1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non

145 853 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 689,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, Giáo dục đang ngày càng được Đảng – Nhà nước và nhân dân quan tâm, coi giáo dục là nền móng cho sự phát triển khoa học và đem lại thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân, có vai trò quyết định đối với sự phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vừa qua Trung ương đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (theo Nghị quyết số 29NQTW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tếxã hội. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế 37. Lý luận và thực tiễn giáo dục – đào tạo cho thấy rằng: Hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc khá nhiều vào trình độ kỹ năng nghề nghiệp của người giáo viên. Người thầy càng thành thạo bao nhiêu về các kỹ năng nghề nghiệpthì giờ dạy càng thành công bấy nhiêu. Đó chính là một phần cơ bản thuộc năng lưc của người giáo viên, nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện lâu dài, công phu có bài bản và đầy tâm huyết qua hệ thống giáo dục – đào tạo tay nghề sư phạm, theo một quy trình chặt chẽ. Kỹ năng nghề nghiệp (KNNN) của giáo viên là khả năng vận dụng kiến thức có được để thực hiện hành động dạy học và giáo dục có kết quả với chất lượng cần thiết trong điều kiện cụ thể. KNNN của giáo viên mầm non không chỉ là khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình dạy học và giáo dục toàn diện, mà còn là khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của trẻ. Kỹ năng nghề nghiệp là một thành phần quan trọng tạo nên năng lực sư phạm của cá nhân, đảm bảo cho người giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy có hiệu quả trong hoạt động của sư phạm. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng KNNN cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người giáo viên, nó luôn là trung tâm chú ý của lý luận và thực tiễn của quá trình dạy học. Chương trình đào tạo giáo viên mầm non ở nước ta hướng vào việc bồi dưỡng cho sinh viên cả về mặt kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc – giáo dục trẻ. Học phần “Phương pháp Tổ chức hoạt động tạo hình” là một trong số nhiều học phần đặc thù quan trọng trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non nói chung và hệ CÐSP mầm non nói riêng. Thông qua bộ môn này sinh viên không chỉ nắm được kiến thức, kỹ năng tổ chức HÐTH mà còn góp phần nâng cao yêu cầu của Chuẩn Nghề nghiệp giáo viên mầm non cho sinh viên, đặc biệt là thông qua các giờ thực hành bộ môn. Vì vậy, việc giảng dạy bộ môn “PP TCHÐTH” không chỉ ảnh hưởng đến việc lĩnh hội tri thức về cơ sở lý luận và thực hành môn học mà còn ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức HÐTH cho trẻ ở trường mầm non của sinh viên trong thực tiễn sau này. Thực tiễn ở các trường chuyên nghiệp có hệ CÐSP MN cho thấy, mặc dù giảng viên đã quan tâm đến việc hình thành KNNN cho SV, tuy nhiên hiệu quả đạt được chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành học GDMN. Bên cạnh đó, các sinh viên khi xuống trường mầm non thực hành, hay đã nhận công tác ở các trường mầm non, do chưa nắm vững các KNNN cần thiết nên hiệu quả trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ còn chưa cao. Đặc biệt, trong lĩnh vực HĐTH, các kỹ năng như: KN tạo hình vẽ, nặn, xé – cắt dán; KN tạo môi trường hoạt động tạo hình, chuẩn bị đồ dùng đồ chơi, KN lập kế hoạch, KN hướng dẫn trẻ HĐTH, ở SV còn bộc lộ nhiều hạn chế, lúng túng, rập khuôn và chưa có sự linh hoạt. Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non”

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, Giáo dục đang ngày càng được Đảng – Nhà nước và nhân dân quantâm, coi giáo dục là nền móng cho sự phát triển khoa học và đem lại thịnh vượng chonền kinh tế quốc dân, có vai trò quyết định đối với sự phát triển trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Vừa qua Trung ương đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấphành Trung ương khóa XI (theo Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới cănbản, toàn diện Giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệpcủa Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được

ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn,cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp,

cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sựquản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việctham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả cácbậc học, ngành học

Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng

và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiềuphương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thựchành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao độngtrong nước và quốc tế [37]

Lý luận và thực tiễn giáo dục – đào tạo cho thấy rằng: Hiệu quả của quá trình dạyhọc phụ thuộc khá nhiều vào trình độ kỹ năng nghề nghiệp của người giáo viên Ngườithầy càng thành thạo bao nhiêu về các kỹ năng nghề nghiệpthì giờ dạy càng thành côngbấy nhiêu Đó chính là một phần cơ bản thuộc năng lưc của người giáo viên, nó là kết quảcủa quá trình học tập, rèn luyện lâu dài, công phu có bài bản và đầy tâm huyết qua hệthống giáo dục – đào tạo tay nghề sư phạm, theo một quy trình chặt chẽ

Kỹ năng nghề nghiệp (KNNN) của giáo viên là khả năng vận dụng kiến thức cóđược để thực hiện hành động dạy học và giáo dục có kết quả với chất lượng cần thiếttrong điều kiện cụ thể KNNN của giáo viên mầm non không chỉ là khả năng vận dụng

Trang 2

kiến thức vào quá trình dạy học và giáo dục toàn diện, mà còn là khả năng vận dụngkiến thức vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏecủa trẻ Kỹ năng nghề nghiệp là một thành phần quan trọng tạo nên năng lực sư phạmcủa cá nhân, đảm bảo cho người giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy có hiệu quảtrong hoạt động của sư phạm Chính vì vậy, việc bồi dưỡng KNNN cho sinh viên làmột trong những nhiệm vụ chủ yếu của người giáo viên, nó luôn là trung tâm chú ýcủa lý luận và thực tiễn của quá trình dạy học

Chương trình đào tạo giáo viên mầm non ở nước ta hướng vào việc bồi dưỡngcho sinh viên cả về mặt kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc – giáo dục trẻ Học

phần “Phương pháp Tổ chức hoạt động tạo hình” là một trong số nhiều học phần đặc thù

quan trọng trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non nói chung và hệ CÐSP mầmnon nói riêng Thông qua bộ môn này sinh viên không chỉ nắm được kiến thức, kỹ năng tổchức HÐTH mà còn góp phần nâng cao yêu cầu của Chuẩn Nghề nghiệp giáo viên mầmnon cho sinh viên, đặc biệt là thông qua các giờ thực hành bộ môn Vì vậy, việcgiảng dạy bộ môn “PP TCHÐTH” không chỉ ảnh hưởng đến việc lĩnh hội tri thức về

cơ sở lý luận và thực hành môn học mà còn ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức HÐTHcho trẻ ở trường mầm non của sinh viên trong thực tiễn sau này

Thực tiễn ở các trường chuyên nghiệp có hệ CÐSP MN cho thấy, mặc dù giảngviên đã quan tâm đến việc hình thành KNNN cho SV, tuy nhiên hiệu quả đạt đượcchưa đáp ứng được yêu cầu của ngành học GDMN Bên cạnh đó, các sinh viên khixuống trường mầm non thực hành, hay đã nhận công tác ở các trường mầm non, dochưa nắm vững các KNNN cần thiết nên hiệu quả trong quá trình chăm sóc giáo dụctrẻ còn chưa cao Đặc biệt, trong lĩnh vực HĐTH, các kỹ năng như: KN tạo hình vẽ,nặn, xé – cắt dán; KN tạo môi trường hoạt động tạo hình, chuẩn bị đồ dùng đồ chơi,

KN lập kế hoạch, KN hướng dẫn trẻ HĐTH, ở SV còn bộc lộ nhiều hạn chế, lúng túng,rập khuôn và chưa có sự linh hoạt

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực hành

bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHÐTH” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm

Trang 3

mầm non, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo tay nghề cho SV đáp ứng yêu cầuđổi mới phương pháp dạy - học ở trường cao đẳng, đại học và đổi mới GDMN tronggiai đoạn hiện nay

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” của sinh

viên cao đẳng sư phạm mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHÐTH” nhằm bồi dưỡng

kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non

4 Giả thuyết khoa học

Nếu nghiên cứu xây dựng được các biện pháp tổ chức thực hành bộ môn

“Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” trên cơ sở phối hợp thực hiện chặt chẽ

giữa việc trang bị cho SV những kiến thức lý luận với việc tổ chức cho SV luyện tậptrong thực hành và tiến hành kiểm tra, đánh giá chúng phù hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả việc bồi dưỡng KNNN cho sinh viên CÐSP mầm non

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận

Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đềtài nghiên cứu

5.2 Nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo sinh viên hệ CÐSP MN

Tìm hiểu thực trạng cách thức dạy học và thực hành bộ môn “PP TCHÐTH” và

hiệu quả việc bồi dưỡng KNNN cho SV ở trường CÐSP

5.3 Đề xuất và thực nghiệm áp dụng biện pháp tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHÐTH” nhằm bồi dưỡng KNNN cho sinh viên CÐSP MN.

Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHÐTH” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên CĐSPMN

6 Giới hạn nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu

Chúng tôi chỉ nghiên cứu việc bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch cho HÐTH, chuẩn bị

đồ đồ chơi – đồ dùng dạy học và xây dựng môi trường hoạt động tạo hình cho HÐTH, tổ

Trang 4

chức HÐTH cho trẻ trong quá trình tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHÐTH” trong giớihạn thời gian vật chất dành cho hệ cao đẳng là 40 tiết.

- Phạm vi nghiên cứu

+ Nghiên cứu áp dụng một số biện pháp tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHĐTH”

nhằm phát triển KNNN của sinh viên trong thực hành, tổ chức HÐTH cho trẻ qua hai chủ

đề “Thế giới động vật” và “Thế giới thực vật”

+ Nghiên cứu trên sinh viên năm thứ hai

- Địa điểm nghiên cứu

+ Khoa Giáo dục Mầm non – Trường CÐSP Nghệ An – Tỉnh Nghệ An

+ Trường Mầm non Hoa Sen và trường Mầm non Sao Mai nằm trên địa bànThành phố Vinh – Tỉnh Nghệ An

- Thời gian nghiên cứu: Trong 12 tháng (Bắt đầu từ tháng 9/2013 đến tháng

9/2014)

7.Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóanhững nguồn tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở

lý luận, định hướng cho nghiên cứu thực tiễn

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp sử dụng phiếu hỏi

Sử dụng phiếu hỏi để điều tra thực trạng:

- Việc tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHĐTH” của giảng viên bộ môn

- Việc học tập bộ môn “PP TCHĐTH” của sinh viên CĐSPMN, vận dụng

kỹ năng nghề nghiệp trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo khi sinh viên

đi thực hành sư phạm tại trường mầm non

7.2.2 Phương pháp đàm thoại

Trao đổi các vấn đề sau:

- Về các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên CĐSPMN của

giảng viên bộ môn thông qua giờ thực hành

- Về việc vận dụng kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên CĐSPMN trong tổ chứchoạt động tạo hình cho trẻ

7.2.3 Phương pháp quan sát

Trang 5

- Dự 4 tiết giảng lý thuyết và 6 tiết thực hành bộ môn “PP TCHĐTH” của một

số giảng viên bộ môn, qua đó tìm hiểu về mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện,phương tiện tổ chức dạy và học bộ môn này

- Theo dõi, quan sát quá trình soạn giáo án và tập dạy của sinh viên; thiết kế và

sử dụng đồ chơi; thiết kế môi trường hoạt động thực hành theo chủ đề cho trẻ mầmnon của sinh viên trong quá trình học tập, thực hành tại trường cao đẳng sư phạm vàtrong quá trình thực tập sư phạm ở trường mầm non

7.2.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

- Nghiên cứu các tài liệu giảng dạy bộ môn của giảng viên trường CÐSP Nghệ

7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Kiểm chứng biện pháp đã đề xuất, khẳng định sự đúng đắn của giả thuyết bằngcác bước: Thực nghiệm khảo sát, thực nghiệm hình thành và thực nghiệm kiểm chứng

7.3 Phương pháp xử lí số liệu

Sử dụng thống kê toán học để xử lí những số liệu thông tin thu thập được đểđánh giá kết quả thực trạng và kết quả thực nghiệm

8 Đóng góp của đề tài

- Luận văn bước đầu hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về việc tổ chức thực

hành bộ môn “PP TCHĐTH”, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên CĐSPMN trong tổ

chức hoạt động tạo hình cho trẻ em

- Đánh giá thực trạng việc tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHĐTH” ở khoa

Giáo dục Mầm non – Trường CÐSP Nghệ An

- Đánh giá về việc vận dụng kỹ năng nghề nghiệp trong tổ chức hoạt động tạohình cho trẻ mẫu giáo của sinh viên CĐSPMN ở trường CÐSP Nghệ An

- Xây dựng được một hệ thống các biện pháp tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHĐTH” nhằm bồi dưỡng KNNN cho SV CĐSPMN.

9 Cấu trúc của luận văn

MỞ ĐẦU

Trang 6

NỘI DUNG

Chương I: Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu

Chương II: Thực trạng việc bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho SV CĐSPMN thông

qua tổ chức thực hành bộ môn “PP TCHĐTH”.

Chương III: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp tổ chức thực hành bộ môn

“PP TCHĐTH” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên CĐSPMN.

