1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)

515 655 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 515
Dung lượng 11,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)

Trang 1

§¹i häc quèc gia hµ néi

Tr−êng §¹i häc Khoa häc tù nhiªn

A Lerman, D.Imboden, J Gat

C¸c qu¸ tr×nh vËt lý

vµ ho¸ häc cña hå

Biªn dÞch:

NguyÔn Thanh S¬n Ng« ChÝ TuÊn

NguyÔn §øc H¹nh

Hµ Néi – 2005

Trang 4

cầu hân bố hồ

guồn gốc sông

ủa những hồ miệng núi lửa

bố của hệ thống hồ trên toàn cầu

ủ yếu và sự phân bố theo địa chất của hồ toàn cầu uận

1.2 Vật chất nền và các cách tiếp cận tới nghiên cứu số lượng hồ trên toàn 9

1.4 Sự phân bố hồ theo nguồn gốc kiến tạo

1.5 Hồ

19

2.2 Sự tương tác của các hồ với nước mặt 662.3 Sự tương tác của các hồ với nước sát mặt 69

Chương 3 Phản ứng thuỷ - nhiệt học của hồ tới khí hậu - sự mô tả và

3.6 Sử dụng mô hình để kết nối các hồ với sự thay đổi 122

Trang 5

Tài liệu tham khảo 132

: Sự thành tạo nhân tạo của độ axít m: các độ trung hoà

7.3 Sự axít hoá các hệ sinh thái đất và nước 311

144

4.5 Các dòng năng lượng: những lực gây nên quá trình vận chuyển và 157

4.7 Sự xáo trộn và những liên quan của nó đến sinh 211

6.9 Vai trò của sự trao đổi giữa không khí và nước trong cân bằn

Trang 6

7.4 Các axít Bronsted và Lewis: sự ác kim loại nặng, ảnh hưởng

a axít tới hệ sinh thái ở các lưu vực sông

.2 Chu trình sinh địa hoá chính và các đường dẫn 3

.4 Mặt tiếp xúc giữa trầm tích và nước 3.5 Con đường phản ứng ôxi hoá khử trực tiếp: Những trường hợp nghiên cứu 363.6 Những nghiên cứu cụ thể về con đường dẫn đến phản ứng oxy hoá - khử

ián tiếp

379

hương 9 So sánh tính chất địa hoá của các hồ nước mặn có nguồn

0.8 Một số nghiên cứu về lịch sử hồ dựa trên tính chất địa hoá học của các

Trang 7

hồ Edward (H Stanley, 1857), và hồ Rudolf now Turkana (S Teleki và Von Hohnel, 1888) ở các lục địa khác, sự thám hiểm hồ đã được thực hiện rất sớm:

hồ Great Slave đã được S Hearne đặt tên vào năm 1771 và hồ Great Salt được

J Bridger và E Provost đặt tên vào năm 1824 (Bộ sách bách khoa của Anh 1962) ở Nam Mỹ, một số bản đồ đầu thế kỷ XIX đã mô tả một số hồ thần thoại rất lớn ở phía trên Branco, nhánh phụ sông Rio Negro bắt nguồn từ Guyana Shield ở châu á, tất cả các hồ lớn ở Trung á, chẳng hạn như là Issyk-

ticaca

u hết các hồ Patagonian phía

h

bố hồ

enck 1894), ngày nay đang được xem xét lại vì nhiều lý do Các hồ

yên nước sẵn có dễ dàng nhất (Soviet IHP

dụ v oàn cầu (Soviet IHP 1978) Trong các chu trình địa sinh

Kul và Hovsgol, đã được các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Nga biết tới trong một thời gian dài, trong khi biển Caspian và biển Aral đã được các nhà lịch sử

Hy Lạp mô tả Hồ Kivu (2370 km2) là hồ cuối cùng trong số các hồ chính được

"khám phá ra" bởi von Gotzen vào năm 1894 Sau đó, có thể nói rằng đã đạt

được hầu hết các các đoạn phát triển thám hiểm hồ, mặc dù một vài hồ quan trọng vẫn được mô tả gần đây hơn, như hồ núi lửa Wisdom (95km2) ở New Guinea (Ball và Glucksman 1978) Thế kỷ XX được xem là sự phát triển của khoa học nghiên cứu về hồ ở tất cả các lục địa, và nhiều chuyên khảo có thể

được tìm thấy hầu hết các hồ chính của hành tinh, ví dụ, cho hồ Tanganyika (Coulter 1991), hồ Chad (Carmouze và những người khác, 1983), hồ Issyk-Kul

và Mainguet 1993), và hồ Ti(Romanovsky 1990), biển Aral (Létolle

(Dejoux và Iltis 1992)

Cho dù có những sự tiến bộ chính trong kiến thức khoa học của chúng ta về các

hồ, tuy nhiên, vẫn còn một số thiếu sót với hầ

nam, các hồ Tibetan và các hồ trên đồng bằng châu thổ Amazon ở chân dãy núi Andes

Trong suốt thập kỷ qua, khoa học trái đất và sinh học đã mở ra một viễn cảntoàn cầu trong chương trình địa - sinh quyển quốc tế toàn cầu Sự phân

trên toàn cầu (số lượng, diện tích, và thể tích), chỉ hấp dẫn các nhà địa lý 100 năm trước (P

là một trong những nguồn tài ngu

1978) Các hồ, và các khối nước nông khác gọi là đầm lầy, bao phủ hàng triệu

km2 diện tích lục địa và là thành phần thiết yếu của cân bằng nước khu vực (ví ùng Trung á) và t

Trang 8

hoá, các hồ bây giờ được xem như những kẻ điều chỉnh chính trong các chu

ết chặt chẽ với sự phân bố, nguồn gốc, và tuổi

để hiểu sự phát triển địa lý trong quá khứ như là các khe nứt mở (Tiercelin và Mondeguer 1991) Các hồ đã luôn luôn được ác nhà sinh học nghiên cứu rộng rãi, và hầu hết các sách nghiên cứu về hồ đã được họ công bố, chẳng hạn như

chuyên luận nghiên cứu về hồ (Treatise of Limnology) của Hutchinson (1957),

vẫn là một sách tham khảo quan trọng cho nhiều vấn đề nghiên cứu về hồ kể cả các vấn đề không thuộc lĩnh vực sinh học Trong những năm gần đây, mối quan tâm mới của các nhà sinh học là nghiên cứu về loài sinh vật đặc hữu của

hồ ở quy mô toàn cầu được liên k

của hồ Cuối cùng, những sự điều tra số lượng hồ là cần thiết ngay

chắc chắn được xem như các nguồn tài nguyên nước đang bị nguy hiểm bởi các hoạt động con người cần được bảo vệ và

Những điều tra về số lượng hồ gần đây bắt đầu t

sau đó ở Scandinavia, Bắc Mỹ, và bây giờ nằm là trong tiến trình ở nhiều khu vực ở châu Âu (EEA 1994) Tuy nhiên, rất ít tác giả xem xét bài toán này trên một quy mô toàn cầu Hutchinson (1957) và Fairbridge (1968) vẫn trích dẫn Penck (1894) dưới luận điểm này Sự cố gắng về một điều tra số lượng toàn cầu gần đây nhất là của Tamrazyan (1974), mà thực sự là một sự ngoại suy của

điều tra số lượng các hồ chung của Liên Xô Điều tra số lượng hồ toàn diện duy nhất trên quy mô toàn cầu là công trình của Herdendorf (1982, 1984, 1990), gồm các hồ lớn, tức là các hồ rộng hơn 500 km2 tất cả là 253 hồ Tamrazyan đã

đánh giá rằng toàn bộ số lượng hồ đã lên tới con số nhiều triệu

Mục đích chính của mục này là để:

Trang 9

đập ự n ước và các hồ chứa nhân tạo Một số quản lý môi trường

ã thiết đặt ột ạn tích ấp h ên ứu số hồ,

ậc 1000 m3 a t; etzel,) Đây là một định nghĩa có thể có hiệu lực

ản hồ nhi iển l và Cas ở ược xem như à

ương thế g th g

liệ đã sử dụng:

) nghiên c về ượng các hồ lớn trên t ầu er ndorf

n iên u về ợng địa phương hay khu vực bao gồm các hồ nhỏ

à các hồ có A0 < 10 km2), và

c sổ sá về tà ng cứu ồ

ài liệu của e rf c x ản cá g ác nh o năm

à 1 0, đã b o gồm ột tập p đầy ủ tất c các hồ có diện t h hơn 500 km2 (được định nghĩa là "các hồ lớn") đưa ra vị trí chính xác của , nguồ gố iện th và c độ uối, l thô

n này cũng s b c

ích thư c lớ như hồ Eyre ở miền trung Australia, hay Tonle Sap (Grand

avvaitova và Petr 1992), tây nam của biển Aral,

ral và Caspian được sử dụng ở đây là các

yan evich và Artemyev (1985) Nó liên quan tới tất cả các hồ,

lầ tự iên là c hồ m được t thấy rong n ững vị trí lõm x ng

đang dần mất đi Diện tích các biển A

giá trị mà Herdendorf đưa ra là giá trị từ thập niên 1950 trước khi diễn ra các hoạt động chủ yếu của con người

Các nghiên cứu số lượng địa phương và khu vực đã được thống kê từ nhiều nguồn khác nhau, thông qua sự truyền đạt của các báo cáo cá nhân và chính quyền Nghiên cứu số lượng được mở rộng và hoàn chỉnh nhất là nghiên cứu cho toàn bộ vùng lãnh thổ của Liên Xô cũ (22.3 triệu km2) của Domanitsky

và những người khác (1971), được đề xuất bởi Nezhikhovsky (1973) Tamraz

Trang 10

(4) USSR (3) d

(5)

13500 b

1650 106 7.6 0.54 0.18 L

7

4 5775 n

a Những số nhỏ trong ngoặc đơn sau các nước: (1) Bao gồm Alaska, trừ các hồ Superior, Huron,

Erie, và Ontario được tính là ở Canada, ngoại suy từ Van der Leeden và những người khác (1989); (2) Na uy, Thuỵ Điển, Phần Lan (EEA 1994); Thorneloff, sự truyền đạt cá nhân); (3) Caspian không được tính; từ Domanitskiy và những người khác (1970) và Nezhikhovskiy (1973); (4) cho tổng diện tích hồ > 0.1 km 2 ; (5) diện tích biển Aral được ước tính là 68000 km 2 ;

(6) với các hồ lớn Laurentian, trừ hồ Michigan, được ước tính từ Gilliland và những người khác

(1973) và Herdendorf (1984); (7) Shuncai (1988); (8) Anonymous (1990a); (9) IARH (1992)

b Các giá trị ước tính.

thay đổi trong phạm vi từ Caspian (374000 km2) tới các hồ rộng cỡ 0.1 km2,

mặc dù xảy ra một số sự nhầm lẫn cho các hồ rộng hơn 100 km2 ở hai trích dẫn

bởi người Nga

Bảng 1 2 Mật độ hồ theo các diện tích khác nhau

Trang 11

Lớp diện tích hồ (km ), đất nước

(diện tích, triệu km 2 )

