Đề tài đã huy động đông đảo lực lượng chuyên gia của nhiều cơ quan, đơn vị trong cả nước để phối hợp thực hiện nhiệm vụ trên như: Phân viện Hải dương học tại Hà Nội nay là viện Địa chất
Trang 1và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển KC-09 Viện địa chất và địa vật lý biển
báo cáo tổng kết đề tài
Xây dựng tập bản đồ những
Đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên
và môi trường vùng biển Việt Nam và kế cận
GS.TS Bùi Công Quế
5913
20/6/2006
Hà nội- 2005
Trang 2Bộ khoa học và công nghệ Chương trình điều tra cơ bản
và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển KC-09 Viện địa chất và địa vật lý biển
báo cáo tổng kết đề tài
Xây dựng tập bản đồ những
đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên
và môi trường vùng biển Việt Nam và kế cận
GS.TS Bùi Công Quế
Tài liệu này được chuẩn bị trên cơ sở kết quả thực hiện Đề tài cấp Nhà nước mã số KC-09-02
Hà nội - 2005
Trang 3Ban chủ nhiệm đề tài KC-09-02
GS.TS Bùi Công Quế (chủ nhiệm)
Trung tâm Khí t−ợng thuỷ văn biển
Đại học Khoa học tự nhiên Hà nội
Đoàn Đo đạc biên vẽ hải đồ
Trang 4Danh sách những người tham gia thực hiện
đề tài KC 09-02
Nhóm bản đồ địa chất và địa vật lý
GS.TS Bùi Công Quế Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
TS Nguyễn Thế Tiệp Viện Địa chất và Địa vật lý biển
GS.TS Trần Nghi Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội
TS Phùng Văn Phách Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TS Trần Tuấn Dũng Viện Địa chất và Địa vật lý biển
PGS TSKH Phạm Văn Thục Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TS Nguyễn Văn Lương Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TS Đỗ Chiến Thắng Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TSKH Nguyễn Biểu Liên đoàn Địa chất biển
GS TSKH Lê Như Lai Đại học học Mỏ và Địa chất
TSKH Phan Trung Điền Viện Dầu khí
TS Nguyễn Như Trung Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TS Nguyễn Hồng Phương Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TS Hoàng Văn Vượng Viện Địa chất và Địa vật lý biển
TS Nguyễn Văn Giáp Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Hà Văn Chiến Viện Địa chất và Địa vật lý biển
ThS Doãn Thế Hưng Viện Địa chất và Địa vật lý biển
ThS Lê Trâm Viện Địa chất và Địa vật lý biển
ThS Nguyễn Thu Hương Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Phí Trường Thành Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Trang 5KSC Nguyễn Tứ Dần Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Đào Thị Hà Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Nguyễn Thanh Hải Đoàn Đo đạc và biên vẽ hải đồ
KS Nguyễn Văn Phụng Đoàn Đo đạc và biên vẽ hải đồ
KS Phạm Khắc Hà Đoàn Đo đạc và biên vẽ hải đồ
KS Trần Xuân Lợi Viện Địa chất và Địa vật lý biển
ThS Đinh Xuân Thành Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội
TS Hoàng Văn Thức Liên đoàn Địa chất biển
TS Doãn Đình Lâm Viện Địa chất
KS Bùi Việt Dũng Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Nguyễn Bá Đại Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Bùi Thị Nhung Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Nhóm bản đồ khí hậu khí tượng biển
TS Nguyễn Thế Tưởng Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
TS Bùi Xuân Thông Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
TS Trần Hồng Lam Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Đào Trọng Hiển Viện Địa chất và Địa vật lý biển
KS Phạm Văn Đản Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Nguyễn Quốc Trinh Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Nguyễn Trung Trực Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn
KS Đỗ Thị Hoà Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Trần Thị Tân Viện Khí tượng thuỷ văn
KS Nguyễn Văn Tiến Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn
Trang 6KS Nguyễn Quang Ngọc Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
Nhóm bản đồ thuỷ nhiệt động lực học
TS Bùi Hồng Long Viện Hải dương học
PGS TS Võ Văn Lành Viện Hải dương học
PGS TS Đinh Văn Ưu Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội
TS Nguyễn Doãn Toàn Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Bùi Đình Khước Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
TS Nguyễn Thế Tưởng Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
TS Nguyễn Bá Xuân Viện Hải dương học
KS Lê Trọng Đào Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Tống Phước Hoàng Sơn Viện Hải dương học
KS Nguyễn Kim Vinh Viện Hải dương học
ThS Hà Thanh Hương Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội
KS Phạm Hoàng Lâm Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội
KS Lê Quốc Huy Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội
KS Nguyễn Thị Phượng Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Bùi Thái Hoành Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
KS Nguyễn Văn Tràng Trung tâm Khí tượng thuỷ văn biển
Nhóm bản đồ sinh thái môi trường
PGS TSKH Nguyễn Tác An Viện Hải dương học
TS Võ Sĩ Tuấn Viện Hải dương học
PGS TS Nguyễn Hữu Phụng Viện Hải dương học
KS Phạm Văn Thơm Viện Hải dương học
Trang 7ThS NguyÔn Ngäc L©m ViÖn H¶i dư¬ng häc
KS NguyÔn Cho ViÖn H¶i dư¬ng häc
Th.S Phan Minh Thô ViÖn H¶i dư¬ng häc
KS Tèng Phưíc Hoµng S¬n ViÖn H¶i dư¬ng häc
TS Lưu V¨n DiÖu ViÖn Tµi nguyªn m«i trưêng biÓn
TS NguyÔn §øc Cù ViÖn Tµi nguyªn m«i trưêng biÓn
KS NguyÔn Xu©n Hoµ ViÖn H¶i dư¬ng häc
Trang 8Danh sách các bản đồ
1 Bản đồ nền chung
nhóm bản đồ địa chất-địa vật lý
Tỷ lệ 1:1.000.000
2 Bản đồ dị thường trọng lực Fai vùng biển Việt Nam và kế cận
3 Bản đồ dị thường trọng lực Bughe vùng biển Việt Nam và kế cận
4 Bản đồ dị thường từ ∆Ta vùng biển Việt Nam và kế cận
5 Bản đồ độ sâu đáy biển vùng biển Việt Nam và kế cận
6 Bản đồ các thành tạo đệ tứ vùng biển Việt Nam và kế cận
7 Bản đồ các bể trầm tích đệ tam vùng biển Việt Nam và kế cận
8 Bản đồ cấu trúc sâu vỏ trái đất vùng biển Việt Nam và kế cận
9 Bản đồ phân vùng động đất vùng biển Việt Nam và kế cận
Nhóm Bản đồ khí hậu khí tượng
Tỷ lệ 1:2.000.000
10 Bản đồ khí áp, gió trung bình mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
11 Bản đồ khí áp, gió trung bình mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
12 Bản đồ khí áp, gió trung bình mùa thu vùng biển Việt Nam và kế cận
13 Bản đồ khí áp, gió trung bình mùa xuân vùng biển Việt Nam và kế cận
14 Bản đồ nhiệt, ẩm trung bình mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
15 Bản đồ nhiệt, ẩm trung bình mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
16 Bản đồ nhiệt, ẩm trung bình mùa thu vùng biển Việt Nam và kế cận
17 Bản đồ nhiệt, ẩm trung bình mùa xuân vùng biển Việt Nam và kế cận
Trang 918 Bản đồ tầm nhìn, sương mù trung bình mùa đông vùng biển Việt Nam và
22 Độ muối trung bình tầng mặt mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
23 Độ muối trung bình tầng mặt mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
24 Độ muối trung bình tầng mặt mùa thu vùng biển Việt Nam và kế cận
25 Độ muối trung bình tầng mặt mùa xuân vùng biển Việt Nam và kế cận
26 Độ muối trung bình tầng 50m mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
27 Độ muối trung bình tầng 50m mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
28 Độ muối trung bình tầng 150m mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
29 Độ muối trung bình tầng 150m mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
30 Nhiệt độ trung bình tầng mặt mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
31 Nhiệt độ trung bình tầng mặt mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
32 Nhiệt độ trung bình tầng mặt mùa thu vùng biển Việt Nam và kế cận
33 Nhiệt độ trung bình tầng mặt mùa xuân vùng biển Việt Nam và kế cận
34 Nhiệt độ trung bình tầng 50m mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
35 Nhiệt độ trung bình tầng 50m mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
36 Nhiệt độ trung bình tầng 150m mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
Trang 1037 Nhiệt độ trung bình tầng 150m mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
