MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 2 3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 8 4. Mục đích nghiên cứu 9 5. Phương pháp nghiên cứu 9 6. Cấu trúc luận văn 10 PHẦN NỘI DUNG 11 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO” 11 1.1. Sự dung thông Tam giáo – Cơ sở triết học của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” 12 1.1.1. Phật tính luận – trục tâm của tư tưởng 12 1.1.2. Triết học nhân sinh Đạo gia – một cách “nói hộ” tư tưởng Thiền 14 1.1.3. Tư tưởng “lạc đạo” của Nho gia với phương pháp tu dưỡng của Thiền tông. 16 1.2. Tinh thần thời đại – Cơ sở thực tiễn của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” 19 1.2.1. Thời đại anh hùng với “hào khí Đông A” bất diệt 19 1.2.2. Thời đại Phật giáo thịnh trị, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tinh thần xã hội 23 CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO” – TỪ THƯỜNG CHIẾU, TRẦN THÁI TÔNG QUA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ ĐẾN TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG 28 2.1. Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu và tư tưởng “biện tâm” của Trần Thái Tông – những nền móng đầu tiên 28 2.1.1. Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu dấu gạch nối giữa ba tông phái Thiền đời Lý với dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử 28 2.1.2. Trần Thái Tông, người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với triết lý “biện tâm” 31 2.2. Bản lĩnh “hòa quang đồng trần” trong sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ 35 2.2.1. Tư tưởng “tùy duyên” 36 2.2.2. Tinh thần “phá chấp” triệt để 40 2.2.3. Tinh thần tự tin vào bản thân 44 2.3. Tư tưởng “tùy duyên lạc đạo” trong thơ văn của Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông – người lập thuyết cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 48 2.3.1. “Cư trần lạc đạo” – minh triết siêu việt thế tục 50 2.3.2. “Tùy duyên bất biến” – chìa khóa mở cửa cuộc sống an lạc 54 2.3.3. “Gia trung hữu bảo” – nguyên tắc “không truy tầm” 57 2.3.4. “Đối cảnh vô tâm” – con đường ngộ Đạo 62 2.4. Cảm hứng thế tục trong thơ ca Thiền sư – thi sĩ Huyền Quang 68 2.4.1. Tâm hồn thi sĩ giàu cảm xúc trước thiên nhiên 69 2.4.1.1. Cảm thức trước vẻ đẹp thiên nhiên 69 2.4.1.2. Niềm khao khát hòa nhập với thiên nhiên 73 2.4.2. Tấm lòng Thiền sư với những cảm xúc đời thường 77 2.4.2.1. Nỗi đau “thế thái nhân tình” 77 2.4.2.2. Những tâm sự cá nhân 81 CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO” 89 3.1. Đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 90 3.1.1. Hình thành mẫu người Phật tử với tinh thần nhập thế tích cực, góp phần ổn định xã hội 90 3.1.2. Đóng góp trong ba cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông xâm lược và sự nghiệp “Nam tiến”, mở mang bờ cõi Đại Việt 94 3.2. Đối với công cuộc chấn hưng nền văn hóa Đại Việt 98 3.2.1. Phát huy giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng một hệ tư tưởng độc lập, riêng có của Đại Việt 98 3.2.2. Định hình phong cách riêng cho văn học Phật giáo thời Trần 101 3.2.3. Xây dựng triết lý sống tích cực trong tâm thức người Việt 105 PHẦN KẾT LUẬN 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THANH
Trang 2HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS
TS Vũ Thanh, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phòng Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Tổ bộ môn Văn học Việt Nam trung đại, đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 06 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Đình Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo và văn hóa Phật giáo
đã đồng hành cùng dân tộc, trở thành một phần cốt yếu, quan trọng của văn hóa Việt Nam; đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; nuôi dưỡng tâm hồn và sức sống Việt; xây dựng lối ứng xử văn hóa trong quan hệ với đồng loại và với thế giới tự nhiên cho các thế hệ, tạo nên vẻ đẹp
và bản sắc dân tộc
Lý - Trần là thời đại dân tộc “hồi sinh” sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc Thời này, Phật giáo thịnh trị, tư tưởng triết lý Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh con người và đời sống văn học Văn học Phật giáo nói chung, thơ Thiền nói riêng là một bộ phận quan trọng của văn học Lý - Trần, là di sản quý báu của một thời đại đáng tự hào của dân tộc ta Tìm hiểu giá trị đích thực của thơ Thiền là việc làm cần thiết cho nền văn hóa nước nhà, nhất là trong thời đại mở cửa hội nhập
