1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SỰ cần THIẾT đổi mới CÁCH TIẾP cận về đào tạo CHUYÊN NGÀNH TRIẾT học và CHỦ NGHĨA xã hội KHOA học

10 774 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 314,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh Phần lớn giảng viên các môn lý luận chính trị tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay được đào tạo chuyên ngành lý luận chính trị từ các cơ sở thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 1

SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN

VỀ ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Đinh Ngọc Thạch *

1 Vài nét về thực trạng đào tạo chuyên ngành triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học tại Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Phần lớn giảng viên các môn lý luận chính trị tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay được đào tạo chuyên ngành lý luận chính trị từ các cơ sở thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, một phần từ hệ thống các học viện, viện Nguồn nhân lực các môn khoa học Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tương đối ổn định Cùng với quá trình chuẩn hóa đào tạo, việc chuẩn hóa đội ngũ một cách triệt để đã thúc đẩy giảng viên tiếp tục trau dồi kiến thức, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, không dừng lại ở trình độ cử nhân Có thể nói động lực của việc nâng cao trình độ chính là lợi ích sống còn của nhà giáo – nhà khoa học, nhu cầu xã hội, cuộc “cạnh tranh” tất yếu của những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lý luận chính trị Nhiều cơ sở đào tạo chỉ tiếp nhận tiến sĩ, thạc sĩ, hoặc thực hiện nghiêm túc quá trình sàng lọc đội ngũ (quá trình hậu tuyển dụng), nhằm đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực theo quy định chuẩn hóa Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng các cơ

sở đào tạo đại học, sau đại học, đội ngũ những người làm công tác

lý luận, nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị ngày càng đông đảo và phong phú, khiến cho tính cạnh tranh trở nên phổ biến

* PGS.TS, Giám đốc Trung tâm Lý luận chính trị, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Trang 2

Một số cơ sở đào tạo phía Nam, trong đó có các trường đại học thành viên ĐHQG-HCM như Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Trường Đại học Kinh tế - Luật, với bề dày truyền thống 40 năm đào tạo chuyên ngành lý luận chính trị, đã đạt được những thành quả to lớn, được xã hội thừa nhận Đặc biệt số lượng thí sinh tham gia thi tuyển sau đại học chuyên ngành triết học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn luôn được xếp vào hàng đầu của Nhà trường Nhờ chất lượng đào tạo được đảm bảo, đội ngũ giảng viên và các nhà khoa học đầu ngành hùng hậu (khoảng 2/3 GVCC và PGS hiện nay từng học hoặc làm NCS tại nước ngoài), Khoa Triết học có sức thu hút lớn đối với học viên, nghiên cứu sinh Hàng năm có khoảng 90 - 120 đơn xin thi tuyển cao học, 20 - 30 hồ sơ dự tuyển NCS chuyên ngành CNDVBC & CNDVLS, LSTH (hiện nay thống nhất tên gọi chung chuyên ngành Triết học) Số thí sinh thi tuyển chuyên ngành CNXHKH tuy ít hơn, nhưng khá ổn định Sự sàng lọc bắt đầu từ “đầu vào”, từ khâu thi tuyển Bất chấp sự cạnh tranh từ các cơ sở đào tạo khác, ĐHQG.HCM vẫn duy trì cách tính nhất quán trong những môn thi điều kiện (ngoại ngữ, tin học) và những quy định về tổ chức, quản

lý các bậc và các hình thức đào tạo để khẳng định “thương hiệu” của mình Điều này khiến cho số lượng thí sinh dự tuyển đông, nhưng chỉ khoảng ¼ hoặc ít hơn trúng tuyển, số lại tìm nơi nào