38 Bản đồ dòng chảy tầng mặt mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
39 Bản đồ dòng chảy tầng mặt mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
40 Bản đồ dòng chảy tầng 50m mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
41 Bản đồ dòng chảy tầng 50m mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
42 Bản đồ dòng chảy tầng 150m mùa đông vùng biển Việt Nam và kế cận
43 Bản đồ dòng chảy tầng 150m mùa hè vùng biển Việt Nam và kế cận
44 Bản đồ năng lượng và độ cao sóng cực đại vùng biển Việt Nam và kế cận
45 Bản đồ thuỷ triều vùng biển Việt Nam và kế cận
Nhóm bản đồ sinh thái-môi trường
Tỷ lệ 1:4.000.000
46 Hàm lượng chlorophill-a mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
47 Hàm lượng chlorophill-a mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
48 Hàm lượng COD vùng biển Việt Nam và kế cận
49 Hàm lượng đồng vùng biển Việt Nam và kế cận
50 Hàm lượng kẽm vùng biển Việt Nam và kế cận
51 Hàm lượng hydro carbon vùng biển Việt Nam và kế cận
52 Hàm lượng nitrat mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
53 Hàm lượng nitrat mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
54 Hàm lượng photphat mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
55 Hàm lượng photphat mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
56 Hàm lượng silicat mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
57 Hàm lượng silicat mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
Trang 1158 Hàm l−ợng vật lơ lửng mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
59 Hàm l−ợng vật lơ lửng mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
60 Mật độ trứng cá mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
61 Mật độ trứng cá mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
62 Mật độ cá bột mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và kế cận
63 Mật độ cá bột mùa gió tây nam vùng biển Việt Nam và kế cận
64 Mật độ tế bào thực vật phù du mùa gió đông bắc vùng biển Việt Nam và
70 Phân bố rừng ngập mặn và đầm phá vùng biển Việt Nam và kế cận
71 Phân bố rạn san hô và thảm cỏ biển vùng biển Việt Nam và kế cận
Trang 12sự bổ sung cập nhật khá kịp thời những kết quả điều tra khảo sát biển hiện có Tuy nhiên, do sự đa dạng và phân tán của các nguồn số liệu điều tra, khảo sát theo các chương trình, dự án rất khác nhau mà các bản đồ, sơ đồ được lập vào các thời điểm khác nhau, trên các nền trắc địa không thống nhất và có phạm vi thể hiện, mức độ chi tiết hoàn toàn không giống nhau Theo lĩnh vực điều tra khảo sát và chủng loại bản đồ, sơ đồ cũng có sự khác nhau Các đặc trưng địa chất, địa vật lý trên thềm lục địa Việt Nam đã được điều tra khá chi tiết, đạt tỷ lệ chung ở mức tỷ lệ 1:1.000.000, trong khi đó, các khảo sát về khí tượng thủy văn, sinh thái và môi trường tập trung nhiều ở vùng ven bờ do đó độ chi tiết trên toàn vùng biển ở mức thấp hơn nhiều
Đề tài KC-09-02 có nhiệm vụ thu thập bổ sung, cập nhật và xử lý các kết quả điều tra khảo sát mới hiện có về các lĩnh vực để tiếp tục mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng các bản đồ, sơ đồ nói trên đưa về một bản đồ nền và phạm
vi thể hiện thống nhất, xác định và thể hiện ở tỷ lệ chung và đồng nhất cho các bản đồ trong từng lĩnh vực Về hình thức thể hiện các bản đồ cũng được phát triển và nâng cao trên cơ sở sử dụng các kỹ thuật và công nghệ lập bản đồ mới
Trang 13như hệ thống thông tin địa lý, số hóa và chuyển đổi giữa các hệ trắc địa khác nhau
Đề tài đã huy động đông đảo lực lượng chuyên gia của nhiều cơ quan, đơn
vị trong cả nước để phối hợp thực hiện nhiệm vụ trên như: Phân viện Hải dương học tại Hà Nội (nay là viện Địa chất và địa vật lý biển) cơ quan chủ trì đề tài, các
đơn vị tham gia phối hợp gồm: Viện Hải dương học, trung tâm Khí tượng thủy văn biển (thuộc bộ tài nguyên và môi trường), khoa Địa chất và khoa Khí tượng – Hải dương học thuộc trường Đại học khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia HN), đoàn Đo đạc và biên vẽ hải đồ (Bộ tư lệnh hải quân), Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là viện Tài nguyên và môi trường biển), viện Dầu khí (thuộc Tổng công ty dầu khí VN), liên đoàn Địa chất biển (Bộ Tài nguyên và môi trường) với tổng số chuyên gia là 70 người
Với lực lượng đông đảo như trên hầu như tất cả các bản đồ trong đề tài
đều đã được giao về cho chính những tác giả, những chuyên gia đã có các kết quả, sản phẩm điều tra nghiên cứu đó trong những giai đoạn trước đây để nay tiếp tục nghiên cứu phát triển và nâng cao, bổ sung cập nhật theo một phương pháp và quy trình công nghệ thống nhất Sau khi hoàn thành ở bản tác giả, các bản đồ đều đã qua các bước đối sánh, căn chỉnh và bổ sung, điều chỉnh về kỹ thuật thể hiện để phù với những yêu cầu của phương pháp luận bản đồ Trong quá trình nói trên một số đặc trưng trên những bản đồ tổng hợp có yêu cầu xác
đáng phải tách ra để thể hiện thành một bản đồ riêng và độc lập Do đó số lượng bản đồ đã tăng lên thành 70 bản đồ so với số lượng dự kiến lúc đầu trong đề cương là 48 Với sự gia tăng về số lượng như trên hầu hết các bản đồ đều có
được chất lượng thể hiện sáng sủa và tăng tiện ích trong sử dụng khai thác Tất cả các bản đồ được xử lý liên kết, ghép nối và bổ sung, hoàn thiện và số hóa theo công nghệ mới với các phần mềm tiên tiến Tuy nhiên căn cứu vào mật độ phân
bố số liệu thực tế có được cho đến hiện tại, độ chi tiết đạt được phù hợp với tỷ lệ thể hiện đã quy định trên phạm vi vùng biển Việt Nam rất khác biệt giữa các bản
đồ Các bản đồ địa chất và địa vật lý đạt được độ chi tiết tương đối đồng đều trên
Trang 14phạm vi toàn thềm lục địa ở tỷ lệ 1:1000.000 Mở rộng ra các vùng trên Biển
Đông phải sử dụng các nguồn số liệu khác và số liệu vệ tinh, do đó độ chi tiết có thể kém hơn Các bản đồ khí tượng, thủy văn và động lực với số liệu phân bố khá
đều theo lưới toạ độ trên toàn vùng biển kết hợp với phương pháp nội và ngoại suy đã đạt được độ chi tiết khá đồng đều ứng với các tỷ lệ 1: 2.000.000, 1: 4.000.000 Trong khi đó, đối với các bản đồ sinh thái, môi trường biển nguồn số liệu thực tế hiện có chủ yếu tập chung vào dải ven bờ và một số khu vực trên thêm lục địa, đặc biệt là đối với các đặc trưng về ô nhiễm, về chất dinh dưỡng, vật lơ lửng … hầu như không hoặc chưa có số liệu thực tế ở các vùng ngoài khơi,
do đó có một số bản đồ chưa bao phủ hết phạm vi chung đã quy định cho cả tập bản đồ
Toàn bộ bản đồ trong đề tài được chia thành 4 nhóm:
Nhóm bản đồ địa chất - địa vật lý, tỷ lệ 1: 1.000.000 gồm 8 bản đồ do các nhóm tác giả thuộc Phân viện Hải dương học tại Hà nội, khoa Địa chất- Đại học khoa học tự nhiên, đoàn Đo đạc và biên vẽ hải đồ, viện Dầu khí và Đại học Mỏ
địa chất thực hiện Chủ biên các bản đồ: Bùi Công Quế, Phạm Văn Thục, Trần Nghi, Nguyễn Thế Tiệp, Đỗ Chiến Thắng, Phùng Văn Phách
Nhóm bản đồ sinh thái – môi trường biển, tỷ lệ 1: 4.000.000 gồm 26 bản
đồ do các nhóm tác giả của viện Hải dương học và phân viện Hải dương học tại
Trang 15Hải phòng thực hiện Chủ biên các bản đồ: Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Tác An, Phạm Văn Thơm, Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Cho, Nguyễn Ngọc Lâm
Trong quá trình thực hiện đề tài từ năm 2001 đến 2004 các tác giả đã công
bố trên 70 bài báo, báo cáo khoa học về nội dung và kết quả của đề tài Các công trình đăng trên các tạp chí khoa học, các kỷ yếu, tuyển tập hội nghị khoa học, các chuyên khảo xuất bản trong và ngoài nước, trong đó công trình 52 bằng tiếng Việt và 19 công trình bằng tiếng Anh Trong quá trình thực hiện đề tài các tác giả đã trực tiếp đào tạo trên Đại học theo những nội dung và tài liệu của đề tài,
đã có 8 luận văn thạc sĩ được bảo vệ và 5 nghiên cứu sinh đang làm luận án tiến
sĩ
Trong quá trình thực hiện đề tài các tác giả luôn nhận được sự chỉ đạo,
động viên và ủng hộ của Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban chủ nhiệm chương trình KC-09 Các tác giả cũng nhận được sự quan tâm ủng hộ và tạo điều kiện của lãnh đạo các đơn vị chủ trì và tham gia thực hiện đề tài gồm: Phân viện Hải dương học tại Hà nội, viện Hải dương học, trung tâm Khí tượng thủy văn biển,
Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, đoàn Đo đạc và biên vẽ hải đồ, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng… Xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành và sâu sắc
đối với lãnh đạo các cơ quan và đơn vị nói trên
Đề tài được triển khai thực hiện với những nhiệm vụ phức tạp và số lượng bản đồ khá lớn và đa dạng trong khoảng thời gian tương đối hạn chế, số lượng cơ quan, đơn vị và các cá nhân tham gia phối hợp đông đảo … do đó không tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng của một số bản
đồ Các tác giả xin được nghe các ý kiến phê bình đóng góp để tiếp tục sửa chữa
và hoàn thiện và chân thành cám ơn
Trang 16Các hoạt động điều tra, khảo sát và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường trên vùng biển Đông được thực hiện khá sớm, bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 20 và đặc biệt được tăng cường trong khoảng 50-60 năm gần đây Trong giai đoạn đầu, các hoạt động điều tra khảo sát trên vùng biển
Đông chủ yếu do các tổ chức và nhà nghiên cứu của Mỹ và phương Tây thực hiện Trong những năm từ sau 1975, các hoạt động điều tra, nghiên cứu trên vùng biển Việt Nam và kế cận đều do Việt Nam chủ động tiến hành hoặc hợp tác với các nước khác thực hiện Các hoạt động điều tra khảo sát trong thời gian qua khá phong phú, đa dạng và khác nhau ở nhiều phạm vi, đối tượng cũng như phương pháp công nghệ và chất lượng của kết quả điều tra đánh giá Sau đây là những hoạt động điều tra khảo sát và nghiên cứu khoa học chủ yếu được tiến hành trên vùng biển Việt Nam và các vùng kế cận trên biển Đông trong thời gian qua
I.1.1 Giai đoạn trước 1975
Biển Đông nói chung và vùng biển Việt Nam nói riêng đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học của nhiều nước từ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20 Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20 đã có những đợt khảo sát quy mô nhỏ
về các yếu tố khí tượng, hải dương và sinh vật biển trên vùng vịnh Hạ Long và ven bờ vịnh Bắc Bộ do M.Rose, Fisher và Dawidoff thực hiện
Trang 17Từ năm 1922, sau khi người Pháp thành lập Viện Nghề cá Đông Dương sau này là Viện Hải dương học tại Nha Trang, các hoạt động điều tra và khảo sát trên vùng biển Việt Nam bắt đầu tăng cường hơn Từ 1922-1955 với việc sử dụng con tàu De Lanesson và một số tàu của hải quân Pháp, các nhà khoa học Pháp và phương Tây đã tiến hành các chuyến điều tra khảo sát trên các vùng ở vịnh Bắc bộ, vịnh Thái Lan, các vùng trên thềm lục địa miền Trung Việt Nam để quan trắc và thu thập số liệu về các yếu tố khí tượng, thuỷ văn, thu mẫu địa chất, sinh vật nổi và sinh vật đáy Các kết quả bước đầu quan trọng đã được công bố trong các công trình của R Soren, Dawidoff, P.Chevey, A Kpempt, Wyrtki, Lafond, LeLoup, E.Saurin và một số người khác
Trong những năm 1959-1961, Viện Hải dương học Scripps, Califonia, Hoa
kỳ đã hợp tác cùng với chính quyền Nam Việt Nam và Thái Lan tiến hành chương trình điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên và tài nguyên biển vùng biển phía Đông Nam Việt Nam và vịnh Thái Lan (chương trình NAGA) Kết quả của chương trình NAGA rất phong phú với nhiều số liệu mới về khí tượng, thuỷ văn, môi trường năng suất và nguồn lợi sinh học, đặc điểm địa hình, trầm tích
đáy dọc theo 6 mặt cắt ở Vịnh Thái Lan và 6 mặt cắt ở vùng biển Đông Nam Việt Nam từ Đà Nẵng đến Cà Mau với hàng trăm trạm khảo sát mặt rộng, khoảng cách 30-40 hải lý, độ sâu khảo sát đạt 1000-2000m, có trạm đến 4000m Kết quả của chương trình NAGA đã được tổng hợp và công bố trong giai đoạn 1962-1967 trong hàng loạt các báo cáo và các công trình nghiên cứu của Park, Emery (địa chất), Wystki, Robinson (vật lý - thuỷ văn), Alvarino, Brinton, Shino, Stephenson (sinh vật) và nhiều tác giả khác
Năm 1965-1966 cơ quan Hải dương học của Hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành các chuyến khảo sát, điều tra về khí tượng, thuỷ văn, địa hình, địa vật lý trên các vùng biển Đông để lập hải đồ, xác định cấu trúc thuỷ văn, trường sóng
âm
Năm 1968-1971, tổ chức FAO và Hoa Kỳ đã tiến hành chương trình khảo sát nghề cá xa bờ Nam Việt Nam Phạm vi điều tra là thềm lục địa Nam Việt
Trang 18Nam đến độ sâu 200m nước cách xa bờ đến 20 hải lý, bao gồm cả Vịnh Thái Lan với tổng diện tích điều tra 960.000km2 Các con tàu điều tra là Maru-52 và Hữu Nghị đã thực hiện 65 chuyến khảo sát điều tra đánh giá về môi trường và nguồn lợi cá biển trong vùng nghiên cứu
Đáng kể nhất là hoạt động thăm dò dầu khí trên vùng biển Đông Nam
được tiến hành trong những năm từ 1967 đến 1975 do chính quyền Nam Việt Nam lúc đó hợp tác với Hoa Kỳ và các công ty dầu khí phương Tây thực hiện Trên các vùng ven biển và thềm lục địa đã tiến hành các khảo sát địa chất, địa vật lý, bao gồm cả đo địa chấn, trọng lực, từ mặt biển và từ hàng không Công tác thăm dò khảo sát đạt tỷ lệ 1:100.000 và 1:50.000 trên một số lô và cấu tạo triển vọng Các công ty thực hiện khảo sát thăm dò trong giai đoạn này là Mandrell, Mobil, Esson, Union Texas, Marathon và Sunning Dale
Trên vùng biển phía Bắc, trong giai đoạn từ 1954 đến 1975 đã có các hoạt
động điều tra khảo sát biển hợp tác với Trung Quốc và Liên Xô trước đây Năm 1959-1962 đã tiến hành chương trình hợp tác Việt Nam-Trung Quốc điều tra tổng hợp vịnh Bắc bộ Chương trình đã sử dụng 6 tàu nghiên cứu thực hiện 88 lượt trạm theo 16 mặt cắt trong đợt khảo sát 1 và 41 lượt trạm theo 9 mặt cắt trong đợt 2 đo đạc và quan trắc các đặc điểm khí tượng, thuỷ văn, vật lý, hoá học
và môi trường, sinh học và địa chất đáy biển
Trong các năm 1960-1962 chương trình điều tra nguồn lợi cá biển tầng
đáy do Tổng cục Thuỷ sản Việt Nam hợp tác với Viện khoa học Trung Quốc
được thực hiện bằng 2 đợt điều tra Đợt 1 từ 9/1959-12/1960 do 3 tàu đánh cá Trung Quốc tiến hành tại 98 trạm Đợt 2 từ 112/1961-11:1962 do 2 tàu đánh cá thực nghiệm Trung Quốc tiến hành tại 41 trạm để thu thập các yếu tố khí tượng, thuỷ văn, môi trường và năng suất sinh học trong vịnh Bắc bộ
Cũng trong vịnh Bắc bộ, từ 1960 đến 1965 đã có chương trình hợp tác Việt Nam – Liên Xô điều tra khảo sát về nguồn lợi cá Theo chương trình này các tàu Việt-Xô 33 và các tàu của Viển Hải dương học và nghề cá của Liên Xô đã tiến
Trang 19hành hàng chục chuyến khảo sát thu thập các số liệu về khí tượng thuỷ văn, môi trường và nguồn lợi cá đáy, cá tầng mặt trong vùng nghiên cứu
I.1.2 Giai đoạn từ 1975 đến nay
Đây là giai đoạn quan trọng với những hoạt động điều tra khảo sát tăng cường và mở rộng phạm vi với những kết quả điều tra khảo sát, nghiên cứu phong phú và có chất lượng cao trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Ngay từ năm 1975, sau khi cả nước thống nhất, Tổng cục Khí tượng thuỷ văn đã được nhà nước giao nhiệm vụ điều tra cơ bản về khí tượng và thuỷ văn trên toàn vùng biển và thềm lục địa Việt Nam Trong chương trình này, hàng loạt trạm quan trắc cố định về khí tượng thuỷ văn ven bờ đã được thiết lập và đi vào hoạt động, hình thành hệ thống các trạm thu ảnh vệ tinh địa tĩnh (GMS) và vệ tinh NOAA Các trạm thu tín hiệu, thông tin khí tượng thuỷ văn phát từ các tàu vào hoạt động trên vùng biển Việt Nam và biển Đông
Trong giai đoạn từ 1975 đến 1995, Tổng cục khí tượng thuỷ văn đã có những chương trình, đề án hợp tác với các nước Liên Xô tiến hành nhiều đợt điều tra khảo sát khí tượng thuỷ văn bằng tàu trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong số này có chương trình hợp tác thám sát bão được thực hiện trong nhiều năm liên tục với nhiều kết quả phong phú Kết quả điều tra khảo sát về khí tượng thuỷ văn vùng biển Việt Nam đã được tổng hợp và công bố trong tập atlas quốc gia xuất bản năm 1975
