1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG

116 495 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 565 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1 Toàn cầu hóa cùng với quá trình giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới đã làm cho văn hóa nhân loại càng phong phú, sinh động. Trong quá trình này, các nền văn hóa bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau dẫn đến sự phát triển và biến đổi không ngừng. Trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang đặt ra những vấn đề cần thiết hơn bao giờ hết. Việc quan tâm hàng đầu trong thời điểm này là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông, kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hóa nhân loại với phương châm “hòa nhập không hòa tan”. Là một lĩnh vực tinh tế của văn hóa, văn học nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa. Nghiên cứu văn hóa trong mối quan hệ với văn chương đang trở thành một hướng đi mới trong việc khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương. 1.2 Cùng đội ngũ nhà văn các dân tộc thiểu số như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Triều Ân, Vi Hồng, Nông Minh Châu, Lò Ngân Sủn, Cao Duy Sơn, Lâm Tiến… luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình, Hứa Vĩnh Sước – Y Phương là một trong số những nhà thơ như vậy. Người trai Tày sinh ra và lớn lên ở làng Hiếu Lễ, dưới chân núi Bo Păn ở gần biên giới Việt – Trung, thuộc huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) nổi lên như một gương mặt thơ tiêu biểu, xuất sắc, một phong cách riêng, độc đáo cho vùng văn hóa dân tộc miền núi vừa đậm đà bản sắc “người đồng mình”, vừa rộng mở giao hòa với vùng văn hóa rộng lớn để hợp lưu thành con sông văn chương Việt Nam. Là một trong những cây bút tiêu biểu của dân tộc Tày, cầm bút từ những năm chiến tranh lửa đạn khốc liệt cho tới bây giờ, Y Phương vẫn miệt mài trên từng con chữ, lao động sáng tạo không ngừng để hôm nay là “ông chủ” sở hữu một “gia tài” không nhỏ văn chương gồm thơ và tản văn. Các tác phẩm của anh đã góp phần đưa văn học của các dân tộc thiểu số đến gần hơn với độc giả và trở thành một bộ phận không thể thiếu đóng góp vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam hiện đại. Là nhà thơ dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên quê hương Cao Bằng, Y Phương luôn cháy bỏng một khát khao đem đến cho bạn đọc một cái nhìn chân xác nhất về cảnh sắc thiên nhiên và con người quê hương anh, cũng như cuộc sống và con người của đồng bào Tày ở Cao Bằng nói chung và vùng quê Trùng Khánh nói riêng. Chính vì vậy, đọc tác phẩm nào của anh, độc giả sẽ cảm nhận được chất “miền núi” thấm sâu và lan tỏa trên từng con chữ, câu văn.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-@&? -HOÀNG THỊ KIỀU TRANG

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂNNgười hướng dẫn khoa học : TS Lê Thị Bích Hồng

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

thành luận văn này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà thơ Y Phương đã nhiệt tình giúp đỡ,khuyến khích tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, BanChủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Tổ bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên chúng tôi trong quátrình học tập, nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những người

đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tàinghiên cứu của mình

Hà Nội, Ngày 15 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Kiều Trang

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Toàn cầu hóa cùng với quá trình giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trên

thế giới đã làm cho văn hóa nhân loại càng phong phú, sinh động Trong quá trìnhnày, các nền văn hóa bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau dẫn đến sự phát triển

và biến đổi không ngừng Trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa –hiện đại hóa, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang đặt ra những

Trang 4

vấn đề cần thiết hơn bao giờ hết Việc quan tâm hàng đầu trong thời điểm này là vấn

đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông,kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hóa nhân loại với phương châm “hòa nhập

không hòa tan” Là một lĩnh vực tinh tế của văn hóa, văn học nghệ thuật nói chung

và văn học nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Nghiên cứu văn hóa trongmối quan hệ với văn chương đang trở thành một hướng đi mới trong việc khám phácái hay, cái đẹp của văn chương

1.2 Cùng đội ngũ nhà văn các dân tộc thiểu số như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài

Đoàn, Triều Ân, Vi Hồng, Nông Minh Châu, Lò Ngân Sủn, Cao Duy Sơn, LâmTiến… luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình, HứaVĩnh Sước – Y Phương là một trong số những nhà thơ như vậy Người trai Tày sinh

ra và lớn lên ở làng Hiếu Lễ, dưới chân núi Bo Păn ở gần biên giới Việt – Trung,thuộc huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) nổi lên như một gương mặt thơ tiêu biểu,xuất sắc, một phong cách riêng, độc đáo cho vùng văn hóa dân tộc miền núi vừa đậm

đà bản sắc “người đồng mình”, vừa rộng mở giao hòa với vùng văn hóa rộng lớn đểhợp lưu thành con sông văn chương Việt Nam

Là một trong những cây bút tiêu biểu của dân tộc Tày, cầm bút từ những nămchiến tranh lửa đạn khốc liệt cho tới bây giờ, Y Phương vẫn miệt mài trên từng conchữ, lao động sáng tạo không ngừng để hôm nay là “ông chủ” sở hữu một “gia tài”không nhỏ văn chương gồm thơ và tản văn Các tác phẩm của anh đã góp phần đưavăn học của các dân tộc thiểu số đến gần hơn với độc giả và trở thành một bộ phậnkhông thể thiếu đóng góp vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam hiện đại

Là nhà thơ dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên quê hương Cao Bằng, Y Phươngluôn cháy bỏng một khát khao đem đến cho bạn đọc một cái nhìn chân xác nhất vềcảnh sắc thiên nhiên và con người quê hương anh, cũng như cuộc sống và con ngườicủa đồng bào Tày ở Cao Bằng nói chung và vùng quê Trùng Khánh nói riêng Chính

Trang 5

vì vậy, đọc tác phẩm nào của anh, độc giả sẽ cảm nhận được chất “miền núi” thấmsâu và lan tỏa trên từng con chữ, câu văn.

1.3 Tản văn trong những năm gần đây bắt đầu được sự công nhận từ góc độ giới

chuyên môn Dường như “Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể loại bị lãng quên”(Trần Đình Sử) đang có sự hồi sinh và ngày càng chứng tỏ thế mạnh cũng như sự

hấp dẫn của mình với nhiều cây bút như: Tản mạn trước đèn của Đỗ Chu, Nhân trường hợp chị Thỏ bông của Thảo Thảo, Tản văn Nguyễn Ngọc Tư… Tản văn Kung fu người Co Xàu, đặc biệt tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm của Y Phương nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam… Đọc tản

văn của Y Phương, người đọc luôn thấy chất miền núi, chất Tày được kết hợp hàihòa lối tư duy hiện đại, tạo nên những trang viết bình dị mà sâu lắng, thiết tha nghĩatình, thấm đượm bản sắc văn hóa dân tộc

Việc khai thác văn nghiệp Y Phương đã được tiến hành khá sớm Càng ngàycàng thêm người yêu mến, càng có nhiều công trình nghiên cứu sự nghiệp sáng táccủa anh Tuy nhiên, việc đánh giá, thẩm định của giới nghiên cứu về Y Phương chủyếu tập trung ở thể loại thơ, còn tản văn thì hầu như ít được nhắc đến, trong khi đây

là một trong những thể loại mới mà anh gặt hái được không ít thành công Vì vậy,

chúng tôi lựa chọn đề tài “Bản sắc văn hóa dân tộc trong tản văn Y Phương” với

mong muốn sẽ đưa thêm một hướng tiếp cận với những giá trị nổi bật của tản văn vàbước đầu thấy được những đóng góp mới trong tản văn Y Phương đối với việc giữgìn bản sắc văn hóa dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về thơ Y Phương

Quá trình lao động nghệ thuật miệt mài của Y Phương đã đóng góp không nhỏcho thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng và nền Văn học Việt Nam hiện đại nói chung.Thơ Y Phương mang bản sắc rất riêng, độc đáo đã thu hút sự quan tâm của giớinghiên cứu, phê bình văn học và nhiều nhà văn, như: Tế Hanh, Phạm Hổ, Chu Văn

Trang 6

Sơn, Nguyễn Hữu Tiến, Trúc Thông, Hồng Diệu, Thái Vĩnh Linh, Tạ Duy Anh, ĐỗTrung Lai, Trần Mạnh Hảo, Phạm Quang Trung, Lê Thị Bích Hồng, Bảo Thu, ĐỗThị Thu Huyền… Các nhà nghiên cứu đều tập trung khai thác sự độc đáo trong sángtác và ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc trong thơ của anh

Nhận xét về thơ Y Phương, Tế Hanh cho rằng “Y Phương là một nhà thơ, một nhà thơ miền núi rất mới mẻ Thơ anh vừa dân tộc, nhưng có cái gì hiện đại, hôm nay và mai sau…Y Phương bắt đầu tuổi trẻ của mình bằng cuộc đời người lính và bắt đầu đời thơ mình là những bài thơ đánh giặc” [20, 246].

Nguyễn Hữu Tiến nhận thấy: “Thơ Y Phương vừa hiện đại vừa dân tộc là bởi

vì anh đã kết hợp truyền thống văn hóa của quê hương mình với mọi miền quê của đất nước” [68, 272].

Tác giả Tạ Duy Anh đánh giá Y Phương là “Người gảy khúc đàn trời để viết những bài ca vút lên từ đất, ca ngợi xứ sở đã nuôi ông thành thi sĩ” [7, 293].

TS Chu Văn Sơn nhận thấy sự gắn kết sâu sắc của Y Phương với cội nguồn xứ

sở: “Sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình chính là nhịp tim thầm kín, bền vững nhất trong từng bài thơ Y Phương, là cốt lõi của giọng hát Y Phương” [60, 264].

Theo Trúc Thông, “Y Phương không yêu dân tộc mình ở đầu lưỡi, lạm dụng chất dân tộc Qua tất cả những cảnh huống sinh hoạt vật chất và tinh thần hiện thực, những đam mê và đau khổ trần trụi, những chìm lặng không sao nói hết và những sự thật cuộc đời… Y Phương tiếp tục phát hiện về dân tộc mình” [76, 273].

