1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN: VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG

123 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 657 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 2 3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 8 4. Phương pháp nghiên cứu 9 5. Đóng góp của luận văn 10 6. Cấu trúc của luận văn 10 B. NỘI DUNG 11 Chương I: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC CỦA ÔNG VĂN TÙNG 11 1. Khái quát về vấn đề đạo đức 11 1.1. Khái niệm đạo đức 11 1.2. Mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương 12 1.2.1. Trên thế giới 13 1.2.2. Ở Việt Nam. 15 2. Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới và nhà văn Ông Văn Tùng 17 2.1. Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 17 2.1.1. Đổi mới về quan niệm hiện thực và con người 17 2.1.2. Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 22 2.2. Khái quát về nhà văn Ông Văn Tùng 24 Tiểu kết chương 1 27 Chương II: NHỮNG BÌNH DIỆN ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG 28 2.1. Trong quan hệ gia đình 28 2.1.1. Trong quan hệ vợ chồng 31 2.1.2. Trong quan hệ cha mẹ với con cái 37 2.1.3. Trong quan hệ anh, em, họ tộc 41 2.2. Đạo đức trong quan hệ xã hội 44 2.2.1. Trong quan hệ giữa người với người 44 2.2.2. Trong quan hệ học đường 49 2.2.3. Trong quan hệ bạn bè 51 2.2.4. Trong quan hệ nghề nghiệp 55 2.3. Đạo đức trong tín ngưỡng, tôn giáo 61 2.3.1. Trong tín ngưỡng dân gian 62 2.3.2. Trong Nho giáo 65 2.3.3. Trong Phật giáo 68 2.3.4. Trong Thiên chúa giáo 75 2.4. Mối quan hệ tổng hòa giữa các nhân tố: Chân, thiện, mĩ 78 Tiểu kết chương 2 85 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG 86 3.1. Nghệ thuật xây dựng chi tiết hiện thực 86 3.2. Nghệ thuật miêu tả nhân vật 90 3.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 90 3.2.2. Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật 94 3.2.3. Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 98 3.2.4. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 102 Tiểu kết chương 3 107 KẾT LUẬN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THỊ THÙY

VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA ÔNG VĂN TÙNG

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn: PGS TS Trần Mạnh Tiến

Hà Nội – 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội, tháng 10, năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Mạnh Tiến –người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thànhluận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn nhà văn Ông Văn Tùng đã tạo điều kiện chotôi tiếp cận nguồn tài liệu sáng tác Tôi xin cảm ơn toàn thể các Thầy Côtrong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các Thầy Cô trong tổ Lí luận văn học đãnhiệt tình giảng dạy tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập

và nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi đểluận văn được hoàn thành

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

B NỘI DUNG 11

Chương I: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC CỦA ÔNG VĂN TÙNG 11

1 Khái quát về vấn đề đạo đức 11

1.1 Khái niệm đạo đức 11

1.2 Mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương 12

1.2.1 Trên thế giới 13

1.2.2 Ở Việt Nam 15

2 Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới và nhà văn Ông Văn Tùng17 2.1 Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 17

2.1.1 Đổi mới về quan niệm hiện thực và con người 17

2.1.2 Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 22

2.2 Khái quát về nhà văn Ông Văn Tùng 24

* Tiểu kết chương 1 27

Chương II: NHỮNG BÌNH DIỆN ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG 28

2.1 Trong quan hệ gia đình 28

2.1.1 Trong quan hệ vợ chồng 31

2.1.2 Trong quan hệ cha mẹ với con cái 37

Trang 5

2.1.3 Trong quan hệ anh, em, họ tộc 41

2.2 Đạo đức trong quan hệ xã hội 44

2.2.1 Trong quan hệ giữa người với người 44

2.2.2 Trong quan hệ học đường 49

2.2.3 Trong quan hệ bạn bè 51

2.2.4 Trong quan hệ nghề nghiệp 55

2.3 Đạo đức trong tín ngưỡng, tôn giáo 61

2.3.1 Trong tín ngưỡng dân gian 62

2.3.2 Trong Nho giáo 65

2.3.3 Trong Phật giáo 68

2.3.4 Trong Thiên chúa giáo 75

2.4 Mối quan hệ tổng hòa giữa các nhân tố: Chân, thiện, mĩ 78

* Tiểu kết chương 2 85

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG 86

3.1 Nghệ thuật xây dựng chi tiết hiện thực 86

3.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 90

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 90

3.2.2 Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật 94

3.2.3 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 98

3.2.4 Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 102

*Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

: Hà Nội: Học viện Quốc gia: Nhà xuất bản: Khoa học: Khoa học xã hội: Trước công nguyên: Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, pháttriển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Những chuyển biến cơ bản trongđời sống kinh tế – xã hội đã ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến đời sống tinhthần, đến đạo đức con người Việt Nam Cùng với những thành tựu to lớn màchúng ta đã đạt được trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,…kinh tế thị trường phát triển cũng làm nảy sinh những vấn đề xã hội nhức nhối:tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn xã hội gia tăng, lối sống thực dụng chạy theo đồngtiền Từ đó dẫn đến sự sa sút, xuống cấp về mặt đạo đức, những giá trị xã hộibiến động, đảo lộn, mất định hướng… Nhiều biểu hiện tiêu cực về mặt đạo đức

đã và đang phát sinh và phát triển Có thể nói những mặt trái đó đã và đang ngàyđêm trực tiếp tác động đến nền đạo đức truyền thống của dân tộc, làm băng hoạinền đạo đức văn hóa truyền thống của dân tộc Có thể khẳng định rằng đạo đức

là vấn đề thời sự, đang báo động hiện nay

Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu các yếu tố đạo đức truyền thốngcủa dân tộc, tạo cơ sở cho việc xây dựng một hệ giá trị đạo đức mới đáp ứngyêu cầu phát triển của đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Ông Văn Tùng là nhà văn có những thành tựu trong thời kì đổi mới.Ông không những là nhà văn, nhà giáo mà còn là nhà khảo cứu, dịch thuậtvăn học, cho nên vốn hiểu biết của ông rất rộng Trong chín tiểu thuyết củaông, mỗi tác phẩm là một câu chuyện, một vấn đề hiện thực mang tính thời

sự Là một người lấy văn chương làm lẽ sống, ông đã kịp phát hiện ra nhữngrạn nứt trong mối quan hệ giữa con người với con người trong cơ chế thịtrường đặc biệt là những rạn nứt trong quan hệ gia đình

Tiểu thuyết của ông quan tâm đến mối quan hệ văn hóa truyền thống vàhiện đại, cùng xu hướng đi lên của đất nước trong hoàn cảnh mới Vấn đề đạođức được nhà văn đặt ra thể hiện quan niệm mới về cuộc sống của nhà văn

Trang 8

Nhưng cho đến nay tác phẩm của ông chưa được nghiên cứu toàn diện và hệthống Vì vậy, việc nghiên cứu Ông Văn Tùng là cần thiết góp phần làm chobức tranh văn học Việt Nam thời kì đổi mới đầy đủ và rõ nét hơn.

Đồng thời, nghiên cứu tiểu thuyết Ông Văn Tùng góp phần cho việcgiảng dạy văn học, giáo dục đạo đức trong nhà trường được tốt hơn

2 Lịch sử vấn đề

Quan niệm của người xưa: “Thành nhân trước khi thành tài”, đạo đức

truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cốt cách con ngườiqua mọi thời đại Về vấn đề đạo đức đã được nghiên cứu từ thế kỉ III TCN bởiPlaton, Aritstot với tư cách được coi như một ngành triết học về đạo đức Tưtưởng đạo đức học của người Hi Lạp cổ đại chú trọng lý giải sự hình thànhcác chuẩn mực luân lý và tập tục, tìm cách phân biệt thật – giả, thiện – ác, Người Trung Quốc cổ đại cũng có những quan niệm đạo đức học rất sớm vớinhiều trường phái như của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Tuân Tử, và nhiểutrường phái khác Trường phái triết lý của Khổng Tử (551- 479.TCN) đượccoi như nền tảng cho mọi thiết chế trong xã hội Dưới thời Xuân Thu, ông đãdốc hết tâm huyết vào việc giáo dục đạo đức con người làm cho xã hội TrungQuốc ổn định Biện pháp của ông là khôi phục đường lối đạo đức và lễ trị.Ông cho rằng cơ sở của đường lối đức trị là lòng dân, lòng thương người.Phải biết coi trọng lợi ích của người khác như lợi ích của chính mình.Vớinhững cống hiến đó Khổng Tử xứng đáng được coi là nhà giáo dục lớn đầutiên của Trung Quốc

Cùng với sự phát triển của xã hội, vấn đề đạo đức ngày càng được quantâm hơn nữa bởi các nhà triết học, đạo đức học và các học giả khác Nhiềucông trình nghiên cứu chuyên sâu về đạo đức đã được thực hiện bởi các nhàtriết học Liên Xô, tạo ra một nền tảng lí luận căn bản về đạo đức… Một sốcông trình tiêu biểu của họ đã được dịch sang tiếng Việt như: G.Anghelop

Trang 9

(1985), Vị trí của đạo đức trong hệ thống nhận thức khoa học, Nxb Văn hóa thông tin, HN; A.Coochetop (1985), Những vấn đề lí luận đạo đức, Nxb Giáo dục Hà Nội; C.Mac, Angghen toàn tập, tập 3, CTQG, H,1995…

Trong cuộc Hội thảo Khoa học tháng 7/2014 về chủ đề “Đạo làm

người trong văn hóa Việt Nam” do Khoa Triết trường Đại học Sư phạm Hà

Nội tổ chức, trong kỷ yếu có nhiều bài viết về đạo đức như:

“Nhân ái – một giá trị văn hóa cao đẹp trong đạo làm người Việt

Nam”, tác giả Võ Văn Thắng, Nguyễn Thị Ngọc Thơ Bài viết đã tập trung

phân tích làm rõ: “Nhân ái” của người Việt Nam như là một giá trị văn hóacao đẹp được hình thành bởi điều kiện lịch sử riêng với những nét độc đáocủa nó Tác giả đã chứng minh rằng “nhân ái” của người Việt Nam khôngphải là “bản sao” của “nhân” trong Nho giáo và “từ bi” trong Phật giáo như ýkiến của một số nhận định trước đây mặc dù nó bị ảnh hưởng khá sâu sắcnhưng ảnh hưởng đó đã bị “khúc xạ” bởi sự chắt lọc những nhân tố thích hợpcùng với sự Việt hóa một cách tinh tế của chúng ta

