Sở giáo dục đào tạo hng yên Trờng THPT ân thi Sáng kiến kinh nghiệmHớng dẫn học sinh khai thác vẻ đẹp thơ nôm đờng luật Của hồ xuân hơng, nguyễn khuyến, trần tế xơng qua một số tác phẩm
Trang 1Sở giáo dục đào tạo hng yên
Trờng THPT ân thi
Sáng kiến kinh nghiệmHớng dẫn học sinh khai thác vẻ đẹp thơ nôm đờng luật Của hồ xuân hơng, nguyễn khuyến, trần tế xơng
qua một số tác phẩm tiêu biểu trong trờng thpt
Họ và tên: Nguyễn Tuyết Mai Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trờng : THPT Ân Thi
Năm học: 2013 - 2014
CỘNG HềA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phỳc
BÁO CÁO YấU CẦU CễNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
I Thụng tin cỏ nhõn
Họ và tờn tỏc giả sỏng kiến: NGUYỄN TUYẾT MAI
Ngày sinh: 1/6/1985
Đơn vị cụng tỏc: Trường THPT Ân Thi
Trỡnh độ chuyờn mụn nghiệp vụ: Thạc sĩ Ngữ văn
Nhiờm vụ được giao năm học 2013 - 2014: Giảng dạy bộ mụn Ngữ văn tại cỏc lớp 11A1 – 11A6, 12 A7
Trang 2Đề nghị công nhận sáng kiến: cấp Ngành
Tên đề tài SKKN, lĩnh vực áp dụng: Hướng dẫn học sinh khai thác vẻ đẹp thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương qua những những tác phẩm tiêu biểu trong chương trình THPT.
II Báo cáo mô tả sáng kiến:
“Văn chương” hiểu theo nghĩa gốc của cụm từ này nghĩa là ánh sáng của cái
đẹp Dạy văn chương, suy cho cùng, phải làm cho học sinh rung động trước cái đẹp
từ nghệ thuật đến nội dung của tác phẩm, từ đó, thêm yêu mến con người và cuộcsống Trong những năm gần dây, nền kinh tế thị trường đã tác động đến từng tranggiáo án của các thầy cô cũng như những trang vở của học trò Tâm lí của thầy cô vàhọc trò học văn chỉ muốn là sao nhanh chóng nắm bắt được những “nội dung cơbản” của tác phẩm Điều này vô tình đã đánh mất đi ý nghĩa đích thực của việc họcmôn văn trong nhà trường
Thơ Nôm Đường luật là một di sản văn hóa vô cùng quý báu của dân tộc ta
Ở đó, chúng ta thấy được tinh thần học hỏi của cha ông với tinh hoa của văn hóa,văn học Trung Hoa, đồng thời cũng thấy được một tinh thần tự tôn, một bản lĩnhkiên cường và tài năng điêu luyện của cha ông trong việc gìn giữ và phát huy sựgiàu đẹp của tiếng nói dân tộc Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương– mỗi thi sĩ có một nét riêng trong cách vận dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân đểthể hiện tư tưởng tình cảm của mình Mỗi tác giả đã đem đến cho thơ Nôm Đườngluật một vẻ đẹp độc đáo riêng
Sáng kiến của tôi hướng tới việc nâng cao chất lượng dạy học thơ NômĐường luật bằng việc giúp cho học sinh thấy được cái hay cái đẹp của thơ NômĐường luật nói chung và của từng thi phẩm nói riêng Từ đó giúp cho học sinh cóhứng thú khi khám phá kho tàng di sản vô cùng quý giá này của cha ông Qua đó,nâng cao được lòng yêu mến văn chương nghệ thuật, trân trọng tiếng nói của chaông, phát huy được tinh thần tự tôn dân tộc
Trang 3Để dạy một tác phẩm văn chương nói chung và một văn bản thơ Nôm Đường luật nói chung, người giáo viên phải huy động đồng bộ các phương pháp, biện pháp dạy học Bản thân tôi đã vận dụng SKKN này nhiều năm trong việc dạy các tiết học
cụ thể trên lớp cũng như dạy chuyên đề cho học sinh có định hướng học ban xã hội Kết quả thu được khiến tôi cảm thấy hài lòng với sự nỗ lực, cố gắng của mình
Tôi cam đoan về những nội dung trong báo cáo là do tôi viết hoàn toàn Nếu
có gì dan dối hoặc không đúng sự thực tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Thủ trưởng đơn vị xác nhận, đề nghị Ân thi ngày 25 tháng 3 năm 2014
(Kí, đóng dấu) Người viết SKKN
Nguyễn Tuyết Mai MỤC LỤC Trang A PHẦN MỞ ĐẦU I Lí do chọn đề tài……… 1
II Mục đích nghiên cứu……… 1
III Lịch sử nghiên cứu……… 2
IV Giới hạn của đề tài……… 2
B PHẦN NỘI DUNG Chương I Cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn……… 3
Trang 4Chương II Vẻ đẹp của thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương Nguyễn qua một
số tác phẩm tiêu biểu 5
2.1 Từ góc nhìn nội dung 5
2.1.1 Hình tượng thiên nhiên……… 6
2.1.1.1 Hình tượng thiên nhiên mang ý nghĩa biểu trưng 6
2.1.1.2.Hình tượng thiên nhiên mang ý nghĩa tả thực 8
2.1.2 Hình tượng bức tranh đời sống 10
2.1.3 Hình tượng con người……… 13
2.1.3.1 Với tư cách là đối tượng trữ tình 13
2.1.3.2 Với tư cách là chủ thể trữ tình 14
2.1.3.2.1 Con người với những nỗi niềm riêng tây sâu kín 15
2.1.3.2.2 Con người ưu thời mẫn thế 16
2.2 Từ góc nhìn nghệ thuật 19
2.2.1 Ngôn từ giản dị, trong sáng mà vô cùng tinh tế 19
2.2.2 Sử dụng phép đối điêu luyện, tài tình 23
2.2.3 Sự kết hợp giữa trào phúng và chất trữ tình 26
Chương III Những biện pháp dạy thơ Nôm Đường luật 3.1 Tạo tâm thế cho học sinh trong quá trình tiếp nhận ban đầu 28
3.2 Đọc cho vang nhạc, sáng hình để tri giác tác phẩm, làm sống dậy thế giới nghệ thuật 30
3.3 Xây dựng câu hỏi trong dạy học thơ Nôm Đường luật Việt Nam 32
3.4 Hướng dẫn học sinh tái hiện, kiến tạo hình tượng nghệ thuật 33
3.5 Tăng cường hoạt động thảo luận nhóm 34
3.6 Tăng cường hoạt động phân tích, cắt nghĩa, bình giá 34
3.7 Hướng dẫn học sinh so sánh, mở rộng, liên hệ 37
3.8 Tăng cường bài tập chuyên sâu 37
Chương IV Thực nghiệm 38
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
Trang 5Tài liệu tham khảo
A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Thơ Nôm Đường luật chiếm một vị trí khá quan trọng trong chương trìnhNgữ văn THPT Xét về mặt nội dung và nghệ thuật, các bài thơ này có nhiều điểmtương đồng Các tác phẩm đều phản ánh một cách toàn diện xã hội đương thời, thểhiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm của con người một cách sâu sắc Nộidung phong phú được thể hiện bằng hình thức thơ hoàn mỹ Các tác phẩm cũngchịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuật của thơ Đường, thi pháp thơ rất đa dạng,phong phú, phức tạp và sâu sắc: ngôn ngữ rất hàm súc, nói ít gợi nhiều, ý tại ngônngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của
