Từ thực tế công việc kiểm toán nội bộ hiện nay ở các doanh nghiệp xâydựng cho thấy việc nghiên cứu để xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp xâydựng là rất cần thiết nhằ
Trang 1LUẬN VĂN:
Tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước về xây dựng
Trang 2Mở đầu
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội đã đưa nền kinh tế toàn cầusang một hình thái mới Cơ chế thị trường ra đời làm cho các hoạt động tài chính và sở hữungày càng đa dạng và phức tạp, chức năng kiểm tra kế toán không đáp ứng được nhu cầu củangười sử dụng thông tin Chính vì thế, kiểm toán ra đời như một đòi hỏi khách quan để đápứng nhu cầu đó Càng ngày, kiểm toán càng trở nên có vai trò quan trọng và càng phát triển,khẳng định là một môn khoa học, một lĩnh vực nghiên cứu riêng
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt Nam đã cónhững bước chuyển đổi to lớn trong cải cách nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nềnkinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Quá trình đổi mới đã đưa Việt Nam từng bướcvươn lên và đạt được nhiều thắng lợi trong kinh tế và phát triển xã hội Cùng với quá trình đổimới cơ chế quản lý kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhànước đã và đang đổi mới mạnh mẽ và toàn diện, từng bước vươn lên khẳng định vai trò chủđạo của mình trong nền kinh tế Thành tựu của 10 năm đổi mới gần đây của nước ta là đạtđược sự tăng trưởng kinh tế ổn định và mạnh mẽ
Theo sự đổi mới đó, ở tầm vĩ mô, Nhà nước đã và đang cố gắng tạo dựng một môi trườngpháp lý, một hành lang pháp luật kinh tế rõ ràng và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế Tuynhiên, một vấn đề đặt ra là cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗlực vươn lên từ chính bản thân mình, các nhà quản trị phải có những quyết định và phương phápquản lý đúng đắn để đảm bảo cho việc kinh doanh có hiệu quả Một trong những công cụ để giúpcho các nhà quản trị có được các thông tin chính xác và kịp thời để ra các quyết định đúng đắncủa mình là hệ thống kiểm soát nội bộ Cũng chính từ đó, kiểm toán nội bộ ra đời như một tất yếukhách quan và cần thiết để giúp cho các nhà quản trị có đầy đủ thông tin chính xác về tình hìnhhoạt động của doanh nghiệp mình, về các báo cáo tài chính được lập để làm cơ sở cho việc quảntrị doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, kiểm toán nội bộ vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ nhưng
nó đã khẳng định được vị thế của mình trong thời gian qua và đang là một nhu
Trang 3cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xây dựng nóiriêng trong giai đoạn mới.
Qua quá trình nghiên cứu tại các tổng công ty xây dựng có quy mô lớn, phạm vi rộng, có sựphân cấp trong hệ thống quản lý, tuy nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh củacác tổng công ty xây dựng đó chưa thực sự đạt được hiệu quả cao nhất Điều này được lý giải là
do thiếu một hệ thống thông tin phục vụ quản lý, do việc kiểm toán nội bộ chưa được chú trọnglàm cho việc quản lý và điều hành hoạt động sản xuất - kinh doanh của công ty chưa thực sự pháthuy đúng như tiềm năng Từ thực tế công việc kiểm toán nội bộ hiện nay ở các doanh nghiệp xâydựng cho thấy việc nghiên cứu để xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp xâydựng là rất cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanhtại các doanh nghiệp cũng như phục vụ cho các mục tiêu khác của đơn vị
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán vàkiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp, đánh giá thực trạng về mô hình tổ chức, quản lý vàquy trình kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp xây dựng đồng thời đề xuất giải pháp tổ chứckiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước về xây dựng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: vấn đề tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm toán nội
bộ trong doanh nghiệp nhà nước nói chung
- Phạm vi nghiên cứu: tổ chức kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp xây dựng
Nhà nước
4. Phương pháp nghiên
cứu: Cơ sở lý thuyết:
- Lý thuyết kinh tế chính trị Mác Lênin
- Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội
- Các văn bản pháp quy liên quan đến kế toán và kiểm toán
Phương pháp nghiên cứu:
Trang 4Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp định tính kết hợp với nghiên cứu địnhlượng, phương pháp xây dựng mô hình và phân tích hệ thống kết hợp với phương pháp đốichiếu, phương pháp phân tích tổng hợp vấn đề.
5 Kết cấu luận văn
Tên luận văn: “Tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước về xây dựng”
Ngoài mở đầu, kết luận kiến nghị và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán và kiểm toán nội bộ
Chương II: Thực trạng kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước về xây dựng
Chương III: Tổ chức kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam
CHƯƠNG I một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán
và kiểm toán nội bộ
1.1 Một số vấn đề chung về kiểm toán
1.1.1 Khái niệm kiểm toán
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời từ thời La Mã cổ đại vào thế kỷthứ III trước Công nguyên Chính vì vậy, kiểm toán có gốc từ La tinh “Audit” nguyên bản là
“Audire”, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại Tuy kiểm toán ra đời đãhơn 2000 năm qua, nhưng nó cũng chỉ phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XIX Từ “Audire”
có nghĩa là “nghe” Hình ảnh kiểm toán cổ điển thường được tiến hành bằng cách người ghichép về tài sản đọc to lên cho một bên độc lập “nghe” rồi sau đó chấp nhận thông qua việcchứng thực ở Việt Nam, thuật ngữ “Kiểm toán” xuất hiện trở lại, và được sử dụng nhiều từnhững năm đầu của thập kỷ 90 Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam đã có những hoạtđộng của công ty kiểm toán nước ngoài Cho đến nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới còntồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán Tuy nhiên khái niệm kiểm toán được chấpnhận phổ biến hiện nay là:
“Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập
và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo vềmức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”
Các thuật ngữ trong định nghĩa này được hiểu như sau:
Trang 5Các kiểm toán viên độc lập và có năng lực: Tính độc lập giúp cho kiểm toán viên trong
quá trình tư duy, lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán không bị ảnh hưởng và chi phối bởi bất
kỳ yếu tố nào có thể dẫn đến làm lệch lạc kết quả kiểm toán Biểu hiện của sự độc lập cụ thể
là độc lập về chuyên môn, độc lập về kinh tế và độc lập trong các mối quan hệ gia đình Độclập về mặt chuyện môn được thể hiện: trong hoạt động kiểm toán, kiểm toán viên chỉ tuântheo chuẩn mực chuyện môn và luật pháp không chỉ bị chi phối bởi những tác động khác Tuỳtheo nội dung và tính chất của mỗi loại kiểm toán cụ thể khác nhau và mức độ độc lập có thểđòi hỏi khác nhau, tuy nhiên yêu cầu về độc lập là đòi hỏi thiết yếu đối với mọi loại kiểm toánviên và tổ chức kiểm toán Nếu độc lập là điều kiện cần thì năng lực của kiểm toán viên làđiều kiện đủ để đảm bảo cho cuộc kiểm toán được thực hiện thành công Năng lực kiểm toángồm những yếu tố, kỹ năng, phẩm chất về chuyên môn nghiệp vụ mà kiểm toán viên cần phải
có để tổ chức và thực hiện được cuộc kiểm toán có hiệu quả
Thu nhập và đánh giá các bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán là các loại tài liệu, thông tin mà các kiểm toán viên sử dụng để phân tích, xem xét và đưa ra kết luận trên đó Quá
trình kiểm toán thực chất là quá trình các kiểm toán viên áp dụng các phương pháp kỹ thuậtkiểmt toán để thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho các ý kiến nhậnxét của họ
Các thông tin được kiểm toán: Đó là những thông tin đã có sẵn nguồn bằng chứng cho
kiểm toán và có căn cứ làm cơ sở cho việc đánh giá thông tin Thông tin được kiểm toán cóthể là những thông tin được lượng hoá hoặc những thông tin có thể so sánh, đối chiếu haykiểm tra lại được, có thể là những thông tin tài chính hoặc những thông tin phi tài chính
Các chuẩn mực đã được xây dựng và thiết lập: Các chuẩn mực là cơ sở, là thước đó để
đánh giá các thông tin trong quá trình kiểm toán Các chuẩn mực này rất phong phú và đadạng tuỳ thuộc vào từng loại kiểm toán, như quy định trong các văn bản pháp quy, các tiêuchuẩn định mức cho các lĩnh vực khác nhau, các chuẩn mực kế toán cho mỗi quốc gia tuỳtừng loại kiểm toán mà sử dụng các chuẩn mực này luôn luôn phải là các chuẩn mực có hiệulực cho cuộc kiểm toán đó
Trang 6Đơn vị được kiểm toán: Đây có thể là một tổ chức pháp nhân (một doanh nghiệp nhà
nước, công ty cổ phần, một doanh nghiệp tư nhân), hoặc không có tư cách pháp nhân (mộtphân xưởng, tổ đội hoặc một cá nhân)
Báo cáo kết quả: Đây là công việc cuối cùng của một cuộc kiểm toán, thể hiện ý kiến
nhận xét, kết luận của kiểm toán viên và cung cấp thông tin cho người đọc, người sử dụng vềmức độ tương quan và phù hợp giữa các thông tin của một đơn vị với các chuẩn mực đã đượcxây dựng Về hình thức, báo cáo kiểm toán có thể khác nhau và có thể thay đồi từ loại báo cáophức tạp bằng văn bản đến báo cáo bằng miệng khi kiểm toán phục vụ cho một người nào đó
Như vậy, thực chất của kiểm toán nói chung là việc kiểm tra và cho ý kiến nhận xét vềmức độ phù hợp của thông tin được kiểm toán so với các tiêu chuẩn, chuẩn mực của thông tin
đã được thiết lập; việc kiểm tra này được thực hiện bởi người độc lập và có năng lực Nóicách khác hoạt động kiểm toán là hoạt động thẩm định thông tin của kiểm toán viên
1.1.2 Chức năng của kiểm toán
Thông qua định nghĩa nói chung về kiểm toán, ta có thể rút ra hai chức năng cơ bản củakiểm toán như sau:
Thứ nhất: Chức năng cơ bản đầu tiên của kiểm toán đó là kiểm tra và xác nhận hay còn
gọi là chức năng xác minh
Đây là chức năng được hình thành đầu tiên gắn liền với sự ra đời, hình thành và pháttriển của kiểm toán Bản thân chức năng này không ngừng phát triển mạnh mẽ cùng với sựphát triển của xã hội loài người nói chung và kiểm toán nói riêng, đồng thời chức năng nàyluôn thể hiện ở các mức độ khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Ngay từ thời kỳđầu, khi kiểm toán ra đời chức năng kiểm tra và xác nhận được thể hiện dưới dạng chứng thựcbáo cáo tài chính (kiểm toán cổ điển), về sau chức năng này phát triển mạnh mẽ và được thểhiện cao hơn dưới dạng báo cáo kiểm toán
Thứ hai: Chức năng trình bày ý kiến (hay chức năng tư vấn) Đây là chức năng phát sinh
và hình thành sau chức năng xác minh Chức năng trình bày ý kiến cũng có quá trình phát triểnriêng của nó Cùng với quá trình phát triển của kiểm toán, chỉ một chức năng xác minh, kiểm toánkhông thể đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý nên chính từ yêu cầu thực tiễn quản lý đặt ra, đãxuất hiện chức năng tư vấn ở thời kỳ ban đầu khi mới hình thành, chức năng này biểu
Trang 7hiện dưới dạng thư quản lý Trong quá trình phát triển, sự biểu hiện của tư vấn cũng rất khácnhau theo từng giai đoạn lịch sử nhất định Thực tế, chức năng này chỉ phát triển mạnh mẽvào giữa thế kỷ XX, nhưng lại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong một nền kinh tế thịtrường phát triển cao như hiện nay.