Bài viết “Thuần phong mỹ tục về tình yêu và hôn nhân của một dân tộc

thiểu số ở miền núi phía Bắc”, tác giả Trần Mạnh Tiến cho rằng: Đạo đức

không ngừng vận động và biến đổi theo thời gian Có những giá trị đạo đứcbền vững và có những quy chuẩn đạo đức thay đổi khi hoàn cảnh sống đổithay Phong tục tập quán là yếu tố chi phối đạo đức và có tính bền vững tronglịch sử như ma chay, cưới xin Trong bài viết tác giả cũng đề cập đến vấn đềtình yêu tự do và lòng chung thủy của dân tộc Tày Quan điểm từ tình yêu đếnhôn nhân rất tiến bộ và những tục lệ ấy đã trở thành thuần phong mỹ tục, lànét sinh hoạt tinh thần phong phú của không gian văn hóa miền núi

Bài viết “Đạo làm người trong nhân sinh quan Phật giáo”, tác giả Vũ

Mạnh Tuyên cho thấy: mỗi tín ngưỡng, tôn giáo đều vì con người, do conngười, thông qua các giáo lý của mình, họ đều khuyên răn các đệ tử của mình

Trang 10

phải thực hành đạo làm người Phật giáo mang tính nhân văn sâu sắc khitrong giáo lý của mình kêu gọi con người biết yêu thương nhau trên tinh thần

“từ bi hỷ xả”, quên mình để cứu độ chúng sinh Nhân sinh quan Phật dạy conngười một cách an nhiên, tự tại, là tiếng nói chống chế độ phân biệt đẳng cấp,

tố cáo bất công, đòi tự do và đòi bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoátcủa con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, đồng thời, nêu cao thiện tâm,

từ bi, bác ái như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội

Bài viết “Đạo làm người cán bộ trong quan niệm của Hồ Chí Minh”

(Từ góc nhìn ngụ ngôn) của tác giả Nguyễn Thanh Tú đã đi lý giải ngắn gọnkhái niệm và tác dụng của thể loại, những nhà tư tưởng lớn và những phẩmchất của nhà ngụ ngôn cần phải có, và khẳng định những đặc trưng của ngụngôn rất phù hợp với tâm hồn vĩ đại, trí tuệ trác tuyệt của Hồ Chí Minh Tiếp

đó, từ góc nhìn ngụ ngôn tác giả bài viết đi tìm hiểu đạo đức của người cán bộtrong quan niệm của Người để góp phần làm rõ hơn chân dung Hồ Chí Minh– Nhà giáo dục vĩ đại Tác giả đã đi sâu tìm hiểu quan niệm toàn diện vềngười cán bộ đảng viên, Hồ Chí Minh cho rằng phải có bốn yếu tố đầy đủ,thống nhất với nhau, đó là: ý thức, tinh thần đoàn kết, lý luận gắn với thựctiễn, rèn luyện bản lĩnh và đặc biệt tác giả khẳng định đức là nguồn, là cáigốc, là nền tảng của người cách mạng…

Tiếp đó, trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học với chủ đề: “Vấn đề đạo đức

xã hội trong văn học, nghệ thuật hiện nay”, do Hội đồng lí luận, phê bình văn

học, nghệ thuật Trung Ương tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11-12/11/2014, gồm 84 bài tham luận của các nhà văn, nhà khoa học trên toàn quốctrong đó có nhiều tham luận quan tâm đến vấn đề đạo đức như:

Tham luận “Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học, nghệ thuật hiện

nay” của tác giả Nguyễn Hồng Vinh, đã khẳng định: Giữa văn học, nghệ

thuật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng Đó là mối quan hệ thẩm mỹ

Trang 11

giữa văn học nghệ thuật và hiện thực, vừa mang tính chủ quan của người nghệ

sĩ Vừa tuân theo những đòi hỏi nghiêm ngặt của lí luận phản ánh và quy luậtsáng tạo Đạo đức là một đối tượng phản ánh rộng lớn của văn học, nghệ thuật.Những chuẩn mực đạo đức không phải là một quan niệm nhất thành, bất biến màđược hình thành, kế thừa, phát triển và biến đổi theo quá trình lịch sử Phản ánhđạo đức xã hội, đấu tranh chống cái ác, cái thấp hèn, bảo vệ cái cao thượng, cáitốt đẹp là nhiệm vụ tự thân của văn học, nghệ thuật Và qua văn học, nghệ thuật,đạo đức hun đúc, ý thức đẩy lùi cái ác được bồi đắp, cổ vũ khát vọng hướng tớicái thiện, cái đẹp, thổi lửa tin yêu con người và cuộc sống

Tham luận “Đạo đức muôn đời vẫn là cỗi rễ của văn chương chân

chính”, tác giả Nguyễn Đình Chú đã phác họa mối quan hệ giữa đạo đức và

văn chương Việt Nam ta từ trong quá khứ đã là thế nào, và hôm nay đang làthế nào với mong muốn thiết tha nóng bỏng là làm sao cho đất nước hôm nay

có lại được một nền đạo đức thật sự tốt lành bằng nhiều công năng trong đóvăn chương vốn có ưu thế rất lớn trong việc xây dựng đời sống đạo đức đạo

lý cho đất nước

Tham luận “Về cái tâm và cái tài của người cầm bút trong thời đại

“Mưa Âu gió Mĩ”, tác giả Trần Mạnh Tiến đã cho rằng: Nhà văn thời nào

cũng cần có cái tâm và cái tài trong sáng tác Trong con mắt của người ViệtNam ngàn xưa đến nay, nhà văn đồng thời là nhà giáo, văn chương để truyền

bá cái đẹp và cái thiện Cái tâm, cái tài của người cầm bút bộc lộ trong nhữnghoàn cảnh gian nan Các nhà văn có tài đức lương tri trong cơn dâu bể của đấtnước luôn biết ôn lại lịch sử, phê phán cái xấu, cái tham lam độc ác, tầmthường, sự phản bội, giả dối, tối tăm, nô lệ, ngự trị ở trong mình biết đề ranhiệm vụ cách tân, tránh xa khỏi cái hiếu kì thực dụng…

Tham luận “Văn học, nghệ thuật và giáo dục đạo đức – Hiện trạng –

Giải pháp”, tác giả Nguyễn Thanh Tú đã cho rằng: Văn hóa, văn học nghệ

Trang 12

thuật và đạo đức có mối quan hệ mật thiết, gắn bó, cùng bản chất ý thức, đều

có giá trị mang tính nhân loại phổ quát là hướng con người đến cái chân,thiện, mỹ Văn học, nghệ thuật không chỉ là phương tiện mà còn là nội dungcủa đạo đức Dùng văn học nghệ thuật để giáo dục đạo đức, không phải duynhất, nhưng là một trong những cách tốt nhất

Ông Văn Tùng – nhà văn có nhiều đóng góp song cho đến nay vẫnchưa được nghiên cứu xứng tầm Qua khảo sát, chúng tôi thấy hiện có một

số đáng kể như: Bài viết “Tiểu thuyết của Ông Văn Tùng” trong cuốn Tiểu

thuyết đương đại (tiểu luận phê bình), Bùi Việt Thắng đã đánh giá về nhà

văn: “Tiểu thuyết của ông đã vẽ ra nhiều thảm kịch gia đình – đau đớn, gay

gắt… Ở khía cạnh này, ngòi bút của Ông Văn Tùng như có người nói, có vẻ bạo liệt hơn… Viết về nhiều tai họa, cái ác, nhiều mảng tối Nhưng đồng thời, tiểu thuyết của ông cũng có nhiều mảng sáng được tạo nên bởi những con người sống tự tại, trọng nghĩa, kiên định giữ gìn lương tri” [81, tr.722];

“Tiểu thuyết của ông có sự đối chọi gay gắt giữa thiện – ác; ánh sáng- bóng tối Đọc tiểu thuyết của ông người đọc có cảm giác tin tưởng vào phần tốt đẹp vẫn còn ở trên đời này” [81, tr.273] Công trình nghiên cứu của Thiều

Thị Huệ (2010), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Ông Văn Tùng

(Luận văn Thạc sĩ Khoa Ngữ văn ĐHSP HN) đã tìm hiểu thế giới nhân vậtphong phú đa dạng trong tiểu thuyết Ông Văn Tùng Những nhân vật ấy hiệnlên với bản năng sống, lưỡng hóa đa diện và thể hiện tâm thế con người

trong một giai đoạn lịch sử xã hội mới Gần đây trong Tập truyện ngắn Ông

Văn Tùng, Nxb Hội nhà văn, 2014 có lời giới thiệu của nhà văn Nguyễn

Khắc Trường – Chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam với nhan

đề: “Cần cù Ông Văn Tùng”, tác giả đã đánh giá cao tài năng và thành tựu của nhà văn Ông Văn Tùng trong sáng tạo: “Ông Văn Tùng là người thông

minh từ bé, học hành sáng láng từ bé, lại con nhà Nho xứ Nghệ, được tính

Trang 13

cần cù từ trong máu, nên Ông Văn Tùng vừa thông minh lại vừa cần cù Ông miệt mài lao động cả đời, say mê lao động cả đời Giờ đây đã tròm trèm ở tuổi 80, nhìn vào khối lượng sách, cả sáng tác và dịch thuật của Ông Văn Tùng, người ta phát ngốt… Nếu cân số sách của tác giả, dịch giả Ông Văn Tùng lên thì chắc chắn sẽ nặng hơn cả bản thân Ông Văn Tùng rất nhiều… Bạn bè đồng nghiệp sửng sốt về sức làm việc của Ông Văn Tùng Không biết vốn sống từ đâu, nguồn năng lượng từ đâu trong cơ thể nhỏ bé gầy gò kia được ẩn náu, được trầm tích ở chỗ nào mà ông “tung chưởng”

ra liên tiếp như thế… Người có một nguồn năng lượng luôn làm bạn bè thêm quý ông, hiểu ông” [75; tr.5-13] Các công trình này mới chỉ là những

nghiên cứu khái quát nhất về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của nhàvăn Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về những giá trị cụ thể

về nội dung sáng tác của ông Công trình này của chúng tôi, dưới góc độ mộtluận văn lí luận văn học, có thể coi là một hướng đi đầu tiên về một chủ đềđạo đức để từ đó hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật của nhà văn – nhữngvấn đề về đạo đức trong tiểu thuyết Ông Văn Tùng

Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi đã nhiều lần gặp gỡ trực tiếp

để phỏng vấn nhà văn về cuộc sống nói chung và văn học nói riêng Tuy tuổi

đã cao nhưng là con người thân thiện nhà văn chia sẻ rất cởi mở, chân thành.Ngày 12/12/2014, tôi được gặp gỡ Ông Văn Tùng tại nhà riêng Trong cuộctrao đổi khá dài, tôi có hỏi nhà văn:

- Thưa Ông, ông quan niệm như thế nào về văn chương ạ?

