mục đích phát hiện ra những hạn chế và nguyên nhân còn tồntại trong quá trình thực hiện chính sách BHYT từ đó có những đề xuất giải phápphù hợp góp phần làm cho quá trình thực hiện chính sách BHYT của cả nước đạthiệu quả cao hơn, tăng độ bao phủ BHYT trong cộng đồng
Trong những năm qua đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học liên quanđến chính sách BHYT, cụ thể:
Đề tài luận văn thạc sĩ “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên một
số trường đại học, cao đẳng tại tỉnh Thái Nguyên (2006-2008)” của tác giả Mai ThịThu Nga Nghiên cứu này chỉ ra thực trạng tham gia BHYT của sinh viên một sốtrường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, điều tra sự hiểu biết, thái
độ cũng như là nguyện vọng của sinh viên khi tham gia BHYT Tuy nhiên nghiêncứu này chưa quan tâm nhiều đến việc đưa ra các biện pháp giải quyết những vấn đềcòn hạn chế về BHYT từ phản hồi của sinh viên
Hay đề tài “Thực trạng và nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế của người dân nôngthôn hiện nay” của tác giả Nghiêm Xuân Nam Nghiên cứu này chỉ ra thực trạngtham gia BHYT của người dân, đồng thời tìm hiểu nhận thức, mức độ tham gia và
Trang 14sử dụng BHYT của người dân, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham giachính sách BHYT, chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và thái độ làm việc củanhân viên y tế Từ đó, xác định nhu cầu hiện tại của người dân và đưa ra biện phápphù hợp để giải quyết vấn đề Tuy nhiên nghiên cứu này có địa bàn nghiên cứurộng, chưa đi sâu vào phân tích ở một địa phương cụ thể.
Nghiên cứu về “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở Hà Tĩnh” củaChu Thị Kim Loan và Nguyễn Hồng Ban, đăng trên tạp chí Khoa học và Phát triểnnăm 2013 Nghiên cứu này đã điều tra tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT tựnguyện của người dân trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh Kết quả điều tra cho thấy tỷ
lệ tham gia BHYT của người dân thành phố Hà Tĩnh có xu hướng tăng lên nhưngvẫn chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong tổng số đối tượng tham gia BHYT, qua điều tra chothấy tỷ lệ người dân sử dụng BHYT trong khám, chữa bệnh chiếm tỷ lệ khá cao.Tuy nhiên người dân vẫn còn gặp một số khó khăn, phiền hà khi khám, chữa bệnhbằng thẻ BHYT tự nguyện, kết hợp với phỏng vấn sâu nghiên cứu đã đề xuất ra một
số giải pháp để thúc đẩy người dân thành phố Hà Tĩnh tích cực tham gia BHYT tựnguyện
Nghiên cứu về “Tình hình tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dânthành phố Cần Thơ” năm 2012 của tác giả Cao Minh Chu Nghiên cứu này khảo sáttình hình tham gia BHYT của người dân thành phố Cần Thơ đồng thời tìm ranguyên nhân, khó khăn và hạn chế của trong việc tham gia BHYT của người dânnơi đây Đồng thời đưa ra những biện pháp phù hợp giải quyết vấn đề còn tồn tại.Với đề tài nghiên cứu “Giải pháp thu hút nông dân tham gia BHYT tự nguyện
ở tỉnh Hải Dương” của tác giả Trần Qúy Quỳnh Nghiên cứu này đã đưa ra đượcthực trạng triển khai chính sách BHYT, từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể thu hútngười dân tham gia BHYT tự nguyện Tuy nhiên, ở đề tài này giải pháp đưa ra chỉchú trọng vào giải pháp chung cho cả tỉnh mà chưa có sự quan tâm đến việc đưa racác giải pháp riêng, cụ thể cho từng địa phương trong tỉnh
Cùng với đề tài “Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm y tế toàn dân tạitỉnh Thanh Hóa” của tác giả Đặng Trần Anh Minh Đề tài đã nghiên cứu về thựctrạng công tác thực hiện chính sách BHYT toàn dân tại tỉnh Thanh Hóa Kết quảnghiên cứu cho thấy tỷ lệ tham gia BHYT của người dân trong tỉnh có xu hướng
Trang 15tăng lên, tuy nhiên vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế nhất định làm cho mức độbao phủ BHYT trong dân vẫn chưa cao Từ thực trạng đó, đề tài đã đưa ra một số đềxuất giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy việc tham gia BHYT ở người dân, phấn đấuđạt chỉ tiêu thực hiện BHYT theo lộ trình chính phủ đề ra.
Ngoài ra, phải kể đến công trình nghiên cứu của Tùng Anh với đề tài “Bảohiểm y tế toàn dân – thực trạng và kiến nghị” được đăng trên Tạp chí BHXH, kỳ 2,tháng 1/2014 Theo bài viết này, tác giả đưa ra những thuận lợi và khó khăn trongquá trình triển khai thực hiện BHYT toàn dân và đưa ra những giải pháp, kiến nghịsửa đổi, bổ sung Luật BHYT
Như vậy, nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đều đề cập đến nhiều khíacạnh khác nhau của BHYT Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tập trung vào điềutra khảo sát việc tham gia BHYT ở một địa phương cụ thể theo hướng có sự quan
tâm của hoạt động công tác xã hội Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Việc tham gia chính
sách bảo hiểm y tế của người dân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên”
là thực sự cần thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
1.2 Một số khái niệm cơ bản
đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình (TS Lê Chi Mai)
Hay chính sách là hoạt động chính trị, liên quan đến những mục tiêu cơ bản,một chuỗi các hành động, một tập hợp các quy tắc và điều chỉnh Có thể phân tíchchính sách theo nghĩa các giá trị, mục tiêu (targets), nguồn lực, phong cách và chiếnlược (PGS.TS Bùi Thế Cường – bài giảng chính sách xã hội)
Như vậy, khi nói đến chính sách xã hội luôn có các yếu tố sau:
Một chủ thể tạo dựng và thực thi chính sách
Các nhóm xã hội khác nhau bị tác động bởi chính sách
Một chính sách phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội
Trang 16Mục tiêu chung của toàn hệ thống (Vũ Cao Đàm – Đề cương bài giảng xã hộihọc môi trường).
Trong đề tài này, chính sách được hiểu là chính sách công do Nhà nước banhành, bao gồm các cấp có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địaphương Nó đối nghĩa với chính sách tư - chính sách riêng do các tổ chức, cácdoanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể đề ra để án dụng trong phạm vi của tổ chức,doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó
1.2.2 Chính sách xã hội
Đứng ở nhiều góc độ, các nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau vềchính sách xã hội, cụ thể như sau:
Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện
và điều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (con người ởđây được xét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con người kinh tế,hay con người kỹ thuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu cuộcsống chính đáng của con người, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong nhữngtrình độ kinh tế, văn hóa, xã hội của các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sự ổnđịnh và phát triển của xã hội…(Phạm Tất Dong - Chính sách xã hội)
Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của NhàNước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp đểgiải quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quanđến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, pháttriển và tiến bộ xã hội (PGS.TS.Lê Trung Nguyệt)
Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thànhtựu của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những câu hỏicủa cuộc sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này Chính sách xã hội cầnđược xem xét như một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động củathực tiễn, khoa học nghiên cứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lờinhững câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh tế xã hội nước ta hiện nay (GS.Phạm NhưCương)
Chính sách xã hội được xem như một sự tác động của Nhà nước vào việc phânphối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác
Trang 17nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khỏe, nhà ở và giáo dục, trên cơ sở mởrộng bình đẳng và công bằng xã hội trong một phối cảnh lịch sử và cấu trúc xã hộinhất định (Bùi Thế Cường, 2002, Chính sách xã hội và Công tác xã hội ở Việt Namthập niên 90, NXB: KHXH)
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chínhsách xã hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
Thứ nhất, chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo Ở nước
ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội
Thứ hai, nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởngchỉ đạo và thể chế nào?