Ra đời trong bối cảnh “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn
thuở vững âu vàng” (Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu) của thời đại Đông A, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là kết tinh của tinh
thần Phật giáo Đại Việt trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu tinh hoa ngoại quốc Trước tác của Thiền Trúc Lâm để lại cho hậu thế thực sự là những viên ngọc quý, phản chiếu con người tinh thần của một thời đại anh hùng Trong xu thế nhìn lại quá khứ với niềm tự hào sâu sắc, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và các sáng tác của những Thiền sư dòng Thiền này ngày càng được quan tâm một cách thỏa đáng từ giới nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như bạn đọc gần xa Đặc biệt, cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông - vị Tổ sáng lập Thiền phái được các học giả quốc tế chú ý và đánh giá cao không chỉ bởi những cống hiến xuất sắc của ông cho lịch sử dân tộc mà
Trang 6trên tất cả là những tư tưởng triết học thâm viễn mang tầm nhân loại của hoàng đế “nhiều trong một” này.
Là một dòng Thiền dân tộc lấy chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” làm tôn chỉ hoạt động, Thiền Trúc Lâm đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc cũng như công cuộc chấn hưng nền văn hóa Đại Việt Trên
cả hai bình diện đạo và đời, dù ở phương diện lịch sử hay văn hóa, tư tưởng
“Cư trần lạc đạo” cũng làm rạng danh dân tộc Việt Nam một thời oanh liệt Tìm hiểu tư tưởng “Cư trần lạc đạo” không những giúp chúng ta hiểu hơn về các thế hệ tiền nhân người Việt mà còn bồi đắp niềm tự hào đối với di sản văn hóa của cha anh đi trước để lại
Mặt khác, tìm hiểu tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong sáng tác của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một cách thể hiện niềm tri ân sâu sắc đối với các giá trị truyền thống, đồng thời phát huy giá trị các di sản của tiền nhân trong
thời đại hội nhập với tinh thần “Ôn cố tri tân”.
Tóm lại, đây là vấn đề mang tính khoa học mới mẻ và giá trị thực tiễn
sâu sắc
Chính vì vậy, trong khuôn khổ công trình này, chúng tôi lựa chọn và
triển khai đề tài: “Sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn
chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử” với hi vọng sẽ góp sức vào việc nhìn
nhận Thiền Trúc Lâm như một hiện tượng phi thường trong tiến trình phát triển của tư tưởng dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về Phật học, Thiền học thời Trần
Phật giáo nói chung và Thiền học nói riêng có bề dày lịch sử nghiên cứu
Thiền uyển tập anh ngữ lục là một tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ
Hán ghi lại tương đối hệ thống các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng từ cuối thế kỷ VI đến thế kỷ XIII Ðây là tài liệu lịch sử cổ nhất của Phật giáo Việt Nam hiện có
Trang 7Tam tổ thực lục là tập sách trình bày hành trạng của ba vị Tổ sư thuộc
dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch và chú giải
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang là một tác phẩm nghiên
cứu vào loại quy mô về Phật giáo Việt Nam Tác phẩm trình bày toàn bộ diễn tiến của Phật giáo từ thời Luy Lâu tới giữa thế kỉ XX ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã dành 7 chương để giới thiệu về Phật giáo đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Duy Hinh cũng có những công trình nghiên cứu quan trọng về lịch sử du nhập, phát triển của Phật
giáo dân tộc Các tác phẩm phải kể đến là: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Tài Thư chủ biên), Triết học Phật giáo Việt nam (Nguyễn Duy
Hinh) Đặc biệt là Lê Mạnh Thát, người được coi là học giả viết sách về
văn học và lịch sử Phật giáo nhiều nhất Việt Nam Ông là tác giả của: Tổng
tập Văn học Phật giáo Việt Nam (3 tập), Toàn tập Trần Thái Tông, Toàn tập Trần Nhân Tông, Lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Nguyễn Hùng Hậu là một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về
tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Góp phần tìm hiểu tư
tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông (1996), Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam (1997), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam
từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV (2002).