“thuận lợi” hơn để thi tuyển Với chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, đôi khi chỉ có 2 học viên vẫn tổ chức một lớp học để duy trì đào tạo chuyên ngành Các đề tài luận văn, luận án của học viên, nghiên cứu sinh không dừng lại ở việc “trả bài”, mà còn đóng góp thực sự vào việc phát triển tư duy lý luận, được vận dụng vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu sau này Đó là những kết quả đã được thẩm định về mặt xã hội, trước hết là tại nơi công tác của các thạc

sĩ, tiến sĩ được đào tạo từ đây

Bên cạnh những thành quả đáng khích lệ, trong vài năm trở lại đây chất lượng đào tạo và nghiên cứu chuyên ngành triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học tại ĐHQG-HCM cũng như trong cả nước đang có dấu hiệu chững lại Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, trước hết là sự bất cập trong khâu tổ chức và quản lý “Đầu vào” trình độ cử nhân tương đối thấp so với các ngành khác, còn trình độ sau đại học thì không đều do tuyển từ nhiều nguồn, từ các ngành gần, cận ngành của triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 3

Tuy được gọi là “cận ngành”, song sự chênh lệch về trình độ bộc lộ khá rõ ở người học, thể hiện trong việc tiếp thu kiến thức chuyên ngành Lẽ cố nhiên cơ sở đào tạo, mà trước hết là giảng viên, đã có nhiều nỗ lực để san lấp sự chênh lệch này, song chắc chắn không tránh khỏi những bất cập

Đội ngũ chất lượng cao, các nhà giáo – nhà khoa học đầu ngành, giàu bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm trong đào tạo, nghiên cứu chuyên ngành triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học đang cạn dần, nhưng lực lượng kế thừa vẫn chưa đủ điều kiện thay thế một cách đồng bộ

Người học ở cả trình độ đại học và sau đại học còn thụ động, phần lớn chờ đợi thông tin từ giảng viên hơn là tự mình tìm hiểu vấn đề Một số học viên, sinh viên có ý thức mở rộng kiến thức thì chưa đủ bản lĩnh và kinh nghiệm xử lý cả rừng tài liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, dẫn đến nhận thức sai lệch

Mở rộng ra trong hệ thống các nguồn tài liệu “chính thống” (ngụ ý về một số cuốn giáo trình dùng cho sinh viên và học viên không chuyên ngành hiện nay) thì nội dung và phương pháp tiếp cận còn nhiều bất cập, cách tiếp cận cũ vẫn đang được duy trì, chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ, tình trạng phân tuyến một cách giản đơn đang tác động đến tình trạng phát triển tư duy lý luận nước nhà, không phù hợp với quan điểm đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Nhiều nhà giáo – nhà khoa học, với tâm huyết nghề nghiệp của mình, luôn trăn trở tìm hướng đi mới, tránh lối mòn trong suy nghĩ, trong tiếp nhận và xử lý thông tin Họ cho rằng, vòng kim cô

cơ chế và sự e ngại bị quy chụp về tư tưởng là nguyên nhân của sự thiếu bản lĩnh tiếp cận cái mới trong đội ngũ làm công tác lý luận và giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị Đối với triết học, nhiểu vấn

đề cơ bản của triết học đã biến thành hệ quy chiếu duy nhất, mà không tính đến đặc thù của các nền triết học, nên dẫn đến một số nhận định có tính khiên cưỡng, không thể hiện được bản sắc của văn hóa phương Đông và phương Tây, cũng như chưa làm gần vấn đề của triết học với vấn đề cùa cuộc sống Lịch sử từng biết đến tình trạng này ở phương Tây, nhưng đã lâu lắm rồi Tại các nước phương Tây sự tách biệt lớn giữa tư duy lý luận và cuộc sống đời thường suốt hàng ngàn năm đã bị vạch ra và phê phán gay gắt không dưới

