1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học

109 616 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi cùng với phương pháp dạy học Địa lí, có nhiều tác giả đã đề cập đến cách sử dụng TBDH địa lí như: Lâm Quang Dốc 1996, Sử dụng bản đồ, NXB Giáo dục; Nguyễn Trọng Phúc 1997, Phương pháp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

MÙI THỊ CÚC

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ

DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

MÙI THỊ CÚC

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ

DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên - Xã hội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Lê Văn Đăng

SƠN LA, NĂM 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn

thầy giáo Ths Lê Văn Đăng - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp

đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy (cô) giáo trong Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa Tiểu học – Mầm non, thư viện Trường Đại học Tây Bắc Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Gia Phù trong suốt quá trình em quan sát, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các sinh viên lớp K53 - Đại học Giáo dục Tiểu học B đã tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Khóa luận của em còn rất nhiều thiếu sót, hạn chế, em kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thầy, cô và các bạn để khóa luận của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn la, tháng 05 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Mùi Thị Cúc

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

5 Giả thiết khoa học 6

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

7 Phạm vi nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 6

9 Đóng góp của khóa luận 7

10 Cấu trúc khóa luận 7

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC 8 1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Thiết bị dạy học 8

1.1.2 Một số đặc điểm về quá trình nhận thức của học sinh tiểu học giai đoạn lớp 4, lớp 5 18

1.1.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng các thiết bị dạy học Địa lí 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Mục tiêu của phân môn địa lí 21

1.2.2 Những nội dung chính của môn Địa lí lớp 4, lớp 5 21

1.2.3 Cấu trúc sách giáo khoa 23

1.2.4 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học phân môn Địa lí ở nhà trường tiểu học 24

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC 31

Trang 6

2.1 Nguyên tắc sử dụng thiết bị dạy học 31

2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học 32

2.2.1 Sử dụng bản đồ địa lí 32

2.2.2 Sử dụng tranh ảnh có nội dụng địa lí 43

2.2.3 Sử dụng quả địa cầu 47

2.2.4 Sử dụng bảng số liệu 50

2.2.5 Sử dụng biểu đồ 53

2.2.6 Sử dụng thiết bị dạy học hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin 56

2.3 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học 64

2.3.1 Tìm hiểu nội dung bài dạy 64

2.3.2 Soạn bài với các thiết bị dạy học 64

2.3.3 Sử dụng thiết bị dạy học trên lớp 65

Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích thực nghiệm 67

3.2 Tổ chức quá trình thực nghiệm 67

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 67

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 67

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 68

3.2.4 Phương pháp thực nghiệm 68

3.2.5 Quy trình thực nghiệm 68

3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 69

3.3.1 Đánh giá kết quả thực nghiệm (Bài 1: Dải đồng bằng duyên hải miền Trung) 69 3.3.2 Kết quả thực nghiệm (Bài 2: Châu Á) 69

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Kiến nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại hội nhập và phát triển hiện nay, nền kinh tế nước ta đã

chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Công cuộc đổi mới này đã đề ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục Nghị quyết

trung ương lần thứ IV về “tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo”[15] đã chỉ rõ

phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, PP giáo dục và đào tạo

Mục tiêu cơ bản của đổi mới giáo dục nước ta là phát triển tối đa năng lực của người học trên cơ sở khơi dậy, rèn luyện và bồi dưỡng khả năng suy nghĩ, tìm tòi, khả năng làm việc một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong hoạt động học tập ở nhà trường Để thực hiện mục tiêu nói trên trong dạy học, nhà trường cần phát huy tốt khả năng sở trường của người học, khắc phục hạn chế, xây dựng niềm tin trong hoạt động học tập của người HS Trong đó, nội dung và PP học tập là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả

thực hiện mục tiêu trên Chính vì vậy, Luật Giáo Dục (1998) chỉ rõ: “nhà

trường cần phải đào tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thiết thực góp phần xây dựng đất nước”[13]

Để đạt được điều đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường HS phải luyện khả năng suy nghĩ, hoạt động một cách tự chủ, năng động và sáng tạo Giáo viên cần từng bước áp dụng phương tiện dạy học tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học và tự nghiên cứu cho HS để HS biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế

Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí cũng như đối tượng của môn địa lí là sự vật hiện tượng địa lí trên trái đất Do đó, học địa lí HS sẽ gặp nhiều hiện tượng không phải lúc nào cũng xảy ra trước mắt, mà nhiều khi phải quan sát chúng trên mô hình, tranh ảnh, bản đồ… Vì vậy, TBDH có vai trò quan trọng đối với việc giảng dạy và học tập địa lí Với việc dạy và học phân môn địa lí ở tiểu học, TBDH lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng bởi biểu tượng, khái niệm địa lí hầu hết là những khái niệm biểu tượng trừu tượng và khó hiểu Đối với HS

Trang 8

tiểu học, lứa tuổi tư duy trừu tượng chưa phát triển mà còn thiên về tư duy cụ thể, HS chỉ có thể nhận biết biểu tượng, nắm bắt khái niệm địa lí tốt nhất thông qua một hệ thống các TBDH Mặt khác, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nếu HS biết cách sử dụng và khai thác TBDH dưới sự hướng dẫn của GV,

HS sẽ vừa có kiến thức, vừa có kĩ năng địa lí hướng dẫn HS có phương pháp tự học, tự bổ sung kiến thức

Quá trình nhận thức được đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng TBDH địa lí là những phương tiện trực quan giúp HS tư duy, khai thác kiến thức, hình thành các khái niệm biểu tượng địa lí Bên cạnh đó, còn tạo ra môi trường hướng dẫn cho HS rèn được kĩ năng hướng tới sự hình thành những năng lực cần thiết của người lao động, giúp HS có hiểu biết về môi trường sống của con người hiện nay, hiểu biết về quê hương đất nước Từ đó, giúp HS có được kĩ năng hành động ứng xử đúng đắn với môi trường, có được kĩ năng học tập địa lí, để có thể tự bổ sung kiến thức địa lí cho bản thân

Như chúng ta đã biết, TBDH là “vũ trụ” không thể thiếu trên “mặt trận” giáo dục Nhưng vấn đề sử dụng như thế nào? mục đích của người sử dụng ra sao? còn tùy thuộc vào từng thời đại phát triển của xã hội loài người Trước đây việc dạy học được dùng để phán ánh hoạt động dạy, GV chủ động truyền thụ kiến thức, HS thụ động ghi nhận kiến thức mà GV truyền đạt Vì vậy, TBDH được sử dụng chỉ để minh họa cho lời giảng của GV chứ không nhằm phục vụ cho hoạt động học tập của HS, chính vì vậy việc sử dụng TBDH chưa được chú trọng thậm chí SGK rất ít kênh hình nên việc tìm ra kiến thức mới của HS một cách tích cực, chủ động thông qua TBDH là rất hạn chế Mặt khác, trước đây do tình hình kinh tế nước ta chưa phát triển nên TBDH còn hạn chế và không được coi là phương tiện thiết yếu của dạy học

Hiện nay, theo định hướng chung là tích cực hóa hoạt động học tập của

HS - với PP dạy học lấy HS làm trung tâm bằng cách thay đổi chức năng hoạt động của GV và HS phù hợp với cấu trúc và đặc tính của PP dạy học Vai trò của TBDH vô cùng quan trọng, nó được coi là “chìa khóa” của sự thành công trong PP dạy học lấy HS làm trung tâm

Trang 9

Thực tế phân môn địa lí hiện nay, nhiều GV chỉ sử dụng TBDH ở mức độ minh họa cho các bài giảng hoặc làm cơ sở cho việc xuất phát hình thành khái niệm Dạy học lấy HS làm trung tâm có những yêu cầu cao đối với việc sử dụng thiết bị trong dạy học, chúng được coi là công cụ để HS hoạt động độc lập, chủ động, tích cực và là nguồn dẫn tới kiến thức bằng con đường khám phá Phương tiện dạy học là nguồn kiến thức quan trọng, dưới sự tổ chức chỉ đạo của GV khai thác tìm kiếm những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc nhận thức các mối liên

hệ, khái niệm, tính chất, quy luật… Chính vì lí do đó, mà TBDH ngày nay đã nhiều và đa dạng hơn, gần gũi thực tế hơn

Việc đa dạng hóa các biện pháp và phương tiện dạy học đã trở thành yêu cầu thiết yếu trong dạy học hiện nay Khi giảng dạy phân môn Địa lí nếu không

có tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu… GV khó có thể hình thành cho HS những biểu tượng khái niệm và khắc sâu nội dung dễ dàng Trong phân môn Địa

lí luôn có những sự vật, hiện tượng mà HS không thể trực tiếp quan sát được mà phải thông qua tranh ảnh như hình dạng thực của Trái Đất được chụp qua vệ tinh, các hoạt động như động đất, núi lửa… Do đó, việc sử dụng TBDH còn có tác dụng hình thành tri thức, kĩ năng, phát triển tư duy cho HS