Qua hai chức năng của kiểm toán ta thấy kiểm toán nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện
cả về quá khứ và tương lai Về quá khứ, đối với các sự kiện đã nảy sinh, kiểm toán với tư cách làngười kiểm toán xác minh sự việc đã hoàn thành nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thôngtin Như vậy, chức năng kiểm toán xác nhận hay xác minh là chức năng hướng về quá khứ Mặtkhác, để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin trong tương lai, kiểm toán lại có thêm chứcnăng thứ hai đó là chức năng tư vấn hay chức năng trình bày ý kiến, chức năng này hướng vềtương lai Hai chức năng của kiểm toán hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau tuỳ theotừng giai đoạn lịch sử nhất định ở thời kỳ đầu, người ta thường chỉ tập trung quan tâm đến chứcnăng kiểm tra xác nhận Nhưng khi xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm nhiều hơn đếnchức năng tư vấn của kiểm toán, đó là việc nhìn nhận, định hướng cho một tương lai đúng đắn để
có những quyết định tối ưu và giành được thắng lợi trong cạnh tranh Chính vì vậy, ở giai đoạnhiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin trong tương lai không chỉ riêng có chức năngcủa kiểm toán, mà còn có hàng loạt các tổ chức khác nhau cùng thực hiện chức năng này như: các
tổ chức tư vấn về thuế, tư vấn về pháp luật kinh doanh
1.1.3 Đối tượng của kiểm toán
Xã hội ngày càng phát triển, kiểm toán càng khẳng định được vị trí, vai trò của mìnhtrong quản lý Kiểm toán là một môn khoa học nên có đối tượng và phương pháp nghiên cứuriêng
Xuất phát từ lịch sử ra đời, hình thành và phát triển của kiểm toán, ban đầu kiểm toán chỉ
bó hẹp và giới hạn về đối tượng trong việc kiểm tra, đánh giá về tính trung thực hợp lý của báocáo tài chính Cùng với sự phát triển của xã hội và yêu cầu của quản lý thực hiện, con ngườikhông chỉ quan tâm đến báo cáo tài chính của đơn vị mà ngày càng quan tâm nhiều hơn sang cáclĩnh vực phi tài chính, lĩnh vực hiệu quả, hiệu lực và hiệu năng của hoạt động Hay nói cách kháckiểm toán đã quan tâm một cách đầy đủ toàn diện mọi khía cạnh hoạt động của con người,
Trang 8chính điều đó đã làm đối tượng của kiểm toán ngày càng phong phú, đa dạng và toàn diện trêncác mặt cụ thể như sau:
Báo cáo tài chính và thực trạng về tài sản, nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Ngay từ khi mới hình thành, kiểm toán chỉ tiến hành thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính Khi đó, đối
tượng trực tiếp của kiểm toán là các báo cáo tài chính Để có cơ sở đưa ra kết luận về báo cáotài chính (như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ,thuyết minh báo cáo tài chính ) Khi đánh giá về các tài liệu kế toán, Kiểm toán viên cần phảiđánh giá trên các mặt:
- Tính hiện thực của các thông tin kế toán Nói cách khác đây chính là tính có thật của tàisản và tính có thật của nghiệp vụ kinh tế phát sinh (tài sản thực tế tồn tại, thuộc quyền sở hữucủa đơn vị và nghiệp vụ kinh tế thực tế phát sinh)
- Tính hợp pháp hơp lý của tài liệu kế toán này
- Sự phù hợp giữa tài liệu kế toán với thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
- Độ tin cậy của tài liệu kế toán
Kiểm toán cổ điển thường chỉ quan tâm đến các tài liệu kế toán về tính hợp pháp, hợp
lý Còn độ tin cậy của tài liệu kiểm toán trong giai đoạn đầu chưa được đề cập đầy đủ nhưngcàng về sau này, độ tin cậy lại càng được kiểm toán quan tâm nhiều hơn trong quá trình xemxét, đánh giá các tài liệu kế toán
Cùng với sự phát triển của xã hội, trong kiểm toán báo cáo tài chính người ta đã biếtquan tâm nhiều hơn đến thực trạng hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị nhằm đánh giá mộtcách đúng đắn hơn về báo cáo tài chính
Hoạt động kinh tế tài chính là hoạt động dùng tiền làm thước đo để đo lường, đánh giá.Trong kiểm toán báo cáo tài chính, hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị cũng dần dần đượcquan tâm nhiều hơn cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và kiểm toán nói riêng Sựquan tâm này nhằm xây dựng một cơ sở để đánh giá một cách đúng đắn độ tin cậy và sự phùhợp giữa báo cáo tài chính, tài liệu kế toán với thực trạng hoạt động kinh tế của đơn vị
Khi đánh giá hoạt động này, người ta thường quan tâm đến khía cạnh:
- Sự hợp pháp, hợp lý của hoạt động tức là hoạt động phải tuân thủ pháp luật, chính sách chế
độ và phù hợp với phạm vi hoạt động của đơn vị
Trang 9- Hoạt động kinh tế, tài chính phải tuân thủ theo những quy luật chung Không thể có mộthoạt động kinh tế đi ngược, trái với quy luật, không thể có một đơn vị hoạt động kinh doanhvới mục đích là lỗ
Hoạt động kinh tế có sự phù hợp với quy luật cũng là nền tảng đánh giá kiểm toán viên
về tính hợp pháp, hợp lý và độ tin cậy của báo cáo tài chính: hoạt động kinh tế tài chính phảitiết kiệm, hoạt động kinh tế tài chính phải có kế hoạch
Trong kiểm toán hiện đại ngày nay, khi kiểm toán báo cáo tài chính người ta đã biếtquan tâm nhiều hơn đến thực trạng hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị Việc kiểm tra, đánhgiá thực trạng này được tiến hành bởi một loạt những phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ kiểmtoán như: phỏng vấn, quan sát, kiểm kê, xác nhận
Thực trạng về tài sản và nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong mỗi doanh nghiệp, đơn vịcũng có sự khác nhau Trong quá trình kiểm toán, chuyên gia kiểm toán bắt buộc phải có sựhiểu biết về thực trạng tài sản và nghiệp vụ kinh tế phát sinh cũng như quá trình kiểm soát vềtừng loại tài sản và từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở mỗi đơn vị để có thể đưa ra ý kiếnnhận xét phù hợp Nhiều trường hợp nếu chuyên gia kiểm toán thiếu sự hiểu biết về một loạitài sản hoặc một loại nghiệp vụ nào đó thì phải nhờ đến sự xác nhận của chuyên gia khác
Thực trạng việc chấp hành luật pháp, chính sách, chế độ và những quy định:
Cùng với sự phát triển của kiểm toán báo cáo tài chính, đối tượng kiểm toán ngày càngđược mở rộng và thâm nhập vào nhiều lĩnh vực Kiểm toán không chỉ dừng lại ở kiểm toánbáo cáo tài chính mà còn tiến hành kiểm toán tình hình chấp hành và thực hiện các chính sách,chế độ và các quy định có tính nguyên tắc Chính từ thực trạng chấp hành và thực hiện luậtpháp chính sách, chế độ và những quy định là đối tượng của kiểm toán Một loại kiểm toánmới được hình thành từ đó, đó là kiểm toán tuân thủ, loại kiểm toán này dần dần được tiếnhành đan xen trong kiểm toán báo cáo tài chính Cho đến ngày nay kiểm toán tuân thủ luônđược tiến hành song song trong kiểm toán báo cáo tài chính
Tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động:
Ngày nay kiểm toán đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực tài chính, lĩnh vực thựchiện và chấp hành luật pháp, chính sách chế độ Không những thế, kiểm toán còn phát triển mạnh
mẽ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là kiểm toán tính hiệu lực, hiệu quả và tính
Trang 10kinh tế của hoạt động nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý, chiến thắng trong cạnh tranh
và tối đa hoá lợi nhuận Sự quan tâm của xã hội nói chung và kiểm toán nói riêng đã dần dầnxoay chuyển từ việc nhìn nhận đánh giá về quá khứ sang đánh giá và hướng về tương lainhiều hơn Trên thế giới hiện nay, đặc biệt đối với kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nước đãtập trung và đi sâu hơn vào tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động Chính vì vậy,tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động là đối tượng kiểm toán chủ yếu trongkiểm toán hiện đại ngày nay, nhất là trong các lĩnh vực phi sản xuất kinh doanh
1.1.4 Phân loại kiểm toán:
1.1.4.1 Phân loại kiểm toán theo mục đích của kiểm toán (hay theo đối tượng trực tiếp của kiểm toán):
Căn cứ vào mục đích cụ thể (hay đối tượng trực tiếp) của kiểm toán, người ta thườngchia kiểm toán thành ba loại là: kiểm toán hoạt động (Performance Audit), kiểm toán tuân thủ(Compliance Audit) và kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial Statements)
Kiểm toán hoạt động:
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm để xét và đánh giá về tính kinh tế, tínhhiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán
Tính kinh tế là sự tiết kiệm các nguồn lực hay đây còn gọi là nguyên tắc tối thiểu, nghĩa là để đạt được mục tiêu nhất định cần dùng một lượng nguồn lực ít nhất (kể cả trong
Có rất nhiều lĩnh vực khác nhau cần phải kiểm tra và theo dõi về tính kinh tế, tính hiệu lực
và hiệu quả nên đối tượng của kiểm toán hoạt động cũng rất phong phú và đa dạng Chúng khôngchỉ giới hạn trong lĩnh vực tài chính mà còn có thể bao gồm nhiều lĩnh vực và hoạt động khácnhau như việc đánh giá cơ cấu tổ chức, một phương án kinh doanh, một quy trình công nghệ, một
hệ thống máy tính, hay một loại tài sản, thiết bị mới đưa vào hoạt động Việc xác
Trang 11định các tiêu chuẩn, chuẩn mực để đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu quả của cáchoạt động là việc làm rất khó khăn, việc lượng hoá các mặt trên thành các tiêu chuẩn để đánhgiá là việc làm mang nặng tính chủ quan Do vậy việc đánh giá kết quả trong kiểm toán hoạtđộng cũng hết sức chủ quan Để thực hiện cuộc kiểm toán hoạt động đòi hỏi người kiểm toánviên phải am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau như kế toán, tài chính, kinh tế, khoa học kỹthuật ”Sản phẩm” của kiểm toán hoạt động là một bản báo cáo cho người quản lý về kết quảkiểm toán và những ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động.
Kiểm toán tuân thủ:
Kiểm toán tuân thủ là loại kiểm toán nhằm để xem xét đơn vị được kiểm toán có tuânthủ các quy định mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc cơ quan chức năng của nhànước hoặc cơ quan chuyên môn đề ra hay không
Đối tượng của kiểm toán tuân thủ cũng khá linh hoạt Nó có thể là việc tuân thủ các quytắc do các cơ quan Nhà nước cấp trên đề ra, như kiểm tra đánh giá về việc tuân thủ các quy định
về thuế giá trị gia tăng, các quy định về bảo vệ môi trường bảo vệ người lao động hoặc việc tuânthủ những quy định do người quản lý cấp trên trong đơn vị đề ra, hoặc nó còn là việc tuân thủnhững quy định do người quản lý cấp trên trong đơn vị đề ra, hoặc nó còn là việc tuân thủ nhữngquy định của cơ quan chuyên môn đề ra như việc tuân thủ các quy trình và thủ tục giải ngân củakho bạc nhà nước, việc tuân thủ các điều kiện và thủ tục vay vốn của ngân hàng Các tiêu chuẩn,chuẩn mực để đánh giá thông tin ở loại kiểm toán này không phức tạp như kiểm toán hoạt động,chúng thường được xác định một cách dễ dàng gắn liền với các thủ tục, quy tắc được kiểm toán.Thông thường loại kiểm toán được thực hiện để phục vụ cho nhu cầu của bản thân các đơn vị,hoặc nhu cầu của cơ quan quản lý cấp trên nên kết quả của kiểm toán tuân thủ nói chung được báocáo cho người có trách nhiệm trong đơn vị được kiểm toán hoặc cơ quan quản lý cấp trên hơn làcho một phạm vi rộng người sử dụng Trường hợp việc kiểm toán do một khách hàng, không phảiđơn vị được kiểm toán có nhu cầu, như việc kiểm tra tính tuân thủ các quy định về thuế thu nhậpdoanh nghiệp ở một đơn vị do cơ quan thuế thuê mướn, thì kết quả kiểm toán sẽ được báo cáo cho
cơ quan có nhu cầu thuê mướn kiểm toán
Kiểm toán báo cáo tài chính:
Trang 12Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính trungthực, hợp lý của các báo cáo tài chính được kiểm toán.