KẾT LUẬN

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Vài nét tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Kỹ năng sư phạm là một kỹ năng nghề nghiệp rất quan trọng, là hành trangkhông thể thiếu được của sinh viên các trường sư phạm trong hoạt động nghề nghiệpsau này Chính vì vậy, vấn đề này từ lâu đã được các nhà tâm lý học và giáo dục họctrong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng sư phạm

Các nghiên cứu về KN và KNSP

Nhìn chung, việc nghiên cứu kỹ năng được xuất phát từ hai quan điểm như sau:

* Quan điểm nghiên cứu thứ nhất: Trên cơ sở của tâm lý học hành vi mà đạidiện là các tác giả: J.B.Watson (1878-1958), B.F.Skinner (1904-1990), E.Thorndike(1874-1949), E.C.Tolman (1886-1959), …

* Quan điểm nghiên cứu thứ hai: Trên cơ sở của tâm lý học hoạt động mà đạidiện là các nhà tâm lý học Liên Xô Điểm qua lịch sử các công trình nghiên cứu về KNcủa các nhà tâm lý học, giáo dục học Liên Xô, chúng ta có thể thấy họ đi theo haihướng chính Đó là:

- Hướng thứ nhất: Bao gồm các công trình nghiên cứu KN ở mức khái quát, đạicương Tuy chỉ nghiên cứu ở mức độ đại cương, song họ cũng đi sâu nghiên cứu bản

Trang 8

chất, khái niệm KN, các giai đoạn, các quy luật, các điều kiện hình thành kỹ năng, mốiquan hệ giữa KN và kỹ xảo, … Đại diện của hướng nghiên cứu này có các tác giả như:A.G.Covaliov, K.Platonov, V.X.Cuzin, A.V.Petrovxki, V.A.Cruch, P.Ia.Galperin, …

- Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu KN ở mức độ cụ thể trong các lĩnhvực khác nhau như lĩnh vực hoạt động sư phạm, hoạt động lao động, hoạt động sảnxuất, … Cụ thể là:

Những công trình nghiên cứu về KN lao động, sản xuất có trong tác phẩm củatác giả nước ngoài như: V.V.Tsebyseva (1973), K.K.Platonov và G.G.Golubev(1977), … trong nước có tác giả Trần Trọng Thủy nghiên cứu về KN lao động côngnghiệp [52]

- Những công trình nghiên cứu về KN hoạt động sư phạm có trong tác phẩmcủa các tác giả nước ngoài như N.D.Levitov (1970), X.I.Kixegof (1976), … ở ViệtNam có các tác giả như: Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn,Nguyễn Văn Lũy, Nguyễn Như An, … Các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về vấn đềhình thành, rèn luyện KNSP cho SV đặc biệt nhấn mạnh quy trình hình thành KNSPcho SV các trường sư phạm

Phần lớn các tác giả bàn về kỹ năng dạy học khi trình bày các phương pháp dạyhọc, coi đó như những biện pháp, thủ thuật để thực hiện phương pháp dạy học như tácgiả Lê Khánh Bằng [5],

Một số tác giả đi sâu vào việc hướng dẫn các kỹ năng, sử dụng các phương tiệnkỹ thuật dạy học, kỹ năng sư phạm Nhiều tác giả trình bày rất tỉ mỉ những kỹ năng từđơn giản đến phức tạp nhưng họ không trình bày các kỹ năng dạy học đó trong mộtcấu trúc hệ thống

Một số giáo trình Giáo dục học trình bày các kỹ năng dạy học dựa theo chứcnăng, nhiệm vụ của người thầy giáo, coi đó là những yếu tố cơ bản, cụ thể về rèn luyệnnghiệm vụ sư phạm [38,39]

Trong đề tài cấp Bộ, Trần Thị Tuyết Oanh đã xây dựng hệ thống tiêu chí đánhgiá kỹ năng nghề nghiệpcủa sinh viên ở các trường ĐHSP đáp ứng yêu cầu đào tạogiáo viên trong xu thế hội nhập [42]

Các nghiên cứu về KNSP của GVMN

Đối với lĩnh vực giáo dục mầm non, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu

vè đưa ra các biện pháp nhằm hình thành và phát triển những KNSP cần thiết để có thể

Trang 9

tổ chức tốt hoạt động cho trẻ MN như: Nghiên cứu về nghề GVMN của tác giả HồLam Hồng [24]; Nghiên cứu của TS.Trần Thị Ngọc Chúc về các biện pháp tổ chứcviệc rèn luyện KN nghề cho giáo sinh hệ THSP MN 12+2 [17]; Nghiên cứu củaNguyễn Thị Thủy Lan về một số biện pháp bồi dưỡng kỹ năng giải quyết tình huốngnhận thức cho SV THSP mầm non [31]; Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Phương

về kỹ năng quan sát trẻ - kỹ năng nền tảng trong hoạt động sư phạm của GVMN, theotác giả kỹ năng quan sát trẻ là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động sư phạm củaGVMN, nó là cơ sở để giáo viên mầm non có thể thay đổi cách tiến hành hoạt độnggiáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và tác giả khẳng định trong môhình nhân cách GVMN giai đoạn đổi mới GD hiện nay không thể thiếu vắng kỹ năngquan sát trẻ Nhờ sử dụng kỹ năng này một cách thường xuyên, GVMN sẽ nắm được

sự phát triển của trẻ trực tiếp, thấy được sự thay đổi trong hành vi của trẻ Nhữngthông tin này là căn cứ để họ tổ chức các hoạt động giáo dục có hiệu quả như: thiết kế

và điều chỉnh kế hoạch GD, triển khai hoạt động giáo dục theo kế hoạch, đánh giá hiệuquả giáo dục trẻ Cũng theo tác giả thì việc lĩnh hội kỹ năng quan sát trẻ đòi hỏiGVMN phải nắm được nội dung quan sát và biết cách quan sát trẻ Cụ thể, GVMNphải nắm được cần phải quan sát cái gì và quan sát như thế nào? Phải sử dụng cáccông cụ gì để thu thập thông tin nhanh, chính xác và có đủ độ tin cậy? Sử dụng kết quảquan sát vào hoạt động sư phạm như thế nào? Điều này đặt ra nhiệm vụ mới choviệc đào tạo GVMN cần quan tâm đến việc hình thành KN quan sát trẻ cho SV [29]

Tác giả Đỗ Văn Đoạt về kỹ năng ứng phó với stress, … cho rằng kỹ năng ứngphó với stress là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào các thao tác gắn với điều kiệnthực tiễn của hoạt động bằng cách nhận thức những việc gây stress và biểu hiện củastress, xác định những điều kiện khả thi (các phương án ứng phó) và thực hiện nhữngphương án nhằm giải quyết, giảm bớt, tác động xấu của stress xuất hiện trong quá trìnhsống và hoạt động Theo ông, vấn đề này cần được quan tâm nghiên cứu nhằm đápứng yêu cầu hình thành nhân cách con người mới phù hợp với xã hội hiện đại [29]

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Phương về một số KNSP cơ bản (quantrọng) cần hình thành cho SV khoa GDMN [45] đã nêu nhiều phương án nhằm nângcao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV khoa GDMN, tác giả cho rằng,quá trình hình thành KNSP cho SV cần phải được thực hiện khi xây dựng chươngtrình đào tạo GVMN và triển khai trong suốt quá trình đào tạo, những KNSP cần hình

Trang 10

thành cho SV gồm có KN thiết kế hoạt động GD và dạy học, kỹ năng triển khai hoạtđộng GD và dạy học, KN phân tích – đánh giá hoạt động GD và dạy học; Tác giả TàoThị Hồng Vân về kỹ năng cần thiết phải hình thành cho SV sư phạm mầm non [28].

Tác giả Đỗ Chiêu Hạnh đã xây dựng một số biện pháp hình thành KNSP cho

SV khoa GDMN trong quá trình giảng dạy bộ môn phương pháp cho trẻ làm quen vớimôi trường xung quanh như: Hình thành kỹ năng đánh giá thực tiễn hoạt động cho trẻlàm quen với MTXQ trong quá trình kiến tập ở trường mầm non bằng cách tổ chứccho SV thâm nhập thực tiễn, làm quen với trẻ và các hoạt động chăm sóc – giáo dụctrẻ ở trường mầm non, kiến tập các hoạt động, quan sát cách thiết kế môi trường vậtchất phục vụ cho HĐ cho trẻ làm quen với MTXQ tại trường MN, xem băng hình vềviệc tổ chức hoạt động này thông qua các phương tiện trực quan Hình thành kỹ nănglập kế hoạch bằng cách cho SV lập kế hoạch tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quenvới MTXQ khác nhau như hoạt động ngoài trời, vui chơi, giờ học cho trẻ làm quen vớiMTXQ, … [21];

Tác giả Trịnh Thị Ngà về một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghề cho SV sưphạm MN, tác giả đi sâu vấn đề này thông qua hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sưphạm[36];

Nghiên cứu của Đào Thanh Huyền đã xây dựng một số biện pháp hình thành kỹnăng tổ chức hoạt động làm quen với toán cho sinh viên CĐSP MN đó là trang bị kiếnthức về phương pháp tổ chức hoạt động bằng các cách khác nhau như tổ chức bài họctheo hướng thuyết trình – gợi mở và thảo luận nhóm, xem băng hình, kiến tập dự giờ,rèn luyện kỹ năng tổ chức các hoạt động, ….[25]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về việc bồi dưỡng KNNN trong giảng dạy bộ môn

PP TCHÐTH

Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Lê Thanh Thủy về việc “Đổi mới phương phápdạy học nghệ thuật nhằm tăng cường bồi dưỡng kỹ năng nghề cho SV” [51], cho thấy:Tính đặc thù của công tác GDMN, thực trạng và những đổi mới trong GDMN hiện nayđòi hỏi công tác đào tạo GDMN cần chú trọng hơn việc bồi dưỡng cho SV thông quahoạt động nghệ thuật nhằm giúp họ có năng lực cần thiết để thực hiện tốt hơn công tác

GD trẻ theo hướng đổi mới Tác giả đưa ra một số thay đổi trong phương pháp dạy họcnghệ thuật đag được thực hiện ở khoa GDMN ở trường ĐHSP Hà Nội đó là: chú ýnhững giải pháp hình thành cho SV tính tích cực, sáng tạo, khả năng tự học như: kích

Trang 11

thích ý tưởng riêng của SV, hạn chế đưa ra các thông tin hướng dẫn quá chi tiết, cụ thể

và sử dụng mẫu; động viên SV tưởng tượng, đưa ra các sáng kiến trên cơ sở kinhnghiệm quan sát cá nhân Sử dụng câu hỏi mở những vấn đề từ thực tiễn giáo dục để

SV suy nghĩ, khám phá và tìm cách giải quyết; giảm tải các giờ học lý thuyết, tăngcường cho SV tự nghiên cứu, tham gia thực hành; tự tổ chức hoạt động và làm việctheo nhóm, phát huy thế mạnh riêng của từng cá nhân bổ sung cho nhau để tạo kết quảchung; truyền cảm hứng nghệ thuật và lòng tự tin cho SV, khuyến khích sự biểu cảmđộc đáo, động viên SV tìm kiếm những phương án giải quyết vấn đề; hạn chế cho SV

và trẻ em sao chép các tác phẩm nghệ thuật – một cách dạy học nghệ thuật cò khá phổbiến ở các trường sư phạm GDMN Việt Nam; cùng SV chuẩn bị chu đáo cho các cuộcthảo luận, những bài tập giải quyết vấn đề, các đồ án nhóm, thu hút sự tham gia nhiệttình của mọi SV,

Ths Võ Thị Bích Vân đã nghiên cứu thành công về vấn đề bồi dưỡng sinh viênCÐSP khả năng sử dụng nghệ thuật trang trí trong tổ chức HÐTH cho trẻ MG nhằmgiúp SV tăng cường sự hiểu biết về nghệ thuật trang trí, bồi dưỡng khả năng cảm thụ,năng lực thể hiện trong học tập và năng lực sư phạm, Trong đó, tác giả đã xây dựng

2 nhóm biện pháp bồi dưỡng cho sinh viên: Nhóm biện pháp hình thành cho sinh viênnhững hiểu biết, thái độ với nghệ thuật trang trí và bồi dưỡng kỹ năng tạo hình trang trítrong học tập; nhóm biện pháp bồi dưỡng cho sinh viên khả năng thể hiện khả năngsáng tạo nghệ thuật trang trí trong học tập [58]

Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả Ngô Thị Minh Tâm đã đề xuất một sốbiện pháp bồi dưỡng sinh viên trung cấp SP khả năng sử dụng sản phẩm thủ công mỹnghệ truyền thống trong tổ chức môi trường HÐTH cho trẻ [47]

Nhìn chung, điểm qua các công trình trên cho thấy, từ trước đến nay nghiên cứu

KN nói chung, KN tổ chức các hoạt động giáo dục nói riêng được khá nhiều tác giảquan tâm, nghiên cứu và sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, hiệnnay chưa có công trình nào nghiên cứu về việc bồi dưỡng KNNN cho SV CĐSP trong

quá trình thực hành bộ môn “PP TCHĐTH” Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non” là rất cần thiết, có ý nghĩa cả

về lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc đào tạo tay nghề cho GVMN tương lai, đápứng được đòi hỏi thực tiễn của nước ta

Trang 12

1.2 Một số khái niệm công cụ cơ bản

+ Hướng thứ nhất chú trọng khía cạnh cách thức hành động, coi việc nắm đượccác cách thức hành động là có kỹ năng Các tác giả theo hướng này nhấn mạnh mặt kỹ

thuật của hành động Đại diện theo hướng này có V A- Cruchetxki, ông cho rằng Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động – những cái mà con người đã nắm vững”, theo ông chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ

năng, không cần biết đến kết quả hành động [15] Cũng theo hướng này, A.G

Côvaliôv nhấn mạnh “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” Theo ông, kết quả của hành động phụ thuộc vào

nhiều yếu tố, trong đó là năng lực của con người chứ không đơn giản cứ nắm vữngcách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng Với quan niệm như vậy có thể nóiông cũng không đề cập đến kết quả của hành động [11]

+ Hướng thứ hai coi kỹ năng không chỉ bao gồm đơn thuần mặt kỹ thuật củahành động, mà còn chủ trọng tới mặt kết quả của hành động trong mối quan hệ vớimục đích, phương tiện, điểu kiện và cách thức tiến hành hành động Các tác giả theohướng này xem xét kỹ năng như một biểu hiện của năng lực nhân cách, như N.D

Lêvitôv cho rằng: Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn, bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn,

có chiếu cố đến những điều kiện nhất định” [31], theo ông những người có KN hành

động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằmthực hiện hành động có kết quả, và để hình thành kỹ năng, con người không chỉ nắm lýthuyết về hành động mà còn phải biết vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [34]

K K Platônôv và G G Gôlubev khi đề cập đến KN cũng chú trọng đến mặt kếtquả của hành động Theo hai ông, KN là năng lực của người thực hiện công việc cókết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong nhữngkhoảng thời gian tương ứng Họ cho rằng, trong quá trình hình thành KN, các khái

Trang 13

niệm, biểu tượng đã có sẽ được mở rộng ra, được làm sâu sắc hơn và được hoàn thiệnhơn KN không mẫu thuẫn với vốn tri thức mà KN chỉ được hình thành trên cơ sở củachúng [44].