Thứ ba, các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt).Thứ tư, những mục tiêu nhằm đạt tới
Hay nói cách khác là cần trả lời bốn câu hỏi sau:
Ai đặt ra chính sách xã hội?
Đặt chính sách xã hội cho ai?
Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?
(Bùi Đình Thanh, 2004, Xã hội học và Chính sách xã hội, NXB: KHXH).Như vậy, có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, cácbiện pháp của Nhà nước, của các đảng phái và những tổ chức chính trị khác, nhằmthoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ phát triểncủa đất nước về kinh tế, văn hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thểchế hoá bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
1.2.3 An sinh xã hội
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ASXH “là sự đảm bảo thực hiện các quyền củacon người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phátbiểu, chứng kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước phápluật những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già” (Mạc VănTiến, năm 2011) Theo nghĩa hẹp, ASXH được hiểu là: “sự đảm bảo thu nhập vàmột số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bịgiảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm;
Trang 18cho những người già, cô đơn, trẻ mồ côi, người khuyết tật; những người nghèo đói
và những người bị thiên tai, dịch họa…” (Mạc Văn Tiến, 2011) Theo cách hiểunày, ASXH là tổng thể các biện pháp để đảm bảo các quyền tối thiểu của con người.Thuật ngữ Social Protection được hiểu là “hệ thống các chính sách can thiệpcủa nhà nước (bảo hiểm xã hội/ trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theoluật định hoặc của tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng caonăng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảmhoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội (Viện Khoahọc Lao động & Xã hội, Tổ chức GIZ, 2011) Theo cách hiểu này, ASXH chính là
hệ thống các chính sách nhằm đảm bảo đời sống cho các nhóm đối tượng dễ bị tổnthương trong xã hội
Như vậy, từ những định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu, có thể hiểukhái niệm an sinh xã hội như sau: An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chínhsách, các giải pháp của Nhà nước và cộng động nhằm trợ giúp mọi thành viên trong
xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm suy giảm làm mấtnguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả, không cònsức lao động hay vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào hoàn cảnh nghèokhổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng thông quacác hệ thống chính sách về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trợ giúp đặc biệt và trợgiúp xã hội
1.2.4 Bảo hiểm
Bảo hiểm là hoạt động là thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường chongười tham gia bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản chi phí chochính anh ta hoặc người thứ ba; điều này có ý nghĩa là người tham gia bảo hiểmchuyển gia một phần hoặc toàn bộ rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoảnphí để hình thành quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảohiểm cho người tham gia bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà ngườitham gia đăng ký với người bảo hiểm
1.2.5 Bảo hiểm y tế
1.2.5.1 Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:
Trang 19Bảo hiểm y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vựcchăm sóc sức khỏe và là một trong 9 nội dung của bảo hiểm xã hội (BHXH) đượcquy định tại Công ước 102 ngày 28/06/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trở cấp BHXH
Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động
sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khámbệnh và chữa bệnh cho nhân dân (“Từ điển Bách khoa Việt Nam I xuất bản năm1995” – Nhà xuất bản từ điển Bách khoa – trang 151)
Tuy nhiên, khái niệm bảo hiểm y tế thường được sử dụng phổ biến hiện nay
đó là: Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đốitượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợinhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện (Theo khoản 1, điều 2 Luật Bảo hiểm Y tế số46/2014/QH13 ngày 13/06/2014 do Quốc hội ban hành)
1.2.5.2 Đặc điểm của bảo hiểm y tế
BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huyđộng đóng góp của người sử dụng lao động các tổ chức và cá nhân để thanh toánchi phí khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi không may đau ốm Chính vìvậy mà nó là một tổ chức tự hạch toán không thu lợi nhuận nhằm phục vụ công tácchăm sóc sức khỏe và công bằng xã hội trong khám, chữa bệnh
Bản chất BHYT là sự san sẻ rủi ro, nhằm giảm nhẹ những khó khăn cho ngườibệnh và gia đình họ khi không may mắc phải đau ốm, bệnh tật mà vẫn đảm bảođược yêu cầu chữa trị tốt, giảm thiểu sự ảnh hưởng xấu đến kinh tế của gia đình họ,góp phần chăm sóc sức khỏe cho dân cư
Việc triển khai BHYT có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Đối tượng của BHYT là rộng rãi nhất vì vậy nó cũng phức tạp nhất, nếuthực hiện tốt chính sách BHYT sẽ đảm bảo được quy luật lấy số đông bù số ít Quyluật này đối với bảo hiểm nói chung và BHYT nói riêng là vô cùng quan trọng Nóquyết định đến sự tồn tại hay không tồn tại của bảo hiểm Nếu quy luật này đượcđảm bảo nó sẽ là một trong những nhân tố quyết định đến sự tồn tại của BHYT.+ BHYT là loại hình bảo hiểm mang tính chất nhân đạo, nó đáp ứng được nhucầu chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng cao đối với đại bộ phận dân cư
Trang 20Với BHYT mọi người sẽ bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh Đây là đặc trưng
ưu việc thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của BHYT, tham gia BHYT vừa có lợi chomình vừa có lợi cho xã hội
+ Việc triển khai thực hiện chính sách BHYT liên quan chặt chẽ đến toàn bộngành y tế kể cả nhũng y bác sỹ, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ chế hoạt động củangành y tế Bởi vì người tham gia bảo hiểm đóng tiền BHYT cho cơ quan BHYTnhưng cơ quan này không trực tiếp khám, chữa bệnh cho người mua BHYT khi họkhông may ốm đau Cơ quan BHYT chỉ là trung gian thanh toán chi phí khám, chữabệnh cho người tham gia thông qua hợp đồng khám, chữa bệnh với các cơ sở y tế.+ BHYT góp phần cùng với các loại hình bảo hiểm con người khác khắc phụcnhanh chóng những hậu quả xảy ra với con người Vì vậy, BHYT luôn được Chínhphủ các nước quan tâm
1.2.5.3 Nguyên tắc của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế được thực hiện dựa trên 05 nguyên tắc sau:
Thứ nhất, bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế Thứ hai, mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương,
tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hànhchính
Thứ ba, mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm
vi quyền lợi của người tham gia BHYT
Thứ tư, chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham
gia BHYT cùng chi trả
Thứ năm, quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ
1.2.5.4 Vai trò của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻcao, ngoài mục đích là chia sẻ rủi ro sức khỏe, BHYT còn góp phần thực hiện mụctiêu công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội Vì vậy,vai trò của BHYT thể hiện qua những mặt sau:
- BHYT là nguồn hỗ trợ tài chính giúp người tham gia khắc phục những khókhăn về kinh tế khi bất ngờ ốm đau, bệnh tật Tham gia BHYT sẽ giúp người bệnh
Trang 21giải quyết một phần khó khăn kinh tế vì chi phí khám, chữa bệnh đã được cơ quanBHYT thay mặt thanh toán với các cơ sở y tế.