Trần Mạnh Hảo nhận thấy cái chất Y Phương “Nhẩn nha sống – nhẩn nha thơ”

để “nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thơ ngây của hoa lá dân tộc mình, rung động bằng trái tim suối nguồn và tư duy bằng sừng đá” Trần Mạnh Hảo còn nhận ra sự thống nhất trong những mặt đối lập “thơ Y Phương bình dị, chân chất, hồn nhiên, giấu cất

mà he hé lộ thiên, lặng lẽ mà bùng nổ, như chính cuộc đời ông, con người ông” [23,

303]

Trang 7

Nhiều bài viết về thơ Y Phương đăng trên báo chí: Phạm Quang Trung thừa

nhận:“Y Phương trước sau nhất quán một xác tín nghề nghiệp” [80]

Lê Thị Bích Hồng đã phát hiện ra Y Phương thời kỳ đầu cầm bút không thểđứng ngoài “dàn đồng ca” thời ấy, nhưng điều quan trọng “người con làng Hiếu Lễ”

đã bứt phá, vượt thoát rất nhanh khỏi “tiếng nói chung” để khẳng định một lối điriêng, một phong cách cá nhân với một gia tài thi ca “săn chắc, vạm vỡ, nhưng mềm

mại, tinh tế mang hồn làng”: “Thời kỳ đầu, thơ anh vẫn không thể khác giọng thơ chung hào sảng vốn đã chi phối cả một thế hệ sáng tác: “Câu hát thiêng liêng lắm chứ-Hát bây giờ còn để hát mai sau” Nhưng chỉ sau các tập “Lửa hồng một góc”,

“Lời chúc”, “Đàn then”, anh đã sớm tạo ra tiếng nói riêng, không nhòe lẫn có sự bồi hồi dân tộc đặc trưng và có sự khao khát chiếm lĩnh đỉnh cao” [29, 226] Y

Phương đã trở thành nhà thơ có phong cách riêng bởi sự ý thức đi tìm cái mới, cáiđộc đáo Lê Thị Bích Hồng đã “bắt đúng mạch” suy nghĩ về văn chương của nhà thơ

dân tộc Tày: “sáng văn chương không mới, không độc đáo thì khó lòng tạo được dấu ấn, thu hút được độc giả và không thể có đời sống trong lòng công chúng Văn chương với anh là “một thứ chơi Chơi cho mình thích và cho người ta thích” Lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân đậm nét và không bao giờ là dễ dàng như kiểu vận hành sản xuất để ra sản phẩm hàng loạt Khi con tim không rung, đôi tay không buồn, cầm cây bút sao nổi Cầm bút không nổi lấy đâu ra thơ ca Người ta phải yêu tiếng mẹ đẻ cái đã Yêu hết mình mới có thơ ca Yêu từ tim gan bên trong xương thịt mình Cảm xúc sáng tạo không phải là thứ đặt hàng” [29-224].

Một số Hội thảo khoa học đã đề cập tới sáng tác của Y Phương đặt trong mối

quan hệ với thơ ca dân tộc thiểu số nói chung “Sự chuyển biến của thơ dân tộc thiểu

số trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Kinh (qua trường hợp sáng tác của Y Phương)” (Kỷ yếu hội thảo Quốc tế Những lằn ranh văn học, Trường Đại học Sư

phạm TP Hồ Chí Minh, 2011)

Trang 8

Trong các bài viết của mình, dù cách nói có khác nhau, nhưng các nhà nghiêncứu, phê bình đều nhìn nhận, đánh giá đúng “chất Y Phương” với một tình yêu nồngthắm với quê hương xứ sở, một bản lĩnh kiên cường tích cực giữ gìn bảo tồn văn hóadân tộc Nhưng chủ yếu mới xoay quanh lĩnh vực thơ mà anh đã “gặt hái bội thu”những “Mùa hoa” giải thưởng.

Những năm gần đây, thơ Y Phương đã thu hút giới nghiên cứu, trong đó phải

kể đến một số luận văn cao học đặt thơ Y Phương trong mối liên hệ với văn hóa, với

bản sắc văn hóa dân tộc, đó là: “Bản sắc dân tộc trong thơ Y Phương – Dương Thuấn” (Hà Thị Thu Trang, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007); “Ngôn ngữ thơ Y Phương” (Lê Thị Huệ, Đại học Vinh, 2009); “Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Y Phương” (Nguyễn Thúy Hằng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); “Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn” (Nguyễn Thị Thu Huyền, Đại học Thái Nguyên, 2009) Luận án tiến sĩ “Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay” (Đỗ Thị Thu

Huyền, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2013) nghiên cứu các nhà thơ Tày,trong đó có thơ Y Phương

2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tản văn Y Phương

Là nhà thơ Tày thành danh, liên tiếp trong hai năm 2009-2010, Y Phương ra

mắt bạn đọc hai tập tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm (Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành) và tản văn Kung fu người Co Xàu (Nhà xuất bản Hội nhà

văn ấn hành năm 2010) đã thu hút nhiều độc giả và giới nghiên cứu phê bình

Nhận xét về tập tản văn Y Phương, Lâm Tiến viết “Mỗi tản văn của Y Phương như một lát cắt, một tầng vỉa làm lộ dần chiều sâu văn hóa của quê hương, của dân tộc Y Phương không phải chỉ kể lại, tả lại những sự vật, những hiện tượng mà đi sâu phân tích ý nghĩa cội nguồn của nó, đẩy những sự kiện, tình huống đi đến tận cùng để từ đó khám phá, phát hiện tâm hồn, tính cách dân tộc, nói rộng ra là ngọn nguồn, chiều sâu văn hóa của dân tộc” [66].

Trang 9

Tuy Hòa cho rằng “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm không khác

gì những bài thơ mà Y Phương từng tin cậy “Câu hát thiêng liêng lắm chứ/ Hát bây giờ còn để lại mai sau”… Tản văn Y Phương không chinh phục người đọc bằng ánh mắt sắc sảo, mà bằng cái nhìn đầy âu yếm” [27].

Lê Thị Bích Hồng nhận thấy tản văn của Y Phương là “Chiếu nghỉ giữa

khoảng thơ”, là thời điểm tác giả vịn câu nói của cổ nhân người Tày: "Chỗ nào còn nước thì làm ruộng, hết nước thì làm rẫy", anh vượt qua cảm giác lống loáng, rỗng

ruột đến với tản văn như phút “nghỉ ngơi” hiếm hoi [28]

Lê Thị Bích Hồng khi viết “Người đàn ông sinh ra ở làng Hiếu Lễ” đã khẳng

định chất văn hóa thấm đẫm trong tản văn: “Chất Tày được bộc lộ độc đáo, trong trải nghiệm cuộc đời, ở một tầng vỉa làm lộ dần tầm cao và chiều sâu văn hóa Anh coi trọng giá trị văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần bền vững nhất, Anh hiểu hơn ai hết văn hóa là sức mạnh nội sinh, là cội cuồn giá trị của làng Tày “Vách nhà ken câu hát” với niềm tin vững chắc “Còn quê hương thì làm phong tục” Và điều

“đáng trân trọng là tác phẩm của nhà thơ Tày ấy không "đóng đinh" bó hẹp trong cuộc sống sinh hoạt của người Tày mà vượt lên, vươn xa như một dấu nối với thơ ca các dân tộc khác trong thời kỳ hội nhập Tác phẩm vì thế mà mở rộng biên độ, phong phú đề tài về cuộc sống, con người miền núi – thành thị, tình yêu đất nước – quê hương, tình cảm gia đình – bạn bè - tình yêu lứa đôi…và điều quan trọng là thẫm đẫm bản sắc văn hóa “người đồng mình” Tình yêu với đồng bào dân tộc mình

đã cho anh nguồn xúc cảm cùng bản sắc văn hóa Tày khó lẫn” [29]

Những ý kiến nhận xét về tản văn Y Phương chủ yếu dừng lại ở những bài viếttrong sách, báo, tạp chí có dung lượng nhỏ, khai thác một số nét nổi bật chủ yếu củatản văn Song đó là những tư liệu quý, giúp người viết trong quá trình tìm hiểu bảnsắc văn hóa dân tộc trong tản văn Y Phương

Tính đến thời điểm này, chưa nhiều luận văn nghiên cứu tản văn Y Phương

Mới có một số luận văn, như: “Đặc trưng tản văn Y Phương” (Hồ Thị Loan, Đại

Trang 10

học Vinh, 2011); “Đặc sắc tản văn Y Phương” (Sùng Thị Hương, Đại học Sư phạm

Thái Nguyên, 2013) Cùng với tôi, hiện ở Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội

có một luận văn nghiên cứu tản văn Y Phương “Những đặc sắc của tản văn Y Phương” (Nông Ngọc Hiên, chưa bảo vệ).

Tuy chưa nhiều công trình nghiên cứu tản văn Y Phương, nhưng những nghiêncứu trước là những gợi ý quý báu cho tôi thực hiện đề tài này

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát chủ yếu hai tập tản văn của Y Phương: Tháng Giêng tháng Giêng một vòng dao quắm (Nhà xuất bản Phụ nữ 2009) và tản văn Kung fu người Co Xàu ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 2010) Ngoài ra, để hiểu đầy đủ

bản sắc dân tộc trong tản văn Y Phương, chúng tôi khảo sát mở rộng sang một số các

tập thơ và trường ca của anh như: Đàn then, Tiếng hát tháng Giêng, Chín tháng Đò trăng, Thơ Y Phương, Thất Tàng lồm (Ngược gió)…

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp dưới đây:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

-Phương pháp thống kê- phân loại

- Phương pháp liên ngành (văn hóa học, dân tộc học )

- Phương pháp đối chiếu so sánh

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại

5 Đóng góp của luận văn

- Về mặt lý luận: Luận văn của chúng tôi góp phần xác định vị trí, những đónggóp của tản văn Y Phương trong tản văn hiện đại Việt Nam

- Về mặt thực tiễn: Qua khảo sát, phân tích tác phẩm của Y Phương (đặt trong

so sánh liên ngành), chúng tôi mong muốn được góp thêm một tiếng nói khẳng địnhviệc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống

Trang 11

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, nội dung của luận văn baogồm ba chương:

Chương 1: Quan niệm về thể loại, một số vấn đề chung về bản sắc văn hóadân tộc và vị trí của tản văn trong văn nghiệp Y Phương (trang)

Chương 2: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nội dung tư tưởngtrong tản văn Y Phương (trang)

Chương 3: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nghệ thuật (trang)

NỘI DUNG Chương 1 QUAN NIỆM VỀ THỂ LOẠI, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ VỊ TRÍ CỦA TẢN VĂN

TRONG VĂN NGHIỆP Y PHƯƠNG 1.1 Quan niệm về thể loại

Trang 12

“ Thể loại tản văn khai sinh từ những thập kỉ đầu thế kỉ XX nhưng nó tồn tại

mờ nhạt, không gây được sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình bởi trong ý thức của nhiều người thì tản văn là thể loại đi ngoài lề đời sống văn học; hơn nữa nó lại

là một thứ văn không có diện mạo, không tiếng nói, không được định danh một cách nhất quán Từ những thập niên 90 của thế kỉ XX, tản văn bắt đầu gây sự chú ý nhiều hơn bởi quá trình giới thiệu tản văn Trung Quốc vào Việt Nam diễn ra mạnh

mẽ hơn, cũng từ đây ý thức thể loại được định hình rõ hơn” [50, 4].

Trong cuốn “Năm bài giảng và thể loại”, tác giả Hoàng Ngọc Hiến cho rằng

tản văn là “một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả, có thể bộc

lộ trữ tình, tự sự hoặc nghị luận, thường là mấy thứ đan quyện nhau Lối thể hiện đời sống trong tản văn mang tính chất chấm phá, tuy vậy, ngòi bút tản văn chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ Có lẽ đặc trưng quan trọng nhất của thể loại tiểu kí này là ở chỗ tất cả những gì được thể hiện biểu hiện trong bài tản văn đều mang đậm dấu ấn cách cảm nhận và cảm nghĩ của riêng tác giả” Như vậy, theo quan niệm của GS Hoàng Ngọc Hiến thì tản văn

vẫn chưa thể tách ra thành một thể loại riêng biệt, tồn tại độc lập mà vẫn “dướitrướng” của thể kí; tuy nhiên có một số đặc trưng nổi bật nhất của tản văn đượcHoàng Ngọc Hiến đề cập tới ở đây: sự tự do trong cách biểu hiện (có thể tự sự, trữtình, nghị luận), sự luận giải mang tính cá nhân của người viết đối với vấn đề đưa rađược đề cao

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử chủ biên): “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cách, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Tản văn là loại văn tự

do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và

cá tính tác giả, có truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ” [22, 293-294].