+ Hướng thứ ba có những điểm khác với hai hướng nói trên về vấn đề kỹ năng

Đó là quan niệm của các nhà tâm lí học A V Pêtrôvxki và L V Itelxơn Hai ông chorằng kỹ năng là việc vận dụng những tri thức và các kỹ xảo đã có vào việc lựa chọn vàthực hiện những phương thức hành động đã được đặt ra Có lẽ ở đây các tác giả nàymuốn nói tới các kỹ năng phức tạp [43]

Như vậy vấn đề kỹ năng còn đang có những ý kiến khác nhau, mặc dù về cơ bảnkhông có gì mâu thuẫn lẫn nhau Tuy nhiên, các hướng tiếp cận đều xoay quanh cốtlõi: Kỹ năng là khả năng thực hiện một hoạt động của con người, và có thể tập hợp lạinhững điểm chung nhất về kỹ năng như sau: Người có kỹ năng về hành động nào đó phải

có tri thức về hành động, bao gồm mục đích của hành động, các điều kiện, phương tiệnđạt mục đích, các cách thức thực hiện hành động; Tiến hành hành động đủng với yêucầu của nó; Đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra; Có thể hành động có kết

quả trong những điều kiện khác Theo Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, 1999, khái niệm khả năng mang hàm ý năng lực, tiềm

lực Theo Bùi Văn Huê, năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhânphù hợp vói những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việchoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy Quan niệm trên cho thấy giữakỹ năng và khả năng, năng lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này tạo điều kiệncho cái kia phát triển: Khả năng ở dạng tiềm tàng, là tiền để đề có năng lực và kỹnăng; năng lực sẽ quyết định mức độ và tốc độ hình thành kỹ năng, là sự hiện thực hóakhả năng; kỹ năng là mặt hiện thực hóa và là biểu hiện của năng lực (kỹ năng là mộtnội dung và là biểu hiện thực tế của năng lực, có năng lực thì hình thành kỹ năngnhanh hơn, hiệu quả hơn và trình độ cao hơn)

Theo “Giáo trình nghề giáo viên mầm non” của Hồ Lam Hồng, kỹ năng xét từgóc độ tâm lí học, với các quan niệm khác nhau Một số nhà khoa học cho rằng:

- “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động được con người nắm vững”(V.X.Rudin và V.A.Krutreski);

- “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điềukiện hành động” (A.G.Côvaliôv);

Trang 14

- “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp

…) để giải quyết một nhiệm vụ mới” (PGS.TS Nguyễn Văn Hồng)

Một số nhà khoa học khác lại cho rằng:

- “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một tác động nào đó hay một hoạt độngphức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đếnnhững điều kiện nhất định” (N.D.Lêvitôv);

- “Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức, các phương pháp, kỹ thuật và thiết bịcần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ nhất định có được từ kinh nghiệm, giáo dục

và đào tạo” (Paul Herry);

- “Kỹ năng là khả năng con người tiến hành công việc có hiệu quả với chấtlượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau và trong khoảng thời gian tương ứng”(K.K.Platônôv, G.G.Gôlubev) [24]

Về thực chất, các quan niệm trên tuy về hình thức diễn đạt có vẻ khác nhaunhưng thực chất chúng không hoàn toàn mâu thuẫn hay phủ định lẫn nhau Sự khácnhau chỉ ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của KN cũng như đặc tínhcủa chúng Mặt khác, theo chúng tôi thì ở con người, khi KN của một hoạt động nào

đó, đặc biệt là hoạt động nghề nghiệp bắt đầu hình thành khi đó cần xem xét KN ở mặtkỹ thuật của các thao tác, của hành động hay hoạt động Còn khi KN đã hình thành ổnđịnh, con người biết sử dụng nó một cách sáng tạo trong các hoàn cảnh khác nhau Khi

đó KN được xem xét như một năng lực, một vốn quý của con người Tóm lại, dù theoquan điểm nào thì khi nói đến KN cũng có những biểu hiện ở những dấu hiệu sau:

- Mọi KN đều dựa trên cơ sở tri thức, muốn hành động, muốn thao tác trước hếtphải có kiến thức về nó dù cho tri thức có thể ẩn chứa ở nhiều dạng khác nhau

- Nói đến kỹ năng của con người là nói tới hành động có mục đích, tức là khihành động, thao tác con người luôn hình dung kết quả đạt tới

- Để có kỹ năng con người cũng phải biết cách thực hiện hành động trongnhững điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình với sự tập luyện nhất định

- Kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người Nó là biểu hiện cụthể của năng lực

Với cách nhìn nhận và phân tích như trên, chúng tôi thống nhất khái niệm về kỹ

năng như sau: Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện có kết quả một hoạt động nào đó trên cơ sở đã nắm vững phương thức thực hiện và vận dụng một cách có chọn

Trang 15

lọc, linh hoạt, sáng tạo vốn tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện các hành động phù hợp trong những điều kiện nhất định, KN được hình thành do luyện tập”.

Khi xem xét kỹ năng cần lưu ý:

- Kỹ năng phải được hiểu là mặt ký thuật của hành động Kỹ năng bao giờ cũnggắn với một hành động cụ thể

- Những tính chất quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển của kỹnăng như: tính đúng đắn, sự thành thạo, tính linh hoạt, tính mềm dẻo

- Kỹ năng là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn Nó là kết quả của quátrình con người vận dụng những tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạtđược mục đích đề ra

Như vậy, muốn có kỹ năng và phát triển kỹ năng chúng ta phải được đào tạo vàrèn luyện thường xuyên trong lĩnh vực hoạt động tương ứng

Khái niệm kỹ năng trên là khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu lý luận

và thực tiễn về việc bồi dưỡng KNNN cho SV CĐSPMN thông qua thực hành bộ môn

“ PP TCHĐTH”

* Quy trình hình thành kỹ năng

Để có được kỹ năng về một hành động nào đó con người cần phải có nhu cầunắm vững kỹ thuật hành động, có các thao tác tư duy tương ứng để phân tích mụcđích, cách thức, điều kiện thực hiện hành động, phải thực hiện hành động theo đúnglogic, theo mẫu, luyện tập để thích ứng với mọi điều kiện hành động khác nhau mà vẫnđảm bảo kết quả của hành động

Để hình thành được kỹ năng, con người phải luyện tập theo một quy trình nhấtđịnh Có nhiều cách phân chia các giai đoạn hình thành các kỹ năng

K K Platônôchv và G G Gôlubev đưa ra năm giai đoạn hình thành kỹ nănglà: hình thành theo cách sơ đẳng “thử” và “sai”; biết cách hành động nhưng không đầyđủ; hình thành được kỹ năng đúng nhưng rời rạc; hình thành được những kỹ năngchuyên biệt để hành động; vận dụng sáng tạo những kỹ năng đó trong các tình huốngkhác nhau Theo 2 tác giả này, thì hình thành kỹ năng qua các mức độ như sau:

- Giai đoạn 1: Giai đoạn đầu tiên có KN sơ đẳng (Con người ý thức được mụcđích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động, dựa trên vốn hiểu biết vàkỹ xảo sinh hoạt đời thường, hành động được thực hiện bằng cách “thử” và “sai”)

- Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ (có hiểu biết về phương thức

Trang 16

thực hiện hành động, sử dụng các kỹ xảo đã có nhưng không phải là kỹ xảo chuyênbiệt dành cho hoạt động này).

- Giai đoạn 3: có những kỹ năng chung những còn mang tính chất riêng lẻ (Cóhàng loạt các kỹ năng phát triển cao nhưng còn mang tính chất riêng lẻ, các kỹ năngnày cần thiết cho các hoạt động khác nhau Ví dụ: kỹ năng tổ chức công việc, kỹ năngquản lý lớp, …)

- Giai đoạn 4: có kỹ năng phát triển cao, sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và cáckỹ xảo đã có, ý thức được không chỉ mục đích hành động mà cả động cơ lựa chọn cáchthức đạt mục đích

- Giai đoạn 5: Sử dụng một cách sáng tạo đầy triển vọng các kỹ năng khácnhau [44]

Tác giả Nguyễn Như An đưa ra ba giai đoạn luyện tập kỹ năng: hiểu biết cặn kẽnhững công việc phải làm, nắm được mục đích, yêu cầu, nội dung, cách thực hiện:quan sát mẫu và làm theo hành động mẫu, luyện tập có hệ thống liên tục trong các điềukiện khác nhau từ đơn giản đến phức tạp theo những con đường cần thiết [1]

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Trần Quốc Thành đã đưa ra bagiai đoạn hình thành kỹ năng, đó là:

- Giai đoạn nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động

- Giai đoạn quan sát mẫu và làm thử theo mẫu

- Giai đoạn luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu điều kiệnhành động nhằm đạt mục đích đã đặt ra … [49]

Từ các quan điểm của các tác giả nêu trên về các giai đoạn hình thành kỹ năng,chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Nguyễn Như An và Trần Quốc Thành về

ba giai đoạn hình thành kỹ năng

* Mối quan hệ giữa kỹ năng và năng lực

Kỹ năng là một thành phần của năng lực Năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

có mối quan hệ mật thiết với nhau Muốn phát triển năng lực cần phải nắm vững vàbiết vận dụng một cách sáng tạo những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thànhtrong quá trình hoạt động thực tiễn Tri thức, kỹ năng thúc đẩy sự phát triển của nănglực Thiếu tri thức, kỹ năng cần thiết sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển củanăng lực Con người càng có hiểu biết và kỹ năng về một lĩnh vực hoạt động nào đóthì năng lực hoạt động của họ về lĩnh vực đó càng có điều kiện phát triển, Mặt khác,

Trang 17

năng lực khi đã hình thành lại làm cho việc nắm vững tri thức, kỹ năng được tiến hànhnhanh hơn Tuy nhiên, giữa năng lực và kỹ năng còn có sự khác biệt lớn Năng lực làmột thuộc tính tâm lý tương đối ổn định của cá nhân, nó phát triển theo trình độ nắmtri thức và kỹ năng Còn tri thứcđsp, kỹ năng là cái con người thu nhận được trong quátrình nhận thức và hành động Có người tuy chưa nắm được tri thức, kỹ năng nhưng đã

có biểu hiện về năng lực Song có người tuy đã tiếp thu được nhiều lý luận, tập luyệnđược nhiều kỹ năng nhưng thực tế lại không có năng lực về lĩnh vực đó Cũng như kỹnăng, năng lực là kết quả của sự luyện tập trong quá trình hoạt động thực tiễn Nhưngngoài ra, để phát triển năng lực cần phải có tư chất khác Đó chính là tiền đề cho sựphát triển năng lực

1.2.2 Kỹ năng nghề nghiệp

Bất cứ loại nghề nghiệp nào cũng đòi hỏi những phẩm chất năng lực đặc thù ,trong đó kỹ năng nghề nghiệp được dựa trên những kỹ năng hành động đặc trưng trongnghề đó, thuộc lĩnh vực đó

Theo quan điểm của Klimov, Platonov, Ngô Công Hoàn … thì kỹ năng nghề lànhững khả năng phù hợp với đòi hỏi riêng của nghề đó Bên cạnh trình độ học vấn nóichung thì phải có những kiến thức cơ sở, cơ bản phục vụ cho nghề đó và chúng đượcgọi là kiến thức nghiệp vụ

Như vậy, khái niệm kỹ năng nghề nghiệp có liên quan chặt chẽ với kiến thứcnghiệp vụ Kiến thức nghiệp vụ hiểu theo bản chất là những tri thức khoa học chuyênsâu về một lĩnh vực hoạt động nào đó của con người Nghiệp vụ ở đây gồm hai nộidung: thứ nhất là kiến thức khoa học chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nào đó củacon người; thứ hai là những kỹ năng kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp

Theo tác giả David M.Kaplan thì “kỹ năng nghề nghiệp là khả năng nắm vữngnhững kỹ thuât để tiến hành một chuỗi các yêu cầu hành động trong một nghề nào đó,một công việc nào đó” Với quan niệm như trên chủ yếu tác giả đề cập đến khả năngcủa con người bởi vì chính khả năng đó sẽ hàm chứa những kỹ năng cụ thể trong đó.Mặt khác sự nắm vững kỹ thuật là một yêu cầu quan trọng khi muốn thực hiện mộtcông việc dù là đơn giản hay phức tạp Chính yếu tố kỹ thuật này cho phép người làmnghề được làm chủ chính mình, làm chủ được tất cả những điều kiện về máy móc,trang thiết bị hay dụng cụ … để có thể giải quyết nhiệm vụ được giao trong công việc,trong nghề nghiệp [17]

Trang 18

Theo James.C.Hansen thì kỹ năng nghề nghiệp là những khả năng mà conngười có thể sử dụng những gì đã hiểu biết để đạt được mục đích, những yêu cầu trongnghề nghiệp đề ra Sự hiểu biết phải là những hiểu biết ngay trong nghề nghiệp đó,phải là sự hiểu biết chuyên nghiệp [17]

KNNN là việc biết thực hiện có kết quả những hành động thực tiễn bằng cách vận dụng tri thức để hình thành một năng lực nhất định đáp ứng yêu cầu của nghề tương ứng KNNN được hình thành nhờ quá trình tập luyện trong hoạt động nghề nghiệp.