Trang 6thể loại; vừa trong sáng giản dị, tinh tế, giàu giá trị biểu đạt Hiểu được các bài thơnày một cách thấu đáo đã là khó, việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụđược còn khó khăn hơn rất nhiều
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là ba đỉnh cao của thơNôm Đường luật thế kỉ XVIII – XIX Đây là ba nhà thơ có công lớn nhất trong việcViệt hóa thơ Đường, biến một thể thơ trang trọng của Trung Hoa thành một thể thơgần gũi, giản dị, trong sáng, phản ánh đời sống, tâm tình của con người Việt Nammột cách chân thực và đầy cảm động Bên cạnh đó, đến với thơ Nôm của ba thi sĩtài hoa này, chúng ta được tiếp cận một bút pháp điêu luyện thể hiện sự thăng hoađỉnh cao của ngôn ngữ tiếng Việt Làm cho học sinh thấy được vẻ đẹp của thơ Nômnói chung, thơ Nôm Đường luật nói riêng, thiết nghĩ là một nhiệm vụ quan trọngcủa người giáo viên để giúp cho học sinh thấy được sự giàu có phong phú của tiếngViệt và niềm trân trọng yêu mến của các thi sĩ với tiếng mẹ đẻ, qua đó giáo dục tìnhyêu và niềm tự hào về di sản tinh thần vô cùng cao quý của dân tộc
II Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu vẻ đẹp của thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, NguyễnKhuyến, Trần Tế Xương trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật qua một sốtác phẩm tiêu biểu Qua đó, thấy được những đóng góp to lớn của ba nhà thơ trongquá trình gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hóa của dân tộc
- Nghiên cứu các phương pháp, biện pháp dạy học để giúp học sinh dễ dàngtiếp cận và hiiểu được cái hay, cái đẹp của thơ Nôm Đường luật
III Lịch sử nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu về thơ Nôm Đường luật và
phương pháp giảng dạy thơ Nôm Đường luật đã có các công trình nghiên cứu:
- Bình giảng thơ Nôm Đường luật của thầy Lã Nhâm Thìn.
- Dạy học các bài thơ Nôm Đường luật trong SGK Ngữ văn 11 theo đặc trưng thể
loại của Hà Thị Thu Huyền (Luận án Thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên, 2010)
Trang 7IV Giới hạn của đề tài: Chủ yếu nghiên cứu Thơ Nôm Đường luật của Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương trong chương trình SGK Ngữ văn
11 Cơ bản và Nâng cao gồm 5 bài:
1 Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương
2 Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến
3 Thương vợ của Trần Tế Xương
4 Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương
5 Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến ( Chương trình Nâng cao)
Đây chủ yếu là những bài thơ Nôm Đường luật được viết theo thể thơ Thấtngôn bát cú
Ngoài ra, tôi có liên hệ, mở rộng với một số bài thơ khác của ba tác giả này
B PHẦN NỘI DUNG
Chương I Cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở lí luận
Về khái niệm thơ Nôm Đường luật
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, NguyễnKhắc Phi đồng chủ biên, NXB GD, 2004 thì “Thơ Đường luật còn gọi là thơ cậnthể là thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ thời Đường ở TrungQuốc” và “thơ Nôm Đườn luật chính là thể thơ Đường luật bằng chữ Nôm”
Tác giả Lã Nhâm Thìn trong cuốn “Bình giảng thơ Nôm Đường luật” đã
khẳng định: thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bài thơ viết bằng chữ Nôm
Trang 8theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật theo luật Đườnghoàn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật Đường phá cách – những bài có xencâu ngũ ngôn, lục ngôn vào thơ thất ngôn
Trong cuốn “Thiết kế dạy học ngữ văn 11”, tác giả Hoàng Hữu Bội
cho rằng “những bài thơ được viết theo các thể Đường luật mà bằng chữ được gọi
là thơ Nôm Đường luật”
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Thơ Nôm Đường luật chính là thơ viếttheo luật Đường và bằng chữ Nôm gồm các thể: thất ngôn bát cú Đường luật, ngũngôn bát cú Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt và cả thơ thất ngônxen lục ngôn
Về Đặc điểm hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật:
- Số câu chữ Một bài thơ thất ngôn bát cú thường có 8 câu, mỗi câu 7 chữ,
cả bài 56 chữ
- Về gieo vần Cả bài chỉ có một vần (độc vận) gieo ở cuối các câu 1,2,4,6,8
(chính lệ hoặc 2, 4, 6, 8 (ngoại lệ); Bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến được
gieo vần “eo” ở cuối các câu 1,2,4,6,8 (chính lệ) Bài thơ “Nhàn”, tác giả NguyễnBỉnh Khiêm đã gieo vần “ao” ở cuối các câu 2,4 ,6,8 (ngoại lệ)
- Về đối ngẫu: thực hiện ở 4 câu giữa, gồm đối ý, đối thanh và đối từ loại
- Về luật bằng trắc: “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nghĩa là ởmỗi câu, các tiếng đứng ở vị trí thứ nhất, thứ ba và thứ năm thì có thể bằng hoặctrắc, còn các tiếng nằm ở vị trí thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì phải tuân thủ nghiêmngặt như sau: nếu ở câu lẻ , ba tiếng ở vị trí 2,4,6 là T.B.T (trắc bằng trắc) thì ở 3tiếng ấy ở câu chẵn trong liên đó phải là B.T.B (bằng, trắc, bằng)
Trong mỗi liên, nếu xuất cú mở đầu bằng hai thanh bằng thì đối cú phải mở đầubằng hai thanh trắc Nếu làm sai quy định như trên gọi là thất luật
- Về niêm: Niêm có nghĩa là dính với nhau Nếu luật là quy định bằng trắctheo chiều ngang thì niêm là quy định bằng trắc theo chiều dọc để gắn liền các cặpcâu lại và tránh đơn điệu Do có luật “ nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”
Trang 9nên người ta quy định chữ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh vớichữ thứ hai của câu lẻ thuộc liên dưới Tóm lại, niêm là tiếng thứ hai của các câusau phải cùng thanh 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 Nếu làm sai quy định này gọi là thất niêm.
