1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế trên sóng đài truyền hình việt nam

59 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 306,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thông tin của công chúng ngày càng đa dạng, phong phú. Công chúng không chỉ cần có nhiều thông tin mà lại còn muốn có nhiều thông tin chuyên sâu về một lĩnh vực. Nắm bắt được nhu cầu thiết thực đó, trong thời gian qua Đài truyền hình Việt Nam đã cho ra đời rất nhiều bản tin chuyên sâu. Ví dụ: Về lĩnh vực kinh tế có “Bản tin tài chính”, bản tin “Việt Nam và các chỉ số”; về lĩnh vực văn hóa có “bản tin văn hóa”; về y tế có “Bản tin O2TV”… Nhiều bản tin trong số đó đã định hình được phong cách, khẳng định chất lượng, thu hút được sự quan tâm, mến mộ của đông đảo công chúng. Cùng với phát triển này là sự trưởng thành của đội ngũ phóng viên của các bản tin. Nhiều phóng viên đã khẳng định được phong cách tác nghiệp chuyên nghiệp. Họ có nhiều kinh nghiêm trong tổ chức sản xuất đặc biệt khai thác, lựa chọn, xử lý thông tin. Song bên cạnh đó cũng có không ít phóng viên còn tỏ ra lúng túng, thiếu chuyên nghiệp trong công việc đặc biệt là trong khâu khai thác, lựa chọn đề tài. Chính điều này đã ảnh hưởng không tốt tới những công đoạn tác nghiệp sau cũng như chất lượng chương trình. Vậy nên việc tìm ra thực trạng, nguyên nhân từ đó đưa ra những kiến nghị hợp lý cho quá trình tác nghiệp đặc biệt là khâu khai thác, lựa chọn đề tài rất quan trọng. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam” (Khảo sát “Bản tin tài chính” và “Bản tin Việt Nam và các chỉ số” trên kênh VTV1 từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2010). làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.. 2. Tình hình nghiên cứu So với báo in và phát thanh, truyền hình Việt Nam ra đời, phát triển rất muộn. Nhưng với hình ảnh và âm thanh sinh động, truyền hình đã nhanh chóng trở thành loại hình hấp dẫn thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và nhiều nhà nghiên cứu. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về loại hình này, có thể chia làm ba nhóm. Thứ nhất, nghiên cứu về góc độ kỹ thuật. Thứ hai, nghiên cứu về góc độ sản xuất tác nghiệp. Thứ ba: nghiên cứu về các thể loại truyền hình, chương trình truyền hình. Nghiên cứu về bản tin, tổ chức sản xuất bản tin truyền hình chuyên sâu có một công trình tiêu biểu: “Quy trình tổ chức và lên sóng chương trình “bản tin O2 – kênh O2TV ban biên tập truyền hình cáp Đài truyền hình Việt Nam.” Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Lan Hương, khoa Phát thanh – Truyền hình, H, 2009 Mặc dù đề tài này có đề cập đến bản tin chuyên sâu nhưng lại về lĩnh vực khác cụ thể là lĩnh vực y tế.; chưa có đề tài nào để cập tới bản tin chuyên sâu về kinh tế. Mặt khác, việc nghiên cứu này ở tầm khái quát đó là nghiên cứu về cả quy trình sản xuất ra bản tin, chứ chưa đi vào một công đoạn cụ thể. Chẳng hạn như khai thác lựa chọn đề tài… Vậy nên có thể nói rằng, góc độ “Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế” vẫn còn là một khoảng trống cần nghiên cứu, bổ sung.

Trang 1

Lời cảm ơn

4 năm qua đi là 4 năm tôi đợc dìu dắt, trởng thành dới mái trờng Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khóa luận tốt nghiệp Khai thác và lựa chọn“Khai thác và lựa chọn

đề tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam”

là kết quả của những năm tháng nỗ lực phấn đấu, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Phát thanh - truyền hình và các cô chú, anh chị đang công tác tại Phòng kinh tế 2 - Đài truyền hình Việt Nam

Qua khóa luận này, tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô khoa Phát thanh - Truyền hình, đặc biệt là cô giáo Đinh Thị Xuân Hoà, ngời đã trực tiếp hớng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình xây dựng và hoàn thành khóa luận này.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các nhà báo Lê Bình - trởng phòng kinh tế 2 và phóng viên Trần Kiên - Phó phòng kinh tế 2 - Ban Thời sự - Đài truyền hình Việt Nam đã giúp tôi hoàn thành khoá luận này Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn tới gia đình, bạn bè, ngời thân - những ngời đã luôn sát cánh động viên, ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua.

Một lần nữa, xin cho tôi đợc gửi đến tất cả mọi ngời lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất!

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên: Vũ Thuý Hà

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thông tin của công chúng ngàycàng đa dạng, phong phú Công chúng không chỉ cần có nhiều thông tin màlại còn muốn có nhiều thông tin chuyên sâu về một lĩnh vực Nắm bắt đượcnhu cầu thiết thực đó, trong thời gian qua Đài truyền hình Việt Nam đã cho rađời rất nhiều bản tin chuyên sâu Ví dụ: Về lĩnh vực kinh tế có “Bản tin tàichính”, bản tin “Việt Nam và các chỉ số”; về lĩnh vực văn hóa có “bản tin vănhóa”; về y tế có “Bản tin O2TV”…

Nhiều bản tin trong số đó đã định hình được phong cách, khẳng địnhchất lượng, thu hút được sự quan tâm, mến mộ của đông đảo công chúng.Cùng với phát triển này là sự trưởng thành của đội ngũ phóng viên của cácbản tin Nhiều phóng viên đã khẳng định được phong cách tác nghiệp chuyênnghiệp Họ có nhiều kinh nghiêm trong tổ chức sản xuất đặc biệt khai thác,lựa chọn, xử lý thông tin Song bên cạnh đó cũng có không ít phóng viên còn

tỏ ra lúng túng, thiếu chuyên nghiệp trong công việc đặc biệt là trong khâukhai thác, lựa chọn đề tài Chính điều này đã ảnh hưởng không tốt tới nhữngcông đoạn tác nghiệp sau cũng như chất lượng chương trình Vậy nên việc tìm

ra thực trạng, nguyên nhân từ đó đưa ra những kiến nghị hợp lý cho quá trìnhtác nghiệp đặc biệt là khâu khai thác, lựa chọn đề tài rất quan trọng Chính vì

vậy, tôi đã chọn đề tài “Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu

về kinh tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam” (Khảo sát “Bản tin tài chính”

và “Bản tin Việt Nam và các chỉ số” trên kênh VTV1 từ tháng 2 đến tháng 5năm 2010) làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

So với báo in và phát thanh, truyền hình Việt Nam ra đời, phát triển rấtmuộn Nhưng với hình ảnh và âm thanh sinh động, truyền hình đã nhanhchóng trở thành loại hình hấp dẫn thu hút được sự quan tâm của đông đảocông chúng và nhiều nhà nghiên cứu Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về

Trang 3

loại hình này, có thể chia làm ba nhóm Thứ nhất, nghiên cứu về góc độ kỹthuật Thứ hai, nghiên cứu về góc độ sản xuất tác nghiệp Thứ ba: nghiên cứu

về các thể loại truyền hình, chương trình truyền hình

Nghiên cứu về bản tin, tổ chức sản xuất bản tin truyền hình chuyên sâu

có một công trình tiêu biểu: “Quy trình tổ chức và lên sóng chương trình

“bản tin O2 – kênh O2TV ban biên tập truyền hình cáp Đài truyền hình Việt

Nam.” Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Lan Hương, khoa Phátthanh – Truyền hình, H, 2009

Mặc dù đề tài này có đề cập đến bản tin chuyên sâu nhưng lại về lĩnhvực khác cụ thể là lĩnh vực y tế.; chưa có đề tài nào để cập tới bản tin chuyênsâu về kinh tế Mặt khác, việc nghiên cứu này ở tầm khái quát đó là nghiêncứu về cả quy trình sản xuất ra bản tin, chứ chưa đi vào một công đoạn cụ thể.Chẳng hạn như khai thác lựa chọn đề tài… Vậy nên có thể nói rằng, góc độ

“Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế” vẫn còn là

một khoảng trống cần nghiên cứu, bổ sung

3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận:

3.1 Mục đích:

Khóa luận tập trung chỉ ra thực trạng việc khai thác, lựa chọn đề tài chobản tin chuyên sâu về kinh tế trên Đài truyền hình Việt Nam, ưu và nhượctrong quá trình khai thác, lựa chọn đề tài; nguyên nhân của những hạn chế, từ

đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của công việc này

3.2 Nhiệm vụ:

Để hoàn thành khóa luận này, cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu và đưa ra những lí luận chung về đặc trưng của bản tintruyền hình chuyên sâu; những tương đồng và khác biệt trong khai thác đề tàicủa bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế với các bản tin khác

- Khảo sát một số “Bản tin Tài chính” và bản tin “Việt nam và các chỉ số” đã phát sóng trên VTV1.