0.1 1 10 10 10 10 10 Tổng diện

tích hồ (km 2 )

Tỉ lệ hồ nước ngọt (%) Great Britain (1)

a Các số nhỏ trong ngoặc đơn theo sau các nước: (1) Được tính toán lại từ Burgis và Morris

(1987); gồm cả Scotland bị phủ băng; (2) các nước không có băng phủ: Moldavia, Georgia, và

io),

ị với các biên đơn giản (1 – 1- 100 km2, …)

Nam Tư cũ từ EEA (1994); Pháp không có hồ Geneva, xem bên dưới; Hungary, được tính toán

lại từ Szesztay (1966); (3) được tính toán lại từ Williams (1964); (4) công việc này dựa trên

Delebecque (1898), gồm cả các dãy Alps và Pyrenees băng bao phủ (hồ Geneva không được tính);

(5) tất cả các bang, trừ Florida, Louisiana, Alaska, và các bang bị băng bao phủ, được tính từ

Van der Leeden và những người khác (1989); (6) Diện tích các hồ theo thực nghiệm (Ontar

Cleugh và Hauser (1971); (7) được tính toán từ Van der Leeden và những người khác (1989); (8)

được tính toán từ Nikitin (1977) được nêu ra bởi Savvaitova và Petr (1992); (9) được tính toán

từ Kurata (1990); (10) được tính toán từ Giesen (1994) và Nontji (1994); (11) Egorov (1993); (12)

Jin Xiangcan và những người khác (1990)

b

Các giá trị ước tính

Một nguồn thông tin khác là các chuyên khảo nghiên cứu về hồ trên của một

nước nào đó chẳng hạn như ở Anh (Burgis và Morris 1987), Pháp (Delebecque

1898), bang Victoria ở Australia (Williams 1964), Nhật Bản (Kurata 1990), và

ở phía ngoài Mongolia (Egorov 1993) Trong những trường hợp này sự phân bố

hồ không phải luôn luôn được biểu th

Trang 12

hoặc trong các đơn vị theo hệ mét, và phải được thiết lập lại ở đây Một ví dụ gần đây của nguồn này được biểu thị trong bảng 1.2 cho Indonesia từ Nontji (1994) và Giesen (1994); tuy nhiên, điều này không được lấy vào trong tính toán trong các khu vực dữ liệu đã liệt kê trong bảng 1.1

Điều tra số lượng các hồ của Herdenforf có thể được sử dụng để kiểm tra chéo những số liệu này Những kết quả đã đề xuất trong bảng 1.1 là sự tổng hợp của tất cả các nguồn này Với các hồ nhỏ hơn (A0 < 1 km2), các nguồn từ Liên

về các hồ ở Trung á của Liên Xô cũ đã được thiết lập, dựa trên s

Nikitin (1977) được nêu ra bởi Savvaitova và Petr (1992), trên một vùng lãnh thổ rộng 2.2 2

Trung Quốc ở Shuncai (1988) với số liệu của tất cả các hồ nhỏ hơn hoặc bằng 1

km2 Chính quyền ấn Độ (Anonymous 1990) cũng đã làm một điều tra chi tiết

số lượng tất cả các hồ và hồ chứa nhân tạo tới 1 km Một điều tra mới của châu

Âu (EEA 1994) cũng cung cấp một số thông tin điều tra số lượng rất quý báu cho 12 nước ở phía tây và phía đông châu Âu, gồm có Norway, Phần Lan, Yugoslavia, Georgia,…

Với Canada, chúng ta đưa vào tính toán sự phân bố được biểu thị bởi Gilliand (1973) cho các hồ rộng hơn 100 km2, và bởi Hammer (1988) với các hồ Saskatchewan rộng hơn 10 km2 Một sự tính toán rất chi tiết của các hồ nhỏ

sở dữ liệu này

Mặc dù không được chỉ rõ, nói chung hầu hết các điều tra số lượng này vẫn

được lấy từ những bản đồ đo đạc và thiếu hấp dẫn Sử dụng cảm ứng từ xa, và

đặc biệt là ảnh vệ tinh, ngày nay được áp dụng ở châu thổ sông Amazon, và sự phân bố vì thế cũng được Sippel và những người khác (1993).tính toán lại Loại thứ 3 của cơ sở tài liệu là những sự công bố nghiên cứu về hồ nói chung, trong đó có thể tìm thấy nhiều sự mô tả hồ Tập hợp hữu ích nhất được công bố bởi Uỷ ban Môi trường hồ Quốc tế (ILEC – International Lake Enviroment Committee, đặt ở Otsu, Nhật Bản, nơi đã xuất bản 4 bản danh sách các hồ trên thế giới cùng các kích thước (ILEC 1988, 1989, 1990, 1991) Báo cáo UNESCO

về cân bằng nước của các hồ và các hồ chứa nhân tạo (UNESCO 1974) cùng với những sự công bố của Hutchinson (1957), Lerman (1974), Lerman và Hull (1987), cân bằng nước thế giới (Soviet IHP 1978), Bách khoa về địa mạo (Fairbridge 1968), và hội nghị chuyên đề riêng mà đã được IAHS tổ chức (1973) cũng là một nguồn dữ liệu quý báu,

Trang 13

Số liệu cơ sở được sử dụng ở đây, bao gồm sự ngoại suy, được tiến hành cho các

hồ nhỏ hơn, được thảo luận trong mục 1.3 và được biểu thị trong bảng 1.1 cho các khu vực được mở rộng (Liên Xô cũ, Canada, Trung Quốc, Mỹ, ấn Độ,

áchentina và Scandinavia), và trong bảng 1.2 cho các số lượng điều tra địa phương Sự phân bố của diện tích hồ lục địa sử dụng ở đây được lấy từ

ở đây sử dụng 3 loại tiếp cận độc lập:

ellaneous, nguồn gốc các hồ,

ủa các điều tra số lượng khu vực đã biết được liệt kê trong

0 km2… Một sự xem xét rất cẩn thận của các hồ nhỏ hơn đã được làm, bởi

thành từ những vận động ộng núi lửa, và các nguồn gốc khác được biết đến chỉ cho

c hồ có nguồn gốc sông (loại 49-59)

đó ngoại suy cho các kích thước hồ nhỏ hơn trên cơ sở của

hân bố hồ trong 5 đới khí hậu: băng giá, ôn đới, khô hạn và hoang mạc, nhiệt đới ẩm, và sa mạc Các đới này

Baumgartner và Reichel (1975) Toàn bộ diện tích lục địa không bị phủ băng

được ước lượng là bằng 133 triệu km2 (Greenland và Antarctica được loại trừ)

1.2.2 Các cách tiếp cận tới điều tra số lượng hồ trên toàn cầu

(1) cách tiếp cận loại hồ dựa trên misc

vì vô số các hồ nhỏ có thể tính toán nhiều như một vài hồ lớn Nhờ có điều tra của Herdendorf, ba loại hồ đầu tiên hoàn toàn được biết ở quy mô toàn cầu và luôn luôn được sử dụng như thông tin đúng đắn trong ba cách tiếp cận

Cách tiếp cận thứ nhất bao gồm các đánh giá toàn cầu của sự phân bố hồ cho các loại hồ khác nhau Hutchinson (1957) đã liệt kê 76 nguồn gốc hồ khác nhau, một số trong chúng khó phân biệt như hồ hình

kiến tạo hay từ hoạt đ

mẫu hận chế Do đó, những nguồn gốc này đã được nhóm vào: các hồ kẽ nứt (loại 9 của Hutchinson), tất cả các hồ kiến tạo khác (loại 1-8), tất cả các hồ có nguồn gốc băng hà (loại 23-42), các lagoon (phá) ven biển (loại 64 và 65), các hồ miệng núi lửa (loại 10-14, 16), và tất cả cá

Còn lại được nhóm vào một loại hỗn hợp mà bao gồm, giữa các loại khác, các hồ

lở đất (loại 20-22), các hồ kiểu đập khác (loại 18, 19, 69-72) Các hồ hoà tan (các loại 43-47), các hồ bào mòn (các loại 60-63), … Các hồ nhân tạo (các loại 73 và

74 của Hutchinson) không được xem xét ở đây ở đây sáu sự phân bố riêng

được đánh giá bắt đầu với các hồ lớn hơn dựa trên điều tra số lượng của Herdendorf, sau

thông tin khác được thu thập

Các tiếp cận ngoại suy cần thiết chỉ cho xấp xỉ 75 triệu km2 diện tích lục địa không bị băng phủ, một nửa trong đó là hoang mạc và bán hoang mạc, bởi vì những điều tra số lượng đáng tin cậy sẵn có hiện thời là có 58 triệu km2 (bảng 1.1) Cách tiếp cận khí hậu được dựa trên sự p

Trang 14

được xuất phát từ một xê ri bản đồ toàn cầu gồm 14 đới dựa trên nhiệt độ không khí trung bình và dòng chảy nước mặt sử dụng trong tính toán các kho

ước sông theo các đại dương (Meybeck 1979, 1988) Cách tiếp cận này được

c hồ với các cửa sông kết

ối với các đại dương và các hồ khác, hoặc không có các cửa ra như Biển Chết

tới những hồ nhỏ hơn bên cạnh theo tỉ lệ loga Sự biến đổi mật độ

(bảng 1.1) và giữa

ày tổng diện tích hồ giảm từ hồ lớn tới những hồ nhỏ hơn

Điều này được quan sát đặc biệt là vào mùa khô và ở những nước bán khô hạn

ật Bản, ấn Độ, Nam âu (bảng 1.1 và 1.2, hình 1.1), nơi có

n

thích ứng riêng để cung cấp thông tin cho những thay đổi có thể trong sự phân

bố hồ do ảnh hưởng những thay đổi khí hậu toàn cầu

Cuối cùng, một sự phân biệt đã được tiến hành giữa cá

Mật độ hồ (dL) là số hồ tìm thấy trong một vùng xác định, loại kích thước hồ

được quyết định bởi tổng diện tích điều tra Bậc này được thừa nhận bởi sự so sánh giữa các lần đo, mật độ hồ được biểu hiện bằng số hồ trên 1000 km2 Nó thay đổi từ dưới 0.01 với những hồ vượt quá 100000 km2 tìm thấy trên lục địa (Caspian chỉ là một điển hình) tới hơn 1000 km2 cho những hồ trong lớp 0.01 – 0.1 km2 ở những vị trí băng thay đổi Mật độ các hồ được ghi ở bảng 1.1 và bảng 1.2

Mỗi sự điều tra có thể dự đoán được tương đối giữa mật độ hồ và kích thước hồ (Hình 1.1) Điều đáng chú ý đặc biệt nhất là sự tăng mật độ từ các hồ lớn tới các hồ nhỏ, như ở Trung Quốc, Scandinavi hoặc ấn Độ Mật độ hồ tăng gần 10 lần từ hồ lớn

hồ này không còn là điều mới mẻ, nó đã được phát hiện từ năm 1990 bởi Wetzel Mối quan hệ này được định nghĩa như sau:

