Không đồng ý với việc xây cất nói trên nên ông Sinh và bà Thanh có đơn gửi UBND xã Phù Vân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai giữa bốn chị em ông với bà Đinh Thị Tám.. - Về yêu cầu th
Trang 1
(Hồ sơ vụ án r n p qu n s ụn t LS.DS-10/B5.TH1-DA2)
v n: XXX MSHV: YYY p: ZZZ
2016
Trang 2
I 3
II
NGUYÊ 4
III
6
a) i nguyên đơn 6
b) i đơn 6
IV
7
1 n i ung i n 7
2 u n đi 8
2.1 t tụ t tụn 8
2.2 n un 9
V 11
Trang 3I
* Nguyên đơn:
- Bà Chu Thị Hồng Thanh (tên gọi khác Chu Thị Thanh), sinh năm 1930
Địa chỉ: số nhà 12, tổ 16 phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Chu Thị Hồng Tâm, sinh năm 1970
Địa chỉ: số nhà 61, tổ 16 phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
- Ông hu ăn inh, sinh năm 1936
Địa chỉ: thôn Vạn Thắng, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
* Bị đơn : bà inh hị Tám, sinh năm 1930
Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Chu Thị Loan, sinh năm 1935
Địa chỉ: tổ 3 phường Cầu Thía, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Người đại diện theo ủy quyền: ông Chu Anh Quyết, sinh năm 1952
Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Bà Chu Thị The, sinh năm 1944
Địa chỉ: đội 1 thôn Diên Điền, xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Người đại diện theo ủy quyền: ông Chu Anh Quyết, sinh năm 1952
Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Ông Chu Khắc Hồng, sinh năm 1956;
- Bà Trần Thị ắc, sinh năm 1957;
- Bà Chu Thị Mai, sinh năm 1952
Cùng địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
i ung n :
Bà Thanh, ông Sinh, bà Loan và bà The tranh chấp đòi quyền sử dụng đất của
777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện
Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đối với bị đơn là Bà Đinh Thị Tám
V nguồn g t:
Ông Chu Khác Trường và bà Chu Thị Cúc có tất cả 4 người con là Chu Thị Hồng Thanh (sinh năm 1931), Chu Thị Loan (sinh năm 1934), Chu Khắc Sinh (sinh năm 1939), Chu Thị The (sinh năm 1944) Ông Trường mất năm 1945, năm 1990, bà
Trang 4Cúc chết đi không để lại di chúc, để lại di sản thừa kế là mảnh đất diện tích 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Ngày 21/01/1994, ông Chu Khắc Sinh tự ý lập giấy chuyển nhượng mảnh đất nói trên cho vợ chồng ông Chu Khắc Thuyên và bà Đinh Thị Tám với giá trị là 1,500,000đ mà không có sự đồng ý của những người thừa kế khác
Ngày 10/04/1944, UBND xã Phù Vân ra Thông báo số 05/TB-UB tạm đình chỉ việc chuyển nhượng nói trên giữa ông Sinh và vợ chồng ông Thuyên Ngày 15/04/1994, bốn chị em bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The đã thống nhất giao mảnh đất trên cho ông Thuyên và bà Tám trong nom, quản lý Nội dung: Để có nơi hương khói thờ phụng ông bà, cha mẹ tôi cũng là nơi hội tụ anh chị em trong các dịp giỗ tết hàng năm Sau khi được ý kiến của nội ngoại chúng tôi nhất trí làm giấy này giao cho quyền sử dụng đất cho ông Chu Khắc Thuyên Thời hạn giao 05 năm kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1994 đến tháng 15 tháng 4 năm 1999 Người được sử dụng phải