- BHYT góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Nguồn thu chủ
yếu của ngân sách nhà nước là từ thuế nhưng có rất nhiều khoản chi cần đến nguồnngân sách này Vì vậy chăm sóc y tế không chỉ dựa vào sự viện trợ của Nhà nước.Một trong những phương pháp đem lại hiệu quả cao nhất là BHYT, Nhà nước vànhân dân cùng chi trả Như vậy BHYT có hoạch toán thu chi độc lập với ngân sáchnhà nước sẽ làm giảm được gánh nặng rất lớn cho ngân sách trong việc đảm bảohoạt động cho ngành y
- BHYT góp phần thực hiện mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khỏenhân dân, thể hiện rõ nét tính nhân đạo, xã hội sâu sắc Tham gia BHYT, ngườibệnh được chi trả theo phác đồ điều trị riêng của từng người chứ không phân biệtđịa vị, giàu nghèo hay mức đóng BHYT hoạt động theo nguyên tắc có đóng cóhưởng và mang tính nhân văn sâu sắc
- BHYT làm tăng chất lượng khám, chữa bệnh và quản lý y tế thông qua hoạtđộng của quỹ BHYT Nguồn thu từ viện phí do quỹ BHYT thanh toán góp phầngiúp các cơ sở y tế chủ động trong việc phục vụ người bệnh, nâng cao chất lượngdịch vụ y tế Đồng thời, đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, dẫn đến sựquản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong khám, chữa bệnh
- BHYT là một công cụ quỹ mô của Nhà nước để thực hiện tốt phúc lợi xã hội,đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khỏecủa người dân
1.2.5.5 Phân loại bảo hiểm y tế
Việt Nam tồn tại 2 loại hình BHYT đó là: BHYT tự nguyện và BHYT bắtbuộc
Bảo hiểm y tế bắt buộc
Bảo hiểm y tế bắt buộc là loại hình BHYT chỉ áp dụng đối với một số nhómđối tượng nhất định, thường là những khu vực có tiềm lực kinh tế (thành phố, thị xã,trung tâm…) có thu nhập ổn định (tiền lương, tiền công) Tiêu chí để định mức phíBHYT thường được tính theo tỷ lệ % thu nhập của người tham gia bảo hiểm, người
Trang 22có thu nhập cao thì đóng nhiều, nhưng việc hưởng BHYT lại dựa trên sự kiện pháp
lý ( ốm đau, tai nạn,…) theo quy định của pháp luật
Bảo hiểm y tế tự nguyện
Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không
vì mục đích lợi nhuận Người dân tự nguyện tham gia để được chăm sóc sức khỏekhi đau ốm, bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế
BHYT tự nguyện là loại hình BHYT thứ hai đang được thực hiện ở nước ta sovới BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện có số lượng tham gia đông đảo, đa dạng vềthành phần và nhận thức xã hội, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏekhác nhau BHYT tự nguyện được triển khai theo địa giới hành chính (áp dụng cho
hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã, phường, thị trấn,…) và theo nhóm đốitượng ( học sinh, sinh viên, hội viên các đoàn thể…)
BHYT tự nguyện gồm nhiều loại khác nhau: Bảo hiểm khám chữa bệnh(KCB) nội trú, bảo hiểm KCB ngoại trú, bảo hiểm bổ sung cho loại hình BHYT bắtbuộc; BHYT cộng đồng, BHYT hộ gia đình và các loại hình BHYT khác
1.2.6 Bảo hiểm y tế toàn dân
Có rất nhiều quan điểm về BHYT toàn dân cụ thể như sau:
Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vấn đề BHYT toàn dânphải được tiếp cận đầy đủ trên cả ba phương diện về chăm sóc sức khỏe toàn dânbao gồm: (1) Bao phủ về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia BHYT; (2) Bao phủgói quyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo; (3) Bao phủ vềchi phí hay mức độ được bảo hiểm để giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh.Theo quan điểm của một số quốc gia, từ việc quy định các đối tượng tham gia
có thể thấy, BHYT toàn dân mà các nước hướng tới đó chính là độ bao phủ BHYTtơi mọi tầng lớp nhân dân, đây cũng là hướng tiếp cận của pháp luật Việt Nam.Theo quy định của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân ban hành ngày 30/06/1989,mọi người dân có quyền được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế Sử dụng
cơ chế tài chính y tế thông qua BHYT để đạt được mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàndân Thực tế là phạm vi quyền lợi và mức độ được bảo hiểm có ảnh hưởng quantrọng đến mở rông bao phủ BHYT Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế điều kiện kinh tế
- xã hội ở Việt Nam hiện nay, vấn đề thực hiện BHYT toàn dân hướng đến việc gia
Trang 23tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT được xác định là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, trướckhi cân nhắc mở rộng phạm vi quyền lợi và mức độ được bảo hiểm.