Từ sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ tiếp tục điều tra, khảo sát về địa chất, thăm dò dầu khí trên toàn bộ thềm lục địa Việt Nam và các vùng biển kế cận Các công ty dầu khí của Việt Nam, Nga và các nước khác với tổng số trên 30 công ty đã ký với Việt Nam các hợp đồng tiến hành khảo sát địa chất địa vật lý, khoan tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên thềm lục địa và vùng biển kế cận Kết quả là trên thềm lục địa đã thăm dò trọng lực, từ và địa chấn với các tỷ lệ 1:500.000 và lớn hơn, tiến hành hằng trăm lỗ khoan tìm kiếm, thăm dò, phát hiện các mỏ dầu và
Trang 20khí trên vùng thềm lục địa Đông Nam và vịnh Thái Lan, đánh giá triển vọng khoáng sản của các bể Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Mã Lai-Thổ Chu,
và nhóm bể Trường Sa, Hoàng Sa
Cũng từ sau 1975 đến 1995, theo hiệp định hợp tác về khoa học và kỹ thuật giữa Viện Khoa học Việt Nam, sau này là Trung tâm KHTH và CNQG và Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, từ 1991 là Viện Viện Hàn lâm khoa học Nga,
đã có hàng chục đợt khảo sát của các Viện, các cơ quan nghiên cứu của Nga hợp tác với các viện của Viện Khoa học Việt Nam tiến hành điều tra khảo sát về địa chất, địa vật lý, khí tượng hải dương và nguồn lợi hải sản trên các vùng thềm lục
địa Việt Nam và biển Đông Trong giai đoạn này các con tàu mang tên Bogorop, Nexmetanop, Gagarinsky, Geophysic, Vulcanolog (chương trình SEATSAR)
đã lần lượt vào khảo sát nghiên cứu trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Từ sau năm 1991, Việt Nam mở rộng và đa phương hoá hoạt động điều tra nghiên cứu trên vùng biển theo đường lối đổi mới, mở đầu một giai đoạn hợp tác nghiên cứu biển của Việt Nam Theo các chương trình hợp tác đã ký, các con tàu của các nước như Pháp, (tàu Atalante-chương trình Ponaga-1993), Đức (chương trình hợp tác nghiên cứu vùng nước trồi Nam bộ, sử dụng tàu Sonne,
1996, 1999, 2000 và 2004-2005), Nhật, Mỹ, Nga, Philippin đã lần lượt vào
điều tra nghiên cứu về địa chất, địa vật lý, khí tượng, hải dương, môi trường và sinh học, hoá học trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Đáng chú ý là chương trình hợp tác đa phương với tổ chức nghề cá Đông Nam á và Nhật Bản tiến hành điều tra khảo sát về đặc điểm môi trường và sinh thái, nguồn lợi hải sản trên biển Đông và thềm lục địa Việt Nam (chương trình SEAFDEC, 1989-2000) và chương trình hợp tác Việt Nam-Thái Lan điều tra khảo sát về sinh học biển trên vịnh Thái Lan năm 2000
Cũng từ những năm 1975-1995 và cho tới nay, đoàn 6 Hải quân Việt Nam (nay là đoàn đo đạc biên vẽ hải đồ thuộc Bộ tư lệnh Hải quân) được giao nhiệm
vụ hợp tác với các cơ quan, các ngành biên vẽ quản lý các hải đồ trên vùng biển Việt Nam Hải quân Việt Nam đã thu thập, xử lý tổng hợp các số liệu khảo sát về
Trang 21địa hình đáy biển của Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật và các nước, tiến hành khảo sát
đo đạc bổ sung để thành lập, biên vẽ các bản đồ địa hình và hải đồ tỷ lệ 1:500.000, 1:200.000 và lớn hơn trên các vùng ven biển và thềm lục địa Việt Nam
Trong các năm từ 1991 đến 1999 Cục địa chất Việt Nam đã triển khai đề
án điều tra khảo sát địa chất và tìm kiếm khoáng sản biển dọc đới ven bờ từ Móng Cái đến Hà Tiên đến độ sâu 30m nước và đạt tỉ lệ nghiên cứu có độ chi tiết khá cao (1:200.000-1:100.000)
Đáng chú ý hơn cả là các chương trình nghiên cứu biển trọng điểm cấp nhà nước được thực hiện liên tiếp từ 1977 cho đến nay Chương trình Thuận Hải-Minh Hải (1977-1980), chương trình 48-06 (1981-1985), chương trình 48-B (1986-1990), chương trình KT-03 (1991-1995), chương trình KHCN-06 (1996-2000), chương trình KC-09 từ 2001 cho tới nay, và 2 giai đoạn của chương trình Trường Sa-Biển Đông (1993-1997 và từ 1998 đến nay) Trong mỗi chương trình
đều có mục tiêu và nhiệm vụ thu thập, tổng hợp đánh giá và bổ sung cập nhật kết quả điều tra khảo sát và nghiên cứu về các đặc trưng điều kiện tự nhiên và môi trường, nguồn lợi hải sản trên phạm vi toàn vùng biển và thềm lục địa Việt Nam,
kể cả vùng biển và trên các đảo thuộc vùng quần đảo Trường Sa Trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu biển nói trên ngoài những số liệu, tư liệu điều tra khảo sát được thu thập, có nhiều chuyến khảo sát, điều tra mới được bổ sung
và tăng cường, đặc biệt là trên các vùng biển khơi xa bờ và trên phạm vi vùng trung tâm biển Đông và vùng quần đảo Trường Sa
I.2 Những kết quả điều tra khảo sát và nghiên cứu chủ yếu trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Biển Đông là một biển rìa có cấu kiến trúc phức tạp và trải qua một quá trình phát triển kiến tạo khá đặc biệt Về vị trí, biển Đông nằm ở nơi giao cắt giữa các vành đai động của hành tinh, nơi lưu thông giữa các đại dương lớn và trong vùng hoàn lưu nhiệt đới với các mùa gió Tây Nam-Đông Bắc rất đặc trưng
Trang 22Với bấy nhiêu nét đặc thù, biển Đông trở nên một vùng biển hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà thám hiểm từ nhiều nước trên thế giới Kết quả của các hoạt động điều tra khảo sát và nghiên cứu trong hàng trăm năm qua trên các vùng của biển Đông nói chung và ở vùng biển Việt Nam nói riêng đã và đang là cơ sở quan trọng trong các công trình nghiên cứu tổng hợp về những đặc điểm cấu kiến trúc, về các qui luật hình thành phát triển và mối liên quan của nó với
đặc điểm hình thành phân bố của các dạng tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú trên các vùng của biển Đông Dưới đây là những kết quả chủ yếu đã đạt
được trong từng lĩnh vực
I.2.1 Về địa chất và địa vật lý
Dựa trên những kết quả điều tra khảo sát ban đầu về đặc điểm địa hình,
địa mạo và cấu tạo trầm tích đáy biển, ngay trong giai đoạn 1950-1960, các nhà
địa chất Pháp như Saurin đã công bố một số công trình về cấu trúc địa chất và
đặc điểm kiến tạo của biển Đông và vùng thềm lục địa Việt Nam với những phác thảo ban đầu về cơ bản đúng cho đến hiện tại
Trong những năm 1971-1972, các nhà địa chất Hoa Kỳ tiếp tục bổ sung và công bố các công trình nghiên cứu về cấu trúc kiến tạo của vùng biển Việt Nam trong bình đồ kiến tạo biển Đông và Đông Nam á (Parke, 1971-Emery, 1972) Tiếp đó Hayes và Taylor (1978-1980) đã xuất bản tập bản đồ về các trường địa vật lý và cấu trúc các vùng biển Đông Nam á và Đông á với tỷ lệ 1:5.000.000 Trong đó có loạt các bản đồ địa chất và địa vật lý Biển Đông
Từ sau năm 1975 và tiếp theo, trong các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình Thuận Hải-Minh Hải (1977 -1980), các nhà địa chất Việt Nam (Lê Văn Cự,
Hồ Đắc Hoài, Ngô Thường San) đã có những công trình nghiên cứu tổng hợp về cấu trúc kiến tạo của thềm lục địa Việt Nam và phân chia ra các bể trầm tích đệ tam ở tỉ lệ 1:500.000 và lớn hơn như các đối tượng thăm dò tìm kiếm các mỏ dầu khí
Trang 23Trong giai đoạn 1986-1990, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp nhà nước 48-B-3-2, Bùi Công Quế và Nguyễn Hiệp lần đầu tiên đã tập hợp và liên kết các kết quả thăm dò địa vật lý trên các vùng thềm lục địa Việt Nam để thành lập các bản đồ dị thường trọng lực và dị thường từ ∆Ta tỉ lệ 1:500.000 thống nhất cho toàn thềm lục địa ( phạm vi các bể trầm tích đệ tam) và bản đồ trọng lực dị thường Fai và Bughe cho toàn biển Đông, tỉ lệ 1:2.000.000
Trong giai đoạn 1991-1995, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KT-03-02, Bùi Công Quế, Nguyễn Giao và n.n.k đã tiếp tục bổ sung xử lý
số liệu mới, thành lập bản đồ dị thường trọng lực và từ vùng biển Việt Nam và kế cận tỉ lệ 1:1.000.000 Trên cơ sở đó đã tính toán xây dựng các sơ đồ và mặt cắt cấu trúc sâu, các hệ địa động lực của thềm lục địa Việt Nam và biển Đông, thành lập các bản đồ cấu trúc kiến tạovà địa động lực của các bể đệ tam trên thềm lục
địa Việt Nam
Các bản đồ địa chất, địa vật lý trong đề tài KT-03-02 đã tiếp tục được bổ sung và phát triển hoàn thiện ở các tỉ lệ 1:1.000.000 và lớn hơn trên từng vùng trong khuôn khổ các đề tài trọng điểm cấp nhà nước KHCN-06-04 và KHCN-06-
12 (Bùi Công Quế, Nguyễn Thế Tiệp và n.n.k, 1996-2000) Trong giai đoạn này
đã hoàn thành các bản đồ dị thường trọng lực, các bản đổ cấu trúc sâu, bản đồ cấu trúc kiến tạo, bản đồ điạ mạo, bản đồ trầm tích đáy biển vùng biển Việt Nam
ở tỉ lệ 1:1.000.000