Trang 4

- Gặp gỡ trao đổi với lãnh đạo, phóng viên của 2 bản tin khảo sát đểhiểu về công việc tác nghiệp, quá trình khai thác lựa chọn đề tài.

- Phân tích, chỉ ra thực trạng, ưu, nhược điểm của quá trình khai thác,lựa chọn đề tài của phóng viên 2 bản tin

- Chỉ ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng việc khai thác,lựa chọn đề tài cho các bản tin chuyên sâu…

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng

- Các bản tin chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài Truyền hình Việt

Nam, cụ thể hai bản tin: “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các chỉ số”.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra xã hội học để phân loại đối tượng của các chương trình, nắmbắt nhu cầu, sở thích của từng đối tượng

- Phỏng vấn sâu để thấy rõ quan điểm của khán giả về chương trìnhbản tin chuyên sâu đó, ý kiến của họ

- Phỏng vấn anket cho thấy sự khách quan trong ý kiến của khán giả vàtìm ra xu hướng

- Phân tích, so sánh những thông tin đã có trên cơ sở thực tế, khoa họcmột cách cụ thể, chi tiết và tìm ra nguyên nhân, hướng đến giải pháp nâng caochất lượng

Trang 5

- Tổng hợp, thống kê kết quả của các phương pháp trên để rút ra kếtluận.

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Xác định được nguồn đề tài phục vụ cho các bản tin chuyên sâu

- Tìm ra phương pháp để tiếp cận đề tài, khai thác, lựa chọn và sử dụngnhư thế nào cho hợp lí, hiệu quả

- Thấy được sự khác biệt trong cách khai thác, lựa chọn đề tài cho cácbản tin chuyên sâu về kinh tế với các chương trình bản tin khác Trên cơ sở đórút kinh nghiệm cho bản thân trong việc phải khai thác, lựa chọn đề tài thếnào?

- Góp tiếng nói cải tiến, nâng cao chất lượng việc khai thác, lựa chọn

đề tài cho các chương trình truyền hình nói chung, bản tin chuyên sâu nóiriêng

- Đây là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm

Chương 2: Thực trạng việc khai thác và lựa chọn đề tài cho các bản tin

chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay.(Khảo

sát : “Bản tin tài chính” và “ Việt Nam và các chỉ số”).

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng việc khai thác và lựa chọn đề

tài cho bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế

Trang 6

Chương I

NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ KHAI THÁC VÀ LỰA CHỌN

ĐỀ TÀI CHO CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

1 Một số khái niệm:

Để có một sản phẩm báo chí: có thể là một tác phẩm,1 tờ báo,1 chươngtrình truyền hình đưa đến công chúng, cần rất nhiều nguyên liệu cũng nhưmột quá trình tác nghiệp nghiêm túc với nhiều quy trình của đội ngũ phóngviên Nguyên liệu đầu tiên rất quan trọng phải kể tới đó là đề tài Đề tài lànguồn sống của tác phẩm báo chí Đề tài quyết định nhiều tới chất lượng tácphẩm, sản phẩm báo chí Vậy đề tài là gì?

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đề tài là đối tượng để nghiên cứu hoặc miêu

tả, thể hiện trong tác phẩm khoa học hoặc văn học nghệ thuật” [1, “Từ điểnTiếng Việt” - trang 314], Vì là “đối tượng nghiên cứu” nên không có đề tàithì không có tác phẩm, dù đó là lĩnh vực nào, văn học nghệ thuật hay báo chí.Tuy nhiên, tùy từng lĩnh vực mà đối tượng nghiên cứu hay nói cách khác đềtài phản ánh sẽ khác nhau

Đề tài báo chí là lĩnh vực các sự kiện, hiện tượng, vấn đề trong đờisống xã hội được lựa chọn để phản ánh trên báo chí Trong dòng cuộc sống xãhội không ngừng vận động và biến đổi đó, hàng ngày, hàng giờ có biết bao đềtài, lĩnh vực cần tuyên truyền, phản ánh Có những đề tài có thể dễ dàng nhậnbiết nhưng có những đề tài lại khuất lấp rất khó cho việc phát hiện, lựa chọn.Vậy nên, để có đề tài hay, hấp dẫn đáp ứng được nhu cầu cầu thông tin,thưởng thức của công chúng, luôn cần tới công việc khai thác và lựa chọn củaphóng viên

- Khai thác: là “phát hiện và sử dụng những cái có ích còn ẩn giấu hoặc

chưa được tận dụng” [1, “Từ điển Tiếng Việt”- trang 488]

Trang 7

- Lựa chọn: là “chọn lấy những cái đáp ứng yêu cầu trong nhiều cái

cùng loại, là chọn chiều, hướng, lối sao cho việc làm đạt kết quả tốt nhất” [1, “Từ điển Tiếng Việt”- trang 593]

Khai thác và lựa chọn đó là hai công đoạn của một quá trình làm nênmột sản phẩm báo chí Có khai thác thì mới có cái để lựa chọn Khai tháccàng nhiều thì sự lựa chọn càng phong phú Có sự lựa chọn thì mới có nhữngnguyên liệu - đề tài hay, hấp dẫn phục vụ cho công việc sáng tạo tác phẩmhoặc bản tin, chương trình truyền hình Sẽ không có đề tài hay đồng nghĩavới việc không có bản tin, chương trình hay nếu quá trình khai thác và lựachọn diễn ra cẩu thả, thiếu nghiêm túc

Vậy có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Khai thác và lựa chọn đề tài (cho báo chí, cho truyền hình): là quá trình tìm kiếm, phát hiện sau đó gạn lọc chọn ra sự kiện, hiện tượng,vấn đề có ý nghĩa nhất nảy sinh trong đời sống xã hội mà mọi người còn ít biết đến để phản ánh trên báo chí (tác phẩm, bản tin, chương trình) sao cho đạt hiệu quả tốt nhất”.

2 Vị trí, vai trò của việc khai thác và lựa chọn đề tài.

2.1 Vị trí

Để có một chương trình truyền hình phát sóng dù với thời lượng là 5phút hay một chương trình dài 50 phút hoặc hơn thế nữa thì những người thựchiện chương trình đó đều phải trải qua hai công đoạn sáng tạo tiền kì và hậu

kì Tiền kì có vai trò quyết định rất lớn tới chất lượng khâu hậu kì và tới cảchương trình truyền hình

Khâu tiền kì có rất nhiều công việc cần phải thực hiện trong đó việc xácđịnh đề tài là bước đầu tiên và là công đoạn không thể thiếu trong dây chuyềnsản xuất các chương trình truyền hình Phải có đề tài thì mới có những côngđoạn tiếp theo Có đề tài mới có chương trình truyền hình Nhưng để có được

đề tài cần phải trải qua hai bước quan trọng, không ít khó khăn đối với nhữngngười thực hiện chương trình Đó là khai thác và lựa chọn đề tài Tìm đề tài ở

Trang 8

đâu? Chọn đề tài như thế nào để phản ánh trong vô số những đề tài khai thácđược? Đây là những câu hỏi rất hóc búa, trăn trở không chỉ của những phóngviên mới bước vào nghề mà còn đối với cả những phóng viên lâu năm trongnghề

Một nhà báo lão thành Cách mạng Pháp đã đúc kết: “Viết lời cho mộttác phẩm, một chương trình không khó Cái khó là khai thác và lựa chọn đềtài để thực hiện tác phẩm đó.”