Log(dL) = blog(A0) + a

trong đó: dL là mật độ hồ, A0 là kích thước hồ, b> -1 Tuy nhiên, nhìn vào giới hạn trên ta thấy độ dốc b có thể thay đổi từ lần điều tra này tới lần điều tra khác và ngay cả trong một lần nhất định

ở một số lần điều tra, b<-1 (từ -1,1 đến -1,6), điều này phù hợp với tổng diện tích tìm thấy ở một hồ kích thước lớn và tăng dần về phía hồ nhỏ hơn Nó được tìm thấy cho những hồ nằm giữa 1 – 10000 km2 ở Liên Xô cũ

2

10 – 10000 km cho những hồ ở Scandinavi Có thể kể thêm hàng nghìn hồ chứa nước như thế ở những vùng có các hồ rất nhỏ (diện tích< 0.01km2) (Hobbie 1980)

Trong nhiều trường hợp xu hướng đối ngược nhau được quan sát thấy khi –l <

b < 0 ở trường hợp n

như Trung Quốc, Nh

rất ít hoặc không có những hồ nguồn gốc băng

Trang 15

Hình 1.1 Sự phát triển của mật độ hồ (số hồ trên 1000 km 2 ) với lớp diện tích hồ từ 0.01 – 0.1 km 2 tới 10 5

– 10 6 Bên trái đánh giá cho toàn bộ vùng đất có băng tan (18000 km 2 ) và cho toàn bộ diện tích đất, loại trừ đỉnh băng (133000 km 2 ) Bên trái đánh giá những vùng từ những sự điều tra đ∙ biết Ghi tỉ lệ log Biển Caspia (374000 km 2 ) đếm được trong sự điểu tra của Liên Xô cũ

Có vài hồ tách ra khỏi xu hướng cân bằng này do dung tích vượt quá mức ở một

c n Một dẫn chứng ng cấp bởi sự đ a của Liên

là ng nơi diện tích hồ đạt 7000 km2 (lớp diện tích 1 – 10 km2) tới

km2 (lớp diện tích 1000 – 10000 km2), sau đó nhảy v ợt tới 133000 km2

km ong hồ M đ uy sự phân bố của Hoa

à các hồ Superior, Huron, Erie, Ontario được quy cho sự phân bố của riêng anada á n cậ làm g lê – 4 n tổn diện t h ước thấy ở lớp 1000 – 100000 km Khi những hồ lớn nhất này được phân bố trên

ất cả di lục hì c ng vượt diện tích mong đợi trong lớp này với một

Trang 16

Trong nh ều trường hợp, công bố điều tra không đưa ra tổng diện tích hồ trong

< -1, sự điều tra của lớp 0.1 – 1 km2 và

0 cũng được xem xét Nếu dữ liệu thiếu chúng sẽ đượ thuộc vào trạng thái phía trên Khi biết sự phân bố cho t iện

i lớp thì ta sẽ quyết định tỉ lệ vẽ thích hợp

ững vùng tan băng tuyết trong suốt thời kỳ băng tuyết xảy ra

115000 km2 (xem phần 1.5) Tỉ lệ vẽ phụ thuộc vào 3 nhân tố độc lập: khí hậu

ầm t h LR một àm ch t chẽ ủa thờ tiết v trầm ích LR (<0,1%) cho những vùng nứt nẻ hoặc khô cằn, như vùng không có sông

ăng giáp ra với ỳ n g v gi CO3 mà ước thấm qua

hiệ nhữ g đứt ặ ữn ến o lớ có th đem ại tỉ snie mon ợi l uan g đối với những vùng khô hạn như: K vàsrael Khu v c tru g tâm kiti 77) ỉ số L xấp 0,56% gồm c

i- wi, Sa y-Kamish) và nhỏ hơn 0,2% nếu không kể

Việc xác định mật độ cho những hồ nhỏ hơn các lớp diện tích đó mà không có tài liệu cũng là một bước cần thiết Thường nó được tiến hành trước hết trên sự thay đổi đơn giản nhất của hệ số độ dốc b cho các lớp hồ lớn hơn, sau đó thu thập vào tài liệu báo cáo thay đổi mật độ ở những vùng giống nhau đã ghi ở bảng 1.1, 1.2 và 1.4

1.3.2 Tỉ số Limnic

Tỉ số Limnic (LR được diễn đạt bằng %) là tỉ số giữa tổng diện tích hồ trên tổng diện tích đo trong các lần điều tra đã được tiến hành LR thay đổi nhiều hơn hai lần độ lớn từ 0,1% cho nước Pháp, cho hồ Geneva hoặc cho những phần sông băng không tồn tại ở Hoa Kỳ, lớn hơn 10% ở những chỗ băng tan (bảng 1.1

và 1.2) Tỉ số được tiến hành tối thiểu trong một lần điều tra trọn vẹn giảm tới

b nh Hoa K , hoặc hữn ùng àu nơi n

d ở p và ần lớ ở Nam âu Trun Quốc R 88%),

Trang 17

ào nền đá c và ìn nh vù đất ấp b đóng ăng, ỉ số LR

ng v−ợt quá 8% (bảng 1.4), ở bán đảo Kala, Karelia tỉ số LR thậm chí c

ạt tới 2 , m nế L v t n cả hững iá trị goại l

ều bị loại b ì tỉ giảm 13% những vùng bán khô hạn nh− S a và

anada tỉ số R th hí c ể đạt tới 50 bởi có vô những ao thuộc Bắc

h r ( là qu n g k băn vĩnh ửu tan bie 1980) Trong những vùng đất trầm tích thấp, nơi mà sự xói mòn của

hỏ, những hồ này không nhiều và kéo dài: tỉ số LR cho vùng Bắc bang

tic, Đan M ch, an, nia và La h ỉ N ững nú

ã từng bị đ g bă số h 8, với i Alp (344 km2 diện tích

tíc ất nhỏ 1 ha) kết ả từ hữn hối g c

Bal ạ Ba L Esto tvia c ỉ xấp x 2,2% h vùng i

Trang 18

hå (km 2 )

T h n ngät (%

0.32 A0 4700 b 5000 b 5200 b 11700 b 18000 b 0 44600 13.9

n 208000 200 450 7 0 0 Kola and

Shield (9) dL 200000 b 50000 b 5000 b 500 b 56 3.8 0.85

8.2 A0 42000 b 107000 b 107000 b 107000 b 120000 88000 270000 841000 10.3 (12) A0 460 84000 655000 8.2

n 1600000 b 410000 b 41000 b 4100 b 31 7

Platform dL 20000 b 8200 1650 125 11 0.45 0

(1) (6) A0 240 b 900 2000 1500 1300 4300 0 10200 2.2 0.465 n 9300 b 3800 770 58 5 1 0

Glaciated

conterminous dL 80000 b 18000 b 1800 b 240 23 2.6 1.3

USA(7) A0 2600 b 3640 b 3640 b 4860 4900 2270 57750 79660 10.2

Trang 19

ủa ork, Van der Leenden cùng cộng sự 1989, cùng với hồ Red, ); (9) cùng với tất cả hồ Laurentian Great, loại trừ

2a Những số nhỏ trong ngoặc đơn sau các nước: (1) EEA (1994);

E Thorrneloff liên kết trực tiếp; (3) hồ chủ yếu từ Herdendorf (1984, 1990); (4) bán đảo Kola bao

các hồ Ladoga và Onega; (5) toàn bộ của Sweden, Norway, Finland, và bán đảo Kola; (6) toàn bộ c

Poland, Estonia, Latvia, và Denmark; (7) toàn bộ cảu Vermont, Maine, New Hamsphire, New Y

Minnesota, Michigan và Wisconsin từ

Champlain, và Michigan; (8) Hammer (1988

Michigan, ngoại suy từ Gray cùng cộng sự (1990) và Herdendorf (1984), tương tự hồ Saskatchewan;

11) cùng với hồ Ladoga; (12) cùng với hồ Superior, Huron, Ontario và Erie; (13) (10) Solantie (1973); (

cùng hồ Michigan b Các giá trị ước tính.

1.4 Sự phân bố hồ theo nguồn gốc kiến tạo

Hồ kiến tạo là một nét nổi bật của sự phân bố hồ toàn cầu trong điều kiện thể

tích và tiến trình lịch sử, và tới vùng với qui mô nhỏ hơn Hutchinson lên danh

sách 9 loại hồ kiến tạo chủ yếu như là: biển sót, nước thoát đổi chiều hướng và

địa hào kiến tạo hay hồ sụt nứt (loại 9) Do mang tính quyết định của lịch sử, 8

loại đầu được xếp loại như: hồ kiến tạo, nhưng ngược lại hồ địa hào kiến tạo

được xem như là riêng biệt, bởi vì vị trí của nó chủ yếu theo cách nhìn qua

nhiều thông số (thể tích diện tích, tổng khối muối), nhưng không xét độ muối

Trang 20

và độ sâu cực đại Nó là dấu vết của kiến tạo sâu cổ xưa, Parathetys, nơi cùng với Biển Đen và được gắn liền và không gắn liền (giai đoạn địa chất hồ) tới biển Bediterranean và đại dương thế giới trong suốt 5 triệu năm qua (Stanley và Wezel 1985) Bởi vì cỡ lớn của nó (hiện tại 374000 km2 Herdendorf 1984, 1990),

ức sự phân bố hồ kiến tạo Nhưng sự khác nhau giữa hồ kiến

băng

không được biết đến từ Herdenforf: tất cả hồ Patagonian trên

loại lại ở đây như là những hồ hỗn hợp

ả từ nâng sụt nhất là hồ Victoria và Đông Phi, được gây ra

(sự liên kết ban đầu của nó với hồ

nó mang tên biển – biển Aral, mặc dù quả thật nó rõ ràng tương ứng với định nghĩa một hồ