Cũng trong giai đoạn từ 1980-1989, Hải quân Việt Nam đã thu thập xử lý các nguồn số liệu đo sâu và địa hình được khảo sát đo đạc trong các giai đoạn trước 1975 và từ 1976 đến 1980-1985 trên các vùng ven biển và thềm lục địa Việt Nam để biên vẽ và xuất bản các bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ ở các tỉ
lệ 1:1.000.000 chung cho toàn vùng biển, các tỉ lệ 1:400.000 và 1:250.000 cho các vùng ven bờ
Cũng trong những năm 1981-1985, Hồ Đắc Hoài trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu biển cấp nhà nước 48-06 đã hoàn thành đề tài xây dựng bản đồ
đẳng sâu đáy biển thềm lục địa Việt Nam ở tỉ lệ 1:1.000.000 Từ 1985 đến 1989
Trang 24Cục đo đạc bản đồ nhà nước đã lần lượt xuất bản các bản đồ địa hình Việt Nam, bao gồm cả vùng thềm lục địa và ven biển ở tỉ lệ 1:1.000.000 Ngoài ra còn xuất bản bản đồ địa hình toàn biển Đông tỉ lệ 1:4.000.000
Năm 1987, viện khoa học Quảng Đông Trung Quốc xuất bản tập Atlas địa chất-địa vật lý biển Nam Trung Hoa gồm 11 bản đồ tỉ lệ 1:2.000.000 toàn biển
Đông với các đặc trưng địa hình, địa mạo, bản đồ dị thường trọng lực, dị thường
từ, bản đồ cấu trúc sâu, bản đồ kiến tạo, bản đồ các bể trẩm tích Kainozoi, bản
đồ các thành tạo đệ tứ, bản đồ trầm tích đáy
Năm 1989, Kulinic R.G và các nhà địa chất của trung tâm Viễn Đông, viện HLKH Liên Xô đã công bố chuyên khảo "Biến đổi Kainozoi của vỏ trát đất vùng biển Đông Nam á" trong đó tổng hợp những kết quả điều tra khảo sát về
địa chất và địa vật lý trên vùng biển Đông của các nhà khoa học Liên Xô và Việt Nam trong những năm 1975-1985, xây dựng các bản đồ, sơ đồ cấu trúc kiến tạo,
địa động lực và cấu trúc sâu, lịch sử phát triển kiến tạo trên vùng thềm lục địa Việt Nam và toàn biển Đông
Các kết quả nghiên cứu điều tra về trầm tích đệ tứ đầu tiên của biển Đông
được khái quát trong công trình của Shepard (1949) Tiếp đó là của Niino và Emery (1961), Saurin (1962) và Parke (1971) Từ sau năm 1975, các nhà địa chất Việt Nam đã chủ động tiến hành các nghiên cứu về trầm tích đệ tứ trên vùng thềm lục địa Việt Nam (Trịnh Phùng, 1975, Trịnh Phùng, Trịnh Thế Hiếu, 1985,
1987, Nguyễn Địch Dỹ, 1979, 1995, Nguyễn Đức Tâm, 1995, Trần Nghi, 1995, Nguyễn Hoàn, 1996, Nguyễn Ngọc, 1996, Nguyễn Biểu, 1989, 1999) Trong các công trình điều tra, nghiên cứu của các tác giả Việt Nam đã tổng hợp các kết quả phong phú và có giá trị về địa mạo và trầm tích biển ven bờ các vùng Hải Phòng, Quảng Ninh, vùng ven bờ miền Trung, đặc điểm trầm tích tầng mặt vịnh Bắc bộ Các kết quả nghiên cứu xác định ranh giới địa tầng trong đệ tứ, nghiên cứu về phần trên của Mioxen, nghiên cứu về cổ địa lý, tướng đá, môi trường trầm tích và
sự biến đổi đường bờ
Trang 25Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về địa chất công trình phục vụ xây dựng các công trình trên biển và thềm lục địa đã được chú ý phát triển Trên những vùng phát triển công tác tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí đã tiến hành các khảo sát địa chất công trình liên kết giữa các phương pháp địa chấn và địa vật lý giếng khoan Tại các vùng tìm kiếm và khai thác dầu khí trên thềm lục địa
Đông Nam, vùng thăm dò dầu khí trong vịnh Bắc bộ, các đảo và đá ngầm trong vùng quần đảo Trường Sa đều đã tiến hành những nghiên cứu khảo sát địa chất công trình với độ chi tiết khá cao (Mai Thanh Tân, Phạm Văn Tỵ, 2000)
Các bể trầm tích Đệ tam trên vùng biển Việt Nam là một trong những đối tượng điều tra nghiên cứu quan trọng và hấp dẫn bởi nó liên quan đến sự hình thành và phân bố các mỏ dầu khí Các trầm tích Đệ tam trên vùng biển Việt Nam cũng là những nội dung nước phong phú đề cập trong rất nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước
Từ sau năm 1975 các nghiên cứu về trầm tích Đệ tam được tiến hành toàn diện và có hệ thống Các công trình nghiên cứu xác định đặc điểm trầm tích liên quan trực tiếp với các dạng tiềm năng dầu khí trong Oligoxen và Mioxen Các nghiên cứu dựa trên kết quả minh giải tài liệu địa vật lý và phân tích mẫu từ các
lỗ khoan và liên kết cho từng vùng, từng cấu tạo riêng biệt trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các công trình nghiên cứu về trầm tích Đệ tam trên thềm lục địa Việt Nam đã đạt độ chi tiết khá cao và đã mở rộng theo hướng liên kết với các hiện tượng địa chất trên toàn biển Đông cũng như xác định đặc điểm phát triển kiến tạo của khu vực nghiên cứu trong suốt lịch sử của Đệ Tam (Đỗ Bạt, 1993 Phan Trung Điền, 1992,1995 Nguyễn Trọng Tín, 1995 Ngô Trường San, 1993,1995, )
Trên cơ sở minh giải các số liệu khảo sát khu vực phong phú và đa dạng
về địa chất và địa vật lý trên vùng biển Đông, các nhà nghiên cứu của Việt Nam
và nghiên cứu ngoài đã tiến hành nhều công trình nghiên cứu về cấu trúc sâu vỏ trái đất và chế độ địa động lực liên quan với quy luật phân bố khoáng sản cũng như dự báo và phòng ngừa các tai biến địa chất
Trang 26Đặc điểm cấu trúc của các ranh giới cơ bản và các ranh giới sâu trong vỏ trên thềm lục địa Việt Nam và biển Đông được đề cập trong các nghiên cứu của Hayes (1975, 1980), Parke (1985), Hồ Đắc Hoài (1985), Bùi Công Quế (1990,
1995, 1998,2000) Wujimin (1994), Lieng Dehua (1993), Kulinic (1989), Rangin (1986,1990), Watkins (1994), Hinz và n.n.k (1985, 1996) Các tác giả nối trên đã tổng hợp số liệu điều tra xây dựng các sơ đồ, bản đồ cấu trúc sâu ranh giới cơ bản của vỏ cũng như các đặc trưng địa động lực trên thềm lục địa và các vùng khác trên biển Đông
Hệ thống các đứt gãy trong vỏ trái đất và các hoạt động kiến tạo, địa động lực liên quan với chúng trên vùng biển Việt Nam và biển Đông, đặc biệt là động
đất, núi lửa, hoạt động tân kiến tạo đã được nghiên cứu trong các công trình của Lê Duy Bách (1987, 1990), Kulinic (1989), Wujimin (1994), Bùi Công Quế (1985, 1990, 1999, 2000), Saurin (1967), Nguyễn Xuân Hãn (1991, 1996), Phạm Văn Thục và n.n.k (1999, 2000)
Tổng hợp các quả điều tra nghiên cứu về địa chất và địa vật lý trên vùng biển Việt Nam thông qua các chương trình nghiên cứu biển cấp nhà nước từ
1997 đến 2000 Tập thể các nhà nghiên cứu của Việt Nam dưới sự chủ biên của Mai Thanh Tân đã hoàn thành chuyên khảo biển Đông- tập III Địa chất và địa vật lý biển (Hà Nội 2003) Trong chuyên khảo này các tác giả đã lần lượt tập hợp
và hệ thống lại các bước phát triển và kết quả điều tra nghiên cứu chủ yếu về địa hình, địa mạo, trầm tích đệ tứ, các bể đệ tam, các trường địa vật lý và cấu trúc sâu vỏ trái đất , chế độ kiến tạo, và địa động lực tiềm năng dầu khí và khoáng sản trên vùng biển Đông và thềm lục địa Việt Nam
I.2.2 Về khí tượng, thuỷ văn và động lực biển
Công trình nghiên cứu tổng hợp các kết quả điều tra về khí tượng - khí hậu vùng ven biển Việt Nam từ trước năm 1975 là những nghiên cứu và đánh giá các
điều kiện khí hậu khí tượng chủ ỷếu về bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa liên quan với các yếu tố như tầng khí áp, nhiệt độ nước bề mặt biển, gió và tầm nhìn
xa, sương mù Các công trình nghiên cứu này trước năm 1975 có BruZon,
Trang 27Carton, Lê Văn Thảng (1958), Lê Vũ Thi (1963), Nguyễn Văn Quý (1965), Nguyễn Xiển và n.n.k (1965, 1975)
Từ sau năm 1975, một trong những kết quả điều tra nghiên cứu nổi bật về khí tượng khí hậu vùng biển Việt Nam được tập hợp và bổ sung hoàn thiện trong chương trình hợp tác Việt Xô về thám sát bão trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam do Tổng cục khí tượng thuỷ văn chủ trì Trong chương trình có những nghiên cứu điều tra, thống kê và nghiên cứu lớp biên bề mặt đại dương Khí quyển để xác định cơ chế hình thành và phát triển của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông (Trần Duy Bình, Lê Đình Quang, Nguyễn Thế Tưởngvà n.nk, 1988-1995) Kết quả điều tra nghiên cứu về các đặc trưng khí tượng thuỷ văn trên vùng biển Việt Nam trong giai đoạn 1960-1993 đã được thu thập, thống
kê đánh giá và lập sổ tay tra cứu các điều kiện khí tượng thuỷ văn thềm lục địa Việt Nam
Các số liệu tích luỹ trong hơn 20 năm từ 1960 đến 1985 cũng được tổng hợp phân tích để nghiên cứu đặc trưng khí tượng khí hậu biển Việt Nam trong đề tài 42A (Nguyễn Viết Phổ 1986-1990)và trên cơ sở đó, năm 1994 xuất bản atlas khí tượng thuỷ văn biển Đông, trong đó có các đặc trưng khí hậu- khí tượng và thuỷ văn vùng biển Đông và thềm lục địa Việt Nam
