MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC BIỂU ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU 7 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 7 2. Mục đích nghiên cứu 8 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 9 5. Giả thuyết khoa học 9 6. Giới hạn và pham vi nghiên cứu 9 7. Phương pháp nghiên cứu 10 8. Bố cục của khóa luận 11 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 12 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12 1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới 12 1.1.2.Nghiên cứu ở Việt Nam 14 1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 15 1.2.1.Khái niệm giá trị 15 1.2.2. Khái niệm văn hóa 16 1.2.3. Khái niệm du lịch 18 1.2.4. Khái niệm du lịch văn hóa 20 1.2.5. Đặc điểm của du lịch văn hóa 21 1.2.6 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa 22 1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch 24 1.4. Vai trò của di tích lịch sử văn hóa 27 1.5. Xu hướng phát triển của du lịch văn hóa 27 1.5.1. Xu hướng phát triển của du lịch 27 1.5.2. Xu hướng phát triển du lịch văn hóa 29 1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lich văn hóa 30 1.7. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch văn hóa 31 TIÊU KẾT CHƯƠNG 1 34 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA TRONG DU LỊCH TẠI CHÙA BÚT THÁP TỈNH BẮC NINH 35 2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 35 2.1.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Bắc Ninh 35 2.1.2. Khái quát về di tích chùa Bút Tháp 37 2.2. Những giá trị nghệ thuật cơ bản của di tích chùa bút tháp 39 2.2.1. Giá trị nghệ thuật kiến trúc của di tích chùa bút tháp 39 2.2.2. Bí ẩn pho tượng chùa Bút Tháp 48 2.2.3 Giá trị lịch sử văn hóa trong di tích chùa bút tháp 50 2.3 Thực trạng khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịch tại di tích chùa bút tháp 52 2.3.1 Tình hình chung 52 2.3.2 Số lượng khách và doanh thu du lịch tại di tích chùa bút tháp 52 2.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 55 2.3.4 Thực trạng nguồn nhân lực 62 2.3.5 Thực trạng công tác quản lý hiện nay 63 2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình khai thác giá trị văn hóa lịch sử tại di tích chùa bút tháp tỉnh bắc ninh 64 Thuận lợi 64 2.4.2. Những khó khăn và hạn chế 66 2.5. Đánh giá hiệu quả trong quá trình khai thác giá trị lịch sử văn hóa trong du lịch tại di tích chùa Bút Tháp 70 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHAI THÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA DI TÍCH CHÙA BÚT THÁP BẮC NINH TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 75 3.1. Định hướng phát triển du lịch tại di tích chùa Bút Tháp 75 3.1.1. Mục tiêu 75 3.1.2. Định hướng phát triển du lịch khu vực chùa Bút Tháp 75 3.1.3. Định hướng về thị trường cho khu vực chùa Bút Tháp 75 3.2. Dự báo tình hình du lịch khai thác giá trị lịch sử văn hóa chùa Bút Tháp đến năm 2020 76 3.2.1. Dự báo về lượng khách du lịch 76 3.2.2. Dự báo doanh thu du lịch 77 3.3. Đề xuất các biện pháp khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịc tại di tích chùa Bút Tháp 77 3.3.1. Biện pháp t«n t¹o vµ b¶o tån c¸c di tÝch trong ph¸t triÓn du lÞch: 77 3.3.2. Biện pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư 78 3.3.3. Xây dựng, tu bổ, nâng cấp cơ sở hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 79 3.3.4. Tăng cường hệ thống các dịch vụ bổ sung 80 3.3.5. Đẩy mạnh hiệu quả của công tác tổ chức quản lý. 81 3.3.6. Đào tạo nguồn nhân lực. 83 3.3.7 Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, tuyên truyền du lịch. 85 3.4 .Xây dựng chương trình du lịch cụ thể 87 3.4.1. Ch¬ng tr×nh du lÞch néi tØnh (§èi tîng kh¸ch chñ yÕu lµ c¸c tæ chøc x• héi, häc sinh, sinh viªn, c¸c t¨ng ni phËt tö vµ c¸c nhµ nghiªn cøu). 87 3.4.2. Chương trình du lịch liên tỉnh (Kết nối với các địa bàn phụ cận). 88 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu Trường Đại HọcCông Nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được học tập dướimái trường này, em cũng vô cùng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô khoa SưPhạm – Du Lịch đã tận tình dạy em trong suốt 4 năm học tai trường để em cóthể hoàn thành khoa luận của mình
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ PHẠM THỊKIỆM – Người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình em trong suốt quá trình làmbài khóa luận, giúp em hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhà trường đã đề ra
Em cũng xin cảm ơn đến ủy ban quản lý khu di tích chùa Bút Tháp đãgiúp đỡ em trong chuyến đi thực tế và cung cấp cho em những thông tin bổích nhất để em có thể hoàn thanh phiếu điều tra và khóa luận
Xin cảm ơn gia đình bạn bè và những người thân đã luôn ủng hộ vàđong viên tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Do giới hạn về thời gian và những hạn chế về phương pháp so sánh,phân tích, đánh giá nhìn nhận thực tế nên bài khóa luận của em chắc chắn cònnhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, đóng góp từ các thầy cô vàcác bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Trịnh Thị Hà
Trang 2MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Giả thuyết khoa học 9
6 Giới hạn và pham vi nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Bố cục của khóa luận 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 12
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 12
1.1.2.Nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 15
1.2.1.Khái niệm giá trị 15
1.2.2 Khái niệm văn hóa 16
1.2.3 Khái niệm du lịch 18
1.2.4 Khái niệm du lịch văn hóa 20
1.2.5 Đặc điểm của du lịch văn hóa 21
1.2.6 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa 22
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch 24
1.4 Vai trò của di tích lịch sử văn hóa 27
1.5 Xu hướng phát triển của du lịch văn hóa 27
Trang 31.5.1 Xu hướng phát triển của du lịch 27
1.5.2 Xu hướng phát triển du lịch văn hóa 29
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lich văn hóa 30
1.7 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch văn hóa 31
TIÊU KẾT CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA TRONG DU LỊCH TẠI CHÙA BÚT THÁP TỈNH BẮC NINH 35
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 35
2.1.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Bắc Ninh 35
2.1.2 Khái quát về di tích chùa Bút Tháp 37
2.2 Những giá trị nghệ thuật cơ bản của di tích chùa bút tháp 39
2.2.1 Giá trị nghệ thuật kiến trúc của di tích chùa bút tháp 39
2.2.2 Bí ẩn pho tượng chùa Bút Tháp 48
2.2.3 Giá trị lịch sử văn hóa trong di tích chùa bút tháp 50
2.3 Thực trạng khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịch tại di tích chùa bút tháp 52
2.3.1 Tình hình chung 52
2.3.2 Số lượng khách và doanh thu du lịch tại di tích chùa bút tháp 52
2.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 55
2.3.4 Thực trạng nguồn nhân lực 62
2.3.5 Thực trạng công tác quản lý hiện nay 63
2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình khai thác giá trị văn hóa lịch sử tại di tích chùa bút tháp tỉnh bắc ninh 64
Thuận lợi 64
2.4.2 Những khó khăn và hạn chế 66
2.5 Đánh giá hiệu quả trong quá trình khai thác giá trị lịch sử văn hóa trong du lịch tại di tích chùa Bút Tháp 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74
Trang 4CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHAI THÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA DI TÍCH CHÙA BÚT THÁP BẮC NINH TRONG PHÁT
TRIỂN DU LỊCH 75
3.1 Định hướng phát triển du lịch tại di tích chùa Bút Tháp 75
3.1.1 Mục tiêu 75
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch khu vực chùa Bút Tháp 75
