1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955 1964

116 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 694 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955 1964. 3.2. Phạm vi ngiên cứu Luận văn tập trung khai thác vấn đề về mặt nội dung và những đặc sắc về nghệ thuật trong một số tiểu thuyết thuộc giai đoạn văn học 1955 – 1964 như: Mười năm của Tô Hoài (1958), Nxb Hội Nhà văn; Sắp cưới của Vũ Bão (1957), Nxb Hội Nhà văn; Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng Trần Thanh (1958), Nxb Phụ nữ; Vào đời của Hà Minh Tuân (1961 – 1962), Nxb Văn học. Từ đó luận văn chỉ ra được tài năng cũng như sự đóng góp của các tác giả trong một giai đoạn văn học nói riêng và tổng thể nền văn học Việt Nam nói chung. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích Đề tài nghiên cứu nhằm hướng đến việc khẳng định và minh chứng cho giá trị của các tác phẩm nêu trên qua hai bình diện về nội dung và những đặc sắc nghệ thuật. Trên cơ sở đó, chúng tôi đối sánh với các sáng tác trong tổng thể nền văn học 1945 1975 và cả sau 1975 để thấy được giá trị của các tác phẩm trên. Từ đó, luận văn góp phần thay đổi cách nhìn, cách tư duy cho bạn đọc và giới nghiên cứu khi tiếp xúc với các tác phẩm này. 4.2. Nhiệm vụ Từ mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn hướng tới các nhiệm vụ cơ bản sau: Chỉ ra được bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội và vị trí của khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955 1964; Làm sáng rõ khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết nhìn từ góc độ nội dung; Phát hiện những điểm nhấn trong nghệ thuật tiểu thuyết. 5. Phương pháp nghiên cứu Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: 5.1. Phương pháp loại hình Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để làm nổi bật loại hình tiểu thuyết thế sự đời tư cùng với những đặc trưng cơ bản cũng như các đặc điểm riêng của nó. 5.2. Phương pháp thống kê, phân loại Phương pháp này có tác dụng cung cấp những dữ liệu chính xác tạo cơ sở cho những kết luận của luận văn. Trên cơ sở đó, người viết sẽ đi phân tích những dữ liệu tiêu biểu. Cụ thể là những đặc sắc trong cách xây dựng nhân vật, việc sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết đời tư 1955 1964; đồng thời tiến hành phân tích các ý kiến tranh luận trong một bài viết và rộng hơn nữa là những công trình nghiên cứu khoa học. 5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm so sánh đối chiếu một số tiểu thuyết đời tư nêu trên với các tiểu thuyết trong cùng giai đoạn 1945 1975 và sau 1975 để thấy rõ được những giá trị đặc sắc mà các tác phẩm trên mang lại. 5.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp Đây là phương pháp quan trọng mà chúng tôi sử dụng nhằm mục đích tập trung vào tìm hiểu các đặc điểm của tiểu thuyết, đồng thời phân tích các ý kiến tranh luận trong các bài viết về những tác phẩm trên sau đó tổng hợp lại, đi tới những kết luận cần thiết theo yêu cầu của luận văn.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1955 - 1964 nhìn dưới góc độ văn học

sử mang một đặc điểm chung là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Đây là khuynh hướng chủ đạo có thể nói bao trùm toàn bộ sự vận động và phát triển ở nhiều thể loại Tuy nhiên, nếu quan sát kĩ ta vẫn có thể thấy bên cạnh khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn ấy, sự tồn tại của một mạch ngầm chảy song song với dòng chủ lưu là khuynh hướng thế sự đời tư Khuynh hướng này từ khi xuất hiện đã được coi như một hiện tượng dị biệt và chẳng phải ngẫu nhiên nó bị đối xử khá lạnh nhạt, trong đó có một số tác giả

và tác phẩm của họ từng bị đông đảo bạn đọc và giới cầm bút lúc bấy giờ lên

án, phê phán mạnh mẽ

1.2 Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, hòa bình đã lập lại, con người trở về với đời sống thực tại thường ngày, phải đối diện với bao cam go thử thách vì yêu cầu của cuộc sống mới, thị hiếu của công chúng thay đổi, khuynh hướng thế sự đời tư đã trở lại như một nhu cầu tất yếu của văn học, được đông đảo công chúng đón nhận và giới nghiên cứu đề cao Thái độ đối

xử khác nhau giữa hai giai đoạn văn học cho cùng một đối tượng khiến nhu cầu tìm hiểu, thẩm định lại các tác phẩm từng là nghi án văn học thuộc khuynh hướng nói trên thuộc giai đoạn 1955 - 1964 đã trở nên cần thiết

Chính vì vậy, chúng tôi muốn vận dụng một số lí thuyết mới trong việc

đọc lại tiểu thuyết mang khuynh hướng thế sự đời tư chặng 1955-1964 với

mục đích cố gắng tạo một cái nhìn khách quan trên cả hai bình diện đóng góp cũng như hạn chế của hiện tượng này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những ý kiến tranh luận

Trang 2

Có thể khẳng định những tác phẩm viết theo khuynh hướng thế sự đời

tư trong giai đoạn 1955 - 1964 ngay từ khi ra đời đã gây một hiệu ứng nhiều chiều từ công chúng thưởng thức cũng như giới cầm bút Người khen thì ít mà

kẻ lên án thì nhiều Cụ thể, trong bài viết của Như Phong về “Vấn đề cuốn tiểu thuyết Mười năm – Tô Hoài” (1959) đã đề cập trực diện đến nội dung,

nghệ thuật của tác phẩm Nhà phê bình đã chỉ ra những điều kiện thuận lợi ra đời tác phẩm, nêu ra những mặt thành công mà Tô Hoài đã làm được Tuy

nhiên bên cạnh đó, điều mà Như Phong muốn nhấn mạnh ở cuốn Mười năm

đó chính là “Vấn đề của một chủ trương sáng tác sai lầm, một khuynh hướng nghệ thuật lệch lạc” mà ông đã phân tích khá kĩ lưỡng ở bài viết trên Cùng với đó, Trần Hữu Tá, Vân Thanh cũng đã phê phán những “sai lầm” của tác giả Mười năm Theo các nhà nghiên cứu, tác phẩm chưa nêu được những nét

chủ yếu của hiện thực như: Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, âm mưu tội

ác của bọn phong kiến thực dân, phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Về tiểu thuyết Sắp cưới của Vũ Bão, Nguyễn Khải với quan niệm lúc bấy giờ “Viết văn là một công tác cách mạng” đã từng ra bài phê phán mang nhan đề: “Trách nhiệm của người viết qua cuốn Sắp cưới của Vũ Bão” (8-

1958) Trong bài viết, tác giả đã bộc lộ một thái độ khá gay gắt với cuốn tiểu thuyết này Ông cho rằng, khi đọc xong truyện, cái mà người đọc thấy ở đây

đó chỉ là một sự phản động, một sự bịa đặt: té ra cải cách ruộng đất chỉ là

chuyện bịa đặt, ta lại đấu ta, toàn những "Chuyện đau thương đang theo thời gian lùi dần vào dĩ vãng" Nguyễn Khải còn khẳng định Vũ Bão nằm trong

số người thiển cận, bảo thủ trong cách nhìn, và vô trách nhiệm, cẩu thả trong cách làm việc Sau khi đưa ra một loạt nhận định như vậy, ông đi vào phân tích tỉ mỉ tác phẩm và chỉ ra một cách cụ thể cũng như khá khắc nghiệt về những hạn chế trong bố cục cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật Ông cho

Trang 3

rằng đứng về phía người viết với nhau mà nhận định truyện Sắp cưới thì phải

nói tác giả cuốn sách đó là một người viết không có lý tưởng cách mạng, không thấy được cái nghiêm trang trong công việc mình làm, viết ra dưới sự xúi giục của những kẻ phá hoại trong nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm Tài liệu,

sự việc, cho đến nhân vật, cách bố cục đều phục vụ cho những ý định độc ác của tác giả một cách tùy tiện Tác giả lộ rõ mặt là một tên hề khả ố, bỡn cợt cả những công việc nghiêm trang nhất của quần chúng, của cách mạng, khiến khó ai có thể nén nổi sự căm phẫn Vũ Bão sở dĩ mắc sai lầm lớn là vì anh hoàn toàn thiếu những lo lắng cần có ở một người viết của giai cấp công nhân

Ở cuốn Vào đời – Hà Minh Tuân, nhà phê bình Nguyễn Phan Ngọc trong bài viết: “Vào đời, một quyển truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi” in trên Tạp chí văn học số 2/

1963 cũng đã phê phán khá mạnh mẽ Hà Minh Tuân khi sa vào “Khách quan chủ nghĩa”, trực tiếp tấn công vào phong trào thanh niên xung phong tình

nguyện đi sản xuất, đi khai hoang Mặt khác, nhà phê bình còn cho rằng, tác

giả Vào đời đã cố tình gợi lại những thành kiến sai lầm đối với cuộc đấu tranh

cải cách ruộng đất Ông còn phân tích và chỉ ra khá kĩ lưỡng khi nội dung truyện chỉ tập trung moi móc, bêu riếu và bơm to một vài thiếu sót của cách mạng Ông khẳng định Hà Minh Tuân đã trắng trợn xuyên tạc hiện tượng xã hội trong những năm 1957 - 1960 ở nước ta Và Phan Ngọc cho rằng đó là một quyển truyện xấu, chống lại nhiều nghị quyết, nhiều chính sách của Đảng

và Nhà nước, đả kích vào cán bộ thuộc nhiều bộ máy của nền chuyên chính

vô sản Nó reo rắc một khuynh hướng nghệ thuật xấu

Trang 4

Cùng quan điểm với Nguyễn Phan Ngọc, nhà phê bình Trung Ngôn

trong bài viết “Sai lầm của Hà Minh Tuân trong quyển Vào đời là sai lầm về lập trường tư tưởng” in trên Tạp chí văn học số 2/1963 Ông nhận định rằng, Vào đời là một tác phẩm xấu, có hại và non yếu về mặt nghệ thuật.