Báo cáo tài chính được kiểm toán, thường là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinhdoanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính của các đơn vị tổ chứckinh doanh Ngoài ra, các báo cáo tài chính của các đơn vị khác như bảng cân đối kế toán, báo cáoquyết toán vốn, ngân sách của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, của các dự án đầu tư
cũng là những đối tượng thông tin của kiểm toán báo cáo tài chính Tiêu chuẩn, chuẩn mựccho việc đánh giá thông tin của loại kiểm toán này thường là các chuẩn mực kế toán, các quyđịnh pháp lý về kế toán và các quy định khác có liên quan
ở các nước có nền kinh tế thị trường, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đượcnhiều người quan tâm và nó cũng có thể được kiểm toán bởi nhiều tổ chức kiểm toán khácnhau, đặc biệt là các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp
1.1.4.2 Một số cách phân loại khác:
Phân loại kiểm toán theo loại hình tổ chức kiểm toán:
Theo loại hình tổ chức kiểm toán, kiểm toán được chia làm ba loại là kiểm toán nội bộ,kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập Kiểm toán nội bộ được tổ chức bên trong mỗi đơn
vị thực hiện kiểm tra và cho ý kiến về các đối tượng được kiểm toán nhằm giúp đơn vị thựchiện tốt cách chức năng và nhiệm vụ của mình Kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tàichính tối cao của quốc gia, thực hiện việc kiểm tra và báo cáo về việc quản lý và sử dụng cácnguồn lực của nhà nước ở các đơn vị Kiểm toán độc lập được tổ chức dưới dạng doanhnghiệp kiểm toán (công ty hay hãng kiểm toán) nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch
vụ khác có tính chuyên môn xã hội
Phân loại kiểm toán theo mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán:
Theo tiêu thức này, kiểm toán được chia thành kiểm toán bên trong (nội kiểm) và kiểmtoán bên ngoài (ngoại kiểm) Kiểm toán bên trong là những hoạt động kiểm toán được thựchiện bởi chính những người trong đơn vị (kiểm toán nội bộ) Còn kiểm toán bên ngoài lànhững hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi những người bên ngoài đơn vị (kiểm toán độclập hoặc có thể là kiểm toán Nhà nước)
Phân loại kiểm toán theo quan hệ pháp lý đối với khách thể kiểm toán:
Trang 13Theo mối quan hệ này, kiểm toán được chia thành kiểm toán bắt buộc và kiểm toán tựnguyện Kiểm toán toán bắt buộc là các đơn vị được kiểm toán (khách thể kiểm toán) phải chịu sựkiểm toán bắt buộc theo luật định Kiểm toán tự nguyện là loại kiểm toán không bắt buộc đối vớiđơn vị được kiểm toán nhưng đơn vị này có nhu cầu và tự nguyện thực hiện việc kiểm toán.
Phân loại kiểm toán theo tính chu kỳ của kiểm toán:
Theo cách phân loại này, kiểm toán được chia thành kiểm toán thường kỳ, kiểm toánđịnh kỳ và kiểm toán bất thường
Ngoài ra, còn có nhiều các khác để phân loại kiểm toán như: theo thời điểm kiểm toánvới thời điểm phát sinh của các nghiệp vụ, sự kiện có kiểm toán trước (tiền kiểm), kiểm toántrong (kiểm toán hiện hành) và kiểm toán sau (hậu kiểm); theo tính chất và phạm vi tiến hànhkiểm toán có kiểm toán toàn diện và kiểm toán chuyên đề v.v
1.1.5 Khái quát chuẩn mực quốc tế về dịch vụ kiểm toán và chứng thực
1.1.5.1 Hiệp hội kế toán quốc tế (IFAC)
Thông thường mỗi quốc gia có hội kế toán kiểm toán hành nghề ở các nước phươngTây, những hội nghề nghiệp này là các tổ chức độc lập, chịu trách nhiệm soạn thảo và banhành các chuẩn mực kiểm toán còn ở các nước đang phát triển các tổ chức này, mặc dù là tổchức phi Chính phủ, nhưng chịu sự chi phối của Bộ Tài chính Ví dụ như ở Mỹ, ban soạn thảoChuẩn mực Kiểm toán “ASB’ là uỷ ban chuyên môn cao cấp của Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ(AICPA) chịu trách nhiệm ban hành các chuẩn mực và hướng dẫn thực hiện các dịch vụ kiểmtoán, chứng nhận và kiểm soát chất lượng Hiệp hội IFAC ‘Hiệp hội kế toán quốc tế’ là một tổchức kế toán quốc tế được biết đến với tư cách là một tổ chức uy tín về soạn thảo và ban hànhcác chuẩn mực quốc tế và các nguyên tắc và thông lệ kiểm toán IFAC được thành lập vàonăm 1977 Liên đoàn có nhiệm vụ thúc đẩy và phát triển ngành thông qua ban hành các chuẩnmực được chấp nhận chung nhằm hỗ trợ công tác kiểm toán đạt chất lượng dịch vụ cao hơnphục vụ lợi ích công cộng IFAC hiện có hơn 150 thành viên từ kháp mọi nơi trên thế giới, đạidiện cho hơn 2.4 triệu kế toán làm việc trong các lĩnh vực giáo dục, tư nhân, nhà nước, cácngành thương mại và công nghiệp
Cơ cấu và hoạt động của IFAC gồm:
- ủy ban Tuân thủ
Trang 14- ủy ban Giáo dục
- ủy ban Đạo đức nghề nghiệp
- Ban chuẩn mực chứng thực và kiểm toán quốc tế (IAASB)
- Ban kế toán công lập quốc tế
- Kế toán hành nghề kinh doanh
- ủy ban Kiểm toán chuyển đổi
IAASB hoạt động với tư cách là cơ quan soạn thảo và ban hành các chuẩn mực độc lậpdưới sự bảo trợ của IFAC Các chuẩn mực IAASB là nguyên tắc cơ bản và thông lệ về kiểmtoán và các dịch vụ liên quan IAASB cũng ban hành các Chuẩn mực thực hành nhằm “hướngdẫn thực hiện” và “hỗ trợ thực tiễn” khi áp dụng các chuẩn mực và lựa chọn thông lệ kiểmtoán phù hợp nhất
Uỷ ban Chuẩn mực kế toán nhà nước quốc tế (IPSASB) chịu trách nhiệm soạn thảo vàban hành các nguyên tắc kế toán, kiểm toán và các yêu cầu về báo cáo tài chính của chínhphủ, quốc gia, trung ương và địa phương, các cơ quan trực thuộc chính phủ và các tổ chứctương đương IPSASB ban hành các Chuẩn mực Kế toán nhà nước quốc tế
Uỷ ban Đạo đức nghề nghiệp chịu trách nhiệm xây dựng khung quy định về đạo đức nghềnghiệp và nâng cao khả năng nhận thức và sự chấp hành của nước thành viên Uỷ ban đạo đứcnghề nghiệp ban hành Chuẩn mực Đạo đức nghề nghiệp IFAC cho các kế toán hành nghề
Uỷ ban Giáo dục hướng dẫn, nghiên cứu và giúp đỡ các kế toán chuyên nghiệp trao đổithông tin, đảm bảo các nhân viên kế toán được đào tạo đầy đủ kiến thức có khả năng chịutrách nhiệm trước cổ đông và người tuyển dụng, đồng thời góp phần hoà hợp môi trường kếtoán chuyên nghiệp trên thế giới Uỷ ban Giáo dục ban hành các Chuẩn mực Giáo dục quốc
tế Ba uỷ ban còn lại gồm Uỷ ban Tuân thủ, Uỷ ban Kiểm toán chuyển đổi và kế toán hànhnghề kinh doanh chịu trách nhiệm thực thi chuẩn mực (Uỷ ban tuân thủ), trợ giúp các công tykiểm toán trong quá trình chuyển đổi (Uỷ ban Kiểm toán chuyển đổi) và hỗ trợ các kế toánchuyên nghiệp liên kết và trao đổi thông tin (Kế toán hành nghề kinh doanh);
1.1.5.2 Cơ cấu hệ thống chuẩn mực của Ban Chuẩn mực chứng thực và kiểm toán quốc tế.
Trang 15Cơ cấu hệ thông chuẩn mực của IAASB bao gồm các chuẩn mực về kiểm toán, chứngthực và các dịch vụ liên quan thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế IAASB quyếttâm với mục tiêu xây dựng một bộ các chuẩn mực quốc tế IAASB quyết tâm với mục tiêuxây dựng một bộ các chuẩn mực quốc tế được chấp nhận chung, vì vậy IAASB đã hợp tác vớicác cơ quan soạn thảo và ban hành chuẩn mực quốc gia và quốc tế và biến hệ thống các chuẩnmực quốc gia va quốc tế và biến hệ thống các chuẩn mực của IAASB được chấp nhận toàncầu Cơ cấu hệ thống các chuẩn mực của IAASB gồm những vấn đề sau:
- Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp IFAC cho các kế toán hành nghề là nền tảng cho tất cảcác chuẩn mực về đạo đức đã được thống nhất với các chuẩn mực đạo đức của các nước thànhviên
- Các chuẩn mực quốc tế về kiểm soát chất lượng (ISQC) áp dụng cho tất cả các dịch vụđược đề cập trong Chuẩn mực Hợp đồng của IAASB Cho đến nay, chưa có chuẩn mực nàođược ban hành
- Hai chuẩn mực quốc tế về các dịch vụ liên quan (ISRS) áp dụng cho dịch vụ cho dịch vụtổng hợp thông tin tài chính và dịch vụ kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoảthuận trước và các hợp đồng dịch vụ liên quan khác đã được IAASB quy định
- Ba mươi sáu chuẩn mực Kiểm toán quốc tế áp dụng cho hợp đồng kiểm toán thông tintài chính
- Mười bốn Chuẩn mực quốc tế cho dịch vụ soát xets (ISRE) áp dụng cho hợp đồng soátxét các thông tin tài chính
- Ba Chuẩn mực quốc tế cho dịch vụ chứng thực (ISAE) áp dụng đối với dịch vụ chứngthực cho vụ việc, không phải vụ việc liên quan thông tin tài chính
ISA, ISAE và ISRS thuộc vào các chuẩn mực cung cấp dịch vụ của IAASB
1.2 Một số khái niệm về kiểm toán nội bộ
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của kiểm toán nội bộ.