3.1.3 Định hướng về thị trường cho khu vực chùa Bút Tháp 75
3.2 Dự báo tình hình du lịch khai thác giá trị lịch sử văn hóa chùa Bút Tháp đến năm 2020 76
3.2.1 Dự báo về lượng khách du lịch 76
3.2.2 Dự báo doanh thu du lịch 77
3.3 Đề xuất các biện pháp khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịc tại di tích chùa Bút Tháp 77
3.3.1 Biện pháp t«n t¹o vµ b¶o tån c¸c di tÝch trong ph¸t triÓn du lÞch: 77
3.3.2 Biện pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư 78
3.3.3 Xây dựng, tu bổ, nâng cấp cơ sở hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 79
3.3.4 Tăng cường hệ thống các dịch vụ bổ sung 80
3.3.5 Đẩy mạnh hiệu quả của công tác tổ chức quản lý 81
3.3.6 Đào tạo nguồn nhân lực 83
3.3.7 Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, tuyên truyền du lịch 85
3.4 Xây dựng chương trình du lịch cụ thể 87
3.4.1 Ch¬ng tr×nh du lÞch néi tØnh (§èi tîng kh¸ch chñ yÕu lµ c¸c tæ chøc x· héi, häc sinh, sinh viªn, c¸c t¨ng ni phËt tö vµ c¸c nhµ nghiªn cøu) 87
3.4.2 Chương trình du lịch liên tỉnh (Kết nối với các địa bàn phụ cận) 88
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng khách đến tham quan khu di tích chùa Bút Tháp 52 Bảng 2.2: Doanh thu từ dịch vụ du lịch tại khu vực chùa Bút Tháp 54 Bảng 2.3: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật trong khai thác giá trị lịch sử văn hóa trong du lịch tại chùa Bút Tháp 57 Bảng 2.4: Thực trạng việc đăng ký kinh doanh của các cơ sở lưu trú
và vận tải khách năm 2008 61 Bảng 2.5: Trưng cầu ý kiến khách du lịch về thuận lợi và khó khăn khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịch 69 Bảng 2.6: Trưng cầu ý kiến về đánh giá hiệu quả khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịch tại chùa Bút Tháp 72 Bảng 3.1: Bảng dự báo khách du lịch đến di tích chùa Bút Tháp đến năm 2020 76 Bảng 3.2: Bảng dự báo doanh thu từ du lịch chùa Bút Tháp đến năm 2020 77
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch đã trở thành nhu cầu khôngthể thiếu được trong đời sống văn hoá xã hội và hoạt động du lịch đang đượcphát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiềuquốc gia trên thế giới Du lịch không chỉ để con người nghỉ ngơi giải trí, màcon nhằm thoả mãn nhu cầu to lớn về mặt tinh thần Mỗi quốc gia, mỗi dântộc, mỗi tỉnh thành đều có những đặc trưng riêng về tự nhiên, lịch sử, vănhoá, truyền thống để thu hút khách du lịch Thông qua việc phát triển du lịch,
sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các tỉnh thànhtrong cả nước ngày càng được mở rộng vì nền hoà bình và tình hữu nghị trêntoàn thế giới Ngày nay du lịch du lịch mang tính nhận thức và tính phổ biếnvới mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho conngười, củng cố hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc
Ở nước ta những năm gần đây hoạt động du lịch trở nên hết sức đadạng, phong phú với nhiều loại hình hấp dẫn Một trong những loại hình đượcquan tâm, phát triển mạnh nhất là du lịch văn hoá Loại hình du lịch này đãđáp ứng được nhu cầu tham quan giải trí, lòng ham hiểu biết và mang ý nghĩagiáo dục rất cao Không những chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng mà chúngcòn được coi là nền tảng phát triển của nghành du lịch Hệ thống các di tíchlịch sử văn hoá bao gồm đình, chùa, đền, miếu Hầu hết, chúng đều gắn liềnvới các lễ hội, các nghi thức cầu cúng, các phong tục tập quán của cộng đồng
và những trò chơi dân gian Qua đó đã phản ánh cuộc sống chiến đấu, laođộng của con người tại các làng quê, không chỉ gắn với các danh nhân vănhoá, lịch sử của dân tộc mà nó còn phản ánh khát vọng trong đời sống tâmlinh của con người và mang ý nghĩa giáo dục hướng tới chân - thiện - mĩ Các
di tích này không chỉ có giá trị đối với các loại hình du lịch văn hoá mà còn
có giá trị to lớn với du lịch sinh thái, có sức hút rất lớn đối với khách du lịch
Trang 8Thay vì đến những nơi đô thị ồn ào, náo nhiệt với các tòa nhà che khuấttầm nhìn của con người thì khách có xu hướng đến với các miền quê để đượchòa mình vào cuộc sống của người dân, những phong tục tập quán mang tínhtruyền thống và tính địa phương, được hiểu thêm những giá trị về lịch sử, vănhóa, kiến trúc của những ngôi chùa cổ
Bắc Ninh mảnh đất địa linh nhân kiệt, một vùng quê tiêu biểu của vănminh dân tộc Không chỉ nổi tiếng với làn điệu dân ca quan họ mà nơi đâycòn có nhiều công trình kiến trúc đình, đài, miếu, mạo có giá trị văn hóa lịch
sử lâu đời Hơn nữa du khách còn cảm nhận được sự ân cần đón tiếp củangười dân địa phương bởi con người Bắc Ninh cần cù, chất phát, ham họchỏi Với tiềm năng du lịch đa dạng, phong phú, Bắc Ninh có điều kiện để trởthành một địa danh du lịch có sức hút lớn đối với khách du lịch bởi nhiều loạihình du lịch tham quan nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa dân gian, đặc biệt là loạihình du lịch khai thác giá trị văn hóa lịch sử
Tuy nhiên thực trạng phát triển du lịch của Bắc Ninh trong những nămqua còn nhiều hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng của mình Hoạt động
du lịch dựa trên việc khai thác các tài nguyên có sẵn, đầu tư còn hạn chế vàmang tính tự phát nên chưa có sản phẩm hấp dẫn du khách Chính vì mongmuốn góp một phần nhỏ bé vào việc khai thác các giá trị văn hóa phong phúcủa Bắc Ninh cho phát triển du lịch và đưa ra một số kiến nghị để có thể bảotồn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử lâu đời tại các di tích tỉnh Bắc Ninh nên
em đã chọn đề tài “Thực trạng khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịchtại di tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh ”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về “Khai thác giá trị văn hóalịch sử trong du lịch tại di tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh ”.Từ đó đề xuấtmột số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa củachùa phục vụ cho phát triển du lịch một cách tốt hơn
Trang 93 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịch tại di tíchchùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Chùa bút tháp tỉnh Bắc Ninh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Khảo sát thực trạng khai thác giá trị văn hóa lịch sử trong du lịch tại
di tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa lịch sử tại di tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh trong phát triển du lịch
5 Giả thuyết khoa học
Khai thác giá trị lịch sử văn hóa có ý nghĩa rất lớn trong đời sống dân
cư và phát triển du lịch nhưng vẫn còn những hạn chế.Sau khi điều tra đượcnhững thực trạng và hạn chế này, từ đó đưa ra những biện pháp và kiến nghị
để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa lịch sử lâu đời đồng thời thu hútkhách du lịch
6 Giới hạn và pham vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015
6.2 Phạm vi nghiên cứu
- Yếu tố lịch sử hình thành của di tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh
Trang 10- Khai thác giá trị lịch sử, văn hóa tại chùa Bút Tháp phục vụ cho dulịch Bắc Ninh và ý nghĩa của nó đối với đời sống cư dân địa phương.
- Điều tra 30 khách du lịch tại di tích chùa Bút Tháp Bắc Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết
Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị,từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thốnghóa là sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyếtlàm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điền dã
Là phương pháp phi thực nghiệm dự trên quan sát trực tiếp ngoài hiệntrường hoặc gián tiếp qua các phương tiện ghi âm, ghi hình, giao tiếp, phỏngvấn, điều tra
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 11Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng đểphát hiện các quy luật phân bố và các đặc điểm của đối tượng.