Từ những bài viết phê bình của các cây bút trên ta thấy được quan điểm nghệ thuật, cách thẩm định giá trị tác phẩm văn học của một thời đại Chính

vì những cách nhìn máy móc, khiên cưỡng mang màu sắc lập trường ấy mà nhiều tác phẩm viết theo khuynh hướng thế sự đời tư phải chịu một sự phán xét, đánh giá thiếu khách quan; thậm chí, không ít trường hợp, cả tác phẩm lẫn tác giả của nó phải chịu một sự trừng phạt khá nặng nề

2.2 Những ý kiến bênh vực

Cho đến nay chưa có công trình nào đề cập trực diện khuynh hướng thế sự đời tư trong những tác phẩm thuộc giai đoạn 1955 - 1964 Nhưng chúng tôi đã thu thập được một nghiên cứu quan tâm tới vấn đề trên đó là bài viết của Giáo

sư Hà Minh Đức với tựa đề: "Cần xác định lại giá trị của Mười năm và Đống rác cũ" được in trong báo Giáo viên nhân dân, số 27, 28, 29, 30, 31 tháng 7-

1989 Trong bài viết này, tác giả đã đề cao sức tạo mới ở ngòi bút Tô Hoài Qua đó, tác phẩm cũng thể hiện được sâu sắc hiện thực đang vận động cách mạng, đang đổi thay theo cách nhìn và cách đánh giá mới với cảm quan nghệ thuật mới mẻ

Bên cạnh đó, ta còn thấy một số công trình nghiên cứu đề cập trực diện tới

nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Mười năm - Tô Hoài như: Phong cách tiểu thuyết Tô Hoài của Văn Thị Mai (2007), Màu sắc tự truyện trong tiểu thuyết Tô Hoài của tác giả Mạc Thị Nga (2011) Ngoài những công

trình trên còn có một số bài nghiên cứu khác cũng tìm hiểu đến vấn đề này mà

ở đây người viết chưa có điều kiện đề cập tới

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955 - 1964

3.2 Phạm vi ngiên cứu

Luận văn tập trung khai thác vấn đề về mặt nội dung và những đặc sắc

về nghệ thuật trong một số tiểu thuyết thuộc giai đoạn văn học 1955 – 1964

như: Mười năm của Tô Hoài (1958), Nxb Hội Nhà văn; Sắp cưới của Vũ Bão (1957), Nxb Hội Nhà văn; Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng- Trần Thanh (1958), Nxb Phụ nữ; Vào đời của Hà Minh Tuân (1961 – 1962), Nxb Văn

học

Từ đó luận văn chỉ ra được tài năng cũng như sự đóng góp của các tác giả trong một giai đoạn văn học nói riêng và tổng thể nền văn học Việt Nam nói chung

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Đề tài nghiên cứu nhằm hướng đến việc khẳng định và minh chứng cho giá trị của các tác phẩm nêu trên qua hai bình diện về nội dung và những đặc sắc nghệ thuật Trên cơ sở đó, chúng tôi đối sánh với các sáng tác trong tổng thể nền văn học 1945 - 1975 và cả sau 1975 để thấy được giá trị của các tác phẩm trên Từ đó, luận văn góp phần thay đổi cách nhìn, cách tư duy cho bạn đọc và giới nghiên cứu khi tiếp xúc với các tác phẩm này

4.2 Nhiệm vụ

Từ mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn hướng tới các nhiệm vụ

cơ bản sau:

- Chỉ ra được bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội và vị trí của khuynh

hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955- 1964;

Trang 6

- Làm sáng rõ khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết nhìn từ góc

độ nội dung;

- Phát hiện những điểm nhấn trong nghệ thuật tiểu thuyết

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp loại hình

Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để làm nổi bật loại hình tiểu thuyết thế sự đời tư cùng với những đặc trưng cơ bản cũng như các đặc điểm riêng của nó

5.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này có tác dụng cung cấp những dữ liệu chính xác tạo cơ

sở cho những kết luận của luận văn Trên cơ sở đó, người viết sẽ đi phân tích những dữ liệu tiêu biểu Cụ thể là những đặc sắc trong cách xây dựng nhân vật, việc sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết đời tư 1955 - 1964; đồng thời tiến hành phân tích các ý kiến tranh luận trong một bài viết và rộng hơn nữa là những công trình nghiên cứu khoa học

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm so sánh đối chiếu một số tiểu thuyết đời tư nêu trên với các tiểu thuyết trong cùng giai đoạn 1945 -

1975 và sau 1975 để thấy rõ được những giá trị đặc sắc mà các tác phẩm trên mang lại

5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đây là phương pháp quan trọng mà chúng tôi sử dụng nhằm mục đích tập trung vào tìm hiểu các đặc điểm của tiểu thuyết, đồng thời phân tích các ý kiến tranh luận trong các bài viết về những tác phẩm trên sau đó tổng hợp lại,

đi tới những kết luận cần thiết theo yêu cầu của luận văn

Trang 7

6 Những đóng góp mới của đề tài

Thế sự đời tư vốn là một hướng sáng tác được nhiều nhà văn quan tâm khai thác Nó cũng là một trong những khuynh hướng chủ đạo của tư duy tiểu thuyết Tuy nhiên, trong nền văn nghệ cách mạng, với định hướng đường lối của Đảng, văn nghệ phải phục vụ kháng chiến, phải xây dựng những tác phẩm, những nhân vật mang tầm vóc sử thi để kịp thời cổ vũ cho tinh thần đấu tranh Chính vì lẽ đó, khuynh hướng đời tư dường như được tạm thời gác lại Thậm chí, để hạn chế nó, có không ít tác phẩm trong giai đoạn này bị lên

án gay gắt Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ cố gắng tìm một hướng tiếp cận mới nhằm khảo sát, phân tích, đánh giá lại xu hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết giai đoạn 1955 - 1964

Việc nghiên cứu của chúng tôi mang ý nghĩa khái quát của văn học sử trên cơ sở minh chứng qua nhiều tác phẩm và có đối chiếu với các tác phẩm khác trong tổng thể nền văn học 1945 - 1975 và sau 1975 nhằm góp phần cho bạn đọc thấy được cái nhìn toàn diện về cả chặng đường của một giai đoạn văn học Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm rõ hơn về mối quan hệ giữa văn học với hiện thực trên bước đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Trang 8

Khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết 1955-1964 nhìn từ nghệ thuật

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - VĂN HÓA – XÃ HỘI VÀ VỊ TRÍ CỦA KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ ĐƠI TƯ TRONG TIỂU THUYẾT

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 - 1964

1.1 Những biến động trong đời sống xã hội, tư tưởng và văn hóa miền Bắc giai đoạn 1955-1964

1.1.1 Những biến động trong đời sống, kinh tế, xã hội miền Bắc giai đoạn 1955-1964

Có thể nói, chặng đường 1955 - 1964 đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam Kháng chiến chống Pháp đã kết thúc sau trận chiến Điện Biên Phủ vang dội Hiệp định Giơnevơ được kí kết, công nhận nền độc lập và sự toàn vẹn của chủ quyền lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, ngay sau khi hiệp định Giơnevơ đươc kí kết (7 - 1954), đất nước ta tạm chia cắt làm hai miền Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, tiến tới thống nhất nước nhà Hoàn cảnh đó đã mở ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới như sau:

Miền Bắc bước vào xây dựng cuộc sống mới trong điều kiện hòa bình,

từ nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển bỏ qua con đường tư bản mà lựa

chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội “Hòa bình chưa phải là hòa bình”

lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi về lại thủ đô như một lời báo trước miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa với nhiệm vụ hết sức khó khăn: phải hoàn thành cách mạng ruộng đất, giải phóng sức sản xuất của

Trang 9

11 triệu dân lao động, phải băng bó những vết thương chiến tranh đã mang lại, phải thiết lập những cơ sở sản xuất mới, xây dựng cả một xã hội mới, một trật tự mới Mặt khác, miền Bắc còn phải làm cơ sở nền tảng, căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam.

Ở miền Nam, đế quốc Mĩ đang âm mưu dập tắt phong trào cách mạng, biến nơi này thành thuộc địa kiểu mới làm căn cứ để tấn công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhằm ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc đang lan mạnh trên toàn thế giới Đế quốc Mĩ đã dùng đô la để viện trợ quân sự và kinh tế để thắt chặt quan hệ giữa chủ và tớ mới Ngô Đình Diệm, tên tay sai đắc lực của địch, đã trắng trợn mang Tổ quốc bán đứng cho đế quốc Mĩ, nhằm biến Việt Nam thành bàn đạp quân sự, xô đẩy nhân dân vào vòng chiến tranh Miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp để tiến tới thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa Ngày 8, 9 tháng 6 năm 1956,

Bộ chính trị Trung ương Đảng họp và ra nghị quyết về “Tình hình và nhiệm

vụ cách mạng Miền Nam” Nghị quyết xác định: “Tính chất của cách mạng nước ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ Nhiệm vụ cách mạng miền Nam

là phản đế và phản phong” [48, 158].

Như vậy, vấn đề chống xâm lược vẫn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của cách mạng, của đời sống chính trị trong cả nước Trong điều kiện đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc xây dựng cuộc sống mới và thu được những thắng lợi bước đầu

Công cuộc cải cách ruộng đất (1953 - 1956) đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội Xóa bỏ chế độ phong kiến - một nhiệm vụ chiến lược và cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được nhanh chóng hoàn thành ở trung du và đồng bằng Miền Bắc phá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất, đem lại

ruộng đất và ưu thế chính trị ở nông thôn cho nhân dân, thực hiện “Người cày

có ruộng” Ước vọng sâu xa của nông dân trong bao thế kỉ đã trở thành hiện

Trang 10

thực, nông dân thực sự làm chủ nông thôn Đó là sự kiện chưa từng có trong lịch sử nước ta Tuy nhiên trong quá trình cải cách ruộng đất, ta đã phạm phải

những sai lầm nghiêm trọng “Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc; địch phá hại điên cuồng; một

số cán bộ chưa nắm vững chính sách, chưa thật đi đúng đường lối quần chúng” [48, 32] Nguyên nhân sai lầm là không nắm vững những biến đổi về

sở hữu ruộng đất về giai cấp địa chủ và chế độ phong kiến ở nông thôn Mặt khác, do không nắm vững đường lối độc lập tự chủ, áp dụng máy móc những kinh nghiệm của nước ngoài, cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp nên đụng nhầm vào nội bộ nông dân Đứng trước tình hình ấy Đảng phải lãnh đạo sửa sai, ngày 08/08/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào nông thôn và cán bộ, nói rõ thắng lợi và những sai lầm của cải cách ruộng đất

Người nhấn mạnh: “Trung Ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy có kế hoạch, kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn đẩy mạnh sản xuất” [48, 159 - 160].

Với những thành tựu đã đạt được như trên, miền Bắc cơ bản đã khắc phục được hậu quả chiến tranh Đây là thời đoạn lịch sử quá độ chuẩn bị cho miền Bắc bước vào thời kì lịch sử mới

Tại Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1958) đã vạch chủ trương cải tạo thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân cá thể Đi đôi với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hội nghị xác định phải ra sức xây dựng, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh

11-Trong kế hoạch 3 năm lần thứ hai, nhiệm vụ cải tạo nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọng nhất Phương hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp là đưa nông dân vào làm ăn tập thể Cải tạo xã hội chủ nghĩa đã

Trang 11

làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế xã hội miền Bắc, đưa thành phần kinh tế toàn dân và tập thể thành vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế quốc dân.

Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (tháng 9 - 1960) đã phân tích tình hình trong nuớc và quốc tế, vạch ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước cũng như nhiệm vụ cụ thể của hai miền Nam - Bắc Đại hội chỉ

rõ vị trí, mối quan hệ giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc với

sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Sau khi phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội miền Bắc, Đại hội khẳng định phải đưa miền Bắc

“Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Để thực hiện mục tiêu trên, Đảng chủ trương phải tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, trong đó, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí Đại hội cũng đề ra nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm lần

thứ nhất (1961-1965) là: “Phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất, kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa”.