Hoạt động của kiểm toán nói chung đã xuất hiện từ lâu trên thế giới Sự phát triển về kinh
tế và xã hội của mỗi quốc gia qua thời gian đã làm cho hoạt động kiểm toán ngày càng phát triển và trở thành nhu cầu không thể thiếu được của các quốc gia
Trang 16So với kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nước thì loại hình kiểm toán nội bộ ra đời muộnhơn, bắt đầu từ năm 1940 mới xuất hiện khái niệm kiểm toán nội bộ Nhưng nó có sự pháttriển rất mạnh mẽ đặc biệt trong công việc quản trị doanh nghiệp Các đơn vị kinh tế cơ sởphát hiện ra rằng hệ thống kiểm toán nội bộ là phương tiện quản lý có hiệu quả và là công cụđắc lực giúp cho các nhà quản lý giám sát được toàn bộ các hoạt động của đơn vị mình.Không những thế, trong các cơ quan nhà nước việc hình thành các bộ phận kiểm toán nội bộ
để kiểm tra thường xuyên các hoạt động trong cơ quan đang tỏ ra có nhiều tác dụng thiết thực
Với sự lớn mạnh và gia tăng quy mô các doanh nghiệp vài thập niên gần đây, tầm quantrọng kiểm toán nội bộ cũng lớn mạnh một cách tương ứng, làm cho nó trở thành yếu tố chínhtrong việc thiết lập hệ thống kiểm soát và kiểm tra nội bộ ở một số nước, cơ quan lập pháp đãđưa ra những văn bản pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho kiểm toánnội bộ hoạt động và phát triển Bộ phận kiểm toán nội bộ đã phát triển cực nhanh ở Mỹ cũngnhư ở châu Âu từ những năm 60 Sự phát triển này đã được khuyến khích bởi sự thành lập của
tổ chức Kiểm toán nội bộ (IIA) năm 1941 tại NewYork, tổ chức này đã xác định bản chất,mục tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ Tổ chức kiểm toán nội bộ làthành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) và INTOSAI, đồng thời nó chuyên sâunghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cấp chứng chỉ cho các kiểm toán viên nội bộ (CIA)
1.2.2 Khái niệm kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổchức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đốivới tổ chức đó
Các thuật ngữ sử dụng trong định nghĩa trên:
Kiểm toán nội bộ là công việc kiểm toán do tổ chức và nhân viên của tổ chức tiến hành Như vậy là, công việc kiểm toán ở đây khác với công việc do kiểm toán công chứng
bên ngoài thực hiện
Thuật ngữ độc lập nói lên rằng công việc kiểm toán không bị những rành buộc có thể
hạn chế đáng kể phạm vi và hiệu quả của việc thẩm tra, hoặc làm chậm trễ việc báo cáo nhữngphát hiện và kết luận
Trang 17Thuật ngữ thẩm định khẳng định chủ đề đánh giá của kiểm toán viên nội bộ khi triển
khai những kết luận
Thuật ngữ được thiết lập xác nhận là tổ chức đã định rõ vai trò của kiểm toán nội bộ Các thuật ngữ xem xét và đánh giá nói rõ vai trò hành động của kiểm toán viên nội bộ,
một là điều tra phát hiện sự việc, hai là nhận định đánh giá
Cụm từ hoạt động của tổ chức khẳng định phạm vi và quyền hạn rộng của công việc
kiểm toán nội bộ khi tác động đến tất cả các hoạt động của tổ chức
Thuật ngữ trợ giúp khẳng định sự giúp đỡ và hỗ trợ là kết quả cuối cùng của kiểm toán
nội bộ
Cụm từ đối với tổ chức đó khẳng định toàn bộ phạm vi giúp đỡ cho cả tổ chức, bao
gồm toàn thể nhân viên, Hội đồng giám đốc và các cổ đông của công ty
1.2.3 Mục đích, yêu cầu của kiểm toán nội bộ
Mục đích của kiểm toán nội bộ là thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạtđộng và chất lượng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, giúp cho công tác điều hànhcủa chủ sở hữu, nhà quản lý doanh nghiệp trong việc giúp phát hiện và khắc phục khâu yếu,ngăn ngừa sai sót, gian lận trong hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Đồng thời kếtquả kiểm toán nội bộ sẽ góp phần đắc lực và hiệu quả vào việc đảm bảo thông tin kinh tế, tàichính cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
1.2.4 Chức năng của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nó cũng trải qua quátrình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý kinh tế, trình độ và kinh nghiệmquản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mặc dù theo kinh nghiệm của các nước có nềnkinh tế thị trường phát triển, chức năng của kiểm toán nội bộ hiện đại là đánh giá độc lập hệthống kiểm soát nội bộ, nhưng chức năng truyền thống của kiểm toán nội bộ là xem xét, đánhgiá độ tin cậy, thống nhất của các thông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữuhiệu vốn và tài sản của doanh nghiệp Chính vì thế, việc quy định chức năng, nhiệm vụ chokiểm toán nội bộ cần phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng khuvực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị cụ thể
1.2.5 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Trang 18Về cơ bản nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ bao gồm các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế toán,việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nước, kiểm tra việc tuân thủ các chínhsách, các quy định, các kế hoạch và các thủ tục hiện hành
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hệ thống thiết lập xem có sự bảo đảm sựtuân thủ với các chính sách, thủ tục, biện pháp và các quy định mà có thể tác động quan trọngđến mọi hoạt động của tổ chức Tiếp nối với chức năng này, trong một số trường hợp và nếuđược phép của Uỷ ban quản trị tối cao, các kiểm toán viên nội bộ đánh giá tính hợp lý và sự
ưu việt của các chính sách, quy định, kế hoạch trước khi đi đến việc xác định mức độ tuân thủ
Họ sẽ chỉ ra khoản lợi nhuận (hay tiết kiệm được) từ các hoạt động bởi việc tuân thủ thíchđáng các chính sách, các kế hoạch và thủ tục được lập ra và các mất mát nếu không có sự tuânthủ đó Bên cạnh đó, các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính pháp lý của các thông tin kếtoán với chuẩn mực là các quy định pháp chế của Nhà nước
Thứ hai: Kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trong đó chủ yếu là kiểmtra và xác định mức độ trung thực, hợp lý của các báo cáo quyết toán do kế toán và các bộphận khác trong doanh nghiệp lập ra
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin khôngchỉ của bản thân các thông tin tài chính mà cả các hoạt động và phương tiện được sử dụng đểxác minh, đo đạc, phân loại và báo cáo các thông tin đó Việc kiểm tra hệ thống thông tin này
là cơ sở để khẳng định các sổ sách và báo cáo tài chính chứa đựng các thông tin chính xác, kịpthời và hữu ích Các kiểm toán viên nội bộ thực hiện kiểm tra các báo cáo tài chính của doanhnghiệp trong hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất với mục đích giúp chủ Doanh nghiệp hay nhà quản lý của doanh
nghiệp kiểm tra lại các thông tin tài chính, kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểm tra, soát xétviệc tính toán, phân loại báo cáo, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết cácnghiệp vụ, các số dư tài khoản) Điều này cũng có tác dụng giảm phí kiểm toán của các kiểmtoán viên độc lập khi công việc của kiểm toán viên nội bộ đạt hiệu quả tốt
Trang 19- Trường hợp thứ hai công việc kiểm tra được thực hiện nhằm hoàn thiện việc thẩm tra các
lĩnh vực khác để có thể đưa ra kết luận Việc kiểm tra các báo cáo tài chính trở thành hoạtđộng bổ trợ đối với nhiệm vụ kiểm toán chính
Thứ ba: Kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các chương trình hay cáchoạt động nghiệp vụ Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của doanh nghiệp và các đối tác thamgia liên doanh với doanh nghiệp Kiểm tra xác nhận tính trung thực, hợp lý, đầy đủ của số liệu
kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hoạt động hay chương trình để xem xét kếtquả thu được có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không và các hoạt động, chương trình đó cóđược thực hiện theo kế hoạch đã định hay không Bên cạnh đó, kiểm toán viên nội bộ cần trợgiúp cho những người lãnh đạo khi xây dựng các mục tiêu cho các chương trình bằng việc xácđịnh xem những giả thiết, dữ liệu quan trọng có hợp lý không, những thông tin hiện thời cóchính xác và có được sử dụng không và hệ thống kiểm tra kiểm soát có được thiết lập trongcác hoạt động hay chương trình không Đánh giá các vấn đề liên quan đến liên doanh liên kếttrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là những mục tiêu quan trọng mà các
kiểm toán viên nội bộ phải thực hiện, bao gồm: đánh giá các báo cáo kế toán liên doanh liên kết, xác định giá trị liên doanh của doanh nghiệp và việc bảo toàn vốn liên doanh, liên kết
Thứ tư: Kiểm tra các phương tiện bảo đảm an toàn cho tài sản Kiểm tra tính hiệu quả
và pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó có hệ thống kế toán Giám sát sự hoạt động
và tham gia hoàn thiện chúng
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phương tiện được sử dụng để đảm bảo antoàn cho các tài sản để tránh các mất mát khác nhau như ăn trộm hoặc hỏa hoạn
Mặt khác, kiểm toán viên nội bộ cần có những kiến nghị cho nhà quản lý để phòngngừa các hành vi bất hợp pháp xâm phạm tài sản của đơn vị, tổ chức
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là một trong những nhiệm vụ của kiểm toán nội
bộ, xem xét hệ thống kế toán hoạt động có hiệu quả và bảo đảm độ tin cậy hay không, đồngthời qua đó đưa ra các kiến nghị cũng như các giải pháp để hoàn thiện hệ thống đó
Thứ năm: Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của các nguồn lực
Trang 20Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được giao Việcthực hiện này liên quan đến các nhóm hay các nhân viên của đơn vị ở đây kiểm toán nội bộkhông chỉ quan tâm tới việc các nhóm hay các nhân viên thực hiện công việc của họ có mang lạinhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp hay không? Do các công việc (đặc biệt là trong lĩnh vực kỹthuật) rất đa dạng trong một tổ chức kinh tế nên để hoàn thành được nhiệm vụ trên, bộ phận kiểmtoán phải tuyển chọn được những người có trình độ nghiệp vụ tương xứng.
Thứ sáu: Thẩm tra các thủ tục kiểm soát để xác định tính thích hợp và ưu việt của nó.Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của quy chế kiểm soát nội bộ, đồng thời có kiến nghịhoàn thiện các quy chế này
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ đồng thời kiểm toán nội bộ phải thực hiện việcgiám sát thực hiện các quy chế kiểm soát nội bộ đã đề ra, qua đó phát hiện những điểm chưahợp lý để tham gia hoàn thiện chúng
Mục đích của việc thẩm tra tính thích hợp của kiểm toán nội bộ để khẳng định rằng hệthống kiểm toán nội bộ vận hành đều đặn và có hiệu quả, đáp ứng mọi mục tiêu đã định trước.Việc thẩm tra sẽ phơi bày mọi hành vi gian lận, không bình thường và gây lãng phí với bảnchất lặp đi lặp lại nhằm ngăn chặn và giảm thiểu chúng
Thứ bảy: Các nhiệm vụ đặc biệt khác
Ngoài các nhiệm vụ chính trên, kiểm toán nội bộ có thể được giao bất cứ nhiệm vụ gì
mà có ích cho Ban Giám đốc chẳng hạn như: điều tra về cá nhân, đại diện cho Ban giám đốchoặc giám sát trong các thoả thuận, tham gia vào các chương trình đào tạo đơn vị
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, kiểm toán nội bộ có trách nhiệm hướngdẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toánvà các cán bộ nghiệp vụ khác có liên quan, đề xuất các quyếtđịnh quản lý, xử lý về tài chính kế toán và các nội dung xử lý khác
1.2.6 Quyền hạn của kiểm toán nội bộ
- Được quyền yêu cầu cung cấp tài liệu và thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
- Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ Trường hợp cần thiết có quyền yêu cầu sự hỗ trợ vềchuyên môn và nhân sự của các bộ phận chức năng
Trang 21- Kiến nghị mang tính chất xây dựng đối với các cấp lãnh đạo, các bộ phận trong doanhnghiệp nhằm nâng cao hiệu quả các mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh và công tác quản lý,điều hành doanh nghiệp.