Phần Địa lí nhằm giúp cho HS hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường sống xung quanh, cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, thiết thực về sự vật, hiện tượng và mối quan hệ địa lý ở Việt Nam cũng như một số nước đại diện cho các châu lục trên thế giới Dạy học Địa lí chiếm vai trò quan trọng nhằm góp phần hình thành và phát triển ở HS thói quen ham hiểu biết, yêu thiên nhiên, đất nước, con người, có ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên Vì vậy, dạy học Địa lí không những cung cấp cho học sinh kiến thức Địa lí thuần tuý mà còn hình thành cho HS kĩ năng và năng lực tự học

Trẻ em đặc biệt là trẻ ở lứa tuổi tiểu học có ấn tượng mạnh với những hình ảnh trực quan sinh động và hấp dẫn Các TBDH như: bản đồ, mô hình, tranh ảnh,… chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết ngày càng cao của HS Trong thế kỉ XXI, sự bùng nổ của công nghệ thông tin kho kiến thức nhân loại ngày càng được mở rộng đặc biệt với sự hỗ trợ của mạng Internet đang phát triển trên

Trang 10

toàn cầu Sự phát triển của công nghệ thông tin máy tính điện tử, máy chiếu cùng với nhiều phương tiện dạy học hiện đại khác đang ngày càng phổ biến ở trường học, có hữu ích trong việc đưa ra thông tin mới phong phú hơn vào quá trình dạy học Giáo viên có thể tìm kiếm thông tin mới hơn, phong phú hơn từ nhiều nguồn khác nhau từ đó đổi mới nội dung và cách thức dạy học tạo sự say

mê hứng thú cho HS

Để phát huy được vai trò của TBDH trong việc nâng cao chất lượng dạy học, hai khâu cơ bản nhất là trang bị và sử dụng thiết bị Trong đó, vấn đề sử dụng có hiệu quả TBDH có ý nghĩa quyết định Thực tế cho thấy, hiện nay ở các trường tiểu học đang tồn tại một mâu thuẫn cơ bản giữa việc sử dụng không hiệu quả các TBDH của GV với yêu cầu giáo dục ngày càng cao Ở tiểu học khả năng chú ý của HS còn kém, nếu GV sử dụng hình ảnh quá nhiều sẽ làm HS mất tập trung vào bài học hoặc nếu GV chưa biết cách xác định trọng tâm của bài học trong hình ảnh sẽ dẫn đến tình trạng bài giảng lan man, không có trọng tâm, chủ điểm, HS nắm vững nội dung chính của bài Việc giải quyết mâu thuẫn này

là một yêu cầu cấp thiết hiện nay ở các trường tiểu học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng sử

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong các đề tài về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí đều có đề cập

đến việc sử dụng TBDH, trong đó có thể kể đến một số đề tài như: “Phương

pháp dạy học Địa lí” của tác giả Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng

Phúc, Nguyễn Thị Thu Hằng và Trần Đức Tuấn, “đổi mới phương pháp dạy học

Địa lí ở trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Đức Vũ và Phạm Thị Sen

và nhiều báo cáo trong các tạp trí, tập san khoa học của các trường Đại học đã nêu kết quả về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Địa lí nói riêng Đặc biệt, trong đó có phần nào hướng dẫn cách thức rèn luyện

kĩ năng sử dụng TBDH Địa lí

Trang 11

Phương pháp dạy học địa lí ở tiểu học theo hướng chủ động, tư duy sáng

tạo, có một số đề tài nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Tuyết Nga như: “Phương

pháp dạy học địa lí ở trường tiểu học Việt Nam theo hướng cho HS tự phát hiện tri thức” Một số vấn đề chung như: “Dạy học địa lí ở tiểu học” (Nguyễn Tuyết

Nga, Phạm Thị Sen)

Đi cùng với phương pháp dạy học Địa lí, có nhiều tác giả đã đề cập đến

cách sử dụng TBDH địa lí như: Lâm Quang Dốc (1996), Sử dụng bản đồ, NXB Giáo dục; Nguyễn Trọng Phúc (1997), Phương pháp sử dụng các phương tiện

dạy học địa lí ở nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục; Nguyễn Trọng Phúc

(2001), Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học Địa lí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Ngoài ra còn một số tác giả: Trần Xuân Trường, “Khai thác kênh

hình trong dạy học Địa lí lớp” (2007); Nông Thị Ngọc Ánh, “Sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học theo hướng dạy học tích cực” (2013); Ma Xuân

Quỳnh, “Khai thác kênh hình để dạy học chủ đề Địa lí lớp 5” (2015); Bùi Thị Thủy, “Sử dụng kênh hình trong dạy học môn địa lí ở tiểu học” (2015) - khóa luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Tây Bắc; Trần Thị Hoàng Oanh, “Sử dụng thiết

bị dạy học địa lí theo hướng tinh thần dạy học tích cực” – khóa luận tốt nghiệp

Đại học, Đại học Sư phạm Hà Nội, (2003)

Trong cuốn “Tự nhiên xã hội và phương pháp dạy học tự nhiên xã hội”

(tập 2) tác giả đã khái quát nội dung, mục tiêu chương trình địa lí lớp 4, 5 và một

số PP dạy học các bài địa lí lớp 4, 5 Trong đó, gồm có PP quan sát tranh ảnh địa lí; PP sử dụng bản đồ trong dạy học các bài địa lí lớp 4, 5; PP sử dụng số liệu thống kê; PP sử dụng biểu đồ; PP sử dụng mô hình;… Tuy nhiên, các PP này chưa đề cập đến việc mở rộng khai thác TBDH

Nhìn chung, việc sử dụng TBDH trong dạy học địa lí đã được nhiều tác giả đề cập đến trong nhiều sách và tài liệu tham khảo khác nhau Song việc lựa chọn và xây dựng được TBDH cần thiết cho mỗi tiết học, đặc biệt là cách sử dụng chúng như thế nào, khai thác ra sao để đạt hiệu quả tốt nhất chưa được thể hiện đầy đủ, hầu hết tác giả mới chỉ nói đến một số TBDH và chưa đề cập đến việc sử dụng TBDH khác nhau cho từng khối lớp

Trang 12

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những vấn đề cơ bản về hệ thống TBDH địa lí được sử dụng trong trường tiểu học Gia Phù Từ đó, nghiên cứu cách thức sử dụng một số TBDH nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Địa lí

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Địa lí ở tiểu học

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH ở trường tiểu học Gia Phù - Phù Yên - Sơn La

5 Giả thiết khoa học

Nếu vận dụng linh hoạt và hợp lí các TBDH địa lí ở tiểu học thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lí ở nhà trường tiểu học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn việc rèn luyện kĩ năng sử dụng TBDH địa lí ở tiểu học

- Đưa ra nguyên tắc rèn luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học

- Nghiên cứu cách thức sử dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học

- Thiết kế và tổ chức thực nghiệm một số bài dạy Địa lí ở tiểu học có sử dụng TBDH

7 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung Địa lí ở tiểu học được đề cập đến từ lớp 1 đến lớp 5 Tuy nhiên trong thời gian hạn hẹp khóa luận chỉ nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH địa lí ở lớp 4 và lớp 5

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài Kế thừa và phát huy lí luận

đề tài đi trước

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực tế việc sử dụng TBDH địa lí Thu thập thông tin, số liệu

thống kê và những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu

- Tham khảo ý kiến GV về hướng nghiên cứu của đề tài

Trang 13

- Tiến hành thực nghiệm để xem xét hiệu quả và tính khả thi của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH học địa lí ở tiểu học

8.3 Phương pháp thống kê

Dùng PP thống kê để phân tích và xử lí các kết quả thu được qua điều tra

và thực nghiệm

9 Đóng góp của khóa luận

- Tìm hiểu và hệ thống cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng TBDH địa lí ở tiểu học Góp phần đánh giá thực trạng sử dụng TBDH địa lí ở tiểu học

- Đưa ra cách thức và quy trình sử dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học

- Đề xuất phương hướng xây dựng TBDH địa lí ở tiểu học

10 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dụng khóa luận có cấu trúc như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng sử

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Thiết bị dạy học

1.1.1.1 Khái niệm về thiết bị dạy học

Tùy theo từng quan điểm nhìn nhận về thiết bị dạy học mà ta có nhiều định nghĩa khác nhau:

“Thiết bị dạy học là một tập thể những đối tượng vật chất được giáo viên

sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Đối với HS, đó là nguồn tri thức phong phú, sinh động, là các phương tiện giúp học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kĩ xảo”[17]

Thiết bị dạy học bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

Thiết bị dạy học là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà GV sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của HS, đồng thời là nguồn tri thức, hình thành kĩ năng đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy học

Thiết bị dạy học được giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy và học

Như vậy có thể hiểu một cách tổng quát: Thiết bị dạy học là những công cụ

mà GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học

1.1.1.2 Vai trò của thiết bị dạy học

Tổ chức các hoạt động nhận thức:

Nhận thức là sự phản ánh thực tiễn trong bộ não con người Trước khi học

về một đối tượng địa lí nào đó, HS đã tích luỹ được một số biểu tượng ban đầu

do quan sát thực tiễn hoặc do trao đổi, học tập mà có Nhận thức của HS được tích lũy theo nhiều mức độ khác nhau Do đó, người GV cần chú trọng việc hình

Trang 15

thành khái niệm, biểu tượng từ quan sát trực tiếp sự vật, hiện tượng địa lí Chúng ta thấy, trong phân môn Địa lí việc quan sát hiện tượng thực tiễn cần phải

sử dụng các dụng cụ, máy móc như: tranh ảnh, mô hình, bản đồ, băng hình,… học sinh mới có thể quan sát được con người trên khắp các vùng miền đất nước, hoạt động sản xuất, môi trường thiên nhiên; thấy được hình dạng, vị trí của đất nước Việt Nam, các châu lục và đại dương trên thế giới…

TBDH giúp học sinh thu nhận được thông tin về sự vật, hiện tượng địa lí một cách sinh động tạo điều kiện hình thành biểu tượng, khái niệm địa lí cho học sinh Biểu tượng về các sự vật, hiện tượng càng rõ ràng càng đầy đủ thì chúng giúp cho việc nhận thức, tư duy của học sinh càng tốt Trong quá trình dạy học Địa lí ở tiểu học, TBDH là công cụ giúp GV tổ chức, hướng dẫn và điều khiển hoạt động nhận thức của HS Cơ sở của tư duy trừu tượng, mở rộng được khả năng tiếp cận với các đối tượng, hiện tượng TBDH tăng tính hấp dẫn, kích thích lòng ham muốn học tập, kích thích hứng thú học tập của học sinh

Để khám phá ra các kiến thức mới trong quá trình làm việc với TBDH, người học phải tiến hành các thao tác quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận đáng tin cậy Đây cũng chính là cơ hội cho HS hình thành và rèn luyện các kĩ năng địa lí như: kĩ năng quan sát, kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng phân tích số liệu, kĩ năng phân tích mối quan hệ nhân quả, HS hoàn thành việc học và cung cấp thêm nhiều kiến thức về Địa lí khi học lên cấp học trên và trong cuộc sống hàng ngày

Phát triển tư duy cho học sinh:

Trong quá trình dạy học địa lí, thiết bị dạy học được sử dụng làm nguồn

Trang 16

tri thức HS được tìm tòi, phát hiện ra những tri thức mới ẩn tàng trong các nguồn tri thức ấy Học sinh phải trải qua một quá trình tư duy tích cực mới có thể nhận ra tri thức này

Ví dụ: Với một bức tranh địa lí về cảnh hoang mạc, một HS chỉ nhận thức được quang cảnh hoang mạc “trong đó có các đụn cát, có lạc đà” một HS khác lại nhận thức được thêm “hoang mạc là một nơi rất hiếm nước” vì trong tranh không thấy các cây cối, sông ngòi, HS thứ ba thì suy luận được: “hoang mạc là nơi có khí hậu khô nóng, hiếm mưa Những nơi như thế không thuận lợi cho cuộc sống của con người nên dân cư ở đây thưa thớt” Rõ ràng là cùng một nguồn tri thức nhưng mức độ nhận thức của HS lại khác nhau Chỉ khi trải qua quá trình tư duy tích cực, HS mới có thể thu được những khái niệm đầy đủ, chính xác nhất

Việc sử dụng TBDH đúng phương pháp, đúng mục đích sẽ có tác động hết sức quan trọng trong việc phát huy tính tích cực tư duy, phát triển trí tuệ của

HS và nhận thức của HS trong phân môn Địa lí

1.1.1.3 Yêu cầu đối với thiết bị dạy học

Trong dạy học Địa lí cũng như trong dạy học các môn học khác, việc vận dụng và tiến hành các PP dạy học luôn gắn liền việc sử dụng TBDH TBDH được sử dụng thường xuyên phục vụ cho việc lĩnh hội tri thức của HS Để việc

sử dụng được thuận lợi và hiệu quả, trong mỗi giờ học địa lí ở tiểu học TBDH phải đáp ứng yêu cầu sau đây:

Trang 17

chuyển và không chiếm nhiều diện tích trên bàn cũng như phải phù hợp với HS

Đảm bảo tính thẩm mỹ:

TBDH địa lí phải đảm bảo tính thẩm mĩ cao, các đường nét, hình khối, màu sắc phải hài hoà, cân đối nhằm giáo dục tính thẩm mĩ cho HS Đồng thời, TBDH đảm bảo tính thẩm mĩ còn có tác dụng rất lớn là giúp HS hứng thú, say

mê học tập

Đảm bảo tính tiện dụng:

Do điều kiện học tập ở một số trường tiểu học chưa đồng bộ về cơ sở vật chất, TBDH địa lí hiện nay GV phải mang vác từ thư viện, phòng thí nghiệm, hoặc do GV tự làm Sau mỗi buổi học GV lại phải mang về thư viện trả lại hoặc cất đi Do vậy, TBDH phải đảm bảo tính tiện dụng, không quá cồng kềnh để dễ

di chuyển

1.1.1.4 Phân loại thiết bị dạy học

Có nhiều cách phân loại TBDH nói chung và TBDH địa lí nói riêng Cụ thể như sau:

Trong các tác phẩm về lí luận dạy học đã trình bày, TBDH đồng nghĩa với thiết bị trực quan, đó là vật thật, vật tượng trưng và vật tạo hình được sử dụng để dạy học

- Các vật thật như động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên, các loại khoáng vật, giúp cho HS tiếp thu tri thức, gây hứng thú tìm tòi học tập

Trang 18

- Các vật tượng trưng, giúp cho HS thấy được trực quan các sự vật, hiện tượng được biểu diễn dưới dạng khái quát hoặc giản đơn (các loại sơ đồ, lược

đồ, bản đồ giáo khoa)

- Các vật tạo hình kể cả các thiết bị hiện đại: tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, video, thay cho các vật khó nhìn thấy trực tiếp (biển, đại dương, ) các sự vật hiện tượng không thể thấy (Trái Đất)

Song cũng có những tác giả coi TBDH là những đồ dùng dạy học trực quan được khái quát bằng mô hình vật chất được dựng lên một cách nhân tạo Nhằm giúp chúng ta nghiên cứu đối tượng gốc khi không có điều kiện tri giác trực tiếp đối tượng này

Một số tác giả lại phân loại TBDH theo 3 nội dung như sau:

- Những tài liệu địa lí (ví dụ: sách, tạp chí, báo, băng ghi âm, video, đĩa từ, các loại bản đồ, ) Là kết quả của sự khái quát các công trình của một hay tập thể nhà khoa học Địa lí, nhà Sư phạm – Tâm lí hay cán bộ khoa học kĩ thuật theo những mục đích riêng, với những nội dung xác định có liên quan đến một hoặc nhiều vấn đề của khoa học địa lí

- Những TBDH kĩ thuật gồm các máy móc và thiết bị (vô tuyến truyền hình, video, máy chiếu, máy vi tính, ) giúp cho việc dạy học Địa lí đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, phải hiểu nếu không có tài liệu khoa học dùng để dạy học thì

nó chỉ là thiết bị kĩ thuật thuần túy

- Cơ sở vật chất dùng để dạy học gồm: phòng triển lãm, câu lạc bộ, lớp học, phòng bộ môn,… vì đây là điều kiện tiền đề để GV và HS làm việc Chính

vì lí do trên, các cơ sở vật chất phải tuân thủ những yêu cầu riêng của lĩnh vực kiến trúc như diện tích, bài trí, ánh sáng, âm thanh,…

N N Branxki – nhà nghiên cứu và giảng dạy Địa lí, ông đưa ra khái niệm TBDH Ông cho rằng “TBDH là những phương tiện trực quan, nó là một nhân

tố ảnh hưởng lớn đến sự tổ chức và kết quả của việc giảng dạy Địa lí trong nhà trường”

Các thiết bị đó bao gồm: Bản đồ giáo khoa, tranh, ảnh, biểu đồ, đồ thị, quả địa cầu,

Trang 19

Kế thừa và phát triển những quan niệm trên Giáo trình “Lý luận dạy học

Địa lí” do giáo sư Nguyễn Dược chủ biên và một số tác giả khác đã đưa ra khái

niệm TBDH địa lí Các thiết bị này bao gồm một phần cơ sở vật chất tạo điều kiện cho việc giảng dạy bộ môn như: phòng bộ môn Địa lí, vườn Địa lí, tủ sách Địa lí Toàn bộ các đồ dùng trực quan như các bản đồ giáo khoa, tranh, ảnh, biểu

đồ, đồ thị, quả địa cầu, và cuối cùng là các tài liệu cung cấp những tri thức cơ bản cho GV và HS như sách giáo khoa Địa lí, sách, báo tham khảo… Ngoài ra, trong sự phát triển của khoa học kĩ thuật, có phương tiện dạy học hiện đại như video, máy chiếu, máy vi tính, mạng internet…