Như đã được đề cặp, sự điều tra của Herdendorf (1984) với hồ lớn lần đầu được dùng để định m

tạo và các hồ khác như hồ núi lửa hoặc hồ băng hà không luôn luôn rõ ràng, vàtác giả này mô tả nhiều hồ nguồn gốc tập hợp như núi lửa kiến tạo hoặc

hà kiến tạo Chúng ta xem xét hồ Toba (Sumatra) và Atitalan (Guatemala) tới một phần của (hồ miệng núi lửa) hồ Kivu (Zaire và Rwanda) được xem như là

hồ địa hào kiến tạo, mặc dù nó cũng là một đập núi lửa tương đối mới

Hồ Champlain và hồ Taymir được xem như là hồ băng hà và hồ Taupo được coi như hồ kiến tạo Một vài dự đoán sáng suốt được nêu lên bởi vì nguồn gốc chính xác về hồ

các cao nguyên được xem xét ừ nguồn gốc băng hà và hầu hết hồ trung tâm

Đông Nam á được xem từ nguồn gốc kiến tạo Tất cả hồ lớn hơn 10000 km2

được xếp hạng theo Herdendorf như thế mới được cho là 1 nguồn gốc nhất định

và 11 hồ còn lại giữa 1000 và 10000 km2 không được quyết định nguồn gốc,

được phân

Được so sánh với các hồ băng hà, các vùng hồ, hay bờ đầm nước mặn hồ theo nguồn gốc kiến tạo không tập trung trong phạm vi hồ Nhưng miền Đông African Rift là nơi hầu hết hồ địa hào kiến tạo (từ bắc tới nam): Biển Chết (Israel) Asal và Abhe (Djibouti), Abaya (Ethoiopia), Tukana (Rudolf đầu tiên, Kenya), Eward (Uganda_Zaire) Albert (Uganda_Zaire), Kiv(Zaire_Rwanda), Tanganyika (Zaire_Tanzania_Burundi_Zambia) và Malawin(đầu tiên Nyasa, Malawi_Mozambique_Tazania) Qua danh sách này chủ yếu hồ địa hào nằm ở trung tâm Châu á: Baikal (Nga), Issyk_Kul (Kirghirtan), Alakol (hay Alakul, Kazakstan), Hovsgol (hoặc Khubsugu, Mongolia) Hầu hết độ sâu hồ kiến tạo

có thể như của nguồn gốc địa hào cũng được nằm trên những nơi mà hoạt động kiến tạo ngày nay như ở Nhật (hồ Biwa), Nevada (Jahoe và hồ Pyramid), và Himalaya (hồ Pangpong) Bảng 1.3 lên danh sách 2 loại hồ kiến tạo: hồ địa hào

và tất cả các loại khác Hầu hết các loại hồ kiến tạo khác là kết qu

nứt núi Các hồ mở rộng nhanh

bởi sự nâng nhẹ phần phía tây của nó

George vẫn là nổi cộm bởi sự phát triển đầm lầy), Nicaragua (Nicaragua), Urmia (Iran), và Great Salt Lake (Utah)

Tổng vùng hồ kiến tạo trên 1000 km2 là khoảng 776000 km2, có 48,2% chỉ đối với biển Caspian, 19,2% đối với tất cả các hồ địa hào, 32,6% với các hồ địa chấn khác Khi tổng thể tích của các hồ kiến tạo lớn được xem xét, những con số này

là khác nhau tổng thể tích ước tính vào khoảng 135000 km2, (57,7%) với một

Trang 21

mình biển Caspian, 37,9% với tất cả các hồ địa hào (nghĩa là chủ yếu bởi Tangayika và Baikal), và 4,4% cho các ồ khác Nếu biển Caspian không được tính đến, 3 hồ địa hào chiếm 84% của tổng thể tích hồ kiến tạo: Baikal, Tanganyika, và Malawi ước tính phân bố hồ địa chấn toàn cầu hiện tại trong bảng 9 (tổng vùng 900000 km2)

1.5 Hồ có nguồn gốc băng

1.5.1 Mật độ hồ

Phụ thuộc vào kiểu loại đá và địa hình tạo bởi sông băng Holocene, sự phân bố

hồ băng hà đầu tiên rất có thể bị thay đổi Bởi vì hồ có nguồn gốc băng hà, nghĩa là, kiểu loại 23 - 42 của Hutchinson, là vượt qua hầu hết con số hồ hiện nay, nó rất quan trọng để áp đặt sự phân bố toàn cầu và chúng có nhiều mâu thuẫn Thật may mắn, sự tính đến hồ sạch là có thể với Saskatchewan (Harmmer 1988), Wisconsin, Michigan, Minnesota, New Hampshire, Vermont, New York và Maine (Vander der Leenden cùng cộng sự 1989), cũng như Thuỵ

Điển (EEA 1994; Thomeloff per.comm.), Na Uy (EEA 1994), Finald (Solantie 1973; EEA 1994), tình rạng Nam Baltic (EEA 1994) Trong sự thu nhận thêm

số liệu, chúng tôi

t

có xây dựng lại sự phân bố hồ với hai vùng hồ chủ yếu trên

iên, Alps và Patagonia phần của Chile và Argentina, các vùng núi băng đầu t

trên cơ sở Herdendorf (1984) Ilec (1988 đến 1991) và Lec (1994) cho Alps, cũng như Herdendorf (1984), Quiros và Drago (1985), Campos cùng cộng sự (1983)

và IARH (1993) cho Patagonia

Cơ sở dữ liệu này trong bảng 1.4 Ba loại vùng băng tan có thể nói lên sự khácnhau trên cơ sở của mật độ hồ và sự phân bố:

1 Phần bảo vệ như ở Sakatchewan và ở Scandinavidia, như là, Na Uy, Thuỵ

tự Nam Baltic (2,2%) và mật độ cho loại vùng hồ 10 - 100 km2 là 125 và 240/triệu km2

3 Vùng núi cao như là Patagonia là Alps có tỉ lệ hồ trong khoảng nhỏ hơn đối với nền trầm tích (100 và 750 cho loại vùng 10 - 100 km2) Nhưng sự khác nhau chủ yếu từ các loại trước nằm ở độ sâu hồ nơi mà lớn hơn nhiều (cho 1 cỡ hồ) với kết quả các hồ từ sự bào mòn băng trên vùng núi cao hơn bờ và ngay cả nền trầm tích

Khi Na Uy, Thuỵ Điển, Finlaid, Kola và Carelia được coi như nhau, và nếu hồ Ladoga và Onega gia nhập vào hồ Carelian, vùng được kể đến tới đây

Trang 22

Scandinavi Shield có LR trung bình 12,2% Một sự tương tự tỉ lệ có thể đạt

được với toàn bộ Canadian Shield trên cơ sở sự điều tra của Herdendorf cho hồ trên 500 km2 và trên Cadania giới hạn thống kê cho hồ trên 100 km2 (những

hững hồ nhỏ được ước tính tương tự đối

a, nhưng có thể tính đến

ntral và Nam Mĩ, Châu Phi, và Oceania Ngoài ra, Flint lên

- Weichselian: bắc American Shield và thềm lục địa, 9 triệu km2;

a) được xem xét như hồ băng hà

nơi khác Gray, 1990) Sự phân bố của n

với một hồ được tìm thấy Saskatchewan và được báo cáo bởi Harmer (1988) Với Four Laurentian Great Lakes phần của Canada và Hoa Kỳ (Michigan được loại trừ) Canadian Shield có tỉ lệ giới hạn 12% và ngoài chúng là 9,3% Những con số này tương ứng với 8,2 triệu km2 của vùng băng phủ đầu tiên trong vùng

đồng bằng Canadian và loại trừ băng phủ Cordiller

vùng nhỏ băng phủ trầm tích đá như ở lưu vực sông Mackenzie Khi thêm đồng bằng băng phủ ở Hoa Kỳ, tổng núi băng ở Bắc Mỹ là 9 triệu km2

1.5.2 Vùng băng tan toàn cầu

Tổng lượng băng hà toàn cầu phụ thuộc ở mức cao vào sự phân bố của vùng băng phủ trong thời kì địa chất trải qua, nói riêng là với sự phủ băng trải qua,

điểm cao nhất ở 18000 B.P Báo cáo chi tiết về sự phủ băng toàn cầu được viết bởi Flint (1971), nơi mà được đự đoán tổng vùng (băng phủ đầu tiên) 28,3 triệu

km2 được phân chia: 13,4 triệu km2 của Laurentide Ice Sheet, 2,6 triệu km2 cho Alaska, Cordilleran Canada và (đất liền) Hoa Kỳ; 7,2 triệu km2 của Châu Âu; 2,7 triệu km2 của Ural_Siberian Ice Sheet; 1,25 triệu km2 của trung tâm núi

Đông Nam á và núi Himalaya; 0,7 triệu km2 của Patagonia; 0,45 triệu km2 của vùng hỗn hợp ở Ce

danh sách Greenland (2,3 triệu km2) và Atartica *13,8 triệu km2), nơi mà vẫn

bị phủ băng Ước tính của Flint không dùng ngay cho sự phân bố hồ băng hà của 2 vùng: lúc đầu ông gộp vùng băng phủ thềm lục địa khi nước biển dưới

100 m nơi mà ứng với các vùng rộng lớn, như là Hudsonbay, có biển ở giữa Canadian phía nam Archipelago, phần của bắc đại dương Arctic của Siberoa, Baltic và biển Hai là, những con số này cho thấy sự phát triển băng lớn nhất nơi mà quá trình xảy ra trong suốt Plistocene Mọi nơi, giai đoạn băng đã qua không được mở rộng chút nào trên cơ sở dữ liệu khác nhau, thấy được chỗ riêng biệt ở Denton và Hughes (1981), tiếp theo sau đây vùng đất có ghi nhận trong bản báo cáo của quá trình xây dựng lại của hồ băng là kết quả từ sau sự phân

bố Wisconsin

Scandinvan Shield 1,7 triệu km2, Alps 0,04 triệu km2, thềm Baltic và Nga 2,4 triệu km2, Ural: thềm Siberian, 2,0 triệu km2 trung tâm Đông Nam á và núi Himalaya 0,3 triệu km2, Patagonia 0,65 triệu km2 Tổng số diện tích vùng là 18 triệu km2

1.5.3 Tổng số hồ băng

Cho rằng phần lớn lượng hồ lớn gặp được vùng băng tan do thay đổi hoạt động Thành phần hồ trong những vùng này được coi như là hồ băng Một vài hồ có tập hợp nhiều nguồn gốc cũng có thể được tìm thấy, như ở các loại hồ lớn, ví dụ

hồ Champlain (Canada/Mỹ) và hồ Taymir (Ng

Trang 23

Phần còn lại không có tài liệu vùng tan băng (bảng 1.4) gồm 2,5 triệu km trên cao nguyên (Aloska, Himalaya và Siberia) được coi như nhân tố nền cơ bản về

đá trầm tích yếu Với mật độ hồ gần như nền Nam Baltic Và phần tạo băng phía bắc Hoa Kỳ Với hồ trên 1000 km2 điều tra của Hedendorf cung cấp những con số xác thực cho vùng không có tài liệu này, có nghĩa là hồ Becharoff và Iliamna ở Alaska, và Taymir ở bắc Siberin Tổng vùng hồ băng hà hiện tại ở (bảng 1.4) được ước lượng khoảng 1250000 km2, cho khoảng 3250000 hồ trên với 0,01 km2 (1 ha), nó tương ứng với 1 LR 6,9%, của tổng vùng 18 triệu km2