Trang 13

Trong bài tản văn trên báo văn nghệ 2011, tác giả Nguyễn Thị Lan cho rằng

tản văn là một thể loại văn học độc lập:“Tản văn có những đặc điểm khác với những thể loại khác Tản văn là những bài viết tản mạn tương đối tự do; về dung lượng khá ngắn gọn, hàm súc; về kết cấu: có sự linh hoạt tất cả các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật; về nội dung: thường biểu hiện đời sống theo kiểu chấm phá và đặc trưng quan trọng nhất là thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của người viết; về mặt thẩm mỹ: tản văn đứng giữa thơ và truyện ngắn”.

1.2 Một số vấn đề chung về bản sắc văn hóa dân tộc

1.2.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc

Theo nghĩa chung nhất, văn hoá được xem là toàn bộ những hoạt động sáng tạocủa con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại tạo thành những chuẩn mực -giá trị, thị hiếu và truyền thống, gọi chung là hệ giá trị - xã hội, một thành tố cơ bảnlàm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc

Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “Văn hóa”

Trong cuốn Từ điển bách khoa Xô viết: “Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra và phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng tự nhiên” [70, 16].

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng:“Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại trong biểu tượng” [54, 17.]

GS - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và

xã hội” [73, 10].

Nhà nhân loại học phương Tây E.B.Taylo lại định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục,

Trang 14

những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [82, 8].

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về khái niệm văn hóa, nhưng các định nghĩavẫn xoay quanh vấn đề tương đối thống nhất: Văn hóa là một trong những giá trị đặctrưng về vật chất, tinh thần được con người sáng tạo ra trong sự phát triển của dântộc

Mỗi quốc gia có một nền văn hóa riêng và mỗi dân tộc cũng sẽ có bản sắc vănhóa của riêng mình “Bản” là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sựvật “Sắc” là thể hiện ra ngoài Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nóinhững giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam Nóinhững hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nóinhững giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, mang tính dân tộc sâu sắc biểu hiện trongmọi lĩnh vực của nền văn hóa Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sânkhấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của ngườiViệt Nam Bản sắc văn hoá dân tộc bao hàm những mặt được hình thành và gắn bóvới dân tộc từ thuở xa xưa, các mặt này được duy trì theo quá trình của lịch sử Đó làcác kiểu quan hệ hay một kiểu lựa chọn riêng của một cộng đồng về một phươngthức ứng xử nào đó, khiến cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo nhằm phânbiệt với các dân tộc khác

Nói đến bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là nói đến những tinh hoa, nhữnggiá trị bền vững được hun đúc, vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn nămđấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Những giá trị ấy, những tinh hoa ấy

đã tạo nên những nét đặc sắc, riêng có ở cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong conngười Việt Nam

Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với lịch sử đấutranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Bản sắc đó không phải là một

Trang 15

hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được hình thành, bồi tụtrong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa.

Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộngđồng ấy có một đặc thù riêng Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân tộc Và yếu tốdân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc làcái "hồn", là sức sống nội sinh, là “thẻ căn cước” của mỗi dân tộc, để phân biệt dântộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diệncủa mình trong quá trình giao lưu và hội nhập

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện trong nền văn hóa, nghệ thuật trong phong tục tập quán, trong đời sống muôn màu của dân tộc” [17, 11]

Trong cuốn Cơ sở văn hóa, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Bản sắc là sự lan tỏa tự nhiên trong sắc thái tư duy ngôn ngữ, trong tâm hồn, trí tuệ, trong phong tục, cung cách, hành vi, ứng xử, trong lề thói, tập tục, trong văn chương, nghệ thuật, và trong toàn bộ các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của con người Bản sắc dân tộc trong mọi sắc thái là sự lan tỏa một cách tự nhiên không ai gò ép được, nhưng nó phải gắn liền với ý thức dân tộc và tự khẳng định qua thử thách của thời gian, nếu không qua giao lưu và mở rộng văn hóa, bản sắc sẽ bị biến đổi, mất đi những gì tinh túy nhất của dân tộc Do đó các nhà nghiên cứu trên thế giới đã từng đưa ra những ý kiến thống nhất gọi bản sắc văn hóa dân tộc là một thứ căn cước, một chứng minh thư của riêng một dân tộc” [82, 78].

Theo GS Trần Đình Sử: “Bản sắc dân tộc là thuộc tính độc đáo của một nền văn học, vừa là biểu hiện cái chung của nền văn học ấy vừa phân biệt nó với dân tộc khác” [61, 19].

Tác giả Nguyễn Hùng Vĩ đưa ra ý kiến: “Bản sắc dân tộc không phải cái gì đó tiên thiên, có sẵn trong cội nguồn mà nó luôn luôn được sáng tạo và bồi đắp Từng thế hệ nhà văn đã sáng tạo nên bản sắc dân tộc của văn học Việt Nam” [81]

Trang 16

Điều đó đã được thể hiện trong quan điểm chỉ đạo, đường lối, chính sách của

Đảng và Nhà nước Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII xác định “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người” Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục hoàn chỉnh: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI

về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển

bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định bản sắc dân tộc “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”.

Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết bởi trước hết văn học có thể coi làmột bộ phận nằm trong chỉnh thể của nó là văn hóa, mỗi nhà văn khi sáng tạo tácphẩm của mình đều phải dựa trên một nền tảng rộng lớn là văn hóa dân tộc và vănhóa nhân loại Có thể coi văn học là một tấm gương vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộmặt văn hóa của từng thời đại vào trong đó Đặc biệt văn học sẽ kết tinh toàn bộ các

phương diện của văn hóa vào trong thế giới nghệ thuật của mình Bielinxki từng viết: “Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác đều là sản phẩm tinh thần của một cá nhân nghệ sĩ Mà cá nhân người nghệ sĩ đó lại thuộc về một cộng đồng, một dân tộc nhất định Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa, phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình Vậy tính dân tộc được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, là một “thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo”.

Trang 17

Bàn về tính dân tộc trong trong văn học, nhà nghiên cứu người Nga A Tôn xtôi

cho rằng: “Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng

mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật…” Quan điểm đó rất đúng bởi vì tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà

họ đang sống Vậy nên bản sắc văn hóa dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ, trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ Và cũng chính đặc thù của đời sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo được bảo tồn lưu giữ qua nhiều thế hệ” [44].

1.2.2 Khái quát về văn hóa dân tộc Tày

Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, là cư dânđông nhất ở vùng núi phía Bắc và chiếm tỉ lệ cao so với các dân tộc thiểu số khác.Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục Thống kê, dân tộc Tày

có 1.477.514 người, “cư trú trên một địa bàn rộng lớn miền thượng du Việt Bắc, Đông Bắc… Vùng người Tày cư trú thường xen kẽ các dân tộc Mông, Dao, Nùng, Sán Chay, Giáy” [14, 284].

Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm Sử sách còn ghi rõ ngay từ buổi bìnhminh của lịch sử, thế kỷ thứ II trước công nguyên, liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày,Nùng) đã cùng liên minh với bộ lạc Lạc Việt (Việt, Mường) dưới sự chỉ huy của thủlĩnh An Dương Vương Thục Phán, đã có đủ sức mạnh đánh bại quân Tần xâm lược

và thành lập Vương quốc Âu Lạc Âu Lạc chính là nhà nước đầu tiên xuất hiện trên

vũ đài lịch sử Việt Nam với tiến trình lịch sử lâu đời của mình, dân tộc Tày chẳngnhững góp phần quan trọng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà còn sớm hìnhthành một nền văn hóa, làm phong phú thêm nền văn hóa truyền thống của các dântộc Việt Nam

* Văn hóa sản xuất

Trang 18

Từ rất lâu đời người Tày đã sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước Do có mặtsớm hơn các dân tộc khác nên người Tày đã khai phá và làm chủ được những vùngthung lũng phẳng Việc trồng lúa nước của người Tày được ghi dấu trong truyềnthuyết Pú Lương Quân của dân tộc mình Vì địa hình đồi núi cao, hệ thống sông,suối thường thấp hơn các cánh đồng, đám ruộng, nên từ xa xưa người dân đã biếtđào mương, đắp phai, bắc máng, làm cọn lấy nước lên ruộng và lợi dụng sức nước

để giã gạo

Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu, cây ăn quả… Cácloại cây công nghiệp cũng được người dân chú trọng phát triển như thuốc lá, trẩu,hồi, tre, trúc…

Người Tày rất chú trọng phát triển về chăn nuôi Bởi ngoài trồng trọt, chăn nuôicũng đem lại nguồn thu lợi đáng kể cho kinh tế hộ gia đình Từ bao đời nay, dân tộcTày đã có quan niệm “tu mò nhò pỏ khỏ” (con bò giúp đỡ người nghèo) Cư dân Tày

cổ cũng đã biết thuần dưỡng trâu để phục vụ sản xuất Chính vì vậy con trâu đượcchọn làm vật tế lễ trong lễ hội “Lồng Tôồng”, hình đầu trâu được treo trong nhà ởnhững chỗ trang trọng nhất Điều này thể hiện tín ngưỡng của dân tộc đối với convật sống gần gũi và có ích trong đời sống của người dân

Săn bắt, hái lượm cũng là một nét phong tục quen thuộc của dân tộc Tày, đặcbiệt là nghề đánh bắt cá ở sông, suối Hầu như gia đình người Tày nào cũng có dụng

cụ để đánh bắt cá (bằng chài, lưới, vó, đơm…) Một số người còn chủ yếu sống dựavào nghề này

Dân tộc Tày rất nổi tiếng với các nghề thủ công, như: đan lát các vật dụng giađình bằng tre, trúc, mây; đục đẽo đá làm cối giã, cối xay; rèn sắt, dao… Họ biếttrồng bông, làm sa quay, làm khung cửi dệt vải, và nhất là có kỹ thuật nhuộm tạo raloại vải màu đen rất đặc trưng (màu chàm) để may quần áo, làm màn, mặt chăn Đặcbiệt là những tấm thổ cẩm được dệt với nhiều hoa văn đẹp, độc đáo làm mặt chăn,mặt địu…

Trang 19

Do nông lâm thổ sản và tiểu thủ công nghiệp phong phú, cộng thêm nhu cầutrao đổi, buôn bán của mọi người dân, nên ở vùng có người Tày cư trú, chợ được mở

ở nhiều nơi Chợ họp theo chu kỳ năm ngày một phiên Các chợ bày bán sản phẩmphục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân Trong ngày chợ phiên, nhiều hình thức vănhóa đặc sắc mang đậm dấu ấn địa phương đã tạo nên văn hóa chợ độc đáo của cácdân tộc thiểu số vùng cao

* Văn hóa tổ chức đời sống

Tục ngữ Tày có câu “vỉ noọng tam tó bấu táy vỉ noọng sỏ rườn” (anh em ruột

ở xa không bằng người dưng ở ngay bên cạnh) cũng giống câu tục ngữ Kinh “Bán anh em xa mua láng giềng gần” để nói lên sự cố kết dân bản và sự đoàn kết trong

lao động sản xuất, chiến đấu để chống nạn trộm cướp, chống kẻ thù Hơn thế, họluôn quan tâm, giúp đỡ, chia ngọt sẻ bùi lẫn nhau mỗi khi gia đình bạn bè có chuyện

vui buồn như tình làng nghĩa xóm “tắt lửa tối đèn có nhau” của các dân tộc khác.