Nhiều luận án nghiên cứu tư tưởng triết học của các nhân vật Thiền Trúc Lâm Trương Văn Chung bảo vệ thành công luận án phó Tiến sĩ đề tài
“Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần” (1996) Luận án Tiến sĩ: “Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ” của Nguyễn Đức Diện, luận
án Tiến sĩ của Bùi Huy Du với đề tài “Tư tưởng triết học của Trần Nhân
Tông” (2011) đã hệ thống hóa những quan niệm về bản thể luận, nhận thức
Trang 8luận và nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông - những nhân vật chủ chốt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến quá trình sưu tập, biên dịch và
bình chú các kinh sách Phật giáo như: Bát nhã, Viên giác, Hoa nghiêm, Pháp
hoa,… của các thế hệ học giả Phật tử Việt Nam.
2.2 Những nghiên cứu về thơ Thiền thời Lý - Trần và cảm hứng “Cư trần lạc đạo”
Những bộ khảo cứu, sưu tầm về văn học thời Lý - Trần đầu tiên phải kể
tới Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan), Trích diễm thi tập (Hoàng
Đức Lương) Tiếp đó, được sưu tầm và giới thiệu trong sách vở lưu hành từ
thế kỷ XIV - XVIII như Khóa hư lục (Trần Thái Tông), Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ, Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh), Tam tổ
thực lục, Thánh đăng lục, …
Nửa sau thế kỷ XX, những tác phẩm thơ ca thời Lý - Trần đã được tập
hợp và sưu tầm, ghi chép lại trong cuốn Thơ văn Lý - Trần (3 tập) do nhóm
tác giả Viện Văn học thực hiện Tác giả Nguyễn Huệ Chi phân tích những kết quả nghiên cứu những năm đầu thế kỷ XX, từ đó giới thuyết lại diện mạo văn học Lý - Trần từ nội dung đến hình thức thể loại Đến năm 2005, thơ văn Lý -
Trần được sưu tầm và biên soạn lại trong cuốn Tinh tuyển văn học Việt Nam,
tập 3 do Nguyễn Đăng Na chủ biên
Nghiên cứu về thơ văn Lý - Trần đã có một quá trình lâu dài với nhiều bài viết giá trị, đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ XX qua các công trình
như: Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1941), Việt Nam cổ
văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (1942), Văn học đời Lý và đời Trần của
Ngô Tất Tố (1942) Gần đây, văn học Lý - Trần đã được nhiều tác giả như: Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Thị Thu Vân, Trần Nho Thìn, Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Công Lý,
Trang 9… đề cập tới Mỗi tác giả có những cách tiếp cận và đánh giá của riêng mình Trần Nho Thìn chọn cách tiếp cận từ phương diện văn hóa để tìm hiểu thơ
trung đại (Văn học trung đại Việt Nam, dưới góc nhìn văn hóa) Nguyễn Đăng
Na trong cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam đặt những tác
phẩm thơ ca trung đại vào tọa độ không gian và thời gian để tìm con đường
giải mã; hoặc tìm hiểu văn học trung đại Việt Nam dưới góc độ thi pháp học như việc mà Trần Đình Sử đã làm trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Đó
còn là cái nhìn từ góc độ loại hình tác giả văn học trung đại như một số bài nghiên cứu của Trần Ngọc Vương, Đỗ Thu Hiền, Nguyễn Tuấn Anh, Đỗ Lai Thúy,… Mỗi tác giả, với những góc nhìn khác nhau đã có những đóng góp nhất định cho việc phát hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những tác phẩm thơ ca trung đại nói chung và thơ ca Lý - Trần nói riêng
Thơ Thiền thời Lý - Trần cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn, luận án Đáng chú ý là các luận án của Đoàn Thị Thu Vân và Nguyễn Công Lý Luận án phó Tiến sĩ năm 1995 của Đoàn Thị Thu Vân với
đề tài: “Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ
XI - thế kỷ XIV” đi sâu khảo sát những đặc sắc của thơ Thiền Việt Nam;
Nguyễn Công Lý với đề tài: “Văn học Phật giáo Lý - Trần: diện mạo và đặc
điểm” (luận án Tiến sĩ năm 2000), đã trình bày về diện mạo và đặc điểm cụ