1.2.Cơ sở thực tiễn: Thực trạng học thơ Nôm Đường luật ở trường THPT
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tâm lí học sinh lớp 11A1 và 11A6 ở THPT
Ân Thi với các tác phẩm thơ Nôm Đường luật trong SGK Ngữ văn 11 tập 1 Phiếu
khảo sát số 1 với các câu hỏi: Em có thích học các bài thơ Nôm Đường luật trong
SGK Ngữ văn 11 tập 1 không? Vì sao?
Kết quả thu được như sau:
và đề tài của các tác phẩm phong phú, phản ánh nhiều phương diện của đời sống xãhội và các cung bậc cảm xúc của con người Cá biệt có những em cho rằng rất thíchthơ Nôm Đường luật nhưng cũng không hiểu vì sao (?)
Phiếu khảo sát số 2 được phát ra với câu hỏi: Khi tiếp cận thơ Nôm Đường
luật, các em có gặp khó khăn gì không?
Hầu hết các em đều cho rằng, các tác phẩm ngắn gọn và có tính hàm súc caonên chưa cảm nhận hết được cái hay, cái đẹp chúng; nhiều em cho rằng vì hiệnthực đời sống được phản ánh cách xa thời đại của các em nên cũng khó tiếp cận
Để hiểu được mức độ cảm nhận của học sinh về thơ Nôm Đường luật, tôi đãkhảo sát điểm số của học sinh hai lớp 11A1- 11A6 hai đề kiểm tra (bài viết số 2 –bài làm ở nhà) như sau:
- Đề 1: Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật của bài thơ “Câu cá mùa thu”
Trang 10- Đề 2: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hai bài Tự tình của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.
Kết quả đánh giá như sau:
tả thiên nhiên (Câu cá mùa thu) đến miêu tả đời sống của con người (Thương vợ);
từ đề tài phản ánh những khía cạnh đời tư (Tự tình, Thương vợ) đến phản ánh những hiện thực nhức nhối ở chốn trường thi (Vịnh khoa thi Hương, Tiến sĩ giấy).
2.1.1 Hình tượng thiên nhiên
Thiên nhiên trong thơ Nôm Đường luật vừa mang ý nghĩa biểu trưng, vừamang ý nghĩa tả thực
2.1.1.1 Hình tượng thiên nhiên mang ý nghĩa biểu trưng
Trang 11Với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc, các thi sĩ Việt Nam thường miêu
tả thiên nhiên để gửi gắm tâm trạng của mình:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con!
(Tự tình – bài II)
Thời gian “đêm khuya” vắng lặng là khoảng thời gian hạnh phúc của lứa đôi,
vậy mà vẫn có một người phụ nữ một mình thao thức trằn trọc với biết bao tâm sựngổn ngang Từng hồi trống điểm canh dồn dập như nhắc nhở về bước đi của thờigian, về tuổi xuân, về hạnh phúc Thời gian vẫn cứ trôi vô tình còn lòng người cảm
thấy xót xa trước sự cô lẻ, trơ trọi của mình Cũng là một kiếp “hồng nhan” nhưng chỉ để phơi phang trước “nước non”! Đằng sau nỗi xót xa còn là một sự thách thức
“thân này đâu đã chịu già tom!” (Tự tình – bài 1) Nhưng chỉ là thách thức với đời còn trong lòng tràn ngập một nỗi sầu hận Nhìn vầng trăng “khuyết chưa tròn” lại
càng cảm thấy mình chông chênh, thiếu hụt, trống vắng Rượu cũng không xua tanđược nỗi sầu hận mà chỉ càng làm cho lòng người thêm phẫn uất:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Những thân phận cỏ nội hoa hèn dường như cũng muốn bứt phá, nổi loạn.Nhân vật trữ tình trong bài thơ cũng ý thức rất rõ về thân phận nhỏ bé của mìnhnhưng không cam chịu khuất phục số phận, vẫn khao khát vươn lên để gìanh lấyhạnh phúc Nhưng cuối cùng vẫn phải buông xuôi ngán ngẩm, chua chát:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Trang 12Mảnh tình san sẻ tí con con!
