1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ ngữ văn: Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh

117 584 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 622 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do, mục đích chọn đề tài: 1. Đổi mới, cách tân là quy luật, là nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ. Từ sau 1975 cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước, văn học nghệ thuật trong đó có thơ đã có những chuyển đổi mạnh mẽ. Khảo sát thơ Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt từ sau 1986 đến nay, thơ đã có những đổi mới cơ bản, theo những xu hướng khác nhau: Có xu hướng trở về cần mẫn “cày xới” trên nền thơ truyền thống; có xu hướng đam mê đi tìm “bóng chữ”, tìm những “bến lạ”cho thơ; có xu hướng mải miết tìm tòi, cách tân đổi mới trên cơ sở truyền thống thơ dân tộc. Dẫu chưa có sự tổng kết thấu đáo về những xu hướng phát triển của thơ từ sau 1986, nhưng có thể thấy xu hướng cách tân trên cơ sở tiếp nhận, kế thừa tinh hoa của thơ truyền thống, kết hợp một cách khoa học sáng tạo truyền thống và hiện đại đã thực sự tạo được hiệu quả nghệ thuật, tạo được những thành tựu mới cho thơ Hữu Thỉnh là một cây bút tiêu biểu của xu hướng này. 2. Là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh sớm khẳng định được vị trí và phong cách sáng tạo độc đáo. Từ sau 1975, ông tiếp tục sáng tác và ngày càng khẳng định được vị thế riêng qua nhiều giải thưởng cao quý của Hội Nhà văn Việt Nam, của Bộ Quốc phòng, Giải thưởng Asean và Giải thưởng Nhà nước, đặc biệt tạo được sự mến mộ thường trực của nhiều thế hệ độc giả. Nhiều bài thơ của Hữu Thỉnh đã được phổ nhạc, được dịch và giới thiệu rộng rãi với công chúng trong và ngoài nước. Đến với thơ Hữu Thỉnh , người đọc vừa được cảm nhận những dư vị truyền thống đậm đà, đằm thắm, vừa được hấp dẫn bởi những sự mới mẻ, cách tân tìm tòi đầy sáng tạo, nhuần nhị và tinh tế của nhà thơ. Thơ Hữu Thỉnh do vậy vừa quen vừa “lạ”, vừa truyền thống vừa hiện đại. Hữu Thỉnh đã “đưa dân gian cập những bến bờ hiện đại”, tạo được những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc trên cơ sở kết hợp nhuần nhị truyền thống và hiện đại. Có thể nói, truyền thống và cách tân thực sự là hai giá trị thẩm thấu, hội tụ nhuần nhuyễn trong thơ Hữu Thỉnh, tạo nên cảm quan nghệ thuật và giá trị riêng cho thơ ông. 3. Thực tế, Hữu Thỉnh sáng tác không nhiều nhưng thơ ông luôn tạo được sự quan tâm đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình. Nói đến thơ chống Mỹ, không thể không nhắc nhớ đến thơ Hữu Thỉnh; nói đến thành tựu và đóng góp của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, không thể không nhắc đến Hữu Thỉnh và nói đến những nhà thơ có phong cách độc đáo, có nhiều tìm tòi đổi mới không thể không nói đến những nỗ lực cách tân bền bỉ, giàu hiệu quả của nhà thơ. Số lượng bài viết về thơ Hữu Thỉnh, do vậy khá nhiều trong đó cũng đã có một số ý kiến quan tâm đến tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh. Tuy nhiên đó chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, đan xen trong các bài viết về từng tập thơ, từng tập trường ca của ông. Thực tế, cho đến nay vẫn chưa có công tình nào đi sâu, nghiên cứu riêng về tính truyền thống và hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh. Bởi vậy chúng tôi chọn đi sâu nghiên cứu về Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh với hy vọng góp phần nhận diện đánh giá những nét đặc sắc của thơ Hữu Thỉnh và những đóng góp đáng trân trọng của ông đối với sự phát triển của nền thơ Việt Nam hiện đại. Từ đó, đúc rút được những bài học kinh nghiệm thẩm mỹ quý báu cho việc tìm tòi, đổi mới thơ.

Trang 1

Thơ Hữu Thỉnh – truyền thống và cách tân

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do, mục đích chọn đề tài:

1 Đổi mới, cách tân là quy luật, là nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật,trong đó có thơ Từ sau 1975 cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước, văn họcnghệ thuật trong đó có thơ đã có những chuyển đổi mạnh mẽ Khảo sát thơ Việt Nam

từ sau 1975 đặc biệt từ sau 1986 đến nay, thơ đã có những đổi mới cơ bản, theonhững xu hướng khác nhau: Có xu hướng trở về cần mẫn “cày xới” trên nền thơtruyền thống; có xu hướng đam mê đi tìm “bóng chữ”, tìm những “bến lạ”cho thơ; có

xu hướng mải miết tìm tòi, cách tân đổi mới trên cơ sở truyền thống thơ dân tộc Dẫuchưa có sự tổng kết thấu đáo về những xu hướng phát triển của thơ từ sau 1986,nhưng có thể thấy xu hướng cách tân trên cơ sở tiếp nhận, kế thừa tinh hoa của thơtruyền thống, kết hợp một cách khoa học sáng tạo truyền thống và hiện đại đã thực sựtạo được hiệu quả nghệ thuật, tạo được những thành tựu mới cho thơ - Hữu Thỉnh làmột cây bút tiêu biểu của xu hướng này

2 Là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh sớmkhẳng định được vị trí và phong cách sáng tạo độc đáo Từ sau 1975, ông tiếp tụcsáng tác và ngày càng khẳng định được vị thế riêng qua nhiều giải thưởng cao quýcủa Hội Nhà văn Việt Nam, của Bộ Quốc phòng, Giải thưởng Asean và Giải thưởngNhà nước, đặc biệt tạo được sự mến mộ thường trực của nhiều thế hệ độc giả Nhiềubài thơ của Hữu Thỉnh đã được phổ nhạc, được dịch và giới thiệu rộng rãi với côngchúng trong và ngoài nước Đến với thơ Hữu Thỉnh , người đọc vừa được cảm nhậnnhững dư vị truyền thống đậm đà, đằm thắm, vừa được hấp dẫn bởi những sự mới

mẻ, cách tân tìm tòi đầy sáng tạo, nhuần nhị và tinh tế của nhà thơ Thơ Hữu Thỉnh

do vậy vừa quen vừa “lạ”, vừa truyền thống vừa hiện đại Hữu Thỉnh đã “đưa dângian cập những bến bờ hiện đại”, tạo được những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc trên cơ

Trang 2

sở kết hợp nhuần nhị truyền thống và hiện đại Có thể nói, truyền thống và cách tânthực sự là hai giá trị thẩm thấu, hội tụ nhuần nhuyễn trong thơ Hữu Thỉnh, tạo nêncảm quan nghệ thuật và giá trị riêng cho thơ ông.

3 Thực tế, Hữu Thỉnh sáng tác không nhiều nhưng thơ ông luôn tạo được sựquan tâm đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình Nói đến thơ chống

Mỹ, không thể không nhắc nhớ đến thơ Hữu Thỉnh; nói đến thành tựu và đóng gópcủa thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, không thể không nhắcđến Hữu Thỉnh và nói đến những nhà thơ có phong cách độc đáo, có nhiều tìm tòi đổimới không thể không nói đến những nỗ lực cách tân bền bỉ, giàu hiệu quả của nhàthơ Số lượng bài viết về thơ Hữu Thỉnh, do vậy khá nhiều trong đó cũng đã có một

số ý kiến quan tâm đến tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trongthơ Hữu Thỉnh Tuy nhiên đó chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, đan xen trong các bài viết vềtừng tập thơ, từng tập trường ca của ông Thực tế, cho đến nay vẫn chưa có công tìnhnào đi sâu, nghiên cứu riêng về tính truyền thống và hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh

Bởi vậy chúng tôi chọn đi sâu nghiên cứu về Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh với hy vọng góp phần nhận diện đánh giá những nét đặc sắc của thơ Hữu Thỉnh

và những đóng góp đáng trân trọng của ông đối với sự phát triển của nền thơ ViệtNam hiện đại Từ đó, đúc rút được những bài học kinh nghiệm thẩm mỹ quý báu choviệc tìm tòi, đổi mới thơ

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Hữu Thỉnh là cây bút luôn thu hút được sự mến mộ, quan tâm của các nhànghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng Đến nay số bài viết, công trình nghiêncứu về thơ Hữu Thỉnh khá nhiều Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tập trungkhảo sát những công trình, bài viết về thơ Hữu Thỉnh trên hai phương diện chính:Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh và tính truyền thống, hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh

2.1 Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh

Về trường ca: Rất nhiều bài viết của các nhà thơ Xuân Diệu, Tế Hanh, PhạmTiến Duật, Thanh Thảo, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Thị Mây, Đỗ TrungLai và các nhà nghiên cứu phê bình: Thiếu Mai, Trường Lưu, Đào Thái Tôn, Mai

Trang 3

Hương đều thống nhất đánh giá cao thành công cả về nội dung và nghệ thuật củatrường ca Hữu Thỉnh, đồng thời khẳng định những nét đặc sắc riêng trong phong cáchsáng tạo của Hữu Thỉnh ở thể trường ca.

Cả ba trường ca Đường tới thành phố, Sức bền của đất, Trường ca biển đều được công luận đánh giá cao Xuân Diệu đánh giá “Đường tới thành phố”, là tập thơ

điển hình hơn cả về ưu điểm đưa thực tế chín đấu ghê gớm đánh Mỹ vào thơ” Tế

Hanh nhận xét: Đường tới thành phố là “từ cuộc chiến đấu mà ra là máu thịt chứ không phải giấy mực” Đọc Đường tới thành phố Vũ Quần Phương nhận định “Hữu Thỉnh không xây dựng những tính cách hoàn chỉnh, anh chỉ dừng lại đi sâu vào một vài tâm trạng, một vài mẫu người Phần xúc động nhất và tạo nên tầm vóc của trường

ca chính là mẫu người đó”, Thiếu Mai trong Đường tới thành phố cho rằng, thơ Hữu Thỉnh “vừa sâu, vừa tinh, vừa khát quát, vừa tỉ mỉ chi li những tình cảm, những suy ngẫm của người chiến sĩ Cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh khi miêu tả trực diện những tổn thất mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại vẫn thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu ” Trong bài viết “Mấy ghi nhận về thơ người lính của Hữu Thỉnh” Trường Lưu cũng có cái nhìn toàn vẹn và sâu sắc về người

lính chiến trường vừa gần gũi, giản dị, vừa dung nạp những tiềm ẩn sâu sắc mang đậm

tính nhân văn của dân tộc và thời đại Anh Chi nhận thấy qua Trường ca Biển “vốn

sống phong phú về trận mạc Suy tư về quá khứ và hiện tại, về cái thường tình và cái

vĩ đại ở trong mỗi con người” Trong Lịch sử văn học Việt Nam, Trần Đăng Suyền phát hiện hồn thơ Hữu Thỉnh – một hồn thơ “tinh tế tài hoa trong cảm xúc mà giàu những suy ngẫm trăn trở”.