Trong quan hệ với các dân tộc anh em, đồng bào có tập quán kết nghĩa anh em gọi là

“lạo tồng”, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt Đồng bào Tày rất mến

khách “Khách đến nhà bao giờ cũng được tiếp đãi chu đáo Khách đến làng, tuy không quen biết, nhưng cũng được đồng bào chào hỏi thân mật” [41, 8].

Nước chè của người Tày chủ yếu được nấu bằng các loại lá cây do đồng bào háitrên rừng và đều có tác dụng về y học Từ lâu, người Tày đã biết cất rượu bằng ngô,

Trang 20

gạo, sắn ủ với men lá tự chế Rượu được uống trong sinh hoạt ngày thường, khi cókhách đến nhà chơi thể hiện lòng hiếu khách vào những ngày lễ tết.

Người Tày từ lâu đã cư trú tập trung thành bản Vì thế, tên bản thường gọi theotên cánh đồng, khúc sông suối, hay dốc núi Ở những nơi đất rộng ruộng nhiều cóbản tập trung tới hàng trăm nóc nhà, nơi ruộng ít thì cũng dăm chục nóc nhà Bảnlàng thường dựa lưng vào núi, trước mặt trông ra cánh đồng Nhà ở của dân tộc Tàythường là nhà sàn, nhà sàn đá, nhà đất; mái nhà lợp bằng ngói âm – dương hoặc lá

cọ, lá gianh…

Người Tày có câu nói “Chiêm slao, chiêm tin slửa” (kén gái nhìn tà áo) để nói

về tài nghệ của người phụ nữ Tày trong việc trồng bông, kéo sợi vải, nhuộm chàm,cắt quần áo Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện rất rõ qua trang phục

Trong trang phục truyền thống của dân tộc, “cả nam lẫn nữ đều mặc quần áo màu chàm và hầu như cùng một kiểu, không thêu trang trí” [14, 290] Riêng chiếc

áo của phụ nữ thường may vừa vặn cơ thể: hơi nhân thêm eo, ống tay nhỏ để tônnhững đường nét của cơ thể Khi mặc áo, bao giờ người phụ nữ cũng thắt ra ngoàimột chiếc thắt lưng bằng vải chàm để xõa mối ra đằng sau tạo nên sự mềm mại.Người phụ nữ Tày cũng mặc áo dài năm thân, cài khuy áo bên nách phải như nhiềudân tộc khác, nhưng vẫn tạo ra dáng vẻ riêng của mình, nhờ thân áo dài chấm gót,tay áo hẹp bó sát giống như áo dài của phụ nữ Kinh, cổ áo không ôm khít vòng cổnhư áo dài Kinh, mà vẫn để hở một khoảng tạo cảm giác như chiếc áo “mềm mại”hơn Độc đáo hơn cả có lẽ là màu sắc của áo dài người Tày Đó là màu vải chàm sậmđen ánh sắc tím hay màu tím hồng Để tôn thêm sự duyên dáng, phụ nữ Tày còn vấntóc, chít khăn vuông màu chàm theo kiểu chít vuông trước trán, các góc khăn thườngđính tua chỉ màu Họ cũng hay đeo vòng cổ, vòng tay, chân và dây xà tích bằng bạc

Do địa hình không bằng phẳng, nhiều núi đồi, khe suối nên phương tiện ngườiTày dùng để đi lại, vận chuyển sản phẩm nông nghiệp thường bằng ngựa Vật dụngchứa mang vận chuyển thường bằng gánh đôi dậu, đôi xỏng và đôi cuôi Tất cả

Trang 21

những vật dụng này đều do bàn tay người dân đan lát mà tạo thành Dùng trâu kéo

và bè, mảng để chuyên chở cũng là một nét đặc sắc riêng của dân tộc Tày

* Văn hóa tinh thần

Thanh niêm nam nữ Tày được tự do tìm hiểu qua các cuộc hội hè, hát lượn.Nhưng để đi đến hôn lễ hay không lại do hai gia đình quyết định Người Tày cóphong tục “Khai lục nhình” (bán con gái) nên lễ vật và tiền cưới nhà trai phải mangđến nhà gái rất hậu hĩnh Việc tiến hành hôn nhân phải qua rất nhiều khâu; đánhtiếng (đi hỏi), lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt Lễ cưới thể hiện rõ nhất nét đẹp văn hóacủa người Tày qua việc hát đối đáp sli lượn trong đám cưới Đó là tiếng hát của ôngquan lang (người chủ đón dâu) và đại diện nhà gái để được lên nhà gái làm lễ tổ tiên

và đón dâu, đưa dâu về nhà chồng Tiếng hát “quan lang” mang ý nghĩa cao quý bởi

nó thể hiện tình cảm trân trọng của nhà trai đối với nhà gái và ngược lại; đồng thời

nó cũng thể hiện văn hóa ứng xử của cả gia tộc nói riêng, tộc người nói chung thôngqua đại diện của hai gia đình Đó còn là tiếng lượn của những người đến dự đámcưới cất lên để mừng cho cô dâu chú rể, mừng cho gia chủ có được con dâu, con rểthảo hiền, mừng cho cuộc sống mới… Tất cả các điệu si lượn đó đã tạo nên mộtphần quan trọng trong đời sống văn nghệ của dân tộc Tày

Người Tày là dân tộc theo tín ngưỡng đa thần Các thần đều được gọi là ma(phi), gồm phi phạ ở trên trời, phi đông ở trong rừng, phi pú pẩu là tổ tiên… Bêncạnh quan niệm về các loại ma như trên, trong tâm thức của dân tộc này còn có lại

ma gà (phi cáy) ngự trị ở một số người Đây là một loại ma ác, thường làm hại nênngười Tày rất ghét, sợ những ai bị mang tiếng là ma gà Mỗi khi gia đình có việcvui, buồn, ốm đau, bệnh tật… dân tộc Tày đều hay mời thày mo, thày tào, bà bụt(pựt) về để hành lễ

Trong một năm, người Tày có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau,Những dịp tết dù nhỏ hay to, người Tày đều làm những thứ bánh theo từng thờiđiểm Các loại bánh trái luôn biểu hiện cho bản sắc dân tộc của dân tộc Ví như

Trang 22

mùng 3 tháng 3 là ngày tết ăn xôi ngũ vị, bánh trứng kiến; rằm tháng bảy là tết bánhgai, bánh dợm và ăn thịt vịt quay… Đặc biệt nhất là những ngày hội “Lồng Tôồng”(xuống đồng) tổ chức vào dịp đầu xuân ở nhiều địa phương trong vùng với nhiềuhình thức văn hóa và tín ngưỡng dân gian mang đậm bản sắc dân tộc càng làmphong phú hơn đời sống văn nghệ, đời sống tín ngưỡng của người dân.

Người Tày có kho tàng truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, tục ngữ, truyệnthơ phong phú, tiêu biểu là truyện Qủa bầu, Thạch Sanh, Cẩu Khây, Pú LươngQuân, Báo Luông - Sao Cải, Khảm hải (vượt biển)… Ngoài ra, dân tộc tày còn códân ca với các làn điệu đặc trưng như hát sli, lượn, phong slư, phuối pác, puối rọi,vén eng… các làn điệu dân ca này phục vụ trong đời sống sinh hoạt tinh thần, tínngưỡng của người Tày

Cũng giống như một số dân tộc thiểu số ở vùng cao khác, người Tày còn có mộtnền y học nhân dân khá phong phú “Hầu như gia đình nào cũng biết nhiều cây thuốcchữa bệnh, thuốc bổ” [14, 30] cho con người và gia súc, gia cầm để tự do phục vụnhu cầu cuộc sống

Từ những điều vừa tìm hiểu về đặc điểm văn hóa của dân tộc Tày chúng ta cóthể nhận ra rằng: Mỗi một dân tộc đều mang trong mình những dấu ấn văn hóa riênghòa trong những nét văn hóa chung của nhiều dân tộc Chính cái riêng tạo nên đặcsắc của dân tộc đó Còn những nét chung đã tạo nên nét hài hòa giao lưu giữa cácdân tộc anh em Bản sắc văn hóa hay truyền thống dân tộc là quá trình chọn lọc, tíchlũy qua nhiều thế hệ Trong xu hướng phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, để giữgìn bản sắc văn hóa dân tộc Tày cùng các dân tộc anh em khác như giữ lại nhữngtrang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễ hội là điềukhông phải dễ dàng; Do đó việc phát hiện, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóacủa từng dân tộc theo hướng ngày càng hiện đại nhưng vẫn giữ được dấu ấn riêng làvấn đề ý nghĩa mang tính thời sự, cập nhật

1.3 Cuộc đời và văn nghiệp Y Phương

Trang 23

1.3.1 Cuộc đời và văn nghiệp Y Phương

Tên khai sinh của Y Phương là Hứa Vĩnh Sước (các bút danh: Y Phương, ChuVăn Păn, Hứa Hiếu Lễ) sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 trong một gia đình nôngdân dân tộc Tày ở xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Thân phụ là

cụ Hứa Văn Cường biết chữ nho, làm thầy tào và chữa bệnh điên cứu người Ngày

bé, cậu bé Vĩnh Sước hiếu động đã theo cha gõ trống, đánh não bạt cho đám ma.Cậu cũng đã từng ước ao ước có được những phép thuật của thầy tào, học đượcnhững bài thuốc của cha, nhưng cha nhìn thấy số mạng Vĩnh Sước không hợp nghề

đó “Con là người nóng tính, ham hố nhiều như tóc Riêng hai điều đó không thể học được để làm thày tào” Cha tôn trọng thiên hướng bẩm sinh và bài học đầu tiên dạy

con là cách xử thế nhân văn:

“Không bao giờ quỳ gối và nói lời cong Con phải sống thẳng băng như đường mực”.