Trang 4

một lần Chẳng hạn, các giáo phụ trung cổ phê phán triết học Hy Lạp như “xa xỉ phẩm của một số ít nhà thông thái” (Tertullien, Lactantius,Augustine) Vào những năm 20 – 40 của thế kỷ XIX ước muốn vượt qua truyền thống “cổ điển” đưa đến sự ra đời của khuynh hướng phi duy lý – nhân bản và khuynh hướng thực chứng – khoa học Đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX cùng với quá trình phi cổ điển hóa triết học, các nhà triết học thực dụng Mỹ, từ Peirce đến James và Dewey, thực hiện ý tưởng cải tổ tri thức triết học, để “làm cho tư tưởng trở nên rõ ràng”, vượt qua siêu hình học tại cựu lục địa Hiện nay cũng vậy, trong các đại hội triết học thế giới gần đây, việc nhận thức lại các vấn đề triết học, trước hết là tìm hiểu và đánh giá lại truyền thống, sự kết hợp nhiều cách tiếp cận trong việc luận giải các vấn đề trong thế giới mở nhưng hết sức phức tạp thường xuyên được đặt ra như nhu cầu thiết yếu đối với những người nghiên cứu và giảng dạy triết học và các ngành khoa học xã hội – nhân văn khác Tuy nhiên, dường như những vấn đề mới, quá trình “nhận thức lại” chưa được cập nhật trong quá trình đào tạo chuyên ngành ở một số cơ sở đào tạo nước ta

Khá nhiều nội dung của triết học, căn cứ trên các nguồn tài liệu mang tính giáo khoa, đã không còn phù hợp, hoặc tỏ ra đơn giản và “ngây thơ” dưới ánh sáng của trí tuệ loài người, của tiến bộ

xã hội, những thành quả của khoa học, công nghệ và diễn biến của thực tiễn Cách xem xét lịch sử triết học trong một vài tài liệu được

xã hội hóa hiện nay có khá nhiều điều cần thay đổi, nếu không muốn làm nghèo và làm lệch tư duy của người học trong đánh giá lịch sử Chúng ta biết rằng lịch sử đã an bài, nhưng đánh giá về lịch

sử vẫn còn gây nên nhiều tranh cãi F Bacon từng phê phán những

“bóng ma” của uy quyền tư tưởng đã khiến cho tư duy khoa học bị ô nhiễm, và ông kêu gọi tinh thần Đại phục hồi khoa học (Instauratio Magne Scientiarum), trả lại cho khoa học chức năng thiêng liêng của nó là khai mở trí tuệ, giúp con người khẳng định quyền lực của mình trước tự nhiên và các lực lượng xã hội tự phát Đôi khi người

ta gán cho lịch sử điều mà nó chưa thể đạt được vào thời mình, song không tìm hiểu xem trong điều kiện cụ thể ấy các nhà tư tưởng đã

có những đóng góp gì Triết học Hegel trong một số cuốn sách được liệt vào hàng “giáo trình” chỉ được xem một phía, chưa bao quát toàn bộ hệ thống, hoặc giải thích theo kiểu “Hegel cho rằng con người là kết quả của sự tha hóa ý niệm”! Viết về Platon, một số tác

Trang 5

giả chỉ nhìn ông như một phần tử “bảo thủ, phản động” về chính trị

vì chủ trương chủ nghĩa cộng sản trại lính, mà không xét cội nguồn của quan niệm ấy và những đóng góp của ông ở khía cạnh giáo dục, văn hóa, trong đó có cả văn hóa chính trị Nói đến Kant và Hume, người học chỉ được biết đến “chủ nghĩa hoài nghi”, “chủ nghĩa bất khả tri” trong đề cương bài giảng của giảng viên, mà quên rằng, những đóng góp của họ trên phương diện nhận thức luận và nhân bản luận vẫn chưa được khai thác đầy đủ! Những nhà tư tưởng có quan điểm trái với CNDVBC & CNDVLS thì bị gọi là, hay chuyển ngữ sang tiếng Việt là “bọn”, “bè lũ” (chẳng hạn “bọn Makhơ”, dù Makhơ là nhà vật lý lừng danh của thời đại, một trong những người thầy có ảnh hưởng lớn đến Einstein) Đó là cách viết thiếu chuyên nghiệp về lịch sử tư tưởng, cách phân tích lịch sử theo lối siêu hình, phân tuyến cứng nhắc, với những lát cắt tách rời nhau Cách tiếp cận đó trái với phong cách tư duy vừa khoa học, cách mạng, vừa thấm đượm tính nhân văn của C Mác, V I Lênin, Hồ Chí Minh Với chủ nghĩa xã hội khoa học, sự xơ cứng trong việc đánh giá các