Về các tập thơ: Cùng với những bài viết chung về thơ Hữu Thỉnh của Hoài Anh,Nguyễn Đăng Điệp, Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ là nhiều bài viết của Tô Hoài, VũNho, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Trúc Thông, Đỗ Ngọc Yên, Thiên Sơn, Trần

Mạnh Hảo về các tập thơ Thư mùa đông, Thơ Hữu Thỉnh, Thương lượng với thời gian, Thơ với tuổi thơ

Nguyễn Trọng Tạo nhận xét: “Nếu như hồn thơ Thanh Thảo là những tia chớp

từ trời xuống thì hồn thơ Hữu Thỉnh là sự sum suê của cây cối từ đất mà lên” Bên

Trang 4

cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu cũng có những nhận định khá sâu sắc và tinh tế về thơ

Hữu Thỉnh, như Văn Đắc trong Đọc lại thơ Hữu Thỉnh cảm nhận thơ Hữu Thỉnh là

“bức tranh hiện thực hoành tráng”; Vũ Nho tinh tế phát hiện “chất lính là một trong những nét đặc biệt của thơ Hữu Thỉnh” Thanh Thảo đúc kết “cái say của con người từng trải thấm đẫm nỗi đau đời và đậm chất tài hoa” trong Thư mùa đông Phạm Quang Trung tinh tế nhận ra Hữu Thỉnh chính là “người biết chuyển sự sống chung thành nỗi niềm riêng của chính mình”

Trần Mạnh Hảo cho rằng: “Thơ Hữu Thỉnh đậm chất phương Đông”; Thanh

Thảo lại thấy sự từng trải của con người đã thấm đẫm những nỗi đau; Trịnh Thanh Sơnnhận thấy chất nhân văn sâu sắc; Nguyễn Đăng Điệp tinh tế phát hiện những suy tư vềnhân thế; Trần Đăng Suyền cũng cùng chung suy cảm về thơ Hữu Thỉnh ở sự trăn trởgiàu suy ngẫm… Nhìn chung, từ nhiều góc độ phương diện tiếp cận khác nhau nhưngcác ý kiến đều khá thống nhất trong cảm nhận: Thơ Hữu Thỉnh sự dung dị, gần gũi vàmộc mạc về ngôn từ, tinh tế trong nghệ thuật thể hiện và sâu sắc về nội dung, tư tưởng

2.2 Nghiên cứu về truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh

Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu riêng biệt về truyền thống và cáchtân trong thơ Hữu Thỉnh Tuy nhiên, trong một số bài viết chung về trường ca và thơHữu Thỉnh một số ý kiến cũng đã đề cập đến vấn đề này Viết về Đường tới thành phố,Thiếu Mai nhận xét “thấp thoáng đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp của cadao, nhưng rõ ràng thơ anh không dập khuôn theo ca dao, không bị ca dao lấn át

Lý Hoài Thu trong bài viết Một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện đại phát hiện phẩm chất “nồng nàn một tấm lòng tri kỷ, tri âm” của Hữu Thỉnh, đồng thời bộc lộ ở con người nhà thơ chính là “một hồn thơ khỏe khoắn, giàu nội tâm thấm đẫm sắc vị dân gian thể hiện cả trong cảm xúc, suy nghĩ lẫn chất liệu sáng tạo”, đặc biệt nhà thơ luôn “có ý thức đi sâu khai thác cái hay, cái đẹp của dân gian, dân tộc, vừa biết dồn tâm lực, tài năng cho sự tìm kiếm, sáng tạo cái mới Minh Hạnh nhận thấy Chất dân gian – điểm sáng trong thơ Hữu Thỉnh cả về nội dung cảm hứng

và nghệ thuật Ngoài ra, một số ý kiến được đề cập đan xen trong các bài viết của Mai

Hương, Nguyễn Trọng Tạo, Vũ Nho, Trường Lưu, Hữu Đạt phát hiện điểm sáng

Trang 5

trong tìm tòi và khai thác nội dung, đề tài và hình tượng con người từ những giá trị vănhóa truyền thống, đề cập đến chất dân gian, tính truyền thống và những tìm tòi cách tâncủa thơ Hữu Thỉnh

Nhìn chung, vấn đề truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh mới chỉ đượckết hợp đề cập trong một số bài viết chung về thơ Hữu Thỉnh Cho đến nay chưa cócông trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện, hệ thống về vấn đề này Chính vì vậychúng tôi chọn đi sâu nghiên cứu về truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trên cơ sở khảo sát yếu tố truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh, luậnvăn khẳng định những đóng góp có ý nghĩa nổi bật của Hữu Thỉnh đối với thơ ViệtNam hiện đại, vì vậy toàn bộ sáng tác thơ và trường ca của Hữu Thỉnh là đối tượngkhảo sát của luận văn, cụ thể các tập thơ và trường ca:

- Âm vang chiến hào, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1975, (in chung với

Lâm Huy Nhuận)

- Trường ca: Sức bền của đất, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.

- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.

- Thơ với tuổi hoa, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000.

- Thương lượng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006.

- Tiếng hát trong rừng, tập thơ

- Đường tới thành phố, trường ca

- Thư mùa đông, tập thơ

- Trường ca Biển.

Bên cạnh đó, để có cơ sở so sánh làm nổi bật những nét đặc sắc riêng trong thơHữu Thỉnh, chúng tôi mở rộng khảo sát một số thơ và trường ca của các tác giả cùngthời

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh

5 Đóng góp mới của luận văn:

Luận văn đặt và khảo sát thơ Hữu Thỉnh trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại

để từ đó phát hiện, lý giải những thành công của nhà thơ yrong việc kế thừa và pháthuy những giá trị truyền thống, những đóng góp tích cực nhằm hiện đại hóa thơ, bướcđầu khẳng định giá trị đặc sắc của Hữu Thỉnh trong nỗ lực đổi mới thơ

Trang 6

- Luận văn góp phần đánh giá một phương diện quan trọng trong văn nghiệp củaHữu Thỉnh, từ đó khẳng định được vai trò, đóng góp đáng trân trọng của nhà thơ trongcông cuộc sáng tạo và xây dựng nền thơ dân tộc.

6 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Về khái niệm truyền thống – cách tân và hành trình sáng tạo thơ

của Hữu Thỉnh

Chương 2: Tính truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh

Chương 3: Hữu Thỉnh và những nỗ lực cách tân thơ

PHẦN NỘI DUNGChương 1: Về khái niệm truyền thống – cách tân và Hành trình sáng

tạo thơ của Hữu Thỉnh

1.1 Về khái niệm truyền thống – cách tân trong văn học

1.1.1 Về khái niệm truyền thống văn học

1.1.1.1 Truyền thống:

Trong ngôn ngữ Ấn – Âu, truyền thống là tradition, bắt nguồn từ tiếng Latinh tradere, tradetio, có nghĩa là trao truyền, truyền đạt, truyền lại (transmission).

Theo Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) và Sổ tay từ Hán Việt (do

Nxb Giáo dục ấn hành 1990), “truyền thống” được xác định là: Các nhân tố xã hội

Trang 7

đặc biệt truyền từ đời này sang đời khác ví như: Truyền thống lịch sử, truyền thốngcách mạng, truyền thống văn hóa

Truyền thống được hình thành trong quá trình hoạt động lịch sử của con người

và có tính ổn định tương đối Theo cách hiểu thông thường truyền thống là tất cảnhững gì được trao truyền, tiếp nối từ đời này sang đời khác không ngừng, không dứt

1.1.1.2 Truyền thống văn học:

Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Truyền thống văn học” là “những thành tựu

chung, đặc sắc tương đối bền vững, ổn định trên cả hai phương diện nội dung và hình thức của văn học được lưu chuyển, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác trong quá trình văn học Có những truyền thống văn học của một dân tộc hoặc một vùng, một khu vực gồm nhiều dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau, có truyền thống văn học của cả nhân loại” [63, 299].

Tuy nhiên, “Truyền thống văn học không phải là một hiện tượng ngưng đọng,

khép kín mà không ngừng tự vận động đổi mới Mỗi bước phát triển của lịch sử xã hội và lịch sử văn học thường khiến cho hàng loạt giá trị, kinh nghiệm nghệ thuật từng được xem là truyền thống trở nên bảo thủ lạc hậu Để giải quyết những nhiệm

vụ nghệ thuật do thời đại đặt ra, người sáng tác hoặc là phải đấu tranh chống lại những gì đã cũ kỹ, lạc hậu, phải tìm kiếm những lối đi mới”, sáng tạo những giá trị mới [63, 230]

Như vậy, truyền thống văn học là những giá trị văn học tinh túy của mỗi dântộc được chắt lọc, kết tinh, gìn giữ trong tiến trình văn học dân tộc Mỗi thời đại, mỗithế hệ người cầm bút do vậy vừa được tiếp nhận, kế thừa những truyền thống văn họcquý báu, đồng thời vừa lại cũng sáng tạo những giá trị “truyền thống” mới góp phầnlàm giàu có, phong phú truyền thống văn học

1.1.2 Về khái niệm cách tân trong văn học:

1.1.2.1 Cách tân:

Theo Đại từ điển tiếng Việt, cách tân được định nghĩa là “quá trình vận động

loại bỏ cái cũ, sáng tạo cái mới như các hành vi hoặc quá trình sáng tạo trong khoahọc kỹ thuật, quá trình sáng tạo các sự vật Cách tân là cải cách và càng làm mới

thêm tất cả các sự vật, hiện tượng” Trong cả hai cuốn Từ điển văn học và Sổ tay từ

Trang 8

Hán Việt, “Cách tân” đều có nghĩa là Đổi mới Khi được sử dụng như một khái niệm Cách tân chỉ sự tiến bộ căn bản so với cái cũ và thường được sử dụng để chỉ sự đổi

mới trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

Thực tế, giống như khái niệm “Truyền thống” Cách tân cũng được sử dụng

rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật Tuy nhiên, ở

một góc độ nhất định, nếu khái niệm “truyền thống” bao hàm những phẩm chất căn

bản, những nhân tố xã hội cốt lõi được duy trì (truyền từ đời này sang đời khác) thì

khái niệm “Cách tân” lại hàm chứa sự vận động đổi mới, thay đổi theo hướng tiến bộ

những nhân tố xã hội

1.1.2.2 Cách tân trong văn học:

Trong văn học nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới tìm kiếm cái mới, sángtạo ra cái mới “Cách tân là lẽ sống” của sáng tạo văn học nghệ thuật Tuy nhiên,không phải cái mới, cái lạ nào cũng được thừa nhận là “cách tân” Theo TS Chu VănSơn: “Cách tân là một xu hướng sáng tạo với khát khao tạo ra cái hoàn toàn mới.Theo cách này thì chỉ có những đột phá sáng tạo, những bứt phá dũng mãnh, vượtkhỏi rào cản của thói quen thẩm mỹ cũ, gieo những hạt giống mỹ cảm mới, khai sinhmột hệ giá trị mới thì mới được gọi là cách tân” Những sự cách tân đích thực,

“những cách tân chân chính sẽ trở lại thành những truyền thống mới bồi đắp thêm

cho kho tàng kinh nghiệm đã vượt qua sự thử thách của thời gian của những thế hệ đi trước” [63, 230].

Nhìn như vậy có thể thấy, “kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật lànhững phương diện không bao giờ tách rời của quá trình văn học” [63, 230]

1.2 Hành trình sáng tạo thơ của Hữu Thỉnh:

1.2.1 Quan niệm của Hữu Thỉnh về thơ:

Hữu Thỉnh thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ Khi Hữu Thỉnh đến với thơ, đội ngũ nhà thơ chống Mỹ đã rất đông đảo từ nhữngnhà thơ lớp trước với những phong cách sáng tạo già dặn, độc đáo: Tố Hữu, Chế LanViên, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Trung

Trang 9

Thông đến lớp nhà thơ trẻ ít nhiều đã ổn định về cá tính sáng tạo: Bằng Việt, XuânQuỳnh, Lưu Quang Vũ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, NguyễnKhoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo Có thể nói, mỗi nhà thơ bằng kinh nghiệmsống, bằng tài năng và tâm huyết đã đem đến một cách nhìn, một cách cảm nhận và

từ đó cách thể hiện riêng về cuộc chiến tranh, về con người, về cuộc đời tạo nên sựphong phú, đa dạng của nền thơ chống Mỹ Xuất hiện ở chặng cuối cuộc kháng chiếnchống Mỹ, từ trong dòng chung của thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không ngừng suy tư,trăn trở, tìm cho mình một “lối đi riêng, một giọng điệu riêng” Đến với thơ HữuThỉnh, do vậy người đọc dễ dàng cảm nhận được “chất” riêng, những dấu ấn sáng tạoriêng hệ quả của những suy tư, trăn trở, những quan niệm sâu sắc, nghiêm túc của nhàthơ về thơ

1.2.1.1 “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”

Một trong những nét đặc sắc của thơ chống Mỹ là sự hiện diện đông đảo củađội ngũ các nhà thơ – chiến sỹ, những người lính trực tiếp cầm súng và cầm bút, trựctiếp “đánh giặc” và “làm thơ” “Văn thơ đối với họ như một phương tiện nhập thân

với xã hội” (Vũ Quần Phương) Nói như Thanh Thảo “Trước khi làm thơ, trong khi

làm thơ đã là những người lính hoặc tình nguyện sống như người lính” Từ trong

hiện thực đầy thử thách cam go của cuộc chiến tranh chống Mỹ, từ nhu cầu thiết cốtcủa đời sống và của cả nền văn nghệ, thế hệ nhà thơ trẻ chống Mỹ ý thức rất rõ về vịtrí, vai trò, trách nhiệm của nhà thơ, của thơ Khát vọng cao đẹp về Tổ quốc, nhândân, về lý tưởng chiến đấu và chiến thắng giành độc lập, tự do cho dân tộc đã trởthành ý thức nghệ thuật, thành nhu cầu và là sự thôi thúc bên trong của mỗi người.Chính Hữu Thỉnh cũng từng tâm sự “Tôi và bạn bè trong lớp các nhà thơ chống Mỹchịu ảnh hưởng trực tiếp từ những nhà thơ cách mạng lớp đầu và các nhà thơ khángchiến chống Pháp Như là sự sắp đặt lịch sử sau này, hành trình thơ của chúng tôicũng giống các anh Bối cảnh thì khác, quy mô và tính chất ác liệt cũng khác, nhưngtinh thần dấn thân nhập cuộc vẫn là một Một cuộc dấn thân để tìm thấy sự kết hợphài hòa giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ Nói gọn, trong một anh bộ đội

Trang 10

có một thi nhân” Thơ của Hữu Thỉnh là thơ của “người trong trận” Trên đường hành

quân ra trận phải “mang súng”, phải “mang đạn”, phải “mang nhau” và “mang bao

nhiêu tai biến dọc đường”, người lính phải cân nhắc, lựa chọn, dành ưu tiên cho

những gì thiết thực nhất “Mỗi quyển sách nặng bằng năm viên đạn/ Chúng tôi đành

mang đạn trước tiên” “Đói” thông tin, “đói” sách vở, “đói” văn thơ, người lính biết

vượt lên nỗi thiếu thốn đó:

Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình

(Đường tới thành phố)

Làm thơ do vậy đã trở thành nhu cầu tự tại của mỗi người Chính vì thế, thơđến một cách tự nhiên, như từ trong lòng, từ trong cảm xúc tràn trào ra ở mọi nơi,mọi trạng huống, mọi thời khắc “Thơ cứ đến” ngay trên đường hành quân giúp ngườilính vơi quên đi những gian khó, nhọc nhằn:

Chúng tôi vừa đi vừa nhẩm dọc đường

Thơ cứ đến và mưa chiều mau ngớt

“Thơ cứ đến” ngay trong Đêm chuẩn bị, ngay trước trận đánh đầy cam go:

Đêm ngủ hầm thèm sách vở Nghe tiếng chim hồi hộp chân trời

“Thơ cứ đến” ở cái khoảnh khắc người lính “Ôm súng bò lên với trái tim tình

nguyện”, cận kề bên cái chết, thơ cùng người lính quyết giành giật “ghì” giữ lấy từng

gốc sim cằn, từng tấc đất thiêng của Tổ quốc “Thơ cứ đến” khi người lính phải đối

mặt với những trận mưa rừng xối xả, giữa những “trận rét rừng xoắn tím cả làn môi”.