Sự đúng đắn của ước tính này được liệt hầu hết vào Canada và có khoảng 15% cho tổng vùng Mật độ hồ dưới 1 km2 vùng hồ đúng như được biết chỉ ở Scandinavia Nếu sự ước tính trung bình mật độ cho loại vùng 0,01 đến 0,1 km2

là gấp đôi phần tương ứng tổng vùng băng hà là chỉ tăng 7%, nhưng tổng con

số hồ băng hà là 7,5 triệu Thấm chí xem xét trên quy mô toàn cầu, hồ lớn Bắc

Mỹ, từ hồ Great Bear tới hồ Ontario, không theo phân bố chung của hồ băng

à Chúng ứng với 25% của vùng hồ toàn cầu (328000 km2 cho 8 hồ) Dưn án

ho sự phân bố hồ nhỏ hơn 10000 km2 sẽ chỉ định con số của 4 hay 5 hồ băng

à lớn nhất trên 10000 km2 và tổng vùng khoảng 100000 km2, con số này chỉ

ược chấp nhận khi hồ Superior (82100 km2), Huron (59500 km2) và Michigan

y có thể tính đến như "điều xa xôi" rong sự phân bố hồ toàn cầu

To b diện b ượ c n là hoả 4,46 triệu km2

(Ba sự 1970), trong đó là 1,08 triệu km2 là các châu thổ (Colenman và Wright 1975), 3,38 triệu km2 n là c đồ g bằn trong một

hệ thống sông là một biến có giá trị cao ở Trung Quốc được gi tổng số

108000 km2 cho tổ hợp đồng bằng của Hai He và Chiang Ji

tương ứng với toàn bộ u vực là 2,1 triệu km (Tu và Pu 1991) Trong

số ột số hồ có nguồn gốc sông lớn nhất thế giới: Poyang,

các đồng bằng này, có m

n in ong , Tai Chao Trong những sông Mỹ à

ng g là 0,4 triệ km o bố lưu vự ch ( n

rama, và Paraguay; Hamilton và Lewis 1990), nghĩa là, 4% tổ

2), một hình thái tương tự như hình thái tìm thấy ở )

lệ diện tích hồ trong đồng bằng lưu vực sông vẫn còn ít được biết đến, ngo một số ít sông đáng chú ý ở đồng bằng phía đông Trung Quốc tổng số di

h hồ là 20800 km2, tư

Trang 24

Với lưu vực Orinoco, Hamilton và Lewis đánh giá là 7% (1990; 480 km diện

le Sap hay Grand Lac (2450 km , Camphuchia) Mai Ndombe (2325

)

Như vậy những hồ có nguồn gốc sông có tổng diện tích là khoảng

Sự phân loại hồ oàn nguồn gốc sô

Lớp

(km 2 )

tích hồ (km 2 )

Tỉ lệ n

tích hồ với 2294 hồ) Điều tra số lượng hồ rộng lớn nhất có lẽ là báo cáo điều tra của Sipple và một số người khác (1993) cho lưu vực sông Brazilian Amazon Những tác giả này đánh giá được là khoảng 11,2%, giá trị trung gian giữa đồng bằng phía đông Trung Quốc và lưu vực Orinoco Phân bố hồ bắt nguồn từ 4 mức xác định do Sippel và một số người khác đưa ra là như sau (cho 92000

km2): < 0,09 km2, 1630 hồ; 0,09 - 0,2 km2, 1630 hồ; 0,2 - 0,64 km2, 970 hồ; > 2

km2, 650 hồ

Theo Herdendorf (1984), những hồ đồng bằng lớn nhất là: Dong Ting (6000

km2, Trung Quốc), Poyang (3350 km2, Trung Quốc), Hung Ze (2700 km2, Trung

2

km , Zaire), Tai (2210 km , Trung Quốc), Hunlun (1590 km , Trung Quốc), và Weishan (1000 km2, Trung Quốc) LR vùng sông Amazon và Trung Quốc trong các đồng bằng thì cao, và lấy một tỷ lệ chung cho toàn cầu là 7,5% Phân phối thống kê sau lấy từ điều tra của Herdendorf về những hồ lớn và cấu trúc phân

bố của Sippel (1993) về những hồ có nguồn gốc sông (bảng 1.5) Tổng số diện tích của những hồ đồng bằng như vậy được đánh giá là 200000 km2 cho toàn bộ 3,4 triệu km2 diện tích đồng bằng (bảng 1.5

Những hồ trong các châu thổ thì không được biết điến nhiều Tổng số diện tích chây thổ được đánh giá là khoảng 1,08 triệu km2 (Coleman và Wright 1975), và trong trường hợp này chỉ có hai hồ chính lớn hơn 1000 km2 là: Ponchartrain (1620 km2) trong thung lũng Mississippi và Manzala (1360 km2) trên lưu vực sông Nile Điều tra về những hồ Louisiana (Van der Leenden 1989) có thể được

sử dụng ở đây như một đại diện cho một điều tra châu thổ thực sự LR thấp hơn nhiều (2%) so với các đồng bằng sông đã đề cặp trước đó Với 5 hồ chính từ

270 km2 (Edku) đến 1360 km2 (Manzalah), LR của vùng châu thổ sông Nile thì lớn hơn nhiều (gần 13% cho 239000 km2) Tuy nhiên, hầu hết các hồ này phần nhiều là kết quả của sự vận chuyển cát ở vùng ven biển hơn là của tác động cảu sông Bởi vậy, như môt đánh giá đầu tiên những hình thái Louisiana, những mật độ hồ, và LR được chọn như đại diện cho một quy mô toàn cầu (bảng 1.5)

A Hồ trong đồng bằng cửa sông do lũ tạo thành

Trang 25

Số nhỏ trong dấu ngoặc đơn: (1) cho diện tích toàn cầu cầu của đồng bằng cửa sông do

lũ tạo thành 3.4 x 10 6 km 2 ; (2) từ Herdendorf (1984); (3) trong Louisiana (từ Van der Leenden cùng cộng sự 1989); (4) cho diện tích vùng chấu thổ toàn cầu 1.08 x 10 6 km 2 Tỉ

lệ hồ nước ngọt dựa vào diện tích toàn cầu cảu vùng đồng bằng cửa sông do lũ tạo thành và vùng châu thổ.

1.7 Phân bố toàn cầu của những hồ miệng núi lửa

Mặc dù không phổ biến, những hồ miệng núi lửa có nguồn gốc núi lửa có những

đặc tính rất thú vị trong các dạng của nghiên cứu hồ Chúng có tỷ lệ rất thấp trong diện tích lưu vực hồ, nói chung là dưới 3 đặc điểm chúng đôi khi là rất

phân phối toàn cầu của chúng đã được làm bởi những lý

tập trung ở những địa phương: Eifel, Auvergne, và trung tâm Italy;

a, t Bản, P n, và nesia; Ne inea và ustralia;

n và g Phi, E r, trung Mỹ; Or , Alaska, và các đảo tian

iều trong n cứu về là những miệng n a khác

đư o ra bởi t động khí t như hồ umvi ở G , và hồ

ắc Q ec (Ouell Page 19 húng ch là cái duy nhất, và vì

g phân t của chún ất hạn ch lệ trầm của chún ất thấp, hích tại chúng vẫn không bị lấp đầy từ tác động đó, được đánh giá là

2 2), cả hai đều ở Italy Rồi có những hồ miêng

0 km2: Wisdom (Papua New Guinea), Kucharo (Nhật

dốc, rất sâu và thường được tìm thấy trong những điều kiện sơ khai (Meybeck 995) Sự thử thiết lập

1

do này g hồ miện úi lửa t n bố trên t cả các lục đ , nói chung

Trang 26

Bản), Bracciano (Italy), Dakataua (Papua New Guinea), Crater (Oregon, Mỹ),

Tazawa và Mashu (Nhật Bản), Ossa (Cameroon), Vico (Italy), và Ikeda (Nhật

Bản) Tuy nhiên, danh sách này có thể chưa phải là đầy đủ Kling cùng cộng sự

(1991) đã liệt kê tất cả các hồ miệng núi lửa ở Cameroon, tính đến mẫu của

phân bố thống kê diện tích hồ, phân loại và điều tra những hồ miệng núi lửa

chính, lớn hơn 10 km2, giới thiệu và đề xuất phân phối toàn cầu, cho thấy trong

bảng 1.6

Toàn bộ diện tích những hồ miệng núi lửa nguồn gốc núi lửa là khoảng 3150

km2 Khi hình thái hồ này được so sánh với phạm vi toàn cầu của những vùng

bên dưới là những đá núi lửa, LR thật sự rất thấp – khoảng 0,03%

Bảng 1.6 Phân loại toàn cầu của hồ có nguồn gốc núi lửa

390 800 607 1100 3150

1.8 Phân phối toàn cầu của những hồ mặn

Những hồ mặn như vẫn qui ước được đinh nghĩa là những hồ mà số chất rắn

hoà tan (TDS) lớn hơn 3 g/l (Williams 1964, Hammer 1986) Kỷ lục độ muối cực

iêng biệt ở một vị trí tương tự hồ Popo với sự lưu tâm tới hồ Titicaca

hững sự thay đổi trong

đại vượt hơn 300 g/l (Urmia ở Iran, biển Chết, Great Salt ở Utah) Lưu tâm tới

diện tích, thể tích, và toàn bộ khối lượng muối của hồ, phân phối toàn cầu cảu

những hồ mặn thì phần nhiều bị thiên lệch bởi trọng lượng khổng lồ cảu biển

Caspian, độ muối của nó gần tới 13 g/l (bảng 1.7) Có hai nguồn gốc chính của

những hồ mặn:

(1) những hồ có những kết nối nào đó với nước đại dương, và

(2) cho những hồ mà quá trình bay hơi lớn hơn lượng nước cung cấp từ bên

ngoài, đặc biệt là những hồ mà không có những lối thông ra

Caspian không hoàn toàn là một hồ kín bởi vì có một lối thông với vịnh Kara

Bogaz ở bờ biền phía đông của nó Lối thông ra này dài 10 km, rộng 300 m, và

vân tốc nước là từ 1 đến 4 m/s cho đến khi nó nối đến Kara Bogaz qua những

thác nước Karakum Độ muối rất cao của Kara Bogaz (TDS = 350 g/l) gây ra

những sự giết cá nghiêm trọng của cá Caspian khi chúng đến vịnh (trong

Fairbridge 1968, p.579) Vì vậy Kara Bogaz đã được phân biệt với Caspian như

một hồ r

Mới đây một đạp nước được xây dựng đã hoàn toàn cô lập Vịnh với biển Trong

25 năm qua, Kara Bogaz đã giảm diện tích đáng kể, vì n

sự cân bằng nước của nó (Terziev cùng cộng sự 1986) Nguồn gốc của Caspian

đã hoà tan muối thì phức tạp: hồ là một tàn dư của biển Parathetys, và một

phần nhỏ hàm lượng muối của nó có thể là nguồn gốc đại dương, mặc dù hầu

Trang 27

hết nó có lẽ được mang tới bởi những sông nhánh, Volga, Ural, Terek và Kura

Bảng 1.7 Phân loại hiện tại của các hồ nước mặn chủ yếu có diện tích khoảng 500 km 2 trong sự tăng lên của sự hoà tan khối muối

(kg/m 3 ) Mmuối (10 15 g) Tài liệu tham

khảo a Dạng hồ Ao (10 3 km 2 ) V (km 3 ) TDS

3,74 206 22,4 4,6 (1) Van 7,7 23 100 2,3 (1) Eyre e

(n=14), toàn iện h c loại mặ y n 0 m2

ủa những vũng ven biển là 60000 km2 Nếu độ muối trung bình là 5 g/l đượ q o g n này hì t ối lượng