tư tưởng chính trị, xã hội trong lịch sử vẫn được duy trì trong một số cuốn sách, gây khó khăn cho cả người dạy lẫn người học Đôi khi người giảng ngại cung cấp thông tin mới và khảo sát các cách tiếp cận “không chính thống” do bị vướng vào hệ chuẩn cứng nhắc, xuất phát từ những năm 30 của thế kỷ XX

2 Một vài suy nghĩ về sự cần thiết đổi mới cách tiếp cận trong đào tạo, nghiên cứu chuyên ngành triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học

Cách đây mấy năm chúng ta phân định các khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng một cách rõ ràng, minh

bạch và xác đáng Giờ đây các nhà quản lý chỉ gọi chung là lý luận

chính trị Lý luận chắc hẳn rộng hơn lý luận chính trị, và “các khoa

học Mác – Lênin” vẫn là cách gọi thể hiện thái độ khoa học đối với các chuyên ngành (dù chưa đầy đủ nếu đi vào chuyên ngành hẹp) Chớ nên đồng nhất các chuyên ngành triết học (triết học Mác – Lênin là một bộ môn chủ lực trong đó), chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị học, Hồ Chí Minh học, lịch sử Đảng (trình độ cử nhân có môn học Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam) với các môn lý luận chính trị nói chung như dành cho khối không chuyên, vì đó là môn khoa học, và không nên đồng nhất lý

Trang 6

luận với “lý luận chính trị”, cho dù ở nước ta tư duy lý luận nhất định chịu sự định hướng của đường lối chính trị, xem mục tiêu cao nhất là bảo vệ những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, bảo vệ chế độ và góp phần vào “tổng kết thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển, cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đướng lối, chính sách phát triển đất nước trong giai đoạn mới”1

Để đào tạo nên những chuyên gia trong lĩnh vực triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học, cơ sở đào tạo cần mạnh dạn thay đổi phương thức tuyển sinh (đầu vào), không nên hạ thấp điểm chuẩn để thu hút đông người học (những thí sinh yếu các ngành khác nên

“cực chẳng đã” chuyển sang ngành triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học), mà chấp nhận cả tình thế thiếu hụt chỉ tiêu để nâng chất người học ngay từ đầu Đối với đào tạo sau đại học, việc duy trì yêu cầu bắt buộc về ngoại ngữ ngay từ đầu vào, siết chặt “đầu ra” môn tin học cần được phát huy, và thống nhất trên toàn quốc, nhằm tránh tình trạng thả nổi chất lượng, mạnh ai nấy làm

Về phương pháp tiếp cận chuyên ngành, người viết xin được chia sẻ quan điểm của GS TS Nguyễn Văn Huyên trong bài viết

“Nghiên cứu và đào tạo triết học ở Việt Nam thời gian qua – mấy đề

xuất phương pháp đổi mới” Bàn về hướng đi mới cho nghiên cứu

và đào tạo triết học tại Việt Nam, Giáo sư cho rằng: “Để phát triển nền triết học Việt Nam…cần có quan niệm, cách tư duy, cách nghiên cứu triết học theo hướng mở và động, chứ không theo khép kín và tĩnh tại”2 Tác giả bài viết đưa ra những đề xuất khá táo bạo, làm rõ hơn nữa những đóng góp, những tìm tòi mới trong tri thức triết học, điều chỉnh cách tiếp cận hiện nay nhằm làm nổi bật những điểm nhấn trong tư duy triết học (triết học về thế giới tinh thần, triết học giá trị, triết học kinh tế, triết học chính trị – xã hội, triết học