Sau 10 năm xây dựng, nhất là ở thời kì thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng của miền Bắc đã đổi khác nhiều so với thời kì mới giải phóng Trong hội nghị chính trị đặc biệt tháng 3-

1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta

đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”[ 48,54]

Tuy nhiên trong việc đề ra và thực hiện kế hoạch 5 năm, chúng ta đã phạm phải một số những sai lầm, khuyết điểm do tư tưởng chủ quan giáo điều, nóng vội, thể hiện ở việc đề ra chỉ tiêu quá cao, không tính đến khả năng

và điều kiện cụ thể đất nước

Cùng với xây dựng đời sống kinh tế, đời sống văn hóa có nhiều thay đổi, trình độ văn hóa được nâng lên Văn hóa giáo dục đang trên đà phát triển,

Trang 12

nạn mù chữ dần được thanh toán Các lớp đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp được mở rộng và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân, báo chí thời kì này đã trở thành món ăn tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân Đây cũng là điều kiện để văn nghệ sĩ có cơ hội nhận thức đầy đủ hơn về mọi hiện tượng trong đời sống và dẫn đến mong muốn nhận thức ngày càng đúng đắn, hoàn chỉnh về con người và xã hội.

1.1.2 Những biến động trong đời sống chính trị, tư tưởng văn hóa miền Bắc

phản cách mạng Từ năm 1957, Tổng thống Xucacno đã thực hiện “Chế độ dân chủ có lãnh đạo” Trong những năm 1955-1964, Chính phủ Inđônêxia do

tổng thống Xucacno cầm đầu đã thi hành nhiều chính sách đối nội và đối ngoại làm cho địa vị của nước Inđônêxia không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế và phong trào cách mạng Inđônêxia cũng mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Tháng 10/1955, Đảng Cộng sản Ăng-gôla ra đời và trở thành người tổ chức lãnh đạo cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Ănggôla Tháng

Trang 13

12/1956, tổ chức “Phong trào giải phóng nhân dân Ănggôla” (MPLA) được

thành lập bao gồm Đảng Cộng sản và người Phi Ngày 4/2/1961, những người yêu nước trong tổ chức MPLA đã nổ súng tấn công vào các nhà tù của chính quyền thực dân ở Luanđa Cuộc tấn công này đã mở ra bước ngoặt cách mạng

từ đấu tranh hòa bình sang đấu tranh vũ trang

Cũng trong giai đoạn này phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi phát triển mạnh mẽ Từ năm 1954 - 1960 là giai đoạn do tác động của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, phong trào đấu tranh lên cao ở các nước Bắc Phi, Tây Phi và châu Phi xích đạo Trong thời gian này, nhiều nước ở châu Phi đã giành lại được độc lập ở những mức độ khác nhau và chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi đã bước đầu bị sụp đổ Từ năm 1960 trở đi là giai đoạn phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, hầu hết các nước lục địa ở châu Phi đã giành được độc lập ở những mức độ khác nhau và chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn bị sụp đổ ở châu Phi

Đại hội Đảng lần thứ XX của Liên Xô diễn ra (từ 14/2 đến 25/2 năm 1956) đã luận bàn về những vấn đề hết sức quan trọng về đường lối cách mạng của nước Nga Xô Viết, trong đó một vấn đề nóng bỏng nhất là chống sùng bái cá nhân Đại hội đưa ra ánh sáng những sai lầm của Stalin đó là sự độc tài, bóp nghẹt, thủ tiêu tự do của những ai chống lại đường lối của mình, khiến người ta nhận ra mặt trái của chế độ theo kiểu Stalin và điểm yếu của những nước Xã hội chủ nghĩa Ngày 25/2/1956 trong một phiên họp bất thường vào ngày bế mạc đại hội, Nikita Khrushchev đã đọc bản báo cáo mang

tên “Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó” để nghiêm khắc lên

án cái tệ sùng bái cá nhân, đặt chủ trương đường lối giải phóng tư tưởng bảo đảm pháp lí xã hội chủ nghĩa, triệt để dân chủ hóa tổ chức… những nghị quyết lịch sử của Đại hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nước Xã hội chủ nghĩa anh em

Trang 14

Nối tiếp những sự kiện chính trị ở Liên Xô, Hà Lan cũng có những biến

cố quan trọng, đáng chú ý là ngày 28/6/1956, Hà Lan nổi dậy “Công nhân xưởng Stalin đã đình công và kéo về trung tâm thành phố” Khẩu hiệu của họ

là “Chúng tôi đòi bánh mì” Công nhân các nhà máy khác đã nhanh chóng

hưởng ứng cuộc biểu tình Cuộc đối đầu giữa công nhân và nhà cầm quyền đã

nổ ra trên đường phố Pozman, có hơn 100 ngàn người đã xuống đường cùng công nhân các nhà máy tập trung ở quảng trường Lâu đài và họ hô to các chữ

“Tự do”, “Công bằng”, “Đả đảo Liên Xô” Những người biểu tình đã vào

các trụ sở Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa BaLan ở Poznan và xé những lá

cờ đỏ… công cuộc biểu tình sau đó trở thành cuộc bạo động Sử gia Lukaz

Jastrzab đánh giá rằng: “Người biểu tình thời đó tuy đã bộc lộ ý thức phản kháng dân sự vô cùng to lớn nhưng cuộc biểu tình đã xuất phát từ chính nguyên nhân xã hội chứ không phải là một cuộc nổi dậy nhằm chống chính quyền cộng sản” [47, 26].

Thời kì này ở Hungari cũng nhiều biến động Ngày 10/11/1956, Hungari nổi dậy chống chính quyền đương thời vì chế độ này đã không bảo đảm được quyền tự do dân chủ cho nhân dân Chính trong quá trình biểu tình, cuộc tấn công vũ trang vào những cứ điểm chiến lược quan trọng, cuộc bạo động vũ trang được chuẩn bị trước và nhằm chống lại nền dân chủ nhân dân

đã nổ ra

Như vậy, năm 1956 có thể coi là năm bản lề đối với toàn bộ khối chủ nghĩa xã hội Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vốn được coi là thành trì của chủ nghĩa xã hội đang phải đương đầu với những cơn sóng gió Liên Xô được xem là anh cả, là niềm tin, là mẫu hình lí tưởng của chủ nghĩa xã hội nhưng bây giờ lại hiện ra những nhược điểm, những cực đoan, sai lầm dẫn đến niềm tin vào Đảng Cộng sản có chỗ bị chao đảo lung lay Đại hội Đảng

Cộng sản Liên Xô với “báo cáo mật” của Khrushchev về tội trạng của Stalin

Trang 15

đã mở ra một giai đoạn “tan băng” ngắn ngủi nhưng cũng đủ để dẫn đến những biến động quan trọng trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Ở Trung Quốc thời kì này đã có những sự kiện tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, văn nghệ Việt Nam Ngày 26/5/1956 Mao Trạch Đông đã

phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” Phong trào này ra đời với chủ trương làm cho “Công tác văn học nghệ thuật và công tác nghiên cứu khoa học có tự do suy nghĩ độc lập, tự do biện luận, tự do phát biểu ý kiến của mình, bênh vực và bảo vệ ý kiến của mình”[5, 69] Mặt khác

chính sách này cũng phản đối những quan niệm phiến diện, gò bó văn nghệ trong khuôn khổ nhỏ hẹp nhất định Văn nghệ và khoa học có mối quan hệ đấu tranh giai cấp nhưng không vì thế mà cho rằng văn nghệ, khoa học và chính trị phải rập khuôn như nhau Chính sách trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng cũng tăng cường sự đoàn kết hợp tác giữa các nhà công tác văn nghệ và khoa học trong, ngoài Đảng hoặc theo những học thuyết khác nhau Nó phản đối tư tưởng hẹp hòi, tông phái chủ nghĩa của một số đảng viên có khuynh hướng muốn độc chiếm lĩnh vực triết học và khoa học xã hội, tự cao tự đại, coi thường và không chịu tìm hiểu sở trường của những người ngoài Đảng Ngoài ra, nó còn khuyến khích các nhà văn nghệ và nghiên cứu khoa học phải phát huy tự động tính, sáng tạo tính và mạnh dạn tiến bước

Những sự kiện nước ngoài trên đã được đưa tin trên các báo chí, tác động đến nhận thức của đông đảo công chúng Văn nghệ sẽ được học tập thảo luận, Đảng ta đưa ra chính sách chống sùng bái cá nhân, lãnh đạo tập thể phải tiến hành phê bình và tự phê bình, nghị quyết được phổ biến đến từng cơ sở Đảng Tháng 8/1956, Hội Văn nghệ Việt Nam đứng ra tổ chức một lớp học 18 ngày học tập chủ trương văn nghệ, học tập đường lối cải cách chống tệ sùng bái cá nhân Việc học tập đó rõ ràng giúp cho những người nghệ sĩ nâng cao trách nhiệm, suy nghĩ độc lập giúp cho họ có cơ hội nhìn nhận lại một cách

Trang 16

khách quan hơn và nhận ra thần tượng đã bị hao khuyết, và họ muốn thể hiện tinh thần đấu tranh cho sự tự do dân chủ qua những sáng tác của mình.

1.2 Vị trí xu hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955-1964

1.2.1 Vài nét về đặc điểm văn xuôi mười năm sau kháng chiến chống thực dân Pháp

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hòa bình được lập lại, văn xuôi miền Bắc có bước phát triển mạnh mẽ và khá toàn diện Sự mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực đời sống là phương diện biến đổi dễ nhận ra trước tiên ở văn xuôi thời kì này so với giai đoạn trước Cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn là đề tài thu hút sự chú ý của nhiều cây bút và đã có được nhiều tác

phẩm thành công ngay từ những năm đầu hòa bình: các tiểu thuyết Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng của

Lê Khâm, Phá vây của Phù Thăng, Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng và Trần

Thanh nhiều truyện ngắn của Bùi Hiển, Nguyễn Kiên, Hữu Mai, Nguyễn Đình Thi và những tập kỉ niệm sâu sắc trong đời bộ đội của nhiều chiến sĩ, cán bộ Những sáng tác này đã làm sống lại hình ảnh của cuộc kháng chiến trường kì và anh dũng của toàn dân ở nhiều địa phương trên nhiều mặt trận, trong những hoàn cảnh đầy khó khăn, những thử thách nghiệt ngã, những chiến công to lớn và cả sự hi sinh nhiều khi thầm lặng Nhiều tác phẩm đã xây dựng được những hình tượng đẹp và có giá trị điển hình về nhiều tầng lớp, thế

hệ con người Việt Nam kháng chiến mà tiêu biểu là các nhân vật: anh hùng

Núp trong Đất nước đứng lên, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện.