Luật BHYT năm 2008 quy định: “BHYT toàn dân là việc các đối tượng quyđịnh trong Luật này đều tham gia BHYT”
Thực hiện BHYT toàn dân là một giải pháp mang lại hiệu quả cao trong việcđáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh chăm sóc sức khỏe của người dân trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
1.3 Lý thuyết áp dụng
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu
Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà Tâm lý học người Mỹ, ông là ngườiđáng chú ý nhất với sự đề xuất của tháp nhu cầu, sử dụng lý thuyết nhu cầu về sựphát triển của con người nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con ngườicần được áp dụng như thế nào để một cá nhân có thể định hướng cuộc sống lànhmạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Tùy theo trình độ nhận thức, môi trườngsống, những đặc điểm tâm sinh lý mà mỗi con người có những nhu cầu khác nhau,theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp đếncao, từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu cao hơn Sự thỏa mãn nhucầu của con người cũng theo các bậc thang đó Khi con người thõa mãn được nhucầu thấp rồi thì sẽ thỏa mãn các nhu cầu cao hơn Tiếp cận theo nhu cầu làm việctrực tiếp với cá nhân phải cần nắm được các nhu cầu của con người về mặt lýthuyết
Tuy nhiên, trong từng hoàn cảnh khác nhau, con người nảy sinh các nhu cầukhác biệt Thậm chí, ngay cả những người gặp phải vấn đề như nhau, song nhu cầucủa họ vẫn khác nhau.Vì vậy Maslow đã thiết lập một lý thuyết có thứ bậc của nhucầu Tất cả các nhu cầu cơ bản theo ông là bản năng, giống với bản năng động vật.Con người sẽ bắt đầu khuynh hướng chưa rõ rệt để rồi sẽ phát triển về sau Nếu môitrường thích ứng con người sẽ phát triển đầy đủ và thể hiện được cái tìm năng mà
họ thừa kế Maslow đã thiết lập một hệ thống gồm năm cấp độ của nhu cầu cơ bản,ngoài những nhu cầu này còn có những nhu cầu ở cấp độ cao hơn Chúng bao gồmnhu cầu cho sự hiểu biết, sự đánh giá cao về nhu cầu thẩm mỹ, tinh thần Trong cácmức độ của năm nhu cầu cơ bản, con người cảm thấy không cần thiết nhu cầu thứ
Trang 24hai khi nhu cầu thứ nhất chưa được đáp ứng, tương tự vậy, họ sẽ cảm thấy khôngcần nhu cầu thứ ba nếu như nhu cầu thứ hai chưa được thỏa mãn, và như vậy bậcthang nhu cầu cơ bản của Maslow được thể hiện đầy đủ và cụ thể với những nhucầu sau đây:
Nhu cầu sinh lý: bao gồm các nhu cầu về ăn, uống, ngủ, hít thở,…Như vậy,
nhu cầu này là nhu cầu cơ bản của mỗi cá nhân, là nhu cầu quyết định đến sự sốngcòn của con người
Nhu cầu an toàn: Một khi nhu cầu sinh lý đã được đáp ứng, con người có nhu
cầu được bảo vệ, che chở, quan tâm, lo lắng…, luôn mong muốn có cảm giác antoàn và ổn định
Nhu cầu về xã hội: Khi những nhu cầu như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn
được đáp ứng con người tiến đến mong muốn được yêu, được tham gia hòa nhậpvào xã hội, muốn được tất cả mọi người thừa nhận họ như chính bản thân những gì
họ có
Nhu cầu được tôn trọng: Ở nhu cầu này, con người mong muốn được người
khác tôn trọng với tất cả những gì mà họ có, không có sự phân biệt đối xử, xa lánh.Khi được tôn trọng họ sẽ cảm thấy tự tin hơn vào bản thân mình, cảm thấy mình cóích cho xã hội và có xu hướng vươn lên để thỏa mãn những nhu cầu tiếp theo
Nhu cầu được khẳng định bản thân: Khi tất cả các nhu cầu nói trên được thoả
mãn, con người mong muốn được thể hiện khả năng của bản thân, muốn đem hếtnhững sáng kiến, ý tưởng mà mình ấp ủ bấy lâu thể hiện ra ngoài xã hội và khẳngđịnh mình với tất cả mọi người, được làm những gì mình thích
Với địa bàn xã Hòa Thịnh, tác giả vận dụng lý thuyết nhu cầu nhằm khảo sátnhu cầu thực tế của người dân nơi đây trong việc tham gia chính sách BHYT, ngườidân có thực sự cần đến BHYT trong quá trình khám, chữa bệnh hay không, từ đó đềxuất một số giải pháp giúp người dân có điều kiện thuận lợi tiếp cận với chính sáchBHYT góp phần tăng tỷ lệ tham gia BHYT trong cộng đồng dân cư tại địa phương
1.3.2 Lý thuyết trách nhiệm xã hội
Theo lý thuyết trách nhiệm xã hội thì:
Trách nhiệm xã hội (Social Responsibility) là một lý thuyết hoặc một hệ tưtưởng đạo đức nhấn mạnh đến việc một cá nhân hoặc một tổ chức phải có nghĩa vụ
Trang 25hành động vì lợi ích của xã hội Trách nhiệm xã hội là một vấn đề quan trọng của cảđạo đức cá nhân lẫn đạo đức xã hội.
Xét từ góc độ cá nhân, ý thức về trách nhiệm xã hội không chỉ là một đứchạnh, một tiêu chuẩn của luân lý, mà còn là một yếu tố cấu thành nhân cách conngười; thực hiện trách nhiệm xã hội là thể hiện hành vi đạo đức của con người Xét
từ góc độ xã hội, trách nhiệm xã hội là một trong những nền tảng để gắn kết các mốiquan hệ xã hội, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội; là một giá trị để đảm bảocho quyền sống của tất cả mọi người.Ý thức về người khác, quan niệm về bổn phậnđối với đất nước, nghĩa vụ đối với xã hội, lòng tốt, tính vị tha, tinh thần bao dung…
là những biểu hiện cụ thể của trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm là năng lực hồi đáp, Levinas nhấn mạnh vào chủ thể chịu trách
nhiệm đạo đức, cho người khác trước khi cho chính bản thân Levinas nhấn mạnh
đến ý nghĩa của sự tiếp nhận người khác trong trách nhiệm đạo đức cá nhân, cánhân cho người khác trước khi cho chính bản thân mình
Đối với người dân, thể hiện trách nhiệm đối với xã hội là rất quan trọng, trướctiên cần phải ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với xã hội, phải khôngngừng tìm hiểu, tra cứu thông tin, rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt đẹp củabản thân đồng thời tích cực tham gia đầy đủ các chính sách xã hội Nhà nước đề ranhằm thực hiện tốt trách nhiệm của bản thân đối với xã hội
Trách nhiệm từ phía xã hội là tạo mọi điều kiện thuận lợi từ môi trường xã hội
để cá nhân được thể hiện bản thân, họ có thể vận dụng tất cả những gì tốt đẹp mà xãhội mang lại để phát triển, giữa cá nhân và xã hội có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợcho nhau, thúc đẩy cùng phát triển Chính sách bảo hiểm y tế dành cho mọi ngườidân thể hiện trách nhiệm xã hội của Nhà nước đối với tất cả người dân đang sống vàlàm việc, cống hiến cho đất nước, giúp cho người dân có thêm điều kiện thuận lợitham gia chăm sóc bảo vệ sức khỏe của bản thân Từ đó, tất cả mọi người sẽ nỗ lực
và phấn đấu hết mình để tăng gia sản xuất, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu cuộcsống, đồng thời, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của đất nước ngày càng mạnh mẽhơn
Thông qua lý thuyết này, tác giả có thể nhận thấy được trách nhiệm của ngườidân trong việc tham gia chính sách BHYT và cán bộ thực hiện chính sách BHYT
Trang 26Đồng thời, lý thuyết cũng thể hiện trách nhiệm của hệ thống chính quyền địaphương trong công tác triển khai thực hiện chính sách BHYT tại địa phương, từ đóthấy được mức độ bao phủ BHYT, cũng như hiệu quả việc thực hiện chính sáchBHYT tại địa bàn xã Hòa Thịnh.