- Ông Văn Tùng: Như nhiều nhà văn khác, tôi cũng cho rằng văn

chương phải phản ánh cuộc sống; và trong tác phẩm, tôi muốn đi sâu khái thác các mối quan hệ trong gia đình… để rồi từ đó phản ánh hiện thực đời sống trong hai thập kỉ cuối của thế kỉ XX.

Trang 14

- Thưa ông, cháu được biết ông đã từng có một khoảng thời gian khá

dài sinh sống và làm việc tại Trung Quốc Có phải vì vậy mà trong tác phẩm của ông có ảnh hưởng những quan niệm đạo đức của Nho gia hay không ạ?

- Ông Văn Tùng: Không hẳn vậy Tôi nghĩ rằng mọi tôn giáo đều hướng

thiện, đều đề cao con người, lấy con người làm trung tâm Chính vì vậy trong các tác phẩm của tôi thấm nhuần tư tưởng đạo đức của nhiều tôn giáo…

Trong qua trình tìm hiểu, thu thập tài liệu chúng tôi nhận thấy vấn đề đạođức trong tiểu thuyết Ông Văn Tùng là một đề tài thú vị, cần được quan tâm

3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong công trình này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề đạo đứctrong tiểu thuyết của Ông Văn Tùng thông qua một số tác phẩm tiêu biểu:

Khát vọng đau đớn, Nxb Lao Động, 1989.

Những linh hồn bị hành quyết, Nxb Thanh Niên, 1990.

Biệt thự phù du, Nxb Lao Động, 1991.

Gót đỏ quyền uy, Nxb Lao Động, 1992.

Cuộc kiếm tìm vô vọng, Nxb Thanh Niên, 1995.

Những kẻ lắm tiền, Nxb Văn Học, 1995.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn của luận văn cho nên chúng tôi chỉ xin tập trung nghiêncứu về vấn đề đạo đức trong những tiểu thuyết của Ông Văn Tùng (qua 6 tiểuthuyết) Để phục vụ cho việc nghiên cứu khi cần thiết chúng tôi còn thamkhảo một số nhà văn cùng bàn về vấn đề đạo đức như: Nguyễn Huy Thiệp,

Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát 9 cuốn tiểu thuyết của nhà văn Ông Văn Tùng, vớihướng tìm hiểu về vấn đề đạo đức trong tiểu thuyết của nhà văn - Ở luận văn

Trang 15

này, chúng tôi xin được tập trung vào nghiên cứu quan niệm của nhà văn vềvấn đề đạo đức, những bình diện đạo đức trong tiểu thuyết của nhà văn ÔngVăn Tùng được thể hiện như thế nào trong tác phẩm, phương thức nghệ thuậtthể hiện vấn đề đạo đức trong tiểu thuyết của ông, những yếu tố tác động dẫnđến sự thay đổi về mặt đạo đức trong đời sống con người dưới tác động củathời kì mới – thời kì kinh tế thị trường.

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu về vấn đề đạo đức trong tiểu thuyết của Ông Văn Tùng,chúng tôi thực hiện đồng bộ nhiều phương pháp như:

- Tập hợp hệ thống: tập hợp thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Ông

Văn Tùng để tìm ra mối quan hệ đạo đức trong đó rồi trên cơ sở đó hệ thống lại

- Phân tích - tổng hợp: đi sâu vào từng tác phẩm, phân tích, tổng hợp

những giá trị đạo đức thông các mối quan hệ của con người

- So sánh, đối chiếu: so sánh tiểu thuyết của ông với các nhà văn cùng

thời và khác thời

- Xã hội học: Liên hệ so sánh tình hình xã hội Việt Nam trong thời kì

đổi mới

- Văn hóa học: tức là nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa

Các phương pháp trên được chúng tôi phối hợp một cách chặt chẽ làmnối bật phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Đóng góp của luận văn

Vấn đề đạo đức không phải là vấn đề mới, nhưng luôn được văn học quantâm, chỉ có điều là cách tiếp cận và thể hiện nó khác nhau ở các nhà văn Hiệnnay, vấn đề đạo đức là một trong những vấn đề mang tính thời sự, nóng hổi Cóthể khẳng định đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề đạo đức trongtiểu thuyết của Ông Văn Tùng Với luận văn này, chúng tôi hi vọng có thể đi tìmhiểu sâu hơn về giá trị nội dung, nghệ thuật trong sáng tác của Ông Văn Tùng

Trang 16

Đồng thời, rút ra được những bài học giáo dục đạo đức trong xã hội và đặc biệt

là trong các trường học

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, chúng tôi chia luậnvăn thành 3 chương như sau:

Chương 1: Khái quát về vấn đề đạo đức và quan niệm sáng tác của

Ông Văn Tùng

Chương 2: Những bình diện đạo đức trong tiểu thuyết của Ông Văn Tùng Chương 3: Phương thức thể hiện vấn đề đạo đức trong tiểu thuyết của

Ông Văn Tùng

Trang 17

B NỘI DUNG

Chương I KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC

VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC CỦA ÔNG VĂN TÙNG

1 Khái quát về vấn đề đạo đức

1.1 Khái niệm đạo đức

Đạo đức học có gốc từ tiếng Hi Lạp cổ ethos, sau đó chuyển sang tiếng Latinh thành ethica, nghĩa là: nơi ở, chỗ ở chung, phong tục, luân lý… dần

dần được bổ sung thêm nghĩa: thói quen, tính khí, tính cách, lối suy nghĩ Thế

kỷ III TCN, từ ethica được Aritstot dùng chỉ đạo đức học, tên gọi này vẫn

dùng cho đến ngày nay

Từ thời cổ đại, đạo đức học giao thoa với triết học Đạo đức học nhiềukhi còn là vấn đề trung tâm của nhiều hệ thống triết học Các bộ phận khácnhư bản thể luận, nhận thức luận thường chỉ đóng vai trò cơ sở cho việc xâydựng hệ thống đạo đức học Điều này biểu hiện rõ nét trong triết học phươngTây từ Platon, Aritstot, trường phái Epiquya , Kant Trong triết học phươngĐông như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Tuân Tử và nhiều trường phái kháccũng có hiện tượng như vậy

Ở phương Đông, từ thời Trung Quốc cổ đại cũng có những quan niệm

đạo đức học rất sớm Đạo ban đầu chỉ có nghĩa là con đường, về sau có thêm

nghĩa là con đường có chí hướng nhất định, hướng dẫn hành vi con người

theo một phương hướng nào đó Nói tóm lại: đạo là con đường sống của con người trong xã hội Đức trong nghĩa thông dụng của người Trung Quốc cổ đại chỉ đức hạnh tốt, phần tốt đẹp, thẳng thắn của con người Đức thường được hiểu là biểu hiện của đạo Nói đạo đức liền nhau thường để chỉ những yêu

cầu, những nguyên tắc cuộc sống đặt ra, đòi hỏi mọi người tuân theo

Trang 18

Ở Việt Nam hiện nay, theo các sách của các trường Đại học, thường

hiểu đạo đức là một lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, có yếu tố tinh

thần cốt lõi là ý thức đạo đức, một trong những hình thái sớm nhất của ý thức

xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành

vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng.

Theo giáo trình Đạo đức học của Học viện Chính trị Quốc gia: “Đạo đức

là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như trong tương lai, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của lí luận xã hội” [33, tr.15] Dưới góc độ nào chúng ta cũng đều thấy đạo đức là một hệ

thống quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa người vớingười, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên, với bản thân

Trên thế giới, đạo đức là một điểm chung nhưng biểu hiện đạo đức ở mỗinơi có những điều khác biệt Ngay trong một nước, có những quan niệm đạo đứcchỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, khi không còn phù hợp nữa nó sẽ

bị mất đi Nhưng cũng có những quan niệm đạo đức ngày càng được củng cố,phát huy, phát triển theo chiều dài lịch sử Khi đó, đạo đức đã trở thành đạo lí.Đạo lí là tài sản tinh thần vô giá tạo nên sức mạnh của một đất nước

1.2 Mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương

Với quan niệm văn chương cổ Việt Nam nằm trong quan niệm văn học

cổ phương Đông: “Văn dĩ tải đạo”, “Văn dĩ minh đạo”, “Văn dĩ quán

đạo”… trên con đường nhận chân giá trị luôn luôn tồn tại nhiều quan điểm, ý

kiến khác nhau, thậm chí trái chiều Mối quan hệ giữa văn chương và đạo đức

đã được đặt ra, trở thành câu hỏi lớn từ xưa đến nay trong văn học Đông –Tây, kim – cổ Nhưng rồi theo đúng quy luật của sự phát triển, những nhậnthức chưa đúng, dần bị nhận thức lại Cùng với lịch sử phát triển của văn học,

Trang 19

cùng với sự phát triển trong tư duy, nhận thức của con người về văn học, câuhỏi lớn – mối quan hệ giữa văn chương và đạo đức đã dần tìm được tiếng nóichung Văn học phản ánh cuộc sống, xã hội, con người một cách đa chiều, đadiện - ở tất cả các phương diện của cuộc sống và theo cách riêng của nó Nóphản ánh không chỉ ở thời hiện tại, mà cả quá khứ và tương lai Đa chiều, đadiện là vậy nhưng cái gì là gốc rễ của văn chương chân chính? Đạo đức muônđời là cội rễ của văn chương chân chính do vậy, nhân loại đã không thể chối

bỏ những giá trị nhân sinh mang tính vĩnh hằng ấy Mối quan hệ giữa đạo đức

và văn học do vậy là mối quan hệ tự thân muôn thuở Song, mối quan hệ nàylại được biểu hiện không hề giản đơn trong thực tế đời sống văn học

1.2.1 Trên thế giới

Vấn đề văn nghệ và đạo đức là vấn đề rất phức tạp; nó tạo nên bầu khôngkhí sôi động hơn hai nghìn năm và cho tới ngày nay tưởng như là dễ thống nhấtnhưng thực ra vẫn chưa có đáp án chung Dọc theo chiều dài lịch sử, từ Đôngsang Tây, cuộc tranh luận về vấn đề này diễn ra với nội dung chủ yếu như sau:Những người chủ trương văn nghệ độc lập thì xem văn nghệ và đạo đức không

có mối liên hệ gì với nhau, nhưng theo các nhà văn thì giá trị văn nghệ tất phảibao hàm chủ đích giáo huấn về đạo đức Tiến lên một bước nữa, không còn ởtrạng thái tách rời hai phạm trù, người ta đã tìm ra mối liên hệ giữa văn nghệ vàđạo đức Vậy mối quan hệ đó như thế nào và phát triển ra sao?