Trong các tác phẩm viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các biến cố và sự kiện dù trọng đại đến đâu cũng không che lấp các nhân vật mà

Trang 17

ngược lại, chính hoàn cảnh đã tác động và làm bộc lộ chiều sâu của tính cách nhân vật và quy định những diễn biến trong trong số phận của họ Những đau thương mất mát dồn dập đến với chị Tư Hậu, hoàn cảnh nghiệt ngã trên đường trở về khu căn cứ của đội trinh sát do đại đội trưởng Lương chỉ huy

(Trước giờ nổ súng), những ngày đầu của cuộc kháng chiến ở Hà Nội (Sống mãi với thủ đô), cuộc chiến đấu kiên trì của làng Kông Hoa với gần mười lần rời làng để chống Pháp (Đất nước đứng lên)… là những hoàn cảnh thử thách

gay gắt, đã tôi luyện và hình thành nên tính cách và phẩm chất cao đẹp của những anh hùng - con người Việt Nam kháng chiến Các tác giả cũng không chỉ chú trọng làm nổi bật hình tượng tập thể quần chúng nhân dân mà còn quan tâm xây dựng những hình tượng điển hình, tính cách điển hình Con người không bị hòa tan trong đám đông mà đã có những nhân vật được chú ý khắc họa với một diện mạo riêng, tính cách riêng rõ nét và làm nổi rõ số phận, con đường đi của mỗi cá nhân trong các biên cố lịch sử-xã hội ở mỗi tác phẩm

Cùng với đề tài về cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều tác phẩm văn xuôi lại trở về tái hiện quá khứ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là khoảng thời gian mười năm 1935-1945, một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử cách mạng của đất nước với những biến cố to lớn và dồn dập, tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến toàn bộ đời sống xã hội Việt Nam thời ấy Nhiều tiểu thuyết và bộ tiểu thuyết tái hiện bức tranh lịch sử giai đoạn này

như Mười năm của Tô Hoài, Tranh tối tranh sáng và Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Một luồng gió mới của

Hồng Chương… Viết về hiện thực trước cách mạng tháng Tám, nhiều tác phẩm đặc biệt là những bộ tiểu thuyết dài đã làm sống lại những bức tranh xã hội- lịch sử với quy mô rộng lớn và những xung đột dân tộc, giai cấp gay gắt

mà trung tâm của sự vận động lịch sử là phong trào đấu tranh cách mạng của

Trang 18

đông đảo quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Các tác phẩm ấy thể hiện con đường đi và số phận của nhiều nhân vật đại diện cho những tầng lớp xã hội trong sự vận động mạnh mẽ của lịch sử với nhiều biến cố to lớn và

dữ dội

Hướng vào đời sống hiện tại, phản ánh những đổi thay của đất nước và con người trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới và đấu tranh thống nhất nước nhà là đề tài đã thu hút nhiều cây bút văn xuôi và đã có những tác phẩm thành công, gây được tiếng vang trong công chúng văn học đương thời Cuộc cải cách ruộng đất diễn ra ở nông thôn miền Bắc trong những năm 1954-1956 với những kết quả và những sai lầm, ấu trĩ, cực đoan của nó, tiếp đó là chủ trương sửa sai, tất cả đã tạo nên những biến động, xáo trộn ghê gớm trong cuộc sống và các quan hệ ở nông thôn, để lại những dấu ấn sâu đậm, lâu dài trong bộ mặt đời sống tinh thần và đời sống nông thôn ở nước ta Hiện thực phức tạp ấy còn được phản ánh khá mờ nhạt trong văn học giai đoạn này Những sáng tác hồi đầu thiên về cái nhìn một chiều - hướng vào việc tố cáo tội ác của giai cấp địa chủ phong kiến, đề cao tinh thần đấu tranh, khẳng định những thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất- thường không tránh khỏi tình

trạng công thức, sơ lược (truyện dài Truyện anh Lục cuả Nguyễn Huy Tưởng, Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, tập truyện ngắn Nông dân với địa chủ của

Nguyễn Công Hoan ) Trong văn xuôi viết về cải cách ruộng đất và sửa sai, đáng kể hơn cả là một số tác phẩm ít nhiều có cái nhìn chân thực, phản ánh sự

phức tạp của hiện thực ấy, với những thắng lợi và cả sai lầm mất mát (Những ngày bão táp của Hữu Mai, Sắp cưới của Vũ Bão, Xung đột của Nguyễn

Khải…) Từ năm 1958, nhiều tác phẩm viết về nông thôn trong phong trào

hợp tác hóa nông nghiệp và xây dựng hợp tác xã như tiểu thuyết Xung đột (phần 2), các truyện Tầm nhìn xa, Người trở về, Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải; Cái sân gạch và vụ lúa chiêm của Đào Vũ; Bão biển của Chu Văn…

Trang 19

Cũng viết về công cuộc xây dựng cuộc sống mới nhưng nhiều tác phẩm lại tập trung thể hiện sự thay đổi số phận của những người lao động bình thường, nêu lên những vấn đề về mối quan hệ lớn giữa người với người, những quan niệm đạo đức mới trong xã hội, đáng chú ý hơn cả trong phương hướng này là

tập truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải, một số truyện ngắn của Nguyễn Kiên, tiểu thuyết Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương.

Văn xuôi trong khoảng mười năm sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp không chỉ phát triển về dạng thể tài, phong phú về số lượng tác giả, tác phẩm mà đã đem lại những biến đổi và phát triển đáng kể về các thể loại đặc biệt là truyện ngắn và tiểu thuyết

Từ những đặc điểm của văn học sau kháng chiến kể trên là bằng chứng thực tiễn hóa đường lối văn nghệ kháng chiến, chứng tỏ rằng: Nền văn học Việt Nam sau kháng chiến đã dần thay đổi diện mạo của mình theo một hướng tiếp cận mới Một số tác phẩm đã đề cập trực tiếp tới đề tài đời tư, về tình yêu và về đời sống nội tâm phong phú, phức tạp của mỗi cá nhân

Như vậy, tất cả những thay đổi trong đời sống chính trị, văn hóa xã hội cùng với nhu cầu đổi mới tự thân của văn học là nguồn mạch trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhận thức của mỗi nghệ sĩ đó chính là cội nguồn cho sự phát sinh quan niệm, sáng tác của nghệ sĩ cho khuynh hướng thế sự đời tư giai đoạn 1955-1964

1.2.2 Quan niệm về con người giai đoạn 1955-1964

Như chúng ta biết, xét về tổng thể, nền văn học giai đoạn 1945-1975 phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt của hai cuộc chiến tranh vệ quốc, do đó, không thể không bị chi phối bởi những quy luật bất thường Theo sát nhiệm

vụ chính trị, tự ý thức mình như một vũ khí tư tưởng, văn học đã tập trung

mọi cố gắng vào việc giáo dục, đào tạo, xây dựng “Con người mới” Phát hiện “Con người cộng đồng” trong mỗi cá nhân, con người như sản phẩm

Trang 20

hoàn hảo của hiện thực cách mạng là cống hiến của văn học với tư cách một mặt trận tư tưởng Nhà văn thông qua con người để biểu hiện lịch sử, con người trở thành phương tiện để khám phá lịch sử Sự ưu tiên cho lịch sử, cho phương diện cộng đồng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cách mạng và tâm lí thời đại Chiến tranh đặt ra vấn đề sống còn cho dân tộc, mọi quyền lợi, mọi

ứng xử phải nhìn theo quan điểm “địch - ta”, sự thống nhất muôn người như

một trở thành nguyên tắc tối thượng Cá nhân tự nguyện hòa tan trong cộng

đồng: “Con đường giải quyết mọi bi kịch, mọi vướng mắc cá nhân là hướng

về cách mạng, về cộng đồng” [38, 46] Con người được nhận thức và đánh

giá chủ yếu theo tiêu chí giai cấp Từ những mối quan hệ xã hội chung nhất đến bản ngã cá nhân đều được nhìn nhận theo chuẩn mực định sẵn Hiện thực

về con người là cái “Có thể biết trước” Mặc dù lúc đó văn học cũng đề cao

hiện thực khách quan nhưng có phương diện hiện thực được thừa nhận, có phương diện bị coi là chủ nghĩa khách quan tư sản Lợi ích giai cấp và dân tộc bắt buộc nhà văn phải lựa chọn lập trường miêu tả như vậy

Tuy nhiên, văn học mười năm từ sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - những năm tạm thời có hòa bình ở miền Bắc từ 1955-1964 đã có những bước phát triển mới cả về bề rộng và bề sâu Sau cuộc kháng chiến thắng lợi, một nửa đất nước được giải phóng, nhân dân ta bước vào khôi phục đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề và từ nền kinh tế còn kém phát triển, lựa chọn con đường đi theo chủ nghĩa xã hội Văn học đứng trước những yêu cầu đa dạng của xã hội: Một mặt là những nhu cầu tất yếu của con người trong cuộc sống hòa bình sau hàng chục năm chiến tranh, mặt khác phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho những mục tiêu cách mạng: Thống nhất Tổ Quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Quan niệm về con người trong văn học thời kì này cũng trở nên đa dạng hơn và không tránh khỏi có cả những khác biệt, trái ngược giữa những quan niệm khác nhau

Trang 21

Trung tâm quan niệm con người trong văn học thời kì này là khái niệm

Con người mới Nếu như văn học những năm chống thực dân Pháp dừng lại ở

quan niệm con người tập thể, chưa chú ý đến những tính cách riêng, nhân vật chưa tách khỏi những đám đông mà hòa tan vào trong tập thể thì văn học những năm hòa bình đã chú ý đến những tính cách cá nhân và ngày càng coi trọng giá trị của những điển hình Trong một số tác phẩm, nhất là ở đề tài về cuộc kháng chiến chống Pháp và đề tài cách mạng, đã xuất hiện những nhân vật được xem là những điển hình văn học của thời kì này Có thể kể đến Núp

trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, chị Tư Hậu trong Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái… Nhìn chung, trong tiểu thuyết lúc này,

nhân vật đã có một dáng dấp riêng, một bề dày về đời sống nội tâm, có quá trình vận động, biến đổi của số phận và tính cách qua những biến cố xã hội lịch sử Văn xuôi thời kì này quan tâm tái hiện những biến cố lịch sử trọng yếu, những bức tranh xã hội rộng lớn theo khuynh hướng tiểu thuyết sử thi, nhưng cũng không coi nhẹ xây dựng nhân vật, sáng tạo điển hình và phi điển hình Điển hình ở thời kì này, cả trong lí luận và trong thực tiễn sáng tác, chúng ta có thể thấy là còn chưa coi trọng đúng mức phương diện cá tính, nét riêng độc đáo của điển hình; nhân vật điển hình trong văn học chủ yếu là loại điển hình cho tầng lớp giai cấp, xã hội, nhiều khi còn chưa có sự phân biệt trong quan niệm giữa điển hình văn học và điển hình xã hội Chính vì vậy mà

cuộc thảo luận xung quanh các tác phẩm Cái sân gạch, Vỡ bờ, việc phê phán các tác phẩm Đống rác cũ, Mười năm, Vào đời là những ví dụ nổi bật, cho

thấy sự hạn chế những quan niệm trên trong lí luận, phê bình văn học ở thời

kì này

Nét đặc trưng cơ bản trong quan niệm văn học của thời kì này là con người trong sự thống nhất riêng chung Văn học thời kì kháng chiến chống Pháp hầu như chưa đặt vấn đề cái riêng của một con người hoặc nếu có nói

Trang 22

đến đời sống riêng, số phận của một cá nhân nào đó thì cũng là để cụ thể hóa cái chung dân tộc, giai cấp