Nàng xuân của đất trời trở về trong sự trẻ trung, xinh tươi nhắc nhở sự héomòn, tàn phai của tuổi xuân Sự chảy trôi của thời gian cuốn phăng đi bao giá trịđẹp đẽ của đời người phụ nữ Xa rồi cái thời mà người ta vẫn tin vào sự tuần tuầnvĩnh viễn của vạn vật và con người:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai
(Thiến sư Mãn Giác)
Chín mươi thì kể xuân đã muộn Xuân ấy đã qua, xuân khác còn
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Hồ Xuân Hương cảm nhận sự chảy trôi của thời gian, đời người với biết bao xót xa, tiếc nuối Trong bài thơ “Tự tình – bài I”, nỗi thảm sầu về bi kịch cô đơn được diễn tả tê tái qua những hình ảnh thiên nhiên:
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
Thiên nhiên trong thơ của nữ sĩ bao giờ cũng đong đầy tâm trạng như thế
2.1.1.2 Hình tượng thiên nhiên mang ý nghĩa tả thực
Nếu như thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương xuất hiện như một cái cớ để
nhân vật trữ tình bày tỏ tâm trạng theo quy luật quen thuộc của văn học xưa (Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ) thì thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến gợi lên hình ảnh một làng quê Việt Nam chân thực, gần gũi, yên bình:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Trang 13Tầng mây lơ lửng trờ xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
(Câu cá mùa thu)Trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, đây là bài thơ điển hình hơn cảcho mùa thu của làng cảnh Việt Nam Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê ViệtNam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt diệu dưới ngòi bút thần tình củaNguyễn Khuyến Nước ao trong veo tỏa hơi thu lạnh lẽo Sương khói mùa thu lãngđãng khắp không gian Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu đã lạnh lại có
cảm giác “lạnh lẽo” hơn bởi nước trong Trên mặt nước thấp thoáng một con
thuyền bé tẻo teo Đây là những hình ảnh bình dị, thân thuộc đáng yêu của quê nhà
Các từ ngữ “lạnh lẽo”, ‘trong veo”, “bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu
sắc của cảnh vật của sắc nước mùa thu Âm vang lời thơ nhu hồn thu, tiếng thuvọng về Hai câu thơ tiếp là những những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn củacảnh thu:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Màu biếc của sóng hòa hợp với sắc vàng của lá tạo nên một bức tranh quểđơn sơ mà lộng lậy Hai câu luận mở rộng thêm không gian miêu tả Bức tranh quê
có thêm màu xanh của bầu trời “xanh ngắt” với những tầng mây lơ lửng theo gió nhẹ Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc xanh của trời thu là “xanh
ngắt”:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao (Thu vịnh) Tầng mây lơ lửng trờ xanh ngắt (Thu ẩm) Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (Thu điếu)
Xanh ngắt là màu xanh vừa có bề rộng lại gợi ra cả bề sâu thăm thẳm Mộtmàu xanh gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian và cái nhìn vời vợi đầy suy tư của
Trang 14ông lão đánh cá Ông lão lại đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê Hình như bà con
đã ra đồng hết Xóm thôn vắng lặng Mọi con đường quanh co hun hút, không một
bóng người qua lại “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” Cảnh vật êm đềm, thoáng
một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt Người câu cá như đang đắm chìm trong giấcmộng.Tất cả từ hình ảnh, đường nét, âm thanh, màu sắc đều gợi lên hồn thu muônthuở thật thân thiết và gần gũi của vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Khuyến lấy màu xanh – “điệu xanh” (xanh ao xanh bèo, xan lá trúc, xanh sóng, xanh trời…) làm tông màu chủ đạo cho
bức tranh mùa thu trong thơ của mình Phải chăng người họa sĩ ngôn từ muốn toátlên cái thần thái riêng của làng quê Việt Nam trong cái màu xanh bát ngát, thămthẳm ấy? Một màu xanh gợi lên cái trong trẻo, nguyên sơ, thanh bình trong cái hồnsắc riêng của quê nhà
Hình ảnh làng quê còn trở lên vui tươi hơn bởi những trò chơi dân gian Ông
“tiến sĩ giấy” đồ chơi được miêu tả thật sinh động:
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Nét son điểm rõ mặt văn khôi Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ Cái giá khoa danh thế mới hời!
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
` (Tiến sĩ giấy)Bằng ngòi bút tài hoa, Nguyễn Khuyến gợi lên hình ảnh của người nghệnhân dân gian với bàn tay khéo léo chuyển động theo các động tác cắt, tỉa, bồi, dán
để tạo nên tạo nên một món đồ chơi thật ngộ nghĩnh Món đồ chơi thôn dã có gìcao sang đâu, chỉ làm bằng một tấm giấy mỏng, một chút phẩm màu, vài ba nan tre
mà vẫn làm nức lòng trẻ em mỗi dịp Trung Thu Đây cũng là thời điểm khởi đầu
Trang 15của năm học mới, món đồ chơi “tiến sĩ giấy” là món quà mà ông bà bố mẹ nhắcnhở con cháu mình về truyền thống hiếu học của dân tộc Nguyễn Khuyến quả
xứng danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam Việt Nam” (Xuân Diệu) Thơ ông
không chỉ gợi lên cảnh quê mà còn làm sống lại linh hồn của quê hương, đất nước,linh hồn của truyền thống dân tộc
2.1.2 Hình tượng bức tranh đời sống
Trong thơ ca trung đại nói chung, bức tranh đời sống của con người được
miêu tả thanh nhàn, thư thái Từ những người lao động ngư, tiều canh, mục cho đến
những hiền nhân quân tử đều có một cốt cách ung dung nhàn tản trong cái vòngquanh tuần hoàn đều đặn của vũ trụ
Đó là cái thảnh thơi của Nguyễn Trãi:
Cả ngày nhàn nhã khép phòng văn Khách tục không ai béng bảng gần Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn Đầy xuân mưa bụi nở hoa xoan (Cuối xuân tức sự)
Đó là cai thanh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiểm:
Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
Thu ăn đông trúc đông ăn giá
Trang 16Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Đời sống con người là một vòng tròn triền miên “quanh năm” của những
công việc lao động nối tiếp nhau không ngừng nghỉ từ ngày này sang ngày khác.Lao động gắn liền với mưu sinh Công cuộc mưu sinh của con người không phải là
sự ung dung thanh thản hái lượm từ nguồn hoa trái có sẵn mà phải xô lấn, tranh
gianh, cướp giật nhau nơi đầu sóng ngọn gió “mom sông” đầy hiểm nguy, nơi trên
bến dưới thuyền tiếng bấc tiếng chì, nâng lên hạ xuống Có thể nói, thơ Nôm thế kỉ XVIII – XIX dã thực sự đưa hơi thở của cuộc sống đời thường vào thơ, đưa thơ
từ địa hạt của cái tao nhã trở về với cuộc đời thực Nhiều bài thơ của Nguyễn
Khuyến cũng miêu tả cuộc sống của những người thôn quê là cuộc vật lộn mưusinh nhọc nhằn đầy những lo toan, tính toán:
Năm nay cầy cấy vẫn chân thua Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa Phần thuế quan Tây phần trả nợ Nửa công dứa ở, nửa thuê bò
(Chốn quê)
Không chỉ gợi lên hình ảnh của cuộc sống chân thực, những vần thơ Nôm
còn tái hiện chân thực không gian nhốn nháo ô hợp của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời Đó là hình ảnh của một chốn quan trường mà như một
phiên chợ đời để mua quan bán tước:
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Nét son điểm rõ mặt văn khôi Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ Cái giá khoa danh thế mới hời!