Ở cả phương Đông và phương Tây, các học giả, các triết nhân thườngcho rằng tác phẩm văn chương đích thực luôn bao hàm một giá trị đạo đứcnhất định Khổng Tử - người sáng tạo ra Nho giáo được Heghen đánh giá làmột triết gia nhưng đó là một triết gia về đạo đức Ảnh hưởng của Nho giáo làrất sâu rộng trong đời sống tinh thần cũng như tư tưởng chính trị xã hội.Chính vì thế, trong văn học Nho giáo, yếu tố đạo đức ảnh hưởng lớn hơn yếu

tố văn chương Như vậy, Nho giáo đã thiết lập mối quan hệ giữa văn và đạo

Trang 20

Là một bộ phận của đời sống tinh thần con người, văn học gắn liền vớirất nhiều lĩnh vực như chính trị, pháp luật, triết học… Nhưng yếu tố gắn bó

nó nhất vẫn là vấn đề đạo đức Văn học giúp người ta có thể thiết lập đượcmột tòa án lương tâm công bằng nhất bởi trong đời sống của con người cónhững điều về mặt xã hội không thể đem bỏ tù, kết án… nhưng trong văn họclại bắt con người tự phán xử bản thân mặc dù âm thầm, lặng lẽ Đạo đức còn

là sự tu dưỡng mỗi ngày do vậy cần phải suy nghĩ đấu tranh và tự đấu tranhmột cách thường xuyên để tự trau dồi kiến thức

Tuy nhiên, trên thực tế không chỉ những quan niệm vừa nêu Trong bầukhông khí chung của người xưa là coi trọng thi nhân và các nhà cầm quyền vì cho

họ là những người làm công việc dạy dỗ và hướng dẫn nhân dân đi vào con đườngthiện thì Platon tỏ ra rất hoài nghi Ông quy kết cho thi nhân hai tội lớn:

- Một là, những gì họ viết ra là hoang đường và không thể kiếm tìmchân lí

- Hai là, thi nhân để đánh mất lí trí và trở thành nô lệ cho tình cảm.Đây chính là đầu mối của cuộc tranh chấp về sau trong mối quan hệgiữa văn học nghệ thuật và đạo đức

Sau Platon, Aristot là thủy tổ của thuyết nghệ thuật độc lập, không xem

thi ca như một thứ giáo huấn Trong Thi học, khi khảo luận về cách kết cấu của

Hí kịch, Aristot nói rằng đa số khán giả thích xem kết cục “thiện hữu thiện báo,

ác hữu ác báo” Nhưng sự khoái thích ấy thật là thấp kém, như khoái cảm được

thấy ơn đền oán trả không phải là mĩ cảm Như vậy, Aristot không thừa nhậnnghệ thuật phải bao hàm tính cách giáo huấn về đạo đức

Tiếp đó, từ Kant cho đến Corce nối liền thành một hệ thống chặt chẽ đảkích sự dữ dội thuyết văn nghệ đạo đức Lí luận ấy được Corce trình bày rất

minh bạch trong quyển: Mĩ học cương yếu, ông cũng cho rằng: Nghệ thuật

không phải là một thứ hoạt động của ý chí Ý chí tốt chỉ đạo lên một con ngườitốt chứ không thể tạo thành một nghệ thuật gia Vì nghệ thuật vốn không phải làmột thứ hoạt động của ý chí cho nên nó không liên quan gì đến đạo đức

Trang 21

Cho đến tận ngày nay, mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương vẫncòn nhiều ý kiến trái chiều Xã hội càng hiện đại thì những quan niệm, nhữngchuẩn mực về đạo đức cũng ngày càng phức tạp, phong phú Lá thư của mộtngười Mĩ gốc Nga H Ayn Rand (1905- 1982) gửi Tôm Girdlen – một nhà sảnxuất thép người Mĩ đã buộc người ta phải quan tâm suy nghĩ xem đâu là

nguyên tắc đạo đức mới trong xã hội đương thời Bởi theo H Ayn Rand: “…

Những kẻ theo chủ nghĩa nhân văn - trên nguyên tắc và cả trên thực tế - là những kẻ bám bởi mối quan tâm hàng đầu của họ là việc phân phát những gì

mà họ không sản xuất ra, những kẻ ăn bám thì không bao giờ đáng kính hay được xem là tốt cả…” [7, tr.94] Theo ý tác giả, những nhà văn chủ nghĩa với

xiết bao tác phẩm làm rung động lòng người lâu nay cũng chỉ là thứ hàng xa

xỉ, không thiết thực cho cuộc sống Những gì nhà văn ban tặng cho độc giảchỉ là ảo ảnh Đạo đức thực dụng cũng không nảy sinh từ đó Xét ra, quan

điểm đạo đức “có rồi hẵng cho” của H Ayn Rand là một quan điểm không sai nếu ông cho rằng “có” ở đây chỉ là các sản phẩm vật chất Tuy nhiên, dù

thế nào chúng ta cũng thấy vấn đề đạo đức và mối quan hệ của nó với vănchương cũng như với đời sống xã hội luôn là một vấn đề nghiêm túc, cần luậngiải, chứng minh trong những tác phẩm cụ thể

1.2.2 Ở Việt Nam.

Quay trở lại với vấn đề này ở Việt nam, chúng tôi đã tìm được không ítnhững ý kiến, những công trình nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến đề tài.Song, đáng kể nhất là đánh giá có tính chất định hướng tổng quát của tác giảTrần Đình Sử (chủ biên) – Nguyễn Nghĩa Trọng - La Khắc Hòa- Lê Lưu Oanh

trong cuốn Giáo trình “Lí luận văn học” tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, 2011:

“Văn nghệ và đạo đức có mối liên hệ bên trong vì cả hai đều quan tâm tới sự ý thức về lương tâm, trách nhiệm, hành vi của con người trong đời sống xã hội, lí tưởng về cái đẹp, cái cao cả không tách rời lí tưởng về cái thiện, về sự hi sinh, vị tha Văn nghệ xưa nay đều thấm nhuần tinh thần đạo đức và có tác dụng rất lớn

Trang 22

đối với đời sống đạo đức của con người Tuyên truyền tội ác, vô luân, bạo lực là làm biến chất tác động thẩm mĩ và đạo đức của văn nghệ” [65, tr.72].

Trong chuyên luận riêng Lí luận và văn học, tác giả Lê Ngọc Trà cũng

có dịp đi sâu hơn và đưa ra ý kiến: “Đến cuối thế kỉ XIX, chủ đề đạo đức lần

đầu tiên được thể thiện tập trung nhất trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, tiêu biểu là Lục Văn Tiên” [87, tr.197] Ông còn chỉ ra một số tiến bộ

cũng như hạn chế của nội dung đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn ĐìnhChiểu Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là một công trình nghiên cứu đầy đủ,toàn diện về Nguyễn Đình Chiểu

Chuyển sang thời kì đổi mới và hội nhập (từ năm 1986), thực trạng xãhội hoàn toàn thay đổi – nó gắn với nền kinh tế thị trường Nhìn vào nhữngcái được trên mọi lĩnh vực: ăn, mặc, ở, nhu cầu đi lại, vui chơi, giải trí… thìchưa có lúc nào bằng lúc này Đó là biểu hiện của sự tăng trưởng kinh tế.Nhưng cùng với những cái được lớn đó thì những mất mát cũng là rất lớn,

mất ở đời sống văn hóa, tinh thần Trong bài viết “Văn học và đạo đức - nhìn

từ lịch sử văn chương Việt”, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, tháng 10/2014

cũng khẳng định: “Văn học có quan hệ với đạo đức, ít ra là trên hai phương

diện Thứ nhất – đạo đức là đối tượng phản ánh rộng lớn của văn học Bởi đạo đức là một phương diện sống cơ bản của con người Là những quy ước – thành văn hoặc không thành văn mà con người phải tuân thủ, từ đó kiến tạo nên xã hội người Thứ hai – văn học từng có chức năng giáo dục đạo đức, hoặc ít ra phải có hiệu quả đạo đức, xét theo lịch sử tồn tại của nó – cho đến thời hiện đại” [99].

Bài viết “Văn học nghệ thuật với vấn đề đạo đức xã hội”, nguyên Tổng

Bí thư Đảng, Lê Khả Phiêu, tháng 11/ 2014 cũng nêu rõ vấn đề: “Mối quan

hệ giữa văn học nghệ thuật với đạo đức xã hội là mối quan hệ mang tính bản chất, biện chứng Đó là một quá trình vừa tác động, vừa nuôi dưỡng, vừa gợi

mở lẫn nhau Văn học nghệ thuật không đồng nhất với đạo đức; nhưng thống nhất rất cao trong mục tiêu kiến tạo đạo đức làm cho con người trở nên

Trang 23

người hơn Vì vậy, quan niệm truyền thống đạo đức là hồn cốt của văn chương, nghệ thuật vẫn còn nguyên giá trị” [102].

Tóm lại, có thể khẳng định mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương làmối quan hệ biện chứng, mang tính bản chất Là quá trình vừa tác động, vừanuôi dưỡng, vừa gợi mở lẫn nhau Văn học nghệ thuật không đồng nhất nhưngthống nhất rất cao trong mục tiêu kiến tạo đạo đức làm cho con người trở nênngười hơn Văn học nghệ thuật từ sau Đổi mới đến nay có một sự phát triển rấtquan trọng Đó là trở lại sự hài hòa Trong chiến tranh, do nhiệm vụ, yêu cầu cótính thời đoạn, ta nhấn mạnh mặt này, mặt khác là bình thường và cần thiết.Ngày nay, cuộc sống đã thay đổi, văn học nghệ thuật có thể tiếp cận, phản ánhcuộc sống từ trên những bình diện lớn của hiện thực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc,đến những vấn đề riêng tư thầm kín ủ sâu trong lòng người Nhờ định hướng đó,văn học nghệ thuật đã có một mùa gặt mới, trong đó chủ đề đạo đức xã hội làlĩnh vực thu được nhiều thành tựu nổi bật Văn học, nghệ thuật đã lên tiếng khásớm, phê phán, cảnh báo các tệ nạn xã hội, thói hách dịch, cửa quyền, xa dân,tham nhũng, tham lam, hám lợi, đặt đồng tiền lên trên hết… Đó là căn bệnh

hiểm nghèo “tự diễn biến”, là nguy cơ của mọi nguy cơ.