Trong chương trình nghiên cứu biển trọng điểm cấp nhà nước 48B (giai
đoạn 1986-1990) có đề tài 48B-01-02 về các điều kiện khí tượng thuỷ văn vùng biển Việt Nam đã nghiên cứu xác định 13 loại hình thế khí áp đặc trưng cho vùng biển Đông và thềm lục địa Việt Nam (Nguyễn Ngọc Thuỵ, 1990)
Trong giai đoạn 1991-1995, Trung tâm khí tượng thuỷ văn biển thực hiện
đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về dự báo sóng, tầm nhìn xa và sương mù, công nghệ dự báo sóng và thử nghiệm dự báo sương mù - nhiệt độ nước biển tầng mặt vùng biển ven bờ (đề tài KC-03- 04, chủ nhiệm Nguyễn Mạnh Hùng) Kết quả của đề tài là đã xác định được các điều kiện khí tượng và khí hậu biển trên cơ sở
đánh giá các biến động về nhiệt độ không khí bề mặt biển cũng như xác định các tham số trong mô hình dự báo tầm nhìn xa và sương mù ở khu vực vịnh Bắc bộ
Trang 28Giai đoạn 1996-2000, Trung tâm khí tượng thuỷ văn biển đã thực hiện đề tài cấp nhà nước KHCN-06-13 (chủ nhiệm Bùi Xuân Thông) nghiên cứu và đánh giá các quy luật biến động một số trường khí tượng cơ bản vùng biển Đông, trong đó đã thu thập, phân tích đánh giá về biến động của các đặc trưng khí áp, nhiệt độ không khí và gió trên vùng biển Đông và thềm lục địa Việt Nam Kết quả của đề tài là nhận dạng được 21 trường khí áp cơ bản trong khu vực biển
Đông, ngoài ra còn đánh giá biến động trường nhiệt độ không khí và phân loại trường gió cho giai đoạn 30 năm 1969-1998 trên vùng biển Đông
Về đặc điểm chế độ thuỷ văn vùng biển Việt Nam trong những năm qua
đã thống kê được trên 1000 công trình công bố trong và ngoài nước Kết quả nghiên cứu nói trên được thực hiện trong hàng trăm đề tài đề án điều tra, nghiên cứu, đánh giá về các đặc điểm thuỷ văn trên vùng biển và ven biển Việt Nam và trên biển Đông
Năm 1961 Wyrtki công bố các kết quả điều tra nghiên cứu về thuỷ văn vùng biển Đông Nam á từ kết quả của chương trình NAGA (1959-1961), năm
1963 Robinson công bố công trình nghiên cứu về chế độ thuỷ văn trong vịnh Thái lan Trong các công trình trên các yếu tố thuỷ văn như nhiệt độ và độ mặn
được nghiên cứu thể hiện trên các mặt cắt và bản đồ đẳng nhiệt, đẳng muối trên các tầng 0, 25, 50 và 100m dọc các dải ven bờ biển Việt Nam
Những năm tiếp theo hàng loạt kết quả điều tra nghiên cứu về đặc điểm biến động và cấu trúc nước, đặc điểm phân bố độ mặn tầng mặt và các tầng sâu khác trên các vùng ven bờ và thềm lục địa Việt Nam được đề cập trong các công trình nghiên cứu của Viện Hải dương học (Võ Văn Lành 1985,1990, Lê Phước Trình, 1982, 1984, 1997, Lã Văn Bài 1985, Hoàng Xuân Nhuận 1977), phân bố không gian và biến động mùa của trường nhiệt muối trên biển Đông được nghiên cứu kỹ và khá chi tiết trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước 48B-01 (Lã Văn Bài, Trần Văn Sâm, 1990) Bức tranh phân bố nhiệt muối của biển Đông ngày càng
được hoàn thiện, bổ sung, chính xác hoá nhờ việc cập nhật những số liệu điều tra muối từ các đề tài trong chương trình nghiên cứu biển cấp nhà nước
Trang 29Trong quá trình triển khai thực hiện các đề tài về khí tượng thuỷ văn biển trong các chương trình nghiên cứu biển cấp nhà nước 48-06-01 và 48B-01 số trạm đo sâu về thuỷ văn được kiểm kê và sử dụng khoảng 10000 trạm trên toàn biển Đông, Trong đề tài KHCN-06-01 về cơ sở xây dựng dữ liệu biển của Việt Nam (Đặng Ngọc Thanh 1996-1999) đã có bước đột phá về kiểm kê số liệu khảo sát trên vùng biển Đông từ các nguồn của Việt Nam và các nước trên thế giới Sau khi kiểm tra đánh giá chất lượng tài liệu, loại bỏ những số liệu không tin cậy
đã có tổng số 4400 chuyến đo khảo sát
Trong đó có 600 chuyến của Việt Nam ở vùng ven bờ và thềm lục địa,
230 chuyến của Liên Xô cũ, 250 chuyến của Nhật Bản, 100 chuyến của Anh, 70 chuyến của Trung Quốc, 250 chuyến của Australia và 2837 chuyến của Mỹ
Tổng số trạm đo mặt rộng là 150.000 trạm, trong đó 6000 trạm đo các yếu tố khí tượng, 126.000 trạm đo nhiệt độ nước, 35.000 trạm đo độ mặn, 13.000 trạm đo ôxy hoà tan, 8.000 trạm đo muối dinh dưỡng, 3.000 trạm đo nhiễm bẩn môi trường
Hiện trạng điều tra và nguồn số liệu có được cho đến nay là khá phong phú, tuy nhiên mật độ phân bố số liệu về thuỷ văn còn chưa thật đồng đều ở Vịnh Bắc Bộ trên ô vuông 1 độ có từ 1000 dến 3000 trạm đo mặt rộng, còn ở những vùng ít được khảo sát hơn như vùng quần đảo Trường Sa, mỗi ô vuông 1
độ chỉ có khoảng trên dưới 10 trạm đo Vùng biển và thềm lục địa miền Trung và Nam Việt Nam đã được điều tra khảo sát tương đối nhiều, mỗi ô vuông 1 độ có
từ 150 đến 600 trạm mặt rộng Các yếu tố thuỷ văn được xác định là nhiệt độ, độ mặn, ôxy hoà tan và số liệu về độ sâu đáy biển tương ứng
Các nhà nghiên cứu cũng đã lựa chọn kích thước không gian và thời gian
để để trung bình hoá trên cơ sở các nguồn số liệu thuỷ văn hiện có Kích thước trung bình hoá tối ưu theo không gian được coi là ô vuông 1 độ Đối với các yếu
tố nhiệt độ và độ sâu có thể chọn ô vuông 1:2 độ Kích thước trung bình hoá theo thời gian hiện nay vẫn là trung bình mùa chứ không phải trung bình tháng vì số liệu thuỷ văn trong các tháng mùa đông thường ít hơn và phân bố không đều so
Trang 30với mùa hè, mặt khác trường gió chi phối mạnh các yếu tố thuỷ văn trên biển
Đông thì chỉ theo 2 mùa rõ rệt (mùa gió đông bắc và mùa gió tây nam) Trên cơ
sở nghiên cứu sự biến động các yếu tố thuỷ văn, các mùa được chọn như sau: mùa xuân (III, IV, V), mùa hè (VI, VII, VIII) mùa thu (IX, X, XI), mùa đông (XII, I, II)
Về chế độ động lực vùng biển Việt Nam và biển Đông trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tổng hợp của các tác giả Việt Nam và nước ngoài Lần đầu tiên các sơ đồ hoàn lưu nước của biển Đông đã được công
bố trong atlas của Hải quân Mỹ vào năm 1945
Những kết quả phân tích tổng hợp số liệu thu thập được từ các nguồn khác nhau là cơ sở để ra đời tiếp theo các công trình công bố về động lực của biển
Đông Đáng chú ý nhất là công trình mang tính tổng hợp của Wyrtki (1961), trong đó đã đưa ra các đặc trưng biển động mùa cơ bản của dòng chảy trên mặt trên toàn biển Đông và các vùng kế cận
ở vịnh Bắc bộ, các bản đồ xu thế dòng chảy được dưa ra trong báo cáo kết quả điều tra tổng hợp vịnh Bắc bộ (1964) là kết quả của chương trình hợp tác Việt Trung vào những năm 1959-1961
Trong các thập niên tiếp theo, nhiều chương trình điều tra tổng hợp đã
được tiến hành trên vùng biển Đông, tuy vậy, các công trình về hoàn lưu được
địa quyển xây dựng từ các trường nhiệt độ và độ muối thu được trong từng chuyến khảo sát (Xu et.al, 1982, Sirtpong, 1984, đề tài 48B-01-01, 1990, Bogdanov và Maroz, 1994, Đinh Văn Ưu và Brankart, 1997) Cũng trong thời gian này các kết quả khảo sát đã góp phần mô tả chi tiết trường dòng chảy cho một số vùng cụ thể trên dải ven bờ
Phương pháp mô hình hoá dựa trên các số liệu khảo sát và được các nhà nghiên cứu sử dụng trong các công trình đánh giá vai trò của các nhân tố cơ bản hình thành chế độ hoàn lưu biển Đông Đó là các công trình mô hình hoá tính toán dòng chảy gió của Ngyuễn Đức Lưu (1969), dòng chảy tổng hợp của Hoàng
Trang 31Xuân Nhuận (1983), Pohlman (1987), Ping Tung Shau và Shen Yu Chao (1994), Shen Yu Chao (1998)
Năm 2003 các nhà nghiên cứu của Việt Nam dưới sự chủ biên của Phạm Văn Ninh đã hoàn thành chuyên khảo "Biển Đông tập II-Khí tượng thuỷ văn
động lực biển" là công trình tổng hợp và hệ thống một cách đầy đủ nhất những kết quả điều tra nghiên cứu chủ yếu trên vùng biển Việt Nam về lĩnh vực khí tượng - thuỷ văn và động lực được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trong gần 100 năm qua
I.2.3 Về sinh vật, sinh thái và môi trường biển
Trong hơn 100 năm điều tra nghiên cứu trên vùng biển Việt Nam các nhà nghiên cứu của Việt Nam và nước ngoài đã thực hiện và công bố hàng nghìn công trình về lĩnh vực sinh vật, sinh thái và môi trường biển Việt Nam