- Có quyền bảo lưu ý kiến có liên quan đến kết quả kiểm toán
1.2.7 Vị trí, ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán nội bộ.
Xét về vị trí của kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức: Trong sơ đồ quản lý doanh
nghiệp, trách nhiệm và nhiệm vụ càng lớn thì vị trí càng cao Do tính chất đặc thù của hoạtđộng kiểm toán, đảm bảo tính khách quan trong công việc, bộ phận kiểm toán nội bộ cần được
tổ chức độc lập với các bộ phận quản lý và điều hành kinh doanh trong doanh nghiệp và chịu
sự chỉ đạo trực tiếp của (Tổng) Giám đốc hoặc HĐQT của doanh nghiệp
ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán nội bộ:
Kiểm toán nội bộ là một hoạt động nội kiểm sinh ra từ nhu cầu quản lý, nên trước hếthoạt động này có ý nghĩa và tác dụng to lớn đối với các nhà quản lý Thực vậy, kể từ khichính thức ra đời đến nay có sự lớn mạnh nhanh chóng trong việc áp dụng kiểm toán nội bộvào công việc quản trị Doanh nghiệp Các đơn vị kinh tế cơ sở phát hiện ra rằng hệ thốngkiểm toán nội bộ là phương tiện quản lý hiệu quả và ngày nay nó đã tìm được chỗ đứng vữngchắc trong các cơ quan Chính phủ, các đơn vị sản xuất kinh doanh lớn nhỏ trên toàn cầu
Đối với các kiểm toán viên độc lập: Họ thừa nhận kiểm toán nội bộ là công cụ quản lý
hiệu quả và là sự bổ sung cần thiết cho công việc ngoại kiểm nên luôn khuyến khích kháchhàng của mình thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ
Trong hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nước, hệ thống kiểm toán nội bộ trong các cơ
quan hành chính sự nghiệp và các tổ chức kinh tế Nhà nước giữ vai trò hết sức quan trọng Dokiểm toán nội bộ được đặt tại các đơn vị cơ sở nên giúp sớm phát hiện, ngăn ngừa và xử lýcác hành vi tiêu cực, gian lận trong quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế, tài chính, gópphần nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý; hoàn thiện và đổi mới phong cáchlàm việc tại các cơ quan, đơn vị
Về mặt lý thuyết, kiểm toán nội bộ là lực lượng độc lập trong đơn vị được lập ra để kiểm
tra và đánh giá những hoạt động của đơn vị và các thành viên khác trong đơn vị đó Trong nhữngđơn vị nhỏ, chức năng kiểm toán nội bộ thuộc về một phần của vai trò quản lý và được
Trang 22người chủ sở hữu hoặc người quản lý trực tiếp thực hiện Tuy nhiên, các hoạt động cụ thể tại cácđơn vị rất đa dạng và phức tạp, hệ thống kiểm tra đã thiết lập từ trước khó đem lại cho ông chủ vàcác nhà quản lý cấp cao cái nhìn quán xuyến đối với hoạt động đã và đang diễn ra Những quy tắcđịnh ra có được tuân thủ hay không? Tài sản có được bảo vệ nguyên vẹn hay không? Công nhânviên làm việc có hiệu năng không? Những câu trả lời này phải giao cho một người hoặc một sốngười chịu trách nhiệm kiểm tra và đánh giá các hoạt động, sau đó báo cáo lại cho chủ sở hữuhoặc người quản lý Kiểm toán viên nội bộ là người đảm nhận công việc này.
Tóm lại kiểm toán nội bộ hoạt động đúng với chức năng của mình sẽ có ý nghĩa và tác
dụng to lớn đối với Doanh nghiệp mà trước hết là cho những nhà quản lý
1.2.8 Các chuẩn mực nghề nghiệp đối với kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán viên nội bộ phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
Kiểm toán viên phải là người trung thực và có lương tâm nghề nghiệp, trong sáng,công minh và không được phép để cho những định kiến thiên lệch lấn át tính khách quantrong quá trình kiểm toán
Kiểm toán viên phải có thái độ vô tư, không bị những lợi ích vật chất chi phối
Kiểm toán viên phải tự điều chỉnh cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tính bảnthân của công ty, phải kiềm chế những cá tính có thể làm hại cho uy tín nghề nghiệp
Kiểm toán viên phải có đức tính thận trọng, chu đáo trong tiến hành kiểm toán và lậpbáo cáo kiểm toán Kiểm toán viên không được đưa ra kết luận hoặc quyết định thiếu căn cứhoặc bằng chứng không rõ ràng Luôn luôn phải đánh giá các bằng chứng thu thập một cáchcẩn thận, chu đáo, kỹ lưỡng
1.2.8.2 Kiến thức, kỹ năng và kỷ luật
Kiểm toán viên nội bộ phải có kiến thức, kỹ năng và kỷ luật cần thiết để thực hiện côngviệc kiểm toán
Mỗi một kiểm toán viên nội bộ phải có kiến thức kỹ năng sau đây:
Trang 23- Sự tinh thông nghiệp vụ trong việc áp dụng các chuẩn mực, thủ tục và kỹ thuật kiểmtoán nội bộ là điều cần có để thực hiện các cuộc kiểm toán.
- Tinh thông nguyên tắc và nghiệp vụ kế toán là yêu cầu phải có đối với kiểm toán viênnội bộ làm việc có tính bao quát với sổ sách và báo cáo tài chính
- Yêu cầu có hiểu biết nguyên tắc quản lý để nhận thức và đánh giá thực chất và tầm quantrọng của những sai lệch trong thực tế kinh doanh Hiểu biết và tầm quan trọng của những sailệch trong thực tế kinh doanh Hiểu biết tức là có khả năng áp dụng kiến thức rộng vào nhữngtình huống có thể gặp, nhận thức những chỗ sai lệch quan trọng và có thể tiến hành nghiêncứu cần thiết để có được những giải pháp hợp lý
- Yêu cầu nhận thức rõ những nguyên tắc cơ bản của các vấn đề kế toán, kinh tế luật thươngmại, hệ thống thuế, tài chính, các phương pháp định lượng và hệ thống thông tin được chươngtrình hoá Sự nhận thức rõ nghĩa là có khả năng nhận thức các vấn đề hiện tại hoặc những vấn đềtiềm ẩn để quyết định sự nghiên cứu tiếp theo để thực hiện hoặc sự hỗ trợ nhận được
1.2.8.3 Quan hệ cá nhân và trao đổi ý kiến
Kiểm toán viên nội bộ phải khéo ứng xử khi tiếp xúc với các cá nhân khác và khi traođổi ý kiến có hiệu quả
Kiểm toán viên nội bộ phải nắm vững quan hệ cá nhân và duy trì mối quan hệ thoảđáng với những bộ phận được kiểm toán
Kiểm toán nội bộ phải khéo ứng xử trao đổi ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn bản để cóthể truyền đạt rõ ràng và có hiệu quả những vấn đề như: mục tiêu kiểm toán, đánh giá, kếtluận và kiến nghị
Trang 24tham gia các hội nghề nghiệp, tham gia các buổi diễn thuyết, hội thảo, các lớp học nghiệp vụ, các chương trình tự huấn luyện và tham gia các công trình nghiên cứu khoa học.
1.2.8.5 Thận trọng nghề nghiệp
Kiểm toán viên nội bộ phải rèn luyện tính thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong khithực hiện kiểm toán nội bộ
Tính thận trọng nghề nghiệp đúng mực đòi hỏi vận dụng tính cẩn trọng và kỹ năng cần
có của một kiểm toán viên độc lập có trình độ và thận trọng hợp lý trong những tình huốngnhư nhau hoặc tương tự Do đó tính thận trọng nghề nghiệp phải thích ứng với sự phức tạpcủa nhiệm vụ kiểm toán cần thực hiện Trong việc rèn luyện tính thận trọng nghề nghiệp đúngmực, kiểm toán viên nội bộ phải đề phòng khả năng xảy ra những hành động sai trái nhầm lẫn
và bỏ sót, kém hiệu suất lãng phí, và những mâu thuẫn quyền lợi Họ cũng phải đề phòngnhững điều kiện và những hoạt động mà sự bất hợp lệ có thể xảy ra Họ còn phải xác định cáctrường hợp kiểm tra không đầy đủ và kiến nghị những tiền đề thúc đẩy việc tuân theo các thủtục và những cách làm tốt đã được chấp nhận
Tính thận trọng hàm ý cả tính thận trọng hợp lý và tài năng, không phải là cái gì tuyệtđối hay là thành tích phi thường Tính thận trọng đúng mực đòi hỏi kiểm toán viên tiến hànhxem xét đối chiếu trong phạm vi hợp lý mà không đòi hỏi kiểm toán tỉ mỉ tất cả các nghiệp vụ
Vì vậy, kiểm toán viên nội bộ không thể đảm bảo tuyệt đối là không có sự bất tuân thủ và bấthợp lệ Tuy nhiên khả năng có sự bất tuân thủ hay bất hợp lệ cụ thể phải được lưu ý khi kiểmtoán viên nội bộ nhận nhiệm vụ kiểm toán nội bộ
Khi kiểm toán viên nội bộ nghi ngờ có hành động sai trái phải báo cho cấp lãnh đạohữu quan trọng tổ chức biết Khi đó, kiểm toán viên nội bộ có thể khuyến khích những điềutra nào là cần thiết trong hoàn cảnh này Sau đó, kiểm toán viên phải theo dõi thực hiện đểthấy rằng bộ phận kiểm toán nội bộ đã hoàn thành trách nhiệm
Rèn luyện tính thận trọng nghề nghiệp có nghĩa là sử dụng sự khéo ứng xử và nhậnđịnh kiểm toán hợp lý khi thực hiện kiểm toán Để đạt được như vậy, kiểm toán viên nội bộcần lưu ý:
- Mở rộng công việc kiểm toán cần thiết nhằm vào các mục tiêu kiểm toán
Trang 25- Tầm quan trọng liên quan hoặc ý nghĩa của các vấn đề mà các thủ tục kiểm toán được ápdụng.
- Tính đầy đủ và hiệu quả của kiểm soát nội bộ
- Chi phí kiểm toán so với lợi ích có thể mang lại
Thận trọng nghề nghiệp đúng mực gồm việc tiến hành đánh giá các chuẩn mực tác nghiệp
đã thiết lập và tiến hành xác định xem các chuẩn mực đó có được chấp nhận và đáp ứng không.Nếu những chuẩn mực đó còn mơ hồ, phải đưa ra sự giải thích đáng tin cậy Nếu kiểm toán nội bộphải giải thích hay lựa chọn các chuẩn mực tác nghiệp thì phải thảo luận với các bộ phận đượckiểm toán về những chuẩn mực cần thiết cho việc đánh giá các thành tích nghiệp vụ
1.2.9 Tổ chức hệ thống kiểm toán nội bộ
1.2.9.1 Nguyên tắc, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.
Bộ máy kiểm toán bao gồm con người và các phương tiện chứa đựng các yếu tố cấuthành của kiểm toán để thực hiện chức năng của kiểm toán
Tổ chức bộ máy kiểm toán chính là việc tạo ra các mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành kiểmtoán, giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm toán và chính giữa bản thân của hệ thống kiểmtoán với các yếu tố khác trong môi trường hoạt động của kiểm toán Chính từ việc tổ chức bộmáy kiểm toán mà các mối liên hệ được duy trì đảm bảo cho hệ thống thực hiện tốt chức năngxác minh và bày tỏ ý kiến
Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải đảm bảo:
- Tính khoa học: Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải phù hợp với nguyên lý chung của
lý thuyết kiểm toán Tùy theo đặc điểm tổ chức của doanh nghiệp là tổ chức theo phươngpháp chức năng hay trực tuyến tham mưu mà đưa ra mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội
bộ cho phù hợp
- Tính nghệ thuật: Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải chú ý tới nhân tố con người
- Trong sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán cần phải phân công rõ ràng chức năng và nhiệm
vụ của mỗi kiểm toán viên nhằm đạt hiệu quả và hiệu suất cao
- Phải bảo đảm đủ về số lượng nhân viên trong bộ phận kiểm toán cũng là một vấn đềquan trọng
Số lượng nhân viên kiểm toán có thể được xác định qua công thức sau:
Trang 26+ t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc các hoạt động tương ứng/năm.