2 Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới và nhà văn Ông Văn Tùng

2.1 Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

2.1.1 Đổi mới về quan niệm hiện thực và con người

Tiểu thuyết Việt nam thời kì đổi mới đang từng bước tham gia vào quátrình tiếp sức cho sự phát triển của văn học Chỉ so sánh với giai đoạn trướcnăm 1975 đến nay cũng đã minh chứng cho điều đó Thay đổi quan niệm hiệnthực và con người tạo nên diện mạo mới cho văn học giai đoạn này

Với quan niệm “văn học phản ánh hiện thực”, văn học giai đoạn sau năm

1975 đã thay đổi so với trước Trước hết, chúng tôi muốn nói đến quan niệm về

hiện thực giai đoạn 1945 – 1975 Trong văn học giai đoạn này, quan niệm “văn

Trang 24

học phán ánh hiện thực” gắn liền với hiện thực xã hội chủ nghĩa, gắn bó với đời

sống và theo sát sự phát triển của phong trào cách mạng Những tác phẩm nàytập trung vào hiện thực khách quan, tập trung vào đề tài lớn như đề tài công –nông – binh Văn học đặt cho mình nhiệm vụ phải phản ánh cuộc sống trong quátrình phát triển cách mạng, làm cho người ta thấy hướng đi của xã hội Do đó,

người ta dễ dàng chấp nhận lối viết “tô hồng” hiện thực, hiện thực một chiều,

hiện thực mang tính chất lạc quan Với quan miệm hiện thực như vậy gắn liềnvới cảm hứng ngợi ca, ca ngợi những con người đại diện cho cộng đồng, cho dântộc Điều đó tạo nên một diện mạo riêng cho văn học – văn học sử thi Những

tác phẩm tiêu biểu thành công của văn học giai đoạn này như: Dấu chân người

lính (Nguyễn minh Châu), Hòn đất (Anh Đức), Mẫn và tôi (Phan Tứ), Vùng trời

(Hữu Mai) đã phản ánh hiện thực đó

Đề cập tới sự đổi mới quan niệm hiện thực trước và sau chiến tranhtrong tiểu thuyết Việt Nam không phải phủ nhận, đánh giá sự sai lầm trongquan niệm của giai đoạn trước mà chủ yếu là nhằm nhận diện sự vận độngtrong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam

Sự đổi mới quan niệm về hiện thực sau năm 1975 xuất phát từ nhu cầu

nhận định, đánh giá lại chặng đường vừa qua và nhu cầu nói “sự thật” Trong

cuộc sống và trong tác phẩm, nhà văn không tránh bóng đen, có thể nói rõnhững bóng đen chính là làm nổi bật cuộc sống Viết cái xấu, cái lạc hậuchính là để làm nổi bật cái đúng, cái hay và cái đẹp (Phạm Văn Đồng)

Vấn đề hiện thực đã được nhìn nhận lại Thực tế, những tác phẩm văn

học bắt đầu có sự mở rộng về phạm vi phản ánh như: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh

Châu),… Trong các sáng tác này, những hy sinh mất mát được đề cập Khiviết về đề tài nông thôn mới, văn xuôi đã tấn công vào những vấn đề tiêu cực

của xã hội Nguyễn Mạnh Tuấn với Cù lao tràm đã gây xôn xao dư luận vì đã

xông vào những vấn đề nóng bỏng này của xã hội Ở đề tài này, tính chất luận

Trang 25

đề đã nổi rõ: nhà văn đã tham gia vào quá trình dân chủ hóa trong xã hội Sự

bổ sung, mở rộng biên độ hiện thực trong tác phẩm đã đáp ứng được nhu cầucủa công chúng trong giai đoạn mới

Văn học phản ánh trực diện mặt trái của xã hội, cái xấu, cái ác đượckhai thác đến tận cùng Đây là điều mà văn học giai đoạn trước né tránh Sựkhác nhau đó xuất phát từ hoàn cảnh sống của dân tộc Khi chiến tranh đã lùivào quá khứ, cuộc sống đòi hỏi con người có cách nhìn khác so với trước đây.Văn học sáng tác trong hoàn cảnh chiến tranh đã chuyển sang quy luật đời

thường Vấn đề “phản ảnh hiện thực” được nhìn nhận khác trước.

Nhưng phải đến năm 1986 trở đi, với chủ trương của Đại hội Đảng lần

thứ VI “nhìn thẳng vào sự thật”, miêu tả chân thực cuộc sống đang diễn ra

như nó vốn có, là mốc đánh dấu sự thay đổi và trưởng thành của tiểu thuyết ởgiai đoạn mới Hàng loạt các tác phẩm viết trong thời kì này xuất hiện như:

Bến quê (Nguyễn Minh Châu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn kháng), Mảnh đất lắm ngườn nhiều ma

(Nguyễn Khắc Trường),… đã đem một cách nhìn hiện thực đa dạng, nhiềuchiều Sự thay đổi trong cách nhìn hiện thực tất yếu dẫn tới sự thay đổi về nộidung và phương thức thể hiện Các nhà văn không ngừng tìm tòi để khám phá

hiện thực “chưa được biết” Trong đó, một số nhà văn chú ý quan tâm tới hiện thực tâm hồn Từ sự thể nghiệm của Nguyễn Minh Châu (Phiên chợ

Giát) đến tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh,… và hàng loạt

những tiểu thuyết ra đời sau năm 1986 đã minh chứng sự đổi mới trong quanniệm về hiện thực Không phải ngẫu nhiên mà sau này người ta đề cập tớinhiều về hiện thực tâm hồn Hiện thực tâm hồn là cái chưa biết, cái khó nắmbắt, cái không thể biết, cần tìm tòi và khám phá Lựa chọn hiện thực là mộttrong những phương thức thể hiện ý đồ nghệ thuật, sức sáng tạo của nhà văn

Trang 26

Do đó, hiện thực khách quan trở nên không quan trọng bằng hiện thực được

soi chiếu qua “lăng kính” trải nghiệm của người viết Những cảm xúc suy tư

về vấn đề cuộc sống trở thành điểm tựa cho sáng tạo nghệ thuật Chẳng hạn,

trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, không phải trực tiếp miêu tả

cuộc sống nông thôn, về cuộc đời người nông dân là lão Khúng mà chính là

“dòng ý thức” của lão Khúng trên suốt đoạn đường dắt bò khoang ra chợ bán

là hiện thực tâm trạng mà nhà văn quan tâm Nhờ dòng độc thoại nội tâm vớinhững kí ức xen kẽ hiện thực – quá khứ đã phản ánh số phận lịch sử của ngườinông dân Việt Nam Sự thay đổi đó là do nhà văn không lấy mục tiêu phản ánhhiện thực khách quan làm chính mà hiện thực ấy được chuyển hóa trong điểmnhìn, trong mạch hồi tưởng của nhận vật hay nói cách khác, bóng dáng củahiện thực khách quan hiện lên qua dòng cảm xúc, kí ức của nhân vật

Cùng với sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực là quan niệm nghệthuật về con người Khi quan niệm văn học phản ánh hiện thực khách quan,phục vụ nhiệm vụ chính trị, con người được quan niệm là con người cộng đồng.Nhà văn thông qua con người để phản ánh bức tranh lịch sử cách mạng Do đó,con người luôn được đặt trong sự soi chiếu với hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh

cộng đồng dân tộc Mọi mối quan hệ riêng tư tạm thời “gác lại”, nếu có phải

được đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, phục vụ lợi ích cộng đồng Conngười trong văn học giai đoạn 1945 – 1975 là con người sống vì lợi ích dân tộc,

dám hi sinh bản thân mình vì dân tộc Kinh, Lữ (Dấu chân người lính), anh hùng Núp (Đất nước đứng lên),… là những con người như thế Họ là những người lấy

ý thức cộng đồng chi phối cho mọi hành động, lời nói trong cuộc sống của mình.Quan niệm con người mang tính chất giản đơn, một chiều Nhưng khi quan niệmphản ánh hiện thực thay đổi, con người biểu hiện trong tổng hòa cá mối quan hệ

xã hội Mỗi con người vừa là thành viên trong cộng đồng vừa là cá nhân trongmối quan hệ với chính mình, với quê hương, với gia đình và bạn bè Con người

Trang 27

được nhìn nhận với nhiều góc độ khác nhau Con người không còn được nhìnnhận một cách giản đơn như trước mà hợp nhất của tốt – xấu đan xen nhau…

Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương

Hướng), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn kháng), Mảnh đất lắm ngườn nhiều

ma (Nguyễn Khắc Trường)… là những tiểu thuyết minh chứng cho sự thay đổi

quan niệm nghệ thuật về con người Con người trong tiểu thuyết ra đời sau năm

1986 đã vượt lên thoát khỏi quan niệm con người gắn với những tiêu chuẩn của

cộng đồng Giang Minh Sài (Thời xa vắng), Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng), Đông

(Mùa lá rụng trong vườn), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh),… là những con người

với sự phức tạp trong tính cách Cũng chính vì vậy, con người trong văn học nóichung và trong tiểu thuyết nói riêng riêng là những con người “không trùng khít

với chính mình” Nhân vật Quỳ trong tác phẩm Người đàn bà trên chuyến tàu

tốc hành của Nguyễn Minh Châu nhận được sự yêu mến của người đọc không

phải vì chị có năng lực xã hội và phẩm chất tốt mà họ yêu chính ở chị có nội tâmphong phú và phức tạp Tính cách nhân vật không ngừng biến đổi biểu hiện một

thế giới tinh thần bí ẩn “không bình yên” của con người.