Hiện nay, nhiều tác giả thống nhất quan niệm, TBDH Địa lí bao gồm: các thiết bị mang tính truyền thống như bản đồ, tranh ảnh, bảng số liệu, biểu đồ, mô hình đến các thiết bị kĩ thuật hiện đại như video cùng băng hình, đèn chiếu, các chương trình phần mềm dạy học trên máy tính

1.1.1.5 Một số thiết bị dạy học truyền thống

Bản đồ giáo khoa:

U.C Bilich và A.C.Vaxmut: “Bản đồ giáo khoa là những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến đào tạo các chuyên gia”

Bản đồ chứa đựng hệ thống mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí Ví dụ như: mối quan hệ về tiềm lực tự nhiên, tiềm lực kinh tế, tiềm lực xã hội,… Cho nên, nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người

Chúng ta cần phân biệt rõ khái niệm bản đồ với khái niệm lược đồ: Lược

đồ là những bản đồ nhưng thiếu yếu tố toán học (tỉ lệ bản đồ, hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến) nên không sử dụng để đo, tính khoảng cách mà chỉ được dùng

để nhận biết một vài đặc điểm của chúng

Bản đồ giáo khoa có ưu điểm sau:

- Về nội dung kiến thức: Bản đồ, lược đồ thể hiện rất đầy đủ, rõ ràng nội dung chính của bài học Chúng tập trung thể hiện những vấn đề chính của bài học mà không có những yếu tố gây nhiễu

Trang 20

- Về phương pháp trình bày: Trên bản đồ, đối tượng địa lí được khái quát cao Nhiều kí hiệu tượng trưng, tượng hình nhiều màu sắc đẹp, gần gũi đối tượng được sử dụng, làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gây hứng thú cho việc học tập địa lí

Nhìn chung, nội dung kiến thức và phương pháp trình bày trên bản đồ phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

Tranh ảnh địa lí là phương tiện thể hiện hình ảnh, cấu trúc, đặc tính… của

sự vật hiện tượng địa lí được nghiên cứu trong nhà trường Mục đích của tranh ảnh là hình thành biểu tượng địa lí, cung cấp kiến thức cho HS Đồng thời, cũng

là công cụ để người giáo viên tổ chức các hoạt động học tập

Tranh ảnh cũng là nguồn tri thức địa lí đa dạng phong phú, giúp HS khai thác, củng cố, phát triển tư duy, hình thành và rèn luyện kĩ năng cho quá trình học tập của HS

Qua đó, GV hình thành cho HS biểu tượng, khái niệm địa lí một cách chính xác, khoa học và sâu sắc nội dung bài học, giúp HS giảm thiểu việc ghi nhớ máy móc Thông qua đó, giúp HS có những hiểu biết về thiên nhiên, hoạt động sản xuất và con người ở vùng miền tự nhiên khác nhau… Việc nhận thức của HS còn tùy thuộc vào khả năng khai thác của HS

Bảng số liệu:

Bảng số liệu là bảng thể hiện mối quan hệ giữa các số liệu với nhau theo một chủ thể nhất định Số liệu ở bảng được sắp xếp theo cột dọc và hàng ngang theo tiêu chí và có mối quan hệ với nhau tạo điều kiện cho việc so sánh tương quan giữa chúng theo các mặt cần thiết của bảng thể hiện Để người đọc dễ dàng

Trang 21

nhận xét, so sánh, từ đó rút ra được kết luận có căn cứ về hiện tượng, quy trình địa lí kinh tế, xã hội

Bảng số liệu gồm hai loại chính:

+ Bảng số liệu đơn giản là bảng gồm có nhiều số liệu, nhưng trong đó chỉ nói về một nội dung

+ Bảng số liệu phức tạp là bảng gồm có nhiều số liệu cùng nói về một nội dung nào đó song lại chia ra nhiều đề mục có quan hệ với nhau

Biểu đồ:

Trong địa lí, biểu đồ là hình vẽ dùng để thể hiện sự vật, hiện tượng địa lí

về quy mô, độ lớn, cơ cấu, quá trình thay đổi…

Biểu đồ có nhiều loại:

- Loại biểu đồ biểu hiện số liệu thống kê về quá trình phát triển của hiện tượng: gồm biểu đồ hình cột và biểu đồ theo đường

- Loại biểu đồ biểu hiện cơ cấu của hiện tượng: gồm có biểu đồ hình tròn, biểu đồ hình chữ nhật, biểu đồ hình vuông và biểu đồ hình tam giác

Quả địa cầu:

Quả địa cầu thường dùng ở tiểu học có hai loại chính: quả cầu địa lí tự nhiên và quả cầu địa lí chính trị

- Quả cầu địa lí tự nhiên là quả địa cầu, trên đó người ta in bản đồ tự nhiên thế giới

- Quả cầu địa lí chính trị là quả địa cầu, trên đó người ta in bản đồ chính trị thế giới

1.1.1.6 Một số thiết bị dạy học hiện đại

Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, thiết bị dạy học hiện đại được phát minh ngày càng nhiều và trở thành thiết bị dạy học có hiệu quả cao Một mặt, TBDH góp phần mở rộng nguồn tri thức địa lí cho HS, giúp cho việc lĩnh hội tri thức của HS nhanh chóng hơn với một khối lượng tri thức đa diện và

to lớn; mặt khác TBDH góp phần vào việc đổi mới PP dạy học của giáo viên địa

lí hiện nay Do vậy, TBDH địa lí hiện đại tạo điều kiện rộng rãi cho việc dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 22

Thiết bị hiện đại được sử dụng trong dạy học địa lí ở nhà trường tiểu học hiện nay gồm có: phim video giáo khoa, máy chiếu Overhead, máy vi tính

Video cùng băng hình:

Phim video giáo khoa là phương tiện được sử dụng rộng rãi trong dạy học địa lí ở tiểu học hiện nay, HS không chỉ nhận thức bằng thính giác mà còn nhận thức bằng thị giác, nên ấn tượng về nội dung học tập rõ nét và sâu sắc hơn

Hiện nay, trong danh mục TBDH địa lí đã có những phim video giáo khoa

có nội dung phù hợp với bài học cụ thể trong chương trình Điều đó cho phép sử dụng phim video giáo khoa như một cuốn sách địa lí thứ hai của HS Nếu như với SGK HS phải đọc, sau đó tìm nội dung chính, chủ yếu hoặc thông tin cần thiết để trả lời câu hỏi của GV, thực hiện các bài tập ở lớp, ở nhà thì đối với các phim video giáo khoa, HS quan sát nội dung bài học bằng hình ảnh và lắng nghe lời thuyết minh, sau đó thực hiện các nhiệm vụ nhận thức theo yêu cầu GV

Học sinh có thể quan sát được sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên hoặc

xã hội khi không có điều kiện quan sát trực tiếp

Máy chiếu Overhead:

Máy chiếu Overhead là thiết bị sử dụng để phòng to, chiếu văn bản, chiếu hình ảnh để chiếu các nội dung địa lí được in vào giấy bóng Đây là phương tiện được sử dụng rộng rãi ngày nay, nhằm phóng to chữ, hình ảnh, bản đồ để chiếu cho học sinh cùng thấy rõ

Trong dạy học ngoài giáo viên sử dụng máy chiếu Overhead còn được học sinh sử dụng để trình bày kết quả làm việc theo nhóm, làm việc cá nhân cho toàn lớp xem

Máy vi tính:

Trong những năm gần đây, máy vi tính có thể giải quyết được các nhiệm

vụ cơ bản của quá trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành, ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá máy tính có được khả năng đó là nhờ vào chức năng lưu trữ, xử lí và cung cấp thông tin; điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra liên lạc; luyện tập các kĩ năng và thực hành; minh

Trang 23

hoạ, trực quan hoá bằng mô phỏng… Hiện nay, máy vi tính với hệ thống đa phương tiện (multimedia) ra đời đã tăng cường khả năng phổ cập máy vi tính

Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông: một phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy vi tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông như văn bản, đồ hoạ và âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác (Interactive) Thông tin multimedia được thể hiện ở các dạng: dạng văn bản (Text); dạng hình họa (Graphics); dạng hoạt ảnh (Animation); dạng ảnh chụp (Image); dạng Video và Audio Multimedia là kỹ thuật mô phỏng và sử dụng đồng thời nhiều dạng phương tiện chuyển hoá thông tin và các tác phẩm từ các kỹ thuật đó

Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, phần cứng mà cấu hình của hệ Multimedia đã vượt xa tiêu chuẩn MPC, hàng loạt các thiết bị kĩ thuật số ra đời như: máy quét, cắt ảnh; máy chụp ảnh, máy quay phim, thiết bị ghi âm làm cho hệ thống Multimedia ngày càng trở nên hoàn hảo, đáp ứng hầu hết các nhu cầu của đời sống xã hội Trong hàng loạt thiết bị ấy, ổ đĩa CD-ROM đóng vai trò hết sức quan trọng Thiết bị này cho phép người sử dụng truy cập thông tin được lưu trữ trên đĩa CD ở nhiều dạng (multifomat) khác nhau (văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, hoạt hình, phim)