“hành động”, triết học văn hóa, triết học về đời sống tinh thần – tâm linh…), khắc phục lối phân tuyến cứng nhắc tồn tại bấy lâu nay3

J Derrida trong cuốn “Những bóng ma của Mác” đã ngụ ý

rằng, mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội đã toan tính vô hiệu hóa một

1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 134

2 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Thông tin những vấn đề lý luận (phục vụ lãnh đạo), số 7/2014, tr 25

3

Trang 7

sức mạnh tiềm tàng trong tư tưởng của Mác, làm cho nó phải trải qua “những cơn đau lịch sử” Nhà tương lai học tin tưởng chủ nghĩa Mác sẽ trở lại, vì đó là “học thuyết cứu thế mới”, “mở hướng cho tương lai nhân loại” Ông khuyên chúng ta hãy “trở lại Mác”, đọc Mác như “đọc một nhà triết học vĩ đại”4 Đọc và viết về Mác một cách xác đáng khác với sự “vo tròn” di sản tư tưởng của Mác trong một bộ khung cứng nhắc, thiếu sinh khí Vào thời mình, C Mác và

V I Lênin luôn kết hợp hai cách tiếp cận trong đánh giá lịch sử tư tưởng, cũng như trong việc phân tích các vấn đề đương đại Tìm hiểu sự phát triển của tư tưởng triết học qua các thời đại, C.Mác nhận định: “… mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình”5, “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình”6, đồng thời ông cũng khẳng định: “không có đảng phái thì không có sự phát triển”7

Nhân đọc Socrates, V I Lênin viết trong “Bút ký triết học”:

“Chủ nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông

minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn” 8 “Chủ nghĩa duy tâm thông

minh” của Socrates, Platon, Hegel, dù có những hạn chế ở phương diện thế giới quan, nhân sinh quan, song đã để lại nhiều tư tưởng có giá trị cho nhân loại ở những khía cạnh khác của văn hóa tinh thần

V I Lênin từng phê phán những toan tính xem xét chủ nghĩa Mác bên ngoài văn hoá nhân loại Cách tiếp cận “có văn hóa” ấy của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đối với di sản văn hóa cần được kế thừa và phát huy trong điều kiện hiện nay, nhằm làm cho lịch sử không chỉ sống lại, mà còn gia nhập vào cái toàn thể đang vận động hướng về tương lai

Đổi mới cách tiếp cận trong giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành đòi hỏi sự đào sâu tìm tòi của người giảng viên, sự tương tác tích cực giữa giảng viên và sinh viên, học viên Sức hút của người

4 Xem J Derrida Những bóng ma của Marx Sách dịch Nxb Chính trị quốc gia và Tổng cục II Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1994, tr 77, 78, 189…

5 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 157

6 C Mác và Ph Ăngghen, Sđd, t.1, tr 156

7 C Mác và Ph Ăngghen, Sđd, t.1, tr 167

8 V I Lênin Toàn tập, t 29, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 293

Trang 8

thầy trong thế giới hôm nay không chỉ dừng lại ở những bài thuyết giảng chất lượng cao, mà còn ở khả năng gợi mở những vấn đề mới

mà người học quan tâm, chú trọng chất lượng của những cuộc đối thoại và cả những đột phá “lệch chuẩn”9 Sự tương tác người dạy – người học trong đào tạo chuyên ngành triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học, tự tin xử lý vấn đề và định hướng cho người học, chính là thước đo trình độ chuyên môn, sự tận tâm, trách nhiệm và bản lĩnh của giảng viên Cũng chớ nên xem thường phương tiện hỗ trợ hiện đại trong giảng dạy Có người cho rằng sử dụng các phương tiện hiện đại trong khi giảng sẽ làm mất đi tính “ngẫu hứng”, sự thăng hoa tư tưởng Đó là một quan niệm cần xem lại Chớ nên đồng nhất tình trạng phụ thuộc máy chiếu của một số giảng viên non về chuyên môn với sự cần thiết nâng cao chất lượng bài giảng thông qua sự hỗ trợ của các phương tiện, thiết bị hiện đại – một thành quả

cụ thể của tiến bộ khoa học, công nghệ, vận dụng vào việc “truyền lửa” cho người học