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia để xem xétnhận định bản chất của đối tượng, tìm ra một giải pháp tối ưu
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý và phân tích cáccon số của hiện tượng kinh tế xã hội để tìm hiểu bản chất vốn có của chúngtrong điều kiện thời gian và không gian cụ thể
8 Bố cục của khóa luận
Phần Nội Dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng khai thác các giá trị văn hóa lịch sử trong du
lịch tại di tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Đề xuất biện pháp khai thác giá trị văn hóa lịch sử tại di
tích chùa Bút Tháp tỉnh Bắc Ninh trong phát triển du lịch
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trên toàn cầu, hiện nay, hằng năm có tới 800 triệu người đi du lịch Con
số này sẽ hơn 1 tỉ vào năm 2010 và đạt 1,6 tỉ vào năm 2020 và sẽ có 60%dòng khách du lịch hiện nay là có mục đích tìm hiểu nền văn hóa khác lạ.Cho nên sản phẩm quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa Sức hấp dẫn dukhách là bản sắc văn hóa, cách ứng xử văn hóa của điểm đến và trình độ vănhóa của những nhà tổ chức du lịch chuyên nghiệp
Không có sản phẩm du lịch nào không mang nội dung, không thể hiệnbản sắc văn hóa dân tộc Không một di sản thiên nhiên nào không mang dấu
ấn di sản văn hóa dân tộc Ngay việc bảo tồn, giữ gìn, trân trọng thiên nhiênđến độ cả nhân loại suy tôn một địa danh là di sản thiên nhiên thế giới cũng
đã là một sự suy tôn giá trị văn hóa, cách ứng xử văn hóa đối với thiên nhiêncủa một dân tộc
Giáo sư Roger L.Janelli nghiên cứu “Các thách thức lý thuyết đối vớicông tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể”: UNESCO không ngừng hợp lýhóa các chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của mình Tổ chức nàycũng luôn cân nhắc các yếu tố thiên vị Châu Âu xuất phát từ hệ thống côngnhận di sản vật thể, và khuyến khích các nước ủng hộ hơn nữa công tác bảotồn di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi nước mình
Những đột phá kinh tế đã và đang diễn ra ở nhiều nước Châu Á đã tạo
ra những khác biệt về văn hóa giữa thế hệ trẻ và thế hệ người cao tuổi Nhữnglựa chọn thể loại âm nhạc khác nhau, việc sử dụng ngôn ngữ internet, vànhững kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa của nước khác đang làm nảy nở
Trang 13những khác biệt có thể được xem là các ví dụ giá trị về sự đa dạng văn hóa
mà UNESCO đang tìm cách bảo vệ
Giáo sư William Sweet trường đại học Francis Savier, Canada nghiêncứu về “Tương lai của truyền thống dân tộc”: Những vấn đề của hiện đại hoá
và những tư tưởng của tính hiện đại và hậu hiện đại là nền tảng cho quá trìnhhiện đại hoá buộc chúng ta phải từ bỏ đạo đức truyền thống Chính truyềnthống đem lại cho chúng ta những phương tiện hiệu quả để xác định nhữngvấn đề đó và tránh được tư tưởng tương đối và chủ nghĩa hư vô mà nhiềuquan niệm đạo đức hiện đại và hậu hiện đại thường đem lại Chính truyềnthống phải đáp lại thế giới mà nó đang tồn tại nên các quy phạm đạo đức vàthông lệ đạo lý truyền thống không thể tránh khỏi bị phê phán hay thay đổi vàkhông nhất thiết phải được duy trì
Quá khứ cần được tái diễn giải lâu dài để giải quyết những vấn đề củahiện tại và tương lai Thực tế luôn tồn tại một tương lai của truyền thống và
đạo đức truyền thống trong những thách thức của quá trình hiện đại hoá
Trong tập san B.A.V.H (Association dé Amis du Viex Húe) đã đượcthành lập năm 1913 theo đề xuất của linh mục Leospold Cadiere và sự chungtay xây dựng của những bạn bè trong giới trí thức, nhân sĩ ở Huế kế thừa vàphát huy công trình nghiên cứu phục vụ “Công cuộc bảo tồn di sản văn hóaHuế” hiện nay: Tài nguyên du lịch của Huế đã được người Pháp nhận biết vàphát huy giá trị ngay từ những năm đầu thế kỷ XX
Tạp chí B.A.V.H đã làm cho người đọc không chỉ cảm nhận được vẻđẹp phong cảnh Huế mà còn đúc rút được nhiều kinh nghiệm khi thực hiệnmột chuyến tham quan du lịch đất Huế Việc phục dựng như thế nào cho đúngvẫn đang là một bài toán khó đối với các nhà quản lý, bảo tồn Tập san B.A.V.H là tài liệu đề cập khá nhiều về đề tài họa tiết, trang trí, về việc xâydựng, tu bổ các công trình dưới triều Nguyễn, kể cả việc bài trí các đồ thờ tự,
Trang 14sinh hoạt trong cung điện Nếu khai thác được mảng tài liệu này, thì đây cũng
là một lời giải quan trọng cho các nhà quản lý, bảo tồn ở Huế
1.1.2.Nghiên cứu ở Việt Nam
Những thành tựu đáng ghi nhận của du lịch Việt Nam trong 47 năm qua,
kể từ ngày thành lập ngành, nhất là từ khi đổi mới, mở cửa đến nay rất đángghi nhận Đó là kết quả triển khai thực hiện đúng đắn, sáng tạo quan điểmkết hợp văn hóa với kinh tế trong du lịch
PGS.TS Từ Thị Loan với đề tài nghiên cứu “Giá trị ca dao, dân ca vùng
mỏ, vùng biển Quảng Ninh và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy” Đề tàikhoa học cấp tỉnh, sở khoa hoc - công nghệ Quảng Ninh năm 2012: Ca dao,dân ca vùng biển Quảng Ninh là một dòng văn nghệ dân gian độc đáo cónhiều giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, xã hội và nghệ thuật Đây thực sự là một
di sản văn hoá quý giá và nhân tố cấu thành tiểu vùng văn hoá Quảng Ninhđóng góp cho kho tàng văn hoá phi vật thể ở Việt Nam
Ca dao vùng mỏ mang tính đặc thù của giai cấp công nhân Quảng Ninhphản ánh ý chí đấu tranh kiên cường của những người thợ mỏ, làm nên lịch sửthơ ca cách mạng dưới hình thức văn học truyền khẩu Ca dao vùng biểnmang đậm chất biển, phản ánh rõ nét tâm hồn, tình cảm của người dân biển
Ca dao vùng biển là chất liệu để các nghệ nhân dân gian tạo thành những câuhát đối đáp, hát giao duyên với nhiều hình thức phong phú
Tuy nhiên hiện nay các công trình nghiên cứu về chủ đề này chủ yếumới chỉ dừng lại ở mức sưu tầm, ghi chép các bài ca dao, dân ca Chưa cócông trình nào đi sâu phân tích những giá trị nội dung và nghệ thuật của cadao, dân ca vùng mỏ, vùng biển Quảng Ninh, cũng như khảo sát sự mai một
và xu hướng biến đổi của chúng trong giai đoạn hiện nay để từ đó xây dựng
mô hình bảo tồn di sản ca dao, dân ca trong đời sống đương đại Mục tiêu của
đề tài nhằm phân tích, đánh giá hiện trạng di sản ca dao, dân ca vùng mỏ,vùng biển Quảng Ninh Qua đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị khoa học
Trang 15và xây dựng mô hình bảo tồn, phát huy giá trị ca dao, dân ca vùng mỏ, vùngbiển Quảng Ninh trong đời sống đương đại
TS.Dương Văn Sáu nghiên cứu văn hóa du lịch: “Sản phẩm của văn hóaViệt Nam trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay” Mỗi một sảnphẩm du lịch văn hóa khi tham gia vào tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa đềuphải thỏa mãn hai yêu cầu sau: kế thừa và phát triển mang những đặc trưngvăn hóa bản địa đặc sắc, đồng thời đáp ứng, làm và thỏa mãn những yêu cầucủa đối tượng sử dụng
Văn hóa du lịch chính là sự phát triển của văn hóa Phát triển văn hóa
du lịch chính là giải quyết nội hàm của văn hóa và phát triển Từ những phân
tích và nhận định ở trên có thể đưa ra kết luận: “Văn hóa du lịch là sản phẩm của văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay”.