Ngay từ những năm cuối thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu phương Tây đã công bố các công trình khoa học về kết quả khảo sát sinh vật và nguồn lợi cá biển tại các vùng Côn Đảo, vùng ven biển phía nam và tây vịnh Bắc bộ (Michau,1861, LeMelse, 1864, Crosse, Fisher,1890) Trong những thập kỷ 20-30 của thế kỷ 20 các nhà nghiên cứu của Pháp lại tiếp tục công bố những kết quả
điều tra mới về sinh vật biển trên các vùng khác ở Vịnh Bắc bộ,vùng biển trong
và ngoài vịnh Nha Trang và trên thềm lục địa Trung bộ (Chevey 1931-1939, Rose 1920-1955, Davidoff 1936-152, Serene 1937)
Sang thập kỷ 60-70, sau các chương trình điều tra khảo sát tổng hợp có quy mô và chất lượng cao như NAGA (1959-1961) trên vùng biển phía nam và
đông nam, chương trình hợp tác Việt Trung điều tra tổng hợp vịnh Bắc bộ 1962), chương trình hợp tác Việt-Xô điều tra nguồn lợi cá ở vịnh Bắc bộ (1960-1962), chương trình khảo sát nguồn lợi các xa bờ nam Việt Nam (1967-1971) Các kết quả khoa học về đặc điểm sinh thái và nguồn lợi sinh vật biển của Việt Nam được công bố khá nhiều trong các công trình của các tác giả Nga, Trung
Trang 32(1951-Quốc, Mỹ và Việt Nam (Gurianova 1972, Vedenski 1972, Brinton 1961, Shino
1963, Alvarino 1967, Stephenson 1967 và n.nk)
Từ sau năm 1975, hoạt động điều tra nghiên cứu về sinh vật, sinh thái và môi trường biển ở Việt Nam được tăng cường và đẩy mạnh, trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp nhà nước về biển Việt Nam từ 1977 đến khoảng những năm 2000-2001, liên tiếp có nhiều đề tài điều tra nghiên cứu tổng hợp và bổ sung về sinh vật, sinh thái và nguồn lợi sinh vật trên vùng biển Việt Nam Các công trình được công bố trong giai đoạn này khá phong phú và chủ yếu do các tác giả Việt Nam thực hiện
Năm 2003, tập thể tác giả Việt Nam dưới sự chủ trì của G.S Đặng Ngọc Thanh đã hoàn thành chuyên khảo "Biển Đông tập IV- Sinh vật và sinh thái biển" Đây là công trình tổng hợp một cách hệ thống và đầy đủ nhất các kết quả
điều tra chủ yếu của các tác giả trong và ngoài nước trong khoảng gần 100 năm qua trên vùng biển Việt Nam và kế cận Trong công trình này các tác giả đã tổng hợp kết quả điều tra nghiên cứu về sinh vật và sinh thái biển theo 3 phần chính: 1) Khu hệ sinh vật vùng biển Việt Nam, 2) Nguồn lợi sinh vật vùng biển Việt Nam và 3) Sinh thái vùng biển Việt Nam
Về khu hệ sinh vật biển Việt Nam đã lần lượt giới thiệu hệ thống những kết quả điều tra nghiên cứu về sinh vật phù du (Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Hữu Phụng), sinh vật đáy (Nguyễn Văn Chung, Đào Tấn Hổ), cá biển (Nguyễn Nhật Thi) và các động vật biển khác tôm biển động vật thân mềm, chim biển, các loài
bò sát và thú biển (Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Khắc Hường ), rong biển (Nguyễn Văn Tiến)
Về nguồn lợi sinh vật vùng biển Việt Nam đã hệ thống những kết quả nghiên cứu phong phú về nguồn lợi cá biển (Bùi Đình Chung) Các nguồn lợi đặc sản ngoài cá (Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Xuân Dục, Phạm Ngọc Đẳng) và nguồn lợi rong biển (Nguyễn Văn Tiến)
Trong phần sinh thái biển Việt Nam đã thu được những kết quả điều tra nghiên cứu về đặc trưng sinh thái vùng triều (Đặng Ngọc Thanh), đặc trưng sinh
Trang 33thái vùng ngập mặn (Phan Nguyên Hồng), đặc trưng sinh thái rạn san hô (Nguyễn Huy Yết, Võ Sĩ Tuấn), đặc trưng sinh thái cá biển (Nguyễn Văn Tiến,
Đặng Ngọc Thanh), đặc trưng sinh thái các đảo (Đặng Ngọc Thanh) và năng suất sinh học (Nguyễn Tác An)
Trên cơ sở thống kê và tổng hợp đánh giá về các hệ sinh thái biển Việt Nam các tác giả đã rút ra những nhận định quan trọng về tính đa đạng và mối liên quan mật thiết của chúng với các đặc điểm khí tượng, thuỷ văn, địa chất và môi trường biển, đánh giá tình hình khai thác sử dụng chưa hợp lý làm suy giảm
và suy thoái các hệ sinh thái trên vùng biển Việt Nam, làm suy giảm nguồn lợi sinh vật biển
Về những đặc trưng môi trường biển như ô nhiễm kim loại nặng, phân bố vật lơ lửng, phân bố nồng độ chất dinh dưỡng, chlorophyll đã được các nhà nghiên cứu quan tâm điều tra đánh giá từ những năm 70- 80 của thế kỷ 20 trên cơ sở mở rộng nội dung điều tra, khảo sát, áp dụng những công nghệ và thiết bị phân tích mới và hiện đại Trong khuôn khổ các đề tài của các chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp nhà nước, bắt đầu từ KT-03 (1991-1995) như KT-03-01, KT-03-05, KT-03-07, KT-03-11, KHCN-06-01, các chương trình và dự án điều tra khảo sát hợp tác với Nga, Đức, Pháp trong những năm 1990 đến 2000, các đề
án khảo sát SEAFDEC (1999) JOMSRE 1 và 2 (1996,2000), đã thu thập hàng vạn số liệu thực tế và phân tích hàng nghìn mẫu nước, mẫu sinh vật để đánh giá
về các đặc trưng môi trường biển trên các vùng ven biển và thềm lục địa Việt Nam Các công trình được công bố về những đặc trưng môi trường biển của các tác giả Việt Nam có Nguyễn Tác An 1999, 2002, 2003, Phạm Văn Thơm 1996,
1999, 2002, Nguyễn Thế Tưởng 2000, Đỗ Hoài Dương 1990-2000, Phạm văn Ninh và n.n.k (1980-1995)
I.3 Một số nhận định và đánh giá
Trên vùng biển Việt Nam và kế cận các hoạt động điều tra khảo sát đã
được tiến hành trong gần 100 năm qua, song những chương trình điều tra khảo
Trang 34sát có quy mô rộng và chất lượng cao thực sự được bắt đầu từ thập kỷ 60 của thế
kỷ trước cho đến nay
Các hoạt động điều tra, khảo sát trong những năm qua trên vùng biển Việt Nam và kế cận bao gồm các lĩnh vực địa chất, địa vật lý và khoáng sản, khí tượng, thuỷ văn và động lực, sinh vật, sinh thái và nguồn lợi sinh vật, hoá học và môi trường biển, kỹ thuật và công nghệ điều tra khảo sát đi từ thô sơ đến tiên tiến, hiện đại, có quy mô và ngày một đồng bộ với độ tin cậy được nâng cao dần
Trong số rất nhiều hoạt động điều tra khảo sát trên vùng biển Việt Nam trong gần 100 năm qua có một số không nhiều những chương trình và đề án điều tra khảo sát nghiên cứu lớn và đồng bộ thực sự tạo ra những thay đổi cơ bản trong nhận thức về các yếu tố tài nguyên và môi trường, tạo cơ sở cho những bước phát triển tiếp theo, bổ sung những dữ liệu và hiểu biết mới có giá trị lâu dài, đó là các chương trình điều tra tổng hợp như NAGA (1959-1961), điều tra tổng hợp vịnh Bắc bộ (1959-1961), điều tra về nguồn lợi cá vịnh Bắc bộ (1960-1962), chương trình khảo sát nghề cá xa bờ nam Việt Nam (1968-1971), các đề
án khảo sát địa chất - địa vật lý khu vực do các công ty của Mỹ thực hiện trong giai đoạn 1965-1975, chương trình hợp tác Việt - Xô thám sát bão trên biển
Đông (1980-1990), chương trình hợp tác nghiên cứu biển giữa Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga (1980-1995) Các chương trình nghiên cứu biển cấp nhà nước như Thuận Hải - Minh Hải (1977-1980), 48-06 (1981-1985), 48B (1986-1990), KT-03 (1991-1995), KHCN-06 (1996-2000), KC-09 từ 2001 đến nay các hợp đồng của Tổng công ty Dầu khí với các công ty dầu khí các nước khảo sát địa chất, địa vật lý và thăm dò dầu khí trên thềm lục
địa Việt Nam
Kết quả điều tra nghiên cứu biển về các lĩnh vực đã được tổng hợp và công
bố khá kịp thời, tuy nhiên các dữ liệu điều tra, khảo sát đã không được đồng nhất
và chuẩn hoá, chưa có biện pháp thống nhất lưu giữ quản lý để sử dụng lâu dài,
do đó đã có nhiều khó khăn trong việc khai thác, sử dụng các nguồn số liệu và tài liệu điều tra khác nhau, đạc biệt là các nguồn số liệu điều tra của nước ngoài
Trang 35Việc tham khảo và sử dụng các kết quả điều tra, các kết quả công bố của các tác giả khác nhau trên vùng biển Đông có nhiều hạn chế
Về phạm vi điều tra và khảo sát trong những năm qua hầu hết tập trung vào vùng ven bờ và khu vực các đảo ven bờ, các vùng trên thềm lục địa, các vùng biển xa và độ sâu lớn như vùng trung tâm biển Đông, vùng quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, vùng ngoài khơi Trung bộ có ít hơn các khảo sát Trong một số lĩnh vực như sinh thái và môi trường các kết quả điều tra khảo sát mới chủ yếu tập trung trong dải ven bờ và phần bên trong của thềm lục địa Các vùng phía ngoài thềm lục địa hầu như không có số liệu thực tế và chủ yếu phải tính toán ngoại suy từ nguồn số liệu khác
Về chất lượng và độ tin cậy của các nguồn dữ liệu điều tra cũng có sự khác biệt Các số liệu điều tra trên vùng ven bờ và trên thềm lục địa, nơi có mật