có giao ước sau: nhà cửa tu sửa giữ để ở không để dột nát, đất đai tự sản xuất ra sản phẩm sử dụng và nạp nghĩa vụ với nhà nước (trồng các cây ngắn ngày) không được xây dựng cơ bản như: làm nhà, đất phải giữ nguyên mặt bằng không được đào khoét Các cây cối lưu niên không được chặt phá Tổng giá trị thu nhập cây lưu niên hàng năm phải có sự chứng kiến của hai bên nội ngoại Số tiền đó ông Chu Khắc Thuyên được hưởng 50% (năm mươi phần trăm) phần còn lại do bốn chị em bà Thanh sử dụng (mở sổ ở ngân hàng do bà Chu Thị Thanh đứng tên)
Tháng 5 năm 2012 bà Tám xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 khoảng 100 m2 trên mảnh đất kể trên Không đồng ý với việc xây cất nói trên nên ông Sinh và bà Thanh có đơn gửi UBND xã Phù Vân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai giữa bốn chị em ông với bà Đinh Thị Tám
UBND xã Phù Vân đã tiến hành 2 phiên hòa giải ngày 19/06/2012 và ngày 25/10/2012 nhưng không có kết quả Có lập biên bản hòa giải
Ngày 05/11/2012, bà Thanh và ông Sinh cùng đứng đơn khởi kiện đòi bà Định Thị Tám phải trả lại đất, nhà và cây cối trên diện tích 777 m2
tờ số 2 thửa 40 lập năm
1998 và hoa màu tên đất với 50% tổng giá trị thu nhập cây lâu niên kể từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999 theo giấy gửi UBND xã Phù vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (15/4/1994)
Trang 5Các nguyên đơn yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại tài sản là mảnh đất 777 m2
thuộc thửa đất số 40 tờ bản đồ số 2 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ
Lý, tỉnh Hà Nam Là di sản thừa kế do bà Chu Thị Cúc để lại, thuộc sở hữu chung của
4 chị em bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The Yêu cầu bà Đinh Thị Tám tháo dỡ toàn bộ tài sản, nhà cửa trên đất mà bà Tám đã tự ý xây cất Đối với yêu cầu thanh toán tổng giá trị thu nhập hoa màu cây lưu niên tử năm 1994, các nguyên đơn thống nhất không yêu cầu tòa án giải quyết nữa
- Về ngu n gốc, quyền sở hữu Quyền s d ng đ tranh ch p:
Mảnh đất tranh chấp nói trên bao gồm 777 m2 thửa đất số 40 tờ bản đồ số 2, lập năm 1998 cụ thể:
+ Gi y xác nhận ông Chu Khắ rường m t năm 1945
+ Tờ bản ồ hiện trạn năm 1998 (bút lục 21) và tờ bản ồ năm 1990
+ Bản sao h khẩu ìn
+ CMND c á ươn sự: bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The
+ Gi y khai sinh c á n u n ơn và n ười có quy n, lợi ích liên quan (nếu có)
- Về yêu cầu tháo dỡ nhà, tài sản khác củ à đ trả l i đ t:
Mảnh đất trên thuộc sở hữu chung của các bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The là các đồng thừa kế của bà Cúc Nên các nguyên đơn có quyền yêu cầu bà Tám tháo dỡ nhà, tài sản khác của bà Tám để trả lại đất
+ Thông báo tạm ìn ỉ việc chuyển quy n s dụn t c a UBND xã Phù Vân ngày 10/04/1994
+ Biên bản o t ngày 15/04/1994
+ Đơn nghị UBND xã can thiệp, giải quyết
+ Biên bản hòa giải c a UBND xã Phù Vân ngày 19/06/2012, ngày 25/10/2012
Trên đây là toàn bộ yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn
Cám ơn HĐ đã lắng nghe
Trang 67 Cá n u n ơn ó n ận ượ 50 p n lợ tứ t lưu n n àn năm
tr n mản t t k o t o ôn u n trôn nom k ôn ?
8 Cá n u n ơn lạ t khi nào?
9 Bị ơn x n à á n u n ơn ó ồn ý k ôn ? Cá n u n ơn ã làm gì?
3 Mản t tr n trư c khi bà Cúc m t là c a ai?
4 Vậy bà Cúc chết thì mản t trên là c a chung cho t t cả các con c a bà
Cú ún k ôn ?