Những từ ngữ “ mảnh giấy”, “nét son” “giá” “hời” giàu sức gợi tả, đã vẽ ra cuộc chạy đua tiền bạc tranh giành, cướp giật để mua lấy địa vị trong xã hội “Khoa
danh”, “Giáp bảng” – những chức vị ca quý làm thước đo cho trí tuệ, tài năng của
Trang 17con người, thước đo cho giá trị của một nền văn hiến, giờ đây thật rẻ mạt, thật
“hời” trước sự lên ngôi của đồng tiền!
Hình ảnh của xã hội thực dân nửa phong kiến còn được gợi lên từ cảnh
tượng trường thi thật bi hài:
Nhà nước ba năm mở một khoa Trường Nam thi lẫn với trường Hà Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa Lọng cắm rợp trời quan xứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra
Chỉ bằng vài ba nét vẽ châm biếm, Tú Xương đã gợi ra sự teo tóp đángthương thảm bại của nền văn hóa Nho học trước sự lấn lướt của quyền lực và văn
minh Tây Âu Cái teo tóp ấy không chỉ là sự thu hẹp của quy mô thi cử “trường
Nam thi lẫn với trường Hà” mà còn được thể hiện qua sự rúm ró của sĩ tử và sự bất
lực của quan trường:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Sĩ tử không còn cái nho nhã ung dung của một thời Hán học thịnh vượng như
vẻ đẹp của chàng Kim trong Truyện Kiều:
Trông chừng thấy một văn nhân, Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng, Sau chân theo một vài thằng con con.
Mà trở nên nhếch nhác: “lôi thôi” “vai đeo lọ” Quan trường cũng không còn
cái oai phong của một mệnh quan triều đình: cố làm ra vẻ oai nghiêm nhưng cái
“ậm ọe” “thét loa” chỉ càng tự lột trần sự yếu đuối, bạc nhược Bên nhân vật chính
thảm hại, nhếch nhác bao nhiêu thì bên nhân vật phụ, bọn quan thầy xâm lược lạilong trọng, kể cả bấy nhiêu:
Trang 18Lọng cắm rợp trời quan xứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra
` Không có nhiệm vụ ở trường thi nhưng chúng vẫn ngang nhiên xuất hiện vớithái độ ngạo mạn, hách dịch để giương oai, thị uy một cách rầm rộ và được đón tiếpnồng nhiệt Sự đối lập hai này làm nổi bật nỗi nhục nhã ê chề của những trí thứcNho học
2.1.3 Hình tượng con người
Hình tượng con người xuất hiện trong văn học với hai tư cách: vừa là đốitượng trữ tình vừa là chủ thể trữ tình Với tư cách là đối tượng trữ tình, trong thơNôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyễn, Trần Tế Xương xuất hiện hình ảnh củanhững người lao động và hình ảnh của những kẻ là con đẻ của xã hội thực dânphong kiến: sĩ tử, vua quan, sư sãi, quan công sứ, me Tây…Với tư cách là chủ thểtrữ tình xuất hiện hình ảnh của người yêu thiên nhiên tha thiết, có nhiều nỗi niềmriêng tư sâu kín và luôn ưu thời mẫn thế
2.1.3.1 Với tư cách là đối tượng trữ tình
Với tư cách là đối tượng trữ tình, con người thơ Nôm đường luật của HồXuân Hương, Nguyễn Khuyễn, Trần Tế Xương thường là những người lao độngtrong cuộc hằng ngày Đến thơ Nôm đường luật của Hồ Xuân Hương, NguyễnKhuyễn, Trần Tế Xương, ít thấy xuất hiện hình ảnh của những hiền triết, những tao
nhân mặc khách, hay những “ngư, tiều, canh, mục” như thơ ca cổ điển Trung Quốc
hay thơ ca trung đại Việt Nam trước đó Trong thơ Hồ Xuân Hương xuất hiện
nhiều hình ảnh của những người phụ nữ, nhưng họ không phải là “khuê nữ” nơi lầu son, gác tía, nơi màn loan trướng huệ (như trong Truyện Kiều, Chinh hụ Ngâm,
Cung oán ngâm) mà là những cô gái bình dân lấm lem trong cuộc sống lao động
hằng ngày, khỏe khoắn, tràn đầy một sức sống (Bánh trôi nước, Tranh hai tố nữ,
Thiếu nữ ngủ ngày, Chửa hoang…) Trong thơ của Trần Tế Xương hình ảnh bà Tú
là một người vợ đảm đang tần tảo, lam lũ làm ăn nuôi chồng, nuôi con:
Trang 19Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn, Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một bệnh hay gàn hay dở Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười,
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
(Văn Tế sống vợ) Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
(Thương vợ)
Mặc dù là “con gái nhà dòng » nhưng bà Tú đâu có được cái cảnh sống « êm
đêm trưởng rủ màn che » với những thú chơi tao nhã “cầm, kì, thi họa” mà bị
quăng vào giữa dòng đời bươn chải Thời gian triền miên “quanh năm” và không gian mênh mông hiểm trở “mom sông” như bao trùm, nhấn chìm tấm thân nhỏ bé của bà Chưa hết, gánh nặng gia đình “nuôi đủ năm con với một chồng” lại thêm
một lần nữa làm cho tấm lưng của người phụ nữ này trĩu xuống Bà Tú như một
“thân cò” bé nhỏ lặn ngụp giữa dòng đời mưu sinh “eo sèo” đầy những chông gai,
bất trắc Trong dòng văn học viết Việt Nam, có lẽ, đây là lần đầu tiên, hình ảnhngười phụ nữ được miêu tả nhọc nhằn, lam lũ đến thế!