“Thơ cứ đến” ngay giữa đại ngàn Trường Sơn “Đường ngổn ngang đường đất còn

cháy khét” mùi bom đạn, giữa cơn sốt rét rung người, giúp người lính vượt lên tất cả:

Anh bỗng quên vừa qua cơn sốt Rừng bỗng quên vừa trận bom đau (Tiếng hát trong rừng)

Trang 11

“Thơ cứ đến” và mang đến “ dù chỉ ít/ dòng Nho Quế ngọt ngào lên với các anh”

đang khát từng giọt nước nơi điểm chốt chon von trên đỉnh núi giữa cái nắng nhưthiêu như đốt, giữa hơi đá núi nóng đến “nung người” Chính vì thế, thơ Hữu Thỉnh

đã thật sự trở thành những “Bài ca người lính”, trở thành cội nguồn sức mạnh, đủ để mỗi người lính “vịn” vào những câu thơ ấy “ Sưởi trên những câu thơ ấy/ Cứ thế

qua đi nhiều mừa mưa” và đi tới chiến thắng Thơ ấy là thứ thơ “gan ruột” - Thơ của

người trong cuộc viết về người trong cuộc Trong quan niệm của Hữu Thỉnh, thơ

không thể thờ ơ, xa lạ với cuộc sống và con người; thơ không thể là “những dây bìm

trang trí/ Kéo nhòe đi những rễ cây tứa nhựa/ Bão động rừng sao thơ chỉ rung rinh”

1.2.1.2 “Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống”

Theo Khrapchenkô trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển

của văn học “Kinh nghiệm sống, những gì mà nhà văn đã nhìn thấy và trải qua,

những sự kiện mà nhà văn đã tham dự, những con người, những số phận mà tâm lý vàhành động khiến cho nhà văn chú ý Tất cả những điều đó đều là cội nguồn chonhững dự đồ sáng tạo và cho những khái quát của nhà văn, là cơ sở nảy sinh nhữngtác phẩm nghệ thuật của anh ta” Trong cả quan niệm và thực tiễn sáng tạo thơ, Hữu

Thỉnh cũng sẻ chia quan niệm đó Nhân dịp trả lời phỏng vấn về trường ca Đường tới

thành phố, Hữu Thỉnh nhấn mạnh, ông viết trường ca này “bằng những trải nghiệm

của mình ở chiến trường” và trường ca này tạo được ám ảnh đối với người đọc cũngnhờ nó được viết bằng sự trải nghiệm máu thịt đó Hữu Thỉnh khẳng định “con người

ta không từng trải với cuộc đời khó mà viết hay Thơ sẽ rất nhạt nếu đời người cầmbút không trải qua những thăng trầm, thách thức, cam go Kinh nghiệm cá nhân củangười cầm bút là đặc biệt quan trọng Phải có những kinh nghiệm từ chính số phậnmình, sống đến đáy các sự kiện của đời mình mới mong có cái riêng, viết cái gì riêng.Nhà thơ không thể tựa vào ai khác ngoài chính mình, cũng như không thể tựa vàokinh nghiệm của đám đông mà viết” Chính Hữu Thỉnh, cũng đã từng tâm sự, “chúngtôi được quăng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ và sống trong luồng xiết của nó”.Nhà thơ đã trải nghiệm sâu sắc và sống hết mình với hiện thực đó Chính nhờ vậy

Trang 12

hiện thực đời sống chiến trường đã trở thành “một bộ phận của cái tôi”(Khrapchenkô), một phần cuộc đời và thơ ca Hữu Thỉnh là cơ sở cho sự ra đời và

thành công các sáng tác thơ của Hữu Thỉnh từ Sức bền của đất, Đường tới thành phố,

Trường ca Biển đến các tập Tiếng hát trong rừng, Thư mùa đông, Thương lượng với thời gian Đó cũng là cơ sở tạo nên nét đặc sắc, sức hấp dẫn và ám ảnh riêng của thơ

Hữu Thỉnh

Đến với thơ Hữu Thỉnh dù là những tập trường ca dài hay một bài thơ ngắnchỉ bốn câu người đọc luôn được “sống” với những suy nghĩ, tâm trạng, tình cảm,những trải nghiệm, chiêm nghiệm của chính nhà thơ mà chỉ trực tiếp sống, ngụp lặntrong đời sống mới có thể có được

Đường tới thành phố như nhà thơ tâm sự được viết “từ chính những kinh

nghiệm của cá nhân mình Mình đã ngụp lặn đến đáy, đã thấu cảm tận cùng cái bihùng của cuộc kháng chiến gian khổ và từ những máu thịt ấy mình ngồi trước trang

giấy cầm bút viết” “Trong Đường tới thành phố, hình ảnh người mẹ quê nhà chính

là người mẹ của tôi, quê hương yêu dấu chính là quê hương vùng Trung du Phú Thọcủa tôi, người chị chờ chồng là chị dâu tôi”

Trường ca biển là những trải nghiệm máu thịt của Hữu Thỉnh sau những năm

tháng “neo mình vào biển” “Tôi qua mấy tầng mặn chát” của biển và “Biển và tôi

trong tiếp xúc toàn thân” – “ tôi gần như hóa biển” Đến độ:

Biển ngấm vào anh thành một khối mặn mòi Sóng ngấm vào anh thành muôn nỗi lênh đênh Bão ngấm vào anh thành niềm khao khát sống Chống lại cái chết trong vùng chết

Có thể nói, giống như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh là người đã “mang đượcTrường Sơn nhiều nhất vào thơ” (Vũ Quần Phương) Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ củaHữu Thỉnh đều là trải nghiệm sống của người lính ở chiến trường, đều thấm mồ hôi,

nước mắt và máu của chính ông và đồng đội Từ những chuyến hành quân “Những

bước chân khua rộn cả không gian/ Qua dốc đá vịn vai nhau mà bước”, đến những

“Đêm chuẩn bị”, lúc vượt qua “Chuyến đò đêm giáp ranh”, khi đi trong mây, tắm bên cầu Chaki hay câu cá bên bờ sông Sê Pôn; từ những “ý nghĩ không vần” cuộn lên

Trang 13

ngay khi ngồi trên tháp pháo xe tăng “Vượt qua những hố bom tức tối/ Vượt trọng

điểm này để tới chỗ xung phong”; những bâng khuâng, suy vấn trước tượng Bay On

“Nụ cười ẩn giữa binh đao nói gì ?” đến những tổn thất, mất mát, hy sinh không thể

gì đo đếm người lính phải sống trải hàng ngày, hàng giờ: “Chưa kịp đặt ba lô cùng

nhau bới cát/ Dọn chỗ nằm cho đồng chí hy sinh”; những cái chết có thể đến bất chợt,

bất ngờ: chỉ “Sau một cơn ác tính/ Sau một cái rùng mình và cứ thế ra đi”; chỉ sau

“Một tiếng thét/ Một vũng máu/ Một khoảng trống Tôi gào lên/ Im ắng rợn người”

và “mất bạn”, mất đồng đội; từ những đau đớn thể xác khi bị thương trên chốt vẫn quyết giành giật từng “gốc sim cằn” – từng tấc đất thiêng của Tổ quốc “Sỏi buốt quá/

Bò thì đau mà không bò thì chết” đến những giây phút bình yên sau chiến tranh trở

về thanh thản ngắm “Bầu trời trên giàn mướp”.

Thơ Hữu Thỉnh giàu ưu tư, suy nghĩ – sự ưu tư, suy nghĩ của người từng trải.Chính từ sự chiêm nghiệm, từ những kinh nghiệm sống, Hữu Thỉnh mới có đượcnhững câu thơ cô đúc, xúc động và ám ảnh Viết về sự nóng bòng của mảnh đất chiếntrường, Hữu Thỉnh khiến người đọc không khỏi giật mình xa xót:

Đất chiến trường mau ướt lại mau khô

Đất “mau ướt” và “mau khô” vì đó là máu của người lính Cái giá của hòa bình

qua sự đúc kết, từ những trải nghiệm của nhà thơ thật thấm thía Cũng phải từ nhữngtrải nghiệm sâu xa, máu thịt, Hữu Thỉnh mới có thể viết được những câu thơ về cáithiếu, cái đói dai dẳng ở chiến trường:

Tiểu đoàn thồ chẳng có gì thồ cả

Cứ đói ròng con gái hóa con trai

Về sự khắc nghiệt của thời tiết:

Mỗi tuổi quân chịu sáu tháng mưa rừng

Về sự đối mặt với cái chết:

Sau loạt bom vùi Anh gặp toàn lính mới

Và đặc biệt sự quả cảm, bình thản của người lính ngay cả khi phải đối mặt vớicái chết, họ vẫn không ngần ngại:

thêu trên ngực áo của mình

Họ, tên đơn vị

Người ta tìm áo để báo tin cho mẹ

Đến cái chết đã chẳng cần giấu giếm

Trang 14

Trái tim anh càng đập ngang tàng

Chỉ trải qua cảm giác chông chênh gang tấc giữa cái sống và cái chết, HữuThỉnh mới có được những câu thơ đầy ám ảnh về cảm giác thảng thốt như sắp tuột

mất một cái gì của những người lính “Sau những ngày vượt dốc”, lần đầu tiên thấy biển qua cửa hầm trú ẩn bên bờ biển Phan Thiết: “Trong căn hầm mùi thuốc súng mồ

hôi/ Tim anh đập không sao ghìm lại được/ Gió nồng nàn hơi nước/ Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi” Và những người lính ấy đã ngã xuống khi “chỉ cách nước một vài gang”

Nếu như ở mảng thơ chiến trận, bằng sự trải nghiệm của mình Hữu Thỉnh

đã có được những đúc kết về chiến tranh về những mất mát, hy sinh, về những suy tưtrăn trở của người lính thì sau chiến tanh, cũng từ những trải nghiệm của mình nhàthơ đã có được những chiêm nghiệm, suy tư thức ngộ sâu xa về nhân tình thế thái:

Ta đâu có đề phòng từ phía những người yêu Cây đổ về nơi không có vết rìu

(Nghe tiếng cuốc kêu)

Cả bài Hỏi với những câu hỏi chua chát được lặp lại tới ba lần ở kết bài là sự

tinh kết thấm thía sự sống trải đến đáy của nhà thơ trước cái “đa sự đa đoan” của cuộcđời, ở cái thời “mất mùa nhân ngãi”

Chỉ từ những trải nghiệm cuộc sống gian khó của những người lính đảo thời

bình “Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất”, Hữu Thỉnh mới có được những câu thơ

thấm thía đến tận cùng tình cảm thiêng liêng của người lính với đất đai Tổ quốc:

Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình Đảo có lính đất non thành Tổ quốc Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc

Và mới có được những câu thơ chạm đến đáy cùng sự gian khổ hy sinh của

người lính: “Đôi khi phải gõ vào một cái gì đó/ Để nghe tiếng con người/ Đôi khi

Trang 15

phải hát ê a vô nghĩa lý/ Nhắc biển ta còn đây/ Đôi khi tối đèn tắt lửa/ Ta bỗng dưng thành hàng xóm của ta” Không thể có những câu thơ nói về nỗi trọi trơ đơn

độc của con người giữa cái rợn ngợp của biển khơi như thế nếu như nhà thơ không

từng sống “neo mình với biển”, với hòn “ Đảo nhỏ nói một câu là hết/ Có gì đâu chỉ cát với chim thôi” nhưng lại thiêng liêng vô cùng.