Với quan niệm về con người thế sự đời tư, các nhà văn thời kì đổi mớiquan tâm tới hiện tượng tiêu cực trong đời sống Những tệ nạn không muốn

có của cơ chế thị trường, đặc biệt là khi nền kinh tế thế giới cũng như trongnước đang gặp những khó khăn như giai đoạn hiện tại, những mặt trái ấy đangdiễn ra mỗi ngày một nghiêm trọng Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hànhTrung Ương Đảng lần thứ IX nhận định: một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên, trong đó có đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộcao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, với những biểuhiện khác nhau, về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơhội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, thamnhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc cho thấy tình hình đã trở nên cấp

Trang 28

bách đến dường nào Không chỉ là suy thoái, không chỉ là kèn cựa mà là tội ác

và nghiêm trọng đến mức đôi khi trở thành vô cảm trong thái độ sống của mỗingười Chúng ta đều biết khi con người vô cảm với cái ác thì có nghĩa cái ácđang thắng thế, xã hội trở nên bất trắc và sự sống trở nên vô nghĩa đối với tất

cả Nguy cơ nằm ngay trong bản chất của chế độ, của xã hội, nằm ngay trong

sự tồn tại của thể chế, một thể chế, một xã hội mà chúng ta đã trả giá lớn laobằng xương máu của nhiều thế hệ

2.1.2 Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Sau năm 1986 trở đi, văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nóiriêng có một diện mạo riêng và một quy luật riêng Do hạn chế về dung lượngcủa luận văn, người viết chỉ tập trung vào phác họa một số cách tân của nghệthuật tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 rất phong phú và đa dạng vềphương thức thể hiện Ngay những năm đầu sau chiến tranh, những tác phẩmviết theo hướng mới so với thời kì trước đây dần xuất hiện nhiều trên văn đàn.Qua các cây bút tiêu biểu như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, NguyễnTrọng Oánh, Ma văn Kháng, Lê Lựu Tiểu thuyết đã bắt đầu có xu hướngđổi mới cả về nội dung và nghệ thuật Nhà văn đã chú ý đến cá tính sáng tạocủa mình nên tác phẩm đã mang sự trải nghiệm cá nhân Các phương thứctrần thuật hiện đại, phù hợp với những nhu cầu của độc giả thời đaị mới đangđược chú trọng Vì thế, với những nhà văn có ý thức trăn trở trong sáng tácnghệ thuật, mỗi tiểu thuyết ra đời đều mang một hướng khám phá hiện thựcđời sống riêng

Nhà văn chú ý khai thác “cái tôi bề sâu” trong con người Do đó, dẫn đến

sự đổi thay về dung lượng tiểu thuyết, cấu trúc, không gian, thời gian nghệ thuật,

… Hay nói cách khác, đã có sự thay đổi về phương diện thể loại Trước hết, là

Trang 29

quan niệm về dung lượng tiểu thuyết Chẳng hạn như, trước đây người ta quanniệm dung lượng tiểu thuyết là số trang “dài ít nhất trên hai trăm trang trở nên.

Từ hai trăm trang trở xuống, năm chục trang trở lên là truyện vừa Năm mươitrang trở xuống là truyện ngắn” Những tiểu thuyết xuất hiện những năm gần đây

dài khoảng hai trăm trang: Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng (187 trang), một số tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương như: Trí nhớ suy tàn (133 trang),

Thoạt kỳ thủy (160 trang), Bả trời (140 trang), Người sông Mê của Châu Diên

(304 trang), Tấm ván phóng dao của Mạc Can (202 trang), Nỗi buồn chiến tranh

của Bảo Ninh (287 trang),… Xét về mặt dung lượng, tuy chưa đem cho chúng tamột nhận định đáng kể nhưng nó cũng minh chứng cho chúng ta một quan niệmđối lập với trước đây: đã là tiểu thuyết thì phải lớn về dung lượng số trang, vàmột hệ thống nhân vật đông đảo…

Một điểm đáng chú ý ở tiểu thuyết thời kì đổi mới là sự phân chia các

chương mục khác với tiểu thuyết truyền thống Trong tiểu thuyết Và khi tro

bụi của Đoàn Minh Phượng, Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Tấm ván phóng dao của Mạc Can,… không có sự phân chia chương mục Cấu trúc trong Trí nhớ suy tàn, Và khi tro bụi,… là cấu trúc chứa đựng những mảng của đời

sống nhân vật hay nói cách khác số phận nhân vật thể hiện qua chính mảnh vỡcủa cuộc đời mình Các nhà văn đều chú ý khám phá hiện thực đời sống quacác mảnh vỡ tâm trạng

Nếu ngôn từ đậm chất chính trị, cách mạng để biểu hiện cho cảm hứngngợi ca của tiểu thuyết của giai đoạn 1945 – 1975 thì ngôn từ mang nhãn quanđời thường biểu hiện cho cảm hứng phê phán, cảm hứng nhân văn trong văn học

sau này Ngôn ngữ đời thường với tính chất thô nhám góc cạnh đã “tràn” vào

văn chương Đó là điều hiếm thấy trong văn học giai đoạn trước 1975

Bên cạnh sự đổi mới về ngôn ngữ cần phải nói đến giọng điệu của tiểuthuyết viết theo phương thức trần thuật mới Theo Lê Ngọc Trà thì “đó là một

Trang 30

kiểu giọng điệu không mang tính chất răn dạy mà chỉ đơn giản là thuật lại mộtthứ giọng kể có vẻ không nghiêm túc, thậm chí như đùa giỡn, vừa coi điềumình vừa kể là thành thực, vừa coi như không có gì là quan trọng Tính chất

“nửa đùa nửa thật” ấy làm tăng sự phong phú và thoải mái, lôi cuốn của

giọng kể mà còn làm nhòa đi những đối lập triệt để về nghĩa, về tư tưởng, và

do đó làm giàu lên tinh thần nội dung cho tác phẩm

Những cách tân về phương diện nghệ thuật làm cho tiểu thuyết giaiđoạn này có nhiều đổi mới hơn trước Vừa phải đảm đương trách nhiệm

mà công cuộc đổi mới gửi gắm qua tiếng nói của nó vừa đáp ứng nhu cầucủa cuộc sống đời thường đặt ra, tức là viết về đời thường, viết về nhữngmảnh vỡ số phận, những khoảnh khắc như vô nghĩa vụt trôi qua Văn họchôm nay đang phản ánh cuộc sống chân thực hơn, phong phú hơn Nhàvăn không ngừng tìm tòi đổi mới trong quá trình sáng tạo trở thành mộtyêu cầu cần thiết

Ở trên, chúng tôi đã điểm qua vài nét cơ bản trong quan niệm về hiệnthực, con người và các phương thức nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam thời

kì đổi mới Có thể khẳng định rằng: “Tiểu thuyết hôm nay rất áp sát vào đời

sống Xông vào thẳng các “mắt bão”của cuộc đời và nêu những vấn đề cực

kì quan thiết với con người thông qua số phận có tính bi kịch” [81, tr 9].

Nhiều tên tuổi nhà văn thực sự đi vào lòng bạn đọc như: Ma Văn Kháng,Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp,Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Chu Lai,… Tiểu thuyết của nhà văn Ông VănTùng cũng nằm trong dòng chảy đó

2.2 Khái quát về nhà văn Ông Văn Tùng

Ông Văn Tùng sinh ngày 12, tháng 8, năm 1936 trong một gia đình nhàNho lâu đời có năm anh chị em tại làng Yên Lạc, xã Nam Lĩnh, huyện NamĐàn, tỉnh Nghệ An Từ nhỏ ông đã được học chữ Hán và rất yêu thơ văn Sau

Trang 31

này ông học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông làm nghề dạy học từ năm

1959 đến 1981 thì xin ra khỏi nghề Ông tham gia sáng tác văn chương từ những

năm 60, tác phẩm đầu tay là tập truyện ngắn “Bóng sao” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội Ông Văn Tùng sáng tác: 9 tiểu thuyết như: Khát vọng đau đớn (1989); Pháp trường trắng (1989); Những linh hồn bị hành quyết (1990);

Những mối tình nghèo (1991); Biệt thự phù du (1991); Gót đỏ quyền uy (1992); Phù phiếm (1992); Cuộc kiếm tìm vô vọng (1995); Những kẻ lắm tiền (1995)

cùng với 60 truyện ngắn Đồng thời, chuyển ngữ từ tiếng Trung Quốc sang tiếng

Việt hơn 50 tác phẩm văn học, triết học, sử học, văn hóa học, như: Khổng Tử

truyện (đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1997), Mai hoa dịch số, Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi, Võ Tắc Thiên, Triệu Phi Yến, Danh nữ Trung Hoa trong huyền thoại và lịch sử Những tiểu thuyết của ông được viết từ

năm 1960 trở đi nhưng đến năm 80 mới được xuất bản, song nó vẫn phản ánhcái nhìn nhạy bén của ông với cuộc sống

Ông Văn Tùng thực sự coi văn chương là một nghề cao quý Từ 1981

ông sống một mình, “sống kiểu của riêng mình, để làm những điều có ích

trước hết cho bản thân sau là cho xã hội” Và tất nhiên, cái việc làm có ích

đấy chính là nghề viết Ông làm việc cật lực, viết hối hả, say sưa, cứ như thể

lo sợ không kịp bày tỏ hết với đời Theo ông, sáng tác tức là bộc lộ tư duy cánhân đối với cuộc đời, văn học khác với mọi thứ hàng hóa ở chỗ nó là nơi đểchia sẻ về mặt tinh thần Ông cho rằng chủ đề sáng tác không có gì mới, chỉ làchúng ta có nhìn ra nó hay không, có làm mới những điều đã cũ hay không.Mới và cũ không phải là thời gian, vấn đề là nội hàm nghệ thuật của nó Sựthể hiện phải luôn luôn mới và phải liên quan với cuộc sống hiện tại

Là một người say mê văn chương, với ông đó là lẽ sống duy nhất Từcuộc đời, con người đến sự nghiệp văn chương của ông đều không giống ai

Đó là kiểu người “độc hành kì đạo, độc thiện kì nhân” (đi một đường riêng,

Trang 32

hay một thân riêng) Ông tự cho mình là “con chim bay ngược chiều gió” mặc

cho ai nói gì ông vẫn giữ cho mình một lối sống thanh đạm, ung dung tự tại.Sống hòa mình với mọi người nhưng ông vẫn luôn ý thức giữ cho mình một

cốt cách riêng “quân tử hòa nhi bất đồng”(người quân tử sống hòa đồng với

mọi người nhưng không giống mọi người) Thông qua những tác phẩm củaông, chúng ta thấy ông là nhà văn có tri thức tổng hợp từ triết học phươngĐông đến thực tiễn nghề văn và các lĩnh vực của đời sống Từ cách mạngtháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ đếnthời kì mở cửa cho nên trong tác phẩm của ông in đậm dấu ấn lịch sử và xãhội Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua Chủ đề sáng tác của Ông Văn Tùng xoayquanh số phận người trí thức, qua đó thể hiện khát vọng đối với xã hội: mongmuốn nó tốt đẹp hơn, ổn định hơn cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần

Ông Văn Tùng là một nhà văn sống và sáng tác trong thời kì lịch sửđầy biến động Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi cách nhìn về hiện thựccủa các nhà văn Trước hiện thực mới, người cầm bút hôm nay đã nhìn nhậncuộc sống ở nhiều góc độ khác nhau và cái nhìn ngày càng sâu sắc và tinh tếhơn Cùng với những cây bút khác, Ông Văn Tùng đã cho ra đời hàng loạttiểu thuyết gắn với những vấn đề lớn lao của thời đại, ông mang đến chochúng ta một quan niệm mới về hiện thực, con người cũng như nghệ thuậttrong các tác phẩm của mình

* Tiểu kết chương 1

Mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương là mối quan hệ đa chiều, đadiện, biểu hiện phức tạp trong các sáng tác văn học Văn học là nhân học Vănhọc dù phản ánh vấn đề gì thì suy cho cùng đối tượng phản ánh và đối tượnghướng đến của văn học luôn là con người, đời sống xã hội Do vậy vấn đề đạođức con người luôn được văn học quan tâm, phản ánh Trong mỗi giai đoạnkhác nhau, văn học lại đề cập đến vấn đề đạo đức con người ở những góc độ

Trang 33

khác nhau Văn học Việt Nam thời kì đổi mới đã mạnh dạn hướng ngòi bútvào phản ánh những nẻo tối, những góc khuất, những mặt trái của đời sống xãhội con người Chính ở những khía cạnh đó, vấn đề đạo đức con người hơnbao giờ hết được các nhà văn đặc biệt quan tâm Ông Văn Tùng với nhữngtiểu thuyết của mình trong thời kì này cũng không nằm ngoài xu hướngchung Những tiểu thuyết của ông là những hạt muối đời được chưng cất từchính hiện thực nóng hổi, phức tạp, bộn bề của cuộc sống.