CD-ROM được sử dụng và tra cứu thông tin như trong một thư viện nhỏ nhưng có tốc độ tìm kiếm thông tin rất nhanh Nhờ có khả năng lưu trữ một lượng lớn thông tin theo nhiều dạng khác nhau và tốc độ truy cập lớn mà đĩa CD-ROM đã được sử dụng cho nhiều mục đích Với kĩ thuật nén dữ liệu mới, có thể xếp được 250.000 trang văn bản trong một đĩa CD-ROM Trong giáo dục xuất hiện thêm một khái niệm mới: SGK điện tử (E-book); CD-ROM gia sư; học tập điện tử (E-learning); dạy học có máy tính trợ giúp (computer assisted instruction); đĩa video tương tác (interactive videodisk) Sự ra đời của hệ thống

đa phương diện đã làm thay đổi diện mạo, vai trò của máy vi tính với tư cách là một TBDH

Trang 24

1.1.2 Một số đặc điểm về quá trình nhận thức của học sinh tiểu học giai đoạn lớp 4, lớp 5

nếm, tháo gỡ…

Tri giác của HS phát triển mạnh trong quá trình học ở tiểu học và khuynh hướng phát triển của nó là tri giác ngày càng mang tính chủ định, đi sâu vào chi tiết của sự vật hiện tượng Học sinh lớp 4, lớp 5 đã nắm được mục đích quan sát

và trong quá trình quan sát HS đã biết chú ý quan sát các chi tiết của đối tượng

và đi sâu vào chi tiết riêng rẽ, HS đã có thể tổng hợp chúng để có được một biểu tượng hoàn chỉnh về đối tượng

Những đặc điểm tri giác trên của HS tiểu học cho thấy, trong giờ dạy học địa lí, muốn hình thành một biểu tượng hoặc khái niệm cho HS, GV cần phải tổ chức cho HS quan sát đối tượng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua TBDH như tranh ảnh, mô hình, bản đồ…

Khả năng chú ý:

Tính không chủ định chiếm ưu thế trong chú ý của HS tiểu học HS chỉ chú ý vào những gì mình thích, những gì mới mẻ, sinh động, những gì gợi dậy được những dung cảm HS rất khó tập trung chú ý với những gì quen thuộc, nhàm chán, cũ kĩ, đơn điệu, tĩnh lặng

“Sức tập trung chú ý của học sinh phụ thuộc vào khối lượng vật thể được chú ý”[14] Cùng một lúc, HS không thể chú ý đến nhiều đối tượng hoặc nhiều chi tiết của đối tượng Do vậy, trong quá trình sử dụng TBDH, GV không nên yêu cầu HS quan sát nhiều đối tượng trong cùng một lúc mà cho

HS quan sát từng đối tượng riêng rẽ với từng nhiệm vụ cụ thể Đồng thời, khẳng định “Độ bền và chú ý của các em phụ thuộc vào đối tượng chú ý và

Trang 25

mức độ hoạt động với sự vật”[12] Cho nên, các thiết bị như bản đồ, lược đồ, bảng số liệu, tranh ảnh,… phục vụ việc dạy học địa lí phải rõ ràng, đơn giản

Tính chủ động trong chú ý cũng được hình thành dần dần trong quá trình học ở tiểu học Để giúp HS rèn được chú ý có chủ định, thường trước khi yêu cầu HS tiến hành một hoạt động nào, GV cần phải giúp HS xác định rõ mục đích của hoạt động ấy

Trí nhớ:

“Trí nhớ hình tượng trực quan ở HS tiểu học lớn hơn từ ngữ logic”[12] Điều này biểu hiện ở chỗ, HS sẽ nhớ những gì được nhìn, sờ, nắn,… hơn là những gì HS được đọc, được nghe, được tả…

Học sinh tiểu học có khả năng ghi nhớ máy móc rất tốt Bởi vì, HS thường không nắm được mục đích ghi nhớ, nội dung cần phải ghi nhớ và cách thức ghi nhớ nên biện pháp tốt nhất là nhớ nguyên xi Ngoài ra, thời kì này ghi nhớ của HS vẫn

là ghi nhớ không chủ định HS thường không ghi nhớ cái bản chất của đối tượng

mà chỉ ghi nhớ những gì mình thích và không chủ định nhớ lại

Tình cảm cũng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ cũng như sự bền vững của ghi nhớ Những gì HS thích thì HS nhớ nhanh và nhớ rất lâu

Khả năng ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ logic cũng sẽ hình thành và phát triển dần dần trong quá trình học tập của HS

Để giúp HS nhớ nhanh và nhớ lâu những nội dung của bài học, GV cần tổ chức cho HS trực tiếp làm việc với TBDH để HS tự tìm ra kiến thức

Về tưởng tượng:

Học sinh ở các lớp đầu bậc tiểu học, những chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng của HS còn nghèo nàn, chưa hợp lí Đến các lớp cuối bậc tiểu học, chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng của HS giàu có hơn, được sắp xếp hợp lí hơn

Ở giai đoạn cuối bậc tiểu học “HS đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác đã có từ trước và dựa trên ngôn ngữ”[8] Dựa vào đặc điểm này, GV không chỉ sử dụng TBDH để hình thành biểu tượng kí ức mà còn

có thể hình thành biểu tượng tưởng tượng cho HS

Trang 26

Tư duy:

- Về khả năng phân tích khái niệm: HS có thể phân tích một số khái niệm đơn giản Tuy nhiên, TBDH mang tính trực quan vẫn tỏ ra rất hữu hiệu trong vai trò là điểm tựa để HS nhận biết những khái niệm

- Về khả năng khái quát hóa: Lúc này, HS đã biết khái quát hóa những cái bản chất của sự vật hiện tượng ra khỏi những dấu hiệu không bản chất và đưa vào nội dung khái niệm

- Về khả năng phán đoán: Học sinh biết hình dung ra nhiều PP và tình huống khác nhau, do đó phán đoán của HS thường mang tính giả định HS biết chứng minh và lập luận những phán đoán của mình

- Về trình độ suy luận: Học sinh biết suy luận dựa vào những dấu hiệu bên trong Đặc biệt, HS có thể suy luận dựa trên những tài liệu có tính trừu tượng hơn

Qua việc phân tích những khía cạnh tâm sinh lí và trình độ nhận thức của

HS tiểu học ở lớp 4, lớp 5 có thể thấy rằng HS hoàn toàn có đủ khả năng tìm tòi, phát hiện tri thức từ TBDH

1.1.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng các thiết

bị dạy học Địa lí

Thiết bị dạy học vừa điều khiển được hoạt động nhận thức một cách sinh động vừa là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng Các thiết bị đó chính là “cha đẻ” của biểu tượng, một cơ sở tạo nên khái niệm, định nghĩa Không dừng lại ở đó, TBDH còn giúp HS đào xới sâu hơn vào

“miếng đất” tri thức mà mình lĩnh hội trước đó, giúp HS có thêm chất men hứng thú tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, năng lực khác

Với người dạy, TBDH là chất xúc tác để làm cho bài giảng sâu sắc hơn, tinh giản mà đầy đủ, ít ai biết rằng TBDH còn “âm thầm” làm cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập có hiệu quả hơn Nhìn xa thêm các thiết bị đó còn bồi đắp trong HS phẩm chất cần thiết: lòng kiên trì, ý thức tự giác, tính thẩm mĩ, óc thẩm mĩ… và để TBDH đạt được hiệu quả như vậy thì cần phải biết cách sử dụng và vận dụng chúng một cách đúng đắn vào việc dạy học

Trang 27

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Mục tiêu của phân môn địa lí

Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản về sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ địa lí đơn giản ở Việt Nam và thế giới

Bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS một số kĩ năng địa lí như: kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng địa lí, kĩ năng quan sát bản đồ; kĩ năng nhận xét, so sánh, phân tích bảng số liệu, biểu đồ

Bồi dưỡng phát triển ở học sinh thái độ và thói quen ham hiểu biết để biết

về môi trường xung quanh HS Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và văn hóa gần gũi với HS

1.2.2 Những nội dung chính của môn Địa lí lớp 4, lớp 5

Môn Địa lí lớp 4 có những nội dung sau:

- Bản đồ và cách sử dụng Bản đồ địa hình Việt Nam

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi, trung du (dãy núi

Hoàng Liên Sơn, Trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông, đất, rừng) + Dân cư thưa thớt, một số dân tộc (Thái, Dao, Mông, Gai-rai, Ê-đê, Ba-

na) với nét đặc trưng về trang phục, nhà ở và lễ hội

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên rừng, khoáng sản, sức nước, đất

(khai thác chế biến gỗ; quặng; trồng trọt; chăn nuôi gia súc; thủy điện;…) Hoạt

động dịch vụ (giao thông miền núi và chợ phiên)

+ Thành phố vùng cao (Đà Lạt)

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông, đất)

+ Cư dân (mật độ dân số lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về

trang phục, nhà ở và lễ hội)

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên đất, sông, khí hậu và sinh vật

(trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, thủy sản) Hoạt động dịch vụ (giao thông

đồng bằng, thương mại)