Nếu không da diết yêu, không tha thiết gắn bó với quê hương và không cónhững năm tháng dằng dặc phải xa quê xa nhà đi chiến đấu, không ngày đêm thấpthỏm nhớ thương về quê hương, về cha, về mẹ và người thân, Hữu Thỉnh không thể

có được những câu thơ dung dị mà xúc động đến ám ảnh về mảnh đất quê hương, vềngười cha trong “ngày khởi nghiệp” “dựng nên làng” đầy gian nan khốn khó:

Từ buổi cha ngâm mình trong nước Vớt đất lên trong nước nóng luộc người Cha bưng đất và bưng mồ hôi ngày khởi nghiệp Không có đất không thể nào sống được

Cha nhễ nhại trước cỏ lăn cỏ lác Cha nhễ nhại trước nỗi thèm khát đất Cần có đất để làm nên quê hương

Cần có quê hương để vui buồn sướng khổ (Đường tới thành phố)

“Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống” Hữu Thỉnh tin như vậy và nhà thơ đã gắng “Sống mỗi ngày nguyên chất cho thơ” (Nói chuyện với XaIn) để thơ đủ sức neo

đậu trong tâm cảm của người đọc

1.1.1.1 Cá tính sáng tạo của nhà thơ:

Như trên đã nói, Hữu Thỉnh đến với thơ ở chặng cuối của thơ chống Mỹ, do

đó, một trong những điều nhà thơ quan tâm sâu sắc trước hết là phải tìm cho mình,tạo lập cho thơ mình có được một “giọng điệu riêng, “một tiếng nói riêng”, một “cátính sáng tạo” theo quan niệm của Khrapchenkô Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Cátính sáng tạo là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù cái chủ quan, cái cá biệt, cái khônglặp lại trong tài năng của nghệ sĩ Biểu hiện tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo,

ở cách cảm, cách nghĩ của nhà văn, có khả năng đề xuất những nguyên tắc nghệ thuậtmới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiện những nội dungmới của đời sống tư tưởng”

Trang 16

Hữu Thỉnh không trực tiếp bàn về cá tính sáng tạo, không lập thuyết nhưng quacách nhà thơ bàn về thơ, về vẻ đẹp của thơ và đặc biệt qua thực tiễn sáng tạo thơ củaHữu Thỉnh, có thể thấy ngay từ khi đến với thơ Hữu Thỉnh đã có ý thức phải sángtạo và khát khao tạo được tiếng nói mới lạ cho thơ mình Hữu Thỉnh nhận thức rấtsớm về quy luật Tâm lý sáng tạo nhân nói về vấn đề “Nhập cuộc và hành động vẻđẹp của thơ ca kháng chiến”, nhà thơ khẳng định: “Đã làm thơ, hay bất cứ cái gì dínhdáng đến văn chương, ai cũng mong và cố làm cho hay, vội vã khổ sở làm chohay”[96] Muốn có thơ hay, trước hết phải “nhập cuộc” và “dấn thân” sâu sắc vào đờisống, “dấn thân không phải để đi tìm một thứ siêu nghệ thuật, phi nghệ thuật nào cả,

mà là môt hành trình gian khổ và nghiêm trong tiếp cận sự thật và cái đẹp” Chính vìthế, Hữu Thỉnh luôn quan niệm nhà thơ phải “sống” thật để có được những “kinhnghiệm sống” của chính mình Đó là cái gốc, là cơ sở để có thể viết được thật xácđáng “sự thật và cái đẹp”:

Đừng viết về chúng tôi như cốc chén đứng trên bàn Hãy viết về chúng tôi như dòng sông chảy xiết (Đường tới thành phố)

Nếu như Nguyễn Duy khẳng định nhà thơ phải có cá tính riêng, phải nói bằngtiếng nói của mình:

Mây trôi bằng gió của trời

Là ta ta hát những lời của ta

Thơ Hữu Thỉnh cũng xác định rất rõ ràng:

Muốn tươi mát hãy tự là dòng suối Hát về rừng đừng bắt chước tiếng chim (Đường tới thành phố)

Tuy nhiên, để có được cái mới, có được “giọng” không phải điều đơn giản.Phải trải qua nhiều trăn trở, tìm tòi, thể nghiệm, Hữu Thỉnh mới dần tìm được một lối

đi riêng, một giọng điệu riêng của mình: vừa tìm về đi sâu khai thác vốn văn hóa dângian truyền thống vừa dồn tâm lực tìm kiếm cái mới, sáng tạo những cái mới Từtrong tâm thức Hữu Thỉnh hiểu rằng: “Phải làm sao để tâm trạng mình phù hợp vớitâm trạng của mọi người thì thơ mới có ý nghĩa, giá trị” [97] Và Một khi tìm về với

ca dao, với văn hóa dân gian truyền thống là đã tìm đến được những tâm hồn đồng

Trang 17

điệu, tự kỷ “Tìm đến mẫu số chung lớn nhất của con người: Tình yêu, nhớ thương,khát vọng, đau buồn” [97] Và nhờ vậy, hồn điệu dân gian đã thăng hoa, chuyển hóathành những phức điệu thẩm mỹ đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh Tuy nhiên, Hữu Thỉnhthật tinh tế sáng tạo khi tiếp nhận, khai thác vốn văn hóa dân gian và bởi thế đã để lạiđược những dấu ấn riêng, sức hấp dẫn riêng cho thơ Sự kết hợp nhuần nhị giữatruyền thống và cách tân đã tạo nên giọng điệu, phong cách sáng tạo độc đao cho thơHữu Thỉnh mà luận văn sẽ đi sâu, khảo sát ở hai chương 2 và 3.

1.2.2 Hành trình sáng tạo thơ của Hữu Thỉnh.

1.2.2.1 Thơ viết về chiến tranh

Hữu Thỉnh có thơ từ năm 1962 Bài thơ đầu tay Trường tôi đăng báo NgườiGiáo viên nhân dân, khi ấy Hữu Thỉnh còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông Năm

1963, tốt nghiệp phổ thông, Hữu Thỉnh nhập ngũ, là lính của binh chủng tăng thiếtgiáp và sau đó vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam Trên đường hành binh,

những bài thơ của Hữu Thỉnh lần lượt đến với công chúng: Ý nghĩ không vần, Qua sông, Sau trận đánh, Giấc ngủ trên đường ra trận Tuy nhiên, phải đến Chuyến đò đêm giáp ranh và Sức bền của đất – hai bài thơ được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ 1975 – 1976 tên tuổi Hữu Thỉnh mới thực sự được khẳng định Những

bài thơ trận mạc bật lên từ hiện thực đời sống chiến trường với những đói, những rét,những đổ máu, hy sinh nhưng cũng nhiều thương cảm, thấm đẫm tình đời dó sau nàyđược tập hợp trong tập Âm vang chiến hào ghi nhận một chặng đầu đáng nhớ - thơchiến trận của Hữu Thỉnh Ngay ở tập thơ đầu trong đó đã có thể thấy được nét riêngcủa thơ Hữu Thỉnh: “Không mấy tô hồng, biểu dương mà gần với tình đời thực”

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, nhưng như Hữu Thỉnhtừng tâm sự: “Hiện thực chiến tranh, cuộc sống của người lính dội vào tôi mạnh đếnmức, vượt ra khỏi một thời đoạn, một đề tài Nó thành một tâm thế” Với tâm thế củangười từng ngụp lặn sống chết trong chiến tranh, nhìn lại và tổng kết, hai trường ca

Sức bền của đất (hoàn thành dịp Tết Ất Mão, 1975) và Đường tới thành phố (viết từ

8/1977, hoàn thành 4/1978) ghi nhận những thành công và đóng góp mới, đặc sắc,đáng trân trọng của nhà thơ

Trang 18

Với quy mô nhỏ gồm 188 câu thơ trường ca Sức bền của đất được chia thành

ba khúc: Mẹ chiến hào, Đất đai truyền thuyết, Những đứa con và những bài hát mới

ghi lại tâm tình của những người lính giữa chiến trường Ở nơi hàng ngày hàng giờphải giáp mặt với kẻ thù, giữa cái sống và cái chết người lính suy tư về cội nguồn sứcmạnh của mình và đồng đội – sức mạnh được truyền dẫn từ lòng mẹ, từ đất đai quêhương, từ các thế hệ đi trước và từ truyền thống văn hóa của dận tộc Những suy tưđằm sâu và thấm thía

Đường tới thành phố gồm 5 chương, 1539 câu thơ được ghi nhận là tác phẩm

quan trọng nhất của đời thơ Hữu Thỉnh và cũng là tác phẩm giá trị của nền thơ ViệtNam hiện đại Đường tới thành phố đánh dấu sự chín muồi của thơ Hữu Thỉnh cảtrong ý thức nghệ thuật và thể loại Viết về giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống

Mỹ, chặng cuối cùng toàn dân tộc đi tới toàn thắng, Đườngtới thành phố có thể coi làbản “tổng phổ” của biết bao số phận, cảnh ngộ, cùng những hy sinh chịu đựng và suy

tư trăn trở của cả một dân tộc trên chặng đường “dằng dặc đau đớn mất mát” để đi tớichiến thắng Càng gần chiến thắng, chiến tranh càng ác liệt, gian khổ, hy sinh càngchất chồng, cảm nhận của Hữu Thỉnh về chiến tranh càng gắn nhiều hơn với nhữngthử thách, đau thương, tổn thất, mất mát, hy sinh và bởi thế “Tính chất sâu lắng, tỉnhtáo ngày càng đậm thay thế cho tính chất thi vị, hồn nhiên ở chặng đường trước” [58]

Từng sống trong “luồng xiết” của cuộc chiến tranh, từ những trải nghiệm, kinhnghiệm sống của riêng mình, Hữu Thỉnh có cách nhìn nhận, cách tiếp cận và phảnánh riêng Nếu như với đa phần các nhà thơ giai đoạn này, tiêu biểu là Phạm TiếnDuật, thơ hướng ra mặt trận, lấy chiến trường làm đối tượng cảm xúc và phản ánh thìthơ Hữu Thỉnh hướng vào chiều sâu cảm xúc, vào thân phận của con người Ngườilính nơi mặt trận phải đối đầu với gian khó, đạn bom, chết chóc, hy sinh và người mẹ,người cha, người chị, người vợ nơi hậu phương với những chịu đựng, mất mát, hysinh thầm lặng mà bền bỉ, lớn lao Đan xen đến độ ngoài chiến trận:

Một nửa người anh dâm dấp máu Anh đang đau cho đất đá anh yêu Gốc sim cằn và sơ xác làm sao Không che nổi anh đâu bò cách chi cũng lộ

Trang 19

Sỏi buốt quá

Bò thì đau mà không bò thì chết

Là những hy sinh, hẫng hụt mất mát đến tận cùng ở hậu phương:

Em có thể mất anh bất cứ lúc nào

Em có thể bơ vơ khi em còn rất trẻ

Sự đan xen ấy xuất hiện thường trực, dày đặc trong cả trường ca gần như một

sự song hành tạo nên sức mở, tạo nên sự hoành tráng cho cả bản trường ca Từ “ngọnlửa chiến trường những người lính đốt lên ở giữa” (Đường tới thành phố) mở rộng cả

hai chiều không gian: “Trước mặt là bao nhiêu miền quê” – những miền quê người lính đang ngày đêm hy sinh, chiến đấu để tiến về giải phóng và “Sau lưng là bao nhiêu miền quê” – miền hậu phương nơi Mẹ vẫn đỏ miếng trầu/ Ấm một vùng tin cậy phía sau” – yêu thương, chắt chiu dành dụm cho con, cho tiền tuyến chiến đấu và

chiến thắng Nhờ đi sâu vào những quặng vỉa tình cam của con người trong cuộc,những uẩn chìm của hiện thực đời sống, thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có sựkết hợp nhuần nhị giữa chất triết lý, chính luận với chất trữ tình nồng hậu đằm thắm,không dễ lẫn, không dễ nhạt nhòa

1.2.2.2 Thơ viết về đời sống hậu chiến

Thơ viết về đời sống hậu chiến của Hữu Thỉnh gồm hai tập Thư mùa đông, Thương lượng với thời gian và Trường ca Biển Được viết trong bối cảnh mới: đất

nước hòa bình, ở giai đoạn cuối của thời kỳ bao cấp và thời mở cửa, đổi mới, sángtác của Hữu Thỉnh thời kỳ này cũng có những chuyển đổi mới Tuy nhiên với tầm thếcủa con người từng sống trải qua chiến tranh, đã có những độ chín cả về tư tưởng vàcảm xúc, đặc biệt biết đi sáu vào nỗi niềm của con người nên ngòi bút Hữu Thỉnhkhông bị hụt hẫng, không có dấu hiệu bị gián đoạn Từ những trăn trở, suy tư về Tổquốc, về chiến tranh, về nhân dân và người lính, thờ Hữu Thỉnh nhanh chóng bắtmạch vào những suy tư trăn trở về hạnh phúc, khổ đau, về thế thái nhân tình của thờihậu chiến Thực ra ngay từ thời chiến tranh, Hữu Thỉnh đã có “Những dự cảm thắcthỏm về ngày mai, một ngày mai hòa bình nhưng rồi số phận khắc nghiệt không kém

gì trong chiến tranh” Và khi ra khỏi cuộc chiến tranh, cuộc sống hòa bình nảy sinhnhiều phức tạp, bộn bề Những giá trị cũ bị đảo lộn, những giá trị mới vẫn chưa được

Trang 20

xác lập; vấn đề đạo đức, nhân sinh thế sự, với tất cả sự nhiễu nhương của nó đã tácđộng không nhỏ đến con người và đến mỗi người cầm bút Trong “mẫu số chung” đó,thơ Hữu Thỉnh cũng có những chuyển đổi trong cả nội dung cảm hứng và giọng điệu.