1.3.3 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống ra đời vào những năm 30 và 40 bởi Von Bertalanfly, lýthuyết hệ thống đưa ra một số khái niệm, nguyên tắc và cách phân loại cơ bản nhưsau:
Hệ thống là một tập hợp các yếu tố được sắp xếp có trật tự và có quan hệtương tác với nhau và môi trường xung quanh tạo thành một chỉnh thể thống nhấthoạt động để thực hiện một số chức năng hay mục tiêu nhất định [Theo Từ điểnTiếng Việt]
Có 5 nguyên tắc hoạt động cơ bản trong một hệ thống: (1) Mọi hệ thống đều
có thể được những hệ thống khác nhỏ hơn Nằm trong một hệ thống rộng lớn baogồm các tiểu hệ thống và đến lượt chính nó lại là một hệ thống nằm trong một hệthống lớn hơn nữa (2) Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn (3)Mọi hệ thống đều có tương tác với hệ thống khác Các thành phần chỉ tồn tại trongmột hệ thống khi chúng có quan hệ với nhau theo kiểu nào đó Mọi hệ thống đều cóliên hệ, tác động với các hệ thống khác, không có hệ thống tồn tại độc lâp.(4) Mọi
hệ thống đều cần năng lượng “đầu vào” hay năng lượng từ môi trường để tồn tại.(5)Mọi hệ thống đều tìm kiếm sự cân bằng tứ những hệ thống khác
Trong công tác xã hội hai hình thức căn bản của lý thuyết hệ thống được phânchia thành: Lý thuyết hệ thống và lý thuyết sinh thái
Pincus và Minahan đã áp dụng lý thuyết hệ thống vào thực hành công tác xãhội Nguyên tắc tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môitrường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do đó côngtác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống Ba hình thức chủ yếu của hệ thốngtổng quát đó là: Hệ thống chính thức, hệ thống phi chính thức và hệ thống xã hội.Dựa vào lý thuyết này giúp phân tích sự tác động qua lại của hệ thống này lên hệthống khác đồng thời theo dõi sự tương tác giữa các hệ thống; khi xem xét vấn đề,
Trang 27cần xem xét một cách tổng thể chứ không được đi vào phân tích một chi tiết cụ thểnào đó.
Tác giả vận dụng lý thuyết hệ thống để tìm hiểu rõ hơn về các hình thức tổchức trong hệ thống tổng quát hiện có tại xã Hòa Thịnh bao gồm: hệ thống chínhthức, hệ thống phi chính thức và hệ thống xã hội Xác định hệ thống nào còn đangthiếu hụt trên địa bàn xã, từ đó tìm ra các giải pháp tạo mối liên kết giữa các hìnhthức tổ chức trong hệ thống với nhau và áp dụng vào giải quyết vấn đề tham giaBHYT của người dân trên địa bàn nghiên cứu
1.4 Cơ sở pháp lý việc tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân
- Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 (Hiệu lực 01/01/2015) về việc sửa đổi
bổ sung một số Điều, Khoản mới tại kỳ họp Quốc hội khóa 13 Theo Điều 12 quyđịnh về đối tượng tham gia BHYT bao gồm:
+ Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm: Ngườilao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng laođộng có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanhnghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức; Người hoạt động khôngchuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật
+ Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm: Người hưởng lương hưu,trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hộihằng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm
xã hội hằng tháng; Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
+ Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm: Lực lượng quân đội, công annhân dân; Cán bộ, viên chứ Nhà nước; Người có công với cách mạng và thân nhâncủa họ; Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện hưởng trợ cấp hằng tháng; Ngườithuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh
Trang 28+ Chính phủ quy định các đối tượng khác ngoài các đối tượng quy định tại cáckhoản 3, 4 và 5 Điều này; quy định việc cấp thẻ bảo hiểm y tế đối với đối tượng do
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý và đối tượng quy định tại điểm l khoản 3 Điềunày; quy định lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảohiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, quản lý, sử dụng phần kinh phídành cho khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán,quyết toán bảo hiểm y tế đối với các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điềunày
*Về Phạm vi hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế
Phạm vi hưởng bảo hiểm y tế
Ở nước ta, người tham gia bảo hiểm y tế được Quỹ BHYT chi trả các chi phísau đây:
+ Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con;+ Khám bệnh để sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh;
+ Vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên đối với đối tượng:Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằngtháng theo quy định của pháp luật; người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộcthiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khókhăn,trẻ em dưới 6 tuổi và người thuộc gia đình hộ cận nghèo trong trường hợp cấpcứu hoặc đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật
Về danh mục thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế thuộcphạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được Bộ trưởng Bộ Y tếphối hợp cùng với cơ quan liên quan ban hành cụ thể
Mức hưởng bảo hiểm y tế
Người tham gia BHYT khi đi khám, chữa bệnh theo quy định tại điều 26, 27,
28 của Luật này được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnhtrong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau:
+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với: sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ
và sĩ quan hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công annhân dân; người có công với cách mạng; trẻ em dưới 6 tuổi; các trường hợp chi phícho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám
Trang 29bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã; người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 nămliên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong nămlớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh khôngđúng tuyến;
+ 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối với người hưởng lương hưu,trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ hằngtháng theo quy định của pháp luật; người thuộc diện hộ gia đình nghèo người dântộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệtkhó khăn
+ 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác; phần còn lại
do người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám, chữa bệnh
Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế thì đượchưởng quyền lợi bảo hiểm y tế theo đối tượng có quyền lợi cao nhất
Trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh không đúngtuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng quy định tại khoản 1Điều này theo tỷ lệ như sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này:
+ Chi phí điều trị khám, chữa bệnh tại bệnh viện: tuyến trung ương là 40%;tuyến tỉnh là 60%; tuyến huyện là 70%
+ Từ ngày 01/ 01/ 2016, người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám, chữabệnh ban đầu ở đâu thì được quyền khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại nơi mà mình
đã đăng ký khám bệnh ban đầu
+ Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm
y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khókhăn; người tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đikhám, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phíkhám, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh, tuyến trung ương và cómức hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều này
Mặc dù vậy vẫn có một số trường hợp không được hưởng bảo hiểm y tế chitrả, cụ thể như sau:
- Điều dưỡng, an dưỡng tại cơ sở điều dưỡng an dưỡng
+ Khám sức khỏe
Trang 30+ Xét nghiệm, chuẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị.
+ Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng trong trường hợp thảm họa.+ Điều trị trong trường hợp tự tử, tự gây thương tích
+ Khám bệnh, chữa bệnh nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiệnkhác
+ Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tinh thần
+ Tham gia thử nghiệm lâm sàn, nghiên cứu khoa học
+ Thuốc đặc trị điều trị các bệnh: lao, sốt rét, tâm thần phân liệt, động kinh vàcác bệnh khác nếu đã được ngân sách nhà nước chi trả thông qua chương trình y tếquốc gia, các dự án hay các nguồn kinh phí khác
- Chỉ thị 38-CT/TW về “Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hìnhmới”
- Chương trình 527/CTr-BYT về nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại các
cơ sở khám chữa bệnh vì mục tiêu đáp ứng sự hài lòng của người bệnh BHYT
- Nghị quyết 21-NQ/TW tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácbảo hiểm xã hội, y tế giai đoạn 2012 – 2020
- Quyết định 538/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm
y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020
Trong đó cơ sở pháp lý thực hiện chính sách BHYT được quy định cụ thể nhưsau:
* Quy định chung
- Nghị định 105/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế.
- Thông tư liên tịch 41/2014/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện bảo hiểm
y tế
Trang 31- Thông tư liên tịch 16/2015/TTLT-BYT-BTC sửa đổi khoản 5 Điều 13 Thông
tư liên tịch 41/2014/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế
- Thông tư 40/2015/TT-BYT quy định đăng ký khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
ban đầu và chuyển tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (Hiệu lực 01/01/2016).
- Thông tư 43/2013/TT-BYT quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹthuật đối với hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh
- Quyết định 1456/QĐ-BHXH năm 2015 quy trình giám định bảo hiểm y
tế (Hiệu lực 01/01/2016).