+ b: Thời gian dự kiến phát sinh cho các hoạt động đào tạo, nghỉ phép, hội họp
+ k: Thời gian làm việc trung bình của một kiểm toán viên /năm
+ n: Tổng số bộ phận hoặc hoạt động cần được kiểm toán
- Điều quan trọng trong tổ chức kiểm toán nội bộ là phải xác định quy mô của doanhnghiệp: Doanh nghiệp có thực sự cần bộ máy kiểm toán nội bộ hay không, quy mô của doanhnghiệp như thế thì bộ máy kiểm toán nội bộ nên có quy mô như thế nào thì thích hợp
- Tùy theo cơ cấu của doanh nghiệp như thế nào mà tổ chức kiểm toán nội bộ cho phùhợp sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít nhất
- Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ: Tậptrung dân chủ thích ứng với từng bộ phận kiểm toán
- Hệ hống bộ máy kiểm toán nội bộ bao gồm các mối liên hệ trong và ngoài khác nhau vàphải phù hợp với nguyên lý chung của lý thuyết tổ chức và quy luật biện chứng về mối liên hệ
Để tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ thì cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phải xác định kiểu mô hình tổ chức phù hợp với đặc điểm, cơ cấu tổ chức của doanhnghiệp
- Xác định kiểu liên hệ trong từng mô hình
- Xây dựng mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành nên hệ thống kiểm toán nội bộvới kiểm toán viên
Đó là những nguyên tắc và nhiệm vụ cần phải tuân thủ khi tiến hành tổ chức bộ máykiểm toán nội bộ
1.2.9.2 Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ
Trang 27Bộ máy kiểm toán nội bộ là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do đơn vị tự lập
ra theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nền nếp, kỷ cương quản lý
Để tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ, trong bộ máy lãnh đạo cao nhất củađơn vị phải cử ra những người phụ trách công việc này ở các nước có nền kinh tế phát triển,thường ở các Bộ, ngành có Uỷ ban kiểm toán nội bộ Uỷ ban kiểm toán nội bộ được lập trongcác Bộ, ngành thường do các quan chức cấp cao phụ trách còn trong các doanh nghiệp do cácthành viên Hội đồng quản trị trực tiếp lãnh đạo Theo yêu cầu đó, thông thường một Uỷ bankiểm toán được lập ra do một tập thể thường bao gồm ba thành viên Hội đồng quản trị phụtrách Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng quản trị có thể quyết định thuê các chuyên giakiểm toán tham gia hoặc tư vấn cho Uỷ ban
Uỷ ban kiểm toán nội bộ vừa có trách nhiệm xây dựng và tổ chức hoạt động cho bộmáy kiểm toán nội bộ (nội kiểm), vừa có trách nhiệm tạo lập mối quan hệ với chủ thể kiểmtoán bên ngoài (ngoại kiểm) Trong trường hợp không có Hội đồng quản trị, chủ đầu tư hoặcngười được uỷ quyền sẽ chỉ đạo công tác kiểm toán Tất nhiên, Uỷ ban kiểm toán hoặc ngườiphụ trách chỉ có chức năng tổ chức, chỉ đạo thực hiện công việc kiểm toán Người thực hiệnkiểm toán nội bộ là những kiểm toán viên khônng chuyên nghiệp trong đơn vị hoặc chuyêngia (giám định viên kế toán) từ bên ngoài Từ đó, có thể có hai loại hình tổ chức kiểm toán nội
bộ cơ bản là Hội đồng nội kiểm (hay bộ phận kiểm toán nội bộ) và Hội đồng các Giám địnhviên kế toán (hoặc Giám sát viên Nhà nước)
Hội đồng nội kiểm hay bộ phận kiểm toán nội bộ là mô hình phổ biến đặc biệt ở các
nước Bắc Mỹ Thành viên của bộ phận này là các kiểm toán viên nội bộ Số lượng và cơ cấucác thành viên tuỳ thuộc vào quy mô của đơn vị, vào nhiệm vụ kiểm toán nội bộ cụ thể trongtừng thời kỳ Hội đồng có nhiệm vụ thực hiện tất cả các công việc do Uỷ ban kiểm toán giaocho kể cả việc xây dựng hoặc hoàn thiện quy chế kiểm toán nội bộ (nếu có), tổ chức thực hiệnđều đặn và có hiệu lực quy chế đã ban hành và cả công việc đột xuất khác
Mô hình này có nhiều ưu điểm và rất thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn,Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để phát huy tính ưu việt này là chất lượng của đội ngũ kiểmtoán viên
Trang 28Hội đồng giám định viên kế toán (hoặc Giám sát viên Nhà nước) là mô hình ứng dụng phổ biến ở các xí nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Trong trường
hợp này, người thực hiện công việc kiểm toán có thể là kiểm toán viên chuyên nghiệp (hànhnghề) thậm chí ở một số nước Tây Âu, kiểm toán viên Nhà nước trong các xí nghiệp công vàdoanh nghiệp Nhà nước được biên chế trong bộ máy kiểm toán Nhà nước
Mô hình này rất phù hợp với các xí nghiệp công, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ khôngcần thiết biên chế kiểm toán viên nội bộ Nó cũng thích hợp với các tổ chức kinh tế Nhà nước dotính độc lập của kiểm toán viên bên ngoài trong kiểm toán nội bộ doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệuquả cho công việc của kiểm toán Nhà nước va phát huy được thế mạnh nghề nghiệp của cácchuyên gia giỏi bên ngoài Tuy nhiên, trong trường hợp này chi phí kiểm toán thường cao do phảithuê nhân viên và do đòi hỏi số lượng nhân viên phải lớn Mặt khác, do công việc kiểm toán nội
bộ cũng do một số ít chuyên gia giỏi đảm nhiệm do vậy việc đảm bảo được tính khách quan, trungthực trong quá trình kiểm toán cũng là một vấn đề đặt ra Để giải quyết vấn đề này thì cần sử dụngthêm các biện pháp bổ sung như tăng cường kiểm tra chéo, định kỳ thay đổi nơi làm việc của cáckiểm toán viên, tăng cường trách nhiệm của kiểm toán viên bên ngoài
Thực tế tại một số nơi cho thấy bộ máy kiểm toán nội bộ được thiết lập tại các cơ quan
và tổ chức kinh tế Nhà nước có thể là chân rết của các cơ quan hữu quan Trong những trườnghợp này bộ phận kiểm toán nội bộ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan Tổng kiểm soát, kiểmtoán Nhà nước, Bộ Tài chính Kiểm toán viên nội bộ được Kiểm toán Nhà nước đào tạo, bổnhiệm, quản lý và chỉ đạo hoạt động Việc xây dựng mô hình như vậy có những ưu điểm là:
- Thống nhất quản lý Nhà nước đối với hoạt động kiểm toán nội bộ trong các cơ quan và
tổ chức kinh tế Nhà nước
- Tiêu chuẩn hoá được đội ngũ kiểm toán viên
- Công tác kiểm toán nội bộ sẽ được hướng dẫn và chỉ đạo thống nhất
- Kiểm toán nội bộ sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho cơ quan kiểm toán Nhà nướctrong việc thực hiện hoạt động kiểm tra, kiểm soát khi bộ máy kiểm toán Nhà nước mới hìnhthành với số lượng kiểm toán viên còn ít ỏi so với nhu cầu thực tế
Từ những vai trò của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp thì việc tổ chức kiểm toán nội
bộ trong doanh nghiệp là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên,
Trang 29tùy theo quy mô của doanh nghiệp mà tổ chức bộ máy kiểm toán cho phù hợp Bộ phận kiểm
toán nội bộ trong các doanh nghiệp nên được tổ chức như thế nào? Về vấn đề này, có 2 loại quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: Bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT mà trực tiếp là chịu sự chỉ đạo của Ban kiểm soát Có như vậy bộ phận kiểm toán nội bộ mới phát huy được
tính độc lập, kết quả kiểm toán nội bộ mới có tính khách quan, khắc phục tình trạng " vừa đá bóng vừa thổi còi".
Mô hình 1: Mô hình bộ máy KTNB theo quan điểm này như sau
Hội đồng
Ban kiểm
Bộ phận
Mô hình trên được coi là mô hình lý tưởng, nó bảo đảm điều kiện về tính độc lập của
kiểm toán nội bộ nhưng không có tính thực tế Đó là vì Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
không trực tiếp điều hành và quản lý doanh nghiệp,
nhà nước hiện nay còn nhiều thành viên kiêm chức nên không đảm bảo được tính độc lập đặt ra
Quan điểm thứ hai: Bộ phận KTNB nên đặt trực thuộc (Tổng) Giám đốc của doanhnghiệp
Quan điểm này dựa trên cơ sở kiểm toán nội bộ là một bộ phận quan trọng của doanhnghiệp, đặt tại doanh nghiệp, tiếp cận thường xuyên, liên tục với mọi hoạt động của doanhnghiệp, đánh giá kệ thống kiểm soát nội bộ và phát hiện kịp thời những sai sót, sơ hở, nhữngđiểm yếu để báo cáo kịp thời cho lãnh đạo để có các kiện pháp khắc phục, hoàn thiện Để đạt
Trang 30được mục tiêu, vai trò của kiểm toán nội bộ cần phải đặt kiểm toán nội bộ trực thuộc cấp lãnh
đạo cao nhất điều hành hoạt động của doanh nghiệp
Mô hình 2: ktnb trực thuộc (Tổng) giám đốc của dn
Hội đồng
Quản trị
Tổng Giámđốc
Cán bộ quản
lý cấp trung
Cán bộ quản
lý cấp DN
Cách tổ chức theo mô hình này phù hợp với điều kiện thực tiễn của các doanh nghiệp
Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên để kiểm toán nội bộ thực sự có hiệu quả thì
người đứng đầu bộ phận kiểm toán nội bộ phải được quyền tự do báo cáo kết quả kiểm toán
với Ban kiểm soát của Hội đồng quản trị (nếu doanh nghiệp có Hội đồng quản trị)
Như vậy, qua việc phân tích những chức năng, đặc điểm của kiểm toán nội bộ thì việc
hình thành kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường
phát triển đa chiều, cạnh tranh gay gắt là một điều cần thiết để nâng cao tính hoạt động có
hiệu quả của các doanh nghiệp, chỉ ra các vấn đề, các hướng để hoàn thiện hệ thống chính
sách, hệ thống kế toán trong doanh nghiệp, đồng thời tùy theo mỗi nhu cầu tự thân, mỗi điều
kiện hoàn cảnh của các doanh nghiệp mà có cơ cấu tổ chức kiểm toán nội bộ cho phù hợp,
đảm bảo tính hiệu quả của bộ phận này trong quá trình kiểm toán và kiến nghị chiến lược cho
các nhà quản trị trong quá trình lãnh đạo doanh nghiệp ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Trang 31ở Việt Nam hiện nay, vấn đề kiểm toán nội bộ còn mới mẻ nên cần quan tâm trước hếtđến việc xây dựng đội ngũ kiểm toán viên nội bộ, đặc biệt trong quá trình cải tiến quản lý Nhànước và Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Ngay ở các đơn vị quốc doanh cũng phải táchbiệt chức năng kiểm toán ra khỏi chức năng tổ chức kế toán, tài chính của kế toán trưởng.