thể của văn học Phật giáo thời Lý - Trần Trong đó, tác giả dành chương 4 (trong tổng số 4 chương) trình bày về năm đặc điểm cơ bản nhất của văn học Phật giáo thời này
Từ những năm cuối thế kỷ XX, trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
như Tạp chí Văn học (sau đây xin viết tắt là: TCVH), Tạp chí Văn hóa dân
gian, Tạp chí Nghiên cứu Phật học… có nhiều bài viết nghiên cứu về thơ
Thiền thời Lý - Trần Ngay từ năm 1982, Nguyễn Phương Chi có bài nghiên
cứu xuất sắc về thơ ca và con người Huyền Quang (Huyền Quang, nhà sư thi
Trang 10sĩ, TCVH, số 3, năm 1982) Tiếp theo, Nguyễn Phạm Hùng trên TCVH số 4
công phu tìm hiểu về sự vận động của mảng thơ trữ tình đời Trần với bài “Về
diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần” Năm 1992, Nguyễn Phạm Hùng trong
bài “Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền đời Lý” đăng trên TCVH số 4 đã đi
sâu tìm hiểu xu hướng vận động của thơ Thiền đời Lý: là sự kết hợp của cảm quan tôn giáo và cảm quan thế tục chủ yếu trên bình diện con người Phạm
Ngọc Lan có bài “Trần Nhân Tông, cảm hứng Thiền trong thơ” đăng trên
TCVH, số 4 năm 1992,…
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều Hội thảo khoa học cấp quốc gia và quốc tế được tổ chức nhằm trao đổi một số vấn đề học thuật liên quan tới những nhân vật quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt
Nam” năm 2000 đã tập hợp những những bài nghiên cứu về vai trò của Tuệ
Trung Thượng sĩ với lịch sử phát triển của Thiền tông Việt Nam
Hội thảo: “Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông, cuộc đời và sự
nghiệp” diễn ra vào tháng 11 năm 2008 tại Quảng Ninh được tổ chức trong
khuôn khổ Đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày mất của Phật hoàng Trần Nhân Tông Kỷ yếu Hội thảo khoa học gồm 90 tham luận của các nhà nghiên cứu, học giả đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam
Hội thảo khoa học: “Bảo tồn và phát huy di sản Đệ tam tổ Thiền phái
Trúc Lâm Huyền Quang và Lễ hội Côn Sơn” được tổ chức nhân ngày Giỗ
Huyền Quang Tôn giả 23 tháng Giêng (15/02/2009) tập hợp những tham luận đánh giá về hành trạng, trước tác đồng thời khẳng định vai trò cùng những đóng góp của Thiền sư đối với Thiền phái Trúc Lâm
Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân Đại lễ tưởng niệm 705 năm ngày nhập
Niết bàn và khánh thành tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Phật giáo Trúc
Trang 11Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay” (2013) tập hợp gần 50 bài viết của các học giả
trong nước cùng đông đảo Phật tử thuần thành
Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong các sáng tác của Thiền phái Trúc Lâm cũng được đề cập trong các luận án Tiến sĩ Triết học (như đã nói ở trên)
và qua một số bài viết của Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Kim Sơn, Thích Phước Đạt, Thích Huệ Thiện…
Như vậy, Thiền học nói chung và thơ Thiền Lý - Trần nói riêng đã được nghiên cứu tương đối toàn diện Mỗi nhà nghiên cứu, với góc độ và phương pháp tiếp cận của riêng mình đã khai thác đối tượng trên nhiều bình diện, cung cấp cho giới học thuật nói chung những phương tiện và con đường riêng để giải mã tác phẩm văn học Phật giáo Nhiều vấn đề nội dung tư tưởng, giá trị Thiền học của các sáng tác văn học Thiền phái Trúc Lâm được phân tích, tổng hợp tạo tiền đề cho việc hệ thống hóa tri thức về văn học Phật giáo,
từ đó xây dựng một “phông” văn hóa cần thiết cho những người muốn tìm hiểu, nghiên cứu văn chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” – hạt nhân triết lý, linh hồn của văn chương Thiền phái Trúc Lâm được các học giả phát hiện, khái quát ở một số công trình nghiên cứu Tuy nhiên, tính cho đến nay chưa có một chuyên luận hay một công trình khoa học nào thực sự tập trung tìm hiểu quá trình vận động từ khởi nguồn đến
đỉnh cao và thế tục hóa của nó.