2.1.3.2 Với tư cách là chủ thể trữ tình
2.1.3.2.1 Con người với những nỗi niềm riêng tây sâu kín
Văn học trung đại đề cao tính phi ngã chỉ hướng tới việc “nói chí” “tỏ lòng”
và răn dạy đạo đức (văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí) Nhưng đến với các nhà thơ
Nôm thế kỉ XVIII, XIX, chúng ta thấy sự trỗi dậy của những cá tính sáng tạo vớibản lĩnh mạnh mẽ có thể phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp, khô cứng của thi phápvăn học trung đại Thơ ca của các thi sĩ trong giai đoạn này đã hướng tới bề sâu của
Trang 20của tâm hồn với nhiều nỗi niềm suy tư sâu kín “Tự tình” của Hồ Xuân Hương đã
thể hiện khao khao hạnh phúc qua dòng tâm trạng đầy eo le, bi kịch Trở đi trở lạitrong bài thơ là những biểu tượng gợi lên khát vọng hạnh phúc của một người phụ
nữ: hồng nhan – vầng trăng – xuân – mảnh tình Tất cả xâu chuỗi với nhau trong
một tâm trạng đầy khắc khoải, bẽ bàng, sầu muộn, chông chênh, phẫn uất, chánngán của chủ thể trữ tình Đối với người phụ nữ này, hạnh phúc như một ao ước xa
vời, một khát khao ngoài tầm tay: cái hồng nhan thì đang phơi phang hao mòn trước cuộc đời, vầng trăng – biểu tượng cho nhân duyên đôi lứa thì chưa một lần tròn đầy viên mãn, tuổi xuân – thì đang vơi đi từng ngày, mảnh tình thì thật ít ỏi,
mong manh
Nếu như thi sĩ họ Hồ mạnh dạn bày tỏ khát khao thầm kín thì Trần TếXương cũng không ngại ngần bộc lộ niềm thương vợ bao la vô bờ bến Đọc
“Thương vợ”, chúng ta không chỉ xót thương và cảm phục trước sự hi sinh của bà
Tú mà còn vô cùng xúc động trước tấm lòng của ông Tú dành cho vợ Không giúpđược gì cho vợ trong cuộc mưu sinh, nhưng mỗi bước chân nhọc nhằn của bà Tú
“khi quãng vắng” hay “buổi đò đông” đều có ánh mắt dõi theo đầy lo âu, phấp
phỏng của ông Tú Ngay cả những nỗi lòng sâu kín của bà Tú, ông Tú dường nhưcũng thấu suốt Ông đã thở than thay cho bà:
Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công
Thậm chí, ông còn chửi hộ cho bà:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không
Sau mỗi lời thơ dù thở than hay chua chát đều ngân ngấn những giọt nướcmắt Người đàn ông này thật vô cùng dũng cảm và nhân hậu khi đã bỏ qua lòng tựtrọng của cả chế độ nam quyền nghìn năm trên gương mặt để tự chửi sự vô dụngcủa chính mình!
Trang 21Càng thương vợ thì càng chán ngán mình Trang nam nhi thuở xưa hùng
dũng bao nhiêu, khí phách bao nhiêu khi bày tỏ “chí làm trai” (Chí làm trai Nam
Bắc Đông Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể - Nguyễn Công Trứ) thì Trần Tế
Xương càng buồn thảm bấy nhiêu khi nhận ra sự tồn tại mà “cũng như không” của
mình với vợ con và xã hội
Có thể nói, đến với thơ Nôm đường luật thế kỉ XVIII, XIX, ý thức về cái tôi
cá nhân đã bắt đầu xuất hiện khi các nhà thơ đã ý thức về bản thể của mình vớinhững khát vọng, nhưng mơ ước, những nỗi niềm sâu kín Đó là những tín hiệu đầutiên báo trước sự bùng nổ của một thời đại thơ mới
2.1.3.2.2 Con người ưu thời mẫn thế
Đến thế XVIII xã hội phong kiến Việt Nam đi vào thời kì khủng hoảng Biếtbao cái ung nhọt âm ỉ từ lâu giờ vỡ tan ra thành những thứ ghê tởm, dị hợm Lànhững nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, tha thiết với cái Đẹp, với con người và cuộcđời, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương không thể ngoảnh mặt làmngơ trước thời cuộc Điều đặc biệt là cả ba nhà thơ đều là nhà thơ trữ tình – tràophúng đặc sắc Có lúc họ nhìn đời bằng con mắt trĩu nặng u sầu nhưng cũng có lúcmỉa mai, châm biếm đả kích xã hội thối nát ấy bằng những tiếng cười sắc nhọn.Đâu chỉ cười đời, họ còn tự cười mình nữa Cười cho sự trớ trêu của số phận, cườicho sự bất tài, vô dụng của mình trước thời thế Trong thơ Nôm trào phúng thế kỉXVIII – XIX, hình ảnh con người ưu thời mẫn thế trở đi trở lại trong nhiều sáng táccủa các thi sĩ
Trong “Tự tình”, Hồ Xuân Hương đâu chỉ thể hiện nỗi sầu buồn, chán
chường cho duyên phận hẩm hiu quá lứa của mình Tiếng thơ của bà cũng là tiếnglòng của biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa Trong bài thơ cũng có
lúc vang lên âm điệu của tiếng cười chua chát: “Mảnh tình san sẻ tí con con” Từng
từ, từng chữ như gằn xuống khiến cho câu thơ bị vỡ ra thành từng mảnh: “Mảnh
tình – san sẻ - tí – con con” Những mảnh vỡ sắc nhọn trong tiếng cười của bà chúa
Trang 22thơ Nôm đã bắn về phía xã hội nam quyền nơi mà đàn ông có quyền “năm thê bẩy