1.2.9.3 Tuyển chọn, huấn luyện và phát triển đội ngũ kiểm toán viên nội bộ.
Công việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ - thường lànhững người làm nghề kiểm toán không chuyên nghiệp, họ có thể là những kế toán viên giỏi,những nhà quản lý có kinh nghiệm, những kỹ thuật viên có hiểu biết về những lĩnh vực có liênquan đến kiểm toán đặc biệt là các loại hình công nghệ, các quy trình kỹ thuật, các định mức Các kiểm toán viên nói chung, kiểm toán viên nội bộ nói riêng luôn phải tuân thủ những chuẩnmực đạo đức nghề nghiệp khắt khe Chính vì vậy, những kiểm toán viên là những người có trình
độ được tuyển chọn, sàng lọc, huấn luyện và thường xuyên được bồi dưỡng phát triển đáp ứngđược các yêu cầu nghề nghiệp Đội ngũ kiểm toán viên là linh hồn để vận hành hệ thống kiểmtoán nội bộ trong doanh nghiệp, chính vì thế mà đối với vấn đề này trong tổ chức kiểm toán nội
bộ có một ý nghĩa hết sức quan trọng Bàn về kiểm toán viên nội bộ ta đề cập đến khía cạnh sau:
Tuyển chọn nhân viên:
Đây là công việc quan trọng trong giai đoạn tổ chức hoạt động hệ thống kiểm toán nội bộ và
có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hoạt động sau này Nhân viên kiểm toán nội bộ có thểđược tuyển từ bên ngoài hay từ bên trong đơn vị
Bên trong đơn vị: Nhân viên trong đơn vị được coi là quen thuộc với các nghiệp vụ và trình
tự hoạt động của tổ chức và có thể được tuyển vào phòng kiểm toán nội bộ theo một trong các
cách sau:
- Đề bạt kiểm toán viên nội bộ: Phương pháp này được thực hiện nếu tiến hành đào tạo các
nhân viên trong biên chế qua các chương trình huấn luyện và phát triển tích cực và có hiệu quả
- Thuyên chuyển nhân viên có kinh nghiệm từ các phòng (ban) khác: Phương pháp tuyển
dụng này được sử dụng tương đối rộng rãi mà trong đó tư cách, trình độ thành thạo nghiệp vụ
và những khả năng đặc biệt khác được xem là các chỉ tiêu để lựa chọn
- Sử dụng những người đang được huấn luyện quản lý: Trong một số tổ chức có những
thành viên đã có trình độ trung cấp hoặc đại học và đang được đào tạo trong một chương trình
Trang 32huấn luyện quản lý Theo chương trình này họ có cơ hội luân phiên qua nhiều phòng, bankhác nhau trước khi được giao nhiệm vụ thường xuyên Những nhân viên này là một nguồnnhân lực có giá trị cho phòng kiểm toán nội bộ sau khi được bồi dưỡng thêm và tập dượt vềcác thể thức phân tích và đánh giá các công việc kiểm soát.
Tuyển dụng bên ngoài: Được tiến hành từ các nguồn khác nhau.
- Kiểm toán viên độc lập: Theo lịch sử của kiểm toán nội bộ, các kiểm toán viên độc lập
(kiểm toán viên công chứng CPA) luôn là nguồn dồi dào cho việc tuyển chọn Kinh nghiệmcủa họ về thực hiện các trình tự kiểm toán và thu thập bằng chứng theo các chuẩn mực nghềnghiệp là một tài sản hữu dụng cho công việc kiểm toán
- Các trường đại học và trung học: Việc sử dụng những người mới tốt nghiệp ở các tổ
chức giáo dục tuỳ thuộc một phần vào các chương trình huấn luyện bổ sung theo nhữnghướng cụ thể Những sinh viên xuất sắc có nhiều tiềm năng được tuyển chọn cho phòng kiểmtoán nội bộ là một điều rất là cần thiết và quan trọng cho đội ngũ nhân viên kiểm toán viên nội
bộ của doanh nghiệp
- Người không phải kiểm toán viên: Phạm vi rộng hơn của các hoạt động kiểm toán nội
bộ đã tăng nhiều nhu cầu về những người có chuyên môn khác kiểm toán Những người có
trong mình sự kết hợp giữa giáo dục và kinh nghiệm thực tiễn rất cần cho kiểm toán nội bộtrong các lĩnh vực nghiệp vụ như: nghiệp vụ máy tính, sản xuất kinh doanh, xây dựng, kiểmtra chất lượng, pháp lý Những bổ sung đó có thể tăng cường năng lực của nhóm kiểm toánnội bộ và giúp họ mở rộng phạm vi hoạt động của mình
Nhân lực tuyển chọn cho phòng kiểm toán nội bộ từ tất cả các nguồn trên cũng cần có những yếu tố cá nhân phù hợp với các chức danh của phòng kiểm toán nội bộ theo những định hướng tuyển dụng cụ thể.
Huấn luyện và phát triển.
Hoạt động huấn luyện của phòng kiểm toán nội bộ dựa theo chuyên môn của nhân viênđược tuyển chọn Những hoạt động này thường là phương tiện lấp đi cái hố ngăn cách giữa kiếnthức hiện tại và kiến thức cần thiết của nhân viên kiểm toán nội bộ Một hệ thống kiểm toán nội
bộ chỉ thực sự hiệu quả khi có một đội ngũ nhân viên có đủ trình độ năng lực và đạo đức nghềnghiệp đúng mức Theo thời gian, năng lực, chuyên môn của kiểm toán viên nội bộ phải được
Trang 33thường xuyên cập nhật những kiến thức mới và nâng cao khả năng làm việc của mình trongmôi trường mới, chính vì thế phải thường xuyên huấn luyện, đào tạo trình độ cho kiểm toánviên nội bộ cho phù hợp với điều kiện làm việc hiện tại.
Chương trình huấn luyện cần linh hoạt và đáp ứng được những điều kiện thay đổi Tuynhiên điều cốt lõi là việc huấn luyện trong công việc và ngoài công việc phải luôn cập nhật đểđáp ứng yêu cầu hiện tại và mong muốn của nhân viên
Các mục tiêu huấn luyện cá biệt: Được tiến hành cho các nhu cầu phát triển cá nhân (phát
hiện qua những lần đánh giá) đối với các kiểm toán viên nội bộ Việc huấn luyện tập trung vàocác chủ đề cá biệt để nâng cao trình độ và đề bạt lên các chức danh cao hơn trong bộ phận kiểmtoán nội bộ như: giám sát viên kiểm toán, người quản lý hoặc người kiểm toán trưởng
Huấn luyện trên công việc: Cùng với nhu cầu giáo dục mở rộng và các lớp huấn luyện
về thực tiễn kiểm toán nội bộ hiện đại, huấn luyện trên công việc vẫn có ý nghĩa riêng biệt.
Mặc dầu các lớp học cố gắng làm như thực tế nhưng không thể thay thế những kinh nghiệmhàng ngày Chính trên công việc, kiểm toán viên mới có cơ hội giải quyết các vấn đề dưới sựthúc bách của thời gian, thực tế với cơ chế hoạt động và làm việc với nhà quản lý và các bộphận thực sự của một tổ chức
Lập kế hoạch, giao nhiệm vụ phát triển: Với loại hình đào tạo này, những nhiệm vụ
được giao không theo từng mảng riêng lẻ mà theo một kế hoạch dẫn tới sự phát triển khôngngừng của kiểm toán viên cũng như việc hoàn thành đúng tiến độ các cuộc kiểm toán
Đa dạng hoá nhiệm vụ kiểm toán: Thông qua tính đa dạng của các nhiệm vụ kiểm toán
được giao, thành viên trong biên chế sẽ quen thuộc những vấn đề khác nhau trong mọi hoạtđộng của tổ chức Để phát triển một người trong biên chế thành người có chức danh cao hơnhoặc thành nhà quản lý kiểm toán, việc huấn luyện phải đa dạng theo năng lực xử lý nhữngvấn đề ngày càng phức tạp
Giám sát và chỉ thị công việc: Trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát việc
thực hiện các nhiệm vụ kiểm toán, giám sát viên luôn nhớ rằng mình chịu trách nhiệm vềhuấn luyện ở địa bàn của mình Việc huấn luyện này có thể có nhiều hình thức như dạy kiếnthức, thuyết minh, bình phẩm hay chỉ bảo
Trang 34Khuyên bảo: Tầm quan trọng của việc khuyên bảo phải được nhấn mạnh như một
phương sách nhằm nâng cao và củng cố quá trình học tập trong việc huấn luyện trên côngviệc Một chương trình khuyên bảo có hiệu lực giúp vạch ra những yếu kém của một cá nhân
và gợi ý những cách làm để sửa chữa Qua việc sử dụng nghệ thuật khuyên bảo có hiệu quả,người nhân viên nhờ đó mà được thúc đẩy hăng hái học tập và có khả năng tiến bộ
Việc uỷ thác trách nhiệm: Chính nhờ đảm nhiệm thêm trách nhiệm mà kiểm toán viên
chóng tiến bộ hơn Các giám sát viên phải nắm được những chỗ mạnh, những điểm yếu củacác nhân viên và luôn cố gắng giao việc khó hơn cho họ Đến lượt mình, kiểm toán viên cần
uỷ nhiệm công việc cho người thuộc quyền (trợ lý kiểm toán viên) để họ phát triển khả năngcủa mình
Định kỳ đánh giá thành tích: Định kỳ đánh giá để thông tin cho các cấp quản lý về năng lực của các nhân viên và công việc mà họ hoàn thành Những việc đánh giá như vậy là
tài liệu quan trọng có liên quan đến việc nghiên cứu đề bạt, đãi ngộ, thuyên chuyển hay thôiviệc Đó cũng là công cụ có ích trong việc huấn luyện nhân viên thông qua: Xác định điểmmạnh, điểm yếu và nhu cầu huấn luyện cơ bản; dự định các phương pháp cải tiến công việccho nhân viên; giúp đỡ, khuyên bảo nhân viên có khả năng đáp ứng các chuẩn mực thành tích;tránh việc hình thành một số hạn chế có thể phát sinh ở một vài kiểm toán viên nội bộ do côngviệc lặp đi lặp lại trong một địa bàn làm giảm khả năng sáng tạo và phát triển cá nhân hoặcviệc gắn bó hơn với các nhân viên ở các bộ phận khác hay với người có quyền hành có thể xóimòn tính độc lập và tính khách quan của kiểm toán viên nào đó cá biệt
1.2.9.4 Quy trình của một cuộc kiểm toán nội bộ.
Sau khi bộ phận kiểm toán nội bộ đã được thiết lập và có đầy đủ các nhân tố để vậnhành hệ thống thì việc tổ chức thực hiện kiểm toán nội bộ là mục đích kế tiếp và cũng là mụcđích chính của việc tổ chức hệ thống kiểm toán nội bộ Sau khi xác định những yêu cầu củaBan Giám đốc về kiểm toán nội bộ, bộ phận kiểm toán sẽ xác định khối lượng công việc cầnthực hiện để tiến hành cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán
Trang 35Quy trình kiểm toán là một hệ thống phương pháp rõ ràng của quá trình tổ chức mộtcuộc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên tập hợp đủ chứng cứ cần thiết để hoàn thànhmục tiêu kiểm toán đã đề (hay khối lượng công việc cần thực hiện và mục đích công việc).