Thân mẫu anh là bà Nông Thọ Lộc - một phụ nữ, tảo tần, đảm đang, tháo vát,hiểu biết rộng, giàu đức hy sinh, luôn khích lệ con trai lòng can đảm, ý chí phấn đấu

vươn lên, quý trọng tinh thần tự chủ: "Tốc đin rà mạ tấc Tốc đin than mạ mè" (Sống

tại đất mình thành ngựa đực Sống ở nơi người là ngựa cái) Mẹ luôn răn dạy anh:

“Hãy giữ mình như giữ lửa-Cứ ngồi -Đừng sợ bóng người cong”; phải biết sống đẹp, ngẩng cao đầu kiêu hãnh “Không bao giờ nhỏ bé được nghe con” Ghi nhớ lời mẹ, anh đã gửi thông điệp đó vào bài thơ “Nói với con” và cũng chính bài thơ được đưa

vào chương trình giảng dạy văn học lớp 9 đã đưa tên tuổi anh đến gần hơn với côngchúng, với giáo viên, học sinh, với những người yêu thơ…

Hứa Vĩnh Sước lớn lên trong niềm tự hào về truyền thống của quê hương, giađình và nhất là chú anh - ông Hứa Văn Khải ở làng Hiếu Lễ Năm 1947, ông HứaVăn Khải và hai cụ lão du kích đã dùng khẩu đại bác do mình tạo ra bằng gỗ nghiến,đặt tên Sàng Là, bắn giặc Pháp khi chúng đang hành quân qua đèo Keng Phác - mộttrận đánh có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới Cảm phục chiến công

Trang 24

của ba ông lão du kích Co Xàu, trong đó có ông Hứa Văn Khải, Bác Hồ đã tặng bài

thơ Tặng các cụ lão du kích:

“Tuổi cao ý chí càng cao Múa gươm giết giặc ào ào gió thu Sẵn sàng tiêu diệt quân thù

Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng”

Khẩu súng kỳ lạ đó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Pháo binh ở thủ đô

Hà Nội

Muộn hơn so với bạn bè cùng trang lứa, lên 9 tuổi, anh mới tập nói tiếngKinh Ngày đầu tiên mẹ đưa đến học trường cấp I thị trấn Trùng Khánh (Cao Bằng),cậu bé Vĩnh Sước lạ lẫm nhìn thầy cô, bạn bè, chỉ bám riết lấy áo mẹ nằng nặc đòi

về Sự nghiêm khắc và cả sự kiên trì của pa me khiến anh mới dần quen với bảngđen, phấn trắng, thầy cô, bạn bè Niềm đam mê văn chương manh nha và phát lộ khi

pa thấy cậu con trai chắm chúi, nghiền ngẫm như một “con mọt sách” kho sách củamình Nhìn thấy tố chất bẩm sinh trong con trai, pa đã ủng hộ, nâng bước cho thiênhướng lựa chọn của anh Việc truyền nghề cho con là điều pa me đã từng nghĩ tới,nhưng không thành

Thời ấu thơ sống bên đá, trên đá, thở trong đá, anh làm bạn với với đá, với

sách: "Sống trên đá không chê đá gập ghềnh" Sau này khi cái tên Y Phương đã trở

thành một tên tuổi quen thuộc trong làng văn chương, tâm sự của anh vẫn là nỗi

niềm gắn bó, thủy chung với đá: “Tôi nói với núi đá Núi đá vọng lại Tôi hát với núi

đá Núi đá vọng lại Chúng tôi thân thiết nhau hơn sáu chục năm trời Nay tôi đang trở thành người già Còn núi vẫn non” Núi non Cao Bằng – nơi thế kỷ XV là kinh

thành của nhà Mạc, nơi các ngọn núi từ thấp đến cao đều lao vút lên trời nhọn hoắt

đã góp phần hun đúc, dung dưỡng tố chất văn chương của anh

Ngoài đá, bạn của anh là sách Anh tâm sự “Tôi coi sách như bạn Vì tôi không có hứng thú ham chơi thả diều, đá bóng như nhiều bạn cùng lứa Tôi cô đơn

và hay buồn, ngay từ khi còn ít tuổi" Từ những cuốn sách đầu tiên của cha, cậu bé

Trang 25

Vĩnh Sước đã mở rộng “thư viện nhỏ” của mình bằng nguồn sách bổ sung từ việcdành dụm số tiền ít ỏi mẹ cho 5 xu mỗi sáng ăn quà để mua sách Anh say mê đọc ởbất cứ nơi đâu Sách theo anh suốt cuộc đời, là hành trang không thể thiếu Anh nhớsách như nỗi nhớ của người yêu nhớ người yêu Những khi thấy lòng nao nao, hoanghoảng, nhà thơ trốn vào “Thư viện sách” gia đình như một kẻ ẩn dật để được độngviên, được tiếp nguồn năng lượng [29].

Học hết cấp I, cấp II, đang học dở cấp III ở Trùng Khánh, lại là con một tronggia đình chỉ có hai chị em, nhưng anh đã "lựa chọn thông minh" [29] với ý thức

"vượt lên số phận" Chàng trai làng Hiếu Lễ nhập ngũ năm 1968 ở Binh chủng Đặccông, chiến đấu ở mặt trận miền Đông Nam Bộ Sống chiến đấu cùng đồng đội,chung chịu những ngày gian khổ, hứng bao mưa bom bão đạn tại vùng đất Lộc Ninh,Bình Phước tưởng như không còn có kẽ hở, có thời gian nào cho thơ ca “len chântới” Tưởng như thơ ca là thứ “xa xỉ”, “phù hoa” không phù hợp với trận mạc, chiếntrận Như người cầm bút cùng thời, anh biết tạm gác những đam mê, biết cầm lòng

vậy, đành lòng vậy, nén lại “cái tinh tế cỏ hoa”, tạm thời chưa dám nghĩ đến thơ

phú… nhưng chính thời điểm cuộc chiến tranh khốc liệt của đế quốc Mỹ của nhữngnăm 70 của thế kỷ XX ấy dường như đã “kích hoạt”, “châm ngòi”, dung dưỡng, tạonên một hồn thơ cho chàng lính trẻ đặc công Khởi nghiệp con đường thi ca với cái

tên Hứa Vĩnh Sước và trình làng hai bài thơ đầu tiên Bếp nhà trời và Dáng một con sông in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội (số 6 năm 1973) Dù sau này khẳng định

một lối đi riêng, một phong cách cá nhân với một gia tài thi ca “săn chắc, vạm vỡmang hồn làng” thì thời đầu thơ anh vẫn không thể khác giọng thơ chung hào sảngvốn đã chi phối cả một thế hệ sáng tác:

“Câu hát thiêng liêng lắm chứ Hát bây giờ còn để hát mai sau”

Trang 26

Tuy không là ngoại lệ cùng “dàn đồng ca”, nhưng chỉ sau các tập Lửa hồng một góc, Lời chúc, Đàn then, anh đã sớm tạo ra tiếng nói riêng, không nhòe lẫn “có

sự bồi hồi dân tộc đặc trưng và có sự khao khát chiếm lĩnh đỉnh cao”.

Niềm say mê con đường học vấn đưa anh đi xa hơn trên con đường đã chọn

Anh luôn tự nhủ “Cái ta biết chỉ như một giọt nước Cái ta chưa biết là biển cả mênh mông” Trên giá sách của anh luôn gắn một câu khẩu hiệu “Luyện mãi sẽ thành thép” Với tinh thần ấy, khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, việc

đầu tiên anh lính đặc công nghĩ tới là tiếp tục trở lại con đường học vấn dang dở khi

mình và bạn bè cùng trang lứa tình nguyện “Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”.

Từ mặt trận Đông Nam Bộ trở về làng ngoài chiếc “ba lô con cóc to bè trên lưng”,

Hứa Hiếu Lễ (một bút danh khác của Hứa Vĩnh Sước) khuân về một tải sách nặng.Anh gặp cha và đứa cháu ở chợ Người cha đứng lặng, trân trân nhìn con ậng nướcmắt Một nỗi xúc động dâng trào khi người con trai duy nhất của ông may mắn sốngsót trở về, lại mang theo một hành trang sách…Bà con làng Hiếu Lễ đến chia vui vớigia đình và rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh bộ đội từ miền Nam ra không mangkhung xe, radio, ti vi, máy lạnh…như nhiều người thời đó, mà ngoài con búp bê

“biết khóc, biết chớp chớp mi” cho đứa cháu thì… chỉ có sách Thầy Hứa Văn

Cường có dạy chữ Nho nên hiểu hơn ai hết sự quý giá từ sách mang lại và rất hàilòng về con trai mình Nguồn sách ấy theo Hứa Vĩnh Sước, chắp cánh tình yêu văn

chương cho “Người trai làng Hiếu Lễ”, hối thúc anh hiện thực hóa tình yêu ấy và

anh đã chờ vào học Trường Viết văn Nguyễn Du Không để thời gian nghỉ, trongkhoảng thời gian chờ đợi, năm 1976, anh vào học ngay Trường Điện ảnh Việt Nam.Năm 1982, niềm mong ước mới được thỏa nguyện khi là học viên trong danh sáchcuối cùng của Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa II, 1982-1985) Anh say mê tiếpthu nguồn tri thức từ thầy, không quên học hỏi những bạn văn chương ở các vùngmiền đất nước như: Pờ Sảo Mìn, Phạm Ngọc Chiểu, Đức Ban, Trần Quốc Thực,Phùng Khắc Bắc, Thanh Kim, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Trác, Phạm Đức… Năm 1985,

Trang 27

“Người trai làng Hiếu Lễ” đang dự trại sáng tác Đại Lải chuẩn bị hoàn thành tác

phẩm tốt nghiệp trường Đại Học Viết văn Nguyễn Du thì tai họa bỗng đâu ập đến,gắn anh với căn bệnh hiếm thấy: viêm dây thần kinh mạng nhện Quê hương xa xôi,gia đình neo người, vợ anh một nách 2 đứa con thơ nhỏ dại, một mình anh chốngchọi với căn bệnh mà phần lớn bệnh nhân mắc bệnh đó đều để lại dị tật Những lúckhó khăn nhất anh đã không đơn độc Suốt 3 tháng điều trị tại Khoa Thần kinh(Bệnh viện Bạch Mai), thầy cô giáo và bạn bè văn chương đã tận tình chăm sóc,giúp đỡ Người “phục sinh” sự sống, mang đôi chân cho anh thoát khỏi tình trạngnằm bất động, đứng lên từ xe lăn chính thầy Nông Quốc Chấn lúc đó giữ cương vịThứ trưởng Bộ Văn hóa kiêm Hiệu trưởng Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội vàTrường Viết văn Nguyễn Du Thầy trực tiếp làm việc với Ban Giám đốc Bệnh viện

để tìm loại thuốc tốt nhất để cứu cậu học trò của đất Trùng Khánh xa xôi Với tinhthần cố gắng vượt lên số phận, với niềm tin mãnh liệt thôi thúc, vịn câu thơ như vịntin yêu, anh đã khỏi bệnh, trở lại trường, tiếp tục dự thi tốt nghiệp Dẫu bước đi

không còn vững chắc như chàng lính đặc công “đạp muôn ngàn gai sắc” năm xưa và

phải chấp nhận bước đi lệt rệt, chậm chạp, có phần khó khăn, nhưng anh luôn biếtcám ơn số phận, cám ơn cuộc đời đã cho anh hạnh phúc được đi trên chính đôi châncủa mình, để vẫn được làm thơ Anh đã từng tự giễu dáng đi “lệt dệt”, “vòng kiềng”

rất độc đáo của mình chả khác gì “hai chiếc que rang lạc” một cách dí dỏm [29]