Trường ca Biển là số phận cá nhân của những người lính đảo thời bình, “Họ đang bơi

trên số phận của mình” để đến với đảo đang gồng mình vượt qua mọi gian lao, hiểmnguy để giữ vững chủ quyền đất đai của Tổ quốc, họ đang cố lấp đi “cái khoảngtrống” trong tâm hồn, nỗi đắn đo giữa được – mất, cống hiến và hy sinh:

Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm cồn quá rộng Đêm như là vắt kiệt các vì sao

Chúng tôi là lính đảo thời bình Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất

Để chống lại cái khoảng trống kia Cái khoảng trống chực len vào đồng đội Cái khoảng trống lạnh tanh vô nghĩa

Cả ngay trong chính bản thân mình (Trường ca Biển)

Cùng với sự chuyển đổi cảm hứng, giọng điệu thơ cũng trầm lắng, suy tư đểdiễn đạt cho thấu nỗi suy tư của người lính đảo phải làm lại từ đầu “sống với nước

phải bắt đầu từ nước” để neo trụ được ở cái nơi “Mịt mù biển, mịt mù trời”

Nếu Trường ca Biển là hành trình gian lao của người lính để đi tới biển thì Thư mùa đông là hành trình đi “tìm người”, tìm trong tâm thế “Tôi nháo nhác đi tìm

người” trong cái xô bồ, bộn bề của thời hậu chiến Ngay bài thơ đầu tập Lời thưa Hữu

Thinh đã từ họa một cái tôi đơn độc “Tôi ấy mà, những chiếc cốc vô danh – Tôi ấy

mà, cánh diều nhỏ cô đơn – Tôi ấy mà, một cuống rạ bơ vơ” và một tâm trạng u

buồn:

Tôi vẫn thường hay héo với cỏ cây Xin bạn cứ hình dung một mảnh đời lấm láp Những gì hay để quên, những gì hay bỏ sót Tôi ấy mà, xin bạn cứ hình dung

Dường như nhà thơ ý thức sâu sắc về một cái Tôi cá nhân với nỗi “cô đơn”,

“chia tan”, “bơ vơ” giữa cuộc đời Và ông trăn trở kiếm tìm những giá trị nhân bản:Hạnh phúc, sự đồng cảm, tình yêu thương, nhân ái giữa con người Nhưng thật trớtrêu và như một nghịch lý: “Cây đổ về nơi không có vết rìu Chính những gì mà ta

Trang 21

đam mê, khao khát yêu tin; chính những người mà ta yêu thương, tin cậy lại khiến tatan nát tổn thương và đổ vỡ:

Người yêu thơ chết vì những đồn văn Người say biển bị dập vùi trong sóng Người khao khát chết vì roi mơ mộng

Ta yệu mình tan nát bởi mình ơi (Tự thú)

Cũng như Tự thú, Hỏi, Hạnh phúc, Nghe tiếng cuốc kêu và hầu hết Thư mùa đông, Thương lượng với thời gian tiếp tục là những trăn trở, suy tư đằm sâu của Hữu

Thỉnh về cói nhân sinh, về nhân tình thế thái 56 bài thơ, mỗi bài là “một lời tâm sự,một trăn trở, một thao thức về cuộc đời, về tình yêu và cả đạo lý đối nhân xử thế”.Tuy nhiên, nếu Thư mùa đông phần lớn là những câu “Hỏi”, những lời “Tự thú” cóphần đau đớn, chua chát thì ở Thương lượng với thời gian, bên cạnh những câu “Hỏi”day dứt:

Có gì mới? Ngày đi hay cát đến

Có gì vui? Gió thổi lấy lòng cây

Có gì bền? Nhân nghĩa có còn đây (Nghẹn)

Tôi như cây biết giấu lá vào đâu

Giữa gió bụi cõi người ? (Bóng mát)

Hữu Thỉnh đã gắng tìm những câu trả lời:

Hãy yêu lấy con người

Dù trăm cay nghìn đắng Đến với ai gặp nạn Xong rồi, chơi với cây (Lời mẹ)

Trang 22

Chính nhờ thế, thơ Hữu Thỉnh đã viết về những nghịch lý, những trớ trêu, daydứt nhưng vẫn đầy yêu tin Hơn ở đâu hết, nhà thơ đã sống theo lẽ sống mẹ truyềndặn:

Ra sông lấy sóng mà yêu Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin (Trường ca Biển)

Trở lên, chúng tôi đã tìm hiểu quan niệm của Hữu Thỉnh về thơ – Quan niệm

đó được hình thành và bồi đắp chính trong hành trình sống, tìm tòi và sáng tạo củanhà thơ: mà cốt lõi của nó là phải sống, phải dấn thân, phải tìm tòi và sáng tạo, tìmcho mình một giọng riêng không lẫn Bằng cách vừa trở về khai thác sáng tạo truyềnthống dân gian, vừa dồn sức tìm tòi, sáng tạo cái mới Quan niệm đó đã hướng định,chi phối và để lại dấu ấn sâu đậm trong hành trình sáng tạo thơ của Hữu Thỉnh

Chương 2: Tính truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh

Trang 23

Sinh ra ở quê, sống gắn bó với quê, “hồn thơ Hữu Thỉnh đá thấm đẫm chất dângian vừa bay bổng lãng mạn vừa mặn mòi gian khó của quê hương” Và vì thế, quêhương hiển hiện trong thơ Hữu Thỉnh cũng thấm đượm sắc vẻ riêng với những Sangthu, Chiều sông Thương, Thảo nguyên, Bình yên đầy sức ám ảnh Có thể nói, thơ

Hữu Thỉnh là cả một thế giới đa màu sắc của vùng Trung du quê hương ông: “Ôi con sông màu nâu/ Ôi con sông màu biếc/ Dâng cho mùa sắp gặt/ Bồi cho mùa phôi pha/ Nắng thu đang trải đầy/ Bên cầu con nghé đợi/ Cả chiều thu sang sông” (Chiều sông Thương) Nặng lòng với quê hương, Hữu Thỉnh luôn dành cho quê hương những tình

cảm tha thiết nhất Ông đã đưa vào thơ những hình ảnh mang đậm hồn quê với những

cỏ hội hè, những đám mây mùa hạ, những cỏ đội bờ, cau ấp bẹ, những trởi bỏ ngỏ,những chiều bỏ không, những cây rơm gầy, rơm rạ nằm mơ Ông nhớ đến từng

tháng ở quê hương “Tháng chạp gầy hoa mua nhen nhúm nở/ Tím như là an ủi cả chiều đông”; “Nhớ tháng bảy tầm tầm bong bóng vỡ/ Ếch mong mưa kêu váng ở sau nhà”; tháng ba “Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ/ Mẹ ở nhà đã cất áo bông”

Trang 24

Nhớ đến từng mùa: “Và mùa xuân, anh nghe rõ mùa xuân/ Hoa xoan rụng trước cửa hầm tím cát/ Tiếng ếch nổi nênh dọc bờ khoai nước/ Cò lại về đậu trắng cánh đồng sâu” (Đường tới thành phố); nhớ “Chiều đông áo thắm ai vừa sắm/ Sông nhớ người xa thưa thớt trôi”; Nhớ tiếng cuốc kêu mùa hạ; nhớ trời thu xanh và hoa

mướp thu vàng; mùa thu

Nhớ đến từng nét sinh hoạt dung dị ở làng quê, từng ngọn khói “mẹ nhóm lênnghi ngút ở mé đồi”; “Những quả chuối chín mòng trẻ lại ríu chân lên”; “những đồi

cỏ may, những bờ trống ếch” Nỗi nhớ quê triền miên trong thơ Hữu Thỉnh

Một trong những nét đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh là tình cảm quê hươngkhông phải là tình cảm chung chung, trìu tượng mà được lắng lọc qua tình cảm, tâmtrạng của người lính xa quê đi chiến đấu và bởi thế là tình cảm thường trực đau đáu,thấp thỏm nhiều khi đến xa sót Tình cảm quê hương quyện hòa với tình cảm giađình, cha mẹ, người thân và bật nảy trong mọi hoàn cảnh, trạng huống, thời khắc.Đang trên đường hành quân, gặp cỏ, nhà thơ nhớ đến mùa xuân quê mình:

Mùa xuân hẳn bắt đầu Trên quê mình lất phất Mấp máy lúa chiêm lên

Cỏ đội bờ thả sức

(Mùa xuân đi đón)

Qua Chuyến đò đêm giáp ranh, cận kề bên cái chết nhà thơ vẫn “bơi trong thương nhớ của riêng mình” Trên đường thần tốc tiến về thành phố, Hữu Thỉnh xót

xa nhớ về “Ngoài ta độ này đang giáp hạt/ Cây rơm gầy xay giã cũng thưa đi” Được

chiến dịch “ăn cơm không phải độn”, nhà thơ lại “mừng thì mừng mà thương mẹ baonhiêu” Ngay ở thời khắc “thần tốc” tiến vào giải phóng Sài Gòn, nỗi nhớ gia đìnhvẫn ùa đến, cụ thể, tường tận:

Mẹ cả nghĩ và bố thường ít nói Lúa đồng mình mỏi mắt vẫn chưa hoe Ngày mai bố dậy sớm ra tàu

Trang 25

Tàu vẫn chậm và đông người chạy bữa Bóng bố khuất qua nhà ga Chí Chủ Sắn độ này lên giá quẩy tong teo

(Đường tới thành phố)

Được lắng lọc qua tình cảm tâm trạng của người lính xa quê, xa gia đình, Quêhương trong thơ Hữu Thỉnh chính là phần hồn, phần kí ức - nơi nhà thơ gửi gắmnhững hồi ức, những kỉ niệm, những dấu ấn không thể phai nhòa Quê hương là nơi

lưu giữ những ngọt ngào, những lời ru dịu êm của tình yêu đôi lứa: “Hai nhà dựa lưng vào nhau/ Cành xoan bên ấy ngả đầu sang đây/ Lá sả đấy gội đây say/ Ru em bên ấy, bên này thiu thiu”, thân thương và bình dị, thiêng liêng và thường trực Quê

hương với Hữu Thỉnh là vùng “hoa cỏ miền đồi” trung du, ở đó luôn thấp thoángbóng dáng của những hồi ức đẹp đẽ, ngọt ngào Đó là những kỷ niệm lớn dần cùngthời gian đi theo suốt cuộc đời Chính những tình yêu nhỏ bé, mộc mạc bình dị, nhẹnhàng với từng ngọn cỏ, lá cây, điệu hát lời ru, từng góc nhỏ, mùa sang đó lại kếtnên tình yêu quê hương nồng nàn, cháy bỏng Quê hương còn gắn liền với nhữnghình ảnh từ mẹ, từ cha, từ hiện thực cuộc sống, từ cảnh quê, tình quê gắn với những

kỷ niệm tuổi thơ đùa nghịch vui chơi quanh gốc đa làng, quanh giếng nước, sân đình– nơi ghi dấu cả một trường kỳ lịch sử và văn hóa của cộng đồng

Quê hương với Hữu Thỉnh luôn là cái nôi đưa, là “nhà ga”, là điểm dừng châncho mỗi người con Chiến tranh kiên cường và anh dũng là vậy, trải qua trường kỳkháng chiến cho độc lập dân tộc, hòa bình lập lại, quê hương trở lại sự thanh bình vốn

có, với những “Bình yên” của những “buổi sáng thức dậy”, của những “hạnh phúc”,

của sự êm ả, tĩnh lặng, nơi nảy sinh những suy tư, tâm cảm con người như được trỗidậy Là nơi ngồi ôn lại những kỷ niệm của trận chiến, những khoảnh khắc còn đọng

lại sau chiến tranh, để thấm nhuần thêm “sức bền của đất”:

Có cái khát của nhiều trận đánh

Có niềm vui trước mỗi cơn mưa

Trang 26

Khum bàn tay vốc đom đóm bay ra

Kỷ niệm lập lòe những đêm bám chốt

(Sức bền của đất)