1.2.3 Kỹ năng nghề nghiệp giáo viên (Kỹ năng sư phạm)

Theo Nguyễn Văn Hộ, nghề nghiệp là một dạng lao động, đòi hỏi ờ con người

một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên mônnhất định Nghề nghiệp cũng được xuất hiện dưới ảnh hưởng của sự phân công laođộng xã hội nhất định

Cũng theo tác giả này, nghề dạy học là một nghề có mục đích hình thành cho thế

hệ trẻ những phẩm chất và năng lực cẩn thiết đề đáp ứng nhu cầu của xã hội trongnhững điêu kiện lịch sử cụ thể Như vậy, nghề dạy học có một số đặc điểm sau:

+ Người làm nghề dạy học, tức là GV, phải có những kiến thức, kỹ năng, kỹxảo vê môn học mà mình đảm nhiệm;

+ Đối tượng của nghề dạy học chính là con người với những nhân cách xácđịnh, tồn tại và phát triền như là một thực thể xã hội, có ý thức, chủ động tiếp thu sựgiáo dục;

+ Công cụ lao động của nghề dạy học bao gồm:

- Hệ thống tri thức mà GV sẽ truyền dạy cho HS;

- Hệ thống các dạng hoạt động được tổ chức theo những mục đích sư phạm nhấtđịnh;

- Những phương tiện, thiết bị vật chất và kỹ thuật phục vụ cho dạy học và giáodục'

- Nhân cách của chính bản thân người GV

- Tập thể HS và tổ chức xã hội

Phần lớn công cụ lao động của người GV lại chính là những thành phần gắn bóhữu cơ với chính bản thân họ (như lượng tri thức, năng lực thiết kế nhân cách củachính mình,

Trang 19

+ Sản phẩm của nghề dạy học là nhân cách trong những con người chuẩn bị đivào cuộc sống theo những chuẩn mực đã định (mục đích giáo dục) Sản phẩm này thayđổi phù hợp với nhu cầu của xã hội [23]

Nhân cách được hiểu là tổng thể những phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá

trị tinh thần của mỗi người Hiện nay đã có rất nhiều công trình trong và ngoài nướcnghiên cứu về cẩu trúc nhân cách của người GV như V.A.Cruchetxki, Lê Văn Hồng,Bùi Văn Huê, Đức Minh, A.V.Petropxki, Nguyễn Quang Uẩn, Văn bản củaUNESCO về giáo dục (năm 1990) cho rằng: “Người thầy giáo mới luôn luôn ở trungtâm của cuộc thay đổi về giáo dục Người thầy giáo của thời kì phát triển mới phải cókhả năng phát triển trong HS của mình những năng lực và thái độ được coi là thiết yếunhư: sáng tạo, thụ cảm đối với sự thay đồi và đổi mới, đa năng trong kiến thức, dễthích nghi với tình huống biến đổi, thông minh, có thái độ phê phán, tìm thấy và giảiquyết được vấn đề Thầy giáo của thế kỉ XXI được quan niệm như một nhà chuyên môn cókhả nâng nắm chắc các vấn đề của ngành học và các ngành có liên quan, có tính liên ngành thấm nhuần

khoa học sư phạm, khoa học giáo dục” [57].

Cụ thể hơn, theo Teresa san Buenaventura trong bài “Một vài mô hình đổi mới giáo viên trung học phổ thông và Trung cấp chuyên nghiệp cho các trường đại học trên thế giới” [48], (GV trong thế kỉ XXI cần có những phẩm chất sau đây:

+ Đa kỹ năng;

+ Có năng lực sư phạm và am hiểu CNTT;

+ Có kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội tốt;

+ Được đào tạo chuyên ngành cao cấp, tự vận động và tận tâm (người thực hànhnăng động);

+ Yêu học tập, học tập suốt đời

Nói về vấn đề này, Nguyễn Văn Hộ cho rằng nhìn một cách tổng thể, nhân cáchcủa GV được hợp thành bởi các thành phần sau:

+ Hệ thống tri thức thế giới quan, tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nghề mến trẻ.+ Nắm vững và hiểu biết sâu sắc các môn học chuyên ngành được đào tạo, mốiquan hệ giữa chúng và các khoa học khác và đời sống xã hội, có khả năng vận đụng hệthống tri thức khoa học đó vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra

+ Có khả năng hòa nhập nhanh chóng vào sự thay đổi của sự phát triển xã hội,liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp Thành phần này được biểu

Trang 20

hiện ở khả năng phát hiện vấn đề, phát hiện đúng cách giải quyết vân đề, khả năngnăm bắt các thông tin mới.

+ Nắm vững hệ thống tri thức về đặc điểm sinh học, tâm lí học lứa tuổi, khảnăng tư duy và trình độ nhận thức của HS, biết khơi dậy húng thú và nhu cầu học tập

của HS.

+ Nắm vững hệ thống kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong tổ chức và quản lí giáodục HS, trong giảng dạy và trong giao tiếp xã hội, có ý thức chủ động và sáng tạotrong hoạt động sư phạm [23]

Trong 5 thành phần nêu trên, các thành phần thứ 3,4 và 5 phản ánh rõ nét đặcthù của nghề dạy học, chứa đựng trong nó những sắc thái mà chủ thể hoạt động phải

có một năng lực tương ứng - năng lực sư phạm

Theo A.V.Petropxki, trong tâm lí học, người ta hiểu các năng lực sư phạm là một

tổ hợp xác định các phẩm chất tâm lí của nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện

để đạt được những kết quả cao trong việc dạy học và giáo dục trẻ em Trên cơ sởnghiên cứu hoạt động của GV, các nhà tâm lí học đã rút ra kết luận rằng, các năng lực

sư phạm là những hình ảnh phản chiếu của những nét nhân cách nhất định đáp ứngnhững yêu cầu của việc dạy học, giáo dục và họ nhận thấy có những dạng năng lực sưphạm sau đây:

+ Các năng lực dạy học tạo khả năng xây dụng có kết quả những phương pháp

truyền thụ tri thức và kỹ xảo cho HS trên cơ sở hiểu những quy luật chung của việcdạy học Những năng lực này giúp GV lập kế hoạch và cấu tạo lại tài liệu được tốt,làm cho nó vừa sức HS} tiến hành các bài dạy một cách sáng tạo bằng cách phát triển

tư duy trẻ em rèn luyện cho trẻ em quen làm việc một cách độc lập

+ Các năng lực thiết kế là điều kiện thiết kế và hình thành nhân cách HS một cách

có kết quả, kỹ năng nhìn thấy trước những kết quả công tác của nhà giáo dục, dự đoántrước được hành vi của trẻ em trong những tình huống khác nhau

+ Các năng lực tri giác thể hiện ở sự tri giác và hieu một cách thích hợp tâm lí của

trẻ em cùng như trạng thái tâm lí của trẻ em trong một thời điểm nhất định Các đặcđiểm của sự chú ý của GV cùng thuộc số các năng lực này

+ Các năng lực truyền đạt là những năng lực thể hiện ra bên ngoài những tư tưởng,

những tri thức những niềm tin và tình cảm của mình, trước hết là bẳng lời nói, cũngnhư những nét mặt và điệu bộ

Trang 21

+ Các năng lực giao tiếp giúp xác lập những mối qua lạí đúng đắn với trẻ em (sự khéo léo đốí xử vể mặt sư phạm, việc tính tới những đặc điểm cá nhân vả lứa tuổi);

+ Các năng lực tổ chức Đó là, thứ nhất, những năng lực tổ chức tập thể HS,

đoàn kết họ, động viên tập thể giải quyết những nhiệm vụ quan trọng, và thứ

hai, những năng lực tổ chức đúng đắn công tác riêng của mình [43]

Theo tác giả Nguyễn Như An, “KNSP là khả năng thực hiện có kết quả một sốthao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của một hành động sư phạm bằng cách lựachọn và vận dụng những tri thức , những cách thức, những quy trình đúng đắn” [1].Qua quan điểm này, ông lưu ý một số điểm sau đây:

- KNSP là khả năng vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có vào việc giảiquyết một số hay một loạt các thao tác của một hành động sư phạm cụ thể như lập kếhoạch tổ chức hoạt động giáo dục, kiểm tra, đánh giá, tổ chức hoạt động giáo dục, …

- Con đường chủ yếu để hình thành KNSP là rèn luyện Tác giả Nguyễn Như

An đã nhấn mạnh trong luận án của mình rằng vai trò của sự luyện tập là đặc biệt quantrọng trong sự hình thành KN [1] Tuy nhiên, việc luyện tập những KNSP này phải cónhững biện pháp tác động phù hợp, phải có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp, …

Tác giả O.A.Abdoullinna cho rằng: “KNSP là sự lĩnh hội những cách thức vàbiện pháp giảng dạy và giáo dục dựa trên sự vận dụng một cách tự giác các kiến thứctâm lý giáo dục và lý luận dạy học bộ môn” Căn cứ vào chức năng của người thầygiáo ông đã phân loại KNSP thành 3 nhóm: nhóm KN nghiên cứu học sinh, nhóm KNgiảng dạy và giáo dục và nhóm KN tiến hành công tác giáo dục xã hội [3]

Nhìn chung, những nghiên cứu kể trên đã chỉ ra được nội dung và con đường cơbản của vấn đề đào tạo tay nghề cho SV sư phạm nói chung, SV ngành sư phạm mầmnon nói riêng Chúng vẫn có giá trị đối với việc xây dựng nội dung và phương phápđảo tạo SV trong các trường sư phạm hiện nay Tuy nhiên, hoạt động giáo dục và dayhọc của người thầy giáo hiện đại có nhiều yêu cầu mới so với trước đây - đặc biệt vềnội dung vả phương pháp đòi hỏi người thầy giáo phải có những kỹ năng mới mà

trước đây chưa có hoặc không quan trọng thì mớí thực hiện có hiệu quả các hoạt động

này, chẳng hạn kỹ năng ứng dụng CNTT, kỹ năng tổ chức hoạt động nhóm,

Dựa trên những quan niệm về KN và đặc trưng của hoạt động sư phạm chúng tôi xác định khái niệm KNSP trong quá trình nghiên cứu đề tài như sau:

Trang 22

Kỹ năng sư phạm là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động sư phạm trên cơ

sở nắm vững phương thức thực hiện và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vốn tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với các điều kiện của hoạt động sư phạm

1.2.4 Kỹ năng nghề nghiệp giáo viên mầm non

Theo tài liệu “Core competencies for early care and education professionals”(Năng lực cốt lõi cần thiết cho chuyên gia chăm sóc và giáo dục sớm) của Ban giáodục sớm (DEL) của Tiểu Bang Washington - Hoa Kỳ Vào năm 2009, Sở Tư pháp củaTiểu Bang này đã chỉ đạo Ban giáo dục sớm (DEL) soạn thảo một bộ các năng lực cốtlõi /kỹ năng cần thiết cho các chuyên gia chăm sóc và giáo dục sớm Bộ quy tắc này đãchỉ rõ những gì các chuyên gia cần phải biết và có thể làm để cung cấp cho trẻ em sựchăm sóc có chất lượng

Tài liệu này là kết quả của sự nỗ lực phối hợp của các chuyên gia từ khắp nơitrên Washington Các thành viên của Hiệp hội phát triển chuyên nghiệp đại diện chocác khu vực đa dạng của các lĩnh vực chăm sóc sớm và giáo dục đã họp nhiều lần, bắtđầu vào năm 2007, để phát triển các dự thảo ban đầu của những năng lực.tài liệu dựthảo đã được phổ biến để xem xét và phản hồi ở Washington và trên toàn quốc bởiZERO TO THREE, trung tâm trẻ thơ quốc gia, Trẻ em và Gia đình