5 Đã là tà sản chung c a nhi u n ườ t ì 1 n ười tự ý bán ó ược không?
6 ư vậy, việc ông Sinh tự ý bán mản t là th a kế c a 4 chị em cho bà là
ó ún k ôn ?
7 U D xã P ù n ã ó văn bản h y việc chuyển n ượn t c a ông Sinh
và ông Thuyên, phía bị ơn ó ượ t ôn báo u này không?
8 Đến giờ, mản t vẫn o bà Cú ứn t n ún k ôn ?
9 Mản t trên các con c bà Cú ã t ng nh t giao cho bà và chồng bà quản lý, s dụng t khi nào?
Trang 714 Tài sản c a h , h lại mà bà không chịu trả Bà có th y bà sai không?
15 o n ư o qu n trôn nom t ì vợ ồn bà ỉ ượ ưởn 50
18 à x ăn n à vào năm nào? ó o á on a bà Cúc biết không?
19 H ó ồng ý cho bà xây không?
20 Có phả vì k ôn ồng ý nên h ã k ện bà lên UBND xã?
21 H ã k ôn ồng ý, có n p ơn l n U D xã mà bà vẫn tự ý xây?
Bà Đinh Thị Tám được thụ lý giải quyết tại TAND Thành phố Phủ Lý
Được sự chấp thuận bào chữa của Quý tòa Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và phần thủ tục hỏi tại phiên tòa hôm nay, tôi xin có ý kiến trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng của tôi như sau:
1 n i ung i n
Ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc cư ngụ tại thôn 6 xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Hai ông bà có 4 người con gồm: Chu Thị Thanh; Chu Thị Loan, Chu Văn Sinh, Chu Thị The Lúc sinh thời hai ông bà Trường – Cúc tạo dựng được một khối tài sản là một ngôi nhà cấp 4 và diện t ch đất ở, đất trồng cây ăn trái là 777
m2 Sau khi ông bà mất đi, đất đai và nhà cửa vẫn để lại nguyên hiện trạng, không ai quản lý Vào năm 1994, các con của ông Trường và bà Cúc đã họp bàn với nhau và
Trang 8nhất trí giao phần đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Chu Khắc Thuyên (tức Chu Khắc Kha) quản lý trông nom
Nội dung: “Để ó nơ ươn k ó t ờ phụng ông bà, cha mẹ tô ũn là nơ i
tụ anh chị em trong các dịp giỗ tết àn năm u k ược ý kiến c a n i ngoại chúng tôi nh t trí làm gi y này giao cho quy n s dụn t cho ông Chu Khắc Thuyên Thời hạn o 05 năm kể t n à 15 t án 4 năm 1994 ến t án 15 t án 4 năm 1999
ườ ược s dụng phả ó o ư c sau: nhà c a tu s a gi ể ở k ôn ể d t nát,
t tự sản xu t ra sản phẩm s dụng và nạp n vụ v n à nư c (trồng các cây ngắn n à ) k ôn ược xây dựn ơ bản n ư: làm n à t phải gi nguyên mặt bằng
k ôn ượ ào k oét Cá lưu n n k ôn ược chặt phá Tổng giá trị thu nhập lưu n n àn năm p ải có sựchứng kiến c a hai bên n i ngoại S ti n ó ông Chu Khắ u n ượ ưởn 50 (năm mươ p n trăm) p n còn lại do b n chị em bà Thanh s dụng (mở sổ ở ngân hàng do bà Chu Thị n ứng tên)”
Ông Chu Khắc Thuyên mất năm 1999, phần tài sản nói trên tiếp tục được vợ ông Thuyên là bà Định Thị Tám quản lý
Đến ngày 28/5/2012 bà Đinh Thị Tám tập kết vật liệu chuẩn bị xây nhà trên thửa đất này thì bị bà Chu Thị Loan, Chu Thị Thanh phát hiện
Không đồng ý với việc xây cất nói trên nên ông Sinh có đơn gửi UBND xã Phù Vân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai giữa bốn chị em ông với bà Đinh Thị Tám UBND xã Phù Vân đã tiến hành 2 phiên hòa giải ngày 19/06/2012 và ngày 25/10/2012 nhưng không có kết quả Có lập biên bản hòa giải