độ số liệu lớn và do độ sâu nước không lớn nên các khảo sát đảm bảo chát lượng Phần bên ngoài thềm lục địa hoặc trung tâm biển Đông do mật độ khảo sát nhỏ,
kỹ thuật đo đạc không phát huy được do độ sâu nước lớn nên chất lượng điều tra khảo sát và độ tin cậy của tài liệu bị hạn chế Đôí với một số như sinh thái, môi trường ở các vùng biển xa như vậy hầu như chưa được khảo sát hoặc phải dùng các số liệu ngoại suy
Phụ thuộc vào đặc điểm riêng biệt của các đối tượng tự nhiên mà các điều tra khảo sát trên vùng biển Việt Nam đã phải thực hiện theo các phương pháp và
kỹ thuật khác nhau dẫn đến mức độ chi tiết của số liệu điều tra khảo sát cũng khác nhau đối với từng đối tượng và trên từng vùng cụ thể
Đối với các trường địa vật lý và cấu trúc địa chất là những đối tượng chủ yếu biến đổi theo không gian, ít hoặc hầu như không biến đổi theo thời gian, các khảo sát chủ yếu cần đạt chi tiết theo không gian, do đó mức độ điều tra được
đánh giá bằng tỷ lệ điều tra, tính theo mật độ điểm đo không trùng lặp trên một
đơn vị diện tích
Đối với các đối tượng như các trường khí tượng, thuỷ văn, động lực, hoá học, môi trường không những chỉ biến đổi theo không gian mà còn thay đổi
Trang 36liên tục theo thời gian, các quy trình khảo sát đòi hỏi phức tạp hơn và mức độ khảo sát phải vừa theo tỷ lệ vừa căn cứ vào chu kỳ và mùa khảo sát
Các đối tượng về sinh vật, sinh thái, nguồn lợi biển thì ngoài đặc điểm phân bố, biến động theo không gian còn có sự biến động theo thời gian do đó mức độ điều tra cũng phải căn cứ theo tỷ lệ cũng như chu kỳ lặp lại của các điều tra và khảo sát
Về hiện trạng dữ liệu và tư liệu điều tra khảo sát trên vùng biển Việt Nam
và kế cận, trong những năm qua những kết quả điều tra đã lần lượt được tổng hợp
và thể hiện đưới dạng các bản đồ, sơ đồ do hầu hết các đối tượng có đặc điểm phân bố và biến động mạnh theo không gian Tuy nhiên do phương pháp và kỹ thuật điều tra, khảo sát khác nhau, phạm vi điều tra khác nhau và mức độ đạt
được cũng khác nhau nên các bản đồ, các mảng bản đồ đã được thể hiện không theo kỹ thuật nhất quán, sử dụng các nền trắc địa khác nhau Về số liệu cũng phụ thuộc và các phương pháp phân tích, đúc kết đối với từng loại số liệu dẫn đến tình trạng các số liệu không có mặt bằng chuẩn chung và do đó việc liên kết và
đồng nhất trên một bản đồ không phải luôn dễ dàng thực hiện
Trang 37
II Chương II
Xác định phạm vi và xây dựng
bản đồ nền chung
II.1 Lựa chọn, xác định phạm vi bản đồ
Mục tiêu của đề tài là có được tập bản đồ về những đặc trưng cơ bản về
điều kiện tự nhiên và môi trường ở những tỷ lệ thống nhất và lớn nhất có thể đạt
được đến nay trong phạm vi toàn vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, phản
ánh đầy đủ kết quả điểu tra hiện có và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật có thể xuất bản
phục vụ các hoạt động kinh tế quốc phòng và quản lý biển Vì vậy việc nghiên
cứu lựa chọn phép chiếu cho một bản đồ nền thống nhất, lựa chọn thể nghiệm
công nghệ xử lý về hình vẽ, ghép nối bản đồ, sử dụng công nghệ GIS và các
phần mềm để lập các bản đồ dạng số là một việc có ý nghĩa quan trọng và có
tính thiết thực Hơn nữa, hệ qui chiếu ở đây cũng phải được lựa chọn sao cho vừa
phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế vừa phù hợp với hệ qui chiéu chuẩn quốc gia
mới nhất
Căn cứ tình hình phân bố các nguồn dữ liệu điều tra khảo sát hiện có về
các lĩnh vực địa chất, địa vật lý, khí tượng, thuỷ văn, động lực biển, sinh vật và
sinh thái biển… Tuy phân bố không đều trên toàn vùng biển, nhưng đã có nhiều
nguồn số liệu vượt ra ngoài vùng thềm lục địa, bao trùm cả các vùng trung tâm
biển Đông, ngoài ra xuất phát từ yêu cầu thể hiện bao quát toàn bộ vùng biển
chủ quyền Việt Nam cũng như các vùng kế cận trên biển Đông, lần đầu tiên đề
tài xác định phạm vi của các bản đồ được mở rộng so với các giai đoạn trước và
nằm trong giới hạn sau:
λ = 100o00’E – 118o00’E,
ϕ = 4o30’N – 23o30’N
Trang 38Toàn bộ các bản đồ thuộc đề tài KC-09-02 đều được thành lập theo phạm
vi toạ độ của bản đồ nền chung đã được qui định ở trên
II.2 Cơ sở lựa chọn hệ qui chiếu
Việc lựa chọn hệ qui chiếu phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
đặt ra được nghiên cứu kỹ càng Các yêu cầu để lựa chọn hệ quy chiếu phù hợp trong đề tài là:
- Mục đích nghiên cứu và hướng phát triển các hoạt động trong khu vực: Nghiên cứu khoa học, điều tra khảo sát biển, tìm kiếm thăm dò khoáng sản, khai thác tài nguyên biển, hoạt động hàng hải, phát triển thông tin liên lạc…
- Tỷ lệ nghiên cứu: Tỷ lệ nhỏ và trung bình
- Mức độ chính xác của phép chiếu: Trung bình
- Các nguồn số liệu hiện có trong khu vực: Các nguồn số liệu trong nước và chủ yếu các nguồn số liệu, tư liệu của quốc tế
Từ trước đến nay có khá nhiều hệ qui chiếu quốc tế khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau, tuỳ theo sự phát triển của khoa học công nghệ Yêu cầu lựa chọn hệ quy chiếu trước hết phải đảm bảo tiêu chuẩn chung của quốc tế để
có thể trao đổi dễ dàng và chuyển đổi các nguồn dữ liệu, tư liệu của các nước và quốc tế trên vùng biển Việt Nam Hệ quy chiếu cũng phải phù hợp với tính chất của các hoạt động chủ yếu trong vùng nghiên cứu Từ những yêu cầu trên chúng tôi lựa chọn hệ quy chiếu Mercator với mô hình Elipxoit chuẩn quốc tế WGS-84,
có thể so sánh một số đặc điểm về tham số của một số mô hình hiện có với mô hình Elipxoit WGS-84 như sau:
Airy 1830
Internatinal 1924
6377563,396 6378388,000
1:299,3249646000 1:297,0000000000
Trang 39GRS 1967
GRS 1980
WGS 1980
6378160,000 6378137,000 6378137,000
1:298,2471674270 1:298,2572221010 1:298,257223563
- E-líp-xô-ít WGS-84 toàn cầu có các kích thước như sau:
2001) thì đối với các bản đồ ở tỷ lệ bằng hoặc nhỏ hơn 1:1.000.000 thì sử dụng
mô hình E-líp-xô-ít WGS-84 là phù hợp thay vì phải qui đổi đến hệ toạ độ VN-2000
II.3 Ưu điểm thực tiễn của hệ qui chiếu được lựa chọn
Một số ưu điểm nổi bật của hệ qui chiếu Mercator-WGS-84:
- Được dùng rộng rãi trên thế giới trong nghành Hải dương, Hàng hải, Hàng không, khí tượng thuỷ văn
- Cho phép xác định được chính xác góc phương vị thực tế dựa vào bản đồ, đây
là vấn đề quan trọng then chốt đối với các ngành liên quan đến biển
- Mọi đối tượng nhỏ như các đảo, quần đảo đều được định vị chính xác và rõ ràng
- Sai số do hệ qui chiếu đối với vùng biển Việt Nam là khá nhỏ, đặc biệt là rất nhỏ với vùng biển phía Nam Việt Nam
- Thuận lợi trong hợp tác quốc tế về trao đổi dữ liệu biển
Trang 40II.4 thành lập bản đồ nền
II.4.1 Các nguồn tài liệu sử dụng
- Các tài liệu về biên giới quốc gia, ranh giới các tỉnh, các thành phố, các địa
danh được nghiên cứu, tham khảo và xác định từ các bản đồ chính thức do Việt
Nam xuất bản từ tỷ lệ 1:500.000 đến 1:1.000.000 và từ dự án GIS cấp quốc gia
của bộ Khoa Học Và Công Nghệ 1996-2000 và từ các tiêu chuẩn, các qui định
của Cục Điạ chính Việt Nam
- Các tài liệu liên quan đến vùng biển Việt nam được tham khảo từ nhiều
nguồn khác nhau Trong đó hình thể hành chính, độ sâu đáy biển, đảo, quần đảo,
bãi ngầm được biên soạn dựa trên các bản đồ 1:200.000 đến tỷ lệ 1:1.000.000 của Cục bản đồ Bộ Tổng tham mưu
II.4.2 Phương pháp thành lập
Kết hợp các nguồn số liệu hiện có cùng với các công nghệ GIS để xây
dựng bản đồ nền Các yếu tố của bản đồ nền như là các ranh giới quốc gia, ranh
giới tỉnh, huyện các đảo, quần đảo được số hoá chi tiết bằng các phần mềm
chuyên dụng MapInfo, Microstation Chúng được gán thuộc tính, được biểu diễn
bằng những kích thước và màu sắc khác nhau sao cho thể hiện được rõ nét nhất
trên bản đồ Các địa danh cũng được xác định phù hợp với tên hành chính quốc
gia Hệ thống sông suối được số hoá và thể hiện khá chi tiết, phù hợp với các
bản đồ chuyên nghành Các đường đẳng sâu đáy biển được số hoá từ các tờ có tỷ
lệ 1:500.000-1.000.000, các đường đẳng trị đều được gán giá trị, có thể tra cứu
thuộc tính của chúng hoàn toàn tự động trên máy tính Tất các các hợp phần của
bản đồ nền đều được số hoá, gán thuộc tính, hiệu chỉnh và đưa về một hệ chiếu
chuẩn Mercator WGS-84 để thành lập nên bản đồ nền chuẩn (xem hình 1 phần
phụ lục)