Hòa bình lập lại, văn học không thể không quan tâm đến cuộc sống thường nhật và những vấn đề về hạnh phúc, về cuộc sống riêng của mỗi con người Tuy nhiên, cái riêng lúc này được quan niệm là phải thống nhất với cái chung, nằm trong cái chung

Nhìn chung, văn học của mười năm sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thể hiện một kiểu quan niệm về con người được hình thành trong môi trường xã hội - lịch sử của thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo

mô hình còn giản đơn và mang màu sắc lí tưởng hóa Từ con người quần chúng với những hình tượng tập thể trong văn học thời kháng chiến chống thực dân Pháp đến những hình tương nhân vật mang tính đại diện cho một tầng lớp, một tập thể mà ở chiều sâu của nó là sự thống nhất riêng chung, là tư tưởng và lối sống hết mình vì tập thể, vì sự nghiệp chung, đó là bước vận động của quan niệm nghệ thuật về con người qua hai chặng đường văn học

Về mặt nghệ thuật thể hiện, văn học những năm 1955-1964 cũng có nhiều nét mới trong xây dựng hình tượng, tính cách Nổi lên là hai kiểu hình tượng nhân vật: Con người riêng tư, nhỏ bé được lớn lên nhờ cách mạng, đi tới sự hòa nhập đến cuộc đời chung, với tập thể và kiểu nhân vật đại diện cho những phẩm chất, cho số phận và con đường của giai cấp, dân tộc, thế hệ

Kiểu xây dựng hình tượng con người mới đã mang lại cho văn học mười năm sau cách mạng những diện mạo mới mẻ Ở đây cái riêng tư đã được đề cập tới mặc dù số lượng còn ít ỏi nhưng cũng đã phần nào làm thay đổi cách nhìn nhận trong mối liên cảm với hiện thực khách quan của nhà văn

1.2.3 Khuynh hướng thế sự đời tư và vị trí của nó trong tiểu thuyết giai đoạn 1955-1964

Trang 23

Chiến tranh đã tạm thời đi qua, cuộc sống thời bình trở lại thì con người cũng dần trở về với các mối quan hệ thế sự và nhu cầu của đời sống riêng tư Phản ánh đời sống trong các quan hệ hàng ngày cũng như đời sống

cá nhân của mỗi con người trở thành mối quan tâm lớn của văn học nói chung cũng như của văn xuôi nói riêng Khuynh hướng thế sự đời tư thực chất đã xuất hiện rất sớm ngay từ những năm đầu của công cuộc hiện đại hóa văn học qua một số tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Khái Hưng Tuy nhiên, sau này do điều kiện chiến tranh nên khuynh hướng thế sự tạm thời gác lại, nhường chỗ cho khuynh hướng sử thi hùng tráng Nhưng không vì thế mà

nó bị mất đi trong dòng chảy chung của nền văn học dân tộc mà ngược lại, vẫn âm ỉ chờ điều kiện để bừng sáng, để tái sinh Vậy nên, ngay khi đất nước tạm thời ngớt tiếng súng thì như một điều kiện tất yếu, khuynh hướng đời tư

đã dần nảy nở, trở lại với cuộc sống vốn có của nó và trở thành một khuynh hướng riêng lẻ tồn tại song hành với khuynh hướng sử thi cách mạng

Chúng ta biết rằng, chất đời tư thế sự luôn đi liền với thể loại tiểu thuyết Theo Bakhtin nhận định thì tiểu thuyết là một thể loại có thể phản ánh

số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu

tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Đặc điểm

dễ nhận thấy nhất ở tiểu thuyết đó chính là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời

tư Viết theo lối tiểu thuyết, nhà văn có điều kiện bộc lộ những suy nghĩ của

mình và đặc biệt gửi gắm được dụng ý nghệ thuật của chính người viết tới độc giả một cách đầy đủ nhất Qua cách xây dựng hình tượng nhân vật, ta có thể hình dung được đầy đủ con người, cuộc sống đương thời mà nhà văn đang sống

Xét tổng thể nền văn học nước ta từ giai đoạn 1945 đến 1975 thì bao trùm lên nó là khuynh hướng sử thi lãng mạn cách mạng Ở đó nhân vật được phản ánh dưới cái nhìn lí tưởng hóa của nhà văn Miêu tả nhân vật sao cho

Trang 24

phù hợp với tầm vóc lịch sử, phù hợp với tâm thế tiếp nhận- tầm đón đọc của độc giả là xu hướng phổ quát trong nền văn nghệ cách mạng lúc bấy giờ Dưới sự định hướng, dẫn dắt đường lối của Đảng, văn nghệ phải phục vụ kháng chiến; không xa rời tính Đảng là yêu cầu cấp thiết cho nền văn nghệ lúc bấy giờ Chính điều đó vô hình chung đã tạo nên một khung tri thức định sẵn cho đường hướng sáng tác của các nhà văn Người nghệ sĩ lúc ấy trở thành người tuyên truyền, người phát ngôn cho mọi chủ trương chính sách của Đảng Và như vậy, nền văn học có mối quan hệ mật thiết với chính trị hơn bao giờ hết Nhà văn bắt buộc phải đi theo mô hình đã được rập khuôn sẵn có Vậy nên, nếu có một tác phẩm nào đó đi ngoài luồng thì sẽ bị lên án gay gắt Chính vì lẽ đó mà trong giai đoạn này ta thường bắt gặp những kiểu

hình tượng nhân vật sử thi như chị Sứ trong Hòn Đất của nhà văn Anh Đức, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc,…tất cả đều tái hiện lên bức

tranh lịch sử của dân tộc ta

Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa văn học và hiện thực thì bản chất của văn học là sáng tạo dựa trên nền hiện thực khách quan Qua lăng kính của nhà văn được khúc xạ dưới tác phẩm, ta như được đắm mình vào một thế giới nhân sinh thu nhỏ mà ở đó con người được khai thác một cách tuyệt đối dưới mọi khía cạnh của đời sống Thông qua tác phẩm, những sinh hoạt hàng ngày cho đến những khát khao thầm kín nhất cũng được nhà văn trân trọng nâng niu Trong văn học sử thi, ta không hề thấy hình tượng con người được khai thác theo cái nhìn đa chiều như vậy Họ bước ra tác phẩm trong một hoàn cảnh ĐAU THƯƠNG rồi hướng tới ÁNH SÁNG dưới sự nhào nặn gọt giũa của nhà văn Ở đó, con người luôn là hiện thân của những lí tưởng cao đẹp,

họ sống với tình yêu của đất nước, của cộng đồng chứ không vì sống với những tình cảm riêng tư Chính vì lẽ đó mà nền văn nghệ kháng chiến đã

Trang 25

dựng nên được một lầu sử thi cách mạng nhưng cũng không vì thế mà khỏa lấp đi được tính đơn giản xuôi chiều trong việc xây dựng- tái hiện bức tranh đời sống và hình tượng con người trong tác phẩm.

Chiến tranh đã qua đi, cuộc sống thời bình luôn là khoảng thời gian tĩnh lặng nhất để nhà văn chiêm nghiệm về cuộc đời, về lẽ sống Họ không thể cứ mãi viết theo những gì mà Đảng nói, làm theo những gì mà Đảng giao Bằng cách này hay cách khác, họ luôn bộc lộ tinh thần yêu nước của mình Hơn thế nữa, trong vai trò của một người nghệ sĩ chân chính, họ luôn muốn tìm tòi và

bứt phá những gì đang có sẵn để tạo ra một “dấu vân tay” riêng cho mình.

Trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học của

M.B.Khrapchenkô đã từng khẳng định rằng cái mới mà nhà văn đóng góp vào kho tàng kinh nghiệm nghệ thuật cũng xác định những đặc điểm của bản sắc sáng tạo của anh ta, ý nghĩa và vị trí của anh ta trong văn học Cũng trong cuốn sách này M.B.Khrapchenô dẫn lời của Lev Tônlxtôi để khẳng định ý nghĩa của sự sáng tạo văn chương Ông cho rằng thực ra khi chúng ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ thuật của một tác giả mới thì câu hỏi chủ

yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng như sau: “Nào, anh là con người như thế nào đây? Anh có khác gì với tất cả những người mà tôi biết, và anh

có thể nói cho tôi một điều gì mới về việc cần phải nhìn cuộc sống của chúng

ta như thế nào?”…Nếu như đó là một nhà văn cũ đã quen thuộc thì câu hỏi không phải là “anh là người như thế nào”, mà sẽ là: “nào, anh có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới? Bây giờ anh sẽ lí giải cuộc sống cho tôi từ khía cạnh nào?” [30, 90].

Trong cuốn Văn chương và hành động của Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều,

Lưu Trọng Lư viết từ những năm 1936 cũng đã khẳng định ngay trong lời nói

đầu: “…Cho hay những lí thuyết về văn chương có nghĩa lí gì, chẳng ăn thua

gì Bởi vì điều cốt yếu trong văn chương là tinh thần sáng tạo là tự do, là

Trang 26

không ngờ, là linh động là sống vậy” [56, 2] Vậy nên, yêu cầu tất yếu của

mỗi người kĩ sư tâm hồn là phải tìm tòi và cố gắng tạo ra một lối diễn đạt riêng biệt, không phải lập dị nhưng độc đáo, tạo ra một thế giới riêng cho mình

Mặc dù mỗi sáng tác phải là “Giọng điệu của thời mình”, nhưng phải

hằn in cá tính độc đáo của một cái tôi sắc sảo, từng trải và sống đến tận cùng

bản ngã Trong bài Văn nghệ và chính trị, Trương Tửu cũng từng viết: Nhà

văn đảng viên phải chịu sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng nhưng Lênin cũng vẫn

không quên nhấn mạnh rằng “Khu vực công tác văn học” của Đảng có những

“Đặc tính riêng biệt” không thể lãnh đạo như các khu vực công tác khác

được Vậy nên phải đảm bảo phạm vi thật rộng rãi cho sáng kiến cá nhân, cho

sở thích cá nhân, phạm vi thật rộng rãi cho tư tưởng và trí tưởng tượng cho nội dung và hình thức Lênin cho rằng lãnh đạo công tác văn học phải tuyệt đối tránh bình quân hóa máy móc, tránh xu hướng san bằng, tránh lối đa số chế ngự thiểu số

Mặt khác, bản chất của sáng tạo là tiếp nhận và phản ánh Những gì

mà nhà văn tiếp nhận được trong cuộc sống sẽ được “thai nghén” và phản ánh đúng trong “đứa con tinh thần” của mình Có lẽ chính vì những điều kiện

tất yếu đó mà chúng ta thấy nền văn nghệ mười năm sau kháng chiến đã nở rộ loại hình tiểu thuyết đời tư hơn bao giờ hết

Trước hết đó chính là việc thể hiện hình ảnh con người mới trong tác phẩm Con người trong những mối quan hệ đời tư chằng chéo cùng với những diễn biến tâm lí phức tạp Nhà văn, bằng sự trải nghiệm của mình qua cuộc kháng chiến đã phản ánh một cách chân thực nhất những gì đã và đang diễn ra xung quanh họ Từ việc họ giác ngộ tư tưởng ra sao đến việc họ hành động như thế nào? Hàng loạt những tiểu thuyết ra đời như để minh chứng cho một