TS Bùi Thanh Thủy với “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong bốicảnh toàn cầu hóa”: Khẳng định việc xây dựng và phát triển nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như đáp ứng yêu cầu phát triểncủa xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập kinh tế quốc tế Đảng ta nhấn mạnh văn hóa vừa là mục tiêu,vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội, bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụphát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển vănhóa - nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giátrị tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm giá trị văn hóa vốn có của dântộc
1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.2.1.Khái niệm giá trị
Giá trị là một khái niệm trừu tượng, là ý nghĩa sự vật trên phương diệnphù hợp với nhu cầu của con người Trong các ngôn ngữ phương tây, thuậtngữ “Giá trị” bắt nguồn từ “Value” của tiếng la tinh có nghĩa là khỏe mạnh,
Trang 16tốt, đáng giá Ban đầu được dung để chỉ một thứ gì đó đáng giá, trước hết làtheo nghĩa giá trị trao đổi của kinh tế học mà nhà kinh tế học chính trị AdamSmith đã nói đến trong tác phẩm nổi tiếng của mình.
Đại từ điển Bách khoa của Nga định nghĩa: “Giá trị là ý nghĩa tích cựchoặc tiêu cực của các đối tượng thuộc thế giới bao quanh con người, củanhóm xã hội, của xã hội nói chung, được xác định không phải do các tínhchất tự nhiên của chúng, mà là do chúng được lôi kéo vào lĩnh vực hoạt độngđời sống, các mối quan tâm, các nhu cầu, các quan hệ xã hội của con người.Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự
nhiên, xã hội, là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người
1.2.2 Khái niệm văn hóa
Theo cách hiểu thông thường văn hóa là sản phẩm của con người, là hệquả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáotrong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giớiđộng vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau Do đó có những định nghĩa khác nhau về Văn hóa:
Năm 1952, A.L.Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn
phê phán các khái niệm và định nghĩa], trong đó tác giả đã trích lục khoảng
160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khácnhau Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[1] Theođịnh nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh
Trang 17vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật,đạo đức và pháp luật Có người ví định nghĩa này mang tính “bách khoa toànthư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người[2].
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí
Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày
về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[5] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộnhững gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩacủa Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toànthư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người
Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[6].Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và docon người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đềkháng của mỗi người, mỗi dân tộc
Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa
hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ mà tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm từ đó khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền
Trang 18thống, tín ngưỡng…”[8] Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[9]…
Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính
là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác và văn hóa
là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinhtồn
Từ đó có thể thấy Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong
mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn
hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương
thức và hành động của con người trong các xã hội ấy Do vậy, giá trị văn hoánói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của conngười, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội
độ nghiên cứu khác nhau nên mỗi người có cách hiểu về du lịch khác nhau,đúng như một chuyên gia về du lịch đã từng nhận định: “Đối với du lịch cóbao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”
Theo quan điểm của các nhà du lịch mà tiêu biểu là theo I.I Pirugiơnic(1985), thuật ngữ du lịch được chuyển tải 3 nội dung cơ bản:
1 Cách sử dụng thời gian rỗi ngoài nơi cư trú thường xuyên
2 Dạng chuyển cư đặc biệt
Trang 193 Ngành kinh tế, một trong những ngành thuộc lĩnh vực phi sản xuất Trong du lịch và khách du lịch của PGS.Trần Nhạn định nghĩa: “Dulịch là một dạng hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơikhác với mục đích chủ yếu là cảm nhận các giá trị vật chất, tinh thần đặc sắc,độc đáo khác lạ với quê hương không nhằm mục đích sinh lời”.
Trong quá trình “Thống kê du lịch” Nguyễn Cao Cường và Tô Đăng
Hải chỉ ra rằng: Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ có nhiệm vụphục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ nghơi có hoặc không kết hợp cáchoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học với các nhu cầu khác
Trong cuốn “Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan” với nội dung
khá chi tiết nhà địa lý Belarus đã nhấn mạnh:“Du lịch là một dạng hoạt độngcủa dân cư trong thời gian nhàn rỗi có liên quan có sự di cư và tạm trú tạmthời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần,nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việctiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa, dịch vụ”
Năm 1963 với mục đích quốc tế, tại hội nghi Liên Hợp quốc về du lịchRôma các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hòa các mối quan
hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình vàlưu trú ngoài nơi lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thườngxuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trúkhông phải là nơi làm việc của họ”
Theo luật du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của conngười ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thamquan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”(Điều 4)
Như vậy du lịch được hiểu là: Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm
Trang 20mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xungquanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế, vănhóa và dịch vụ cho các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng Một lĩnh vực kinhdoanh các dich vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển
và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thểngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức
về thế giới xung quanh
1.2.4 Khái niệm du lịch văn hóa
Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005: ״ Du lịch văn hoá là bản sắc dựavào văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn, phát huycác giá trị văn hoá truyền thống”
Trong cuốn “ Nhập môn khoa học du lịch” của Trần Đức Thanh: “ Dulịch văn hóa là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn,hay hoạt động du lịch đó là tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn”
Như vậy theo các quan điểm trên thì tài nguyên du lịch văn hóa cũng làtài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch văn hoá là tất cả những gì docộng đồng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, cùng các thành tố khác được đưavào phục vụ phát triển du lịch Như vậy tài nguyên du lịch văn hoá được hiểu
là bao gồm các di tích, các công trình đương đại, các lễ hội, phong tục tậpquán Tài nguyên du lịch văn hoá chính là các di sản văn hoá do con ngườitạo ra bao gồm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
- Di sản vật thể là những sản phẩm vật chất chất có giá trị lịch sử, vănhoá, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia
- Di sản văn hoá phi vật thể là những sản phẩm tinh thần có giá trị vềlịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trìnhdiễn và các hình thức lưu giữ khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn
Trang 21học, nghệ thuật khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian lốisống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về ydược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc
và những tri thức dân gian khác
1.2.5 Đặc điểm của du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch văn hoá có tác dụng nhận thức nhiều hơn, tác dụnggiải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu
Việc tìm hiểu tài nguyên du lịch văn hoá diễn ra trong không gian ngắn
Nó thường kéo dài một giờ cũng có thể một vài phút Do vậy trong khuôn khổmột chuyến đi du lịch người ta có thể hiểu rõ về một đối tượng văn hóa Tàinguyên du lịch văn hóa thích hợp nhất với loại hình du lịch nhận thức theo lộtrình
Tài nguyên du lịch văn hoá thường tập trung ở các điểm quần cư và cácthành phố lớn Khi đến thăm nguồn tài nguyên này có thể sử dụng cơ sở vậtchất du lịch đã được xây dựng trong các điểm quần cư mà không cần xâythêm
Ưu thế của du lịch văn hoá là đại bộ phận không có tính mùa, không
bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và các điều kiện tự nhiên khác Vìthế tạo nên khả năng sử dụng tài nguyên du lịch văn hoá ngoài giới hạn cácmùa chính do các tài nguyên tự nhiên gây ra và giảm nhẹ tính mùa nói chungcủa các dòng lịch sử
Sở thích của những người tìm đến với tài nguyên du lịch văn hoá rấtphức tạp và khác nhau Nó gây ra rất khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên
du lịch văn hoá: Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên có một số phương phápđánh giá định lượng tài nguyên Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên nhân tạo chủyếu dựa vào cơ sở định tính xúc cảm và trực giác Việc tìm tòi tài nguyên du
Trang 22hứng thú nghề nghiệp, thành phần dân tộc, thế giới quan, vốn tri thức Ví dụđối với người quan tâm đặc biệt với toàn thế giới thì Kim Tự Tháp Ai cập làmong muốn đầu tiên, những người dân địa phương thì lại ưu tiên đối tượngkhác
Tài nguyên du lịch văn hoá tác động theo từng giai đoạn, các giai đoạnđược phân chia như sau:
- Thông tin, ở giai đoạn này khách du lịch nhận được những tin tứcchung nhất thậm chí có thể coi là mờ nhạt về đối tượng nhân tạo và thườngnhững thông tin truyền miệng hhay qua các phương tiện thông tin đại chúng
- Tiếp xúc, là giai đoạn khách du lịch có nhu cầu tiếp xúc bằng mắtthực
- Nhận thức, trong giai đoạn này khách du lịch nhận thức với đối tượngmột cách cơ bản
- Đánh giá, nhận xét, ở giai đoạn này bằng kinh nghiệm sống của bảnthân về mặt nhận thức, khách du lịch so sánh đối tượng này với đối tượngkhác gần với nó Thường thì việc làm quen với tài nguyên du lịch văn hoáthường dừng ở giai đoạn đầu, còn giai đoạn nhận thức và đánh giá nhận xétgiành cho khách du lịch có trình độ văn hoá nói chung và có chuyên môn cao
Trang 231.2.6 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dântộc, mỗi đất nước và cả nhân loại Nó là bằng chứng trung thành, xác thực và
cụ thể về đặc điểm văn hoá của mỗi đất nước Ở đó chứa đựng tất cả những gìthuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, tài năng, trí tuệ, giá trị văn hoá,nghệ thuật của mỗi quốc gia Di tích lịch sử văn hoá có khả năng rất lớn, gópphần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, góp phần vào việcphát triển tài nguyên du lịch nhân văn, khoa học, lịch sử Đó chính là bộ mặtquá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất nước
- Di tích ghi dấu về dân tộc
- Di tích ghi dấu về sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩaquyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương
- Di tích ghi dấu chiến công xếp hạng
- Di tích ghi dấu về sự vinh quang trong lao động
- Di tích ghi dấu tội ác và phong kiến
Trang 24- Loại hình di tích văn hoá và nghệ thuật: là di tích gắn với các côngtrình trình kiến trúc có giá trị nên còn được gọi là các di tích kiến trúc nghệthuật, những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị về kiến trúc màcòn chứa đựng những giá trị cả về xã hội, văn hóa, tinh thần
- Các danh lam thắng cảnh: Là những giá trị văn hoá do thiên nhiên bancho Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp bao la, hùng vĩ, thoángđãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựngnên Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong nó nững giá trị củanhiều loại di tích lịch sử văn hoá vì vậy nó có giá trị quan trọng đối với hoạtđộng du lịch
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Ngày nay khi nền kinh tế phát triển, đời sống của con người được nângcao thì du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngàycủa con người Đặc biệt là nhu cầu về du lịch văn hóa, du lịch nhân văn, dulịch trở về cội nguồn đang trở thành nhu cầu cần thiết và chính đáng của conngười thì mối quan hệ giữa du lịch và các di tích lịch sử văn hóa càng trở nêngắn bó và khăng khít với nhau
Một trong những ý nghĩa quan trọng của du lịch là góp phần cho việctrao đổi, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền Từ việc giao lưu này các ditích lịch sử văn hóa có cơ hội tiếp nhận những cái mới trên cơ sở chọn lọc,giữ nguyên những nét đặc trưng vốn có của mình, làm cho văn hóa dân tộcngày càng thêm phong phú, tiên tiến đậm đà bản sắc, vừa có thể hội nhập vớivăn hóa khu vực mà không mất đi bản sắc riêng của mình theo phương châm
“Hòa nhập nhưng không hòa tan” Đồng thời qua quá trình giao lưu văn hóacũng góp phần quảng bá hình ảnh các di tích lịch sử văn hóa địa phương đếnvới mọi người, mọi vùng miền khác nhau trên thế giới
Hoạt động du lịch còn góp phần to lớn vào chiến lược bảo tồn các ditích lịch sử văn hóa để phục vụ cho hoạt động du lịch Nhu cầu về nâng cao
Trang 25nhận thức trong chuyến đi của du khách thúc đẩy các nhà cung ứng chú ý đếnviệc khôi phục, duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Và ngược lại việcphát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại góp phần làm cho du lịch văn hóa pháttriển Hoạt động du lịch phát triển đã tạo ra nguồn thu để đầu tư cho công tácbảo tồn các di tích lịch sử văn hóa Như vậy qua hoạt động du lịch các di tíchlịch sử văn hóa được khai thác phục vụ du khách, mang lại nguồn lợi chocộng đồng địa phương, giúp cho người dân nhận thức rõ về giá trị của các ditích lịch sử văn hóa, góp phần nâng cao nhận thức của họ trong việc bảo vệcác di tích ấy.
Các điểm du lịch còn tạo ra một không gian sống cho các hoạt độngvăn hóa dân gian truyền thống gắn với các di tích đặc biệt là các giá trị vănhóa phi vật thể, hoạt động du lịch góp phần thổi hồn vào di tích, đưa các giátrị truyền thống tham gia vào cuộc sống hàng ngày với người dân Điều này
đã góp phần giáo dục giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc cho mỗingười dân địa phương cũng như những du khách đến từ mọi miền Tổ quốc vàkiều bào nước ngoài
Không những thế hoạt động du lịch còn góp phần giáo dục con người
về tình yêu thiên nhiên, tình yêu truyền thống tốt đẹp và những giá trị văn hóatốt đẹp của dân tộc Qua đó thể hiện lòng tự hào dân tộc, tình yêu đối với đấtnước với con người và môi trường xung quanh Đặc biệt là đối với thế hệ trẻngày nay thường xuyên tiếp nhận những yếu tố văn hóa ngoại lai từ bênngoài, thì việc giáo dục truyền thống, giáo dục ý thức hướng về cội nguồn có
ý nghĩa vô cùng lớn lao Đây chính là yếu tố quyết định vì chỉ khi có tình yêuquê hương đất nước, tự hào về dân tộc mình thì con người mới có ý thức bảo
vệ cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn và phát huy truyền thống quý báu và tốt đẹpcủa dân tộc
Bên cạnh ý nghĩa giáo dục truyền thống thì thông qua hoạt động du lịch
về với các di tích lịch sử văn hóa còn đáp ứng yêu cầu văn hóa tâm linh củakhách du lịch Bởi vì gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa là các lễ hội, lễ
Trang 26tưởng niệm các vị thần linh được thờ ở các di tích Đó là những người cócông lập ra làng xã, những tổ nghề, những anh hùng dân tộc Họ là những vịthần được nhân dân tôn sùng, có sức mạnh và có ảnh hưởng rất lớn, chi phốiđời sống tinh thần của con người Tham gia vào các lễ hội du khách muốn hòamình vào không khí tưng bừng của các cuộc biểu dương lực lượng, biểudương tình đoàn kết cộng đồng Nhất là khi con người phải đối mặt với nhữngkhó khăn, áp lực của cuộc sống đời thường thì họ luôn có nhu cầu hướng vềthế giới tâm linh bên các vị thần để được xoa dịu những nỗi đau trần thế, giúp
họ vượt qua được những khó khăn, những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời
dù chỉ là về mặt tinh thần Khi gặp những nỗi đau, những điều bất hạnh hầunhư bất kì ai cũng có nhu cầu được chia sẻ được an ủi, và chính những lúc rơivào tình huống như vậy nhiều người sẽ hướng về thế giới tâm linh để cầumong sự che chở, vỗ về
Ngoài ra hướng về đời sống tâm linh còn tạo ra sự đoàn kết, tạo ra sựkết nối quá khứ - hiện tại - tương lai Nó có sức lan truyền mạnh mẽ, tạo ranhững cảm xúc, những rung động thiêng liêng và do đó nó có tác dụng tậphợp đoàn kết, gắn bó con người một cách có hiệu quả và dường như còn làmột cách giúp con người sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn
Như vậy có thể nói rằng: du lịch với các di tích lịch sử văn hóa vừamang tính giáo dục truyền thống vừa đáp ứng yêu cầu văn hóa tâm linh Đâychính là những yếu tố thu hút một lượng lớn khách du lịch tham gia vào hoạtđộng du lịch văn hóa về với các di tích lịch sử văn hóa Tuy nhiên xét về mộtkhía cạnh nào đó thì du lịch cũng có những ảnh hưởng không tốt đến các ditích lịch sử văn hóa:
Khi hoạt động du lịch ngày càng phát triển, khách du lịch ngày càngđông mà nhiều khi những người quản lý ở các di tích lại không chú ý tới quy
mô, sức chứa làm cho các di tích lịch sử văn hóa bị khai thác quá mức dẫn tớitình trạng bị xuống cấp, bị xâm hại nghiêm trọng
Trang 27Khách du lịch đến tham quan các di tích lịch sử văn hóa quá đông màkhông được hướng dẫn cụ thể hay không có ý thức vô tình đã làm phá vỡcảnh quan môi trường xung quanh khu vực có di tích Cộng thêm việc xả rácbừa bãi cũng là một vấn đề đáng báo động gây ô nhiễm môi trường ở các khuvực di tích lịch sử văn hóa vốn được coi là những chốn thanh tịnh.