2.2 Vai trò

Cuộc sống luôn vận động, biến đổi không ngừng tạo nên hiện thực sôiđộng, nóng bỏng làm chất chứa, nảy sinh vô vàn sự kiện, vấn đề phong phúnhưng cũng vô cùng phức tạp về cuộc sống, về mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa,

xã hội, chính trị,…Đó chính là môi trường sinh động sản sinh ra đề tài chocác chương trình truyền hình Trong hoạt động sáng tạo của nhà báo, việc xácđịnh đề tài mà cụ thể là khai thác và lựa chọn đề tài chính là quá trình “ gạnđục, khơi trong”, đặc tả hiện thực cuộc sống

Việc khai thác và lựa chọn đề tài cụ thể, rõ ràng sẽ giúp phóng viên xácđịnh được tư tưởng, chủ đề của chương trình Mặt khác, việc xác định đề tàicòn giúp cho nhà báo khoanh vùng được đối tượng, giúp cho việc thu thậpthông tin, thu thập những tài liệu liên quan thuận lợi, phù hợp Đồng thời xácđịnh đề tài còn giúp cho khán giả có cái nhìn cận cảnh, nhận thức rõ ràng nhấtnhững gì đang diễn ra xung quanh cuộc sống của họ Khai thác, lựa chọn đềtài tốt đồng nghĩa với việc chọn được một món ăn ngon, phù hợp với nhu cầu,khẩu vị của người thưởng thức Và ngược lại, việc khai thác, lựa chọn đề tàicho chương trình truyền hình không tốt đồng nghĩa với việc sẽ có một sảnphẩm tồi, thiếu hấp dẫn, không thu hút được sự quan tâm của công chúng

Việc khai thác và lựa chọn đề tài như thế nào còn quyết định hình thứccủa chương trình đó Vì vậy giải thích tại sao với đề tài này phóng viên chỉ

Trang 9

dừng lại ở mức độ đưa thông tin còn với đề tài kia phóng viên có thể sử dụngnhững hình thức khác như bình luận, phân tích, phóng sự,….

Cũng từ đề tài sẽ quyết định nội dung của chương trình Phản ánh vấn

đề gì, phương pháp phản ánh, bố cục, cấu trúc văn phong, chi tiết , sự kiện,sắp xếp các chi tiết để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm

Việc khai thác, lựa chọn đề tài như thế nào còn góp phần quyết định sựphong phú , đa dạng, hấp dẫn của các chương trình truyền hình Đề tài nào thuhút được sự quan tâm của đông đảo công chúng thì đề tài đó sẽ có sức thuyếtphục người xem ngồi lại trước máy thu hình

Bên cạnh đó, việc khai thác đề tài còn quyết định nét riêng, dấu ấn củachương trình Ngoài ra, qua việc khai thác và lựa chọn đề tài ta còn thấy đượctính chuyên nghiệp của phóng viên, của ê kíp làm chương trình trong quátrình tác nghiệp

Tóm lại, việc khai thác và lựa chọn đề tài là một nhiệm vụ cấp bách,quan trọng, không thể thiếu trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình

3 Khai thác và lựa chọn đề tài cho các bản tin truyền hình chuyên sâu

3.1 Chương trình thời sự - Bản tin thời sự - Bản tin chuyên sâu.

Chương trình thời sự - Bản tin thời sự?

Hệ thống truyền hình Việt Nam hiện nay đang tồn tại song song haithuật ngữ: “Chương trình thời sự” và “Bản tin thời sự” Dù ở thuật ngữ nàothì “Chương trình thời sự hay “Bản tin thời sự” đều có nhiệm vụ phát nhữngtin tức thời sự cập nhật nóng hổi mới xảy ra trong ngày Nhưng cần hiểu thuậtngữ này như thế nào?

Ngay cả những người không được học về lý luận truyền hình cũng dễdàng nhận ra, về hình thức chương trình thời sự có quy mô lớn hơn, thờilượng dài hơn, sử dụng nhiều thể loại hơn trong bản tin thời sự Họ cho rằngchương trình thời sự là chính, còn các bản tin chỉ mang tính chất bổ trợ Vậynên nếu nhìn nhận chương trình thời sự là chính, là quan trọng, bản tin thời sự

Trang 10

là phụ là kém quan trọng thì rõ ràng khó thuyết phục đối với những người cóhiểu biết chuyên ngành truyền hình đặc biệt là những người đang tham giasản xuất chương trình thời sự và bản tin thời sự Nói vậy bởi việc thực hiệnchương trình thời sự hay bản tin thời sự quy trình đều như nhau Vậy cần nhìnnhận lại vấn đề này như thế nào?

Trước tiên, nên nhìn nhận chương trình thời sự là một hình thức phátsóng, chứ không phải là một đơn vị phát sóng Mỗi thời điểm phát sóng củachương trình thời sự sẽ là một bản tin Hay nói cách khác, bản tin thời sự làđơn vị phát sóng của chương trình thời sự Nhiều bản tin sẽ hình thành tổngthể chương trình thời sự Có thể hình dung chương trình thời sự giống nhưmột thư mục trong thư viện Nó không trực tiếp chứa đựng thông tin mà chứanhững quyển sách mang thông tin Những quyển sách mang thông tin ấychính là các bản tin

Nếu quan niệm như vậy thì chương trình thời sự 19h như hiện nay sẽkhông gọi là “chương trình thời sự” nữa mà thay vào đó là “bản tin 19h” Nhưvậy thì sẽ tạo nên một mặt bằng với những bản tin phát trong ngày: bản tinchào buổi sáng, bản tin 9h, bản tin 12h, bản tin 16h, bản tin 19h, bản tin tàichính, bản tin Việt Nam và các chỉ số… Khi đó những người tham gia sảnxuất chương trình sẽ có trách nhiệm như nhau trong quá trình tác nghiệp Dù

là bản tin nào đi nữa, về bản chất chúng chỉ khác nhau về thời điểm phát sóng

và nội dung tin tức mà thôi

Trong số những bản tin đang phát sóng hiện nay, có những bản tin ở đó

tin tức chuyên phản ánh về một lĩnh vực ví dụ “Bản tin Tài chính”, “Bản tin Việt Nam và các chỉ số” là những bản tin chuyên về kinh tế; hay “Bản tin văn hóa” - tin tức trong bản tin đó chuyên về lĩnh vực văn hóa….vì vậy để tiện

cho quá trình nghiên cứu chúng tôi gọi những bản tin như thế là bản tinchuyên sâu Và xin đưa một khái niệm như sau:

Trang 11

“Bản tin truyền hình chuyên sâu: là bản tin mà tất cả các tin, bài trong

đó đều tập trung thông tin, phản ánh về 1 lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã hội”.

Bên cạnh những bản tin chuyên sâu còn có những bản tin mà ở đó tintức rất phong phú về nhiều khía cạnh, lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị,kinh tế, văn hóa, thể thao…) Ví dụ, bản tin chào buổi sáng, bản tin12h, haybản tin 16h, bản tin 19 h….Vậy nên, về hình thức có thể gọi đó là bản tin tổnghợp để dễ so sánh với bản tin chuyên sâu

Trên thế giới, việc sản xuất các bản tin chuyên sâu đã xuất hiện từ rấtsớm - những năm 70 của thế kỉ 20 trên các kênh truyền hình lớn như CNN,BBC, NHK,… Với thế mạnh tin tức thời sự kết hợp với thông tin chuyên sâu

về 1 lĩnh vực, những kênh truyền hình đó đã nhanh chóng thu hút được sựquan tâm của công chúng Hiện nay không chỉ có những kênh truyền hình này

có kênh tin tức chuyên sâu mà nhiều nước khác trên thế giới cũng bắt tay sảnxuất những kênh chuyên về tin tức với đa dạng những bản tin chuyên sâu vềcác lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội

Ở Việt Nam, bản tin chuyên sâu đầu tiên về lĩnh vực kinh tế mới được

ra đời từ năm 2006 trên sóng của Đài truyền hình Việt Nam Mặc dù muộn,nhưng bản tin đó cũng đã tạo ra những hiệu ứng tốt, những con mắt nhìn thiệncảm của khán giả dành cho chương trình

Sở dĩ, có sự ra đời của những bản tin chuyên sâu là do nhu cầu thôngtin của công chúng Trình độ dân trí ngày càng cao, nhu cầu của khán giảcũng ngày càng khắt khe hơn Khán giả cần thông tin không chỉ đủ mà cònphải sâu sắc, toàn diện Những yêu cầu đó khó có thể đáp ứng trong một bảntin tổng hợp

3.2 Đặc trưng của bản tin truyền hình chuyên sâu.