Theo tài liệu này, các năng lực cốt lõi được phân thành 8 khu vực khác nhau,mỗi khu vực nội dung mô tả các kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần phải làm việcvới trẻ em từ sơ sinh đến 8 tháng và gia đình của họ Các chuyên gia nâng cao kiếnthức và kỹ năng của họ trong các lĩnh vực nội dung thông qua đào tạo / giáo dục liêntục Đó là các lĩnh vực

1 Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ: hiểu làm thế nào trẻ có được ngôn ngữ

và biểu hiện sáng tạo và phát triển thể chất, nhận thức và xã hội

2 Chương trình học và môi trường đào tạo : Chương trình giảng dạy và môitrường học tập: thiết lập một môi trường cung cấp kinh nghiệm học tập để đáp ứng nhucầu của trẻ, khả năng và sở thích

3 Đánh giá sự tăng trưởng của trẻ: quan sát và đánh giá những gì trẻ em biết và

có thể làm để lập kế hoạch và cung cấp chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu pháttriển và học tập của chúng

Trang 23

4 Gia đình và cộng đồng: Quan hệ đối tác: phát triển các mối quan hệ mạnh mẽvới gia đình và làm việc cộng tác với các cơ quan / tổ chức để đáp ứng nhu cầu của trẻ

và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng với việc chăm sóc

5 Sức khỏe, an toàn và dinh dưỡng: thiết lập và duy trì một môi trường đảmbảo an toàn, sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em

6 Tương tác: thiết lập các mối quan hệ hỗ trợ với trẻ em và dẫn dắt chúng như

là những cá nhân và như là một phần của một nhóm

7 Lập chương trình và phát triển: thiết lập, thực hiện, đánh giá và phân tích mộtmôi trường chăm sóc và giáo dục sớm

8 Quản trị nhân lực: phục vụ trẻ em và gia đình một cách chuyên nghiệp vàtham gia vào cộng đồng như một đại diện của chăm sóc và giáo dục sớm

Khi thích hợp, khu vực nội dung xác định cách thức mà các chuyên gia đầy đủbao gồm trẻ em từ nhiều lĩnh vực văn hóa, dân tộc, ngôn ngữ và kinh tế xã hội nộidung gáo dục đào tạo.Lĩnh vực nội dung cũng chú tâm đến trẻ em với những nhu cầuđặc biệt trong môi trường chăm sóc và giáo dục sớm

Mức độ khả năng bắt đầu với những kỹ năng cơ bản cần thiết để vào lĩnh vựcnày và đi đến một trình độ cao chuẩn bị học tập và kinh nghiệm đa dạng Người chămsóc / giáo viên tiến bộ từ một cấp độ khác thông qua một sự kết hợp của nghiên cứu vàphản ánh trên thực tế chính thức và / hoặc không chính thức Người chăm sóc và giáoviên có thể có những kỹ năng khác nhau tại các cấp trong khu vực khác nhau tùy thuộcvào vai trò, thiết lập và kinh nghiệm

Cấp 1 đặt nền tảng cho việc chăm sóc và giáo dục sớm bao gồm các kiến thức

cơ bản và kỹ năng được trông đợi của một chuyên gia mới cho lĩnh vực chăm sóc vàgiáo dục sớm, hoặc một người chuyên nghiệp đã ở trong lĩnh vực này nhưng đã có rất

ít cơ hội cho các chuyên môn tư vấn, đào tạo và giáo dục

Cấp độ 2 bao gồm mức 1 cộng với những kiến thức và kỹ năng tương đươngvới chứng chỉ phát triển trẻ em liên kết, giấy chứng nhận trong phát triển của trẻ, hoặcđào tạo / giáo dục

Cấp độ 3 bao gồm mức độ 1 và 2 cộng với kiến thức và kỹ năng tương xứng vớibằng đại học trong giáo dục mầm non hoặc phát triển trẻ em

Cấp 4 bao gồm mức 1,2, và 3 cộng với kiến thức và kỹ năng tương xứng vớibằng cử nhân trong giáo dục mầm non hoặc phát triển trẻ em

Trang 24

Cấp 5 bao gồm cấp 1,2,3, và 4 cộng với kiến thức và kỹ năng tương xứng vớitrình độ cao cấp trong giáo dục mầm non hoặc phát triển trẻ em [9]

Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống các KNSP cần thiếtcần thiết phải hình thành cho SV khoa GDMN

Theo Hồ Lam Hồng, nghề giáo viên mầm non là lĩnh vực hoạt động lao độnggiáo dục trẻ em dưới 6 tuổi Nhờ được đào tạo, giáo viên mầm non có được những trithức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lí trẻ em; về phương pháp nuôi dưỡng chămsóc và giáo dục trẻ, về những kỹ năng nhất định để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc , giáodục trẻ dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con người mới trong xu thếhội nhập và toàn cầu hóa

Nghề giáo viên mầm non là một nghề khó đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo trongquá trình lao động, bởi vì:

+ Xét về góc độ cá nhân:

- Trẻ em có sự khác biệt trong quá trình phát triển: mỗi trẻ có cấu trúc thần kinhkhác nhau, có tốc độ phát triển nhanh và không đồng đều, có vốn kinh nghiệm sốngkhác nhau…

- Trẻ em có những năng lực, thiên hướng riêng: trẻ này yêu thích âm nhạc, trẻkhác có năng khiếu vẽ hay nặn, một số trẻ khác có khả năng bắt chước và học nóinhanh giúp cho việc học tốt ngoại ngữ sau này …

- Trẻ em lứa tuổi mầm non rất đa dạng, xuất phát từ nền kinh tế và môi trườnghoạt động tạo hình gia đình khác nhau

Hiện nay ở Việt Nam, nghề giáo viên là nghề đang được phát triển, bởi xã hội

và các bậc phụ huynh nhìn nhận và đánh giá đúng vai trò của giáo viên mầm non đốivới sự phát triển lâu dài ở trẻ em Mặt khác, xu thế xã hội hóa giáo dục đã có tác độngmạnh đến giáo dục mầm non, là bậc học tham gia vào quá trình xã hội hóa mạnh nhất.Nền kinh tế thị trường buộc người lao động nói chung, giáo viên mầm non nói riêng

Trang 25

phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức mới và áp dụngcông nghệ vào quá trình giáo dục trẻ em Giáo viên mầm non cần phải tạo cho mìnhbản lĩnh nghề nghiệp và kỹ năng học tập suốt đời [24]

Về nhiệm vụ của người giáo viên trong trường mầm non, trong Điều lệ trườngmầm non có quy định:

“Điều 34 Giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non là người làm nhiệm vụnuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫugiáo độc lập”

“Điều 30 Nhiệm vụ của giáo viên

1 Bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở nhàtrường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập

2 Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trinhgiáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, GD trẻ em; Đánh giá và quản lí trẻ em;Chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Tham gia cáchoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập

3 Trau dồi đạo đức, gìn giữ phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Gươngmẫu thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách trẻ em; Bảo vệ cácquyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp

4 Tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ.Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em

5 Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hóa; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đểnâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em

6 Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của phát luật và của ngành,các quy định của nhà trường, quyết định của hiệu trưởng.” [18]

Vậy, giáo viên mầm non là người làm việc tại một trong các loại cơ sở giáo dụcmầm non, đảm nhận công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi

Mặc dù được đào tạo chuyên môn như nhau, nhưng tùy theo nhiệm vụ đượcphân công, trong trường mầm non có:

- Những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 3 tuổi tại

các nhóm/lớp nhà trẻ gọi là giáo viên nhà trẻ.

- Những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3-6 tuổi tại

các nhóm/lớp mẫu giáo gọi là giáo viên mẫu giáo.

Trang 26

Giáo viên mầm non thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ emtheo đúng quy chế chuyên môn và chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ em được BộGiáo dục và Đào tạo ban hành; Đảm bảo an toàn tuyệt đối tính mạng của trẻ

* Kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non

Tác giả Hoàng Thị Phương nêu ra một số các KNSP cơ bản (quan trọng) cầnhình thành cho SV khoa GDMN bao gồm: KN thiết kế hoạt động GD và DH; KN triểnkhai hoạt động GD và DH; KN phân tích và đánh giá hoạt động GD và DH [45]

Trong [28] Theo tác giả Tào Thị Hồng Vân, KN cần thiết phải hình thành cho

SV SPMN gồm có: KN lập kế hoạch chăm sóc-giáo dục trẻ; KN tổ chức các hoạt độngchăm sóc giáo dục trẻ; KN chuyên biệt (như hát, múa, kể chuyện, đọc thơ,…); KNphát triển khả năng giao tiếp cho trẻ; KN quan sát và đánh giá; KN ứng xử SP, KNgiải quyết các tình huống SP Theo tác giả, những KN này được rèn luyện qua các hoạtđộng như xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ, tổ chức các hoạt động CS-GD trẻ,xây dựng môi trường GD phù hợp với trẻ, quan sát, đánh giá hoạt động của trẻ, hoạtđộng SP của bản thân và bạn, hoạt động nghiên cứu khoa học…

Tác giả Trịnh Thị Minh Loan cũng đã nêu ra hệ thống KNSP cần phải hìnhthành cho SV khoa GDMN đáp ứng yêu cầu đổi mới của thực tiễn GDMN hiện nay,bao gồm: KN lập KH chăm sóc-giáo dục trẻ; KN chăm sóc-nuôi dưỡng-bảo vệ trẻ; KN

GD trẻ; KN phát triển khả năng giao tiếp xã hội cho trẻ; KN quan sát, đánh giá, điềuchỉnh hành vi và sự phát triển của trẻ; KN thiết lập môi trường học tập phù hợp chotrẻ; KN giao tiếp, ứng xử sư phạm; KN phối hợp giữa nhà trường-gia đình và cộngđồng trong việc thực hiện chương trình chăm sóc-GD trẻ và KN sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu đơn giản [28]

Theo tác giả Hồ Lam Hồng, KNNN của giáo viên là khả năng giáo viên vậndụng kiến thức có được để thực hiện hành động dạy học và giáo dục có kết quả vớichất lượng cần thiết trong điều kiện cụ thể Kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầmnon không chỉ là khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình dạy học và giáo dục toàndiện, mà còn là khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng vàbảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của trẻ KNNN là một thành phần quan trọng tạonên năng lực sư phạm của cá nhân, đảm bảo cho người giáo viên thực hiện nhiệm vụgiảng dạy có hiệu quả trong hoạt động sư phạm Kỹ năng nghề nghiệp luôn gắn vớihoạt động sư phạm của người giáo viên bao gồm cả việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo

Trang 27

vệ an toàn sức khỏe cho trẻ; việc dạy học và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non Do đó,

HĐ dạy học và kỹ năng nghề trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sứckhỏe nhằm đảm bảo cho trẻ phát triển khỏe mạnh về cả tinh thần lẫn thể chất

Trích [24]

Như vậy, theo chúng tôi KNNN của giáo viên mầm non bao gồm:

27

Những kĩ năng nghề nghiệp giáo viên mầm non

Kĩ năng nghề trong hoạt động dạy

học và giáo dục

Kĩ năng nghề trong chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ

Kỹ năng sư phạm trong hoạt động

dạy học là khả năng giáo viên thực

hiện có kết quả hoạt động dạy học

cho trẻ mầm non dựa trên cơ sở

những tri thức, kĩ xảo và kinh

nghiệm dạy học do cá nhân tích lũy

được Đó là các kỹ năng: Lập kế

hoạch giáo dục trẻ; Tổ chức các

hoạt động giáo dục trẻ theo hướng

tích hợp; Tổ chức môi trường giáo

dục phù hợp với điều kiện của

và bảo vệ an toàn, giáo dục Kỹ năng

tự phục vụ cho trẻ dựa trên cơ sở tri thức, kĩ xảo và kinh nghiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ do cá nhân tích lũy được Đó là các Kỹ năng: lập kế hoạch chăm sóc trẻ, phối hợp với gia đình để thực hiện mục tiêu chăm sóc trẻ; Tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; Kỹ năng quản lý lớp học; Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ

Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ

Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ

Theo năm học, tháng, tuần, ngày theo hướng tích hợp

Lập KH phối hợp với cha mẹ trẻ

Tổ chức thực hiện các HĐ chăm sóc sức khỏe cho trẻ

Tổ chức thực hiện các HĐ chăm sóc sức khỏe cho trẻ

Tổ chức môi trường nhóm, lớp

Tổ chức giấc ngủ, bữa ăn Hướng dẫn trẻ rèn luyện một số KN

tự phục vụ Biết phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp.

Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ

Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ

Tổ chức các HĐGD theo hướng tích hợp, phù hợp điều kiện nhóm, lớp.

Tổ chức môi trường HĐGD phù hợp điều kiện nhóm, lớp.

Sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các HĐGD cho trẻ

Biết quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp GD trẻ phù hợp

Quản lý và sử dụng có hiệu quả hồ sơ,

sổ sách cá nhân, nhóm, lớp Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc, giáo dục

Giao tiếp, ứng

xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng

Giao tiếp, ứng

xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng

Giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm

Giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mở, thẳng thắn;

Gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ

Trang 28

Sơ đồ 1.1 Hệ thống các KNNN giáo viên mầm non Qua việc phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: Kỹ năng nghề nghiệp giáo viên mầm non là khả năng giáo viên vận dụng kiến thức, kinh nghiệm có được để thực hiện hành động chăm sóc – giáo dục trẻ có kết quả với chất lượng cần thiết trong điều kiện cụ thể

1.3 Quá trình bồi dưỡng KNNN cho sinh viên CĐSPMN thông qua bộ môn “PP TCHÐTH”.

1.3.1 Việc bồi dưỡng KNNN cho sinh viên CÐSPMN qua các bộ môn phương pháp khác.

Trong quá trình đào tạo, việc bồi dưỡng KNNN cho SV cần phải tiến hành quacác bộ môn khác nhau, đặc biệt là các bộ môn bắt buộc thuộc khối kiến thức giáo dụcchuyên ngành Ngoài những vấn đề chung, mỗi môn lại giúp SV lĩnh hội những nộidung riêng

* Học phần “Toán và phương pháp cho trẻ làm quen với toán”:

KNNNGiáo

viên mầm

non

Trang 29

- SV nắm được một số khái niệm toán cơ bản: tập hợp, ánh xạ, số tự nhiên,phép đếm, hệ đếm và nắm vững các biểu tượng của khái niệm đó

- Nắm được nội dung, yêu cầu, phương pháp, hình thức “hình thành các biểutượng sơ đẳng về toán”

- Có kỹ năng tổ chức và hướng dẫn việc hình thành các biểu tượng sơ đẳng vềtoán cho trẻ ở các độ tuổi trong các giờ học và trong các hoạt động khác

+ Học phần “Âm nhạc và phương pháp giáo dục âm nhạc cho trẻ em”

- Nắm được một số kiến thức cơ bản ban đầu về âm nhạc và đọc được nhữngbản nhạc đơn giản (trong chương trình nhà trẻ - mẫu giáo)

- Nắm vững được các bài hát quy định trong chương trình

- Nắm được phương pháp giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non và có kỹ năngthực hành phổ thông, tổ chức thực hiện các hình thức giáo dục âm nhạc ở trường mầmnon, đặc biệt là các tiết học ở các độ tuổi khác nhau

+ Học phần “Phương pháp phát triển ngôn ngữ”.

- Nắm được hệ thống tri thức cơ bản về phương pháp phát triển lời nói cho trẻ

- Dạy được phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ em trong chương trình chăm sóc

và giáo dục trẻ mầm non

- Vận dụng những tri thức của bộ môn vào việc rèn luyện bản than nói TiếngViệt đúng và hay

+ Học phần “Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”

Sinh viên nắm vững các phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ làm quen vớitác phẩm văn học và biết vận dụng lý thuyết về phương pháp vào các công việc sau:

- Đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ nghe

- Biết sử dụng linh hoạt các đồ dùng giảng dạy

- Biết phối hợp sáng tạo các phương pháp, các hình thức đem văn học đến vớitrẻ

- Biết lựa chọn các hình thức tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn họcphù hợp với độ tuổi, với loại bài viết, loại tiết

+ Học phần “Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em”

- Nắm được một số tri thức cơ bản về thể chất: hệ thống các bài tập phát triển

Trang 30

chung (nhóm cơ và hệ hô hấp), các vận động cơ bản (đi, chạy, thăng bằng, ném,chuyền, bò, trườn, trèo, …), trò chơi vận động, bài tập đội hình đội ngũ, các cử độngbàn tay, ngón tay, ….

- Vận dụng những tri thức đã học vào việc tổ chức giáo dục thể chất cho trẻmầm non và rèn luyện bản thân

- Hình thành các kỹ năng thực hành tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

+ Học phần “Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh”

- Nắm được hệ thống các kiến thức về phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen vớimôi trường xung quanh: hướng dẫn trẻ khám phá môi trường tự nhiên, môi trường xãhội, nắm được các đặc điểm về các con vật, con người, đồ vật, hiện tượng gần gũibằng các giác quan, khả năng phán đoán, …

- Biết tổ chức và hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh theochương trình giáo dục mầm non hiện hành

- Có tình cảm gắn bó và thái độ tích cực đối với môi trường xung quanh

Mỗi học phần đều có mục đích, yêu cầu cần đạt phù hợp với đặc điểm môn học.Giống như các học phần trên, “PP TCHÐTH” có những đặc thù riêng

1.3.2 Đặc điểm của môn học “PP TCHÐTH” cho trẻ mầm non

HÐTH ở trường mầm non cũng được xem là hoạt động nghệ thuật, tạo điềukiện để phát triển nhân cách trẻ nói chung và tính sáng tạo nói riêng, đồng thời pháttriển khả năng cảm nhận nghệ thuât và thẩm mỹ trong cuộc sống thông qua ngôn ngữtạo hình, đường nét, hình dạng, màu sắc, bố cục

Là một trong những hoạt động được trẻ rất yêu thích, tuy nhiên HÐTH của trẻchưa phải là hoạt động sáng tạo nghệ thuật thực thụ Quá trình hoạt động và sản phẩmHÐTH của trẻ thể hiện một nhân cách đang hình thành, HÐTH của trẻ không nhằm tạo

ra những vật phẩm phục vụ xã hội, cải tạo thế giới hiện thực xung quanh, mục đích vàkết quả của hoạt động này nhằm biến đổi, phát triển chính bản thân chủ thể hoạt động.Mỗi quan tâm của trẻ chính là người xem hiểu được những suy nghĩ, thái độ, tình cảm

mà trẻ miêu tả chứ không phải là sự đánh giá về thẩm mỹ, do đó trẻ hài lòng vớinhững hình vẽ sơ đồ mang tính khái quát Để phát triển tính độc lập, năng lực sáng tạo

và phát triển khả năng cảm nhận thẩm mỹ của trẻ, giáo viên cần giải quyết tốt nhiệm

vụ hình thành và phát triển động cơ tạo hình, các biểu tượng tạo hình, khả năng tạohình của trẻ nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ lứa tuổi mầm non Chính vì

Trang 31

vậy, mỗi giáo viên mầm non nói chung và SV ngành SPMN nói riêng cần được trang

bị những kiến thức cơ bản về HÐTH, khả năng cảm nhận thẩm mỹ và khả năng tạohình như: vẽ, nặn, cắt xé dán, gấp giấy, đồng thời, mỗi giáo viên cần phải nắm đượcđặc điểm tâm sinh lí và khả năng tạo hình của trẻ ở từng giai đoạn tuổi, đặc biệt để vậndụng được những hiểu biết đó, ngoài việc SV phải nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt, traudồi kiến thức thì SV, cũng như GVMN còn phải trau dồi kỹ năng nghề nghiệp của bảnthân để có thể tổ chức HÐTH cho trẻ đạt được hiệu quả cao nhất

PP TCHÐTH cho trẻ mầm non là một trong những môn học trong chương trìnhđào tạo SV ngành SPMN Là môn học cung cấp cho SV những kiến thức, kỹ năng về

PP TCHÐTH cho trẻ MN, giúp SV tiếp cận với nhiệm vụ của chương trình tổ chức vàhướng dẫn HÐTH Có kỹ năng phân tích và lựa chọn các kiến thức thu nhận từ tài liệu

để lập kế hoạch dạy tạo hình phù hợp với trẻ, biết thiết kế môi trường tạo hình cho trẻtại trường, biết lựa chọn nguyên vật liệu khác nhau để tạo thành những đồ dùng, đồchơi phục vụ cho môn học và lôi cuốn sự chú ý của trẻ Ngoài ra, môn học còn bồidưỡng cho SV lòng say mê, yêu thích HÐTH của trẻ, áp dụng những phương pháp mớinhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ thông qua tạo hình cho trẻ mầm non

1.3.3 Mục đích và nhiệm vụ của môn “PP TCHÐTH”.

- Trang bị cho SV nắm vững kiến thức chung của cả môn học, giúp SV nắmvững cơ sở lí luận về phương pháp “PP TCHÐTH” một cách khoa học, có hệ thống,phù hợp với từng lứa tuổi trẻ và thực tiễn GDMN hiện nay

- Hình thành và rèn luyện cho SV các kỹ năng vẽ; nặn; xé, cắt dán; hệ thống các

KN tổ chức HĐTH ở trường MN như: KN lập kế hoạch, KN tổ chức và KN chuẩn bị

đồ dùng đồ chơi, KN xây dựng môi trường HĐTH, KN tổ chức HÐTH cho trẻ, …

- Bước đầu trang bị cho SV phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá thựctiễn tổ chức HĐTH ở trường MN hiện nay

- Rèn luyện cho SV sự tự tin, mạnh dạn và khả năng diễn đạt trước đám đông,biết lập luận và biết bảo vệ ý kiến của mình, biết hợp tác, chia sẻ, phân công công việc

và hoàn thành nhiệm vụ khi làm việc cùng với bạn

Có thể thấy rằng những mục tiêu mà bộ môn “PP TCHĐTH” hướng tới, vềphần chung nó góp phần củng cố, giúp SV nắm vững lý luận và cách thức lập kếhoạch, cách tổ chức một hoạt động giáo dục ở trường mầm non như những môn họckhác Bên cạnh đó, về phần riêng những mục tiêu về rèn luyện các KN vẽ, nặn, xé, cắt

Trang 32

dán; KN chuẩn bị đồ dùng đồ chơi, KN xây dựng môi trường hoạt động, những mụctiêu đặc thù của “PP TCHĐTH” sẽ góp phần giúp SV có thể vận dụng trong các khâuchuẩn bị đồ dùng đồ chơi, xây dựng môi trường hoạt động cho các hoạt động giáo dụckhác thuộc các bộ môn phương pháp khác tốt hơn, đạt hiệu qủa cao hơn

Như vậy để học tốt bộ môn PP TCHÐTH cho trẻ mầm non, SV cần nắm đượcnội dung kiến thức phần lý luận chung về HÐTH cho trẻ mầm non Ngoài ra các emcần phải có kỹ năng thực hành tốt về các hoạt động vẽ, nặn, khả năng ngôn ngữ lưuloát và diễn cảm thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu thực hành môn học PPTCHÐTH và thực hiện hoạt động thực hành đạt kết quả tốt

1.3.4 Một số yêu cầu về việc dạy – học bộ môn “PP TCHÐTH”

Hiệu quả của quá trình dạy học chính là sự thống nhất biện chứng giữa hoạtđộng dạy và hoạt động học Đó là, GV đặt ra nhiệm vụ, yêu cầu nhận thức – đưa sinhviên vào tình huống có vấn đề, sinh viên tự đưa ra nhiệm vụ học tập cho mình; sinhviên ý thức đuợc nhiệm vụ, có nhu cầu và giải quyết nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo củagiáo viên, gáo viên thu các tín hiệu từ sinh viên để giúp cho họ điều chỉnh hoạt độnghọc, đồng thời điều chỉnh hoạt động dạy ủa mình, sinh viên cũng thu tín hiệu ngược để

tự phát hiện, đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động cả mình, giáo viên và sinh viên cùngđưa ra yêu cầu mới giúp sinh viên hoan thành nhiệm vụ học tập Từ đó giáo viên phântích đánh giá kết quả học tập của sinh viên và dạy học của mình

Quá trình dạy – học bộ môn này bao gồm các thành tố như: mục tiêu, nội dung,phương pháp dạy học, … cụ thể là:

* Yêu cầu về mục tiêu của môn học

- Trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức cơ bản của cơ sở lý luận về PPTCHÐTH ở trường MN

- Hình thành và rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng kỹ năng tổ chức các HÐTHcho trẻ ở trường MN như: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đánh giá hiệu quả quá trìnhhoạt động

- Thông qua kiến thức, kỹ năng của môn học hình thành tình cảm thẩm mỹ vàlòng mong muốn vận dụng những hiểu biết về môn học vào công tác CS-GD trẻ MNnói chung và tổ chức HÐTH cho trẻ MN nói riêng

* Yêu cầu vê nội dung chương trình môn học

Trang 33

Phần PP TCHÐTH gồm những kiến thức hiểu biết chung về HÐTH ở trường

MN, các phương pháp, hình thức tổ chức HÐTH ở trường MN và theo dõi, đánh giáHÐTH của trẻ ở trường MN

Trên cơ sở mục tiêu và nội dung của chương trình bộ môn “PP TCHÐTH”, yêucầu cụ thể đặt ra cho sinh viên đối với môn học là:

- Sinh viên nắm được yêu cầu, nội dung của môn học “PP TCHÐTH"

- Sinh viên nắm được các kiến thức, kỹ năng tạo hình cơ bản và phương pháp,hình thức, phương tiện hướng dẫn trẻ HÐTH

- Sinh viên có kỹ năng thiết kế giáo án và chuẩn bị đồ dùng đồ chơi, xây dựngmôi trường thẩm mỹ và tổ chức các HÐTH cho trẻ trong môi trường đó

- Sinh viên có ý thức trách nhiệm trong việc lĩnh hội, hình thành các tri thức vàtình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ qua môn học

* Yêu cầu về các phương pháp và biện pháp dạy học bộ môn “PP TCHÐTH” của sinh viên sư phạm

Trong hệ thống lý luận phương pháp dạy học, tùy theo mục tiêu, nội dung,phương tiện, đặc điểm nhận thức của người học, giáo viên có thể phân thành nhómcác phương pháp dạy học Trong dạy học bộ môn “PP TCHÐTH”, với những mụcđích khác nhau giáo viên có thể phân thành các nhóm phương pháp sau:

- Nhóm phương pháp cung cấp kiến thức và hình thành thái độ cho sinh viên.+ Phương pháp thuyết trình