Mặt khác do chạy theo lợi nhuận kiếm lời không ít người đã làm méo
mó các giá trị đích thực của các di tích lịch sử văn hóa bằng việc thuyết minhsai, chèo kéo khách mua hàng, bán hàng kém chất lượng Điều này vô tình đãlàm mất đi ấn tượng không tốt của của du khách về các di tích lịch văn hóa.Hoạt động du lịch phát triển còn kéo theo nhiều tệ nạn phát sinh tại các khuvực có di tích như: mê tín dị đoan, người ăn xin quá đông hay một số kẻ lợidụng lúc đông người đã trộm cắp đồ của khách gây hoang mang cho dukhách
Chính những hành động ấy đã làm mai một đi truyền thống dân tộc,làm cho những giá trị tốt đẹp đã có từ lâu đời của dân tộc bị mờ dần do sự lạmdụng vì mục đích kinh tế
1.4 Vai trò của di tích lịch sử văn hóa
- Di tích lịch sử văn hoá là những bằng chứng xác thực, trung thành, cụthể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi đất nước, nó chứa đựng tất cả những gìthuộc về truyền thống văn hoá, những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị nghệthuật của mỗi quốc gia
- Với tính độc đáo, tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó,các di tích lịch sử văn hoá có sức thu hút lớn đối với du khách – là tài nguyênquan trọng để phát triển du lịch, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh
tế của địa phương nơi có di tích
Trang 281.5 Xu hướng phát triển của du lịch văn hóa
1.5.1 Xu hướng phát triển của du lịch
- Gia tăng nhanh chóng về mặt số lượng:
Nền kinh tế tăng lên dẫn đến giá cả các dịch vụ giảm đi trong khi mứcthu nhập của họ lại tăng lên, thu nhập ngày càng cao thì càng nhỉều gia đình
đi du lịch tăng lên trong nhân dân, thói quen đi du lịch hình thành rõ rệt
Quá trình đô thị hoá tạo nên một lối sống đặc biệt, lối sống thành thị.Quá trình đô thị hoá làm thúc đẩy quá trình cải thiện điều kiện vật chất và vănhoá cho con người, làm thay đổi tâm lý và hành vi của họ Mặt khác quá trình
đô thị hoá làm giảm chất lượng môi trường, có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻcon người Những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hoá làm tăng nhu cầu
đi du lịch của người dân thành phố
Cơ sở vật chất phục vụ lưu trú như: lưu trú, vận chuyển ngày càngthuận tiện giúp cho du khách đi lại dễ dàng hơn
- Xã hội hoá thành phần du khách:
Trước chiến tranh thế giới thứ hai du lịch chủ yếu giành cho tầng lớpquý tộc, tầng lớp trên của xã hội, sau chiến tranh du lịch không còn là đặcquyền của tầng lớp này nữa Xu thế quần chúng hoá thành phần du khách trởnên phổ biến ở nhiều nước Và trong bối cảnh đó du lịch đại chúng thời hiệnđại đã tự khẳng định mình
- Mở rộng địa bàn:
Sau khi người Anh chỉ ra giá trị của Địa Trung Hải với 3 chữ S, luồngkhách Bắc – Nam là hướng du lịch chủ đạo quan sát được trên thế giới NgườiAnh, Hà lan, Đức, Bỉ đổ về bờ biển Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Italia
Ngày nay hướng Bắc – Nam vẫn chưa hấp dẫn nhiều du khách nhưngkhông giữ nhiều vai trò như trước đây Luồng khách thứ hai ngày nay cũng
Trang 29hình thành là hướng về vùng núi cao, phủ tuyết được mệnh danh là vàng trắngvới các loại hình du lịch trượt tuyết, leo núi, săn bắn Một luồng khách tuymới phát triển nhưng rất có triển vọng trong tương lai gần là chuyển độngTây- Đông Theo các chuyên gia thế kỷ 21 được gọi là thế kỷ Châu Á- TháiBình Dương Trong những năm gần đây du khách đến với các nước này tăngđáng kể Một số đến đây để tìm cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng, nghiên cứu,đầu tư Một số khác đến đây vì hoàn cảnh hay muốn tìm hiểu nền văn hoáphương Đông đầy bản sắc và phần nào kỳ bí đối với họ.
- Kéo dài thời vụ du lịch:
Một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là mang tính thời vụ
rõ nét Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng kinh tế, conngười đã và đang khắc phục được những hạn chế của thiên nhiên Do đó thời
vụ là một yếu tố bất lợi trong kinh doanh cho nên người ta tìm cách để hạnchế ảnh hưởng của nó như mở rông địa bàn du lịch, dịch vụ Do đó góp phầnlàm tăng lượng khách trong những năm gần đây
1.5.2 Xu hướng phát triển du lịch văn hóa
Du lịch văn hoá đang có xu hướng gia tăng Bên cạnh loại hình du lịch
tự nhiên, du lịch sinh thái, hoạt động du lịch văn hoá cũng không ngừng pháttriển, xu hướng này là do một số nguyên nhân sau:
Các đối tượng văn hoá được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫnđối với du khách Nếu như tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn du khách bởi
sự hoang sơ, độc đáo, hiếm hoi của nó, thì tài nguyên du lịch văn hoá thu hút
du khách bởi sự phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng nhưtính địa phương của nó, các tài nguyên du lịch văn hoá là cơ sở để tạo nên loạihình du lịch văn hoá phong phú có khả năng thu hút du khách với nhiều mụcđích khác nhau Các tài nguyên du lịch văn hoá thường tập trung ở các điểmquần cư và các thành phố lớn, vì vậy thuận tiện cho du khách tham quan
Trang 30Tài nguyên du lịch văn hoá không mang tính thời vụ, không phụ thuộcvào các điều kiện khí tượng và các điều kiện thiên nhiên khác vì vậy du khách
có thể lựa chọn loại hình du lịch này vào bất cứ thời gian nào
Một trong những đặc trưng của tài nguyên du lịch văn hoá là việc nó phụthuộc vào trình độ văn hoá và nghề nghiệp của khách du lịch Ngày nay trình
độ văn hoá của cộng đồng ngày càng được nâng cao, du lịch trở thành mộtnhu cầu không thể thiếu được của con người, số lượng người đi du lịch ngàycàng nhiều, lòng ham hiểu biết những cảnh đẹp mới lại, những nền văn hoáđộc đáo của các nước xa gần
Xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động Các quốc giatrên thế giới đang trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế, văn hoá vànhiều lĩnh vực khác Vậy nhu cầu giao lưu, tìm hiểu văn hoá của các quốc gia,dân tộc khác trên thế giới cũng là một động lực thúc đẩy khách du lịch thamgia vào hoạt động du lịch văn hoá, làm cho du lịch văn hoá phát triển khôngngừng
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lich văn hóa
- Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội
Không khí chính trị hoà bình đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan
hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị giữa các dân tộc Trong phạm vi cácmối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng Du lịch nói chung, dulịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển trong bầu không khí hoà bình, ổnđịnh trong tình hữu nghị giữa các dân tộc
- Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều nhân tốkhác nhau như nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, ăn uống, tham quan tức là tạođiều kiện cho hoạt động du lịch ra đời và phát triển Trước sự phát triển củakhoa học kỹ thuật và đặc biệt là ngành giao thông vận tải đã giúp cho các địa
Trang 31phương – nơi có tài nguyên du lịch quảng bá về hình ảnh của mình trên cácphương tiện thông tin đại chúng, đồng thời tạo điều kiện cho khách du lịchtiếp cận và đến với địa phương một cách dễ dàng hơn.