Trang 27

hướng đi mới trong văn học: Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan, Vào đời của Hà Minh Tuân, Mười năm của Tô Hoài,…

Ngay sau khi những tác phẩm này ra đời, nó đã bị lên án khá mạnh mẽ

vì đi ngược lại những gì mà nền văn nghệ sử thi đã định hướng ra từ trước

Nguyễn Phan Ngọc đã từng nhân xét tiểu thuyết Vào đời của Hà Minh Tuân

là sai lầm về lập trường tư tưởng Còn những tác phẩm như Mười năm của Tô Hoài, Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng thì bị phê phán trong việc miêu tả con

người với cuộc sống vặt vãnh đời thường, trong đó đan xen cả những câu chuyện về tình yêu qua những chi tiết vụn vặt Khi bị lên án, các tác phẩm trên buộc phải ngừng xuất bản vì sợ ảnh hưởng đến tư tưởng quần chúng Các nhà văn cũng ngưng cầm bút trong một thời gian để điều chỉnh lại lối viết của mình

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, giá trị một tác phẩm không thể đánh giá qua lăng kính chủ quan của một số cá nhân ở một thời điểm nhất định Hơn nữa, một tác phẩm phản ánh đúng thực trạng của thời đại mà nhà văn đang sống thì tất yếu sẽ có sức sống lâu bền Cần có một độ lùi thời gian để những tác phẩm thực sự giá trị được nhìn nhận đúng đắn và khách quan

Có thể nói rằng khuynh hướng thế sự đời tư luôn là một mảnh đất phù

sa dồi dào để các nhà văn “cày xới” Khi đất nước vẹn toàn lãnh thổ thì

khuynh hướng này trở lại một cách mạnh mẽ như một tất yếu, góp phần hình thành nên diện mạo chung của văn xuôi sau 1975 Như vậy, giai đoạn khó khăn nhất 1955-1964 mà tiểu thuyết đời tư đã trải qua có vai trò đánh dấu một bước chuyển mình trong việc nhận thức mới của các nhà văn về một hướng đi khác mà trong những năm chiến tranh chưa có điều kiện đề cập tới Nó thực

sự làm nền móng vững chãi, làm viên gạch phạm trù cho việc dựng nên một tòa tháp thế sự của văn xuôi 1975 trở về sau

1.2.4 Thành tựu của tiểu thuyết mười năm sau kháng chiến

Trang 28

Tiểu thuyết trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp chưa

có điều kiện để phát triển thì nay cũng nảy nở khá mạnh với sự đa dạng về đề tài, chủng loại và phong cách Xu hướng chung trong tiểu thuyết giai đoạn này là phối hợp thể tài lịch sử dân tộc với thể tài đời tư và thế sự, trong đó thể tài lịch sử có vị trí chủ đạo, chi phối những thể tài khác Tái hiện những bức tranh đời sống xã hội lịch sử với những xung đột chính yếu và xu hướng vận động của nó vẫn là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của các cây bút tiểu thuyết lúc này Nhưng sự tái hiện lịch sử được gắn liền với sự thể hiện những tính cách và vận mệnh của những cá nhân, hay nói cách khác, lịch sử được tái hiện qua những con người và con đường đi của họ trong xã hội, gắn với

những biến cố trọng đại của lịch sử Trong tập tiểu luận Công việc của người viết tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Nhân vật là vấn đề trung tâm của mọi cuốn tiểu thuyết Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề đều phải thông qua nhân vật và bằng nhân vật” [38, 154] Trong văn học thời kì này,

sáng tác theo hiện thực xã hội chủ nghĩa được coi là phương pháp sáng tác ưu việt nhất, mà điển hình hóa là một trong những yêu cầu cơ bản của quan niệm

về hiện thực, đặc biệt là đối với loại hình tự sự Trường Chinh phát biểu:

“Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi điển hình hóa đến cao độ Điển hình trong nghệ thuật là những nét, những tính cách cơ bản nhất, bản chất nhất, quan trọng nhất và nổi bật nhất trong đời sống xã hội, được tập trung biểu hiện và nâng cao qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ, nhưng chung quy nó vẫn là cuộc sống”[38, 160].

Quan niệm về điển hình hóa như trên đã chi phối cả sáng tác và phê bình văn học trong thời kì này, nhất là với tiểu thuyết Đã có một số nhân vật được đánh giá là những điển hình văn học thành công Lại có những cuộc

tranh luận về quan niệm “Con người thời đại” hoặc về những nhân vật trong một số tiểu thuyết như Cái sân gạch của Đào Vũ, Vỡ bờ của Nguyễn Đình

Trang 29

Thi,…tuy có những hạn chế nhưng nhìn chung tiểu thuyết giai đoạn

1955-1964 cũng đã xây dựng được nhiều hình tượng tiêu biểu cho các tầng lớp, giai cấp, cho số phận và con đường đi của quần chúng nhân dân trong thời đại cách mạng và kháng chiến

Trong tiểu thuyết giai đoạn này, ngoài những tác phẩm được xây dựng theo mô hình phổ biến của tiểu thuyết hiện thực thế kỉ XIX (câu chuyện về những biến đổi, thăng trầm trong cuộc đời và số phận của một hay vài nhân vật chính) thì cũng thấy những nỗ lực của một số cây bút muốn vươn tới loại tiểu thuyết có quy mô sử thi, dựng lại bức tranh toàn cảnh của một giai đoạn lịch sử Khuynh hướng này đã tạo ra một số cuốn và bộ tiểu thuyết nhiều tập

như Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi và đặc biệt là bộ Cửa biển của Nguyên Hồng Trong những tác phẩm này,

các tác giả đã dựng lại bức tranh xã hội- lịch sử rộng lớn với nhiều biến cố, sự kiện lịch sử được tái hiện và chi phối đến số phận, con đường đi của các nhân vật Mỗi tác phẩm đưa ra hàng mấy chục nhân vật thuộc nhiều tầng lớp xã hội

và nhiều tình tiết đan cài phức tạp phát triển trong các mối liên hệ và xung đột

xã hội giai cấp, gia đình Tuy nhiên, các nhà văn chưa thực sự làm chủ được những tiểu thuyết có quy mô lớn, hay xử lí khéo léo các mạch cốt truyện, sự kiện Do vậy mà ở các bộ tiểu thuyết dài của ta thường chỉ thành công ở từng phần và ở một số nhân vật vốn quen thuộc với tác giả hơn cả

Nhìn chung, tiểu thuyết trong khoảng mười năm sau kháng chiến chống thực dân Pháp là một chặng đường đã ghi dấu bước phát triển đáng kể của thể loại tiểu thuyết từ sau cách mạng tháng Tám và đã để lại một số tác phẩm đặc sắc Chặng đường này đã mở ra những phong cách tiểu thuyết rõ nét, đồng thời có những bước tiến trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật và mở ra khả năng bao quát những bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội lịch sử

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Cách mạng tháng Tám thành công, hòa bình lập lại mười năm trên đất Bắc Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền Trước tình hình ấy, đời sống chính trị, văn hóa tư tưởng có nhiều nét biến đổi Đặc biệt là ở miền Bắc trong những năm 1955-1964 Công cuộc cải cách ruộng đất lần 1 đã hoàn thành và đạt được những thắng lợi lớn Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

và đạt được những thành tựu lớn về mặt kinh tế

Cùng với xây dựng đời sống kinh tế, đời sống văn hóa có nhiều thay đổi, trình độ văn hóa được nâng lên Đây cũng là điều kiện để văn nghệ sĩ có

cơ hội nhận thức đầy đủ hơn về mọi hiện tượng trong đời sống và dẫn đến mong muốn nhận thức ngày càng đúng đắn, hoàn chỉnh về con người và xã hội Đồng thời, những sự kiện văn hóa xã hội Trung Quốc cũng tác động mạnh mẽ đến đời sống văn nghệ Việt Nam Nó giúp cho người nghệ sĩ thay đổi cách nhìn nhận và có trách nhiệm hơn với ngòi bút của mình

Có thể nói rằng, nền văn học cách mạng Việt Nam trong những năm 1955-1964 đã có những bước tiến và đạt được nhiều thành tựu đáng kể về tất

cả các thể loại Họ đã chú ý hơn trong việc xây dựng hình tượng con người mới với những đời sống tâm tư tình cảm riêng trong mối quan hệ với cái cộng đồng Chính điều này đã giúp khuynh hướng thế sự đời tư trở lại như một quy luật tất yếu trong đời sống văn nghệ và làm nên những diện mạo riêng trong tiến trình vận động của nền văn học Việt Nam

Trang 31

Hồ Chí Minh đã từng quan niệm: “Xã hội thế nào, văn học thế ấy”

Cũng có thể nói thêm, thời đại thế nào, văn học thế ấy Vì vậy, xét đến cùng, tác phẩm văn học là con đẻ của thời đại, hẳn nhiên, nó mang dấu ấn của thời đại sản sinh ra nó Thời đại tạo ra nhà văn, và thông qua nhà văn, sáng tạo ra tác phẩm văn học Điều đó lí giải tại sao giai đoạn 1955-1964 nền văn học cách mạng lại nở rộ thể loại tiểu thuyết đời tư đến như vậy

Ta biết rằng ở bất kì thời đại văn học nào, mối quan hệ giữa văn học và đời sống cũng là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc Văn học bắt nguồn từ đời sống,

nảy sinh từ hiện thực xã hội Bêlinxki khẳng định: “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” Chế Lan Viên nhấn mạnh: “Dẫu tuyệt bút thì thơ cũng là con đẻ của cuộc đời” Còn Tô Hoài thì cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng một thời đại mà nó ra đời”.