Ngày 08/11/2012, bà Chu Thị Hồng Thanh và ông Chu Văn Sinh đã khởi kiện
bà Đinh Thị Tám ra tòa và yêu cầu:
- Yêu cầu à Đin Tám trả l i di n tích 777m2 t i th đ t số 40 tờ bản đ
số 2 l nă 1998 đ a chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, TP Phủ Lý, Hà Nam cho bà Chu Th n ông u Văn Sinh, bà Chu Th The và bà Chu Th Loan;
- Bu à Đin Tám phải trả l i nhà và cây cối trên di n đ t 777m2
t i th đ t số 40 tờ bản đ số 2 l nă 1998 ủ gi đìn à àu ên
đ t với 50% tổng giá tr thu nh âu u niên từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999 theo gi y g i UBND xã Phù vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (15/4/1994)
2 u n đi
2.1 t tụ t tụn
Theo khoản 2 Điều 135 Luật Đất đai 2003 và khoản 2 Điều 159 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải Thực hiện theo quy định này, các nguyên đơn đã 02 lần làm đơn đề nghị hòa giải gửi UBND xã Phù Vân UBND xã Phù Vân đã tiến hành hòa giải 02 lần vào các 19/06/2012 và 25/10/2012 nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau Do đó, các nguyên đơn có quyền khởi kiện vụ án
Trang 9Việc khởi kiện của các nguyên đơn sau khi đã hòa giải tại cơ sở là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Tranh chấp giữa các nguyên đơn và bị đơn là về quyền sử dụng đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 7 Điều 25 BLTTDS Theo Khoản 1 Điều 33, Khoản 1 Điều 35 BLTTDS, T ND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thụ lý và giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng quy định pháp luật
2.2 n un
ứ n , căn cứ vào sổ quản lý đất đai của UBND xã Phù Vân và các tài liệu
chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, cũng như sự thừa nhận của các đương sự, có thể khẳng định: Mảnh đất tranh chấp nói trên có diện t ch 777 m2 thửa đất số 40 tờ bản đồ
là đồng thừa kế đối với phần di sản của bà Cúc, Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại Nghị
Quyết s 02/2004/ NQ- Đ P của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cáo, tại
điểm a, mục 2.4 cũng quy định rõ, sau khi kết thúc thời hạn mười năm kể từ thời điểm
mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế các đồng thừa
kế đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế
Như vậy, mảnh đất trên là tài sản chung của các nguyên đơn, bà Chu Thị Loan
và bà Chu Thị The
ứ i, do các ông bà Sinh, Loan, The, Thanh đều đã lập gia đình ở địa
phương khác Vì vậy, các ông bà nói trên đã thống nhất giao cho người bà con của mình cư ngụ tại gần đó là ông Chu Khắc Thuyên (Chu Khắc Kha) để ông Thuyên trông nom phần đất đai, tài sản đó
Sự thỏa thuận của các bên được lập vào ngày 15/4/1994 đã xác định rõ trách
nhiệm cũng như quyền lợi của ông Thuyên khi trông nom đất đai vườn tược là: “Thời
hạn o 05 năm kể t n à 15 t án 4 năm 1994 ến t án 15 t án 4 năm 1999
ườ ược s dụng phả ó o ư c sau: nhà c a tu s a gi ể ở k ôn ể d t nát,
t tự sản xu t ra sản phẩm s dụng và nạp n vụ v n à nư c (trồng các cây ngắn n à ) k ôn ược xây dựn ơ bản n ư: làm n à t phải gi nguyên mặt bằng
k ôn ượ ào k oét Cá ây c lưu n n k ôn ược chặt phá”