- Chính sách phát triển du lịch:
Chính sách của chính quyền, nhà nước và địa phương có vai trò quantrọng đến sự phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hoá nói riêng Mộtquốc gia, một đất nước có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của ngườidân không thấp, nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ cho hoạt động
du lịch thì hoạt động này cũng không phát triển được
Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch giúp cho các cơ sở phục vụ du lịch hoạt động có hiệu quả, kéo dài thờigian sử dụng chúng trong năm
Để đảm bảo cho việc tham quan du lịch trên quy mô lớn cần phải xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật như nhà hàng, khách sạn, các cơ sở vui chơi giảitrí khâu trung tâm của cơ sở vật chất kỹ thuật là phương tiện phục vụ cho việc
ăn uống, ngủ nghỉ của khách, tức là nguồn vốn cố định của du lịch
Sự đầu tư cho du lịch: Các địa phương cần có sự đầu tư từ nhiều nguồnkhác nhau cho việc khôi phục và bảo tồn di tích, xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ
sở vật chất kỹ thuật để phục vụ cho việc phát triển du lịch
Trang 321.7 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch văn hóa
Mức tăng trưởng lượng khách
Số khách du lịch (K) là lượng khách du lịch đến địa phương trong kỳnghiên cứu
Mức tăng trưởng doanh thu:
Doanh thu du lịch là toàn bộ số tiền thu được từ khách du lịch trong kỳ
du lịch do hoạt động phục vụ các loại bao gồm các chi phí về dịch vụ du lịchcủa khách, trừ chi phí vận chuyển khách quốc tế Mức tăng trưởng doanh thuchính là kết quả so sánh giữa doanh thu của kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc
Trang 33- HDT: Mức tăng trưởng doanh thu
- DT1: Doanh thu trong kỳ nghiên cứu
- DT0: Doanh thu trong kỳ gốc
Mức tăng trưởng lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh giá trị thặng dư hoặc mức hiệu quả kinhdoanh mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận doanh nghiệp du lịch là khoản chênh lệch giữa tổng doanhthu và tổng chi phí của doanh nghiệp du lịch đó, biểu hiện theo công thức sau:
Lợi nhuận = Doanh thu du lịch - chi phí kinh doanh
Trang 34TIÊU KẾT CHƯƠNG 1
Thực tế hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay cho thấy “Văn hóa dulịch là khoa học nghiên cứu, khai thác các giá trị văn hóa để phát triển du
lịch” Văn hóa du lịch là một khoa học mà đối tượng nghiên cứu của nó là
văn hóa Việt Nam, mục tiêu của nó là đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu khácnhau ngày càng cao về văn hóa của du khách trong và ngoài nước
Văn hóa du lịch chính là phương pháp để giải bài toán cung – cầu của
du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập Do vậy, Văn hóa du lịch chính làsản phẩm của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa hiệnnay Du lịch văn hóa hiện nay đang là một hướng phát triển hiệu quả củanghành Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Bắc Ninh nói riêng Hệ thốngcác di tích lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc lịch sử đó đã đóng góp vaitrò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt, đồng thời đây cũng làtài nguyên quý giá cho sự phát triển của du lịch
Hoạt động du lịch đã khai thác rất nhiều các yếu tố văn hóa của cộngđồng dân cư Việt được đặc biệt quan tâm chú ý Những công trình kiến trúcnhư: đình, chùa, miếu, đền, các di tích cách mạng gắn với các sinh hoạt vănhóa của cộng đồng dân cư Việt Hoạt động du lịch văn hóa khai thác các yếu
Trang 35tố này để giúp cho du khách có thể hiểu được lịch sử của mỗi vùng miền vàcảm nhận được những nét văn hóa đặc trưng của từng vùng đất
Bên cạnh đó hoạt động du lịch văn hóa còn góp phần giáo dục cho thế
hệ trẻ truyền thống của dân tộc biết giữ gìn những truyền thống và phong tụctập quán tốt đẹp của quê hương Đặc biệt trong đó là di tích chùa Bút Thápvới giá trị văn hóa đặc sắc và nổi bật, chùa Bút Tháp là một di tích Phật giáođộc đáo nhất của vùng bồng bằng Bắc bộ Nó đang trở thành một điểm dulịch, một địa chỉ hành hương của đồng bào cả nước và khách nước ngoài
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA TRONG DU LỊCH TẠI CHÙA BÚT THÁP TỈNH
BẮC NINH
Trang 362.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Bắc Ninh
Nằm kề cận với thủ đô, có diện tích nhỏ nhất nước, với sáu huyện, thị,nhưng khát vọng trí tuệ, khát vọng sống, khát vọng khẳng định mình của KinhBắc chẳng nhỏ tý nào
Sách cổ của người xưa từng ngưỡng mộ: "Kinh Bắc nổi tiếng văn nhã".Ðất Kinh Bắc là nơi kết tụ của tài hoa các làng nghề: làng tranh Ðông Hồ,Làng giấy Ðống Cao, làng chạm khắc Phù Khê, làng đồng Ðại Bái, làng buôn
Trang 37Phù Lưu Là đất của hàng nghìn di tích lịch sử, danh thắng của các đình, đền,chùa nổi tiếng
Người Kinh Bắc thông minh, tinh tế ở bất cứ thời đại lịch sử nào KinhBắc cũng hiến cho đời không ít những danh nhân, nhân tài, kẻ sĩ, các bậc hiềntài Các cộng đồng làng Kinh Bắc từ đời này sang đời khác, từ thế hệ nàysang thế hệ khác, gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong lao độngcần cù, trong khát vọng yêu thương, vượt lên thiên tai, địch hoạ, vượt lên giankhó, "thương người như thể thương thân", "tứ hải giao tình, bốn biển mộtnhà" như lời dân ca Quan họ
Trong suốt quá trình quá trình phát triển của đất nước, Bắc Ninh làmảnh đất có truyền thống khoa bảng, truyền thống văn hiến, truyền thống lịch
sử quật cường chống giặc ngoại xâm, nơi sản sinh ra nhiều danh nhân, anhhùng nổi tiếng của dân tộc
Vì vậy đến nay Bắc Ninh vẫn lưu giữ được nhiều di sản văn hoá, phongphú, đặc sắc có giá trị như những công trình kiến trúc nghệ thuật, những ditích lịch sử văn hoá, những lễ hội truyền thống của dân tộc, những làng nghềthủ công đặc sắc, những làn điệu dân ca quan họ thấm đượm chất duyên quê.Khi đến đây chắc hẳn du khách không nỡ rời xa nơi đây khi nghe các liềnanh, liền chị cất lên lời hát “người ơi, người ở đừng về”
Không những thế Bắc Ninh còn là một vùng đất hội tụ của nhiều dấutích văn hoá và tôn giáo lớn, vùng đất đã hình thành nhiều huyền thoại đi vàotâm linh của cư dân người Việt, vùng đất đã sản sinh ra vương triều Lý - mộttriều đại đã khai mở nền văn minh Đại Việt và phát triển rực rỡ trong suốt hơn
200 năm Bắc Ninh là nơi sinh ra nhiều nhân tài trong lịch sử đất
Bắc Ninh còn là vùng đất tổ của những làn điệu dân ca quan họ đặc sắc,tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ, mang đậm bản sắc vùng miền.Quan họ Bắc Ninh ngày nay đã trở thành di sản văn hoá quý của Việt Nam, làquê hương của chùa tháp, lễ hội và các sinh hoạt văn hoá cổ truyền Mỗi lễ
Trang 38hội đều thể hiện những vẻ đẹp, tinh hoa văn hoá của địa phương và dân tộc Tất cả những di sản đó đã tạo cho Bắc Ninh một tiềm năng to lớn đểphát triển du lịch văn hoá, một xu hướng phát triển du lịch trên thế giới vàcũng định hướng phát triển du lịch hiện tại và tương lai của đất nước.