Kháng chiến đã đi qua, hòa bình tạm thời lập lại mười năm trên đất Bắc Con người bước ra từ hơi bom lửa đạn để dần trở về với cuộc sống đời thường Đất nước đã và đang bắt đầu khôi phục lại vết thương chiến tranh Thực tại trở nên xáo trộn, ngổn ngang hơn bao giờ hết Với trách nhiệm của

Trang 32

người cầm bút họ không thể làm ngơ trước những cảnh tượng hàng ngày mà

họ tận mắt chứng kiến Nói như nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhà văn phải là một thứ côn trùng lấy cái râu mà thăm dò thời đại, phải ngụp sâu vào dân tộc mình, nông dân mình Đất nước sau chiến tranh phải đối mặt với bao cam go thử thách Các nhà văn đã nỗ lực hết mình để đưa sự thực đó lên trang viết

Có nhà văn phản ánh ngay ở thời đại mà mình đang sống, lại có những nhà văn trở về với hiện thực của giai đoạn trước đó để miêu tả cuộc sống thường ngày và những đổi thay trong đời sống của họ khi có cách mạng giác ngộ Nhưng dù nhà văn có viết ở giai đoạn nào đi chăng nữa thì những tác phẩm ấy đều phản chiếu dấu vết của thời đại và xét cho cùng văn học chính là hiện thực cuộc sống

Ta biết rằng, với thể loại tiểu thuyết, một trong những nét đặc trưng chính của nó là chất văn xuôi Đó là sự tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành và phát triển, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bộn bề của cuộc đời bao gồm cả cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn và cái nhỏ Trong bốn tiểu thuyết

mà người viết đề cập tới ở giai đoạn 1955 - 1964 thì nổi bật lên là những khó khăn chồng chất, những ngổn ngang của thực tại cuộc sống hiện thời Đó là những khó khăn đói kém về vật chất, về cuộc chiến đấu Đồng thời đó còn là những khó khăn về công cuộc cải cách ruộng đất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Mười năm của Tô Hoài và Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng – Trần Thanh

là những sáng tác tiêu biểu phản ánh hiện thực trước trước cách mạng Mười năm của Tô Hoài là một tiểu thuyết lấy đề tài trong quãng lịch sử nước ta từ

phong trào Mặt trận Dân chủ đến Cách mạng tháng Tám Nhan đề tác phẩm còn nói lên ý định của tác giả là muốn qua vận mạng của những nhân vật của

Trang 33

mình mà diễn tả những sự đổi thay lớn lao trong cuộc sống và con người mà cách mạng đã đem đến cho thời kì lịch sử đó Tuy nhiên, trước khi đến với

cách mạng, ở Mười năm còn cho ta thấy những ngổn ngang về cuộc sống làng

Hạ mà khi đọc ít nhiều chúng ta đều thấy được điều đó

Trong thời kì ấy, nhất là từ khi đại chiến thế giới thứ hai xảy ra cho đến cách mạng tháng Tám bùng nổ, nhiều chuyển biến cực kì to lớn, sâu sắc trong tình hình chính trị diễn ra trên thế giới và trong nước ta Thời cục, trong và ngoài nước biến chuyển dồn dập, tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lòng căm thù của nhân dân ta đối với chúng, công cuộc vận động cách mạng của Đảng ta, phong trào cứu quốc v v…đó là nội dung chủ yếu trong thực tế

xã hội nước ta, thời kì mười năm ấy Dù có lấy một làng nhỏ, có kể chuyện

một nhóm người “thông thường” nhưng khi viết về thời kì ấy, cũng không thể

phớt qua cái thực tế to lớn và bao trùm đó mà không làm cho người ta thấy rõ những biểu hiện sinh động cụ thể của nó trong đời sống tư tưởng con người trong tác phẩm Đó là một thời đột biến của lịch sử, cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các lực lượng xã hội thù địch đã nổ tung ra mạnh mẽ và rộng lớn đến đỗi

có nơi nào, có kiếp người nào có thể ở ngoài mà không bị đảo lộn, rung chuyển! Đó là một thời kì giông tố lịch sử lùa vào từng ngõ, từng nhà, từng tâm hồn, từng việc hàng ngày

Mở đầu cho cuốn tiểu thuyết của mình, Tô Hoài đã vén ra cho người đọc thấy được một sự thực đang tồn tại rất phổ biến trong cuộc sống người

dân trước Cách mạng tháng Tám, đó chính là nạn sưu thuế: “Tùng tùng… tùng Tiếng trống thúc thuế ánh ỏi, ra riết, gay gắt, càng về những ngày cuối càng gay gắt Không biết những ai mười tám tuổi trở lên phải chạy đông chạy tây lo thuế thế nào thì lo, nhưng cứ mỗi lúc từng hồi trống ngoài đình nổi lên, liên miên ba tiếng một thì trẻ con các xóm lại cất cổ nhại theo: tiền tiền tiền” [20, 7] Vấn nạn sưu thuế tồn tại như một quy luật tất yếu

Trang 34

của một xã hội có giai cấp bóc lột Vì sưu thuế mà không ít người dân phải bỏ cửa, bỏ nhà, thậm chí có người phải đi đến bước đường cùng bán con, bán chó như một số trang văn mà Ngô Tất Tố đã phản ánh Thực tại ấy tồn tại một cách vô lí nhưng lại được thừa nhận và nghiễm nhiên trở thành một điều kiện bắt buộc trong một xã hội có giai cấp Qua lời đối thoại giữa chị Hai Tâm và Lạp, chúng ta càng hiểu thêm được hiện thực tháng Tám mới ngổn ngang, bí bách đến mức nào:

“- Trống gọi tiền anh Lạp đấy Anh Lạp năm nay đóng thẻ có sản hay vô sản?

- Tôi bao giờ chẳng vô sản

- Sao bảo bài bổ làng ta năm nay ông lý Dĩ khai không có hạng vô sản?

- Thế mới bỏ mẹ ông lí Dĩ Tôi vô sản lại bắt tôi phải đóng hạng có sản à?

- Thế thì thuế năm nay cũng lôi thôi đấy nhỉ?

- Lôi thôi chứ!”[20,8]

Trước thực tại vô lí về chuyện thuế má, một số thanh niên tiên tiến như

Lê, Trung, Lạp, An, Ba đã rủ nhau không đóng thuế để phản kháng lại sức mạnh của Lí Dĩ Tuy nhiên, trong khi họ còn đang sôi nổi bàn về chuyện chống thuế, chuyện thành lập hội Ái Hữu, mít tinh, nghe nói chuyện thời sự,

… thì ở nhà người thân của họ đã thậm thọt qua nhà Lí Dĩ nộp thuế để tránh

sự phiền phức đến gia đình

Đó chính là những ngổn ngang của đời sống thực tại mà Tô Hoài muốn phản ánh vào trong tác phẩm của mình Trước nền tranh tối tranh sáng của thời kì mặt trận dân chủ, con người luôn mang trong mình hai trạng thái mâu thuẫn giữa đấu tranh để giành quyền tự chủ và thái độ nhút nhát hoảng loạn trước sức mạnh của thế lực cầm quyền Một số người dân, họ cứ sống nhẩn nha, bằng lòng trước hiện thực mà họ đang tồn tại Họ bằng lòng với những

mẻ hàng mới dệt xong, với những câu chuyện tán róc và những buổi biểu diễn

Trang 35

văn nghệ ở trong thôn Như vậy, đối với họ là đủ và giai cấp thống trị nghiễm nhiên trở thành một giai cấp tồn tại tất yếu trong đời sống của họ.

Tuy nhiên, điều cốt lõi ở đây là thực tại mà Tô Hoài muốn gửi tới bạn đọc không chỉ dừng lại ở đó Cuộc sống hàng ngày ở làng Hạ cũng dần dần thay đổi và hết sức bập bỗng Nghề lĩnh và nghề tơ tằm không phát triển được, những người thợ cửi già dệt giỏi lĩnh mười bàn nay cũng phải xoay sang tập dệt lụa khổ rộng, thoi giật máy Các phiên chợ thì phiên đắt phiên rẻ; khách

và lái mua tùy ý họ phiên có phiên không, mùa đắt mùa ế, mỗi năm chỉ rộ được vài tháng, rồi lại sạch tay, lại đương chủ hóa thợ dễ như chơi Nghề nghiệp và cuộc sống u ám, khó hiểu, tạm bợ Người dân đã bắt đầu mang máng rằng cái xã hội này cũng u ám, tạm bợ, không có lí

Ở đây, cái bế tắc của xã hội đã được nhà văn khơi ra cho người đọc thấy trước khi người dân nơi đây giác ngộ được ý thức, tinh thần cách mạng Phải chăng đây cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn Khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc nhận ra nền hiện thực đen tối ấy đã và đang dần bao trùm người dân làng Hạ Mà không chỉ có riêng người dân làng Hạ phải chịu cái ngột ngạt bế tắc trước bầu không khí dân chủ ấy, nhân dân vùng khác trong nước cũng cùng chung thảm cảnh này Vậy, trên nền hiện thực ngổn ngang, nhà văn muốn chờ đợi một điều gì đó mới mẻ nảy sinh từ chính nơi đây chăng?Trước thực tại ấy, đâu đó đã bắt đầu lóe sáng những tia hi vọng đầu tiên Nhóm thanh niên Lê, Lạp, Trung, Ba, An, Chúc đã đứng lên thành lập hội Ái hữu thợ dệt, cũng dần dần giác ngộ được ý thức cách mạng bằng việc rải truyền đơn tại khắp các làng và khắp phố chợ Tuy nhiên, trong số những người ấy, có những người đấu tranh chỉ là do sự tự phát Họ chỉ hiểu lờ mờ rằng đấu tranh là đình công, là để hưởng ứng, để tán thành cái gì mới, để đoàn kết giai cấp thợ, tỏ rõ tất cả nhiệt tình sôi nổi của họ đương muốn tiến bộ mà thôi Còn Chúc, một tay khát gái, lười làm, luôn tỏ vẻ bản thân bằng những

Trang 36

câu chuyện chính trị về Đệ tam Quốc tế thì lại nghĩ rằng đình công thì sẽ

nhiều thợ nghỉ đi chơi, họ sẽ rủ Chúc cùng đi chén, đi uống rượu, “lắm chị thợ tơ sẽ lượn lờ lên trụ sở” Đây chính là hiện thực mà nhà văn muốn đề cập

tới Và đó cũng chính là sự thực đang diễn ra ở khắp cả nước trước khi người nông dân giác ngộ được đúng vai trò của mình đối với cách mạng Nhưng tinh

thần đấu tranh ấy chỉ sôi sục được vài ba hôm thì lại lắng xuống “Cuộc thợ dệt đình công trong các xóm hãy còn tiếp tục hay đã dứt từ lúc nào, không ai biết Những người thợ dệt nghỉ mấy hôm, chán, lại vào khung cửi” [20] Đây

chính là hình thức đấu tranh tự phát nửa vời của nông dân và công dân trước khi đến với cách mạng Bên cạnh đó, khi tiếp xúc với trang văn có một điều

mà ta không thể ngờ rằng ngay khi họ đang sôi sục tinh thần đấu tranh ấy thì mối nguy hiểm lại đang rình rập bên họ Kẻ thù lại ở ngay trong chính tổ chức của họ, ở chính con người mà họ đang cưu mang đó là Chúc Đôi lúc anh ta cảm thấy rùng mình khi nghĩ tới những khó khăn trước mắt mà cách mạng giao cho Chúc đã lung lay ý chí, anh sợ khổ đến phát hoảng Khi bạn bè chia

nhau đi các làng, ngầm cổ động thì Chúc lại “Nằm nhà đắp chiếu Chúc ngủ hay sợ phát ốm? làm thế nào cho yên bây giờ?” [20] Thế rồi, sau khi bị lính

phủ truy lùng thì phong trào ấy dường như dần lắng xuống An bị bắt, Lê phải chuyển vào trong Phong trào đấu tranh cũng vì thế mà đi vào ngõ hẻm

Cùng với thực tại đấu tranh theo hình thức tự phát, ta còn thấy cuộc sống trước mắt hiện ra không chỉ ở làng Hạ mà còn ở khắp các vùng lân cận trong nước cũng diễn ra hết sức khó khăn Cái đói đã ập đến từng nhà, từng đường

làng ngõ xóm Ở Hải Phòng, hàng trăm người “Ngửa cổ lên hóng một miếng xương, một nắm lá bắp cải rơi xuống chỗ mình đứng” [20] Còn ở làng Hạ thì sao? “Cái chợ sầm uất đã khác hẳn Từ đầu làng trở xuống, những ngôi hàng nước chè tươi, những ngôi hàng thịt cầy và cả cái hàng phở ở nhà trong có hội Ái hữu ngày trước mà chiều chiều anh chị em thợ vẫn rập rìu, tấp nập ăn

Trang 37

uống, vào chơi, đánh cờ là thế, đố mía, bàn chuyện chính trị, văn thơ, bây giờ chỉ còn trống trơ, một khoảng đất trụi, đến một ngọn rau rền cơm vừa nhô lên cũng không thể lọi được (…) Đám đông quằn quại, lúc nhúc, rách rưới, tanh hôi từ cống bùn, rãnh ao lên, đông là thế mà chỉ lào xào phờ phạc, đều đều như sóng đánh, tịnh không một tiếng quát tháo, cười ròn, mặc cả, chửi rủa, say rượu, bò rống, lợn éc” [20].