Trang 28

+ Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền duyên hải (dải đồng bằng duyên hải miền Trung)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, đất, nước, sinh vật) + Cư dân (dân cư khá đông đúc, hai dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục và lễ hội)

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt

và chế biến hải sản)

+ Thành phố: Huế, Đà Nẵng

- Biển đông, các đảo, quần đảo

+ Sơ lược về thiên nhiên, giá trị kinh tế của biển, đảo

+ Khai thác dầu khí và đánh bắt, chế biến hải sản

Môn Địa lí lớp 5 có những nội dung sau:

Phần Địa lí Việt Nam gồm:

+ Số dân, sự gia tăng dân số và hậu quả của nó

+ Một số đặc điểm nổi bật về các dân tộc Việt Nam; dân cư và sự phân bố

dân cư

- Kinh tế

+ Đặc điểm nổi bật về tình hình và sự phân bố nông nghiệp, lâm nghiệp,

thủy sản

+ Đặc điểm nổi bật về tình hình và sự phân bố công nghiệp

+ Đặc điểm nổi bật về giao thông, thương mại, du lịch

Phần Địa lí thế giới gồm:

- Bản đồ các châu lục và đại dương trên thế giới

- Các châu lục và đại dương trên thế giới

Trang 29

+ Vị trí địa lí và giới hạn

+ Một số đặc điểm về địa hình, khí hậu, dân cư và hoạt động kinh tế của

từng châu lục trên thế giới

+ Một số đặc điểm về diện tích, độ sâu của từng đại dương trên thế giới

- Khu vực Đông Nam Á

+ Vị trí địa lí, tên các quốc gia của khu vực

+ Một số đặc điểm nổi bật về tự nhiên, dân cư và hoạt động kinh tế của

khu vực

- Một số quốc gia tiêu biểu ở các châu lục: Trung Quốc, Lào,

Cam-pu-chia, Liên bang Nga, Pháp, Ai Cập, Hoa Kì và Ô-trây-li-a

+ Vị trí địa lí, thủ đô của mỗi quốc gia

+ Một số đặc điểm nổi bật của mỗi quốc gia

1.2.3 Cấu trúc sách giáo khoa

1.2.3.1 Khổ sách

Sách được trình bày với khổ 17cm x 24cm, cách trình bày thoáng, cỡ chữ

to, số lượng kênh hình nhiều và kích thước các hình phù hợp với HS tiểu học Tạo điều kiện để cho GV tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện kiến thức mới của HS thông qua làm việc với bản đồ, lược đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, hình vẽ đồng thời phát hiện các kĩ năng địa lí của HS

1.2.3.2 Cách trình bày

Sách giáo khoa Địa lí ở tiểu học được trình bày với hai hệ thống là hệ thống kênh hình và hệ thống kênh chữ Trong đó, kênh chữ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức Tuy nhiên, kênh hình vẫn đóng vai trò quan trọng Kênh hình đa dạng về thể loại, ngoài bản đồ (lược đồ), bảng số liệu, biểu

đồ và tranh, ảnh, còn có những hình vẽ hoặc tranh ảnh mang tính chất liên hoàn, giúp HS hình dung được quy trình sản xuất và sử dụng một mặt hàng

Ví dụ: quy trình sản xuất chè, trồng bông và chế biến; khai thác, chế biến

và sử dụng dầu…

Kênh hình chú ý thể hiện sự kết nối giữa tranh ảnh và bản đồ trong việc cung cấp thông tin Chức năng làm nguồn tri thức của kênh hình được chú trọng

Trang 30

chức năng minh họa cho kênh chữ

Cách trình bày SGK như đã nêu ở trên đã tạo điều kiện để GV tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện tri thức mới của HS, thông qua làm việc với bản đồ (lược đồ), bảng số liệu, biểu đồ, tranh ảnh, hình vẽ đồng thời phát triển kĩ năng

bộ môn cho HS

1.2.3.3 Cách trình bày nội dung một bài học

Mỗi bài học gồm 3 phần:

- Phần cung cấp kiến thức (thông tin) bằng kênh chữ, kênh hình

- Phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập Trong đó, câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập được in nghiêng ở giữa bài gợi ý GV tổ chức cho HS hoạt động để khai thác thông tin, rèn luyện kĩ năng Câu hỏi ở cuối bài nhằm giúp cho GV kiểm tra việc thực hiện mục tiêu của bài và củng cố kiến thức của HS sau mỗi bài học

- Phần tóm tắt trọng tâm của bài được đóng khung

Khi sử dụng SGK, GV nên căn cứ vào cấu trúc trên để hướng dẫn HS sử dụng SGK một cách hiệu quả (tận dụng cả kênh chữ và kênh hình) nhằm đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng của môn học

Sử dụng SGK cần lưu ý là sách giáo khoa viết cho HS là tài liệu học tập của HS, GV dựa vào đó để chuẩn bị bài giảng GV có thể xem xét thêm tư liệu, làm cho kiến thức trong SGK thêm sinh động, hấp dẫn

1.2.4 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học phân môn Địa lí ở nhà trường tiểu học

Chúng tôi tiến hành điều tra, tìm hiểu thực trạng rèn luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH địa lí trong nhà trường tiểu học qua phiếu trưng cầu ý kiến đối với GV và HS tiểu học tại trường tiểu học Gia Phù huyện Phù Yên tỉnh Sơn

La Câu hỏi và phương án trả lời được trình bày rõ ràng, đảm bảo tính logic của

hệ thống câu hỏi, tính khách quan của kết quả nghiên cứu:

1.2.4.1 Mục đích khảo sát

Nhằm đánh giá thực trạng sử dụng TBDH của GV từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc sử dụng TBDH một cách có hiệu quả trong việc giảng dạy địa lí

Trang 31

1.2.4.2 Đối tượng khảo sát

+ GV tiểu học: 12 giáo viên

+ HS tiểu học: 120 em

1.2.4.3 Nội dung khảo sát

Trong phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài chúng tôi tiến hành điều tra trên một số chỉ tiêu cơ bản sau đây:

1.2.4.4 Các phương pháp điều tra khảo sát

- Điều tra bằng Ankét

- Quan sát tiến trình dạy học trên lớp của GV

- Dự giờ dạy mẫu của Gv trong phân môn Địa lí

- Tham khảo giáo án

1.2.4.5 Phân tích kết quả

Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng TBDH trong giảng dạy phân môn Địa lí

Trang 32

Bảng 1: Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng TBDH trong

giảng dạy phân môn Địa lí

gia khảo sát

Ý kiến tán thành

Mức độ thường xuyên sử dụng TBDH trong giảng dạy địa lí của giáo viên tiểu học

Bảng 2: Mức độ thường xuyên sử dụng TBDH trong giảng dạy địa lí của

GV có sử dụng nhưng không thường xuyên Tuy nhiên, có 33,3% số GV không

sử dụng TBDH trong quá trình giảng dạy phân môn Địa lí

Nhận thức của GV về hiệu quả của việc sử dụng TBDH trong quá trình giảng dạy phân môn Địa lí ở tiểu học

Trang 33

Bảng 3: Nhận thức của GV về hiệu quả của việc sử dụng TBDH trong quá

trình giảng dạy phân môn Địa lí ở tiểu học

Kết quả điều tra cho thấy: Có 50% GV cho rằng “hiệu quả cao”, 33,3%

GV cho rằng “bình thường” và có 16,7% GV cho rằng “hiệu quả không cao”

Kết quả trên đây, đã phần nào phản ánh thực trạng sử dụng TBDH của

GV tiểu học trong quá trình giảng dạy phân môn Địa lí Thực tế cho thấy, một số

GV không thấy được tầm quan trọng của TBDH trong quá trình giảng dạy nên việc sử dụng TBDH còn hạn chế Một số GV mặc dù nhận thức đúng vai trò của TBDH nhưng do chưa nắm vững cách thức quy trình nên khi sử dụng TBDH hiệu quả chưa cao

Chất lượng học tập phân môn Địa lí lớp 4, lớp 5 trường Tiểu học Gia Phù – Phù Yên – Sơn La

Bảng 4: Kết quả học tập của HS trong quá trình giảng dạy phân môn

Trang 34

Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy những tiết dạy có sử dụng TBDH thì HS

có sự chuyển biến rõ nét, HS rất tích cực tham gia xây dựng bài, không còn e dè, ngại ngùng như trước, vì thế mà giờ học trở nên sôi nổi và học tập tích cực hơn Những giờ mà GV không sử dụng TBDH thì lớp học rất trầm, hay nói chuyện riêng, làm việc riêng thậm chí ngủ gật trong lớp

1.2.4.6 Đánh giá chung về thực trạng

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng trên có thể rút ra một số nhận xét sau: Hiện nay, nhà trường được cấp TBDH truyền thống phân môn Địa lí như: bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, quả địa cầu… và nhà trường đã được cấp TBDH hiện đại như: máy chiếu, máy vi tính…

Quá trình điều tra còn cho thấy, một số GV còn rất ngại sử dụng TBDH trong giờ học, sử dụng TBDH chỉ mang tính chất hình thức đối phó là chính