Như vậy, việc bà Đinh Thị Tám đang trực tiếp quản lý phần đất đai và tài sản
có trên đất thuộc quyền sở hữu của các nguyên đơn được xuất phát từ nghĩa vụ của
ông Chu Khắc Thuyên Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 639 BLDS thì “n ười quản
lý di sản ó n vụ giao lại di sản th a kế theo yêu c u c a nh n n ười th a kế” và
Trang 10hướng dẫn tại điểm b, mục 2.4 Nghị Quyết s 02/2004/ NQ- Đ P của Hội đồng thẩm
phán tòa án nhân dân tối cáo cũng quy định, trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế, nhưng các thừa kế không trực tiếp sử dụng quản lý, mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu, quản lý theo ủy quyền thì các thừa kế có quyền kiện đòi tài sản
Như vậy, khi tất cả các đồng thừa kế yêu cầu người quản lý di sản thừa kế giao trả lại di sản thì họ phải giao trả lại theo đúng quy định của pháp luật về thừa kế Do
đó, việc các nguyên đơn yêu cầu bà Đinh Thị Tám giao trả phần đất 777 m2
thửa đất số
40 tờ bản đồ số 2, lập năm 1998 là hoàn toàn có cơ sở
Thêm vào đó, Văn bản xác định thời hạn giao quản lý di sản thừa kế là 05 năm (15/04/1994 – 15/4/1999), hết thời hạn trên thì người quản lý di sản không còn quyền quản lý di sản trên nữa Việc các đồng thừa kế không yêu cầu giao trả ngay khi hết thời hạn giao nói trên không có nghĩa là di sản thừa kế đó trở thành tài sản thuộc sở hữu của người quản lý di sản Tài sản nói trên đang bị bà Đinh Thị Tám chiếm hữu trái pháp luật
Việc bà Đinh Thị Tám dựa vào hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Chu Văn Sinh và ông Chu Khắc Thuyên để nói rằng, tài sản đang tranh chấp là của gia đình bà, là điều không đúng Bởi vì, ngày 10/4/1994, UBND xã Phù Vân đã có thông báo về việc tạm đình chỉ việc chuyên quyền thừa kế giữa chồng bà và ông Sinh, nên văn bản ký kết giữa 2 người đã không còn có hiệu lực Ngoài ra, Căn cứ điểm b Khoản 1 điều 639 BLDS thì người quản lý di sản không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp
và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản Do đó, ngay cả khi việc ông Sinh và ông Thuyên (tức chồng bà Tám) có thực hiện việc chuyển nhượng phần diện t ch đất và tài sản có trên đất thì việc chuyển nhượng trên cũng hoàn toàn trái với các quy định của pháp luật
Việc bà Tám xây dựng căn nhà cấp 4 diện tích 100 m2 vào năm 2012 là vi phạm thỏa thuận giữa các bên Các đương sự không đồng ý, có đơn đề nghị UBND xã Phù Vân can thiệp giải quyết Do đó, bà Tám phải tháo dỡ đi, trả lại diện t ch đất nói trên cho cho các đương sự Các đương sự không có nghĩa vụ phải bồi thường chi phí tháo
dỡ, thiệt hại do việc tháo dỡ tài sản của bà Tám để trả lại di sản thừa kế cho họ
Từ những phân t ch và chứng cứ nêu trên, có thể kết luận:
- Mản t 777 m2 th t s 40 tờ bản ồ s 2, lập năm 1998 tà sản un
á n u n ơn bà C u ị o n và bà C u ị
- ệ bị ơn Đ n ị ám tự ý x ựn n à tr n mản t k ôn ó sự ồn ý
sở u là trá p áp luật
Vì vậy, k nh đề nghị HĐ xem xét các yêu cầu sau:
1 Bu à Đin Tám trả l i đ nguyên đơn à u
n à à u
2 u à Đin ả i n à à ây ối ên đ n i ên
3 Bu à Đin ỡ ần ài ản ủ à ên đ à nguyên đơn ông ng i ờng