Kế thừa, vận dụng những thành tựu học thuật đã nói ở trên, luận văn này lý giải cội nguồn làm khởi phát tư tưởng “Cư trần lạc đạo” đồng thời diễn giải cụ thể và đánh giá sự vận động của nó trên một trục tâm nhất quán, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nhìn nhận hệ tư tưởng Trúc Lâm Đại Việt một cách toàn diện mà cụ thể, góp phần tôn vinh những giá trị truyền thống Việt Nam
Trang 123 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm:
Những sáng tác của Trúc Lâm Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông: khoảng 20 bài
thơ chữ Hán (Xuân vãn, Xuân cảnh, Sơn phòng mạn hứng, Đăng Bảo Đài sơn,
Thiên Trường vãn vọng, Vũ Lâm thu vãn, Xuân hiểu, Khuê oán, Nguyệt,…); 2
bài phú Nôm (Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca); văn xuôi (Thượng sĩ hành trạng).
Thơ văn của Đệ tam tổ Huyền Quang: 1 bài phú Nôm (Vịnh Vân Yên tự
phú), khoảng 23 bài thơ chữ Hán (Tảo thu, Yên Tử sơn am cư, Chu trung, Phiếm chu, Đề Đạm Thủy tự, Ai phù lỗ, Địa lô tức sự, Ngọ thụy, Sơn vũ, Trú miên, Cúc hoa (6 bài), Nhân sự đề Cứu Lan tự, Mai hoa, Tặng sĩ đồ đệ tử, Thứ Bảo Khánh tự bích gian đề,…) được tập hợp trong tác phẩm Ngọc tiên tập (Chiếc roi ngọc).
Các sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung - người truyền “tâm ấn”
cho Trần Nhân Tông, tập hợp trong Thượng sĩ ngữ lục (Phàm thánh bất dị, Phật
tâm ca, Phóng cuồng ngâm, Vật bất năng dung, Trì giới kiêm nhẫn nhục, Giang
hồ tự thích, Dưỡng chân, Sinh tử nhàn di dĩ, Ngẫu tác, Tụng cổ, Đối cơ…).
Ngoài ra, luận văn còn dành một thời lượng nhất định cho các tư tưởng
của Thiền sư Thường Chiếu (kệ thị tịch) và Trần Thái Tông (Khóa hư lục,
Thiền tông chỉ nam tự).
Đối với Trúc Lâm nhị tổ Pháp Loa, do Thiền sư chủ yếu dành thời gian
để phát triển giáo hội, xiển dương đạo pháp, trước thuật sách vở; hơn nữa, tư liệu về ông còn rất hạn chế, những tác phẩm của ông (những sách giáo khoa Phật học) phần lớn đã bị thất truyền, chỉ còn lại một bài ca tụng Tuệ Trung
Thượng sĩ, một bài Thị tịch còn ghi chép ở sách Tam tổ thực lục và bài Lưu
luyến cảnh núi xanh còn được chép trong Toàn Việt thi lục, tư tưởng Thiền
học lại có nhiều điểm tương tự tư tưởng của Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông, vậy nên trong công trình nhỏ này, chúng tôi chỉ khảo sát, xem xét
Trang 13những trước tác của ông trên cơ sở tích hợp, lồng ghép với Tuệ Trung Thượng sĩ và với Trần Nhân Tông.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào tư tưởng “Cư trần lạc
đạo”, những biểu hiện cùng quá trình vận động từ cội nguồn đến khi phát triển tới đỉnh cao gắn với các sáng tác kể trên
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm giải quyết một vấn đề khoa học, từ đó rút ra những bài học thực tiễn:
Trước hết, nhận diện được những biểu hiện cùng quá trình vận động
của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: từ cội nguồn sinh thành đến khi phát triển tới đỉnh cao và đi vào thế tục
dẫn tới quá trình điển phạm hóa loại hình văn học nhà Nho Qua đó, làm sáng
rõ phong cách riêng của văn học Phật giáo thời Trần trong tương quan so sánh với văn học Thiền thời Lý
Mặt khác, lý giải và đánh giá cội nguồn hình thành, sự vận động, những
đóng góp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” đối với lịch sử và văn hóa dân tộc