Thực tế cho thấy, nhiều GV do năng lực hạn chế, nên việc hướng dẫn HS

kĩ năng làm việc với TBDH còn gặp nhiều khó khăn, chưa biết cách tổ chức cho

HS thực hành trong quá trình dạy học Có tới 50% GV mặc dù nhận thức đúng vai trò của việc tổ chức trò chơi cho HS nhưng do chưa nắm vững cách thức quy trình nên tuy có tổ chức nhưng hiệu quả chưa cao giờ học còn ồn ào, HS chưa hứng thú với tiết học, ảnh hưởng đến tiến trình lên lớp Tuy nhiên có một số GV

sử dụng TBDH rất hiệu quả, chú ý đến việc khai thác tri thức bên trong của chúng trong quá trình dạy học phân môn Địa lí

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, nhưng chúng tôi chia thành

hai nguyên nhân chính: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân khách quan: Do điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị ở nhà

trường chưa đầy đủ, trong mỗi lớp học ở tiểu học tính trung bình chỉ có một đến hai bản đồ treo tường, một vài tranh ảnh treo tường và các lớp chung nhau một quả địa cầu Công tác quản lí chỉ đạo lãnh đạo của nhà trường còn chưa cao, chưa kiểm tra thường xuyên việc sử dụng các TBDH của GV

Nguyên nhân chủ quan: Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, vấn đề

chính dẫn đến hiệu quả thấp việc sử dụng TBDH trong dạy học phụ thuộc chủ yếu vào người GV (yếu tố chủ quan) Một thực tế là trong bất cứ trường hợp

Trang 35

nào, nếu người GV muốn sử dụng TBDH thì số thời gian bỏ ra phải lớn hơn nhiều, vất vả hơn nhiều so với dạy không sử dụng TBDH Vấn đề ngại khó và ngại tốn kém thời gian là vấn đề khá phổ biến hiện nay Một lí do khác rất quan trọng là, những GV có ý thức sử dụng TBDH trong giờ học nhưng lại không biết cách tổ chức cho HS làm việc với TBDH như thế nào cho hiệu quả

Với cách tổ chức giờ học và cách sử dụng TBDH hiện nay, hoạt động của

HS trong giờ học trên lớp là nghe giảng, quan sát, ghi nhớ và tái hiện thông tin

đã được GV truyền đạt Học sinh tự khám phá tri thức bài học từ TBDH tự làm chủ nhận thức của bản thân Một số HS chưa khai thác được nội dung kiến thức tiềm ẩn trong TBDH, chưa phát huy được tính tích cực nhận thức trong quá trình học tập, chưa phát huy đươc tư duy, mối quan hệ giữa người học và các TBDH chỉ mang tính chất hình thức bên ngoài Điều đó cho thấy, HS chưa tiếp cận được với bản chất đối tượng nghiên cứu, chưa nắm được khái niệm một cách đầy đủ, chính xác Do đó, chưa nâng cao được chất lượng dạy học, đặc biệt là kết quả nhận thức của HS

Nhận thức được xu thế đổi mới phương pháp dạy học, việc sử dụng ngày càng nhiều phương tiện dạy học kĩ thuật hiện đại nên công tác bồi dưỡng giáo viên luôn được đề cao Bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp

vụ, thì GV hiện nay còn được đào tạo để sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như máy vi tính, máy chiếu, soạn giáo án điện tử

Từ thực trạng sử dụng TBDH, cho thấy nhà trường cần phải sử dụng TBDH thường xuyên hơn, nắm được quy trình, biết cách khai thác nguồn thông tin trong TBDH

Trang 36

hội tri thức một cách cụ thể, chính xác, phát triển năng lực tư duy, kĩ năng tìm tòi khám phá, vận dụng tri thức Đồng thời, giúp GV tổ chức, điều khiển quá trình nhận thức cho HS một cách chủ động đạt hiệu quả

Hiệu quả dạy học chỉ có thể đạt được khi HS là chủ thể tích cực của quá trình nhận thức Bằng hoạt động tự lực của mình, HS chiếm lĩnh tri thức khoa học, tham gia tích cực vào quá trình học tập Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng hiệu quả TBDH cần phải hướng đến việc phát huy tính tích cực nhận thức của

HS, cần tăng cường triển khai các phương pháp dạy học mới một cách sâu rộng, đồng bộ

Về kết quả nghiên cứu thực trạng cho chúng ta thấy rằng, TBDH địa lí hiện nay ở nhà trường còn thiếu, nhất là TBDH hiện đại Các thầy cô đều nhận thức tầm quan trọng của TBDH trong quá trình dạy học nhưng chưa biết rõ mục đích của TBDH cũng như cách sử dụng chúng như thế nào cho đạt hiệu quả Số

GV được hỏi đều trả lời cần phải bồi dưỡng thêm kĩ năng sử dụng TBDH Để nâng cao chất lượng học tập phân môn Địa lí, việc nghiên cứu sử dụng TBDH trong quá trình giảng dạy phân môn này hết sức cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng

Trang 37

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MỘT

SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

2.1 Nguyên tắc sử dụng thiết bị dạy học

Để nâng cao hiệu quả khi sử dụng TBDH địa lí, người giáo viên cần chú ý một số nguyên tắc sau:

+ Phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung, hình thức của bài học để lựa chọn TBDH cho phù hợp, tránh quá tải về thiết bị cho một giờ học

+ Phải có phương pháp sử dụng thích hợp đối với mỗi loại TBDH

+ Phải sử dụng các thiết bị như là một nguồn cung cấp kiến thức chứ không chỉ dùng minh họa cho bài giảng

+ Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các TBDH địa lí

+ Phải đúng lúc, đúng chỗ, phải đưa vào lúc cần thiết, thời điểm lựa chọn lúc HS mong muốn nhất, khi mà GV đã dẫn dắt, nêu vấn đề, gợi ý để buộc học sinh phải quan sát, nghiên cứu để tìm ra được kiến thức nội dung, bài học

+ Phải theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS Điều này yêu cầu GV phải tổ chức, hướng dẫn HS tự khai thác tri thức có trong thiết bị Luôn đề cao vai trò hoạt động chủ động, tích cực của HS, luôn tạo điều kiện tối đa cho học sinh tự làm việc với TBDH để khám phá, tìm tòi tri thức cần thiết

+ Phải đảm bảo tính vừa sức của HS, trong quá trình GV tổ chức cho HS khai thác tri thức trên thiết bị, GV không nên đặt câu hỏi quá dễ hoặc quá khó

Vì câu hỏi quá dễ thì không phát huy được tư duy HS, HS không suy nghĩ vẫn trả lời được dẫn đến HS chủ quan Nếu câu hỏi quá khó, HS không trả lời được cũng dẫn đến chán nản Do đó, khi chuẩn bị kế hoạch bài học GV cần lựa chọn, cân nhắc đặt câu hỏi để HS trên cơ sở, nhận thức của mình, nắm được tri thức, phát triển được năng lực trí tuệ

Trước khi sử dụng cần giải thích cho HS hiểu: Sử dụng thiết bị này nhằm mục đích gì? Chúng ta cần tìm những nội dung gì trong đó? Cách quan sát, sử dụng thiết bị như thế nào?

Trang 38

Đảm bảo cho HS trên lớp đều được quan sát sự vật, hiện tượng địa lí được thể hiện trên TBDH một cách rõ ràng, đầy đủ Đặc biệt, cần chú ý tới vấn đề nhận thức, giáo dục thẩm mỹ cho HS

Khi sử dụng TBDH làm thế nào để bảo đảm được sự kết hợp giữa chúng

và các phương pháp dạy học Ví dụ như, kết hợp với phương pháp sử dụng số liệu thống kê (sử dụng bảng, biểu đồ…) hoặc các phương pháp dùng lời (mô tả, diễn giảng, trình bày theo vấn đề…) v v

Sử dụng thiết bị khi dạy học cần quan tâm đến số lần sử dụng thiết bị trong một tiết dạy, sử dụng quá nhiều sẽ làm rối và thậm chí loãng những kiến thức cần tập trung Nhưng nếu quá ít thì giờ học không gây được sự say mê, hứng thú cho HS

2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học

2.2.1 Sử dụng bản đồ địa lí

2.2.1.1 Khái niệm

“Bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ toàn bộ Trái Đất hoặc một bộ phận của

bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin về địa lí”[9]

Dựa trên những đặc điểm của bản đồ K.A.Xalishev đã định nghĩa bản đồ địa lí như sau: “Bản đồ địa lí là những biểu hiện thu nhỏ, được quy định về mặt toán học, có tính chất hình ảnh – kí hiệu và được tổng quát hóa bề mặt trái đất ở trên mặt phẳng Những biểu hiện này trình bày sự phân bố tình trạng và những mối liên hệ của những hiện tượng và xã hội khác nhau đã được lựa chọn và nêu đặc trưng phù hợp với mục đích của mỗi bản đồ cụ thể”