Tin tức là một thể loại vô cùng quan trọng trong mỗi loại hình báo chí.Tin tức là thể loại có sớm nhất, được sử dụng nhiều nhất nhằm thông tinnhanh nhất về những sự kiện quan trọng trong đời sống xã hội Với sự pháttriển vượt bậc của khoa học- kĩ thuật, tin tức ngày càng phát triển mạnh mẽ,

Trang 12

phong phú Ở hầu hết các tòa soạn báo, tạp chí hay các đài phát thanh - truyềnhình, thể loại tin luôn chiếm vị trí hàng đầu Tin là chất liệu chủ yếu làm nênbản tin Bản tin truyền hình có vị trí đặc biệt không thể thiếu trong cácchương trình truyền hình Có rất nhiều loại bản tin đã xuất hiện Ví dụ bản tintổng hợp, bản tin chuyên sâu…

Bản tin chuyên sâu và bản tin tổng hợp có những điểm tương đồng, đềumang đầy đủ những đặc trưng của một bản tin nói chung Đó là:

+ Nơi tập hợp của một chuỗi những thông tin nóng hổi nhất, được

nhiều người quan tâm

+ Trong bản tin có thể có nhiều thể loại nhưng trong đó tin là thể loạichiếm đa số

+ Ngôn ngữ ngắn gọn, trực tiếp, dễ hiểu…

Bên cạnh những điểm chung đó, điểm chính làm nên sự khác biệt giữabản tin truyền hình chuyên sâu với những bản tin tổng hợp chính là ở mụcđích thông tin Cả một chương trình bản tin chỉ tập trung vào 1 lĩnh vực , đisâu phân tích, lí giải chi tiết những sự kiện, vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực đó

để đem lại cho người xem cái nhìn toàn diện, cụ thể, thuyết phục về những gìđang xảy ra Chính điểm khác biệt cơ bản này đã dẫn tới một loạt những khácbiệt tác động tới quá trình tác nghiệp của phóng viên hai bản tin Đó là sựkhác biệt về phạm vi đề tài, tính chất thông tin và đối tượng tiếp nhận

- Về phạm vi đề tài: Nếu như trong các bản tin tổng hợp đề tài được

khai thác và lựa chọn từ mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh

tế, chính trị, văn hóa- tư tưởng, giáo dục, y tế, an ninh- quốc phòng từ đó chothấy diện mạo chung của xã hội thì trong một bản tin chuyên sâu đề tài chỉđược khai thác và lựa chọn từ một lĩnh vực chuyên biệt nhằm làm cho khángiả hình dung rõ diện mạo của lĩnh vực đó

- Về tính chất thông tin: Đối với các bản tin tổng hợp, do trong một

chương trình có nhiều đề tài được khai thác từ nhiều lĩnh vực của cuộc sốngsong thời lượng chương trình có hạn nên thông tin thường chỉ dừng lại ở mức

Trang 13

độ thông báo những tin tức nổi bật nhất xảy ra trong 1 lĩnh vực nào đó mà ít

đi sâu phân tích, bình luận cụ thể nguyên nhân, tính chất, diễn biến, kết quảcủa sự kiện

Trong khi đó bản tin chuyên sâu thì ngoài việc thông tin tương đối đầy

đủ về sự kiện, vấn đề trong lĩnh vực, bản tin còn đi sâu phân tích, lí giải chitiết, một số vấn đề quan trọng có tác động lớn đến đời sống xã hội từ nhiềugóc cạnh, giúp cho người xem có cái nhìn thấu đáo, thỏa đáng về lĩnh vực đó

- Về đối tượng tiếp nhận: Đối tượng bản tin tổng hợp mang tính đại

chúng: đa dạng lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ Đối tượng khán giả bản tinchuyên sâu mang tính khu biệt hơn : đó là những người có trình độ hiểu biết

về lĩnh vực, cụ thể, sâu sắc hơn

- Về ngôn ngữ: Do đặc điểm của bản tin chuyên sâu là tập trung đi sâu,

chi tiết vào 1 lĩnh vực cụ thể nên ngôn ngữ cũng mang đặc thù của lĩnh vực

đó với nhiều thuật ngữ chuyên môn Trong khi đó mục đích, đối tượng củabản tin tổng hợp đa dạng vì vậy ngôn ngữ mang tính đại chúng, thông dụng,

để tất cả mọi tầng lớp, vùng miền đều hiểu tiếp nhận thông tin dễ dàng

3.3 Sự khác biệt trong khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin truyền hình chuyên sâu với bản tin tổng hợp

Những đặc trưng của bản tin truyền hình chuyên sâu đã qui định cáchthức khai thác, lựa chọn đề tài riêng

3.3.2 Cách khai thác, lựa chọn khó, mang tính chuyên môn cao

Bản tin tổng hợp có nhiệm vụ thông tin phản ánh mọi lĩnh vực của đờisống xã hội nên nguồn tin phong phú, dồi dào, đó là điều kiện thuận lợi để

Trang 14

phóng viên lựa chọn những đề tài đặc sắc, hấp dẫn cho bản tin của mình.Trong khi đó bản tin chuyên sâu, nguồn cung cấp đề tài bị ràng buộc hạn chếhơn do mục đích chỉ thông tin phản ánh trên một lĩnh vực vì vậy nguồn ít dẫntới việc khai thác, lựa chọn đề tài gặp khó khăn hơn.

Bản tin chuyên sâu cần một khối lượng lớn thông tin mà nguồn cungcấp kém phong phú nên việc khai thác và lựa chọn thông tin, hình thành ýtưởng, đề tài sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều Điều này cũng trở thành sức éplớn đối với phóng viên tác nghiệp trong các chương trình bản tin chuyên sâunếu phóng viên đó không có kĩ năng khai thác cũng như hiểu biết về chuyênngành không tốt

3.3.3 Nội dung đề tài có thể khai thác ở nhiều góc độ.

Nếu như bản tin tổng hợp, đề tài thường được khai thác ở góc độ chungnhất, dễ hiểu nhất bằng hình thức thông báo hoặc phóng sự ngắn để ngườixem có thể hình dung sơ lược nhất về sự kiện, sự việc thì đối với các bản tinchuyên sâu, một đề tài có thể được “mổ xẻ”, phân tích dưới nhiều khía cạnh,nhiều góc độ, nhiều đối tượng khác nhau Từ đó giúp cho khán giả có thể thấybản chất của vấn đề Ngoài ra, đối với các bản tin chuyên sâu thông tin về vấn

đề đó sẽ được liên tục cập nhật hàng ngày, hàng giờ theo diễn biến của vấn

đề cung cấp cho người xem cái nhìn cụ thể, toàn diện, đầy đủ về sự kiện nổibật trong lĩnh vực đó

Ví dụ: Vấn đề tăng giá xăng dầu Nếu bản tin thời sự 19 h chỉ thông báo

cho người xem ngày/tháng/năm sẽ tăng giá xăng, mức tăng là bao nhiêu, ý

kiến của người dân về việc tăng giá thì “Bản tin tài chính” lại có thể đưa tin ở

nhiều góc độ khác nhau: phân tích nguyên nhân của việc tăng giá từ đâu, giádầu thô là như thế nào, thực trạng của việc tăng giá, nhận định của chuyên gia

về tình hình xăng dầu, ý kiến của họ về vấn đề tăng giá và giải pháp; tăng giáxăng dầu ảnh hưởng đến giá cả các mặt hàng, sinh hoạt như thế nào? Ảnhhưởng giá vàng? Giá đôla?

Trang 15

3.3.4 Sử dụng tổng hợp các phương thức để khai thác đề tài:

Cách thức khai thác đề tài có thể hiểu là các phương pháp, hình thứcđược vận dụng để tìm kiếm, phát hiện những sự kiện, đề tài nảy sinh trong đờisống xã hội để biến nó trở thành đề tài hấp dẫn cho các tác phẩm báo chí Córất nhiều cách khai thác đề tài Ví dụ: quan sát, đọc tài liệu, phân tích, sosánh, tổng hợp, phỏng vấn…Mỗi phóng viên, tùy hoàn cảnh có cách khai thác

đề tài phù hợp

Đối với các bản tin tổng hợp, do nguồn đề tài phong phú nên việc khaithác không quá khó Nhiều khi phóng viên chỉ cần sử dụng một hoặc vàiphương pháp là có thể dễ dàng khai thác, lựa chọn đề tài Nhưng đối với bảntin chuyên sâu, do có sự đòi hỏi tỉ mỉ, chi tiết về thông tin, mặt khác cácnguồn cung cấp thông tin lại hạn hẹp nên phóng viên cần linh hoạt trong cácphương pháp, nhiều khi phải vận dụng tổng hợp các kĩ năng trong cách thứckhai thác đề thì mới có thể có được đề tài hấp dẫn