2.1.1.2 Cảm hứng về đất nước

Cũng như quê hương, đất nước luôn là nguồn cảm hứng không vơi cạn trong

truyền thống của thơ ca dân tộc Trong tâm khảm của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước” là những giá trị bình dị nhất, đơn sơ nhất, quen thuộc nhất: “Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể/ Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn/ Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc/ Tóc mẹ thì bới sau đầu/ Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn/ Cái kèo cái cột thành tên/ Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng/ Đất nước có từ đó ” (Đất nước) Đất nước vơi Tố Hữu là tất cả những gì cao cả, kỳ vĩ, lớn lao nhất: “ Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ/ Đất anh hùng của thế kỷ hai mươi” (Miền Nam) Với Xuân Diệu, đất nước vô cùng dung dị: “Những là chè, là mít, những là cau/ Những là chòm, là xóm đẹp như nhau!/ Quay bốn phía, chỉ một màu: Đất Nước/ Thoang thoảng hương cau lồng phía trước/ Rập rờn lá mít ánh đằng sau/ Những sân con liền tiếp những vườn rau/ Những mái rạ bền lâu như vạn thuở/ Và bờ giếng gốc đa đều rạng rỡ …” Với Nguyễn Việt Chiến, đất nước chính là nơi ghi dấu tình mẫu tử: “Đất nước hình cánh võng mẹ ru ta”, là nơi “Chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ/ Buồn đau không còn thở than/ Những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm” Trong quan niệm của Chế Lan Viên, đất nước chính là nơi chôn rau cắt rốn, là nơi gắn bó máu thịt, là sự thân thương, là cuộc sống hiện tồn: “ Ôi, Tổ quốc, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ, như cha, như vợ, như chồng/ Ôi, Tổ quốc, nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” Và trong tình cảm, ý thức của Thanh Thảo:

“ Đất nước đẹp mênh mông/ Đất nước thấm sâu đến tận cùng xương thịt/ Chỉ riêng cho người chúng tôi giám chết…”

Trang 27

Còn với Hữu Thỉnh, đất nước trường tồn trong những giá trị chìm khuất nhất,sâu thẳm nhất, đó là những giá trị ta không nhìn thấy được, không hiện hữu, khôngtrực tiếp bộc lộ, lại vừa hiển hiện trong từng hình ảnh giản dị, cụ thể, xuyên suốttrong thơ của ông Đất nước tiềm ẩn những giá trị không thể đánh giá, đó là âm vang,

là dư vị, là hồn cốt của những gì đau xót nhất, thiêng liêng nhất, vang dội nhất, làmạch ngầm thẩm thấu trong từng con chữ Nhưng ở thời khắc ngặt nghèo, người lính

trên điểm chốt, đất nước đơn giản chỉ là một “gốc sim cằn”, nhưng “nếu kẻ thù chiếm được” thì dù chỉ:

Một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn

Tổ quốc sẽ ra sao? Tổ quốc?

Thơ ơi thơ, hãy ghì lấy gốc sim

(Đường tới thành phố)

Phía sau sự hiện tồn của mỗi sự vật vô tri vô giác là cả một chiều sâu cảm thức

đối với đất nước “Một gốc sim cằn” giữ trọng trách lớn lao, “một gốc sim cằn” bảo

vệ ranh giới đất nước, “một gốc sim cằn” đã vẽ lên bản đồ chính trị một đất nước

Việt Nam hình chữ S Ở cái ranh giới mong manh ấy, trong giờ phút hiểm nghèo ấy,người chiến sĩ quyết tâm “ghì” giữ trọn từng gốc sim già bằng cả tính mạng của

mình, bởi gốc sim còn, đất nước còn Và anh sẵn sàng “ quên thơ để nhớ gốc sim cằn/ Dăm bảy lá lèo tèo như mực rớt/ Sim như là không có cũng không sao/ Ấy thế

mà chúng anh thay nhau đến đây để mà hy vọng/ Tưởng không sim thì không cả đời mình”, bởi một lẽ giản đơn “Gốc sim cằn nếu kẻ thù chiếm được/ Chúng làm đà dũi lấy cánh rừng le”, người lính sẵn sàng đánh đổi, sẵn sàng hiến tặng “Một nửa người anh dâm dấp máu/ Anh đang đau cho đất đá anh yêu/ Gốc sim cằn và xơ xác làm sao/ Không che nổi anh đâu, bò cách chi cũng lộ… Nhưng trước mặt là Tổ quốc/ Dù chỉ gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/ Anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện”

(Trước mặt là Tổ quốc)

Đất nước là những gì thân thuộc, bình thường nhất, nhưng vĩnh cửu nhất Đó là

những cọng cỏ “mọc bơ thờ trên chốt giáp ranh”, hay chỉ là những gốc cao su bé nhỏ,

Trang 28

nhưng sẽ đau đớn, xót xa đến thế nào nếu “Những ngày chúng ta gan góc hết mình/ Một gốc cao su nửa giờ trước là ta, nửa giờ sau chúng chiếm”

Đất nước là sự sống thiêng liêng cao quý và giá trị nhất để mỗi người con sẵnsàng hy sinh tất cả cho cái giá trị vô giá đó:

Máu anh bỏng xuống núi ngàn Đời anh treo một dấu than giữa trời

Kẻ thù cách một gang thôi Phải dằn súng lại Cắn môi tìm đường

(Một lần lỡ hẹn)

Người chiến sĩ nắm chặt cây súng trong tay, “dằn” bằng tất cả sức lực mà mình

có, tưởng như đó không đơn thuần là chỉ sức nặng về thể xác, không đơn thuần chỉ là

sự đơn lẻ của một người lính hiến dâng cho đất nước mà trên lưng anh chính là đấtnước, là nhân dân, là những giá trị không thể nào thay thế, sức nặng đó như tiếp thêmcho người lính sự bền bỉ, gan dạ, sự mạnh mẽ và quyết tâm trụ vững đến cùng “cắnmôi tìm đường” chứ không bao giờ chịu lùi bước

Đất nước là những dấu ấn không thể nào mờ nhạt dù cho khi giặc đến, giặc

lùng “Mẹ vẫn đỏ miếng trầu/ Ấm một vùng tin cậy phía sau” Đó là sự nung nấu, sự gìn giữ không bao giờ có thể xóa nhòa, khuất lấp, luôn trong tư thế chủ động “Đắp nắm đất cho người ở lại/ Trận đánh hiểm nghèo: tất cả giơ tay”

Lấy tình yêu của mẹ, lấy sự ấm áp từ hậu phương vững chắc làm điểm tựa, lấynhững hy sinh của đồng đội làm nghị lực tiếp sức, lấy tình yêu đất nước làm ngọnsóng trỗi dậy Đất nước không phải chỉ là hình hài Tổ quốc, không phải chỉ là gìn giữranh giới, gìn giữ vật chất và tài nguyên, đất nước chính là ngôi nhà, là mẹ đang ngàyđêm đặt niềm tin, một lòng hướng về người con nơi địa đầu Tổ quốc, luôn cổ vũ vàlàm điểm tựa vững chắc Đất nước chính là sự hy sinh của đồng đội, là mảnh hồn quê,

là những nấm mồ đồng đội đã ngã xuống, những gì đã mất, đã qua nhưng lại trởthành những gì vĩnh hằng nhất, bền chặt nhất Cả một đất nước trong tiềm thức, của

Trang 29

những giá trị không phải ai cũng nhìn thấy nhưng lại bền vững không gì có thể laychuyển nổi.

2.1.2 Cốt cách của con người Việt Nam

2.1.2.1 Trọng tình nghĩa, nhân nghĩa

Từ xa xưa, tư tưởng trọng tình nghĩa, nhân nghĩa đã là một trong những truyềnthống quý báu của dân tộc Từ thuở đất nước còn rối ren, bộn bề của thế kỷ XV, nhà

tư tưởng lớn của dân tộc – Nguyễn Trãi đã bàn về nhân nghĩa như một tư tưởng chủđạo, Ở mỗi thời kỳ tư tưởng nhân văn này lại mang những sắc thái riêng, nhưng dùdưới góc độ nào, tư tưởng nhân văn truyền thống đó không bao giờ mờ nhạt trongtiềm thức của dân tộc

Thơ Việt Nam hiện đại đã tiếp nối mạch ngầm của tư tưởng nhân văn đó một

cách nhuần nhị và sâu sắc: “Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước/ Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau” bởi “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”, bởi “Người yêu người sống để yêu nhau” Hữu Thỉnh đã kế thừa và góp phần làm sâu đậm tư tưởng nhân

văn đó qua những câu thơ chan chứa cảm xúc, sâu nặng ân tình Con người tình nghĩatrong thơ Hữu Thỉnh luôn mang một tấm lòng thơm thảo với quê hương, hiếu nghĩavới cha mẹ và nhân nghĩa với bạn bè, đồng bào đồng chí Với Hữu Thỉnh, đó chính lànhững người thân trong cuộc sống và chiến đấu, dù thời bình hay thời chiến tư tưởng

này vẫn “làm ta day dứt mãi”.

Đó là những lo lắng của người lính xa quê đằng đẵng bao năm được về với mẹ,trong sự hồi hộp, gợi về những tiềm thức xóa tan mệt mỏi u uất đau thương, nhớnhung lại tràn về dường như mãnh liệt, đem hơi ấm, tình yêu thương phủ đầy trong

“Ngôi nhà của mẹ”:

Xin mẹ lại cho con bắt đầu đi gánh nước gánh bao nhiêu trong mát để dành

xin mẹ lại cho con nấu bữa cơm mà không cần giấu khói

để con được cảm ơn ngọn lửa nhà ta ngọn lửa biết thay con tìm lời an ủi mẹ

Trang 30

(Ngôi nhà của mẹ)

Trong những bài thơ xúc động nhất của Hữu Thỉnh về chiến tranh hình ảnh mẹluôn trở đi trở lại như một điểm thức sáng, đọng lại nơi những câu thơ hay nhất, sâuđậm ân tình nhất Không chỉ là những day dứt băn khoăn về người mẹ tần tảo, cô đơn

ở nhà mòn mỏi, mà đó là tất cả sự trân trọng, nâng niu và gìn giữ bởi: “Mẹ đã sinh ra tôi / Đặt tên cho tôi nữa/ Một cái tên nôm na/ Hồn nhiên như sỏi nhỏ” (Lời mẹ)

Hữu Thỉnh thấu hiểu nỗi vất vả, truân chuyên, sự tảo tần chắt chiu và hy sinh

của mẹ: “ Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng/ Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió/ …

Đã bao lần mẹ nuôi tôi như thế/ Những cánh đồng in dấu chân của mẹ” (Đường tới

thành phố)

Những người lính cùng chung chiến hào, cùng chung lý tưởng, cùng chungmục đích, chí hướng, nghị lực quyết tâm vì độc lập tự do của dân tộc hiện lên trongthơ Hữu Thỉnh một cách cao đẹp và đáng mến Họ mang trong mình những phẩmchất đáng trân trọng Họ chia sẻ, nhường nhịn nhau những khó khăn, vất vả trongcuộc sống Trong sự nhiệt lòng, tình nghĩa cao cả, một ngày quen nhau cũng trở nêntri kỷ Họ có thể sẵn sàng hi sinh, đùm bọc sẻ chia cho nhau từng ngọn rau, ngụmnước, từng viên thuốc, nắm cơm Họ luôn kề vai sát cánh, nhường nhịn, chia sẻ vớinhau cả về vật chất, tinh thần và tình cảm thậm chí “từng phần sống cái chết Cuộcsống chiến trường khắc nghiệt đã kéo họ xích lại gần nhau, bền chặt, keo sơn; tìnhđồng đội, đồng chí đã trở thành bất tử Đối diện với sự khốc liệt của chiến tranh, họnhư không phải là họ, cái tôi lùi xa, chỉ còn những anh em, đồng chí cùng chung chiakhó khăn, gian khổ:

Tay thêm chai mỗi bận moi hầm Ném cho nhau những khẩu phần khô khốc (Sức bền của đất)

Chiến tranh khắc nghiệt là thế, cuộc sống phũ phàng gian khó là thế, nhưng ở

họ luôn sáng ngời tình nghĩa đồng đội, tình yêu, tình mẫu tử, tất cả dường như trởthành sức mạnh vượt trội hơn bao giờ hết, sống dậy hơn bao giờ hết, làm nền cho mỗi

Trang 31

bước tiến công, làm điểm tựa cho mỗi người vững bước Chiến tranh dường nhưkhông còn là trở ngại, không còn là sức cản để có thể quật ngã được tinh thần Bởitrong họ luôn sáng ngời tình nghĩa, người lính trong thơ Hữu Thỉnh sẵn sàng nhườngnhịn cả sự sống của mình, hy sinh thay cho bạn bè, đồng chí mà không màng đếnnhững tư lợi của cá nhân

Với tấm lòng trắc ẩn, Hữu Thỉnh rung động một cách mãnh liệt và phản ánhsâu đậm những khía cạnh thể hiện phẩm chất, tình nghĩa cao đẹp của con người ViệtNam Đó là những hạnh phúc mong manh chưa kịp nhóm lên đã tan vỡ; những ngườilính chưa kịp ăn bữa cơm cuối cùng, những người vợ thủy chung chờ đợi chồng lặng

lẽ chịu đựng nỗi nhớ thương xót xa vẫn ăn mòn, gặm nhấm; những người lính mãimãi đắm mình ngoài biển khơi; những người láng giềng ý trí không khoe con trướcmặt người đàn bà cô đơn chờ chồng; là nỗi xót đau của đồng đội khi nhìn “đống súngthừa” sau trận đánh quá tổn thương đến nỗi “không dám nhận mình là may” khi đượcsống sót Đó là những nỗi niềm nhớ thương vời vợi của những con người trọng tìnhnghĩa Qua khảo sát có thể thấy trong thơ Hữu Thỉnh tần số xuất hiện của từ gợi dẫn