Quy trình của một cuộc kiểm toán bao gồm 4 bước sau:
- Lập kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán
- Tiến hành kiểm toán
- Lập các báo cáo kiểm toán và đưa ra các kiến nghị
- Các công việc sau kiểm toán (theo dõi việc thực hiện kiến nghị )
Lập kế hoạch làm việc và thiết kế chương trình kiểm toán:
Kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việc kiểm toán tiếnhành có hiệu quả, đúng thời hạn Kế hoạch kiểm toán thích hợp sẽ giúp cho kiểm toán viênxác định được các vấn đề trọng tâm cần tập trung, chú ý để tránh sai sót và công việc đượcgiải quyết nhanh chóng; đồng thời tạo điều kiện tổ chức và phối hợp công việc giữa các thànhviên tham gia kiểm toán cũng như sử dụng hiệu quả các kinh nghiệm của các chuyên gia
Một kế hoạch làm việc là một kế hoạch hành động xác định phạm vi tổng thể và mức
độ bao trùm của hoạt động kiểm toán nội bộ Khi thiết lập kế hoạch làm việc cần xem xét cácyếu tố:
Các mục đích cần đạt được của cuộc kiểm
toán Phạm vi hoạt động của công việc kiểm
toán Yêu cầu về nhân lực kiểm toán viên
Chương trình làm việc (thời gian - tiến độ)
Sau khi thiết lập kế hoạch làm việc, người phụ trách kiểm toán nội bộ xây dựng chomỗi hoạt động một chương trình kiểm toán thích hợp Trong mỗi chương trình kiểm toán chứađựng các mục tiêu, các nội dung và các thủ tục cần thiết để đạt được các mục tiêu và mỗi mụctiêu thì có thể liên quan đến một số thủ tục Người ta xây dựng chương trình kiểm toán qua 2bước: Nghiên cứu và xây dựng các thủ tục kiểm toán
Nghiên cứu: Là khái quát các trách nhiệm, chức năng và các hình thức kiểm tra tronglĩnh vực được kiểm toán
Trang 36Xây dựng các thủ tục kiểm toán: Đây là bước cơ bản và là nhiệm vụ không dễ dàngtrong việc lập một chương trình kiểm toán Nó đòi hỏi những kiến thức duy lý và những kỹnăng cơ bản về kế toán và kiểm toán Trên cơ sở các mục tiêu đã đề ra, căn cứ vào tình hìnhthực tế, kiểm toán viên nội bộ xây dựng các thủ tục là hệ thống các phương pháp, điều kiệncần thực hiện để đạt được mục tiêu đã đề ra và hoàn thành cuộc kiểm toán Thông thường,trong một cuộc kiểm toán, các thủ tục được xây dựng thường bao gồm hai vấn đề là xây dựngcác trắc nghiệm kiểm toán và xây dựng các thủ tục phân tích.
Thực hiện kiểm toán:
Thực hiện kiểm toán là giai đoạn thứ hai của quá trình kiểm toán Trong giai đoạn này,các kiểm toán viên áp dụng các phương pháp kiểm toán để thu thập, đánh giá các bằng chứngkiểm toán
Theo kế hoạch và chương trình kiểm toán vạch ra, giai đoạn này gồm các công việc sau: Khảo sát kiểm soát và khảo sát nghiệp vụ
Kiểm tra chi tiết số dư
Khảo sát kiểm soát và khảo sát nghiệp
vụ Mục đích của công việc này là để:
Thu thập bằng chứng chứng minh cho các chế độ và thể thức đặc thù có góp phần vào đánh giá mức rủi ro kiểm soát của kiểm toán viên (khảo sát kiểm soát)
Thu thập bằng chứng, chứng minh cho tính chính xác của các nghiệp vụ (khảo sát nghiệp vụ số dư)
Ví dụ: Bảng tổng hợp các nghiệp vụ chi tiền mặt
Mục tiêu kiểm soát
Các khoản chi tiền
Trang 37mặt ghi sổ là của
hàng hóa và dịch
vụ thực tế nhận
được
Có nghiệp vụ phải tiến hành đồng thời cả hai loại khảo sát trên
Nếu quá trình kiểm soát không được xem là có hiệu lực thì lập tức được triển khai khảosát chính thức (phương pháp kiểm toán cơ bản)
Kết quả của khảo sát nghiệp vụ là yếu tố quyết định chủ yếu phạm vi của cuộc kiểm trachi tiết số dư
Kiểm tra chi tiết số dư:
Mục đích của kiểm tra chi tiết số dư là để thu thêm bằng chứng cần thiết để xác định xemcác số dư cuối kỳ và các ghi chú trên báo cáo tài chính có được nêu trung thực hay không?
ở giai đoạn công việc này thường áp dụng phương pháp: Phân tích và khảo sát chi tiết
số dư Ví dụ: Xác nhận các khoản nợ về khoản phải thu, phải trả, ý kiến xác nhận số dư các
Trang 38Giấy tờ làm việc phải thể hiện các nội dung sau:
- Mục đích kiểm toán
- Phương pháp kiểm toán
- Kết quả kiểm toán
- Kết luận
Sau khi đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán có đủ cơ sở đưa ra ý kiến nhận xét vềbáo cáo tài chính, các hoạt động, tính tuân thủ của đơn vị (bộ phận) được kiểm toán thì giaiđoạn thực hiện kiểm toán kết thúc Bằng chứng kiểm toán được lưu trong hồ sơ tài liệu kiểmtoán của đối tượng được kiểm toán (hồ sơ tài liệu năm)
Đối với các loại hình kiểm toán khác như: kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động
thì công việc thực hiện kiểm toán có khác so với kiểm toán tài chính ở hai loại hình kiểm toánnày mục tiêu chủ yếu là đánh giá tính hiệu năng và hiệu quả, do đó công việc kiểm toán lại tậptrung vào việc khảo sát nghiệp vụ và thực hiện các trắc nghiệm độ vững chãi và trắc nghiệmcông việc, các thử nghiệm kiểm soát chứ không tập trung ở việc thực hiện các thủ tục kiểm trachi tiết số dư, đồng thời phạm vi kiểm toán thực hiện có thể rộng hơn so với kiểm toán tàichính Như vậy, tùy theo mỗi loại hình kiểm toán thực hiện mà cuộc kiểm toán có những mụctiêu và công việc thực hiện khác nhau
Lập báo cáo kiểm toán và đưa ra các kiến nghị:
Báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của một cuộc kiểm toán, thể hiện ý kiếnnhận xét của kiểm toán viên về các nội dung kiểm toán; là một thông điệp của các kiểm toánviên nội bộ gửi tới Ban giám đốc hoặc những quan chức cấp trên Do đó, việc lập báo cáo làmột trong những mối quan tâm hàng đầu của các kiểm toán viên nội bộ ở tất cả các cấp, đặcbiệt là người phụ trách bộ phận kiểm toán nội bộ - người chịu trách nhiệm sau cùng về hiệuquả của toàn bộ chương trình kiểm toán nội bộ
Các báo cáo được lập sau khi hoàn thành một nhiệm vụ kiểm toán Nó có thể dưới dạng nói miệnghay dưới dạng văn bản như báo cáo tạm thời, báo cáo kiểu bảng câu hỏi, báo cáo viết hợp thức,báo cáo viết tóm tắt, phụ thuộc vào nội dung của thông tin báo cáo và yêu cầu của người nhận báocáo Trong các báo cáo trên thường chứa đựng các khoản tìm ra trong quá trình kiểm
Trang 39toán như các yếu điểm, những hoạt động không hiệu quả, những sai phạm và đưa ra nhữngkiến nghị tương ứng để khắc phục.
Do được sử dụng trong phạm vi đơn vị nên báo cáo kiểm toán nội bộ không được
chuẩn hóa như báo cáo kiểm toán bảng khai tài chính của các kiểm toán viên độc lập Tuy nhiên, một bản báo cáo kiểm toán nội bộ thường bao gồm các phần chủ yếu sau;
- Tiêu đề;
- Địa chỉ gửi báo cáo;
- Xác định đối tượng kiểm toán;
- Xác định nội dung công việc kiểm toán;
- ý kiến nhận xét và kiến nghị của kiểm toán viên;
- Ký tên;
- Ngày ký báo cáo;
Tiêu đề: Thường ghi theo nội dung kiểm toán
Ví dụ: Báo cáo kiểm toán hoạt động, hoặc báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính, hoặc báo cáo kiểm toán tuân thủ (đối với hoạt động kiểm toán nội bộ).
Địa chỉ gửi báo cáo: Nêu rõ đối tượng nhận báo cáo là ai? (Giám đốc, Tổng giám đốc
doanh nghiệp, hoặc đối tượng khác trong doanh nghiệp nếu có)
Xác định đối tượng được kiểm toán: Ghi theo đúng tên trong kế hoạch đã duyệt (Ví dụ: Đơn vị số 1 - Phòng Marketing).
Xác định nội dung kiểm toán: Kiểm toán về nội dung gì?
Trong phần này cần nêu rõ các quy định về chế độ kiểm toán mà kiểm toán viên tuântheo, ghi rõ chế độ làm căn cứ để tiến hành đánh giá, đối chiếu trong quá trình kiểm toán,
ý kiến nhận xét và các kiến nghị: Có 4 loại ý kiến:
- ý kiến chấp nhận toàn phần (Đồng ý)
- ý kiến chấp nhận từng phần
- ý kiến trái ngược (Phản đối)
- ý kiến từ chối đưa ra ý kiến
Tùy theo các kết quả của kiểm toán để kiểm toán viên đưa ra một trong bốn loại ý kiếntrên
Trang 40Kiến nghị: Đây là nội dung quan trọng nhất của báo cáo kiểm toán nội bộ, nó giúp cho
Giám đốc có cơ sở ra quyết định đúng đắn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp
Ký tên: Trưởng kiểm toán và kiểm toán viên chịu trách nhiệm chính cùng ký sau khi lập xong báo cáo.
Ngày, tháng lập báo cáo: Sau khi hoàn tất công việc kiểm toán, báo cáo được lập xong, kiểm toán viên ghi rõ ngày, tháng, năm lập báo cáo kiểm toán.
Tóm lại trách nhiệm lập báo cáo kiểm toán thuộc về trưởng nhóm kiểm toán
Thời hạn lập: Kết thúc kiểm toán sau khi đã trao đổi các ý kiến thống nhất trong tổ kiểm toán, trao đổi và nhận được các ý kiến khẳng định lại của lãnh đạo các bộ phận (đơn vị)
được kiểm toán
Các công việc sau kiểm toán.
Bổn phận của các kiểm toán viên nội bộ chưa kết thúc bằng việc đệ trình báo cáo kiểmtoán Các công việc tiếp theo của họ có thể là kiểm tra xu hướng các kết quả và kiến nghị đưa
ra trong báo cáo kiểm toán tại một thời điểm muộn hơn Do kiểm toán viên nội bộ không cóquyền trực tiếp đưa ra các kiến nghị vào thực hiện nên việc này phụ thuộc vào các nhân viênchức năng hay Ban Giám đốc có ra các quyết định quản lý phù hợp hay không Các công việctiếp theo liên quan đến kiểm tra lại (còn gọi là phúc tra - phúc kiểm) có thể là bổn phận củakiểm toán viên hay Ban giám đốc hoặc cùng chia sẻ trách nhiệm
Nhìn nhận chung ta thấy hoạt động kiểm toán nội bộ đã đạt đến trình độ chuyên môn nhà nghề và cung cấp những dịch vụ không thể thiếu cho các tổ chức Nó đã tạo cho mình một chỗ một chỗ đứng vững chắc không chỉ trong các lĩnh vực kinh doanh và các ngành sản xuất mà còn
ở trong các cơ quan Chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận Sự phát triển của kiểm toán viên nội
bộ không chỉ theo chiều rộng trong xã hội mà theo cả chiều sâu tại các cơ quan, đơn vị Thật vậy, trong từng đơn vị cụ thể, kiểm toán nội bộ phát triển mạnh với xu hướng bao trùm lên toàn bộ các nghiệp vụ và các lĩnh vực hoạt động riêng lẻ Sự phát triển không ngừng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nói lên rằng cơ hội phát triển trong lĩnh vực này ngày càng mở rộng hơn theo thời gian Hàng năm Viện các kiểm toán viên nội bộ và các phân viện nằm rải rác tại các châu lục tổ chức thi và cấp chứng chỉ cho các kiểm toán viên nội bộ Khác với các kiểm toán