Bản đồ được sử dụng ở tiểu học gồm hai loại chính: bản đồ giáo khoa treo tường và bản đồ, lược đồ trong SGK

- Bản đồ giáo khoa treo tường có đặc điểm kích thước lớn: 109cm x 150cm, 84cm x 116cm, 79cm x 150cm Được in trên giấy couche Hàn Quốc hoặc tương đương, định lượng 200g/ m², cán màng OPP mờ, có nẹp nhựa ở trên

và ở dưới, rộng 13mm, dày 6mm và 2 tai treo bằng nhựa

Trang 39

Một số bản đồ treo tường hiện đang được sử dụng trong nhà trường tiểu học như: bản đồ tự nhiên thế giới, bản đồ các nước trên thế giới, bản đồ trống Việt Nam, bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam, bản đồ hành chính Việt Nam, bản đồ kinh tế Việt Nam (hệ thống giao thông, công nghiệp, nông-lâm-thủy sản)

- Bản đồ (lược đồ) trong SGK chiếm một tỉ lệ lớn kênh hình trong SGK Địa lí lớp 4, lớp 5

Lớp 4, nội dung lược đồ chủ yếu thể hiện vị trí, giới hạn và đặc điểm của

sự vật hiện tượng địa lí như sông, núi, khoáng sản… của các vùng miền khác nhau trên đất nước (dựa theo sự phân chia dạng địa hình) Cụ thể, gồm các lược

đồ sau: lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ, lược đồ các cao nguyên ở Tây Nguyên, lược đồ một số cây trồng và vật nuôi chính ở Tây Nguyên, lược đồ các sông chính ở Tây Nguyên, lược đồ khu trung tâm thành phố Đà Lạt, lược đồ đồng bằng Bắc Bộ, lược đồ thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, lược đồ tự nhiên Đông Nam Bộ, lược đồ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, lược

đồ dải đồng bằng duyên hải miền Trung, lược đồ đầm - phá ở Thừa Thiên - Huế, lược đồ thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng, lược đồ Biển Đông - các đảo và quần đảo nước ta

Lớp 5, lược đồ được sử dụng với số lượng rất lớn Chúng ta có thể chia thành 2 loại lớn là: lược đồ tự nhiên và lược đồ kinh tế - xã hội

- Trong phần địa lí Việt Nam:

+ Các lược đồ tự nhiên gồm có: lược đồ Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á, lược đồ địa hình, khoáng sản, khí hậu, sông ngòi, lược đồ khu vực Biển Đông, lược đồ phân bố rừng

+ Các lược đồ kinh tế - xã hội gồm có: lược đồ mật độ dân số, lược đồ nông nghiệp, lược đồ công nghiệp, lược đồ giao thông vận tải

- Trong phần địa lí thế giới gồm có các lược đồ sau:

Lược đồ các châu lục và đại dương, lược đồ các khu vực châu Á, lược đồ một số nước châu Âu, lược đồ tự nhiên châu Âu, lược đồ tự nhiên châu Phi, lược

đồ tự nhiên châu Mĩ, lược đồ tự nhiên châu Đại Dương, lược đồ châu Nam Cực

và lược đồ kinh tế một số nước châu Á

Trang 40

Và khi nhắc đến bản đồ, không thể không nhắc đến các tập Átlat địa lí Hiện nay, chưa có tập Átlat được xây dựng dùng cho riêng tiểu học, tuy nhiên trong quá trình dạy học GV có thể tham khảo thêm tập Átlat địa lí Việt Nam

2.2.1.2 Vai trò của bản đồ trong dạy học Địa lí ở Tiểu học

Bản đồ là phương tiện trực quan, là nguồn tri thức địa lí rất quan trọng Qua bản đồ, HS có thể nhìn bao quát những khu vực trong một lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt trái đất mà HS chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát

- Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mối quan hệ của nhiều đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể, mà không một phương tiện nào khác có thể làm được Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung đã được mã hóa, trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt - ngôn ngữ bản đồ

- Về mặt phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan, giúp cho HS khai thác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình học Địa lí

Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, trước hết HS phải hiểu bản

đồ, đọc được bản đồ, nghĩa là phải nắm được những kiến thức về bản đồ, trên cơ

sở đó có được những kĩ năng làm việc với bản đồ Vì vậy, việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong học tập Địa lí cho HS là một nhiệm vụ quan trọng đối với GV tiểu học

Ở tiểu học, yêu cầu về kiến thức và kĩ năng địa lí chưa đòi hỏi HS phải học

về hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến hoặc thực hành đo, thực hành tính… Mặt khác,

HS tiểu học có một số đặc điểm tâm lí như: tri giác còn mang tính đại thể, chú ý không chủ định… Do đó, lược đồ được sử dụng nhiều hơn trong quá trình dạy học

2.2.1.3 Biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh

Trong chương trình Địa lí ở tiểu học, ngoài một số bài học về bản đồ ở đầu SGK Lịch sử và Địa lí 4 không có bài học nào dành riêng cho việc rèn luyện

kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS Vì vậy, trong dạy học GV cần phải biết kết hợp chặt chẽ giữa việc giúp HS tìm tòi, lĩnh hội kiến thức với việc hình thành, phát triển kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS qua từng bài học

Ngày đăng: 07/09/2016, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD – ĐT, Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí 4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Bộ GD – ĐT, Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 5
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Bộ GD – ĐT, Sách giáo viên Lịch sử và Địa lí 4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Bộ GD – ĐT, Sách giáo viên Lịch sử và Địa lí 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 5
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Lâm Quang Dốc, Sử dụng bản đồ, NXB Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Nguyễn Anh Dũng (chủ biên), Nguyễn Tuyết Nga, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Sen, Lịch sử và Địa lí 4, NXB Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Anh Dũng (chủ biên), Nguyễn Hữu Chí, Trần Viết Lựu, NguyễN Tuyết Nga, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Sen, Lịch sử và Địa lí 5, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 5
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, Lí luận dạy học Địa lí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Địa lí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Nguyễn Dược – Trung Hải, Sổ tay thuật ngữ Địa lí, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thuật ngữ Địa lí
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn, Tâm lí học, NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Phó Đức Hòa, Giáo dục học tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
12. Bùi Văn Huệ, Tâm lí học tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 1995. 13. Luật Giáo Dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
14. Nguyễn Tuyết Nga, Phạm Thị Sen, Dạy học Địa lí ở tiểu học, NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Địa lí ở tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Nguyễn Trọng Phúc, Sử dụng bản đồ và phương tiện kĩ thuật trong dạy học Địa lí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ và phương tiện kĩ thuật trong dạy học Địa lí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Tập thể tác giả (2006), Đổi mới PP dạy học ở tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PP dạy học ở tiểu học
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Đức Vũ, Phạm Thị Sen, Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở trung học phổ thông, NXB Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở trung học phổ thông
Nhà XB: NXB Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng TBDH trong - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Bảng 1 Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng TBDH trong (Trang 32)
Bảng 4: Kết quả học tập của HS trong quá trình giảng dạy phân môn - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Bảng 4 Kết quả học tập của HS trong quá trình giảng dạy phân môn (Trang 33)
Hình 2.1 - Lược đồ địa hình Việt Nam - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.1 Lược đồ địa hình Việt Nam (Trang 42)
Hình cánh cung  Sông Gâm,………………………………... - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình c ánh cung Sông Gâm,……………………………… (Trang 43)
Hình 2.2 – Lược đồ trống tự nhiên Việt Nam - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.2 – Lược đồ trống tự nhiên Việt Nam (Trang 45)
Hình 2.3 - Lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.3 Lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ (Trang 48)
Hình 2.4 - Nhà sàn ở Hoàng Liên Sơn - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.4 Nhà sàn ở Hoàng Liên Sơn (Trang 53)
Bảng số liệu về diện tích và dân số các châu lục - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Bảng s ố liệu về diện tích và dân số các châu lục (Trang 58)
Hình 2.5 - Biểu đồ dân số Việt nam qua các năm - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.5 Biểu đồ dân số Việt nam qua các năm (Trang 61)
Hình 2.6 – Biểu đồ khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo loại hình vận tải - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.6 – Biểu đồ khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo loại hình vận tải (Trang 66)
Hình 2.7 - Bản đồ khoáng sản Việt Nam trên phần mềm Db – Map - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình 2.7 Bản đồ khoáng sản Việt Nam trên phần mềm Db – Map (Trang 68)
Bảng 3.1: Bảng thống kê số lượng học sinh thực nghiệm và đối chứng - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Bảng 3.1 Bảng thống kê số lượng học sinh thực nghiệm và đối chứng (Trang 73)
Bảng 3.3: Bảng kết quả điểm thực nghiệm lớp - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Bảng 3.3 Bảng kết quả điểm thực nghiệm lớp (Trang 75)
Bảng 3.5: Bảng thể hiện chất lượng điểm của lớp - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Bảng 3.5 Bảng thể hiện chất lượng điểm của lớp (Trang 76)
Hình của ĐB Bắc Bộ và ĐB Nam Bộ. - Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học
Hình c ủa ĐB Bắc Bộ và ĐB Nam Bộ (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w