Từ góc nhìn của chủ nghĩa thực dụng, J Dewey cho rằng:

“Giảng dạy có thể được so sánh với việc bán hàng hóa…Phương trình giữa dạy và học cũng như giữa bán và mua”, do đó để “bán” được thứ hàng hóa đặc biệt ấy không có cách nào khác là nâng cao chất lương giảng dạy thực tế10 Có thể quan điểm “thực dụng hóa” còn xa lạ với chúng ta, song tính hiệu quả trong đào tạo không thể là một kết quả chung chung, trừu tượng, mà được thẩm định bởi cuộc sống Theo Dewey, bản thân người thầy cũng là một “học trò thông minh”, biết học từ thực tiễn và từ chính người học11

Vấn đề cuối cùng mà chúng tôi bàn đến là giáo trình dùng cho đào tạo chuyên ngành các môn lý luận chính trị, trong đó có triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học Thành quả đáng tự hào của đội ngũ giảng viên ĐHQG.HCM là sử dụng những cuốn sách chuyên khảo, tham khảo do chính các nhà giáo – nhà khoa học đầu

9 Ở trường hợp trên, “lệch chuẩn” cần được hiểu theo nghĩa những đột phá đôi khi chưa được thừa nhận rộng rãi, nhưng báo hiệu nhân tố mới của phát triển; điều này vẫn

thường xảy ra trong hoạt động thực tiễn và nhận thức

10

Joseph Ratner Intelligence in The Modern World Jonh Dewey’s Philosophy, The

Mordern Library, New York, 1939, p 617

11 Joseph Ratner Intelligence in The Modern World Jonh Dewey’s Philosophy, The

Trang 9

ngành của cơ sở đào tạo biên soạn, cùng với các công trình nghiên cứu khoa học, đề cương bài giảng luôn được cập nhật, làm mới qua từng năm Phải nhìn nhận một cách tích cực rằng, chính các sách chuyên khảo, tham khảo, đề tài nghiên cứu khoa học, đề cương bài giảng ấy đã điều chỉnh rất nhiều quan điểm của các sách giáo khoa, giáo trình vốn còn quá nhiều “sạn” trong cách tiếp cận, trong nội dung, nhất là những cuốn giáo trình và sách tham khảo gần đây Trong đào tạo chuyên ngành, sách chuyên khảo và đề cương bài giảng của giảng viên là sự thể hiện tâm huyết, trình độ chuyên môn,

sự dày công nghiên cứu của nhà giáo – nhà khoa học; nó vượt qua lối công thức hóa, và cả sự cứng nhắc của các cuốn sách được gọi là

“giáo trình” Hơn nữa, nếu giáo trình vẫn theo lối mòn trong cách tiếp cận, thiếu nghiêm túc trong tham chiếu từ nguồn để trình bày nội dung (tình trạng sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp để biên soạn giáo trình vẫn diễn ra hiện nay), thì sẽ để lại hậu quả lâu dài trong nhận thức của nhiều thế hệ người học, và cả môi trường tinh thần

của xã hội Chính vì thế, thứ nhất, để hình thành một giáo trình dành

cho đào tạo chuyên ngành, điều đầu tiên là tập hợp những nhà giáo – nhà khoa học đầu ngành chuyên ngành thực sự, những người am

hiểu lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo Thứ hai, các giáo trình, hay ít