3.3.5 Mức độ khai thác tìm kiếm cần đặc biệt chủ động

Đối với các bản tin tổng hợp, do nguồn tin khá dồi dào, phong phú nênviệc khai thác lựa chọn không quá khó, không có đề tài lĩnh vực này có thểtăng đề tài ở lĩnh vực khác cho bản tin Trong khi đó bản tin chuyên sâunguồn đề tài ít, chuyên gia ít vì vậy đòi hỏi một sự chủ động đặc biệt trongkhai thác, lựa chọn đề tài Bởi xét cho cùng, trong một ngày chỉ trên một lĩnhvực, không phải lúc nào cũng đa dạng thông tin và những thông tin đó cũng

có sức thuyết phục người xem Điều này đòi hỏi phóng viên phải hết sức chủđộng, linh hoạt trong các thức khai thác nguồn thông tin làm đề tài Phóngviên cần “lăn lộn” vào lĩnh vực đó, phải có cách nhìn vấn đề dưới các góc độmới, có như vậy mới có những đề tài cập nhật, hấp dẫn

3.3.6 Quá trình lựa chọn đề tài phụ thuộc vào nhiều đối tượng khán giả hẹp, chuyên môn sâu

Do mục đích của bản tin chuyên sâu là đi sâu vào một đối tượng côngchúng nhất định, để mang đến cho họ những thông tin phong phú, đa dạng về

Trang 16

lĩnh vực đó trên mọi góc cạnh, cung cấp cái nhìn tổng quan về những gì đangdiễn ra trên một lĩnh vực nhằm giúp người xem có những động thái nhất định.Chính mục đích như vậy nên đối tượng khán giả khu biệt hơn so với khán giảcủa bản tin tổng hợp: họ có thể là chuyên gia, những người am hiểu, yêu thích

có mối quan tâm đặc biệt đối với lĩnh vực đó…

Chính đối tượng khu biệt như vậy nên quá trình xác định đề tài phóngviên phải có căn cứ nhất định vào đối tượng tiếp nhận của mình mà lựa chọn

đề tài cho phù hợp Vì đối tượng đã được khu biệt và họ là những người amhiểu sâu sắc về lĩnh vực của mình nên quá trình khai thác, lựa chọn đề tài nhưthế nào cũng là một thách thức lớn đối với phóng viên Nếu lựa chọn đề tàikhông tốt, không sâu, không phản ánh được đúng tầm của vấn đề thì sẽ khôngthu hút được sựu quan tâm của nhóm khán giả đặc biệt này Để khai thác, lựachọn đề tài phù hợp đối tượng phóng viên cần nghiên cứu kĩ về nhu cầu, lứatuổi, nghề nghiệp, trình độ cũng như môi trường sống của đối tượng…

3.3.7 Việc khai thác đề tài luôn đặt trong mối quan hệ ràng buộc giữa các góc độ của các thông tin trong bản tin.

Thành tố làm nên một bản tin truyền hình là sự kết nối của nhiều thểloại với nhiều thông tin thời sự nóng hổi Vậy để có một bản tin truyền hìnhchuyên sâu, sẽ là sự tổng hợp của nhiều tin bài về một lĩnh vực Từng tin bài

đó là sự tác nghiệp riêng lẻ của từng phóng viên Nhưng để làm sáng tỏ lĩnhvực đó hoặc sâu hơn là một vấn đề trong lĩnh vực đó thì vấn đề đặt ra là trongquá trình tác nghiệp mỗi phóng viên luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ vớiđồng nghiệp trong bản tin để có sự trao đổi, lựa chọn đề tài sao cho sau khitrở về từ hiện trường sẽ khâu nối thành một bức tranh hoàn chỉnh, sinh độnggiúp cho người xem thấy rõ được sự vận động, diện mạo của lĩnh vực mà họquan tâm

Ví dụ: Giá vàng thường tỉ lệ nghịch với giá dầu Khi giá dầu tăng thì

giá vàng giảm và ngược lại Trong một bản tin kinh tế khi đã đưa thông tin vềgiá vàng thì thường sẽ có thêm thông tin về giá USD

Trang 17

Hoặc sự biến động của giá dầu thô ảnh hưởng tới giá cả của nhiều loạihàng hóa, dịch vụ khác….

Tóm lại, sự khác biệt trong cách thức khai thác và lựa chọn đề tài giữabản tin chuyên sâu với các bản tin tổng hợp và các chương trình khác xuấtphát từ sự khác biệt về mục đích thông tin, tính chất thông tin và đối tượngtiếp nhận thông tin Những điều này không chỉ làm nên sự khác biệt trongcách khai thác và lựa chọn đề tài mà còn làm nên sự khác biệt trong cách thểhiện tác phẩm, chương trình truyền hình

4 Một số nét về bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế trên Đài truyền hình Việt Nam.

4.1 Sự hình thành và phát triển của các bản tin chuyên sâu về kinh

tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam hiện nay.

Với thế mạnh là thông tin được truyền tải bằng hình ảnh và âm thanhchân thực, sinh động, truyền hình đã trở thành một phương tiện có rất nhiều

ưu thế so với các phương tiện thông tin đại chúng khác Hàng ngày, hàng giờthu hút sự quan tâm theo dõi thông tin của hàng triệu, hàng tỉ người Truyềnhình thực sự là một công cụ, một vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa tưtưởng

Nắm được tầm quan trọng của kinh tế đối với đời sống xã hội, truyềnhình luôn là ngọn cờ tiên phong trong công tác tư tưởng, phổ biến thông tin,giải đáp chính sách kinh tế

Từ trước đến nay, Đài truyền hình Việt Nam có rất nhiều chương trình

đề cập, phản ánh về lĩnh vực kinh tế

VTV1 có các chương trình: “Hội nhập”, “Tạp chí kinh tế cuối tuần”,

“Thị trường 24h”, “Lựa chọn cuối tuần”… Các chương trình này do Ban biêntập Thời sự phụ trách sản xuất Ngoài ra trên kênh này còn có chương trình

“Làm giàu không khó” của ban biên tập chuyên đề cũ Nay đổi tên là “Chìakhóa thành công” do Ban thư ký biên tập phụ trách…

Trang 18

VTV2 có chương trình : “ Cùng nhau bàn cách làm giàu”

VTV3 vốn từ trước đến nay được biết đến là một kênh thể thao- giảitrí- thông tin kinh tế Nhưng các mảng kinh tế chưa được khai thác triệt để ,mới chỉ có một vài vấn đề kinh tế được lồng ghép vào các chương trình tròchơi như: Chắp cánh thương hiệu, Hãy chọn giá đúng…

Tuy nhiên, những thông tin kinh tế trong các chương trình, bản tin đómang tính tổng hợp Một chương trình bao gồm rất nhiều tin tức liên quan đếnvấn đề kinh tế như tài chính- ngân hàng, chứng khoán, giá cả thị trường,…nhưng vẫn thiếu đi sự phân tích tập trung, chuyên sâu vào vấn đề, cung cấpcho người xem thông tin nóng hổi, cập nhật, thường xuyên, chính xác Đặttrong hoàn cảnh nền kinh tế mở cửa, người dân có nhu cầu hiểu biết cụ thể,sâu sắc về những vấn đề của lĩnh vực kinh tế đang diễn ra hàng ngày, hànggiờ…Trước nhu cầu thiết thực đó, một số bản tin chuyên sâu về kinh tế đã rađời được phát trên sóng Đài truyền hình Việt Nam Chương trình đầu tiên là

Bản tin tài chính ra đời năm 2006, tiếp sau là Bản tin Việt Nam và các chỉ số

xuất hiện năm 2008

Cùng với các bản tin trên kênh quảng bá, trên sóng truyền hình cáp củaĐài truyền hình Việt Nam cũng cho ra đời một kênh với tên Info TV- kênhthông tin kinh tế- tài chính chuyên biệt đầu tiên của cả nước Những bản tinchuyên sâu về kinh tế đã bước đầu thu hút được khán giả nhờ sự chuyên sâu

về thông tin cùng sự chuyên nghiệp trong khai thác thông tin, tổ chức sảnxuất

Bản tin chuyên sâu cùng với các bản tin các chương trình khác trên cáckênh đã làm cho nội dung cũng như kết cấu của chương trình của Đài thêmphong phú, hấp dẫn

4.2 Sơ lược hai bản tin khảo sát: “Bản tin tài chính” và “Bản tin Việt Nam và các chỉ số”

- Bản tin tài chính:

Ngày 26-7-2006, Đài truyền hình Việt Nam chính thức thông báo ramắt chương trình: “Bản tin tài chính” hàng ngày trên VTV1 Đây là chương

Trang 19

trình do Đài truyền hình Viêt Nam phối hợp cùng công ty FPT, báo điện tửVnexpress và báo Lao Động thực hiện.