Trang 34

Chương II NHỮNG BÌNH DIỆN ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG

Nội dung đạo đức là nền tảng cơ sở vững chắc cho một tác phẩm có giátrị Bởi phần lớn các tác phẩm văn học đều hướng đến những giá trị chân –thiện – mĩ, để tác động đến lương tri của con người Dĩ nhiên, việc một nhàvăn nào đó đề cao nội dung đạo đức không có nghĩa là tác phẩm của ông ta đãtrở thành văn chương đích thực Do tài năng, tâm huyết của mỗi nhà văn vànhững điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể mà có vận dụng đạo đức phù hợp Vớitài năng và tấm lòng nhà văn Ông văn Tùng đã làm cho văn chương của mìnhthấm nhuần sâu sắc tinh thần đạo đức của dân tộc

2.1 Trong quan hệ gia đình

Con người ta sinh ra ai cũng có gia đình, có tình yêu thương hay đắngcay bất hạnh Gia đình là nơi con người được sinh ra, lớn lên và cũng chính

là nơi con người hình thành và phát triển nhân cách của mình

Trong cuốn “Giáo trình gia đình học”, do Nguyễn Thị Hồng Nga (chủ biên) có viết: “Cùng với thời gian, gia đình ở mỗi giai đoạn lịch sử đã chứng

tỏ sự trường tồn của mình cho dù sự thay đổi về hình thái cấu trúc Trong xã hội ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, cùng quá trình hội nhập quốc tế, gia đình Việt Nam đã chịu tác động không nhỏ từ nền kinh

tế thị trường, từ sự du nhập ồ ạt của các nền văn hóa trên thế giới (sách, báo, phim ảnh, internet…) Gia đình đang có những biến đổi sâu sắc về cấu trúc cũng như các chuẩn mực giá trị (…) Bên cạnh những luồng tư tưởng mới của xã hội hiện đại tác động đến gia đình thì những tư tưởng của xã hội phong kiến cổ xưa vẫn không ngừng tồn tại trong nếp sống gia đình Việt Nam Do đó gia đình muốn phát triển, các thành viên trong gia đình muốn trở

Trang 35

thành những con người sống tích cực cho xã hội cho cuộc sống không phải là một chuyện đơn giản” [53, tr.3] Thực tế cho thấy làm thế nào để các thành

viên trong gia đình có một tình cảm tốt đẹp … là một việc làm cần thiết củanhững người chủ và các thành viên trong gia đình đó

Gia đình gắn liền với hoàn cảnh lịch sử xã hội Nếu như trong xã hộiphong kiến, bi kịch gia đình còn do tư tưởng phong kiến gây ra, thì đến xã hộihiện đại, khi mà tốc độ kinh tế phát triển mạnh mẽ, con người được giảiphóng, ý thức cá nhân phát triển thì bi kịch gia đình chưa phải đã chấm dứt

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình do bản thân gia đìnhcũng có những đổi thay theo hoàn cảnh xã hội Gia đình luôn gắn liền vớinhững nhân tố văn hóa xã hội nhất định trong từng giai đoạn của lịch sử xãhội mà gia đình đó tồn tại

Nhà triết học Pháp Auguste Comte (1798 – 1857) cho rằng: “Gia đình

là một tập đoàn xã hội cơ bản và quan trọng mang tính lịch sử trong quá trình phát triển của xã hội” [53, tr.10].

Nhà xã hội học Mai Huy Bích nhấn mạnh: “Gia đình có thể hiểu như

một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội song nó có tính chất

ổn định, độc lập tương đối Nó có quy luật phát triển riêng với tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù…” [53, tr.16] Tận sâu trong trái tim mỗi con người,

gia đình là nơi lưu giữ những kí ức ngọt ngào Gia đình là mái ấm bình yên củacon người trên hành trình sống nhiều nhọc nhằn, vất vả, thăng trầm

Viết về đề tài gia đình – một đề tài không mới trong văn học Việt Nam

hiện đại, ngay từ những năm ba mươi của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Tự

lực văn đoàn đã khai thác Các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Lạnh lùng (Nhất Linh); Nửa chừng xuân, Thừa tự, Gia đình, Thoát ly (Khái Hưng) đã tập trung

phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân,cho quyền sống của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo

Trang 36

phong kiến trong đại gia đình phong kiến Từ sau 1945, đất nước phải trải qua

ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc Lúc này vận mệnh dân tộc đượcđặt lên hàng đầu Vấn đề cá nhân, gia đình trở thành thứ yếu Mặt khác, mộtthời do nhận thức rằng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa không có bi kịchnên người ta nghĩ là có thể bỏ qua việc nghiên cứu các quan hệ gia đình, chorằng các quan hệ cha con, vợ chồng, anh em hình như chẳng có gì phải bànbạc nữa Mọi người đều đặt quyền lợi của tập thể, của dân tộc lên trên hết.Nếu có miêu tả xung đột gia đình, các nhà văn thường khai thác mâu thuẫnnảy sinh giữa lớp trẻ sục sôi nhiệt huyết, say mê lý tưởng với các thành viênthủ cựu trong gia đình (thường là ông bố - người đại diện cho quyền lực củachế độ gia trưởng) để khẳng định con đường làm ăn tập thể, con đường đi lênchủ nghĩa xã hội Một cách nhìn nhận, thể hiện như thế về gia đình là do yêucầu lịch sử, do hoàn cảnh

Đặt trong bối cảnh đó, trong các sáng tác của các nhà văn như: NguyễnHuy Thiệp, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai, Bảo Ninh, Dương Hướng,Nguyễn Khắc Trường… đặc biệt nhà văn Ông Văn Tùng, với 9 tiểu thuyết, đã

có công khơi lại mạch viết về chủ đề gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế

kỷ trong nền văn học Việt Nam

Cũng đề cập chuyện gia đình, các nhà văn đã đi sâu khai thác các mốiquan hệ phức tạp, đa chiều của gia đình Việt Nam trong thời kỳ mở cửa Nhàvăn tập trung phản ánh cuộc sống cá nhân trong mối quan hệ gia đình và xãhội Vấn đề cá tính được tôn trọng, được đề cao Một trong những vấn đề màđược khá nhiều nhà văn quan tâm là gia đình Việt Nam trước thách thức của

nền kinh tế thi trường Liệu quan niệm “một túp lều tranh hai trái tim vàng”

mà một thời được coi là lý tưởng có còn đứng vững trước lối sống thực dụng,chạy theo đồng tiền, coi trọng vật chất đang từng ngày, từng giờ luồn láchkhắp “hang cùng ngõ hẻm” của xã hội Việt Nam? Với cách đặt vấn đề mớicủa tác giả, các mối quan hệ thông thường giữa cha mẹ và con cái, vợ và

Trang 37

chồng, anh và em, bố chồng và nàng dâu, bố vợ và con rể, chị dâu và emchồng bỗng trở thành điểm thử thách sự bền vững của kiểu gia đình truyềnthống trong cuộc va chạm với kiểu gia đình hiện đại Nguy cơ rạn nứt, đổ vỡtrong từng gia đình do vậy, cũng được dự báo kịp thời Khác với các nhà vănkhác thời kì đổi mới khi nói về gia đình, họ viết một cách lỏng lẻo, mỗi thànhviên là một vũ trụ khép kín, Ông Văn Tùng lại khai thác gia đình theo mộthướng khác Đó là địa vị, đồng tiền khiến con người ta trở nên mưu mô, xảoquyệt Con người cứ chạy theo khát vọng quyền lực của mình, và lòng thamcủa con người là vô cùng, cuối cùng khi tỉnh ngộ đã quá muộn, tất cả tuộtkhỏi tầm tay lúc nào không hay biết Dường như vẫn thích kiểu gia đìnhtruyền thống nên các nhân vật trong tiểu thuyết của ông luôn đi tìm và cốgắng khôi phục những mất mát, khát vọng lưu giữ, những thứ đã thuộc về quá

khứ cha ông để lại Tác giả Bùi Việt Thắng viết: “Nếu để ý ta sẽ thấy tiểu

thuyết hôm nay đang hướng về gia đình như là tế bào của xã hội, nghiên cứu nghệ thuật con người trong mối quan hệ gia đình Ở khía cạnh này, tiểu thuyết đã tiếp thu truyền thống văn học của thế giới và dân tộc như (AnnaKarenina, Anh em nhà Karamadop, Giông tố, Bỉ vỏ,…) Trong xu hướng này Ông Văn Tùng trội lên như là người chuyên viết tiểu thuyết – gia đình (cả 6 cuốn tiểu thuyết của ông trong vòng ba năm đều viết về sự rạn nứt gia đình trong cơn lốc khủng hoảng xã hội)” [81, tr.13] Ở phạm vi nhỏ hơn

về đề tài gia đình, thông qua một số tiểu thuyết mà tác giả luận văn khảo sát,Ông Văn Tùng đã thể hiện vấn đề đạo đức gia đình ở những mối quan hệ tìnhcảm vợ chồng; đạo đức trong quan hệ anh, em, họ tộc với nhau và đạo đứctrong quan hệ giữa cha mẹ - con cái