Từ đó, rút ra những bài học thực tiễn đối với công tác bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống trong thời đại hội nhập và xây dựng chủ
trương sống “tốt đời đẹp đạo”.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: xuất phát từ đối tượng nghiên
cứu của luận văn là tư tưởng “Cư trần lạc đạo” nên phương pháp nghiên cứu chủ đạo được sử dụng trong luận văn này là phương pháp liên ngành Nghiên cứu liên ngành là sự kết hợp các môn học, các chuyên ngành khoa học khác nhau Liên ngành là sử dụng lối tư duy tổng hợp để xem xét một đối tượng mang tính nguyên hợp Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu đối tượng trên các bình diện văn học, triết học, sử học, văn hóa
- Phương pháp nghiên cứu loại hình học: xuất phát từ phạm vi nghiên
cứu, trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình
Trang 14tác giả Thiền sư - thi sĩ và loại hình tác phẩm văn học Phật giáo (kinh kệ, thơ
Thiền, ngữ lục).
- Phương pháp so sánh văn học: đối chiếu giữa những tác phẩm, các
tác giả để nhận biết trục tâm tư tưởng và những sáng tạo của mỗi cá nhân, qua
đó thấy được sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: đối tượng phân tích, tổng hợp ở
đây là những văn bản tác phẩm của các nhân vật thuộc Thiền phái Trúc Lâm (có cả chữ Hán, phiên âm, dịch thơ và chữ Nôm), đòi hỏi người viết sự phân tích logic, tránh áp đặt tùy tiện
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” Chương 2: Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” – Từ Thường Chiếu, Trần Thái
Tông qua Tuệ Trung Thượng sĩ đến Trần Nhân Tông và Huyền Quang
Chương 3: Những đóng góp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”.
Trang 15PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1:
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO”
“Cư trần lạc đạo” nghĩa là “ở đời mà vui đạo” “Cư trần lạc đạo” có
nghĩa là giác ngộ ngay giữa cuộc đời, giác ngộ không phải là xa lánh cuộc
đời hay quên đời Quan điểm này đã trở thành một triết lý điển hình cho Phật
giáo Đại Việt, do Trần Nhân Tông đã tổng hợp, khái quát từ chính cuộc đời của ông nội (Thái Tông), của cha (Thánh Tông), của sư phụ (Tuệ Trung Thượng sĩ) và của chính mình như một đức vua - Phật hoàng đa trách nhiệm với dòng tộc, với triều đình, với cả quốc gia dân tộc; vừa như một vị vua có trách nhiệm với sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước, vừa như một vị lãnh tụ dẫn dắt tinh thần và tâm linh của trăm dân, vừa như một vị quốc sư tài ba tập hợp nên khối đoàn kết toàn dân tộc, vừa là một lãnh tụ tôn giáo xây dựng tăng đoàn Phật giáo Đại Việt thống nhất Ta thấy ý nghĩa chân giáo của Thiền - cuộc sống qua cụm từ “Cư trần lạc đạo” đã diễn đạt tinh thần “tự tại”, “tự nhiên”, “vô trụ”, “vô chấp”, “Phật tại tâm” của Thiền tông Việt Nam
Tính khuynh hướng của một trường phái triết học, một giáo phái hay cách ứng xử của một cá nhân, một nhóm xã hội bị quy định bởi rất nhiều nhân
tố Nó thường là một tổng thể phức tạp, đan xen hữu cơ Tách bạch một vài nhân tố và coi đó là nguyên nhân của các khuynh hướng thực khó có thể lột tả được đầy đủ và chính xác Tuy nhiên, nó vẫn là việc không thể không làm
Theo kết quả nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, tinh thần nhập thế
của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cần được nhìn nhận từ hai phương diện,