đến tình nghĩa “nhớ thương” khá cao ở cả trường ca và thơ ngắn Có thể nói, thơ Hữu

Thỉnh đã kế thừa sâu sắc, triệt để và góp phần khắc đậm phẩm chất truyền thống caođẹp trọng tình nghĩa của con người Việt Nam

2.1.2.2 Sống đồng cảm, hy sinh, nhường nhịn, xẻ chia:

Một trong những nét đẹp đáng khâm phục của những người lính trong thơ HữuThỉnh như một phẩm chất đáng tự hào của những người lính bộ đội cụ Hồ ở sự đồngcảm, biết hy sinh Họ chia sẻ, nhường nhịn, họ nâng niu từng kỷ niệm, họ che chở,bảo vệ và đỡ đần nhau vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc chiến:

Cơm dã chiến nấu bằng bếp điện Rau muống xanh như hái tự ao nhà Trời còn đầy ắp hoa và pháo

Nhìn nhau chưa vội mở vung ra Kìa gắp đi anh, ai nấy giục

Trang 32

(Bữa cơm chiều trong dinh Độc lập)

Người mẹ hiểu những khó khăn khắc nghiệt của đất nước, những gian nanhiểm nguy người lính phải chịu đựng nơi chiến trận nên gắng một mình mòn mỏi,còm cõi, vất vả xẻ chia cùng những người con vì Tổ quốc Người vợ thấu hiểu thờicuộc mà đồng cảm cùng chồng gánh vác việc nước, việc nhà, chấp nhận sự cô đơn,tủi nhục, sắt son, kiên định đợi chờ Người đồng chí thấu hiểu cho nhau những nỗinhớ nhung da diết, những nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần, những sự mất mát, tổnthương, thiếu thốn về tình cảm, tình mẹ, tình yêu, tình bạn Họ đồng cảm với nhaunhư thể đó chính là bản thân mình Bởi với họ, mỗi người đều có những góc khuấtriêng, nhưng đều chung một lý tưởng chí hướng, lý tưởng, chí hướng chung đó đãxích họ lại gần nhau, chia xẻ được với nhau những góc khuất gian nan, vất vả của đời

lính : “ Năm anh em trên một chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nở cùng một cội/ Như năm ngón tay trên một bàn tay/ Ðã xung trận cả năm người như một/ …Khi đã hát hòa cùng một giọng/ …Ðã lên xe là cùng một hướng/ Đã lên xe là chung khổ sướng/ …Đã lên xe không còn tên riêng nữa” (Trên một chiếc xe tăng).

Người lính giãi bày, chia sẻ tâm tình cho nhau cả về vật chất và tình thần, từ

mối tình duyên đặc biệt: “Nhà mình do má tìm cho/ Nết ăn nết ở cũng do má tìm/ Một

lô bánh quế má đem/ Mình về một buổi nên duyên cậu à/ Tối ăn một bữa ở nhà/ Sáng bên ngoại thế là xa một lèo”(Đường tới thành phố) Họ không chỉ sẻ chia từng bữa

ăn, niềm vui, kỉ niệm, cùng cất giữ những kỉ niệm, hoài bão cho nhau, mà còn sẵnsàng chia xẻ với nhau cả thể xác, tính mạng không một chút do dự, băn khoăn Họ hysinh hạnh phúc cá nhân, đặt sự nghiệp chung lên trên hết:

Ta hoãn cưới một năm rồi hai năm

Đi đánh giặc chân trời in màu thiếp (Sức bền của đất)

Họ chia cho nhau từ những vật bình thường nhất cho đến những giá trị lớn lao

Họ sẵn sàng ra đi cho người sau tiếp bước:

Tôi biết chắc mình không qua khỏi

Trang 33

Xin hãy rút hết máu nhóm 0 trong người tôi đang chảy

Mà tiêm cho bạn khỏi cưa chân (Đường tới thành phố)

Thậm chí với những người không quen biết, không chung cội nguồn, lí tưởngnhưng chỉ cần có sự đồng điệu về tâm hồn thì mọi khác biệt không còn là trở ngại,bởi cái tôi đã hóa thành cái ta, vượt ra ranh giới:

Cho tôi chia một phần Hắc Hải Chia những con sóng tung bờ Chia những rặng liễu thở than

Cho tôi chia những phép nhiệm mầu

(Cho tôi chia)

Phải chăng bởi cuộc sống là “cho đi đâu chỉ nhận riêng mình” mà họ đã làm

“dịu” đi những trận chiến khốc liệt đầy bom đạn, biến sự khó khăn gian khổ thànhniềm vui sẻ chia, biến những vất vả gian nan thành nghị lực bước tiến về thắng lợi, vàhóa giải được phần nào những mất mát đau thương Phẩm chất đáng tự hào đó củacon người Việt Nam đã được Hữu Thỉnh kế thừa và bồi đắp dày dặn thêm, sáng đẹpthêm

2.1.2.3 Sống lạc quan, tin tưởng, bền bỉ, dẻo dai:

Một tinh thần chủ đạo xuyên suốt trong thơ Hữu Thỉnh là khẳng định sức sốnglạc quan, yêu đời trong thời loạn lạc, sức chống chọi bền bỉ, dẻo dai trước mọi vấpngã, khó khăn, thử thách Dù trong hoàn cảnh nào, tinh thần đó vẫn sáng ngời nhưngọn đuốc dẫn lối chỉ đường

Đứng trước những lâm nguy của thời cuộc, đất nước, con người vẫn lạc quantin vào sự lựa chọn của mình, tin tưởng lý tưởng của cá nhân và cộng đồng dân tộc

Để có một đồng bằng trước mặt Chúng ta lên đường mười tám đôi mươi

(Đường tới thành phố)

Trang 34

Bởi lẽ họ xác định rõ một tương lai sáng ngời trước mặt, một hạnh phúc bềnchặt lâu dài ở phía trước và tin tưởng sự ra đi là đem về thành công và “đồng bằngtrước mặt” Họ lạc quan trên mọi phương diện, mọi thời điểm dù là ngày mai sau mộtcuộc đánh lớn có thể họ không bao giờ còn được sống trở về Nghị lực tâm hồn là yếu

tố giúp họ trở thành những người cao cả và lớn lao:

Ngày mai chúng ta đòi lại phù sa Ngày mai chúng ta về cười rung bè rau muống

kỉ niệm đẹp chen vào những đau thương mất mát, đưa tâm hồn thanh lọc cạn vẩn củanhững lúc chùn chân mỏi gối Họ hiện lên là một biểu tượng sáng ngời của cái đẹp

Đường ta đi, gian khó chẳng mau quên

Cả cái vấp cũng găm thành nỗi nhớ Đèo nặng thế mà khi vào giấc ngủ

Cứ hồn nhiên như sau buổi chăn trâu

(Giấc ngủ trên đường ra trận)Đây có lẽ là tinh thần lạc quan chung cho những lớp người trong thời chiến tiếpnối tinh thần chung của dân tộc, như Thanh Thảo đã từng khẳng khái: “Chúng tôikhông mệt đâu” Trước những khó khăn thì lạc quan tin tưởng, trước những đớn đaumất mát thì bền bỉ, dẻo dai:

Kẻ thù làm ta già trước tuổi

Em ta biết cười để moi tim giặc

Trang 35

(Sức bền của đất)

Trên chiến trường, trong tâm vùng chiến địa, người chiến sĩ cách mạng khôngtránh khỏi những nỗi đau cả về thể xác và tinh thần, không tránh khỏi những phútgiây phải chứng kiến sự hy sinh của đồng đội, của người thân Nhưng dù trong lòngđịch, đối diện với bao hiểm nguy và khắc nghiệt, người chiến sĩ vẫn luôn giữ chomình một tâm thế bình ổn nhất, nghị lực nhất, vượt lên trên tất cả những mất mát, hisinh, vượt lên trên những bản ngã của cá nhân mình, đặt lợi ích chung của toàn dântộc lên hàng đầu, lấy ý chí quyết tâm làm điểm tựa, biến sự mất mát hy sinh thànhnghị lực tiến lên

Người lính trong thơ Hữu Thỉnh luôn sáng ngời những phẩm chất của bộ đội

cụ Hồ Sống trong hoàn cảnh sự bình yên, tính mạng của mình, của đồng đội luôn bị

đe dọa, người lính vẫn “khoen lựu đạn anh cắn vào lặng lẽ” Sự gan dạ, đanh thép

biến họ thành keo cứng trước mọi nỗi đau, thù hận để cống hiến hết mình cho dân

tộc, đất nước: “ Anh đanh lại, anh nấu nung như thể/ Lõi lim già mưa nắng lẩn vào trong”, dù kẻ thù có trăm mưu ngàn kế, dã man, tàn bạo, thì với ý chí quyết tâm kiên

định của người lính chiến trường, mọi thử thách chỉ như hạt muối bỏ biển, ý chí làmnên lòng tự hào của dân tộc:

Bay trợn trừng ta bấm nút ngón chân Bay giương súng ta chùng kèo cho ngã

Mồ mả ông cha không dạy ta buông tay

(Đường tới thành phố)

2.1.2.4 Sống cởi mở giãi bày, tâm tình:

Trong thơ Hữu Thỉnh, bên cạnh hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống, chiếntranh, đạn lửa, bên cạnh những niềm vui, nỗi đau do chiến tranh mang lại, chia sẻnhững khó khăn của cuộc sống vật chất con người trong thời chiến còn ẩn chứanhững tâm tỉnh sâu lắng “những tâm tình đằng sau tâm tình” (Nguyễn Duy), đó lànhững tâm sự về gia đình, vợ chồng, về tình yêu đôi lứa, về những gì chỉ lưu giữ

Trang 36

trong tâm hồn “nhạy cảm với trái tim chiến sĩ” mà Hữu Thỉnh đã kế thừa từ truyền

thống thơ của dân tộc

Đó là nỗi lòng của người con xa quê không thể đoàn tụ với gia đình, với người

mẹ già vẫn hàng ngày phải tự chật vật mưu sinh cho cuộc sống, phải tự là trụ cột, làsức mạnh, chỗ dựa, thay vì phải được phụng dưỡng chu toàn Bởi vậy mà lòng ngườicon luôn day dứt khôn nguôi, luôn canh cánh một nỗi niềm chưa thể nào giải tỏa:

Ta chưa một lần thư thả đất ơi Chưa một lần nói được lên lời Lòng của ta với mẹ

(Sức bền của đất)

Trong mạch nguồn giãi bày tâm tình này không thể không nói đén những giãi

bày chân thành của chính nhà thơ Hữu Thỉnh từng bộc bạch về mình: “Tôi hay héo như cây/ Tôi hay buồn như nước”; “Tôi chỉ là những chiếc cốc vô danh” trong tiệc lớn “Tôi chỉ là một cuống rạ bơ vơ” Hữu Thỉnh bước vào thành phố cũng theo con đường riêng: “Tôi bước vào thành phố/ với nguyên màu rơm tươi” Nhiều lần Hữu Thỉnh “Tự thú”: “Tôi cười nói huyên thuyên/ cả tin và nhẹ dạ”; “Tôi ngồi buồn như

lá sen rách”, “Tôi nhớn nhác đi tìm người/ Bước chân thì ngắn đường đời thì xa” Ông thảng thốt buồn vì “Chưa viết giấy đã cũ/ Chưa viết sông đã đầy/ Chưa viết chợ

đã đông/ Chưa viết đồng đã bạc/ Câu thơ đứng giữa trời/ Vó nhện cất gương rơi” và thấm buồn vì “Càng viết càng thấy mình yếu đuối” Hữu Thỉnh cuồng nhiệt “nghiêng ngả” nhưng cũng thật chua chát, tan nát trong tình yêu Và cái ngậm ngùi “Tôi một mình đứng khóc ở sau xe” nơi người anh đã hy sinh Có thể nói mọi tâm sự buồn vui,

mọi chuyện từ riêng tư đến nhân tình thế thái, chuyện đời và chuyện nghề, Hữu Thỉnhđều chân thành giãi bày, tin cậy gửi trao Đó là một trong những “bí quyết” để thơHữu Thỉnh dễ đến được với người đọc, lay động và ám ảnh người đọc Có được điều

Trang 37

đó là nhờ Hữu Thỉnh biết khơi nổi một cách sáng tạo nguồn mạch tâm tình, giãi bàyvốn là một đặc trưng nổi trội, một ưu thế của văn học truyền thống.