ạo vét lối thông ra của nó với Đại Tây Dư g, độ Clo của ó chỉ là 750 mg/l; như vậy, n ôn ợc xem xét như một hồ muối tự nhiên: độ clo hiện nay của nó vào kh g/l (F ir

dẫn tới một TDS kỷ lục 304 g/kg

gầm, và những vũng ven biển này nói chung là mặn, ví dụ nh

ộ (TDS = 9,95 g/l), hồ Luang, Thái Lan

ư ưng là của nguồn gốc kiến tạo và sâu hơn nhiề

vũng ven biển (Zmax = 35 m) Cho đến khi n

Trang 28

Điều tra của Herdendo được sử dụng một lần nữa để thống kê những hồ mặn

g vùng xác

hồ Chad, trong đó sự

g chỗ lõm cồn cát được cung cấp 1983) Bởi vậy, khi không có thể ong điều tra của Herdendorf mức độ muối cho những loại hồ

húng ta quy một độ muối trung bình là 30

ế giới biết đến trong nước lục địa: Dead, Aral, Issyk Kul,

iên khác trong kích thước hồ (hồ Eyre, hồ Poopo, hồ Great

kĩ như đối với sự phân bố rộng rãi của các loại muối

ỏ hơn (A0 < 1000 triệu km2) chiếm 44% của lục địa thế giới,

có diện tích từ 0,01 đến 1000 km2

hông xem xét đến phần diện tích sa mạc này đã được kiểm tra trên những hồ lớn

rfchính trên thế giới Khi vị trí của tất cả các hồ định vị trong nhữn

thực là mặn, với một chút chú ý cả những ngoại lệ, như

điều chỉnh muối chủ yếu xuất hiện trong nhữn

bởi sự ngấm của hồ (Carmouze cùng cộng sự

được tìm thấy tr

đó, nhất là ở trung tâm Châu á, c

mg/l lấy trung bình toàn cầu, đã tính toán được những khối lượng muối lớn nhất mà đã được th

Urmia, Kara Bogaz, Great Salt, Van và Eyre (bảng 1.7, loại trừ Caspian bởi tình trạng duy nhất của nó) Toàn bộ diện tích của những hồ mặn chính do sự bay hơi là xấp xỉ 600000 km2 kể cả biển Caspian và 200000 km2 khi không có

nó Đây chỉ là một đánh giá sơ bộ, vì đặc điểm nhiều hồ mặn nông được mô tả bởi nhiều biến tự nh

Salt )

1.9 Sự phân bố của hệ thống hồ trên toàn cầu

Có 3 phương pháp khác nhau đánh giá sự phân bố của hệ thống hồ trên toàn cầu được đưa ra để ngoại suy từ ngân hàn dữ liệu do Herdendorf thu thập được với những hồ có kích cỡ nhỏ hơn (dưới 500 km2) vào khoảng những năm 1984 -

1990 Ngoài ra, sự phân bố của hồ trên thế giới ở những vùng Exorheic và Endorheic cũng được xét

hoà tan trong hồ

1.9.1 Phương pháp ngoại suy

Các tài liệu về diện tích hồ đã được thống kê ở bảng 1.1 là 58,2 triệu km2, chiếm gần 44% diện tích các đại lục trên thế giới, ngoại trừ các đỉnh băng Nó bao gồm xấp xỉ 64%, trong số các khu vực hồ bị đóng băng Với phần diện tích còn lại (74,8 triệu km2) sự phân bố các hồ lớn được biết chính xác từ Herdendorf (1984) Do đó, phần diện tích hồ còn lại được ước lượng liên quan

đến những hồ nh

nơi mà những khu vực không bị đóng băng và quan trọng như là bán khô hạn ở châu Phi và Australia Các khu vực hồ không có số liệu là giới hạn, có lẽ nhỏ hơn 15% của tổng diện tích hồ Đối với việc ngoại suy này, chúng được xem xét như là một mô hình của các mật độ hồ, giá trị trung bình của mật độ các hồ là kết quả làm việc của một nhóm các nhà khoa học Xô Viết, Trung Quốc, Argentina, ấn Độ và Mỹ và được xem là kết quả thống kê của những khu vực không có số liệu Những kết quả về mật độ hồ

vượt chút ít các ước lượng do sự k

chính ở Australia và châu Phi Điều

(1000 - 10000 km2), mật độ trung bình rút ra từ Herdendorf cho những đất nước không có số liệu và không được liệt kê trong bảng 1.1 chỉ bằng 0,7 mật độ

Trang 29

b Giá trí tính n từ sự điều tra dân số của Herden

−ợc thực hiện theo cách ngoại suy mật độ toàn cầu đầu tiên

Trang 30

Sự phân bố toàn cầu với goại suy tương ứng với tổng diện tích

2 Với phư phá 44% của diện tích hồ là được thống kê từ

ệc cảu Herd ndorf t quả ch xác hoặc đ xây dựng lại các

ố liệu thống kê; 4% i suy Do đó được tin rằng sự chính xác của

ình phân bố này ó lẽ tố ác ướ

diện ch nh ỏ hơn 10 2) chiếm khoảng 30% diện tích

ồ Tổng lượng và tổng h của nhữn nhỏ hơn 1 - 1 km lẽ hơn 50%

cáo của amra 74) khôn ng cấp số chi tiết s ân hối toàn cầu của ện tíc ước lư khoảng 2 iệu km2, một giá

iá trị a ra trên đây Nó dựa trên cơ sở của phân bố 20 hoặc 50 hồ

ảng 1.9 Nó phân hệ thống hồ ra làm 6 loại

n tạo địa lý, của băng, của sông, của núi lửa đã được xác

1 hồ có diện tích từ 1000 - 10000 km2 loại mà

ng 2,5 triệu km2 của phương pháp ngoại suy Theo phương pháp này các

chỉ chiếm 3,6% Sự khác nhau lớn được tìm thấy ở

1.9.2 Phương pháp phân loại hồ

Phương pháp này đưa ra trong b

chính dựa trên nguồn gốc của hồ: từ kiến tạo địa lý, từ băng, từ sông, từ mặn, hoặc từ miệng núi lửa, cộng với loại hồn hợp bao gồm tất cả các nhóm còn lại như hồ hoà tan, hồ giảm gió, hồ do sụt đất, hồ đập núi lửa Như đối với phương pháp trước, các sự phân bố của hồ cho 3 lớp hồ đầu tiên với sự quan tâm tới diện tích của hồ (> 100000 km2, 10000 - 100000 km2) được giới hạn bởi thống kê Herdendorf Việc ngoại suy chỉ cần thiết cho những hồ nhỏ hơn xấp xỉ khoảng 53% tổng diện tích hồ

đây là số lượng lớp các hồ nhỏ nhất (0,01 - 0,1 km2): 4,3 triệu so với 7,2 triệu

km2 bởi phương pháp ngoại suy, cái mà có lẽ chính xác hơn

Bảng 1.9 Phân bố hồ toàn cầu trên miền chính

Tectonic b A o 5000 10000 20000 30000 52000 134900 267300 374000 893000

Trang 31

í h Nh hô

trung bình ( o C)

ảy mặt (1s km -2 )

T ện tích (triệu km 2 ) iate undra và taiga 4 9 23,2

4-9

Khô và

N độ ẩ -1 9-2

N iệt độ ẩ ệ

ướt

N iệt đới >20 9-2

24 N đới >20 >20 Băng v 16

Phương pháp này thực hiện nối với sự phân bố các quẫn xã sinh vậ Năm quần

ật chính là: các khu ực b óng b ng, cá khu v c ôn hoà, khu vự

án hạ m à n t đới m ướt Những sự chia nhỏ này kết hợp

hồ Nhữn n nh nà à sự

nhau (Meybeck 1979; bảng 1.10)

Những vùng đất bị đóng băng sau khi thời cực đại đóng băng được ước lượng

trước đó vào khoảng 18 triệu km2 bao phủ hầu hết bắc cực và các khu rừng

taiga hiện nay Chỉ còn 5 triệu km2 còn lại của rừng taiga là không bị đóng

t

hạn và b n, sa ạc v hiệ ẩ

với cả òn hảy m t và n iệt độ cái m cả ha nhân chi ph i tron

bố g quầ xã si vật y l kết hợp của 14 loại thời tiết khác

Trang 32

băng đã kết hợp với vùng nhiệt độ ôn hoà ẩm ướt và vùng nhiệt độ ẩm ướt của Meybeck để tạo nên quần xã sinh vật ôn hoà nơi mà dòng chảy bề mặt vượt quá 4 ls-1km-2 Khu vực sa mạc tương ứng với khu vực không có hoặc có nhưng dòng chảy rất nhỏ (< 0,1 ls-1km-2) khu vực ẩm ướt đặc trưng bởi dòng chảy mặt vượt quá 9 ls-1km-2

Việc xây dựng sự phân bố toàn cầu của hồ bởi phương pháp hình thế thời tiết

đã được tiến hành theo 3 bước:

(1) sự phân bố của các vùng bị đóng băng được ước lượng đầu tiên (bảng 1.4), (2) với tất cả các hồ vượt quá 1000 km2, 143 hồ liệt kê bởi Herdendorf với vị trí chính xác của chúng đã từng bước được xếp vào 5 loại khí hậu đã liệt kê ở trên,

(3) với những hồ nhỏ hơn 1000 km2 việc ngoại suy được thực hiện với việc sử

y về phía các hồ có diện tích nhỏ hơn trên lưu vực của các

Trung Quốc (bảng 1.2) nơi mà

Sự phân bố hồ trong vùng khô và hạn bắt đầu với việc ngoại suy số liệu thống

kê Herdendorf về phía các hồ có diện tích nhỏ kết hợp với sự phân bố hiện tại trong khu vực mà chuẩn dòng chảy giữa 1 và 4 ls-1km-2 chẳng hạn như quận Victoria (Australia), vùng không đóng băng Patgonia (bảng 1.1 và 1.2) Nó phải

là những hồ lớn (diện tích > 500 km2) được tìm thấy ở những khu vực có nguồn gốc kiến tạo địa lý, Caspian, Balkhash, Chad Tất cả những hồ này đều hình thành ở những vùng khô nhưng nước chính từ những vùng ẩm ướt hơn của các lưu vực

Sự phân bố của các hồ trong các vùng xa mạc được khống chế bởi một số các hồ

mà được cung cấp nước hoặc là từ thượng lưu như biển Arập và hồ Great Salt hoặc là bởi các đầm phá ven biển trong vùng sa mạc (Manzalad và Ai Cập) và bởi rất nhiều các hồ mặn nông không liên tục chẳng hạn như hồ Eyre, Torrens, Frome và Gairdner ở Australia cũng như là Ebi, Baghrash và Heimand ở châu

á Người ta thấy rằng mật độ hồ trong vùng này là rất thấp với những hồ có kích thước nhỏ hơn Vì vậy, gần 90% tổng diện tích hồ trong vùng sa mạc được tính cho rất ít hồ (50% cho biển Arập)

Sự phân bố của hồ trong các vùng ôn đới cũng bắt đầu với số liệu thống kê của Herdendorf ngoại su

số liệu thống kê trong vùng nam châu Âu và

km 2 )

Tỉ lệ hồ nước ngọt (%)

Trang 33

ánh giá nhiều nhất là phân bố lưu vực Amazon cho hồ < 100 km2; (9) biển Aralính toán cho 50% tổng diện tích hồ; (10) theo điều tra của Herdendorf là sử dụng