* Danh mục dịch vụ, thuốc được thanh toán BHYT
- Quyết định 36/2005/QĐ-BYT về Danh mục dịch vụ kỹ thuật cao, chi phílớn
- Thông tư 40/2014/TT-BYT hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dượcthuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế
- Thông tư 05/2015/TT-BYT về Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế (Hiệu lực 01/5/2015).
- Thông tư 27/2013/TT-BYT về Danh mục vật tư y tế thuộc phạm vi thanhtoán của Quỹ bảo hiểm y tế
* Hướng dẫn thực hiện chế độ BHYT đối với một số đối tượng cụ thể
- Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BQP-BYT-BTC hướng dẫn BHYT đối vớingười làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu và thân nhân người đang làm côngtác cơ yếu
- Nghị định 70/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế đối với Quân độinhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu
Trang 32- Thông tư liên tịch 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn Nghịđịnh 92/2009/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
- Quyết định 797/QĐ-TTg năm 2012 nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho ngườithuộc hộ gia đình cận nghèo
- Thông tư liên tịch 33/2013/TTLT-BYT-BTC Hướng dẫn thực hiện Quyếtđịnh 14/2012/QĐ-TTg về khám, chữa bệnh cho người nghèo
- Quyết định 170/2008/QĐ-TTg về chế độ BHYT và trợ cấp mai táng đối vớiThanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
- Thông tư liên tịch 25/2010/TTLT-BQP-BYT-BTC hướng dẫn quản lý, tổchức thực hiện BHYT đối với người lao động trong quân đội và thân nhân quânnhân tại ngũ
- Quyết định 62/2011/QĐ-TTg chế độ đối với đối tượng tham gia làm nhiệm
vụ quốc tế ở Campuchia, Lào sau 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc
Cụ thể:
* Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về BHYT
- Nghị định 122/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra y tế
- Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực y tế
- Quyết định 3745/QĐ-BYT năm 2012 về Quy trình và Nội dung thanh trathực hiện chính sách bảo hiểm y tế tại cơ sở khám, chữa bệnh
giúp định hướng cho việc nghiên cứu đề tài: “Việc tham gia chính sách bảo hiểm y
tế của người dân xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên”.
Trang 33CHƯƠNG 2: VIỆC THAM GIA CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ HÒA THỊNH, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN:
THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP 2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý
Xã Hòa Thịnh nằm về phía tây Nam huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên cách trungtâm huyện Tây Hòa 10km, có tọa độ 12 độ 53 phút Bắc đến 109 độ 15 phút Đông,ranh giới hành chính giáp với các xã như:
+ Phía Đông giáp xã Hòa Tân Đông, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên
+ Phía Tây giáp xã Hòa Mỹ Đông, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
+ Phía Nam giápxã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
+ Phía Bắc giáp xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
Xã Hòa Thịnh được phân chia thành 10 thôn hành chính: Mỹ Lâm, Mỹ Xuân
I, Mỹ Xuân II, Mỹ cảnh, Cảnh Tịnh, Mỹ Phú, Mỹ Trung, Mỹ Điền, Mỹ Hòa, PhúHữu
Về đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên
Địa hình xã Hòa Thịnh thấp dần từ Tây sang Đông, có sông Bàng Thạch chạyqua nên địa hình đặc trưng là địa hình đồi núi và bị chia cắt bởi các con sông nhỏ.Vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, đồng ruộng có độ dốc nhỏ, thuận lợi choviệc canh tác trồng trọt.Trong khi đó, tại khu vực đồi núi lại có độ dốc cao, giaothông đi lại khó khăn gây ảnh hưởng trong việc trao đổi, buôn bán ở các vùng khácnhau
Với địa hình đồi núi bao quanh, xã Hòa Thịnh có nhiệt độ tương đối cao,lượng mưa trung bình dao động trong khoảng từ 1.250mm đến 1.800mm Đồng thời
do ảnh hưởng của hai con sông đó là sông Ba và sông Bàn Thạch cùng với hệ thốngkênh rạch nhỏ chằng chịt phân bố trải đều ở các khu vực khác nhau nên địa bànhuyện nói chung cũng như trên địa bàn xã Hòa Thịnh nói riêng, do đó ở các thángmùa khô không khí có độ ẩm cao hơn Ngoài những đặc điểm khí hậu riêng đã nêutrên, khí hậu của vùng còn mang những nét chung so với các vùng khác trong tỉnh.Hằng năm, trên địa bàn xã vẫn có sự phân hóa hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa
Trang 34khô trong đó, mùa mưa bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 11, mùa khô bắtđầu vào tháng 12 và kết thúc vào tháng 5 Nhiệt độ trung bình năm là từ 23◦C đến27◦C.
Về tài nguyên thiên nhiên của xãvới tổng diện tích tự nhiên là 14.449,29 hachủ yếu là đất phù sa màu mỡ phù hợp với việc sản xuất cây lúa nước và trồng cácloại cây hoa màu ngắn ngày Các loại đất được phân bố tập trung theo từng khu vực,đất lâm nghiệp thể hiện vùng đồi núi bao quanh xã, toàn bộ diện tích rừng sản xuấtđược trồng phủ kín, chủ yếu diện tích đất rừng là của hộ gia đình và cá nhân sửdụng.Vùng đồng bằng chủ yếu là đất trồng cây hàng năm, như đậu, khoai, míanhưng đặc biệt là cây lúa nước
Như vậy với điều kiện tự nhiên đặc trưng của xã như vậy, người dân nơi đâychỉ có thể tập trung vào sản xuất nông – lâm nghiệp là chính, hoạt động nuôi trồngthủy sản thường ít được chú trọng vì điều kiện tự nhiên ở đây không thích hợp choviệc nuôi trồng thủy hải sản, lợi nhuận thu lại rất thấp
2.1.2 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội
Giá trị sản xuất (GO) (giá so sánh năm 2010) 344 tỷ 273 triệu đồng, đạt103,2% nghị quyết Hội đồng nhân dân xã và đạt 114,4% so với năm 2014 Trongđó: ngành nông – lâm nghiệp 156 tỷ 700 triệu đồng, đạt 102,3% so kế hoạch và107,9% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 45,5%; ngành công nghiệp – tiểu thủ côngnghiệp (TTCN) và xây dựng 85 tỷ 081 triệu đồng, đạt 103,5% so kế hoạch và
Trang 35120,1% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 24,7%; ngành thương mại – dịch vụ 102 tỷ 492triệu đồng, đạt 104,4% so kế hoạch và 122,6% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 29,8%.Thu nhập bình quân đầu người (giá hiện hành) 23 triệu đồng/người/năm, đạt106,4% so kế hoạch vàđạt 119,9% so cùng kỳ năm 2014, trong đó kết quả thu được