+ Phương pháp vấn đáp, đàm thoại

+ Phương pháp sử dụng sách, tài liệu, băng ghi âm ghi hình

Kết hợp với phương pháp sử dụng các phương tiện hiện đại, tham quan thực

tế, Nhóm phương pháp này giúp sinh viên nắm vững cơ sở lý luận bộ môn, tiếp thunhững tri thức, kỹ năng và thái độ về nghiệp vụ sư phạm một cách có hệ thống Đồngthời nhóm phương pháp này có ý nghĩa làm tích cực hóa việc học tập của sinh viênnhư tích cực tìm tòi, thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm chiếm lĩnh kiến thức cơ sở lýluận của bộ môn để giải quyết những yêu cầu đặt ra dưới sự định hướng của giáo viên

sư phạm

- Nhóm phương pháp hình thành kỹ năng tạo hình và nghiệp vụ sư phạm

cho sinh viên gồm:

+ Phương pháp trình bày trực quan

Trang 34

- Nhóm phương pháp giúp sinh viên phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạotrong học tập bộ môn như:

+ Phương pháp tạo tình huống có vấn đề

+ Phương pháp tổ chức thảo luận (nhóm, lớp)

+ Phương pháp tự học, tự nghiên cứu

+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá,

Đặc thù của môn học “PP TCHÐTH” rất cần người học có “năng khiếu”, songkhông phải sinh viên nào cũng thuận lợi và hứng thú học tập bộ môn, cho nên việc sửdụng các phương pháp thâm nhập thực tế, thực hành thường xuyên, tạo tình huống cóvấn đề, tổ chức thảo luận, tự học, tự nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá sẽ giúp cho sinhviên phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong hoạt động nhận thức, được thường xuyên rèn luyện khả năng tạo hình của SV sẽ được nâng lên

Như vậy, trong các phương pháp, biện pháp, không có phương pháp, biện pháp nào là vạn năng mà đối với từng mục tiêu, nội dung cụ thể, đặc điểm nhận thứccủa sinh viên, phương tiện và thời lượng môn học, năng lực sư phạm của giảng

Trang 35

viên, để lựa chọn phương pháp phù hợp, kết hợp các biện pháp, phương tiện mộtcách đa dạng để phát huy tính chủ động tích cực học tập của SV, thông qua đó SV lĩnhhội được kiến thức kỹ năng cơ bản, bổ sung của chuyên môn và nghiệp vụ nhằm nângcao chất lượng học tập và rèn luyện nghề.

1.3.5 Đặc điểm khả năng học tập bộ môn “PP TCHÐTH” của SV sư phạm mầm non

Do tính chất “tích hơp” của GDMN, đòi hỏi SV có tri thức, kỹ năng kỹ xảo ởcác lĩnh vực tự nhiên, xã hội, nghệ thuật, có khả năng hệ thống hóa, khái quát hóa trithức, vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn, Môn học “PP TCHÐTH” với nhiệm vụgiáo dục thẩm mỹ, giáo dục nghệ thuật tạo hình, đồng thời hình thành các kỹ năng tổchức HÐTH của trẻ ở trường MN cho SV SV có định hướng nghề nghiệp và học tập

có mục đích rõ ràng, do đó khả năng học tập bộ môn này của giáo sinh có đặc điểm cơbản sau:

độ vì trong quá trinh học tập và rèn luyện tại trường chuyên nghiệp sinh viên có nhữngbiến đổi mạnh mẽ và quan trọng về chất trong nhân cách của họ

Hoạt động của tuổi thanh niên trong nhà trường phức tạp hơn so với lứa tuổithiếu niên Nội dung học tập phong phú, tính trừu tượng và hệ thống cao hơn bậc họcphổ thông Nội dung học tập này không chỉ trang bị tri thức khoa học hoàn chỉnh, sâusắc mà còn hình "thành thế giới quan, nhân sinh quan cho các em Nhiệm vụ học tậpnặng nề, căng thẳng hơn, phương pháp giảng dạy, hình thức dạy học của giáo viênkhác với nhà trường trung học Do vậy, đòi hỏi các em phải cố sự nỗ lực tích cực vậndụng tri thức và sáng tạo hơn nhiều Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa ở nhà trườngcũng rất rộng rãi, mang tính chính trị, xã hội nhiều hơn có ảnh hưởng lớn đến sự pháttriển nhân cách của các em Hoạt động giao tiếp cũng được mở rộng và có tính xã hộicao Các em có khả năng và có uy tín tham gia như công tác xã hội, được xã hội thừanhận và đánh giá cao Sìa WW

Trang 36

Do những đặc điểm về thể chất, ảnh hưởng cùa hoạt động và hoạt động học tập

mà hoạt động tâm lý nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng có những thay đổiquan trọng Ở tuổi thanh niên tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trìnhnhận thức Tri giác có mục đích đạt tới mức cao Quan sát trở nên có tính hệ thống vàtoàn diện Quá trỉnh quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tin hiệu thứ hai nhiều hơn

và không thể tách khỏi tư duy ngôn ngữ.

Ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em biết sửdụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh đối chiếu, Các em có khảnăng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo những đối tượng đã đượchọc Tư duy chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn ngôn ngữ nghệ thuật đồng thờitính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo cho thanh niên thựchiện các thao tác tư duy phức tạp để nắm được các mối liên hệ nhân quả trong tự nhiên

vả xã hội Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan Sự hình thành thế giới quan là nétchủ yếu trong sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên Sự phát triển của hứng thú

nhận thức đối với những vấn đề chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự

nhiên - xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người là chỉ số đầu tiên của sự hình thành thếgiới quan Chỉ sổ thứ hai được thể hiện ở phạm vi nội dung SV quan tâm hơn đến cácvẩn đề có liên quan đến con người, vai trò của con người, quan hệ của con người với xãhội

Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách.Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là sự tự nhận thức của họ xuấtphát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, do địa vị mới mẻ của họ trong gia đình vả

xã hội Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cáitôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong tương lai

Tóm lại: Quá trình nhận thức của sinh viên là quá trình nhận thức có tính chấtnghiên cứu, cao hơn nhận thức của học sinh phổ thông và tiếp cận với nhận thức củacác nhà khoa học Chính vì vậy, dạy học ở Đại học, Cao đẳng là phải phát huy đượctính tích cực nhận thức của sinh viên khi đó chất lượng đào tạo mới đạt hiệu quả

1.3.5.2 Đặc thù của SV khoa GDMN

GDMN là một ngành học mang tính đặc thù cao, đòi hỏi SV phải có kiến thức

tự nhiên, xã hội và nghệ thuật, Vì thế, đối với SV khoa GDMN ngoài kiến thức tựnhiên, xã hội, nghệ thuật thì còn phải có khả năng tư duy lôgic tốt nhằm hệ thống hóa,

Trang 37

khái quát hóa tri thức, có khả năng tạo mối liên hệ giữa các nội dung tri thức đã họccúng như kiến thức thực tế Bên cạnh đó, để tổ chức tốt các hoạt động giáo dục nóichung, tổ chức HÐTH cho trẻ nói riêng, SV còn phải có khả năng vận dụng lý uận vàothực tiễn, phải biết lập kế hoạch, triển khai kế hoạch và đánh giá kết quả, Chính vìvậy, khi giảng dạy, giảng viên cần phải nắm rõ đặc điểm, nhu cầu của SV để giúp SV

tự nhận thưc được những khó khăn mà mình mắc phải, phát huy những lợi thế màmình có được, giúp SV tích cực hoạt động để hình thành những KNSP cần thiết chonghề nghiệp sau này

1.3.5.3 Mục đích, động cơ học tập của SV SPMN

Mục đích, động cơ học tập của SV thể hiện ở thái độ học tập có ý thức, tính chủđịnh nhận thức nói chung và nhận thức thẩm mỹ nói riêng bộc lộ rõ rệt trong quá trìnhhọc tập bộ môn

Khả năng tri giác thẩm mỹ có mục đích đạt tới mức cao Việc quan sát các đốitượng thẩm mỹ trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Sự tri giác thẩm mỹbao giờ cũng liên quan chặt chẽ với xúc cảm và tình cảm thẩm mỹ Xúc cảm, tình cảmthẩm mỹ phong phú, ổn định theo sự lựa chọn đối tượng tri giác

Khả năng ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồngthời vai trò của ghi nhớ lôgic trừu tượng, biết sử dụng các phương pháp ghi nhớ, tạođược tâm thế phân loại trong ghi nhớ,

Khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trongnhững đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học Tư duy chặt chẽ va cócăn cứ nhất quán

Có thể nói các yếu tố tâm lý tham gia trong quá trình nhận thức thẩm mỹ pháttriển theo định hướng của nghề nghiệp, năng lực tiềm tàng của cá nhân Cho nên, SVSPMN có khả năng tri giác cái đẹp một cách chủ động có mục đích dưới sự hướng dẫncủa giảng viên sư phạm

Các yếu tố thẩm mỹ trong môi trường sống và học tập ở gia đình, địa phươngcũng tác động không nhỏ đến khả năng nhận thức thẩm mỹ của SV Cho nên mỗi SVkhả năng cảm thụ cái đẹp, hiểu biết và đánh giá cái đẹp có sự khác nhau, khả năng tạohình cũng có sự khác nhau

1.3.5.4 Đặc điểm khả năng tạo hình của SV

Trang 38

Vốn tri thức và kỹ năng kỹ xảo về nghệ thuật tạo hình được hình thành từnhững cấp học phổ thông, là cơ sở để lĩnh hội tri thức, kỹ năng mới ở trường SP.Trong học tập bộ môn “PP TCHÐTH” SV có năng lực tạo hình được xem là yếu tốthuận lợi nhất để lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, thực hiện các bài tập tạo hình trongchương trình môn học; có khả năng vận dụng kiến thức kỹ năng cơ bản làm đồ dùng,

đồ chơi môt cách sáng tạo; có khả năng sắp xếp trang trí phòng, lớp học tạo môitrường thẩm mỹ, có khả năng trang trí cho các ngày hội, ngày lễ của trẻ ở trường

MN, Sản phẩm tạo hình của SV đẹp có ý nghĩa đối với trẻ MN

SV SP tích lũy tương đối phong phú các biểu tượng về thế giới đồ vật, con vật,con người, … Song ở nhiều SV khả năng sử dụng các phương tiện truyền cảm thể hiệntrong sản phẩm tạo hình lại khó khăn Điều đó dễ thấy ở hình ảnh các hình tượng trongsản phẩm tạo hình không đẹp, phong cách rụt rè thiếu tự tin, khả năng tưởng tượngsáng tạo hạn chế, nên sản phẩm tạo ra thường theo khuôn mẫu SV chưa chủ động, linhhoạt tìm tòi và vận dụng kiến thức thực tiễn vào giải quyết nhiệm vụ học tập

SV có khả năng liên kết giữa kiến thức học phần “tạo hình” và “PP TCHÐTH”

để giải quyết nhiệm vụ học tập và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, có khả năng vận dụng

lý luận vào thực tiễn giáo dục trẻ ở trường MN, có khả năng lập kế hoạch, triển khai kếhoạch và đánh giá kết quả hoạt động, …

1.3.6 Bồi dưỡng KNNN cho SV khoa GDMN thông qua bộ môn “PP TCHÐTH”.

Để hình thành và bồi dưỡng KNSP cho sinh viên, giảng viên ngoài việc trang

bị cho họ những hệ thống kiến thức về phương pháp tổ chức HÐTH còn phải rèn luyệncho SV hệ thống các KNNN cần thiết để tiến hành tổ chức các HÐTH cho trẻ trên thựctiễn GDMN

Khi SV đã tiếp thu được hệ thống kiến thức về “PP TCHÐTH”, họ phải biếnnhững tri thức đó thành năng lực thực tiễn ngay từ khi còn ở trong trường sư phạmbằng cách thông qua những hoạt động cho trẻ HÐTH, tập dạy tại phòng thực hành, tậpdạy tại trường mầm non … Những hoạt động thực tiễn này cũng chính là con đường

để nâng cao chất lượng lĩnh hội các kiến thức về “PP TCHÐTH”, rèn luyện cho SVkhả năng ứng dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn

Thông qua các hoạt động luyện tập tạo điều kiện cho SV gắn lý luận với thựctiễn, làm cho việc nắm những kiến thức về PP TCHÐTH ngày càng vững chắc hơn

Trang 39

Trên cơ sở các nghiên cứu về KN, KNSP có liên quan đến môn học “PPTCHÐTH”, chúng tôi xác định hệ thống các KNSP cần hình thành cho SV thông quamôn học này gồm hai nhóm như sau:

Trong quá trình giảng dạy bộ môn “PP TCHÐTH”, KN định hướng chủ yếuđược hình thành qua quá trình sinh viên tham gia tích cực vào giờ thuyết trình đặt vàgiải quyết vấn đề Đứng trước vấn đề mà giảng viên đưa ra, SV phải tích cực tìm hiểu,suy nghĩ để phát hiện vấn đề, sau đó đưa ra những định hướng, giải pháp, phươnghướng cụt hể để giải quyết vấn đề Quá trình này được lặp lại nhiều lần trong suốt quátrình học bộ môn sẽ tạo cơ hội cho SV hình thành định hướng