một là những căn cội triết học và hai là cơ sở thực tiễn, những lý do thực tiễn
[47; tr 41] Người viết căn cứ vào đó mà đi tìm cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”
Trang 161.1 Sự dung thông Tam giáo – Cơ sở triết học của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”
Có thể nhìn một cách tổng quan về căn cội triết học của tinh thần nhập thế (nói theo cách của Trần Nhân Tông là “cư trần lạc đạo”) là một hệ thống với
Phật tính luận, phương pháp tu luyện, con đường giác ngộ của Thiền tông, đặc
biệt là Thiền Huệ Năng làm trục tâm Trên cơ sở đó, nó kết hợp với tư tưởng
hòa quang đồng trần trong triết học Lão Tử, tư tưởng vô sở đãi và tùy tục trong
tư tưởng Trang Tử, và đương nhiên không thể thiếu tư tưởng lạc đạo của Nho
gia Xét về cơ cấu, nó là sự hội nhập triết học và phương pháp tu dưỡng, cảnh giới tinh thần của cả Tam giáo, lấy Thiền làm cơ sở để tiến hành hội nhập
1.1.1 Phật tính luận – trục tâm của tư tưởng
Thiền tông đề cao tinh thần hướng nội vào bản tâm để truy cầu sự giải thoát Bồ Đề Đạt Ma, Tổ sư của Thiền tông đúc kết phương pháp chứng ngộ:
“bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” (không lập văn tự,
hướng thẳng đến nhân tâm, thấy được tính thành Phật)
Thiền tông quan niệm: Phật tính có trong tâm của tất thảy chúng sinh
Phật tính trong Phật giáo Ấn Độ là một bản thể trừu tượng, siêu việt Trong quá
trình tiếp biến với văn hóa và mô thức tư duy của Trung Quốc, bản thể Phật tính
dung hợp với nhân tính, tâm tính và định hướng tu dưỡng “cầu chư kỷ vô cầu
chư ngoại” [47; tr 41] (truy cầu ở nơi bản thân mình, không truy cầu ở nơi ngoài
mình) theo quan niệm của Nho gia Nó vẫn là bản thể Phật tính, nhưng trong cách cảm nhận và tư duy của người Trung Quốc, Phật tính chuyển dần từ bản
thể trừu tượng, siêu việt sang vừa là bản thể siêu việt lại vừa là thực thể tinh thần nội tại Nó được diễn đạt và cảm nhận theo cách của Nho gia Nó hình thành nên
con đường hướng nội kiến tính, trực chỉ nhân tâm.
Trong Pháp bảo đàn kinh, Huệ Năng đưa ra mệnh đề rất quan trọng:
“tức tâm tức Phật” (Tâm đấy chính là Phật đấy) Ông chỉ rõ nhất thiết chúng
sinh và chư Phật đều quy kết ở một điểm chung, đó là “Tự tâm”:
Trang 17"Tự tâm chính là Phật, sao lại còn hồ nghi, ngoài tâm ra thì không có vật nào kiến lập cả, bản tâm sinh vạn pháp Cho nên mới nói: Tâm sinh vạn pháp sinh, Tâm diệt vạn pháp diệt.
Nay ta dạy các ngươi, biết tự tâm chúng sinh, thấy tự tâm Phật tính Các ngươi nay nên tin rằng, thấy biết Phật, chỉ là tự tâm, ngoài ra không có Phật nào khác… Ta cũng khuyên tất thảy mọi người, tự trong tâm mình thường khai mở tri kiến Phật Cho nên, biết về vạn pháp, tất thảy đều ở
tự tâm" [47; tr 41].
“Tâm” mà Huệ Năng nói tới là “Tâm” của con người sống động và cụ
thể Phật tính tồn tại tự trong “Tâm”, “tức tâm tức Phật” Ngoài “Tâm” ra
không có Phật nào hết Ông lại nói:
"Bồ đề chính chỉ hướng giác ngộ ở nơi tâm, sao lại nhọc nhằn đi cầu điều huyền hư ở bên ngoài? Dựa theo điều này mà tu hành, Tây phương ở ngay trước mắt Cho nên cần biết, vạn pháp tất thảy đều ở trong tự thân ta, sao chẳng quay
về tự tâm đốn hiện chân như bản tính? Phật chính là tự tính, chớ hướng ra ngoài thân mà truy cầu Tự quay về quy y Phật nơi mình, không nói quy y Phật nào khác Tự tính không quy, sẽ không có chỗ nào mà dựa hết" [47; tr 42].