ở các lĩnh vực như sau:
* Sản xuất nông nghiệp
Cùng với sự thay đổi về nhận thức cũng như sự thay đổi trong tập tục canh tác,người dân xã Hòa Thịnh đã biết đổi mới phương thức sản xuất, chuyển đổi hướngcanh tác cây trồng vì vậy trong năm 2015, hoạt động sản xuất nông nghiệp đạt đượccác kết quả cụ thể như sau:
Cây lương thực có hạt: Cây lúa có diện tích gieo trồng 2.063 ha, đạt 100,0%
so kế hoạch và 100% so cùng kỳ năm 2014
- Cây ngô lai: Vụ Đông – Xuân: diện tích gieo trồng 29 ha, đạt 100,0% so kếhoạch, năng suất thu hoạch bình quân 52 tạ/ha, tương ứng sản lượng 151 tấn, đạt104% so kế hoạch; vụ Hè – Thu: diện tích gieo trồng 29 ha, đạt 100,0% so kếhoạch, năng suất thu hoạch bình quân 50 tạ/ha, tương ứng sản lượng 145 tấn, đạt100,0% so kế hoạch
Tổng sản lượng lương thực có hạt: 12.855 tấn, đạt 102,3% so kế hoạch
Bình quân lương thực đầu người/năm: 1.151 kg, đạt 106,2% so kế hoạch
- Cây màu và cây thực phẩm: Diện tích gieo trồng là 82 ha, đạt 100% so kếhoạch và đạt 105,1% so cùng kỳ năm 2014
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Cây mía có diện tích trồng 107 ha, đạt 100% so
kế hoạch (Trong đó diện tích trồng mới 40 ha), đã thu hoạch 107 ha, năng suất thuhoạch bình quân 50,4 tấn/ha, tương ứng sản lượng 5.392,8 tấn, đạt 91,5% so kếhoạch
* Chăn nuôi
Với đặc điểm là một xã miền núi, Hòa Thịnh có tiềm năng trong việc pháttriển chăn nuôi cụ thể trong năm 2015:
- Tổng đàn trâu, bò: có 3.448 con, đạt 100,5% so kế hoạch Trong đó: đàn bò
2.840 con (bò lai 2.158 con chiếm tỷ lệ 76% tổng đàn); đàn trâu: 608 con, chủ yếu
Trang 36phát triển chăn nuôi ở khu vực đồng Cỏ Ống - Suối Cùng Sản lượng thịt trâu, bòhơi 415 tấn, đạt 100,4% so kế hoạch
- Tổng đàn heo: có 1.652 con, đạt 101,7% so kế hoạch Sản lượng thịt heo hơi110,5 tấn, đạt 100,5% so kế hoạch
- Tổng đàn gia cầm: có 50.100 con, đạt 100,1% so kế hoạch Sản lượng thịt giacầm hơi 77,0 tấn, đạt 100,2% so kế hoạch
* Về lâm nghiệp
Tại địa bàn xã giá trị sản xuất ngành nông – lâm nghiệp trong năm2015 (giá sosánh năm 2010) chiếm 156 tỷ 700 triệu đồng, đạt 102,3% so kế hoạch và đạt107,9% so cùng kỳ năm trước
Tuy nhiên, sản xuất nông – lâm nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế:
Do ảnh hưởng bất thường của thời tiết nắng nóng, khô hạn, giá vật tư, phân bóntăng cao; giá lúa có thời điểm tăng nhưng chưa đáp ứng được chi phí đầu vào; ápdụng các mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và nhân rộng các
mô hình đạt hiệu quả, còn gặp nhiều khó khăn
* Công nhiệp - tiểu thủ công nghiệp
Do địa bàn là một xã thuần nông, thị phần tiêu thụ hàng hoá hẹp nên ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, chỉ duy trì một số cơ sở sản xuất nhỏ của
tư nhân như: sản xuất công cụ cầm tay, xay xác lương thực, may gia công… Trongnăm 2015 xay xác lương thực 3.706 tấn; sản xuất 1.970 công cụ cầm tay; sản xuất
548 tấn đá cây (đá lạnh); chế biến 98,3m3 gỗ dân dụng; gia công hàng may mặc:105.000 bộ quần áo
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng(giá sosánh năm 2010) 85 tỷ 081 triệu đồng, đạt 103,5% so kế hoạch và đạt 120,1% socùng kỳ năm trước
* Thương mại - dịch vụ
Ngành thương mại – dịch vụ tại xã tương đối phát triển, sản phẩm hàng hóabuôn bán đa dạng nhiều chủng loại đáp ứng được nhu cầu đời sống của Nhân dân.Nhất là trong lĩnh vực dịch vụ xây dựng, dịch vụ vật tư nông nghiệp hoạt động linhhoạt và có hiệu quả
Trang 37Giá trị sản xuất ngành thương mại – dịch vụ (giá so sánh năm 2010) 102 tỷ
492 triệu đồng, đạt 104,4% so với kế hoạch và đạt 122,6% so cùng kỳ năm trước
Về phát triển văn hóa - xã hội
* Văn hoá - thông tin, thể dục-thể thao
Xã Hòa Thịnh luôn quan tâm đến công tác thông tin, chú trọng phát triển kinh
tế - xã hội Đặc biệt là mảng văn hóa – thông tin, thể dục – thể thao, cụ thể chútrọng nâng cao dần chất lượng thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang, lễ hội và tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Được công nhận 2.657 gia đình văn hóa, đạt 83,29% so
tổng số hộ và giữ vững 10/10 thôn văn hoá, đạt 100% so kế hoạch Tăng cườngcông tác quản lý, kiểm tra các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hoá Đồng thời, tổchức chiếu phim phục vụ cho người người dân, tổ chức giải bóng chuyền giao lưugiữa thanh niên các thôn với mục đích giao lưu, học hỏi và rèn luyện sức khỏe
* Giáo dục
Toàn xã gồm có 05 trường học: Trung học cơ sở Đồng Khởi, trường tiểu học
số I Hòa Thịnh, trường tiểu học số II Hòa Thịnh và hai trường mầm non công lập.Trong năm 2014, nhờ có sự quan tâm của các cấp, xã Hòa Thịnh đã chú trọng nângcao chất lượng dạy và học, kết quả cuối năm học 2014 – 2015: trường Mầm non có174/174 cháu Mầm non 5 tuổi được lên lớp 1, đạt 100,0%; kết quả xét công nhậnhoàn thành chương trình Tiểu học có 185/185 học sinh, đạt 100,0%; kết quả xétcông nhận tốt nghiệp THCS 211/211 học sinh, đạt 100,0% Vận động học sinh bỏhọc giữa chừng trở lại lớp tiếp tục học tập đã có cố gắng nhưng hiệu quả chưa cao,nhất là học sinh THCS có 08 em bỏ học giữa chừng, chiếm tỷ lệ 0,92%
Bên cạnh đó, xã cũng triển khai thực hiện tốtcuộc vận động “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”, trong năm học 2015 – 2016: trường THCS Đồng Khởi 23 lớp/
887 học sinh; trường Tiểu học số 1 có 12 lớp/295 em; trường Tiểu học số 2 có 23lớp/628 học sinh; trường Mầm non 8 lớp/263 cháu
Về cơ sở vật chất các trường đã đảm bảo, phục vụ tốt công tác dạy và học củahọc sinh Tuy nhiên, sự xuống cấp của trường, lớp cùng với công tác quản lý chưađược nghiêm ngặt nên tình trạng học sinh bỏ học ở các cấp vẫn xảy ra
Trang 38* Y tế - Dân số, kế hoạch hóa gia đình
Trong năm 2015, xã Hòa Thịnh đã tăng cường công tác phòng chống suy dinhdưỡng trẻ em, số trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 147/813 em, chiếm tỷ lệ18,08%), giảm 0,5% so với năm 2014 Thực hiện tốt công tác tiêm chủng mở rộng:
Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh đạt99,0%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi uống vitamin A đạt 99,6%; tỷ lệ phụ nữ có thai đượctiêm chủng các loại vắc xin phòng bệnh đạt 98,5%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng giảm còn 18,2%, tương ứng 148/813 em, đạt kế hoạch đề ra giảm 0,38% sonăm 2014
- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế 75,4% so dân số, đạt 100% so kếhoạch
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,1% đạt kế hoạch đề ra cụ thể trongnăm 2015:Đặt vòng tránh thai 135 trường hợp, đạt tỷ lệ 117,3%; đình sản 04 trườnghợp, đạt tỷ lệ 100%; thuốc cấy tránh thai 02 trường hợp đạt 100%; uống thuốc tránhthai 232 trường hợp, đạt tỷ lệ 101,7%; tiêm thuốc tránh thai 22 trường hợp, đạt tỷ lệ100%; dùng bao cao su 185 trường hợp, đạt tỷ lệ 102,7%, góp phần giảm tỷ lệ tăngdân số tự nhiên xuống còn 1,11%, đạt yêu cầu kế hoạch đề ra
* Công tác lao động, việc làm, chính sách - xã hội và trẻ em
Thực hiện tốt công tác tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo giaiđoạn 2016 – 2020 Kết quả điều tra trên toàn xã có 186 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,07%
và có 277 hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 8,99% so với tổng số hộ toàn xã
- Trong năm 2015 đã vận động tự nguyện đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa sốtiền 13 triệu đồng, đạt 100%; triển khai thực hiện xóa nhà ở tạm cho hộ nghèo và hộchính sách cần được hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở Đã xây dựng mới04 nhà ở hộchính sách, tổng giá trị 640 triệu đồng
- Triển khai thực hiện công tác cứu trợ, cứu đói công khai, dân chủ, đúng đốitượng và kịp thời cho 279 lượt hộ, tương ứng 448 lượt khẩu, với số gạo 6.905 kg
- Tổ chức Tết Trung thu vui tươi lành mạnh tặng 2.726 suất quà, với số tiền10,9 triệu đồng
- Từ nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, nguồnvốn Ngân hàng chính sách xã hội huyện phân bổ, UBND xã tạo mọi điều kiện cho
Trang 39các đối tượng vay vốn, tiến hành lập dự án trình huyện thẩm định và xét cho vaytrong năm 2015 là 10 tỷ 453,9 triệu đồng, với 462 lượt hộ vay Mặc dù các chínhsách xã hội được quan tâm và triển khai thực hiện tuy nhiên vẫn còn chậm so với kếhoạch huyện gia Công tác rà soát, lập danh sách các hộ cận nghèo, hộ nghèo trênđịa bàn xã còn chậm trễ, chưa mang tính khả thi cao, một số trường hợp để soát đốitượng làm cho mất quyền lợi có thẻ BHYT của người dân
* Dân tộc – tôn giáo
Toàn xã chỉ có một tôn giáo đó là Phật giáo với 550 hộ/ 13.245 nhânkhẩu.Tình hình sinh hoạt tôn giáo diễn ra trên địa bàn tương đối ổn định, đa sốngười dân tham gia đều chấp hành tốt những quy định, chủ trương của Đảng và Nhànước đề ra
Mặc dù, xã Hòa Thịnh xuất phát điểm là một xã thuần nông, sự phát triển kinh
tế xã hội còn nhiều khó khăn nên việc đáp ứng các nhu cầu của người dân còn hạnchế Nhưngnhìn chung trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo tập trung củacác cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo điều hành của chính quyền địa phương, tích cực pháthuy những thuận lợi, ra sức khắc phục những khó khăn; kinh tế - xã hội ổn định vàtiếp tục phát triển Nhất là việc lập kế hoạch sử dụng vốn ngân sách xã và vốn tàitrợ của các chương trình dự án đầu tư xây dựng các công trình công cộng của xã,góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn xã nhà thời kỳ đổi mới; về đời sống vậtchất và tinh thần người dân ngày được cải thiện, công tác đấu tranh phòng chốngtham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí được tăng cường; bộ máy hànhchính xã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng hiệu quả được nâng lên.Tuynhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế, mức sống của người dân ởcác khu vực khác nhau tại địa phương vẫn còn sự chênh lệch Thu nhập chủ yếu củangười dân dựa vào sản xuất nông nghiệp chịu tác động bởi yếu tố khí hậu, điều kiện
tự nhiên do đó thu nhập người dân không mấy dư giả nên tiếp cận và tham gia chínhsách BHYT của người dân tại địa phương còn gặp nhiều hạn chế Vì vậy, cần phải
có những biện pháp thực hiện chính sách BHYT mang tính khả thi cao có thể ápdụng cho người dân nơi đây, nhằm góp phần chăm sóc sức khỏe cho người dân,nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 402.2 Thực trạng tham gia chính sách bảo hiểm y tế của người dân tỉnh Phú Yên
Tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân chính là giải pháp tài chính bền vững để người
có thẻ bảo hiểm y tế hưởng lợi một cách tốt nhất các dịch vụ y tế Xuất phát từ mụctiêu đó, trong nhiều năm qua, ngành y tế tỉnh Phú Yên đã có nhiều quyết tâm triểnkhai và thực hiện nhiều giải pháp tích cực, đồng bộ; cải cách quy trình khám chữabệnh, xử lý kịp thời những hành vi tiêu cực trong các hoạt động của ngành y tế, đặcbiệt là trong lĩnh vực khám chữa bệnh có sử dụng BHYT Nhờ đó mà chất lượngchăm sóc sức khỏe cho người dân ở các tuyến được cải thiện đáng kể, người dânngày một quan tâm đến BHYT và để thu hút người dân tích cực tham gia chính sáchBHYT thì hệ thống chăm sóc sức khỏe đã có nhiều sự đổi mới nhằm đáp ứng kịpthời nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân cụ thể hiện nay, hệ thống y tế đượcthống nhất quản lý trực tiếp trên 3 tuyến từ tuyến tỉnh đến tuyến xã
Bước sang năm 2015, Luật BHYT bổ sung, sửa đổi, có hiệu lực từ ngày1/1/2015, theo đó quyền lợi người tham gia BHYT được mở rộng Với chính sách
mở và tạo điều kiện tối đa về quyền lợi, nếu người dân không tham gia BHYT sẽ làmột thiệt thòi lớn, thậm chí tham gia muộn, chậm hoặc không liên tục cũng sẽ mấtnhiều quyền lợi khi sử dụng các dịch vụ y tế có thẻ BHYT tại thời điểm đó Tuynhiên, tỷ lệ người dân tham gia vẫn còn thấp so với các tỉnh khác trong khu vựcmiền Trung nói riêng và trong phạm vi cả nước nói chung Cụ thể:
Bảng 2.1 Tình hình tham gia BHYT theo nhóm đối tượng năm 2015
Đơn vị tính: Người
Số đối tượng tham gia BHYT
Tổng
số đối tượng
Tỷ lệ có BHYT
Số đối tượng tham gia BHYT
Tổng số đối tượng
Tỷ lệ có BHYT