Năm 1986, anh về nhận công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin Cao Bằng Trảiqua nhiều vị trí công tác, với uy tín chuyên môn, chỉ trong thời gian ngắn, từ một cán

bộ chuyên viên, qua Phó phòng, lên Trưởng phòng và 2 năm (từ 1991-1993) ôngđảm nhận cương vị Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Cao Bằng Hứa VĩnhSước hiểu hơn hết trách nhiệm của người cán bộ lãnh đạo ngành văn hóa đối vớiviệc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của vùng đất đặc biệt nơi địa đầu Tổquốc, nằm ở phía Đông Bắc, từng là kinh đô, có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa

và những truyền thuyết dân gian độc đáo Anh thấu hiểu lịch sử Cao Bằng gắn liền

Trang 28

lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước.Vùng đất này thế kỷ XI trở thành trung tâm của quốc gia "tự trị" Trường Sinh, có khilấy quốc hiệu Đại Nam, thủ phủ đặt tại Nà Lư, với các thủ lĩnh đứng đầu là cha conNùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao Đến cuối thế kỷ XVI, khi nhà Mạc thất thế bỏ ThăngLong chạy lên miền ngược đã chiếm cứ Cao Bằng, thiết lập nên vương triều riêng,tách hẳn khỏi sự quản lý của chính quyền Lê - Trịnh Gần 100 năm, các vua nhàMạc vừa chống chọi với nhà Lê, vừa xây dựng Cao Bằng trở thành một trung tâmchính trị, quân sự, văn hóa và kinh tế Chỉ sau khi nhà Mạc bị tiêu diệt, Cao Bằngmới đổi thành một trấn, rồi một tỉnh biên giới Tiếp nối dòng chảy lịch sử, Cao Bằngvẫn mang sứ mệnh "phát sáng" để ngày 08/02/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đườngcứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc và nơi đặt chân đến đầu tiênchính là Cao Bằng Từ đó, vùng "địa linh" này trở thành một căn cứ địa, một “thủ đôkháng chiến” với Pác Bó, Rừng Trần Hưng Đạo, Đông Khê, Lam Sơn…Nơi hội tụtinh hoa trí tuệ và khí phách của những người con ưu tú cho đất nước: Những nhânvật trấn thủ biên cương (Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Tông Đản, Nùng Trí Viễn,Hoàng Lục…); thủ lĩnh tiểu phỉ trừ gian bảo vệ bản làng (Bế Nguyên Luận, ThangTrường Hợp ); danh nhân văn hóa, danh y tài giỏi (Hoàng Quỳnh Vân- Vua Ca

Đáng, Bế Văn Phùng -Trạng Tư Thiên, Bế Hựu Cung - tác giả sách Cao Bằng thực lục, Trần Quý - Trần Kiên…; những tướng lĩnh (Vũ Đức - Hoàng Đình Giong, Nam

Long, Đàm Quang Trung, Vũ Lăng, Vũ Lập… từng là những thành viên sáng lậpĐội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; những người con quả cảm, sáng tạo (LaVăn Cầu, Bế Văn Đàn, Kim Đồng, Hứa Văn Khải ) [29]

Sau khi ra mắt những tập thơ Người núi Hoa, Tiếng hát tháng Giêng, Lời chúc từ 1993, anh được tổ chức phân công đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội văn

học Nghệ thuật Cao Bằng cho đến năm 2002, rời Cao Bằng về Hà Nội tham gia BanChấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa VI)

Trang 29

Với quan niệm, “Văn chương là một việc làm trả ơn những người sinh thành

và nuôi dưỡng mình”, hơn 30 năm qua anh không ngừng lao động sáng tạo, đến nay

Y Phương đã có khối lượng tác phẩm đồ sộ, gồm một tập kịch Người núi Hoa (1982); tám tập thơ, trường ca: Tiếng hát tháng Giêng (1986), Lời chúc (1987), Đàn then (1996), Chín tháng (trường ca, 1998), Thơ Y Phương (2000), Thất tàng lồm (Ngược gió, song ngữ Tày-Việt, 2006), Đò trăng (2009), Bài hát cho Sa (2011); hai tập tản văn Tháng Giêng – tháng Giêng một vòng dao quắm (2009) và Kungfu người

Co Xàu (2010) Hiện anh đã hoàn thành bản thảo cuốn tản văn Fừn Nèn – Củi Tết gửi nhà xuất bản; tiếp tục hoàn thiện bản thảo thơ song ngữ Vũ khúc Tày – Tủng Tày, tập thơ Hoa quả chuông- Bjooc ăn lình [29].

Quá trình lao động nghệ thuật miệt mài đã giúp Y Phương dành được nhiềugiải thưởng: Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội 1984; Giải thưởng loại

A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ Tiếng hát tháng Giêng; Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc – Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Lời chúc; Giải B của

Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam, Giải B của Bộ

Quốc phòng với trường ca Chín tháng (2001) Và năm 2007, Người trai làng Tày đã

vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật Năm 2010 với tản văn

Tháng giêng tháng giêng một vòng dao quắm anh nhận được giải thưởng của Hội

nhà văn Việt Nam

1.3.2 Tản văn của Y Phương trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại

Từ khi ra đời đến nay, tản văn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhữngđặc điểm và sự vận động khác nhau Trong vài ba thập niên gần đây, tản văn cónhững khởi sắc, mở rộng phương diện đề tài (tiếp cận vấn đề từ góc độ văn hóa), và

cách thức biểu hiện Tiến sĩ Lê Trà My có nhận định rằng “Môi trường văn hóa thế

kỉ XXI có nhiều điều kiện khuyến khích những thể loại ngắn gọn, hàm súc biểu hiện những ý tưởng mới lạ, độc đáo, tiềm tàng khả năng dung hợp và có độ co giãn lớn

Trang 30

như tản văn phát triển” [50, 126] Trong thời kỳ bùng nổ thông tin toàn cầu như

hiện nay, sự ngắn gọn, hình thức biểu đạt phong phú, cái tôi cá nhân được đề cao –những đặc trưng là những thế mạnh riêng của thể loại tạo nên sức hút mạnh mẽ củatản văn với mọi lứa tuổi

Hai tập tản văn “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm” và “Kungfu người Co Xàu” của Y Phương luôn bám sát những vấn đề thiết yếu của đời sống.

Tản văn góp phần hoản chỉnh sự nghiệp văn chương của Y Phương, cho thấy đây làmột tài năng đa dạng, có sức sáng tạo bền bỉ, không bao giờ lạc hậu với thời cuộc.Mỗi thiên phát hiện một hiện tượng, nêu một vấn đề, khắc ghi một hình ảnh, khêugợi một suy nghĩ… khiến tâm hồn độc giả rung động, phong phú, thích thú, biết chú

ý đến những vấn đề tinh tế có ý nghĩa ở xung quanh ta Tản văn của Y Phương tìm

về khai thác bề sâu tâm hồn và tầm cao tư tưởng lịch sử, văn hóa, truyền thống dântộc, thể hiện nỗi xót xa trước sự mai một của bản sắc văn hóa dân tộc…

Chương 2 BẢN SẮC VĂNHÓA DÂN TỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG

Trang 31

Y Phương sinh ra và lớn lên, sống gắn bó với núi rừng, tâm hồn anh đượcdung dưỡng trong không khí văn hóa của dân tộc Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sốngcon người vùng cao với những phong tục tập quán đã được nhà văn dựng lên nhưmột tấm gương phản chiếu chân thực sinh động, phong phú mang đậm bản sắc vănhóa dân tộc.

2.1 Bức tranh thiên nhiên núi rừng

Trong bài thơ Quê hương, nhà thơ Đỗ Trung Quân viết:

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người”

Quê hương, hai tiếng thân thương mà bình dị ấy đã trở thành nguồn cảm hứng

vô tận cho các nhà văn, nhà thơ Với tình yêu tha thiết, nhiều cây bút đã dành choquê hương mình những trang viết đầy xúc động để rồi qua thời gian, qua thăng trầmcủa cuộc sống khi họ nhìn về quê hương, những gốc cây, ngọn cỏ, những dòng sông,cánh đồng, núi rừng… như một điểm tựa để nhớ, để yêu

Quê hương đối với Y Phương là những kỷ niệm xưa – nay, những hình bóngquen thuộc gần gũi sống động đáng yêu trong một con người Vì thế, quê hương đốivới anh bao giờ cũng có thần, có hồn của nó Khi viết tản văn, mặc dù Y Phương đãđược “bứng ra khỏi vùng Tày” như anh thừa nhận (sinh sống và công tác ở Hà Nội),

xa mảnh đất quê hương, nhưng sự hồi tưởng của người con khi rời xa khỏi “chânđèn”, nhìn về “chiếc đèn” quê hương, bản làng lại rõ hơn, thấm thía hơn bao giờ hết

Trang 32

Vì thế, trong tản văn, Y Phương đã viết về quê hương Cao Bằng, vùng đất TrùngKhánh thật sâu sắc, ấm áp với bao tình cảm mến thương, da diết, sâu lắng của ngườicon tha hương Người đọc vì thế mà được đi “du lịch tại chỗ” qua những trang tảnvăn giàu chất thơ, thấm đẫm tình yêu quê và thấy Cao Bằng rất gần gũi, thân thuộc.

Viết về thiên nhiên núi rừng quê hương, Y Phương tập trung khắc họa bứctranh cảnh vật mang đặc trưng riêng của vùng núi Cao Bằng Anh say sưa viết về núirừng như ngọn nguồn của sự sống với màu sắc tươi sáng, vô cùng sinh động và trànngập chất thơ

“Vào rừng trúc, bạn sẽ thấy cây mọc là là Dù chúng mọc trong môi trường

tự nhiên, nhưng chúng trật tự và ngăn nắp Bạn sẽ được tắm tia nắng sớm chiếu qua Ánh sáng tạo thành một rừng trúc lung linh màu vàng rơm Đi trong màu vàng rơm bạn sẽ thấy mình gày và cao ngẳng Đó còn là vẻ đẹp mà tự nhiên ban tặng cho loài trúc Nếu nhìn từ xa, rừng trúc như đàn gấu xanh khổng lồ, chúng đang lin lít ngủ đông Ôi những chú gấu ngủ đông, thỉnh thoảng lại rít lên từng cơn, để đùa lại ông trời”.

Y Phương rất chú ý miêu tả đặc trưng của rừng trúc: “Cây trúc mọc tươi tốt ở vùng rừng núi Nguyên Bình, Thông Nông của tỉnh Cao Bằng Thổ nhưỡng ở đây là núi đất nâu, lẫn đá thạch anh Mưa lâu không bị ủng Nắng nhiều không bị mất nước Hanh khô mãi mà đất không bị bong thành bụi Núi ấy phù hợp với cây trúc sào…Núi trúc ở đây, có độ cao trung bình từ tám trăm đến một ngàn mét, so với mặt nước biển Núi nọ cầm tay núi kia đi mãi, đi hoài Đi hết cuộc đời người cha, sang cuộc đời con đến cuộc đời cháu, chắt, chút, chít… vẫn quẩn quanh núi trúc… Trong rừng trúc, hầu như không bao giờ có thú lớn Chỉ cần nghe lá trúc reo, là hổ báo với lợn rừng tự mình mềm oặt Cả chân tay, lẫn dáng vẻ oai phong lẫm liệt đều bị triệt tiêu Thi thoảng có vài con dúi, con chồn hương, con chim trĩ đi quá giang để về rừng già tìm nơi trú ngủ Nhưng muỗi vằn và dĩn đực nhiều như trấu vãi Chúng kêu ong ong, inh inh suốt ngày đêm” (Chiếu trúc nhìn ta).