Chúng ta biết rằng, phiên chợ là cả một bộ mặt đánh giá sự giàu-nghèo của một vùng quê đó Thế nhưng phiên chợ quê của làng Hạ đã khác hẳn với những phiên chợ hàng ngày tấp nập mà vốn dĩ trước kia làng Hạ vẫn có Cái đói đã chính thức đặt chân vào cuộc sống người dân Bằng ngòi bút miêu tả đậm chất hiện thực mà Tô Hoài đã cho người đọc thấy được cái rách rưới, cái quằn quại của kiếp người khi lâm vào cảnh bần túng Ngòi bút hiện thực ấy không chỉ dừng lại ở đó, Tô Hoài còn khoét sâu vào những chi tiết tưởng chừng như rất bình thường nhưng nó lại đánh giá được cả vận mệnh của

người dân làng Hạ: Ngay cuối bãi chợ có một thứ hàng mới mà mỗi hôm mối nhiều mãi, đó là những khung cửi như bộ xương con trâu, con voi từ các làng khênh ra, xếp chồng đống, ngổn ngang bên cạnh những tay chân cột nhà, những mái rạ, mái lá đã dỡ ra bán làm củi.(…) Nhưng ở một đống rác cạnh đấy thì bâu nhâu người ra bới Mấy đứa bé trần truồng, choắt mặt, trán nhăn rúm như những cụ già sắp xuống lỗ, ngồi giữa đám vỏ ốc, hút tùn tụt cả cứt

ốc lẫn đất vào trong miệng rồi đánh toạch một cái, chiếc vỏ rỗng còn lăn lóc, đứa khác đã lại quơ tay ra cầm lên, hút lại” [20] Khi độc giả tiếp xúc với

những trang văn này, ta thấy trên nền hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ ngổn ngang và bế tắc hơn bao giờ hết Cái đói, cái nghèo đã chi phối hết thảy những suy nghĩ, ý thức của con người Thậm chí phong trào cách mạng đang diễn ra sôi nổi cũng bị chùng xuống và rơi tõm vào khoảng không của sự khổ

Lê bỏ đi Hải Phòng, rồi làm phu cho đồn điền cao su, làm thợ cho một chủ lò

Trang 38

gạch Cuộc đời về sau của Lê như thế nào, không ai biết được nữa Còn Lạp cũng bỏ vào vùng trong, vừa để nghe ngóng tin tức chính trị cũng vừa để

kiếm ăn Từ sau khi bị bắt An đã thề với lòng mình không bao giờ dám “chót dại” nữa Chúc thì phản bội Ở lại làng chỉ còn có Ba và Nhàn Nhưng Ba đã

sớm ra đi vì cái đói Nhàn cũng bị cái đói hành hạ từng ngày từng giờ Thậm chí cô phải ăn khô dầu để cầm cự qua ngày dẫu biết rằng cái chết đang kề cận bên mình Còn những đồng chí khác, phần vì bị địch truy lùng gắt gao mà phải đi vào hoạt động bí mật, nhưng cũng phần lớn là vì cái đói nên công cuộc đấu tranh tạm thời phải gác lại để kiếm cớ sinh nhai Thực tại cuộc sống với những khó khăn trước mắt đan xen chồng chéo lên nhau

Là một nhà văn hiện thực, Tô Hoài luôn biết chú trọng đến quan điểm khách quan của lịch sử, điều đó đòi hỏi nhà văn phải xuất phát trực tiếp từ thực tại Cũng xuất phát từ chính quan điểm này mà nhà văn Lev Tônlxtôi

tuyên bố: “Nghệ sĩ là nghệ sĩ chẳng qua là vì anh ta nhìn sự vật không phải như mình muốn mà như chúng ta tồn tại trong thực tế” [51] Gorki cũng khẳng định “Chủ nghĩa hiện thực là miêu tả thực tại một cách khách quan”

Chính vì vậy mà khi Tô Hoài đưa ngòi bút của mình xoáy sâu vào cái đói của làng Hạ thì một phần nào đó đã lột tả được cảnh khốn cùng của những người dân trước cách mạng tháng Tám Những chi tiết miêu tả cái đói của người dân làng Hạ và các vùng lân cận tưởng như rất đỗi bình thường đã trở thành những chi tiết đắt giá trong toàn bộ tác phẩm của ông Ngay khi cuốn tiểu thuyết này ra đời, nó đã bị rất nhiều các nhà phê bình phê phán như rơi vào miêu tả những chi tiết vặt vãnh của đời sống thường ngày trong khi yêu cầu chung của nền văn nghệ thời kì đó bắt buộc nhà văn phải khái quát cuộc sống, phải miêu tả con người dưới góc độ lãng mạn sử thi Chính vì lẽ đó mà nhà

phê bình Như Phong đã kết luận cuốn tiểu thuyết Mười năm của Tô Hoài là

Trang 39

biểu hiện của một “Chủ trương sáng tác sai lầm, một khuynh hướng nghệ thuật lệch lạc [33].

Tuy nhiên, đó là một góc nhìn mang tính chất cá nhân phiến diện Ở đây, nếu xét về yêu cầu của bút pháp hiện thực chủ nghĩa thì Tô Hoài đã khá thành công ở những chi tiết tưởng như vụn vặt nhưng lại rất đắt này Nhà nghiên cứu Pêtơrốp đã từng khẳng định với bạn đọc rằng có một nguyên tắc trong phương pháp lịch sử, nguyên tắc tạo thành thi pháp của chủ nghĩa hiện thực,

là sự từ chối các tiêu chuẩn mĩ học cố định, tiêu chuẩn duy nhất của nó là tái

hiện chân lí đời sống bằng nghệ thuật Chủ nghĩa hiện thực chủ trương phản

ánh hiện thực bằng hình thức của chính bản thân đời sống Khác với chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực là một khuynh hướng thẩm mĩ không tìm đến những thế giới xa lạ nào mà thường đi tìm những đối tượng quen thuộc, phổ biến của đời sống quanh ta, thậm chí là những cái hàng ngày, những mảnh đời vụn vặt nhàm chán Và nói như Gớt thì đối với người nghệ sĩ, yêu cầu cơ bản nhất luôn luôn là yêu cầu phải đứng về phía cuộc sống, nghiên cứu

nó, tái hiện và tạo dựng một cái gì giống với các hiện tượng của nó

Xuất phát từ phương thức chung trong bút pháp hiện thực chủ nghĩa mà

Tô Hoài đã lột tả cho người đọc thấy được một hiện thực trần trụi về sự bế tắc của người dân trước cách mạng Mục đích nghệ thuật của ông khi đưa ra thực tại ngổn ngang này nhằm cho người đọc thấy rõ được sự thay đổi của người dân làng Hạ khi đến với cách mạng Đó chính là mô hình sáng tác chung của nền văn nghệ cách mạng trong việc khắc họa số phận cá nhân đi từ đau thương đến ánh sáng

Trong tiểu thuyết Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng -Trần Thanh cũng mở ra cho ta thấy một hiện thực bề bộn Nếu như ở tiểu thuyết Mười năm, Tô Hoài bắt đầu những mảnh hiện thực của mình bằng tiếng trống thúc thuế “Tùng… tùng tùng ” thì ở Nhãn đầu mùa, Xuân Tùng - Trần Thanh đã dẫn dắt cho

Trang 40

người đọc thấy được cái ngột ngạt của hiện thực chiến tranh qua bản nhạc dạo

nặng nề trong đoạn văn mở đầu cuốn tiểu thuyết: “Bóng đêm u uất đè nặng lên thôn xóm Mới chập tối một lúc mà tưởng chừng như đã khuya lắm Tất

cả chìm đắm trong không khí hoang vắng, yên lặng đến rợn người Dòng sông Luộc ban ngày xanh trong giờ sẫm màu uốn mình trôi xuôi Cả những thửa ruộng lúa chín vàng trên cánh đồng Thiện Phiến, những ruộng mía xanh tươi, những cây nhãn ven đường cũng bị xóa nhòa trong bóng đêm đặc quánh Trên nền trời đen kịt chập chờn mấy ngôi sao cô độc, mờ nhạt như thể

sẽ lặn mất lúc nào không biết” [62, 3] Đó chính là thực tại cuộc sống đen tối

mà nhà văn muốn gửi tới bạn đọc khi giặc xâm chiếm Hưng Yên Cuộc sống người dân quẩn quanh bế tắc Đối lập với bóng tối u uất, đối lập với những ngọn đèn dầu hỏa vặn bé bằng hạt đỗ xanh tỏa sáng lù mù trong những gian nhà tranh bé nhỏ của làng Thiện Phiến trên nền trời đêm đen kịt kia Đó là

“Ánh sáng đỏ quạch từ những lô cốt hắt lên ở phía bốt Triều Dương hắt lại”

“Khói bốc cuồn cuộn trùm lấp xóm làng (…) Thời kì đen tối bắt đầu Giặc khủng bố, giết chóc ghê gớm” [62].

Có thể nói, với cách miêu tả chi tiết, tỉ mỉ, tác giả đã vẽ lên một bức tranh trên nền hiện thực tàn khốc, ác liệt khi có gót giày xâm lấn của giặc Mọi thứ trong cuộc sống đều bị đảo lộn, người dân luôn phải sống trong trạng thái thắc thỏm Ăn ngủ đều không yên Tình hình chính trị trong vùng cũng bị đảo lôn trước sự xâm lấn của giặc Họ buộc phải chuyển cơ sở cách mạng liên tục Tuy nhiên, cũng đã có những trận đánh phục kích lẻ tẻ xảy ra trên đường 39 của quân ta, nhưng cũng từ đó mà giặc lại càng hoạt động ráo riết hơn Chúng bắn phá, tàn sát không tiếc tay Những quả đạn mooc-chê tai ác câu về bất cứ ngày đêm Những hàng tre bật gốc, cháy sém Những xác người trúng đạn vắt qua bờ ruộng Những cành nhãn bị tiện ngang, những vết xe cóc hằn sâu trên đồng lúa Thực tại đã vạch trần cho ta thấy được cái tai ác của giặc, thấy được

Ngày đăng: 07/09/2016, 08:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w