Dù ở phương diện nào, ở họ vẫn luôn sáng ngời phẩm chất nội tâm trong sáng,bình dị, gần gũi và cởi mở bên cạnh những phẩm chất của một người lính kiêncường, anh dũng

2.2 Tiếp nhận sáng tạo những trầm tích lịch sử văn hóa dân tộc

2.2.1 Trầm tích lịch sử , văn hóa dân tộc – một mạch nguồn đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh

Hữu Thỉnh rất có ý thức trong việc đi sâu khai thác những cái hay, cái đẹp củadân gian, dân tộc, vừa biết dồn tâm lực, vừa biết sử dụng tài năng một cách tài tìnhtrong việc sáng tạo cái mới Trong thơ, Hữu Thỉnh đưa một cách khéo léo vào thơnhững sáng tạo đầy tràn của chiều sâu tâm trạng, đem đến một bộ mặt hoàn toàn mớicho thơ Những câu hát giặm nghệ tĩnh, câu đồng giao, hát ví, hát xoan, hát ghẹo, cadao, tục ngữ, hàng loạt những hình ảnh về người mẹ,cây đa, giếng nước, sân đình…được Hữu Thỉnh khéo léo đưa vào thơ một cách hài hòa và tao nhã Điều đặc biệt ởđây là Hữu Thỉnh rất tài tình trong việc khai thác vận dụng: chỉ với một nét củanhững giá trị truyền thống đó, người ta đã có thể mường tượng ra, hiểu ra giá trị củanhững trầm tích lịch sử, văn hóa đó

Khảo sát qua thơ Hữu Thỉnh chúng tôi nhận thấy: Những trầm tích lịch sử vàothơ ông một cách nhuần nhị, hài hòa Bóng dáng những nhân vật lịch sử, những sựkiện lịch sử chói lòa như ẩn hiện sau những vần thơ dân dã:

Hiện ra bước chân ông Khổng Lồ Cơm gạo xềnh xoàng tình yêu quá cỡ Bước chân ông Khổng Lồ thành giếng thành ao Con trai rửa mặt đánh trận xa nhà

Con gái gội đầu thành dâu hiếu thảo

Trang 38

(Sức bền của đất)

Có khi những câu thơ được “ghép” từ địa danh lịch sử, địa lý nổi tiếng của đátnước:

Ta đi từ đầu sông Lô đến cuối sông Thương

Từ thung lũng Sa Thầy ra sông Trường trắng cát Đất vẫn đất của dân ca và mía mật

Gió thổi rừng lồ ô xao xuyến biết bao nhiêu

(Sức bền của đất)

Lại có khi trầm tích lịch sử, nhân vật lịch sử được khơi nối từ những sự vậtmang ý nghĩa “đường viền” Từ Hoa trong vườn Nguyễn Huệ, Hữu Thỉnh hàm ẩn

“Một mùi hương thao thiết đến mai sau” sự nghiệp lẫy lừng mà lưu danh thiên cổ của

vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung:

Ngỡ đàn voi để ngà lại sông Kôn Cát và cát trắng hoài không hết trắng Trưa cổ xưa hương đưa bảng lảng Cây vườn thơm từ quá khứ thơm ra Khu Quang Trung luyện võ dựng cờ Trời gánh đỡ việc người không làm nổi Nghiệp anh hùng nói không bao giờ hết

Đọc thơ Hữu Thỉnh luốn thấy ẩn hiện dấu tích những kỳ tích của truyền thuyếtlịch sử, thấp thoáng bóng dáng những vị anh hùng dân tộc, lừng lẫy một thời ghi dấutích những chiến công như một lời động viên, như một ý chí, nghị lực, quyết tâm noi

gương sáng: “Sông ta quăng lưới giặc đến đằng sông/ Núi ta lấy nâu giặc tràn qua núi/ Ngô Quyền nhìn người dân binh cuối cùng trước giáo gươm giặc tới/ Người lệnh cho thủy triều đầu quân/ Sai rừng gỗ lim trùng trùng làm cọc/ Trần Quốc Tuấn đại bản doanh trên nước/ Kế đầu tiên là kế nhân hòa/ Lệnh đầu tiên: Người hiền không

Trang 39

bỏ sót/ Đại yến của Quang Trung chỉ cơm nắm muối vừng/ Ăn trên mình ngựa/ Yêu sĩ phu Bắc Hà không phải là một kế/ Mà là luật tồn vong/ Những danh tướng tra gươm vào vỏ/ Huyền Trân công chúa ra đi một mình ”.

Cùng với những trầm tích lịch sử, Hữu Thỉnh cũng khai thác, tiếp nhận khánhiều trầm tích văn hóa lịch sử Những truyền thuyết một thời lại sống dậy qua thơ

với những Trương Chi, Mỵ Nương và mối tình “sóng dậy”: “Ta bới sóng đi tìm các dòng sông/ Gặp Trương Chi cắm sào đứng hát/ Mỵ Nương vẫn đang ngồi khóc/ Nước mắt thành ngọc trai”; với “Tiên Dung đội cát”, nàng Kiều khổ hạnh của

Nguyễn Du, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương luôn đồng cảm vả bất bình với nhữngkiếp chồng chung, kiếp hồng nhan đa truân Hàng loạt địa danh văn hóa đặc trưng đi

vào thơ Hữu Thỉnh tạo một không khí cổ sơ, hư ảo: “Nhỡ hẹn với mưa phùn Ải Bắc/ Mai một cành thắt ruột kẻ tha hương/ Nhỡ hẹn chùa Thầy/ Vặn nhỏ mặt trời để vào hang Cắc Cớ/ Nhỡ hẹn Yên Tử, nhỡ hẹn chùa Hương/ Nhỡ hẹn đền Hùng, chùa Tây Thiên, chùa Độc Cước/ Chưa đến Hội Lim/ Thẫn thờ/ Dải yếm/ Chưa đi Hội Phủ Giầy mê mẩn trầu văn

Những câu ngạn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao trữ tình như một cái bóng, ẩn

hiện thấp thoáng bên trong những dòng thơ: “Một người đau tất cả quên ăn” (Một

con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ) Những câu hát đồng dao như được chắp thêm đôi cánhđầy chất thơ làm cho câu thơ trở nên nhịp nhàng, vần thơ mượt mà, uyển chuyển:

"Thả đỉa ba ba/ Chớ bắt đàn bà/ Phải tội đàn ông/ Cơm trắng như bông/ Gạo tiền như suối/ Bỏ mắm bỏ muối/ Bỏ chuối hạt tiêu/ Bỏ niêu cứt gà/ Bỏ cho bà nào/ Bỏ cho

bà này"… thấp thoáng trong Sức bền của đất.

Âm hưởng ca dao xuất hiện khá nhiều với mật độ dày đặc: “Bởi nơi ta về có mười tám thôn vườn trầu/ Mỗi vườn trầu có bao nhiêu mùa hạ.”(Đường tới thành phố); “Ra sông lấy sóng mà yêu/ Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin” Hữu Thỉnh đã

chắt gạn lấy phần tinh túy nhất của những câu tục ngữ, ca dao và tìm tòi sáng tạo đểtạo được ra một cấu trúc mới, ý nghĩa mới, một khung xương mới nhưng vẫn giữ

Trang 40

được những gì tinh túy nhất mà tục ngữ, ca dao hàm chứa “Cái túi tám gang ngăn đứa lọc lừa/ Quệt chìa vôi vạch ngang lời điêu hót/ Mũi tên đồng thay lời di chúc/ Ba ông đầu rau dạy thế đứng chân”; “Ông bà đi xa ruộng nương để lại/ Làm sẵn ca dao dạy cách ở ăn/ Nhà có anh có em/ Ruộng có sào có thước/ Lấy ngày giỗ cha làm ngày sum họp/ Nước lã hương trầm thanh bạch bảo ban nhau” (Sức bền của đất).

“Tiếng mẹ ru ta cuối bãi đầu ghềnh/ Mẹ đi đốt than mẹ thường gánh vã/ Nhem nhuốc

cả ngày xanh ”; “Cho em ngập ngừng khi buông gầu xuống giếng/ Sợi dây chùng do

dự trước trăng in”; “Châu chấu cào cào xanh tím rủ tôi đi/ Những đồi cỏ may những đồi trống ếch/ Cây bưởi ca dao cây cau cổ tích/ Tôi âm thầm nuôi bống bống trong chai”; “Đất chẳng bao giờ héo/ trời thăm thẳm không mòn/ Khi vui chán vạn khi buồn mặc ta”; “Tóc em dài gội lá đài bi/ Cuộc tình ngắn bỏ buồn cho bến vắng”;

“Ngã ba ngã bảy về đâu/ Cái ngáng làm cớ cho nhau chuyện trò/ Ngọn đèn bọc trong ống bơ/ Cho em mờ tỏ đến giờ trong tôi”; “Bao giờ lúa trổ đòng đòng/ Lúa đang trổ anh đang về đấy chị”(Đường tới thành phố); “Chị tôi đi thửa hương vàng/ Ngậm ngùi trên mộ cũ/ Cháu ở cùng bà bống bống bang bang”; “À ơi tình cũ nghẹn lời/ Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh” (Trường ca Biển) Đó quả thật là

một điều tuyệt vời Thơ Hữu Thỉnh chứa khá nhiều điển cố, nhưng điển cố trong thơông không mang tính bác học mà đậm chất đân dã Ngoại trừ một số điển cố đượcdùng trọn vẹn, phần lớn đều được tái tạo thông qua những hình ảnh sáng tạo mới, đểgia tăng ý nghĩa cho thơ

Chính sự kế thừa, tiếp nhận và khai thác sáng tạo những trầm tích lịch sử vănhóa truyền thống tạo nên những điểm nhấn, sự hấp dẫn đặc biệt cho thơ Hữu Thỉnh,đồng thời tạo khoảng trống cho sự liên tưởng đầy sáng tạo của người đọc Đây cũng

là một trong những phương diện tạo nên phong cách sáng tạo độc đáo cho thơ HữuThỉnh

2.2.2 Tiếp nhận sáng tạo từ nghệ thuật thơ truyền thống

2.2.2.1 Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, gợi cảm:

Ngày đăng: 07/09/2016, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ VN 1945 – 1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tuấn Anh (1997), "Nửa thế kỷ thơ VN 1945 – 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. A,Xâytlin (1967), Lao động nhà văn (I, II), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: A,Xâytlin (1967), "Lao động nhà văn (I, II)
Tác giả: A,Xâytlin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1967
3. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hội Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại Nguyên Ân (1984), "Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Đào Thị Bình (1998), Trường ca của các nhà thơ trẻ trong thời kỳ chống Mỹ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thị Bình (1998), "Trường ca của các nhà thơ trẻ trong thời kỳ chống Mỹ
Tác giả: Đào Thị Bình
Năm: 1998
5. Đào Thị Bình (2008), Thể trường ca trong Văn học Việt Nam từ 1945 – cuối thế kỉ XX, LATS, Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thị Bình (2008), "Thể trường ca trong Văn học Việt Nam từ 1945 – cuối thế kỉ XX
Tác giả: Đào Thị Bình
Năm: 2008
6. Nguyễn Văn Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Văn Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
7. Anh Chi, Đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh, (Nguồn: honvietquochoc.com.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh
Tác giả: Anh Chi
8. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975 - 2005), Nxb Hội Nhà văn - Công ty Văn hóa trí tuệ Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Việt Chiến (2007), "Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975 - 2005)
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn - Công ty Văn hóa trí tuệ Việt
Năm: 2007
9. Trách Bách Diệp (1999), “Hữu Thỉnh: Thơ là kinh nghiệm sống”, Báo Người Hà Nội, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách Bách Diệp (1999), “"Hữu Thỉnh: Thơ là kinh nghiệm sống"”, Báo" Người Hà Nội
Tác giả: Trách Bách Diệp
Năm: 1999
10. Xuân Diệu (1981), “Những suy nghĩ nhân đọc Đường tới thành phố”, Báo Văn Nghệ, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu (1981), “"Những suy nghĩ nhân đọc Đường tới thành phố"”, Báo "Văn Nghệ
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1981
11. Phạm Tiến Duật (1981), “Nói chuyện với Hữu Thỉnh nhân đọc Đường tới thành phố”, Báo Văn nghệ, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Tiến Duật (1981), “Nói chuyện với Hữu Thỉnh nhân đọc Đường tới thành phố”, Báo" Văn nghệ
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1981
12. Văn Đắc (2002), “Đọc lại thơ Hữu Thỉnh”, Tạp chí Văn hóa, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Đắc (2002), “"Đọc lại thơ Hữu Thỉnh"”, Tạp chí" Văn hóa
Tác giả: Văn Đắc
Năm: 2002
13. Hoàng Điệp (2001), Phong cách thơ Hữu Thỉnh, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Điệp (2001), "Phong cách thơ Hữu Thỉnh
Tác giả: Hoàng Điệp
Năm: 2001
14. Hoàng Điệp (2008), “Hữu Thỉnh với thể loại trường ca”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh với thể loại trường ca
Tác giả: Hoàng Điệp
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2008
15. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ - tiểu luận phê bình, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Điệp (2003), "Vọng từ con chữ - tiểu luận phê bình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2003
16. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2002
17. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (1998), "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
18. Hà Minh Đức (1987), Thời gian và trang sách, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (1987), "Thời gian và trang sách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1987
19. Hà Minh Đức (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (1984), "Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
20. Hà Minh Đức (2004), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (2004), "Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w