ất cả các loại khí hậu cho hồ > 1000 km2; (11) không kể những đỉnh băng

Không tìm thấy số liệu thống kê khu vực cho các hồ trong các vùng nhiệt đới

u

ó sự phân bố của các hồ sông được tạo thành ở vùng bãi tràn Amazon nơi được

u n lợi cho việ ngoạ suy đ c biệt ch mật đ lớn cá h 10

1 0 k à nhữn v c bị đ ăn nhân chủ y on ân b

hồ là chung cho cả 3 ước lượng; do đó những ngoại suy này liên quan 45% diện tích hồ (những hồ diện tích nhỏ hơn 1000 km2 và khôn bị đón băng) Sự phân

bố hồ toàn 2 ũng b iới hạ bởi s liệu củ

rd dor ở các hồ diệ g ữa 50 và 1000 km2

Sự phân bố của các hồ trong các quần xã thời tiết ở các khu vực địa lý hiện nay

ẩm ướt Vì vậy chúng ta xem xét trước hết các hồ có diện tích > 1000 km2, sa

cầu trong khoảng 100 - 1000 km c ị g n ố a

Trang 34

là 52% cho vùng bị đóng băng 25% cho vùng khô hạn Tỉ lệ phân phối của các

vực đóng băng; khô hạn; ôn hoà; nhiệt đới ẩm ướt; sa mạc Những số liệu này

h h lớn bởi â bố củ hồ iến tạ ch n hônquan hệ tớ ảnh hưởng thời tiết: nếu như không có các biển Caspia và Arập thì

hạn và còn 0,27% cho vùng

hồ trong khu vực nội địa

các lòng dẫn không nối với các đại

à không có lòng dẫn, chiếm diện tích 33,2 triệu km2 trên riệu km2 diện tích lục địa trái đất ,ngoại trừ Nam Cực và

ồ lớn nhất nằm trên những vùng này là Caspia, Aral,

ash Các khu vực kín được tìm thấy trên tất cả

ợc đặc trưng bởi điều kiện khô hạn nơi mà lượng bốc thoát hơi

ở thượng lưu trong các hệ thống thuỷ văn trong khi sự muối hoá lại diễn ra trong các hồ ở cuối của hệ thống này Đó là trường hợp cho các hồ Tahoe (nước ngọt) và Pyramid (nước mặn) ở bắc Mỹ; Titicaca (nước ngọt) và

mặn) ở Bolivia nhưng riêng với hồ Chad lại không theo q

mặn thông qua quá trình ngấm theo sau sự bốc hơi nước Khi độ muối được đưa

ra xem xét bởi Herdendorf (một số ít các hồ ở Tibet vẫn còn được biết rất ít) nó

đã được quan sát thấy ở các hồ kín khác nhau được chia ra làm các loại độ muối nhạt (3 < TDS < 20g/l), trung bình (20 < TDS < 40 g/l) và độ muối cao (TDS >

40 g/l) Chúng xấp xỉ 75% tổng các hồ lớn mặn, với các hồ khác được nối với khu vực ven biển hầu hết các đầm phá ven biển và bị ngấm nước biển Không có các

hồ lớn mặn ngoại trừ các đầm phá ven biển và các lưu vực kín khô hạn

Khi sự phân bố của các hồ kín theo mỗi lớp diện tích được xem xét các hồ lớn nhất (> 10000 km2 Caspia, Ch

với các hồ nhỏ (500 < A < 10000 km ) Do đó người ta tin rằng các hồ vượt quá

100 km2 có thể cung cấp một ước lượng có thể chấp nhận được của mật độ các

hồ Số lượng các hồ theo thống kê Herdendorf diện tích từ 500 - 1000 km2 đã

được nhân với một nhân tố trọng số để ước lượng tổng số diện tích lớp hồ 100 -

1000 km2 Chỉ có hồ Chad (16600 km2) và Titicaca (8030 km2) không thể được xem xét độ muối mặc dù đã tập trung lượng muối lớn bởi quá trình bốc hơi Tất cả 50 hồ kín mà Herdendorf liệt kê riêng biệt chịu tác động của thuộc tính lục

địa (bảng 1.12) và hồ Sary - Kamysh được bổ sung bởi vì biển Caspia là chung của châu Âu và châu á, do vậy hai lục địa này đều có ảnh hưởng

Trang 35

Bảng 1.12 Phân loại của các hồ lớn trong vùng Endorheic hoặc Arheic tại giai đoạn địa chất hiện đại

diện

hồ

diện tích hồ

Tổng diện tích

Tỉ lệ nước ngọt

0 0.099

0 0.374 d 33.2 2.3

Cùng với biển Cas ian

ồ Sarykamish

ng giá trị

Âu á có g hồ kín n nhất trong nội địa (vớ ển Caspia)

,3% diện xấp xỉ bằn 000 km2 Tỉ lệ này rất cao và hầu như do diện của biển Caspia: nếu không có nó t y giảm xu n 1% và

âu i là 0,8%, A lia là 0,8% 0,8%, Bắc Mỹ là Những số êu trên là tin cậy R ều hồ tron ng lục địa

ư hồ Erye ở trung tâm nhưng trong thời kỳ nhiều nước diện tích là khá lớn

rất nông và có sự thay đổi lớn về diện tích chẳng hạn nh

Trang 36

Tổng thể tích cho mỗi loại hồ cũng được đưa ra dựa trên số liệu thống kê của Herdendorf và mối quan hệ diện tích – thể tích cho mỗi loại Các hồ muối được chia thành 3 loại: biển Caspia (88,5%), các hồ kín khác (11,6%), và các hồ ven biển, ngoại trừ Marcaibo Người ta giả thiết ở đây là chỉ 2/3 các hồ bờ biển có muối Tổng lượng muối ước lượng là 1150.1015 g Tổng thể tích nước muối của các hồ là 82,5 km3 phù hợp với tổng lượng nước ngọt là 93,5 km3 trong khi tổng

tan trong các hồ trên thế giới

aspia tổng lượng muối trong các khu vực hồ mặn nội địa

số lượng cho các trung tâm lưu vực nhỏ hơn ở các hồ ở trung tâm châu á Số lượng nhỏ các hồ mặn nhỏ hơn 500 km2 mặc dù được thống kê có sự đóng góp không nhiều vào lượng muối tổng thể và không được đưa vào trong tổng lượng thể tích hoặc diện tích Hồ Turkana và Balkhash, cả hai đều là hồ kín mặc dù

độ muối nhỏ hơn giới hạn (TDS > 3g/l) lại được bổ sung vào đây Hồ Sarykamish (1500 km2) ở phía nam của biển Aral bị Herdendorf bỏ sót có độ muối là TDS = 15 g/kg cũng được bổ sung Khi biển Caspia được thêm vào, khối lượng muối có một bước nhảy lớn 1150 1015 tổng lượng muối trong diện tích

578000 km2 và thể tích 82360 km3 (bảng 1.13) Các đầm phá mặn nối với đại dương mặc dù diện tích xấp xỉ 40000 km2 chỉ chứa 0,64.1015 g muối

Độ muối trung bình trong các hồ nước ngọt chỉ khác một phần nhỏ so với các hồ chính đã được liệt kê (bảng 1.13) Trọng số của độ mặn các hồ lớn ở châu Phi chẳng hạn như Tanganyiky và Malawi lớn gấp 3 lần các hồ băng chủ yếu ở vùng đá kết tinh Tỉ lệ này có lẽ gây ra bởi sự khác nhau về điều kiện thời tiết

và thành phận thạch học Sự thoát bốc hơi cao ở Đông Phi và ảnh hưởng của

điều kiện thuỷ nhiệt đầu vào Các hồ thuộc loại sông được đặc trưng bởi độ muối bằng với độ muối trung bình của sông theo Meybeck (1979) Độ muối trung bình cho sông thuộc loại núi lửa tương ứng với độ muối trung bình của

đất đá chảy ra từ các núi lửa tuy nhiên các loại không thuộc loại đã liệt kê ở trên chẳng hạn như các hồ hoà tan trong các thềm sông đá cacbonant, các hồ

do việc đắp đập Chúng được giả sử là kém quan trọng hơn so với các loại hồ băng, hồ sông hoặc hồ núi lửa

Bảng 1.13 Sự phân loại hồ toàn cầu theo muối hoà tan trong hồ

Loại hồ A0 (10 3 km 2 ) V (10 3 km 3 ) TDS (kg/m 3 ) Mmuối (10 15 g) Chứa muối a

Những hồ chứa

muối khác

204 4.16 32.0 133

Trang 37

Muối, tổng lượng muối hoà tan

a Phần cuối của hồ trong vùng endorheic và tất cả hồ đại dương

b Các hồ Exorheic không kể các hồ đại dương, và hồ endorheic không kể vị trí cuối

lượng

c Giá trị ước

Rõ ràng là từ bảng a thấy: 98% uối h à tan tìm thấy ở nước bề

ặt chỉ khoảng 24% ể tích hồ, h biển aspia Những số liệu này

hỉ xem xét muối h g nước c uá trìn

iên kỷ và vài triệu ã đem đến l ối tích có nguồn gốc

rong tự nhiên, ph các hồ là có tính chất không cố định trong suốt tiến

ình lịch sử của tr Chúng được hình thành, phát triển, lấp đầy, rồi biến

của các con đê, rồ dần bị vùi lấp toàn H n

uá t iến tạo nguyê ỷ, được biểu hiện ở nhiều độ tuổi hác nhau (theo bảng 1.14) Khẳng đ dọc