Kỹ năng giao tiếp

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của lao động sư phạm trong suốtquá trình lao động, luôn luôn có sự tương tác giữa con người với con người Đối tượnglao động của GVMN chính là trẻ MN Ở lứa tuổi này, trẻ còn rất non nớt, nhạy cảm;xúc cảm, tình cảm chiếm ưu thế ngôn ngữ chưa phát triển… đòi hỏi toàn bộ nhữnghoạt động sư phạm của GVMN phải làm sao để trẻ cảm nhận được nguồn hạnh phúc,thấy mình được chấp nhận, được an toàn, được thương yêu, và là thành viên của “cộngđồng” mà mình đang hòa nhập

Hoạt động lao động sư phạm của nghề nghiệp đòi hỏi GVMN phải luôn giaotiếp, ứng xử nhẹ nhàng, nhân ái, luôn quan tâm thương yêu cà giáo dục trẻ bằng tình

Trang 40

cảm Qua giao tiếp với trẻ, bằng nhân cách của mình, GVMN sẽ tác động tích cực lên

sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ như nhà giáo dục học vĩ đại A

X Macarenco đã từng nói: “chỉ có nhân cách mới giáo dục được nhân cách” Như vậy,yêu cầu của nghề đòi hỏi, GVMN cần phải có kỹ năng giao tiếp

Nắm vững KN giao tiếp, SV khoa GDMN không những có được KN nghềnghiệp cần thiết của GVMN, mà còn chủ động, tự tin và nâng cao kỹ năng giao tiếpthuyết phục

Trong quá trình giảng dạy bộ môn “PP PP TCHÐTH”, KN giao tiếp được hìnhthành chủ yếu qua hoạt động nhóm Ngoài ra, KN giao tiếp còn được hình thành quagiờ thuyết trình đặt và giải quyết vấn đề của giảng viên và cả qua việc SV trình bàynhững nghiên cứu tài liệu, hoặc khi nhận xét, đánh giá việc tổ chức HĐTH trên thựctiễn GCMN…

KN nhận thức

KN nhận thức là cách thức tiếp thu, xử lý thông tin một cách hiệu quả của conngười trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục đích nào đó Bên cạnh đó, mộttrong những nhiệm vụ khi cho trẻ HĐTH ở trường mầm non chính là hình thành KNnhận thức cho trẻ Vì vậy, nếu trong quá trình học tập bộ môn, nếu GVMN tương laiđược hình thành những KN nhận thức như quan sát, so sánh, phân loại, suy luận, dựđoán… thì không những cần thiết cho SV lĩnh hội cơ sở lý luận của bộ môn trong lúchọc tại trường SPMN, mà sau này, khi trực tiếp dạy trẻ, SV có thể thực hiện tốt nhiệm

vụ hình thành KN nhận thức cho trẻ thông qua tổ chức HĐTH Chính vì thế, SVSPMN cần phải có KN nhận thức

Trong quá trình giảng dạy bộ môn “PP TCHÐTH”, KN nhận thức chủ yếu củađược hình thành qua hoạt động tự nghiên cứu tài liệu của SV Bên cạnh đó, KN nàycòn được hình thành trong quá trình SV tham gia tích cực vào giờ thuyết trình nêu vấn

đề, trong giờ hoạt động nhóm…

Nhóm 2: Nhóm các KNSP chuyên biệt

Đây là nhóm các KN nghiệp vụ sư phạm mang đặc trưng của môn học “PPTCHÐTH” Nhóm các KNSP chuyên biệt bao gồm:

KN lập kế hoạch tổ chức HÐTH cho trẻ mầm non

Lập kế hoạch tổ chức HÐTH cho trẻ mầm non là một việc vô cùng quan trọng.Căn cứ vào đặc điểm của lứa tuổi, khả năng nhận thức của trẻ, kinh nghiệm sống, nhu

Ngày đăng: 07/09/2016, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An, Hệ thống các kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn luyện hệ thống đó cho SV khoa tâm lý – giáo dục, Luận án Phó tiến sỹ - ĐHSP1HN, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học vàquy trình rèn luyện hệ thống đó cho SV khoa tâm lý – giáo dục
2. Nguyễn Thị Vân Anh, Nhận thức về hoạt động RLNVSP của SV trường CĐSP Nha Trang, Luận văn thạc sĩ TLH, ĐHSPHN, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về hoạt động RLNVSP của SV trường CĐSP NhaTrang
3. O.A.Ap đulinna, Về kỹ năng nghề nghiệp(trong những vấn đề đào tạo về giáo dục học đại cương cho giáo viên tương lai”, Matxacova (Bản dịch viết tay của Đinh Loan Luyến – Lê Khánh Bằng. Tổ tư liệu – Thư viện ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về kỹ năng nghề nghiệp(trong những vấn đề đào tạo về giáo dục họcđại cương cho giáo viên tương lai”
4. Đào Thanh Âm (chủ biên) – Trịnh Dân – Nguyễn Thị Hòa – Đinh VănVang – Giáo dục học mầm non – NXB ĐHQGHN 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáodục học mầm non –
Nhà XB: NXB ĐHQGHN 2002
5. Lê Khánh Bằng, Lý luận dạy học, Tài liệu dùng cho sinh viên khoa TL-GD, Luận án PTS KHSP tâm lý, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
6. Lê Thanh Bình, Giáo trình PP hướng dẫn HÐTH cho trẻ mầm non, NXBGD, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình PP hướng dẫn HÐTH cho trẻ mầm non, NXBGD
Nhà XB: NXBGD
7. Bộ GD – ĐT – Vụ GDMN – Viện nghiên cứu phát triển giáo dục – Chiến lược giáo dục mầm non từ nay đến năm 2020, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giáodục mầm non từ nay đến năm 2020
9. Core competencies for early care and education professionals, Ban giáo dục sớm (DEL) của Tiểu Bang Washington - Hoa Kỳ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Core competencies for early care and education professionals
10. Ưng Thị Châu, Nguyễn Lăng Bình, Lê Đức Hiền, Tạo hình và phương pháp hướng dẫn hoạt động tạo hình cho trẻ, NXBGD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo hình và phương pháp hướngdẫn hoạt động tạo hình cho trẻ, NXBGD
Nhà XB: NXBGD
12. Ph.N.Gônôbônin, Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên, NXBGD, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên
Nhà XB: NXBGD
13. Nguyễn Thị Mai Chi, Đồ chơi và trò chơi trẻ em dưới 6 tuổi, NXBGD, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ chơi và trò chơi trẻ em dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXBGD
14. Phạm Mai Chi và Phùng Thị Tường, Hướng dẫn làm đồ chơi cho trẻ, NXB ĐHSP 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn làm đồ chơi cho trẻ
Nhà XB: NXB ĐHSP2009
15. V.A.Cruchetxki, Những cơ sở của tâm lý học sư phạm tập 2, NXB GD Hà Nội,1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của tâm lý học sư phạm tập 2
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
17. Trần Thị Ngọc Chúc, Biện pháp tổ chức việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên hệ trung học sư phạm mầm non 12+2, Luận án tiến sĩ GDH, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp tổ chức việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viênhệ trung học sư phạm mầm non 12+2
19. Phạm Thị Việt Hà, Hướng dẫn làm đồ chơi bằng vật liệu dễ tìm, NXBGD VN, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn làm đồ chơi bằng vật liệu dễ tìm
Nhà XB: NXBGD VN
20. Phạm Thị Việt Hà, Hướng dẫn tạo hình bằng vật liệu thiên nhiên, NXBGDVN, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tạo hình bằng vật liệu thiên nhiên
Nhà XB: NXBGDVN
21. Đỗ Chiêu Hạnh, Một số biện pháp hình thành kỹ năng nghề nghiệpcho sinh viên khoa GDMN trong quá trình giảng dạy bộ môn “PP cho trẻ LQ với MTXQ”, Luận văn thạc sĩ KHGD, ĐHSPHN, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp hình thành kỹ năng nghề nghiệpcho sinh viên khoaGDMN trong quá trình giảng dạy bộ môn “PP cho trẻ LQ với MTXQ”
22. Đặng Vũ Hoạt (CB)-Hà Thị Đức, Lí luận dạy học đại học, NXB ĐHSP, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học đại học
Nhà XB: NXB ĐHSP
23. Nguyễn Văn Hộ, trong “Thích ứng sư phạm”, NXBGD, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thích ứng sư phạm”
Nhà XB: NXBGD
24. Hồ Lam Hồng, Giáo trình nghề giáo viên mầm non, (dành cho hệ cao đẳng Sư phạm mầm non), NXBGD, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghề giáo viên mầm non, (
Nhà XB: NXBGD

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2. Hệ thống KNSP cần bồi dưỡng cho SV thông qua bộ môn “PP TCHĐTH” - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Sơ đồ 1.2. Hệ thống KNSP cần bồi dưỡng cho SV thông qua bộ môn “PP TCHĐTH” (Trang 41)
Bảng  2.1. Thực trạng nhận thức của giảng viên về vai trò của bộ môn “PP TCHĐTH” đối với việc bồi dưỡng KNNN cho SV CĐSP MN - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
ng 2.1. Thực trạng nhận thức của giảng viên về vai trò của bộ môn “PP TCHĐTH” đối với việc bồi dưỡng KNNN cho SV CĐSP MN (Trang 60)
Bảng 2.2. Những kỹ năng cần hình thành và bồi dưỡng thông qua thực hành bộ môn “PP TCHĐTH”. - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 2.2. Những kỹ năng cần hình thành và bồi dưỡng thông qua thực hành bộ môn “PP TCHĐTH” (Trang 61)
Bảng 2.4. Những khuyết điểm SV thường mắc phải trong quá trình tổ chức HĐTH - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 2.4. Những khuyết điểm SV thường mắc phải trong quá trình tổ chức HĐTH (Trang 66)
Bảng 2.5. Ý kiến về nguyên nhân dẫn đến các khuyết điểm TT - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 2.5. Ý kiến về nguyên nhân dẫn đến các khuyết điểm TT (Trang 68)
Bảng 2.8. Nhận thức của SV về tầm quan trọng của bộ môn “PP TCHĐTH” - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 2.8. Nhận thức của SV về tầm quan trọng của bộ môn “PP TCHĐTH” (Trang 76)
Bảng 2.9. Thái độ của SV khi học tập bộ môn “PP TCHĐTH” - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 2.9. Thái độ của SV khi học tập bộ môn “PP TCHĐTH” (Trang 77)
- Nhóm 2: Hình thức trên tiết học, thể loại tạo hình theo đề tài. - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
h óm 2: Hình thức trên tiết học, thể loại tạo hình theo đề tài (Trang 109)
Bảng 3.1. Mức độ hình thành KNNN thông qua thực hành bộ môn ”PP TCHĐTH” - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 3.1. Mức độ hình thành KNNN thông qua thực hành bộ môn ”PP TCHĐTH” (Trang 112)
Bảng 3.3. So sánh kết quả đánh giá KNNN của SV hai lớp ĐC và TN - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 3.3. So sánh kết quả đánh giá KNNN của SV hai lớp ĐC và TN (Trang 117)
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát hiệu quả vận dụng KNNN trên trẻ của hai lớp ĐC và TN trong quá trình thực nghiệm - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát hiệu quả vận dụng KNNN trên trẻ của hai lớp ĐC và TN trong quá trình thực nghiệm (Trang 119)
Bảng 3.6. So sánh mức độ hình thành KNNN của SV lớp ĐC và TN  sau thực nghiệm (bài tập 2) - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 3.6. So sánh mức độ hình thành KNNN của SV lớp ĐC và TN sau thực nghiệm (bài tập 2) (Trang 123)
Bảng 3.7. So sánh hiệu quả vận dụng KNNN trên trẻ của SV hai lớp ĐC và TN sau TN (bài tập 2) tính theo % và theo tiêu chí - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng 3.7. So sánh hiệu quả vận dụng KNNN trên trẻ của SV hai lớp ĐC và TN sau TN (bài tập 2) tính theo % và theo tiêu chí (Trang 125)
Bảng kiểm định một mẫu - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng ki ểm định một mẫu (Trang 131)
Bảng kiểm định trung bình một mẫu cho thấy, giá trị Sig. (2-tailed)=  0.00 nhỏ hơn mức ý nghĩa α (0.05 hoặc 0.01) chứng tỏ có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm số trung bình của nhóm TN trước và sau thực nghiệm - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng ki ểm định trung bình một mẫu cho thấy, giá trị Sig. (2-tailed)= 0.00 nhỏ hơn mức ý nghĩa α (0.05 hoặc 0.01) chứng tỏ có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm số trung bình của nhóm TN trước và sau thực nghiệm (Trang 132)
Bảng kiểm định trung bình một mẫu cho thấy, giá trị Sig (2-tailed) = 0.00 nhỏ hơn mức ý nghĩa   α (0.05 hoặc 0.01), vì thế có thể khẳng định rằng điểm trung bình của trẻ lớp TN và lớp ĐC đã có sự khác biệt có ý nghĩa và kết quả đánh giá hiệu quả vận dụng  - Tổ chức thực hành bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non
Bảng ki ểm định trung bình một mẫu cho thấy, giá trị Sig (2-tailed) = 0.00 nhỏ hơn mức ý nghĩa α (0.05 hoặc 0.01), vì thế có thể khẳng định rằng điểm trung bình của trẻ lớp TN và lớp ĐC đã có sự khác biệt có ý nghĩa và kết quả đánh giá hiệu quả vận dụng (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w