“Bản tin tài chính” là chương trình đầu tiên tại Việt Nam về tài chính,tiền tệ được phát sóng hàng ngày và được cập nhật liên tục 24/24 giờ từ thứ 2đến thứ 7 hàng tuần Chương trình cung cấp cho người xem những thông tinmới nhất, tổng hợp tỷ giá vàng, đô la, lãi suất ngân hàng, bảo hiểm, sự biếnđộng của thị trường chứng khoán Việt Nam và thế giới qua những nhận định

và phân tích của các chuyên gia tài chính hàng đầu tại VN

Chương trình đầu tiên được phát sóng vào 21giờ ngày 1-8-2006 trên kênhVTV1 và được phát sóng liên tục từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần vào lúc 7h20ph

và 21giờ với thời lượng 15 phút “Bản tin Tài chính” ra đời nhằm giúp chongười xem nắm bắt được những thông tin mới nhất, kịp thời nhất về tình hìnhtài chính, tiền tệ diễn ra trong ngày và có bước chuẩn bị tốt nhất cho việc đầu

tư trong ngày hôm sau

Quan trọng hơn, qua những tổng hợp, phân tích tình hình diễn ra trong tuần

và qua những đánh giá của các chuyên gia về tài chính, tiền tệ trong chươngtrình tổng hợp diễn ra vào 9h15ph sáng thứ 7 hàng tuần, chương trình đã giúpngười xem, đặc biệt là các nhà đầu tư, các doanh nghiệp có được cái nhìnđúng đắn nhất về diễn biến của thị trường từ đó giúp họ đưa ra những quyếtđịnh hiệu quả hơn trong đầu tư

Chương trình có kết cấu gồm 2 phần : thông tin trong nước và thông tinquốc tế Thời lượng dành cho thông tin tài chính trong nước chiếm khoảng2/3 thời lượng, còn lại là thông tin tài chính quốc tế

- Bản tin “Việt Nam và các chỉ số”

Ngày 15/1/2008, tiếp nối thành công của chương trình “Bản tin tài chính”, phòng Kinh tế 2, tách từ phòng Kinh tế trước đây đã cho ra đời thêm một bản tin nữa, đó là bản tin “Việt Nam và các chỉ số” Đây là chương trình

chuyên cập nhật và phân tích những thông tin về thị trường chứng khoán

Trang 20

trong và ngoài nước Chương trình đã thu hút được đông đảo sự chú ý của cácnhà đầu tư trong và ngoài nước.

Nếu trước đây nội dung của “Bản tin tài chính” bao gồm tất cả các lĩnh

vực tiền tệ, chứng khoán, nhà đất thì nay chương trình mới ra đời nhằm đi

sâu, chuyên trách về lĩnh vực chứng khoán Có thể nói sự ra đời của “Việt Nam và các chỉ số” là một bước tiến mới của phòng Kinh tế 2, nhằm chuyên

nghiệp hóa các bản tin của mình, để khán giả quan tâm có thể dễ dàng theodõi

Bản tin “Việt Nam và các chỉ số” có kết cấu gồm 2 phần: đó là thông

tin chứng khoán trong nước và thông tin chứng khoán quốc tế Về thông tintrong nước, bản tin kết nối trực tiếp thông tin tại 2 sàn chứng khoán là sàn HàNội và sàn Thành phố HCM, phát sóng trực tiếp từ thứ 2 đến thứ 6, vào lúc12h20ph và 20h hàng ngày

Trang 21

Chương II

THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC VÀ LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

CHO CÁC BẢN TIN CHUYÊN SÂU VỀ KINH TẾ TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

(Khảo sát “Bản tin tài chính” và “Việt Nam và các chỉ số” - VTV1)

1 Thực trạng việc khai thác và lựa chọn đề tài

1.1 Đối tượng tham gia khai thác và lựa chọn đề tài

Để có một bản tin truyền hình đó là công sức của cả một tập thể Mỗithành viên là một mắt xích trong dây chuyền sản xuất đó Nhưng để vận hành

và duy trì sự hoạt động dây chuyền này thì điều đầu tiên rất quan trọng đó là

phải có nguyên liệu Nguyên liệu là đề tài Vậy ai là người trong êkip đó lăn lộn, tìm kiếm đề tài – mang nguyên liệu về?

Thực tế hiện nay đề tài đề duy trì nguồn sống của hai bản tin khảo sát

do bốn đối tượng tham gia khai thác và lựa chọn

Đối tượng thứ nhất: đó là các phóng viên của phòng Kinh tế chịu trách

nhiệm Số lượng phóng viên của phòng này là 17 người, được chia làm 2

nhóm 7 người thuộc nhóm “Bản tin tài chính”, 7 người thuộc nhóm bản tin

“Việt Nam và các chỉ số” Số lượng đề tài do nhóm đối tượng này khai thác

và lựa chọn chiếm chủ yếu

Tuy phân mảng cụ thể như vậy nhưng cũng có thể có trường hợp “phárào” nghĩa là trong quá trình tác nghiệp trong phạm vi của mảng mình đượcphân công nếu phát hiện có đề tài gì “hấp dẫn” phù hợp với tiêu chí của bảntin thì phóng viên chủ động đề xuất với lãnh đạo phòng để có chỉ đạo Việc

“chéo giò” này cũng không phải hiếm trong quá trình tác nghiệp kiếm tìm đềtài của hai nhóm thuộc phòng kinh tế

Đối tượng thứ hai: phóng viên lĩnh vực khác thực hiện việc phát hiện,

khai thác đề tài Cũng gần giống như việc “phá rào” của nhóm trên nhưng

Trang 22

điểm khác là nhóm phóng viên này khác hoàn toàn lĩnh vực Ví dụ: phóngviên phòng chính trị, trong quá trình tác nghiệp ở cơ sở họ đã phát hiện ra đềtài “nông dân tỉnh A góp tiền chơi chứng khoán”…Sự “đóng góp” đề tài nàyrất hãn hữu nhưng nó cũng góp phần làm cho bản tin thêm những đề tài vớigóc nhìn sinh động

Đối tượng thứ ba: lãnh đạo phòng, ban, Đài Công việc chính yếu của

lãnh đạo ban biên tập đó là lựa chọn và quyết định Khai thác, tìm kiếm, mởmang là công việc của phóng viên Tuy nhiên, phóng viên sau bao ngày bôn

ba tìm kiếm, canh tác, mảnh đất màu mỡ trở nên bạc màu, cũ kỹ nhưng dướigóc nhìn của một người có vị thế, tầm quan hệ rộng có thể mảnh đất đó lại trởthành màu mỡ Thực tế cũng có những lúc phóng viên 2 phòng kinh tế 1 vàkinh tế 2 của Ban thời sự đã rơi vào thế “bí” song lãnh đạo phòng đã “bắt tay”cùng chủ động kiếm tìm với phóng viên Họ vận dụng mối quan hệ với các

Bộ ban ngành liên quan để săn lùng thông tin Vậy nên có thể nói đây cũngchính là đối tượng quan trọng góp phần vào việc khai thác, tìm kiếm, lựa chọn

đề tài rất tích cực

Đối tượng thứ tư: những người ngoài lĩnh vực, ngoài cơ quan Hiện

nay, Đài truyền hình Việt Nam đang thử nghiệm việc thực hiện liên kết trongviệc sản xuất chương trình truyền hình Nghĩa là tham gia sản xuất những sảnphẩm truyền hình không chỉ có phóng viên của Đài mà còn có sự tham giacủa các cá nhân, tập thể ngoài Đài Họ có thể tham gia dưới nhiều hình thứcnhư tham gia sản xuất toàn bộ chương trình, hoặc tham gia một phần, mộtcông đoạn nào đó sau đó “bán” sản phẩm hoặc “linh kiện” cho Đài Để bánđược rõ ràng họ phải hiểu tiêu chí, tôn chỉ mục đích của chương trình và khi

đó họ mới có chiến lược cũng như đầu tư công sức “săn lùng” đề tài “đắt”

Hiện nay, đối với hai bản tin “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các chỉ số” cũng có sử dụng một số đề tài do nguồn này khai thác, tìm kiếm và

cung cấp Tuy nhiên số lượng rất nhỏ

Trang 23

1.2 Nội dung, phạm vi đề tài khai thác và lựa chọn:

Qua phân tích ở trên có thể thấy có rất nhiều đối tượng hiện nay đang

tham gia khai thác, lựa chọn đề tài cho “Bản tin tài chính” và “Bản tin Việt nam và các chỉ số” Tuy nhiên, khi đã xác định, phân định được được trách nhiệm thì công việc quan trọng tiếp theo cần giải quyết đó là khai thác và lựa chọn đề tài nào cho bản tin? (Hay nói một cách khác là khai thác và lựa chọn cái gì)?