Trang 38

vợ có chồng Có vợ, có chồng thành ra có anh em ruột thịt Tình cảm thậm chítrong gia đình chỉ có ở ba nơi ấy – nghĩa là quan hệ vợ chồng tự thân nó đã làquan hệ nền tảng trong gia đình, quyết định hạnh phúc trong gia đình Đạonghĩa vợ chồng là tình cảm thiêng liêng xuất hiện từ tình yêu, sự tôn trọng vàthuỷ chung đã được đưa vào ca dao như một bức tranh đẹp tuyệt Vợ chồng

có hoà thuận thì mọi công việc sẽ suôn sẻ, khó khăn đến mấy cũng có thể

vượt qua Ca dao xưa có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng

cạn”, Hay: “Vợ chồng là nghĩa tào khang/ Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau”… Những câu ca dao trên đã thể hiện tình cảm vợ chồng sâu nặng gắn bó

keo sơn, cho dù lúc nghèo khó thiếu thốn gian khổ vợ chồng vẫn luôn yêuthương, chung thuỷ, tôn trọng lẫn nhau Đó là đạo đức vợ chồng trong truyềnthống của dân tộc ta Điều đó được thế hiện sâu sắc trong tiểu thuyết của nhàvăn Ông Văn Tùng, đặc biệt trong tình cảm vợ chồng ông bà Bảo Trân trong

Những kẻ lắm tiền Nhà văn đã đi miêu tả thật tỉ mỉ mối quan hệ vợ chồng còn

giữ nguyên những giá trị truyền thống của dân tộc Ông Bảo Trân là một nhàvăn hóa nối tiếng, một con người đức độ toàn tài, văn chương uyên bác, giađình ông là một gia đình nề nếp, truyền thống Bên cạnh ông lại luôn có mộtngười vợ giỏi giang biết quan tâm chia sẻ những niềm vui nỗi buồn Bà khôngchỉ là người vợ đảm đang, còn là người bạn luôn sẻ chia, tâm sự những lúc

ông buồn, vui, giúp ông rất nhiều trong công việc như “chỉnh lí bản thảo tài

liệu” và giúp ông đạt được mong ước bấy lâu của mình là hoàn thành cuốn

Từ điển Xứ Nghệ - công trình nhà văn muốn tặng cho quê hương mình

“Danh chồng công vợ”, “Tất cả những kiến thức dân dã về têm trầu bổ cau,

lễ bái, cưới hỏi… đều do nhà tôi cung cấp, sưu tầm cả đấy” [74, tr.98] Ông

luôn tự hào rằng cuộc đời của ông không thiếu những khó khăn và thất bạinhưng bù lại trời cho ông một người vợ thật hoàn hảo Đó là chỗ dựa tinh thầncho ông, giúp đỡ ông không ít trong đời sống hàng ngày đến cả những công

Trang 39

trình của ông cũng có rất nhiều công sức đóng góp của bà Ngay những lúc

ông bị trù dập, bà đã “nâng đỡ tinh thần” ông biết bao nhiêu trong cuộc sống

quá nhọc nhằn Còn gì hạnh phúc hơn khi một nhà khoa học có một ngườibạn đời tận tụy, tâm thành vì công việc của mình đến thế Ông vô cùng xúc

động khi thấy bà tận tụy “chần chừ lại từng chữ, một cái dấu” sau mỗi lần

ông hoàn thành xong một tác phẩm của mình Hơn ai hết, bà rất hiểu nhữngphút trầm tư của chồng mình Đaọ nghĩa vợ chồng ông bà Bảo Trân thực sựkhiến chúng ta phải trân trọng và đáng tự hào Đó chính là một trong số rất ítgia đình còn giữ lại được giá trị tốt đẹp trong truyền thống cha ông mà chúng

ta cần nâng niu và trân trọng tình cảm cao quý đó

Cũng trong tác phẩm này, chúng ta không thể quên hình ảnh hai mẹ con

bà Phương sống bằng nghề nhặt đồ phế thải: “Muốn giữ trọn tình nghĩa với

người chồng cũ một thời yêu nhau hết lòng” [74; tr 327] Từ khi chồng mất,

bà sống cùng với đứa con và hoàn thành tốt thiên chức của người vợ, người

mẹ và cũng chính vì lẽ đó mà khiến cho bao nhiêu người đàn ông trong đó cóông Tấn luôn trân trọng và nể phục con người bà Đó là mẫu người phụ nữtruyền thống mà bao người mơ ước Hay vợ chồng Khôi và Ánh cũng được nhàvăn miêu tả chi tiết với hai con người với hai phong cách và tư tưởng đối lậpnhau Khôi thì bị ảnh hưởng từ nghề nghiệp một cách thảm hại Anh làm nghềkhảo cổ cho nên cái gì ở anh cũng cổ và ngây ngô đến bực mình, người ta gọi

anh là “Khôi đồ cổ” Cả ngày trầm mặc, u buồn như mất trí, đến tên mình anh

còn không nhớ huống hồ tên người thân Vợ đi đâu, làm gì anh cũng không biết.Lúc nào anh cũng tra cứu đến quên ăn, quên ngủ, quần áo lâu lâu anh mới thaymột lần Cũng vì căn bệnh nghề nghiệp mà cuộc sống gia đình anh gặp nhiềutrắc trở Cuộc sống đầy đủ, giàu sang dễ khiến con người ta bị sa ngã, bị nhữngdục vọng tầm thường lôi kéo Người ta đã nghĩ Ngọc Ánh, người vợ của anh, côcon gái thứ của ông Bảo Trân rất giỏi ngoại ngữ, giao tiếp tốt, ngoại hình xinh

Trang 40

đẹp, rất sang trọng, cô làm trong Viện nghiên cứu đá quý, rằng: cô đã bỏ chồng

và chạy theo những người đàn ông giàu có Nhưng mọi người đã nhầm, thì rađằng sau cái vẻ hời hợt, xúng xính là một tâm hồn cao thượng của một ngườiphụ nữ được giáo dục chu đáo và có học vấn Cô vẫn luôn yêu thương chồng,con và làm tròn nghĩa vụ đạo đức của người phụ nữ trong gia đình Cô là mẫungười mà nhiều phụ nữ trẻ hiện nay mơ ước

Không chỉ tập trung khai thác mối quan hệ vợ chồng trong đạo đứctruyền thống dân tộc Đến với tiểu thuyết của Ông Văn Tùng, người đọc nhận

thấy rõ đạo đức trong mối quan hệ vợ chồng dần mai một đi, bị “bào mòn” đi khi mà trong xã hội những giá trị vật chất đang lên ngôi, chiếm vị trí “thống

trị” cao và nó “ăn sâu” vào từng huyết mạch của một bộ phận lớn ở con

người Trong Khát vọng đau đớn, câu chuyện xoay quanh gia đình cụ giáo

Hoàng Đó là một nhà giáo già nhưng còn đầy nhiệt huyết với nghề, ông biếtbốn thứ ngoại ngữ, kiến thức rất sâu rộng uyên bác, văn cổ giỏi văn thơ hiệnđại cũng không kém Vợ mất sớm, một mình cụ nuôi ba đứa con ăn học làmột nỗi vất vả rất lớn Những tưởng đi bước nữa sẽ vơi bớt nỗi buồn nhưng

vợ ông không hiểu và chia sẻ cùng ông Một người vợ tham lam, không hiểu

biết, không tôn trọng chồng mình: “Lương bổng của anh bao nhiêu, tôi không

biết, chứ lương của thầy anh, giáo viên trung học lâu năm mà không bằng tôi

chạy chợ nửa buổi” [69, tr.69] Cụ giáo Hoàng rất buồn Cứ nghĩ đến lòng cụ

lại đau như cắt Bao nhiêu năm làm nghề giáo nhưng cụ như thấy bất lực chưalàm tròn bổn phận người chồng, người cha Rõ ràng, đạo đức vợ chồng trongtruyền thống dân tộc trong gia đình ông giáo Hoàng đã bị mai một đi bởichính người vợ kém hiểu biết, có chút gì đó tham lam của người nông dân.Hơn ai hết, cụ giáo Hoàng hiểu, thông cảm và có chút gì đó chịu đựng để cốgiữ cho được hạnh phúc êm ấm cho gia đình đạo nghĩa của mình

Ngày đăng: 07/09/2016, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (1999), Tiểu thuyết – Cái nhìn cuối thế kỷ, Báo văn hóa số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết – Cái nhìn cuối thế kỷ
Tác giả: Tạ Duy Anh
Năm: 1999
2. Huỳnh Phan Anh (1999), Không gian và khoảnh khắc văn chương, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian và khoảnh khắc văn chương
Tác giả: Huỳnh Phan Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân (2002), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG HN, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2002
4. Lại Nguyên Ân (1986), Thử nhìn văn xuôi mười năm qua, Tạp chí Văn học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn văn xuôi mười năm qua
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
6. Lưu Văn Bổng (2001), Văn học so sánh lý luận và ứng dụng, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh lý luận và ứng dụng
Tác giả: Lưu Văn Bổng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
7. Bức thư của H. Ayn Rand và đâu là nguyên tắc đạo đức mới, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 555, 8 /2002, tr. 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức thư của H. Ayn Rand và đâu là nguyên tắc đạo đức mới
8. Nguyễn Minh Châu (1991), Con người và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Con người và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1991
9. Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng (2009), Đạo đức học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2009
10. Khương Thu Cúc (2002), Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sĩ Khoa học Ngữ văn ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Khương Thu Cúc
Năm: 2002
11. Đình Tấn Dung dịch (1991), Tâm lí văn nghệ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí văn nghệ
Tác giả: Đình Tấn Dung dịch
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
12. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2006) (đồng chủ biên), Xã hội học, Nxb ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: Nxb ĐHQG
13. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình lý luận văn học, Phần tác phẩm văn học, Nxb ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb ĐHQG TPHCM
Năm: 2003
14. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
15. Trương Đăng Dung (1991), Văn học dịch và những vấn đề lí luận của Văn học so sánh, Tạp chí Văn học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dịch và những vấn đề lí luận của Văn học so sánh
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1991
16. Đỗ Đức Dục (1984), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây, Nxb KHXH HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb KHXH HN
Năm: 1984
17. Đặng Anh Đào (1997), Banzac và cuộc săn tìm nhân vật chính diện trong bộ “ Tấn trò đời”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Banzac và cuộc săn tìm nhân vật chính diện trong bộ “ Tấn trò đời”
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
18. Đặng Anh Đào (2003), Victo Huygo – Cuộc đời và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Victo Huygo – Cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
19. Trần Xuân Đề (1965), Tiểu thuyết cổ điển Tung Quốc, tập 1, Nxb Giáo dục HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết cổ điển Tung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: Nxb Giáo dục HN
Năm: 1965
20. Trần Xuân Đề (1991), Những bộ tiểu thuyết hay nhất của Trung Quốc, Nxb ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bộ tiểu thuyết hay nhất của Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: Nxb ĐHQG TPHCM
Năm: 1991
21. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập1, Nxb ĐHTHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb ĐHTHCN
Năm: 1974

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN: VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG VĂN TÙNG
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w