ủa hồ có độ tuổi g t, nhận thấy là n thành từ sự

là Baikal, Tanganyika, Viocaspia và biển

lục địa Lượng muối t

tích luỹ lớn nhất củ iới

ích luỹ đ

a thế g

ượng vào khoảng 68.10 g bao gồ

1

m hồ có th n: có khi ch vài tuần do quá trình bồ

lở i dần hoàn ầu hết các hồ lớn đang còtồn tại là do q rình k n thu

tách ra của những khe nứt lớn, như

Arập, nơi đ

được tìm thấy ở giữa phần phía trên củ

goá phụ" củ Parathe is Một vùng biển l

a Miocene, theo Messinian chúng đtại trong một độ tuổi là 5 - Ma tr

Trang 38

khác hẳn với dự đo

bằng n

án là nó sẽ lấp đầy 0,1 - 1 sự cân hất của hồ t ới là do qu hoạt đ

úi lửa đã được ghi lại trong lịch

nd Có lẽ những hồ này tuy bị bồi lở

trong Ma tới Tuy nhiên, rên thế gi á trình ộng tái tạo trẻ lại của hầuhết các hồ K với sự óng băn thành trong suốt thờ

b 1200 và 600 B à một dẫn ng điển hình: đ

h , nơi mà đã quan át được tr suốt cả quá tr

c n 1992) Những ở vùng duyê hải còn có những cấu trú

địa hình rất mới trong khu vực của nó Chúng đ

định của n ước biển dâng lên, do sự ta à tràn vào tro

liền Đa số các hồ th

những sông chính như Am

của trầm tích mà lòng dẫn đã bị vùi lấp

Những hồ miệng núi lửa cũng có những độ tuổi khá

ta hiếm khi tìm thấy tuổi vượt quá 0,1 Ma, nói chung hồ miệng núi lửa khi mới

được hình thành có độ sâu trung bình khoảng từ 100 - 200 mét, sau đó chúng dần dần bị bồi lắng bởi trầm tích với tốc độ rất chậm, như ta tìm thấy ở trung tâm hồ lớn Tectonic là 0.1 - 1 mm/năm, kết quả là hầu hết c

lắng Thời gian tồn tại của hồ miệng núi lửa nói chung là rất nhỏ Nhiều miệng núi lửa ở Eifel, Auvergre hoặc ở Latini, nơi mà có độ tuổi > 0,25 Ma là một dẫn chứng điển hình cho việc nghiên cứu hồ miệng núi lửa (do Williametal đã ghi lại năm 1993) Quá trình tạo thành hồ miệng n

sử ngày 17/5/1724 là ở hồ Viti ở đảo Icela

đất nhưng nó ít nhiều cũng tồn tại được trong thời gian dài

Tỉ lệ giữa vùng trũng trên vùng hồ là đôi khi vượt trên 100, trong khi giá trị trung bình này chỉ phổ biển là 10 - 30 cho tất cả các hồ (Mcybeck 1995) Nói chung tại khu vực hồ có độ dốc giảm dần, dẫn đến những khác biệt của sự bồi lắng của trầm tích xuống hồ, và thường là rất cao Hiện tượng tương tự này

được tìm thấy ở những bể chứa, quá trình bồi lắng trầm tích trung bình là nhỏ,

cỡ 1 - 10 mm/năm Chính vì vậy mà hồ tồn tại được hàng trăm đến hàng nghìn năm Những hồ dạng đập này được biểu hiện thông qua sự xói mòn có vẻ giảm

đi ở những con sông nhỏ bên ngoài, nơi mà cuối cùng có thể dẫn tới bị vùi lấp trước khi những hồ này bị lấp đầy Ví dụ, như đã xảy ra ở một hồ đập vùng Kashmir (Tirmm 1993), nó có chiều dài khoảng 64 km và phải mất hàng tháng

Bảng 1.14 Ví dụ tuổi của hồ trong mối quan hệ với nguồn gốc hồ

Kiến tạo Graben Baikal ≈ 20 Ma

Tanganyika 20 Ma Tiercelin và Mondeguer (1991) George 4 - 8Ma Timms (1993)

Stanley và Welzel (1985) Kiến tạo Caspian a > 5 Ma

Miscellaneous

Aral a > 5 Ma Stanley và Welzel (1985)

Trang 39

Ohrid > 5 Ma Stankovic (1960)

> 5 Ma Stankovic (1960) Maracaibo > 36 Ma Fairbridge (1968)

Eyre 20 - 50Ma Timms (1993) Victoria ≈ 20000 B.P Adamson và Williams (1980)

Tahoe 2 Ma Imboden cùng cộng sự (1977) Kiến tạo núi lửa Kivu 1 Ma b

Degens cùng cộng sự (1973)

Tiercelin và Mondeguer (1991) Toba 75000 B.P Dawson (1992)

Lanao (Philippines) > 2 Ma Frey (1969)

Lake

8000 B.P d

Dawson (1992)

Fluvial hồ Mississippi 9000 B.P Dawson (1992)

Landside Vallon hình thành Dussart (1992)

năm 1943

ành

11 utchinson (19

Va chạm ở miệng uebec)

umvi

1,3 Ma et và Page (1990)

tone và Miệng núi lửa Wisdom 300 B.P Ball và Glucksm

er (Oregon airbridge (1968) (Guatemala) 84000 B.P 992)

Viti (Iceland)

b Tuổi của kiến tạo do sụt lún

an (1978)

> 250000 B.P 17/5/1724

Williams cùn Hutchinson (1957

g sự (1993) )

a Sót lại của biển Thetis

lưu vực Tanganyika

một dòng chảy sình lầy

1.10.2 Những thay đổi lịch s

Khi ta qu phần của hồ, ta phải quan sát nó nhiều lần trong tất

Trang 40

tưới tiêu, thoát nước hoặc kết hợp cả hai cũng đều ảnh hưởng đến hồ Trong

suốt thời kỳ Roma đến đầu năm e 1988) hồ này là rất lớn

nối liện giữa kênh Uzboi với biể năm 1950 nó đã bị thu hẹp

lại (từ 68000 km2 xuống còn 33600 km2) Đó là do ý thức của con người, hầu

hư là do hoạt động tưới tiêu nư

này đã bị cô lập với các phụ l Amurdarya rdarya

(theo Letolle và Mainguet 1993) ững hồ lớn cảu Bataklik nơi

mà nỗi liền với thành phố Catal Huyuk đã có nguồn gốc của sự văn minh 6000

B.P, nhưng bây giờ nó đã hoàn toàn bị cạn kiệt Khi hồ Montezuna nhập vào

Cortez ở thủ đô Tenochititlan củ y giờ chỉ còn lại một nửa

của hồ lớn (hơn 1000 km2) nơi mà hiện nay đang rất khô hạn ở gần thành phố

Mexico

1.10.3 Những thay đổi băng tích của hồ

Sự thay đổi lớn về quá tình mở c các nhà kh

nhà khảo cổ học nghiên cứu rất kĩ ở những khu vực nội sinh nơi mà chị ảnh

hưởng của sự thay đổi khí hậu hiên mà thời kỳ này được

xem như là câu hỏi lớn trên mỗ hưng để chú ý tập chung vào những

hủ, nơi mà đ ợc tiếp cận đầy đủ với những sự thay đổi chủ yếu trong

những đặc trưng của thuỷ quyển ở những sông chính Đó là do sự cản trở dòng

chảy bởi băng tuyết ở một vài nơi (như ở hồ Asal) gần đây mới xảy ra những

ong mự của hồ

này đã được tổng kết qua bảng 15 Dawson 1992 đã c t nhận

đổ hồ ở nhữ vực không c g bao pvới việc nghiên cứu những khu vực khác như ở Châu Phi, Nam á ỹ

bởi vì mực nước của hồ thường trong gần 10 o

và Gau

ở Châu Phi sự thay đổi chủ yếu đã xảy ra với hồ Chad ở 6000 B.P (theo

cene

Biến đổi quá khứ

n đồ, qua sự ghi chéphúng là những hồ tự

và Nam M

là rất khó khă tạo xác đáng để ghi lại

thay đổi rất đa dạng

nhữn ổi hàng ngày,

00 năm (theVancompo sse 1993)

Pleisto

Hồ hiện tại Diện tích hồ

i A0 2

)

(năm P)

hảo

Fontes (1978)

hiện tạ (km

Diện tích quá khứ

B a) Hồ Tauca: 43000 km

Ngày đăng: 07/09/2016, 14:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.12 Phân loại của các hồ lớn trong vùng Endorheic hoặc Arheic tại giai đoạn địa chất hiện đại - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Bảng 1.12 Phân loại của các hồ lớn trong vùng Endorheic hoặc Arheic tại giai đoạn địa chất hiện đại (Trang 35)
Hình 3.6: Điểm khởi đầu từ giá trị trung bình 130 năm của giáng thuỷ (đ−ờng liền) và bốc hơi (đ−ờng - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 3.6 Điểm khởi đầu từ giá trị trung bình 130 năm của giáng thuỷ (đ−ờng liền) và bốc hơi (đ−ờng (Trang 106)
Hình 3.8: Ví dụ về trạng thái ổn định quỹ đạo của mực hồ (nhìn vào bài cho các kí hiệu) - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 3.8 Ví dụ về trạng thái ổn định quỹ đạo của mực hồ (nhìn vào bài cho các kí hiệu) (Trang 109)
Hình 4.4. Các quá trình trao đổi nhiệt giữa nước và khí quyển (xem Phương trình 42 và Bảng 4 cho các - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 4.4. Các quá trình trao đổi nhiệt giữa nước và khí quyển (xem Phương trình 42 và Bảng 4 cho các (Trang 161)
Hình 4.8. Phổ của các dao động nhiệt độ (T')  ở hồ Zurich (Switzerland) bởi Horn và những người khác  2 - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 4.8. Phổ của các dao động nhiệt độ (T') ở hồ Zurich (Switzerland) bởi Horn và những người khác 2 (Trang 176)
Hình 4.11. a. Biểu đồ xáo trộn của hai khối n - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 4.11. a. Biểu đồ xáo trộn của hai khối n (Trang 188)
Hình 4.23. Các quy mô thời gian và độ dài đặc trưng của các phương thức xáo trộn trong hồ: Những - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 4.23. Các quy mô thời gian và độ dài đặc trưng của các phương thức xáo trộn trong hồ: Những (Trang 219)
Hình 5.3: Xây dựng đường đồng vị (∆= δ ss  - δ in  ) thông qua thông lượng dòng chảy trong hồ ở trạng thái - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 5.3 Xây dựng đường đồng vị (∆= δ ss - δ in ) thông qua thông lượng dòng chảy trong hồ ở trạng thái (Trang 239)
Hình 5.5 mô phỏng phản ứng của thành phần chất đồng vị của một hồ ôn đới - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 5.5 mô phỏng phản ứng của thành phần chất đồng vị của một hồ ôn đới (Trang 242)
Hình 6.1 Những quá trình trao đổi giữa nước - không khí - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 6.1 Những quá trình trao đổi giữa nước - không khí (Trang 275)
Hình 6.3 Sự di chuyển giữa khối không khí và nước minh hoạ hai khái niệm đối nghịch - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 6.3 Sự di chuyển giữa khối không khí và nước minh hoạ hai khái niệm đối nghịch (Trang 278)
Hình 6.7 Sự đánh giá thông l−ợng của PAHs tới hồ Siskiwit. Phỏng theo từ McVeety và Hites (1988) - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 6.7 Sự đánh giá thông l−ợng của PAHs tới hồ Siskiwit. Phỏng theo từ McVeety và Hites (1988) (Trang 291)
Hình 7.14. Bản đồ nhập l−ợng tới hạn với sự che phủ 95% đất rừng ở Châu Âu (trong phạm vi  kinh độ - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 7.14. Bản đồ nhập l−ợng tới hạn với sự che phủ 95% đất rừng ở Châu Âu (trong phạm vi kinh độ (Trang 330)
Hình 7.20. Tổng nồng độ nhôm trong các mẫu suối tại Đông với Tây - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
Hình 7.20. Tổng nồng độ nhôm trong các mẫu suối tại Đông với Tây (Trang 341)
Hình  8.1. Profile thẳng đứng của sự tập trung kim loại trong chất trầm tích và nước khe hở của Loch - Các quá trình vật lý và hóa học của hồ (Nguyen Thanh Son, Nguyen Duc Hanh, Ngo Chi Tuan dich)
nh 8.1. Profile thẳng đứng của sự tập trung kim loại trong chất trầm tích và nước khe hở của Loch (Trang 356)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w