Cuộc sống luôn vận động và biến đổi không ngừng Hàng ngày xoayquanh nó là sự sống với hàng triệu sự kiện, vấn đề nảy sinh Đó là nguồn đềtài vô tận - nguồn sống của phóng viên Nhưng trong biển mênh mông đóchọn sự kiện nào, đề tài nào? Tại sao lại khai thác, lựa chọn chúng, đó quả làmột điều vất vả đối với phóng viên Để làm được điều này phóng viên phảixác định đối tượng, phạm vi đề tài khai thác Khoanh vùng cũng như địnhhướng đối tượng trúng, đúng phóng viên sẽ không mất thời gian trong quátrình tìm kiếm

` Đối tượng, phạm vi đề tài của bản tin “Việt Nam và các chỉ số” đề cập

bao gồm các nội dung liên quan đến chứng khoán: số lượng cổ phiếu giaodịch tại các sàn giao dịch; biên độ giá; tính thanh khoản hợp đồng…

So với bản tin “Việt Nam và các chỉ số”, đối tượng, phạm vi đề tài mà

“Bản tin tài chính” khai thác và lựa chọn rộng hơn bao gồm các nội dung liên

quan đến sự vận động của các đồng tiền (Việt Nam và nước ngoài), giá vàng,

tỷ giá, lãi suất ngân hàng, thuế và bảo hiểm…Giá cả, tỷ giá đồng tiền luôn có

tác động lớn tới thị trường chứng khoán vì vậy đề tài trong “Bản tin tài chính” cũng có thể đề cập tới một phần thị trường chứng khoán.

Mặc dù nội dung, phạm vi khai thác, lựa chọn đề tài của hai bản tinkhác nhau nhưng các đề tài của hai bản tin khảo sát được khai thác và lựachọn chia thành 4 nhóm vấn đề:

Trang 24

Thứ nhất: Những chính sách, văn bản pháp luật, qui định mới về lĩnh

vực tài chính- kinh tế.

Kinh tế và tài chính là những nhân tố quan trọng quyết định sự sốngcòn của một đất nước Để phát triển nền kinh tế thì việc đưa kiến thức đếntừng người dân đặc biệt là các chính sách, văn bản pháp luật, quy định mới vềlĩnh vực tài chính – kinh tế là một việc làm cần thiết Qua đó, rút ngắn đượckhoảng cách giữa người dân và những văn bản quy phạm, tránh sự thiếu đồng

bộ và không nhất quán trong thực hiện

Ví dụ: “Thông tin về việc Chính phủ ban hành luật sử dụng đất phi

nông nghiệp” (Bản tin tài chính- 31/5/2010); “Ngân hàng phát hành giấy tờ cógiá để huy động vốn” (Việt Nam và các chỉ số- 31/5/2010); “Bộ tài chínhquyết định thu thuế xe ô tô nhập khẩu nhãn hiệu Kia Morning và Matiz” (Bảntin tài chính- 30/5/2010); “Chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vĩ mônhững tháng đầu năm 2010” (Bản tin tài chính - 24/05/2010)…

Dạng đề tài này chiếm khoảng 20% số lượng thông tin trên Bản tin tàichính và khoảng 5% với Việt Nam và các chỉ số

Thứ hai: Đề tài về diễn biến thị trường tài chính, chứng khoán trong

nước, thế giới

Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế đang vận động và phát triển khôngngừng, thay đổi liên tục hàng ngày, hàng giờ Vì vậy, việc cập nhật nhữngthông tin đó trên những phương tiện thông tin đại chúng giúp cho người dânhiểu và nắm rõ những vấn đề then chốt, mới nảy sinh là một việc vô cùng cấpthiết

“Bản tin tài chính” và “Việt Nam và các chỉ số” đã cung cấp cho mọi

người dân những thông tin, số liệu cập nhật, đa chiều về sự phát triển của thịtrường tài chính, chứng khoán trong nước và trên thế giới Sự phong phú về

Trang 25

thông tin như vậy giúp công chúng có cái nhìn tổng quan từ đó đưa ra nhữngquyết định cần thiết để có hướng đầu tư, phát triển phù hợp.

Bản tin “Việt Nam và các chỉ” số luôn thông tin chi tiết về tình hình giá

cổ phiếu của 1 số công ty, chỉ số chứng khoán trong ngày ở 2 sàn giao dịchlớn trong nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và một số sàn giao dịch

lớn trên thế giới như NewYork, HongKong Hay “Bản tin tài chính” với rất

nhiều góc độ liên quan, tác động đến thị trường tài chính Việt Nam cũng nhưthế giới như: “Vấn đề rào cản lãi suất khi cho vay tiêu dùng” (Bản tin tàichính - 28/05/2010); “Khơi dòng vốn để đầu tư cho phát triển (Bản tin tàichính - 03/04/2010); “Trung Quốc dẹp nạn đầu cơ nông sản (Bản tin tài chính

tin liên quan đến nhóm đề tài này

- Ngoài ra, thị trường tiêu dùng, thị trường ngân hàng, thị trường laođộng… cũng là những đề tài mà hai bản tin tập trung khai thác

Ví dụ: vấn đề “Xuất khẩu thủy hải sản gặp khó khăn (Bản tin tài chính 3/4/2010); “Sự khó khăn trong bình ổn giá thép (Bản tin tài chính -28/05/2010); “Thực trạng thất ngiệp ở Mĩ” (Bản tin tài chính- 23/4/2010); “Tỉ

-lệ thất nghiệp gia tăng ở Châu Âu đặc biệt là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,Cộng Hòa Ship (Bản tin tài chính- 31/ 05/2010)…

Thứ ba: Đề tài liên quan đến xu hướng thị trường

Các xu hướng được đề cập tới trong hai bản tin đó là: xu hướng thịtrường tài chính, đầu tư chứng khoán, bất động sản, xu hướng lãi suất tiếtkiệm ngân hàng…

Trang 26

Tăi chính, chứng khoân - liín quan đến vật chất, tiền của, liín quan đến

sự đầu tư với những quyết định mạo hiểm, thắng thua, may rủi Chính vì vậy

dự đoân một vấn đề liín quan đến sự tồn tại vă phât triển của nhiều lĩnh vực,nhiều con người, nhiều quốc gia như vậy đòi hỏi thật sự cđn nhắc kỹ trongkhai thâc cũng như lựa chọn để tuyín truyền Nếu công việc đó không tốtnhiều khi hậu quả khó lường Do đặc trưng như vậy nín trín thực tế, đđy lădạng đề tăi thuộc nhóm khó khai thâc Sự xuất hiện chỉếm tỉ lệ nhỏ gần 20%

thông tin trong “Bản tin tăi chính” vă khoảng 10% trong bản tin “Việt Nam

vă câc chỉ số”.

Thứ tư: Tư vấn về câc lĩnh vực kinh tế

Dạng đề tăi năy thường xuyín hiện diện trong bản tin “Việt Nam vă câc chỉ số” vă “Bản tin tăi chính”.

Tăi chính, chứng khoân đó lă hai vấn đề nhạy cảm, biến động hăngngăy hăng giờ liín quan mật thiết đến lợi ích của mỗi người Nhưng để hiểu

vă quyết định đầu tư đúng đắn, hiệu quả không dễ Vậy nín, việc cần phải cónhững hội đồng gồm những chuyín gia, những người có nhiều kinh nghiệm,hiểu biết về lĩnh vực kinh tế, tăi chính, chứng khoân tư vấn lă rất cần thiết.Câc chuyín gia tham gia văo việc phđn tích, nhận định tình hình, lí giảinguyín nhđn hay xu hướng diễn biến của thị trường từ đó gợi ý nhữngphương ân đầu tư phù hợp

Hiện nay, để thực hiện nội dung tư vấn, hai bản tin thường mời nhữngchuyín gia đầu ngănh về tăi chính, chứng khoân tham gia thảo luận Đó lẵng Nguyễn Việt Hùng- Giâm đốc khối phđn tích nhă đất công ty chứngkhoân SME, chuyín phđn tích về những vấn đề liín quan đến lạm phât, khủnghoảng kinh tế ở chđu Đu; ông Vũ Đình Ânh - chuyín gia Bộ tăi chính tư vấn

về giâ cả, lạm phât; ông Lí Xuđn Nghĩa - Phó ủy ban giâm sât tăi chính Quốcgia tư vấn về ngđn hăng; ông Lí Thẩm Dương - Giảng viín Đại học Ngđnhăng Thănh phố Hồ Chí Minh tư vấn về chứng khoân…