thiếp” còn người phụ nữ cứ phải ngậm ngùi cam chịu những “mảnh tình” rơi vãi
Không đay nghiến, chì chiết như Hồ Xuân Hương, cái nhìn thế sự củaNguyễn Khuyến thâm trầm hơn, kín đáo hơn Một ông lão đánh cá đi câu mà không
để tâm đến việc câu ngồi ôm cần, bó gối đầy tâm sự:
Tựa gối ôm cần câu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Ông lão như đang bất động trước không gian và thời gian Cái tĩnh ở bênngoài nhường chỗ cho những suy tư thăm thẳm bên trong Để rồi bất chợt giật mình
vì một âm thanh rất nhỏ, mơ hồ như có như không Nguyễn Khuyến viết bài thơ khi
ông đã cáo quan về lại “vườn Bùi chốn cũ” sau hơn 10 năm làm quan cho triều đình
nhà Nguyễn Tâm sự của ngư ông trong bài thơ phải chăng cũng chính là tâm trạngcủa tác giả Không phải là sự tiếc nuối chốn bổng lộc lợi danh Cái trĩu nặng trongtâm trạng của nhà thơ, phải chăng là nỗi lo âu cho vận mệnh của dân tộc, là sựbuồn chán vì bất lực trước thế cuộc Bao công dùi mài kinh sử rồi hăng hái, hăm hởtrên đường công danh (đỗ đầu ba kì thi được mệnh danh là Tam Nguyên Yên Đổ)giờ đây lại thư thả đi câu cá giữa lúc đất nước và nhân dân đang rên xiết dướt gótchân xâm lược Rõ ràng, Nguyễn Khuyến chỉ nhàn thân chứ đâu có nhàn tâm Lòngyêu nước trong thơ ông được thể hiện một cách kín đáo qua tâm trạng đầy uẩn
khúc Đúng như Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Nguyễn Khuyến dù không cầm
gươm chiến đấu dưới lá cờ Cần Vương nhưng vẫn được xếp vào hàng những nhà thơ yêu nước”
Trong bài “Tiến sĩ giấy”, Nguyễn Khuyến lại có cách bày tỏ tâm trạng thời
thế của mình một cách độc đáo Với ngòi bút tài hoa của mình, nhà thơ vịnh ôngtiến sĩ làm bằng giấy – một thứ đồ chơi của trẻ con mà mỗi từ, mỗi chữ, mỗi câuđều gợi lên hình ảnh của một ông tiến sĩ thật bằng xương bằng thịt Nhưng thật mà
vẫn cứ là giả “Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”:
Trang 23Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Nét son điểm rõ mặt văn khôi Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ Cái giá khoa danh thế mới hời!
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
(Tiến sĩ giaáy)
Ở hai câu đề, Nguyễn Khuyến chưa nói thẳng cho người đọc biết rõ người
được ông giới thiệu trong bài thơ là ai Nhân vật này có đủ cờ, biển, cân, đai, lọng
xanh, ghế chéo, đích thị là một vị tiến sĩ oai phong mới được ghi danh đỗ đầu trên
bảng rồng Tuy nhiên, điệp từ “cũng” xuất hiện với mật độ dày đặc và ẩn chứa ý vị
mỉa mai bắt đầu bộc lộ thái độ của tác giả, khiến cho ta thấy có điều gì đó bất
thường ở vị tiến sĩ này Từ “cũng” được nhấn mạnh, được đưa lên đầu câu, chỉ sự giống nhau, lặp lại của hiện tượng, kết hợp với ba từ “có kém ai” khiến cho con
người có học vị cao này có cái vẻ của sự giả dối, học đòi Đến hai câu sau mọi việc
đã trở nên rõ ràng hơn Nhân vật “cũng biển cũng cân đai” kia hóa ra chỉ là một
ông tiến sĩ giấy, bề ngoài giống hệt như tiến sĩ thật nhưng thực chất bên trong lạirỗng tuếch chẳng có gì Cái chất liệu làm nên con người ông đơn giản chỉ là từ mấymảnh giấy và một ít son diêm dúa
Ẩn đằng sau hình tượng ông tiến sĩ giấy là cái cười thâm thúy của nhà thơtrước thời cuộc giả dối, lố lăng Mọi giá trị bị đảo lộn Nhiều ông tiến sĩ mua danhbằng tiền bạc Nhiều ông tiến sĩ từng “vinh quy bái tổ” nhưng có mà cũng nhưkhông, vô dụng như một thứ trò chơi
2.2 Từ góc nhìn nghệ thuật
2.2.1 Ngôn từ giản dị, trong sáng mà vô cùng tinh tế
Trang 24Thơ Nôm từ thời Hồng Đức, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn sử
dụng những từ ngữ cổ, sử dụng điển tích, điển cố (các bài Cảnh ngày hè của Nguễn Trãi, Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm) Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Khuyến, Trần Tế Xương dường như không có những từ ngữ cổ, ít có những điểntích, điển cố Mỗi bài thơ như một viên ngọc ngôn ngữ trong sáng đến toàn bích.Giản dị, trong sáng nhưng vẫn rất tinh tế, giàu tính hình tượng, có khá năng biểuđạt nhiều biến thái tinh vi của thiên nhiên tạo vật và con người
Thơ Nôm Đường luật mang được viết bằng ngôn ngữ tiếng Việt tự nhiên bình dân, mang đậm sắc màu của ca dao dân ca Bài “Tự tình” vẫn còn dáng dấp
cổ thi qua bút pháp, hình ảnh nhưng thi sĩ họ Hồ đã rất nỗ lực trong việc học tập lời
ăn tiếng nói của nhân dân Những cụm từ: trơ cái hồng nhan, xiên ngang, đâm
toạc, tí con con…mang giọng điệu, cách cảm, cách nghĩ của những người bình dân.