ra là tài liệu giáo trình, cần được biên soạn ở từng cơ sở đào tạo chuyên ngành, với sự liên kết, phối hợp, sự đồng tồn tại và phản biện nhau, hướng đến sự thẩm định bởi hội đồng cấp quốc gia Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong đào tạo chuyên ngành giữa các cơ sở đào tạo Đây là điều bình thường, vì mỗi cơ sở có những nét đặc thù của mình, mục tiêu của mình Không thể có sự thống nhất tuyệt đối, chẳng hạn, giữa ĐHQG.HCM và Viện Khoa học Xã hội, trong chương trình đào tạo triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học được, càng không nên áp đặt một chương trình cho nhiều cơ sở đào tạo Vì lẽ đó, để có một khung giáo trình chung rất cần sự trao đổi thường xuyên giữa các cơ sở đào tạo Phương án thích hợp nhất,

theo tôi, là: không phải một giáo trình, mà giáo trình do Hội đồng

biên soạn Trung ương công bố (trên cơ sở quy tụ các nhà giáo – nhà

khoa học đúng chuyên ngành), có tính định hướng tổng thể; giáo

trình của các cơ sở đào tạo (gọi là giáo trình chuyên sâu của các

môn học chuyên ngành), kết hợp với các đề cương bài giảng của

giảng viên phụ trách môn học và các tài liệu chuyên khảo, tham khảo do giảng viên giới thiệu cho sinh viên, học viên Thứ ba, bản

Trang 10

thân giáo trình cần đảm bảo không chỉ tính căn bản, tính chuẩn mực, tính cô đọng, mà cả tính mở nữa, nghĩa là bản thân giáo trình cần vượt qua tính giáo huấn, chú trọng kích thích tính sáng tạo, sự tìm tòi của người học Rất cần có một hoặc nhiều tọa đàm bàn thật kỹ về giáo trình chuyên ngành, chứ không thể vội vàng, đốt cháy giai

đoạn để đưa ra những sản phẩm kém chất lượng Thứ tư, tôi xin

khẳng định một lần nữa rằng, trong đào tạo chuyên ngành, hãy tôn trọng tính tự chủ của người thầy, không nên quá lệ thuộc vào bất kỳ hình thức giáo trình nào, rằng, bản thân giáo trình không phải là tài liệu “chính thống” duy nhất, mà chỉ là một trong những tài liệu chính thức, có tính định hướng khung chuyên môn, và rằng, giáo trình được hình thành không từ đâu khác, mà từ chính đề cương bài giảng, sách chuyên khảo, tham khảo, đề tài nghiên cứu khoa học của nhà giáo – nhà khoa học, và được thẩm định bởi thứ “quyền lực” đặc biệt là giới chuyên môn, thực tiễn xã hội và người học, đồng thời luôn luôn được rà soát, được bổ sung bằng những nguồn năng lượng trí tuệ mới12

3 Lời kết

Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, với không ít thuận lợi, thời cơ, nhưng cũng đầy khó khăn, thách thức Khái niệm

“hội nhập quốc tế” với thời gian đã bao chứa những nội dung mới, không còn dừng lại ở khía cạnh kinh tế nữa, mà từng bước lan tỏa sang các lĩnh vực khác Trong điều kiện đó, để tư duy lý luận không tạo nên khoảng cách quá xa với khu vực, để nó không rơi vào độ chênh ngày càng lớn với những biến đổi của thực tiễn, bản thân những người làm công tác đào tạo và nghiên cứu triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, các môn lý luận chính trị nói chung (như cách gọi hiện nay) cần tự làm mới mình, trước hết là làm mới cách tiếp cận về nội dung và phương pháp, vượt qua cả chủ nghĩa giáo điều lẫn chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, tăng cường khả năng nắm bắt những vấn đề mới nảy sinh, những điểm nóng của thực tiễn, để tự tin hơn khi vươn ra biển lớn của nền văn hóa tinh thần nhân loại

12 Xin xem thêm bài biết “Về nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị trong điều kiện hiện nay” của tác giả, đăng trong Kỷ yếu này

Ngày đăng: 08/09/2016, 17:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w