Trang 33

Đến với “Rừng dẻ nằm trong tổng thể khu du lịch, thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, làng Tày Khuổi Ky…” (Về Trùng Khánh mà nghe hạt dẻ), người đọc

sẽ choáng ngợp bởi màu xanh của bầu trời, tán rừng

Y Phương viết về rừng trám một cách tự nhiên với những liên tưởng độc đáo

thú vị: “Trám quý và ngon là bởi nó được chưng cất từ hồn vía đất đá núi non quê nhà Giống cây này người ta trồng mà cứ mọc hoang trên núi Trồng xong một thời gian là nó lớn, và lớn rất nhanh Thân cây gốc tròn cao to, trông nở nang lực lưỡng như những chàng dũng sĩ Nhưng bên trong gỗ cây trám lại xốp rỗng, thể như hang động… Đến mùa cây ra hoa làm quả, toàn thân nó phát ra mùi đực cái Khiến cho muôn loài côn trùng xa mấy cũng tìm đến Chúng bâu đầy lên lá lên hoa Cứ mải mê

rủ rỉ rù rì hút hương, vô tình chúng đã thụ tinh cho trám Thế rồi trám mang thai Trám râm ran sướng như người Nhìn dáng cây bờ phờ mệt mỏi, bởi chúng dồn hết niềm vui xuống gốc Gốc cây to như cột đình Cành lá lặc lè, đung đưa niềm kiêu hãnh của người sắp được làm mẹ” (Trám cũng mang thai).

Đọc tản văn của Y Phương, người đọc như bị hút theo những vòm hang trong

lòng núi, những thung lũng nằm lọt thỏm giữa những dãy núi: “Cái vòm hang trong lòng núi Phja Phủ, ấm áp khi đông về, mát rượi khi hè tới Dù lúc này ngoài trời, có thể nóng tới 39 - 40 độ Cái sự mát ấy không thể tả được Nó đê mê Nó sướng từ ruột hang lan tỏa ra Hơi mát phủ từ đỉnh đầu, dìu dịu rót xuống đến gang bàn chân Mát từ khe đá, hõm đá đến chứ chẳng vội vàng mát… Những chú chim tím biếc Chúng làm tổ trên vách đá cheo leo Mấy ả bướm vàng, bướm trắng, bướm xanh Chúng nó đậu ở khắp nơi Đàn bướm cứ rập rờn khép mở, đẹp như trong vườn treo Babylon” (Lão Mòn đi đâu rồi); “Lũng Pác Nạo nằm lọt thỏm giũa những dãy núi đá vôi Núi đứng sừng sững như chọc lên ông trời Ngọn núi nào cũng nhọn hoắt, cao vời vợi” (Còn có một cái Tết Vía trâu); “Từ lòng núi Bo Thang nước chảy như đùn Nước đến đâu người dân gieo cải xoong tới đó Cải xoong bồng bềnh tươi tốt trên mặt nước” (Dân Co Xàu hát woàng dzà).

Trang 34

Hình ảnh con sông quê hương đã in sâu vào trong tâm trí mỗi người dân ViệtNam, là nguồn cảm hứng vô tận của rất nhiều nhà văn, nhà thơ Ta bắt gặp trên văn

đàn hình ảnh dòng sông Đà “tuôn dài như một áng tóc trữ tình; đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai” trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bút ký

Ai đã đặt tên cho dòng sông dòng sông Hương đã miêu tả “như một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoang dại”… Còn vẻ đẹp của con sông quê hương hiện lên trong tản văn Y Phương một màu “xanh ngăn ngắt”- “màu xanh như rêu dưới đáy sông” Đó là sự kết hợp sắc xanh của trời và màu xanh của lá rừng, cái chắc khỏe của đá: “Dưới đáy sông có biết bao hòn đá cuội Hòn to Hòn nhỏ Hòn dẹt Hòn tròn Hòn màu xanh dương Hòn vàng như vỏ quýt Hòn đỏ như tiết dê Hòn đen tuyền như hột nhãn… Đẹp thật Qủa là đẹp mê hồn Những hòn đá nhỏ như viên bi Nói chính xác đó là những đóa trầm tích Hàng triệu năm mới có Phải đến ty tỷ đá núi bị nước bào mòn mới được một hòn đá cuội Cái vỏ xấu xí ngang ngạnh của đá bị nước bào dần, qua hàng thiên niên kỷ Đến một ngày, sắc đẹp của đá mới lộ ra Đấy là điều bí mật tuyệt vời nhất của tự nhiên” (Sông bơi),

mới tạo nên được cái màu xanh nên thơ, ngọt ngào đến trong lành của dòng sông

Dòng sông trôi êm đềm có một sức hút vô hình với con người, vì thế hình ảnhcon sông quê hương ấy luôn ám ảnh trong tâm tưởng nhà văn Mặc dù đang sống ở

nơi Hà Thành nhưng nhà văn vẫn nghĩ về “những con sông quê đang bơi Bơi từ chân núi Phà Làng tới Thung hoa Thung hoa ngày xưa nở đầy hoa mua tím, bây giờ người ta gọi chệch thành thung lũng Thông Huề Thật tiếc, giá cứ để tên Thung Hoa thì đẹp biết bao Thông Huề là gì nếu không có con sông Bắc Vọng chảy qua Nước sông Bắc Vọng xanh như trời Trời dầm trong nước sông cùng với da con gái Nên da trời trắng ngần” (Sông bơi).

Bằng tài quan sát và trí tưởng tượng phong phú, Y Phương đã làm nổi bật lên

vẻ đẹp kì diệu của cánh đồng lúa: “Cánh đồng lúa đã bắt đầu bén rễ Lúa như

Trang 35

những đứa trẻ sơ sinh hãy còn loe hoe lông măng Tã óm lỏng lẻo hở cả rốn ra ngoài Chúng giơ tay giơ chân quều quào khua lên trời Lúc nào lá cũng đạp nọc nạch, tung tinh rối rít Gốc lúa nhả ra chữ o chữ ô ấm áp, tạo thành những âm tiết giản đơn, nhưng thiêng liêng đoạn đầu cuộc đời Sao có người bảo đây chính là tiếng ếch ộp gọi bạn tình Chắc phải như thế rồi Thảo nào gió cứ lay nhay sung sướng Gió đứng dạy từ mặt ruộng Nó mang theo mùi bùn non Bùn non sánh như sữa đặc”; “Chẳng biết lúa ngủ vào lúc nào Ngày cũng như đêm, khi đi ngang qua cánh đồng, tôi đều nghe tiếng lúa non chóp chép Lúa non bú ruộng Cả cánh đồng bay lên, dâng lên mùi bùn non Bùn đượm sương đêm nắng sớm Nên váng bùn tụ thành những quầng Bùn cũng có vòng đời Bùn bao quanh gốc lúa” (Còn có một

cái Tết Vía trâu) Bức tranh cánh đồng lúa được nhà văn phác họa bằng hệ thốngngôn từ giàu tính tạo hình với những đường nét tinh tế, mềm mại, uyển chuyển đãđem đến cho người đọc những cảm xúc, những ấn tượng đặc biệt gần gũi mà thânthiết

Y Phương đã say sưa ngắm cảnh quê hương mình khi hoàng hôn buông

xuống: “Chiều quê tôi sánh vàng như mật Đấy là thời khắc ve ran như sôi Lá rừng thiêm thiếp” (Về Trùng Khánh mà nghe hạt dẻ); “Bóng núi xanh đổ xuống vá sắp kín cánh đồng” (Sông bơi)…

Viết về cảnh sắc thiên nhiên quê hương với Y Phương là cuộc “hành hương”thiêng liêng Trước thiên nhiên, Y Phương luôn bày tỏ niềm thành kính ngưỡngvọng, trong lòng luôn trĩu nặng ơn Đất, ơn Người Tản văn của Y Phương luôn đằmsâu trong những cảm xúc mà thiên nhiên đóng vai trò là nguyên cớ đánh thức tâm tưcon người và bạn đọc Cảnh sắc thiên nhiên trong những trang viết của anh hiện lênvới những dáng nét thân thương của dân tộc Qua đây, ta thấy được phần nào sự tinh

tế của nhà văn trong cách cảm và cách thể hiện sự hiểu biết, cảm xúc của mình trước

vẻ đẹp của thiên nhiên

2.2 Đặc trưng phong tục tập quán

Trang 36

Phong tục “là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo” [73, 143] Cùng với thời gian, các

phong tục tập quán đã thấm sâu vào máu thịt, vào đời sống sinh hoạt của họ và tạonên giá trị văn hóa tinh thần khá ổn định Nó quy định và chi phối mọi hành vi ứng

xử của con người đối với tự nhiên, xã hội và nó đã làm nên bản sắc văn hóa đặc sắccủa mỗi dân tộc

Mỗi một nhà văn khi cầm bút đều ý thức rất rõ bản sắc văn hóa dân tộc và thểhiện nó ở nhiều phương diện khác nhau Nhiều nhà văn đã rất thành công với nhữngtrang viết về phong tục tập quán đồng bào các dân tộc Tày, Mông, Thái ở Tây Bắcnhư các nhà văn: Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân…Theo dòng chảy văn chương đó, tản văn Y Phương cũng đã ghi dấu bản sắc văn hóaTày với những nét phong tục tập quán độc đáo, đặc sắc

2.2.1 Dấu ấn văn hóa trong ngày Tết

Văn hóa Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo cho dân tộcTày một kho tàng văn hóa phi vật thể giàu có về phong tục tập quán, tín ngưỡng, vănhọc – nghệ thuật với những lễ, tết cổ truyền đậm đà bản sắc dân tộc

Theo phong tục của người Tày hầu như tháng nào cũng có tết, nhưng Tếttháng Giêng là Tết to nhất (Tết anh cả) với sự chuẩn bị công phu và sự đón chờ từ

nửa năm trước “Tết tháng Giêng hẹn từ tháng Bảy” Bở thế, “ngay từ sau rằm tháng Bảy, lá gói bánh gai chưa kịp héo, họ lên kế hoạch cho từng tháng, chuẩn bị thức

ăn, đồ mặc cho cả nhà Tháng Chín tháng Mười vào rừng kiếm củi, đun nồi bánh chưng, cất lô rượu gạo Tháng Một bện rơm lót gường, làm ghế cho khách ngồi, Tháng Chạp ủ muối cỏ khô, rơm khô dành cho trâu bò ăn… tháng Bảy, tháng Tám,

họ trồng dưa cải đắng, đậu đũa, đậu dải áo, đậu cô ve, đậu Hà Lan… Còn bọn con gái thì lo đi xin vải vụn, Những mảnh vải xanh, đỏ, tím, vàng để chắp mâm quả còn”.