2.1.2 Khái quát về di tích chùa Bút Tháp
- Vị trí và tên gọi của chùa
Chùa bút tháp thuộc thôn bút tháp thuộc thôn bút tháp, xã đình tổ,huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh Chùa có tên chữ là “Linh Phúc Tự”, là mộttrong không nhiều ngôi chùa cổ, có quy mô, kiến trúc lớn ở đồng bằng Bắc
Bộ còn lại đến ngày nay, ngôi chùa không chỉ đẹp bởi lối kiến trúc cổ kính,những tác phẩm điêu khắc tinh xảo mà còn đẹp bởi có sự hoà hợp với vẻ đẹpcủa thiên nhiên thơ mộng Có thi sỹ khi đến đây chứng kiến vẻ đẹp của chùaBút Tháp mà thốt lên rằng:
“Mênh mông biển lúa xanh rờn Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau
Một vùng phong cảnh trước sau Bức tranh thiên cổ đậm tình nước non”
Tương truyền có một thời chim nhạn thường bay về đậu trên ngọntháp Ninh Phúc Tự và đã để lại trong tâm thức một cái tên về chùa Bút Tháp
từ đấy.Tên chùa Bút Tháp có từ nửa sau thế kỷ XIX, do vua Tự Đức đặt năm
1876 khi thấy cây tháp của chùa giống như ngọn bút đang đề thơ lên trờixanh, làng ở gần chùa cũng nhân tên chùa mà gọi là làng Bút Tháp
-Lịch sử hình thành và phát triển của di tích chùa bút tháp
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đãđược Bộ Văn hóa -Thông tin xếp hạng là di tích cấp quốc gia theo quyết định
số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962
Người xưa thường dạy rằng:
Trang 39“ Mái chùa che cở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông”
Không biết từ bao giờ mái đình, cây đa, bến nước, những ngôi chùa cổkính rêu phong đã trở thành biểu tượng văn hoá của mỗi làng quê ViệtNam Một nhu cầu không thể thiếu của mỗi người dân là việc lên chùa trongdịp lễ, tết, ngày rằm, mùng một Khi lên chùa tức là con người đã bước vàokhông gian của chùa phật, sẽ có cảm giác thanh tịnh, trút bỏ những lo toancủa cuộc sống thường ngày Hoặc người ta đi chùa còn để cầu phúc, chúclành cho những người thân yêu của mình, cũng có thể muốn tìm hiểu về lịch
sử của các ngôi đền, chùa và sự tích các tổ sư, thần thánh được thờ ở nơi đó
Chùa Bút Tháp bắt đầu thiên lịch sử của mình từ bao giờ thì cho đếnnay trong tất cả các tài liệu đề cập đến ngôi chùa chưa có một tài liệu nào chỉ
ra một cách đích xác Như chúng ta đã biết chùa Bút Tháp có tên chữ là “NinhPhúc tự” hay còn có tên khác là “Hùng Nhất Tự” Căn cứ vào hồ sơ xếp hạng
di tích tại cục bảo tồn bảo tàng thuộc bộ văn hóa thông tin thì chùa Bút Thápvốn trước đây là một ngôi chùa nhỏ, không rõ được khởi công xây dựng từbao giờ
Những trang sử đầu tiên ghi nhận việc xây dựng chùa bắt đầu từ đờiTrần Nhân Tông nhưng chỉ có “Nhất gian nhị trái” gọi là “Ninh Phúc Tự”
Lý Đạo Tái đỗ trạng nguyên năm 1274, chán ghét cảnh đời, đến năm 1297xuất gia lấy pháp danh là Huyền Quang, về đây trụ trì, xây dựng chùa có quy
mô lớn Tương truyền ông đã xây dựng ngọn tháp hình hoa sen 9 tầng, nhưngthời gian và định hoạ đa làm đổ nát đến nay đã không còn dấu tích gì
Đầu thế kỷ XVII, sư Chuyết Chuyết, một vị hoà thượng tinh thông tamgiáo, khi về Bút Tháp tu hành đã từng thiết kế nhiều chùa chiền trong nước,nay tham khảo kiến trúc Phật Giáo Trung Hoa để kiến trúc chùa Bút Tháp
Do công đức ấy, sư Chuyết Chuyết được tôn là tổ thứ nhất và đặt xá lị trên
Trang 40Tháp Báo Nghiêm Học trò của sư là hoà thượng Minh Hạnh để nối tiếp tríthầy hoàn thành công việc mở mang chùa năm 1647 Và trước đó năm 1640chúa Trịnh Tráng đồng ý cho trùng tu và xây dựng mới ngôi chùa theo kiếntrúc nội công ngoại quốc Năm 1876 vua Tự Đức đặt tên chùa là Bút Tháp.
Để có hiện trạng như ngày nay chùa đã trải qua nhiều đợt trùng tu Qua nhiềuthế kỷ với bao thăng trầm, chùa Bút Tháp vẫn vẹn nguyên như ngày đượctrùng tạo Bao thế hệ người đã qua đi, đã đóng góp nhiều công sức để chùaBút Tháp luôn luôn là niềm tự hào của xứ Kinh Bắc và của cả nước, luônluôn là một trung tâm Phật giáo lớn, khang trang, tráng lệ, góp phầnđáng kể vào đời sống tinh thần của nhân dân trong các thời kỳ lịch sử
2.2 Những giá trị nghệ thuật cơ bản của di tích chùa Bút Tháp
2.2.1 Giá trị nghệ thuật kiến trúc của di tích chùa Bút Tháp
Chùa Bút Tháp tọa lạc trên một diện tích đất khá rộng, nằm kề liềntrên đê sông Đuống Trong khuôn viên chính của chùa đến nay trừ toà ThiêuHương được bố trí dọc để nối toà Tiền Đường và toà Thượng Điện còn lại tất
cả bảy nếp nhà đều nằm ngang, chạy song hàng từ trước ra sau theo thứ tựTam quan, Gác chuông, Tiền Đường, Thượng Điện, Tích Thiện Am, NhàTrung, Phủ Thờ và Hậu Đường Hai bên có hai dãy hành lang chạy dài từ phíanhà bia ở hai đầu hồi nhà Tiền Đường cho đến Hậu Đường Bên trái chùa,phía sau dãy hành lang có nhà Tổ Đệ Nhất dùng làm nơi thờ thiền sư ChuyếtChuyết, Minh Hành Ở bên và phía sau chùa người ta bố trí các ngọn tháp đá
và tháp gạch, trong đó có hai ngọn tháp cao vút và bề thế, đó là Tháp BáoNghiêm và Tháp Tôn Đức (tháp Tôn Đức bây giờ đang được trùng tu lại)
Ngoài ra còn có các ngọn tháp khác như tháp Tâm Hoa, tháp Ni Châucũng đều bằng đá Ngoài các tháp đá này, phía sau hai dãy hành lang và bêntrái nhà Tổ Đệ Nhất người ta bố trí các tháp gạch
- Kiến trúc các tòa nhà
Tam quan của chùa Bút Tháp là một nếp nhà nhỏ, có kết cấu kiến trúc
mà ta ít gặp ở các kiến trúc khác Tam quan có kết cấu ba hàng chân cột, có