Trang 27

Trong thời gian vừa qua, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào tình trạngsuy thoái kinh tế; lạm phát tràn lan, giá dầu thô của các nước OPEC biến độngkhông ngừng….tất cả đã ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình kinh tế thế giớitrong đó có Việt Nam Nhiều nhà đầu tư đã tỏ ra hoang mang Trước tình hình

đó, các nhà phân tích trong “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các chỉ số” cùng một số phương tiện truyền thông đại chúng khác đã có những

phân tích, tư vấn kịp thời giúp bình ổn tâm lý công chúng Có thể kể tới

những thông tin tư vấn đó trong “Bản tin tài chính” ngày 06/05/2010 với việc phân tích về khủng hoảng tài chính ở Hy Lạp, ở Đức hay “Bản tin tài chính”

ngày 30/05/2010 với khủng hoảng nợ công ở Châu Âu…

1.3 Nguồn đề tài khai thác và lựa chọn

Khi đã định hướng, dự kiến được đề tài cần khai thác nghĩa là phóng viên

đã xác định được mục tiêu phải đạt được Giống như việc tổ chức một bữatiệc mặn, việc lên kế hoạch các món ăn đã xong Vấn đề quan trọng hơn đó làphải lấy hoặc mua nguyên liệu đó ở đâu để về chế biến các món đã dự kiến

Việc tìm nguồn đề tài cũng tương tự Tìm đề tài ở đâu? Ai sẽ cung cấp thông tin? Đó là những câu hỏi luôn thường trực trong mỗi phóng viên.

Có một số nguồn đề tài hiện nay đang được phóng viên tác nghiệp trongcác bản tin khai thác và lựa chọn

- Thứ nhất: Nguồn từ các cơ quan, ban ngành chủ quản ở Trung ương và

địa phương:

Đây là một trong những đầu mối quan trọng, rất phong phú về nguồntin tức Đài truyền hình Việt Nam hiện đã kí: “Biên bản ghi nhớ hợp tác” vớiNgân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ tài chính Đây là hai nguồn tin quantrọng, chính thống, là thế mạnh của Đài truyền hình Việt Nam nói chung và

“Bản tin tài chính” và “Việt Nam và các chỉ số” nói riêng Ngoài ra các Sở

tài chính, ngân hàng các địa phương và các cơ qua liên quan cũng là nguồncung cấp đề tài quan trọng

Trang 28

Với các nguồn tin này, thông tin chủ yếu là thông báo những chínhsách, chỉ thị, những hội nghị, hội thảo, cuộc họp, những phong trào, chiếndịch… hoặc cũng có thể đơn giản là lịch làm việc, kế hoạch hoạt động của cơquan Dù là thế nào thì đối với phóng viên đây luôn là những cơ sở cần thiếtcho quá trình săn lùng tin tức sự kiện.

Thường thì các phóng viên hai bản tin chủ động liên lạc với các nguồnnày để trao đổi khai thác thông tin Tuy nhiên cũng có trường hợp các nguồntin tự gửi giấy mời hoặc thông báo mời tới phóng viên các cơ quan báo, đài.Với nguồn tin này, lãnh đạo, ban biên tập xem xét nếu thấy phù hợp với mụctiêu tuyên truyền của đài mình sẽ phân công phóng viên đến đưa tin Phóngviên không mất công tìm kiếm

Thực tế nguồn tin này ở hai bản tin khảo sát rất ít Đặc biệt bản tin

“Việt Nam và các chỉ số” rất hiếm Thường chỉ khi một sàn chứng khoán mới

ra đời mới có giấy mời phóng viên tới để đưa tin Còn phần lớn các tin bàiđều do phóng viên tự khai thác và đưa tin ngay ở sàn giao dịch

Đến với nguồn tin này, ngoài nhiệm vụ đưa tin, thông báo nhanh sựkiện đang diễn ra, nếu phóng viên năng động có thể biến đây thành cơ hội đểtiếp cận sâu rộng hơn với nguồn tin, tạo dựng quan hệ với các đối tác (tham

dự trong các hội nghị, hội thảo…) chuẩn bị nguồn cho những tin, bài tiếp theosau

Hiện nay, nguồn tin này cung cấp khoảng 15-20% đề tài cho “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các chỉ số” Có nghĩa là trung bình 1

chương trình có từ 1-2 tin, một ngày hai bản tin có khoảng 4-8 thông tin đãđược lấy từ nguồn này

- Thứ hai: Nguồn từ ngay chính những cuộc họp, những hội thảo.

Họp hành, hội thảo…để hoạch định chính sách, tổng kết, nhìn nhận mộtquá trình vận động, tìm ra bước đi mới…đó là những hoạt động không thểthiếu trong cuộc sống, trong các lĩnh vực, các cơ quan từ Trung ương đến cơ

Trang 29

sở Ngoài những tin cứng từ những hoạt động này cần tuyên truyền thì đâycòn là cơ hội cho những phóng viên năng động mở rộng quan hệ, khai thác tinbên lề từ những giờ giải lao, họp tổ…chuẩn bị cho những tin tức nhiều ngàytiếp sau này

Thực tế phóng viên hai bản tin cũng đã có sử dụng nguồn này để khaithác đề tài, nhưng chưa nhiều

- Thứ ba: Nguồn từ kế hoạch tuyên truyền của Đài, chuyên mục.

Mỗi cơ quan báo chí, mỗi ban, bộ phận trong đó luôn xây dựng kếhoạch tuyên truyền hàng quý, hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày Phóng viên

có thể đón đầu sự kiện hoặc từ kế hoạch cứng này để khai thác tìm sự kiện

Thực tế, một ngày “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các chỉ số” phát sóng 4 bản tin, tiêu tốn một lượng đề tài rất lớn Chính vì vậy để hạn

chế việc phát lại tin hoặc tin nguội thì việc lên kế hoạch đề tài của lãnh đạochuyên mục là rất quan trọng Trên cơ sở kế hoạch đó, phóng viên đã lập kếhoạch tuyên truyền từ xa đến gần, từ trước, trong đến sau…mỗi sự kiện đểtìm ra những lát cắt mới, đề tài mới xoay quanh đề tài chính Điều này khôngnhững giúp phóng viên dễ dàng trong việc tìm đề tài mà còn là cơ hội giúpcông chúng nhìn được bức tranh toàn cảnh về đề tài đang phản ánh

- Thứ tư: Nguồn từ các phương tiện truyền thông đại chúng:

Hiện nay hai bản tin “Việt Nam và các chỉ số” và “bản tin tài chính” khai

thác đề tài từ nguồn này chiếm phổ biến, khoảng 50% lượng thông tin phản

ánh trong các chương trình Trong 3 tháng khảo sát có 240 chương trình “Bản tin tài chính “và “Việt Nam và các chỉ số” với ước tính khoảng 2500 thông tin

đã được sử dụng thì có đến hơn 1000 thông tin là được lấy nguồn từ các báo,tạp chí khác

Việc sử dụng thông tin từ những trang báo khác rồi được “xào xáo” lạitheo cách nhìn của phóng viên được xem là một nguồn tin cơ bản, nuôi sốngcác chương trình

Ngày đăng: 09/09/2016, 00:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhiều tác giả (1992), Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ Việt Nam 2. Nhiều tác giả (1987), Cách viết một bài báo, Thông tấn xã Việt Nam,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt, "Viện ngôn ngữ Việt Nam2. Nhiều tác giả (1987), "Cách viết một bài báo
Tác giả: Nhiều tác giả (1992), Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ Việt Nam 2. Nhiều tác giả
Năm: 1987
3. Nhiều tác giả (1992), Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Hội nhà báo Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp và công việc của nhà báo
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1992
4. E.P. Prôkhôrốp (2004), Cơ sở lý luận của báo chí tập 1, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của báo chí
Tác giả: E.P. Prôkhôrốp
Nhà XB: Nxb Thôngtấn
Năm: 2004
5. PGS- TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên (2005), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: PGS- TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên
Nhà XB: NxbGiáo Dục
Năm: 2005
6. PGS- TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên (2001), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng Hồ ChíMinh về báo chí
Tác giả: PGS- TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Lê Hồng Quang (2006), Một ngày thời sự truyền hình, Hội nhà báo Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một ngày thời sự truyền hình
Tác giả: Lê Hồng Quang
Năm: 2006
8. Maria Lukina (2004), Công nghệ phỏng vấn, Nxb Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ phỏng vấn
Tác giả: Maria Lukina
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w