Trang 37

Câu ca “Vui như tết, nhạt như bơi, tả tơi như hội” là “mẫu số chung” của các

vùng cư dân, các dân tộc Không khí ngày tết vui nhộn là điều không lạ: “Từ hai tám, hai chín Tết, người ta đua nhau eng éc mổ lợn… Các chị khẽ khọt quẩy thùng tôn, lách qua làn khói trắng, lần lần xuống bến nước” Trong Tết tháng Giêng, người Tày có tục cư xử rất riêng với ý niệm thiêng liêng: “Sáng mùng một, nhà nào cũng cắm cành bưởi lên hai bên cánh cửa để trừ tà Đun một nồi nước lá thơm, xông hương ban thờ Hơi nóng bốc lên, các bậc tiền nhân tắm gội Chủ nhà đội khăn xếp áo, thắp những nén hương đầu tiên trong ngày, ngày đầu tiên trong năm.

Họ trình báo lên ông bà cụ kỵ rằng mùa xuân đang đến cửa rồi Chúng con thỉnh mời tổ tiên xuống trần gian vui Tết

Mùa xuân là đứa trẻ sơ sinh Vì thế, ngày này người ta kiêng nói to, hoặc bẳn gắt Trong nhà không được làm ồn Không phơi phóng Không quét tước Không sang nhà người khác Ai cũng nở nụ cười vui vẻ thường trực Ai có lỡ tay làm vỡ cốc chén, nhỡ miệng nói tục, ông bà, cha mẹ cũng không lừ roi mắng mỏ”.

Khác với quan niệm phổ biến của nhiều người, nhiều nơi kiêng kị đàn bà, congái xông đất, xông nhà, nhà văn Y Phương lại khai thác phong tục rất riêng của dân

tộc mình trong ngày Tết: “Nhà ai có khách là đàn bà con gái đến chúc tết đầu tiên, năm ấy sẽ ăn nên làm ra, mua một bán mười Bởi đàn bà con gái là giống má Là mùa màng Là no ấm Mùa màng đến xông đất thì còn gì may mắn bằng” Giao lưu tiếp biến với văn hóa dân tộc Kinh “Mồng Một tết cha-Mùng Hai tết mẹ-Mùng ba tết Thầy”, vùng Tày có cái náo nức đi tết đầu năm “Ngày mồng hai, bầu đàn vợ chồng, con cái sang chúc Tết ông bà nội ngoại… Ông bà vui như trẻ lại vài chục tuổi Móc túi mừng cho mỗi đứa một bao lì xì”; “Ngày mồng ba Tết, mọi người ra khỏi làng Tham gia các trò chơi đấu vật, kéo co, đua ngựa, múa chim nộc niệc Đàn ông, chơi

cờ tướng Đàn bà ném còn, chơi cầu lông gà, thêu thùa, may vá, gấp chim, tỉa hoa, xén lông mày Trẻ con đánh khăng, đánh đáo, bịt mắt bắt dê, chơi trận giả Còn các

bô lão thì ra đường sưởi nắng” (Tết anh cả)…

Trang 38

“Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”

Tết Tảo mộ (ngày mồng Ba tháng Ba hàng năm) còn gọi là Tết “Bươn slam,

so slam”, là một phong tục truyền thống không chỉ có riêng dân tộc Tày mà của cả dân tộc Việt: “Đó là ngày mở cửa hồ Người dương được gặp lại người âm, trong niềm nhớ thương vô hạn”; “diễn ra giữa tiết trời ấm áp, khí núi thanh sạch, lòng người thanh thản” Trong ngày này, “Con cháu dù đi làm ăn nơi xa, cũng lặn lội tìm về nguồn cội… Đến ngày Tảo mộ vắng mặt, lập tức bị người làng cười chê Người anh em trong họ mạc trách mắng Người trong nhà bực tức và giận giữ Cả năm có một ngày gặp lại Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thế mà chẳng thấy tăm hơi đâu”.

Cúng giỗ ông bà tổ tiên đã khuất là biểu hiện của văn hóa tâm linh còn tồn tạiđến thời hiện đại Có thể thấy đây là nét đẹp văn hóa cần được giữ gìn và phát huy

để hướng về cội nguồn Cỗ tết tảo mộ của dân tộc Tày Nùng không thể thiếu xôi ngũsắc: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen… Đó là sản vật cao quý, dùng để cúng tiến tổ tiêntrong ngày Tết tảo mộ, ngoài xôi ngũ sắc còn có bánh gai, bánh dày nhân trứng kiến,món thịt lợn sữa quay nhồi lá mác mật, món cá trầm hương rán vàng, đậu phụ nhồithịt, gà trống thiến luộc bằng đinh, măng vầu hấp thịt nạc trộn nấm hương Mâm cỗ

cúng phải đầy đủ các món kể trên: “Cúng xong cả họ ngồi quây quần thụ lộc Người

âm nhìn người dương ăn uống Thấy con cháu ăn khỏe, ham học, ham làm, biết kính trên nhường dưới Hồn người âm lấy đó làm mừng”…(Thanh minh trong tiết tháng

ba)

Tết Hạ chí nhằm đúng vào ngày nóng nhất, trong tháng nóng nhất của năm:

“Đây là cái Tết biện ra để đánh chén Trong nhà chỉ có thắp hương, bày bánh gio, đĩa hoa quả cúng tổ tiên” Trong ngày này, người dân lại tổ chức ăn đụng thịt chó:

“Cứ đến Tết Hạ chí, họ lại rủ nhau đi khắp làng, lùng mua chó, lôi về xả thịt”; “cả năm chỉ có một ngày được ăn thịt chó Người biết cách chế biến, họ nhìn chó ra món nhựa mận, món dồi, món luộc, món nướng… Nhưng ngon nhất theo tôi, vẫn là

Trang 39

món thập cẩm ninh nhừ với lá mác mật, nghệ vàng Nồi thịt chó ánh lên màu mật ong sánh đặc Gắp miếng thịt đằm xuống, cong cả đôi đũa Nước thịt cô thành giọt, làm xuýt xoa cái nhìn Mùi nước thịt xực thẳng lên sống mũi”…(Lận đận tình đuôi

cong)

Tết Vía trâu diễn ra ngày 6 tháng 6 âm lịch Có nơi còn gọi là Tết rửa

cày bừa Từ xa xưa người Việt có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp” Người Tày Nùng có câu: “Tuô mò dò pỏ khỏ” Tạm dịch: Con bò giúp đỡ cảnh nghèo Đây là

cái tết trả công cho trâu, bò và trẻ em mục đồng chăn thả coi sóc trâu, bò sau vụ mùa

cày cấy vất vả mọi bề đã hoàn thành “Sau tết này người và trâu bò được hoàn toàn nghỉ ngơi Cày bừa được lau chùi rửa sạch, treo lên vách Cuốc, xẻng, dao phát cỏ được lau chùi hết bùn đất, bôi mỡ trăn chống rỉ, đưa chúng lên gác bếp Chuẩn bị cho vụ mùa sau Trâu bò được thả lên rừng, lấy đá quây lại làm vòng thành cho chúng khỏi nhảy Trâu bò được tự do rong chơi cả tháng” Tết Vía trâu, người ta

không chuẩn bị bánh trái đồ ăn linh đình như cỗ Tết Nguyến đán hay Rằm tháng

bảy “Nhưng cũng đủ rượu nếp cẩm, bún tháng, xôi vò, thịt ngan béo, thịt lợn quay Nhà nào cũng chuẩn bị một con cáy tắc (gà giò) luộc lỹ, dành hẳn cho lũ trẻ chăn trâu Con cáy tắc to bằng hai nắm đấm, vừa đủ cho một đứa bé bảy tám tuổi ăn no”.

Trong ngày Tết vía trâu, người ta dạy sớm làm bún “Sàn nhà nào cũng đầy bún trắng, lá chuối xanh… Họ sắp bún với thịt vịt mang ra cho đồng lúa ăn trước… Nhà nhà gọi nhau bưng mâm ra ruộng, cúng hồn lúa Phải cúng đồng loạt… Ai cũng đội trên đầu một mâm cỗ Trên đó có một con gà luộc Một đĩa xôi

vò Một be rượu gạo Hai bát bún thang Họ thắp hương và lầm rầm khấn” (Còn có

một cái Tết Vía trâu)

Tết Slip Sli – Rằm tháng Bảy là cái Tết nhỡ Nó chỉ đứng sau TếtNguyên đán về quy mô và nghi thức Người Tày Nùng tổ chức ăn Tế Slip Sli từ sángsớm ngày 13, đến trưa ngày 15 tháng Bảy Những ngày này, con cháu về tụ họp ăn

cỗ tết bánh gai thịt vịt với ông bà Trong ngày này “Các chàng rể phải sắm đôi vịt

Trang 40

béo để mang đến nhà, biếu ông bà ngoại Gọi là “pây tái” Đi lễ bố mẹ vợ Theo dân gian Tày Nùng truyền lại, đây chính là cái Tết tưởng nhớ những chiến binh, đã

bỏ mình để bảo vệ sự yên bình cho nhân dân các dân tộc vùng biên ải”.

Tết Rằm tháng Bảy, “người dân Tày Nùng thường làm pẻng tải Như bánh gai Hải Dương của người Kinh Nhưng hình bánh dẹt và dính cặp đôi Bánh

đồ xong, mang ngay để cúng tổ tiên” Ngoài bánh gai, còn có thịt vịt “Chọn những con vịt béo nhất đàn Một con dùng để cúng tổ tiên Một con cúng hồn ruộng lúa Một con cúng vía trâu bò Một con dành hẳn cho trẻ chăn trâu, mang theo ra đồng cỏ… Phần vịt để tiếp khách, thì cứ mỗi mâm ba chú Một chú luộc Một chú sáo măng Một chú quay Tiết canh hãm bằng rượu ngâm mật gấu” (Tết Slíp Sli ăn thịt

vịt)

Tết Cốm thường diễn ra vào đêm rằm tháng tám âm lịch: “Lúa chớm nhú nhí làm mẩy làm no căng tròn từng hạt Đợi cho ba sương nữa qua đi, các mẹ các chị dùng nhắt hái từng bông mang về Họ chọn những bông mới chớm vàng, rõ hạt Nó ngả từ xanh sang màu vàng chanh Bây giờ là lúc người đốt lò rang lúa Lửa liu riu vừa đủ ấm dần đều… Cốm chín vừa tới, họ liền trút vào cối Ba bốn thanh niên lực lưỡng vung chày giã cốm…” (Tết Cốm).

Qua việc điểm Tết: Tết tháng Giêng (Tết anh cả), Tết thanh minh (lễ tảo

mộ 3/3 âm lịch), Tết tháng Năm, Tết tháng Bảy, Tết Cốm nhà văn đã làm nổi lênphong tục đón Tết của người Tày - nét văn hóa đã trở nên cổ xưa rất đáng quý củadân tộc

Tục chơi chữ, thưởng thơ

Trải qua bao biến động của lịch sử, của thời gian nhưng người Việt vẫngìn giữ được những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc trong ngày tết trong đó

có tục chơi chữ thưởng thơ Đối với người Việt Nam nói chung và người Tày ở CaoBằng nói riêng đây là một việc làm mang nhiều ý nghĩa văn hóa, thể hiện sự trọng

Ngày đăng: 09/09/2016, 08:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w