Hồ Xuân Hương đã ném vào thế giới trang trong cổ kính của Đường thi những từngữ chua chát, sắc nhọn đến nhức buốt – những từ ngữ được văng ra từ một ngườimột người bình dân hoạt ngôn, sắc sảo, đầy cay cực và bất mãn với cuộc đời
Đến bài “Thương vợ”, người đọc ngỡ ngàng trước một thế giới đậm chất dân gian Những từ ngữ: thân cò, quãng vắng, đò đông, một duyên hai nợ, năm nắng
mười mưa đều thấp thoáng bóng dáng của những câu thành ngữ, ca dao được vận
dụng một cách sáng tạo, gợi lên hình ảnh thân thương của làng quê nghìn đời nay,
gợi lên cuộc sống lam lũ vất vả của người lao động “Cái cò”, “con cò” trong ca dao đã trở thành “thân cò” Theo cách nói của nhà thơ, thân phận của bà Tú đúng là
thân phận của cái cò Thêm một chữ “thân” mà câu thơ của Trần Tế Xương thật
giàu giá trị biểu cảm: cánh cò trong ca dao vốn đã nhọc nhằn lam lũ nay càng trởnên nặng nề hơn bởi nó cõng lên mình gánh nặng của cả một quan niệm về sự kìmkẹp của định mệnh như một thứ gông cùm xiềng xích trói buộc đòi người khôngsao thoát ra được Sự vật vả, khổ cực, lam lũ phải nuôi chồng, nuôi con chính làđịnh mệnh dành cho bà Tú Một nỗi niềm ngậm ngùi đầy chua xót đằng sau chữ
“thân” ấy
Trang 25Sự phát triển đỉnh cao của ngôn ngữ thơ Nôm cũng là thời đại mà các thi sĩ
có thể đưa vào thơ của mình tất cả những biểu hiện khác nhau trong lời ăn tiếng nóicủa người bình dân Ngay cả tiếng chửi cũng được khéo léo vận dụng đem lại dư vịđời thường đậm đà khó quên trong thơ Nôm Nếu như Hồ Xuân Hương dám dơ dao
để bổ vào cả xã hội trọng nam khinh nữ:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Thì Tú Xương không ngần ngại lôi cả mồ mả của thói đời đểu cảng lên mà chửi:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không
Các nhà thơ sử dụng nhiều từ ngữ giản dị mà đa nghĩa, giàu hình ảnh biểu tượng và gợi cảm Trong bài “Tự tình”, nữ sĩ tài hoa chỉ cần dùng một từ “trơ
(Trơ cái hồng nhan với nước non) mà khái quát cảnh ngộ và tâm trạng của người
phụ nữ bất hạnh Một sự trơ trọi, cô đơn đến rợn người của nhân vật trữ tình giữacái mênh mông của nước non, cuộc đời Một sự tủi hổ, bẽ bàng trước sự phơi
phang của “cái hồng nhan” Nhịp thơ 1/3/3 kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ tái hiện
giọng đay nghiến, chì chiết như chà đi sát lại của tác giả vào cái vô ích của kiếp máhồng Đay đả chính mình, người phụ nữ nhìn ra ngoại giới khao khát một sự đồng
cảm chia sẻ Nhưng cuộc đời cũng đầy những nghịch lí: vầng trăng sắp tàn (bóng
xế) mà vẫn khuyết chưa tròn Phải chăng qua hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng này,
nhà thơ như muốn thể hiện cảnh ngộ trớ trêu của mình: tuổi xuân trôi qua mà nhân
duyên chưa một lần được trọn vẹn Tuổi xuân – phần đẹp nhất của cuộc đời người
phụ nữ càng thêm hao mòn, héo hắt mỗi khi mùa xuân của đất trời trỏ về: “Ngán
nỗi xuân đi, xuân lại lại” Xuân Hương dùng chữ thật tài tình Một câu thơ có hai
chữ xuân, hai chữ lại mang những nét nghĩa khác nhau “Xuân đi” không trở lại là mùa xuân của đời người; “xuân lại lại” là mùa xuân của vụ trụ Sự trở lại mùa xuân
đồng nghĩa với việc ra đi của tuổi xuân Mùa xuân trở lại làm gì khi tuổi xuân đãkhông còn Cái quay về gợi nhớ xót xa cái đã ra đi Cái ở lại nhắc nhở đau đớn về
Trang 26cái đã mất Giọng thơ chán chường buông xuôi bất lực trước quy luật nghiệt ngãcủa thiên nhiên, cuộc đời Bài thơ khép lại trong sự chán ngán đến rã rời của nhân
vật trữ tình: mảnh tình – san sẻ - tí – con con
Các nhà thơ Nôm thế kỉ XVIII – XIX dùng chữ như những tay chơi cờ lãoluyện Từ nào, chữ nào cũng ngắn gọn, trong sáng và giàu giá trị biểu cảm Đọc bài
“Thương vợ”, ta không thể không bị cuốn hút vào thế giới ngôn từ sắc sảo của Trần
Tế Xương Những từ ngữ: quanh năm, mom sông, lặn lội, quãng vắng, eo sèo, đò
đông…gợi lên một dòng thời gian triền miên, quẩn quanh trong sự cần mẫn, tảo tần
của bà Tú, gợi lên những khoảng không gian khi chông chênh, bất an; khi quanhvắng, heo hút; lúc lại chen chúc, xô xát, tranh giành Chỉ bằng một vài từ ngữ chỉkhông gian, thời gian mà nhà thơ đã cho thấy những trải nghiệm đầy cay cực của bà
Tú giữa cuộc vật lộn mưu sinh nhọc nhằn Để ghi nhận công lao của bà Tú, ông Túcũng chỉ cần dùng một câu thơ:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Tôi đã đọc nhiều bài bình luận về chữ “nuôi đủ” nhưng vẫn thấy chưa đủ tất
cả những ý nghĩa của từ này, vẫn thiêu thiếu thế nào Chợt một ngày ngồi bên mẹtôi – một người phụ nữ cũng phải làm trụ cột chèo chống trong gia đình như bà Tú,cũng làm nghề buôn bán nhỏ lẻ, nghe bà tâm sự với một người bạn về quá khứ
nhọc nhằn của bà, mới vỡ ra thêm nhiều nét nghĩa của từ này Bà nói: Ngày nào, cứ
mở mắt ra là tôi phải nghĩ là làm sao ngày hôm nay, phải kiếm cho đủ số tiền chi tiêu một ngày cho gia đình Nếu không thì chết! Chẳng may bị ốm phải nằm một chỗ hoặc ngày trời mưa không đi làm được, ruột gan cứ nóng sốt hết cả lên.
Câu thơ trên đâu chỉ là cái cách đánh giá của ông Tú với bà Tú Ông Tú cònmuốn thay lời bà Tú, giãi bày tâm sự của bà (cũng như ở câu thơ dưới, ông Tú còn
chửi hộ bà) Vậy thì, đằng sau cái từ “đủ” ấy là cả một sự tính toán chi li các khoản
chi tiêu trong gia đình, tính toán chi li gom nhặt, gìn giữ, chắt bóp từng đồng, từnghào mình kiếm được để làm sao đủ ăn, đủ mặc, đủ cơm no, đủ áo lành cho gia đình
Đằng sau cái từ “đủ” ấy còn sự nỗ lực gắng sức của bà Tú mỗi ngày Mỗi ngày, bà