Huệ Năng đã chuyển từ sùng bái Phật ngoại tại sang sùng bái chính bản
tâm của mình Phật tính cũng là Nhân tính, Nhân tính cũng là Phật tính, do đó
kiến tính, tri tính, minh tâm kiến tính (thấy tính, biết tính, làm sáng lòng để
thấy tính) chính là con đường giải thoát, con đường giác ngộ thành Phật Điều này có thể giải thích được nguồn cội sâu xa của tinh thần tự tín, tự lập, tự cường mạnh mẽ ở Tuệ Trung Thượng sĩ cũng như ở Trần Nhân Tông
Từ quan niệm về Phật tính như trên, Thiền Huệ Năng đã mở ra một
đường hướng tu hành, đường hướng giác ngộ cho số đông Những người có thể biết chữ, có thể không biết chữ, có thể xuất gia, có thể không xuất gia, ai
có thể quay về với bản tâm tự tại thanh tĩnh của mình, có thể diệt vọng niệm,
Trang 18loại thi phi… là có thể kiến tính thành Phật Cái tâm đã không còn thị phi,
danh lợi chính là cơ sở để an lạc giữa cõi trần Mọi công việc đời thường và
công việc tu hành không phân biệt “Bổ củi, gánh nước đều là diệu đạo” [47;
tr 43] Và cũng do nhân tính và Phật tính hợp làm một nên Phật tính cũng không tách rời nhận thức cảm tính bình thường Quan niệm về Phật tính và phương pháp tu hành minh tâm kiến tính là hai vấn đề không thể tách rời
Phật tính luận là tiền đề triết học, cơ sở triết học còn minh tâm kiến tính là
phương pháp tu dưỡng
Rõ ràng, chính Phật tính luận và phương pháp tu Thiền theo cách minh
tâm kiến tính, đốn ngộ thành Phật là cơ sở triết học quan trọng nhất của tư tưởng
“Cư trần lạc đạo”, tinh thần nhập thế của Thiền học Trúc Lâm.
1.1.2 Triết học nhân sinh Đạo gia – một cách “nói hộ” tư tưởng Thiền
Như trên đã trình bày, thái độ nhập thế, “cư trần lạc đạo” cần được nhìn nhận như một thể phức hợp tư tưởng, có yếu tố trục tâm và các phương quy chiếu khác Triết học nhân sinh của Đạo gia có mặt một cách khá đậm nét và
là một cách “nói hộ” cho nhiều tư tưởng Thiền
Trong Thượng sĩ hành trạng, Trần Nhân Tông viết về người thầy của mình: “Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ, cố năng thiệu long
pháp chủng…” [47; tr 43] (Thượng sĩ hòa ánh sáng cùng đời, chưa từng trái
vật, cho nên đã hoằng dương Phật pháp) Tuệ Trung Thượng sĩ từng đắc pháp
với Thiền sư Tiêu Dao (một pháp danh khiến người ta nghĩ tới Trang Tử hơn
là mạch truyền thừa của Thiền Tông), lại “nhật dĩ Thiền duyệt vi lạc” [47; tr 43] (ngày ngày lấy đạo Thiền làm vui) Có thể diễn đạt lại những thông tin mà Trần Nhân Tông nói ở trên về sự nghiệp tu hành của Thượng sĩ là: hòa quang
đồng trần, tiêu dao tề vật, không phân biệt “ta” và “vật”, ngày ngày tràn ngập
lạc thú trong việc tu Thiền, và cũng chính bằng cách đó ông phù trì mở mang được Phật pháp Một vài tinh thần quan trọng của Đạo gia được vận dụng, vừa là sự bổ sung tư tưởng vừa là một cách nói cho Thiền
Trang 19“Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” [35; tr 15] là một đặc sắc tư tưởng của
Lão Tử Lão Tử nêu quan điểm “hòa quang đồng trần” để giải thích về lẽ
Huyền đồng Vương Bật chú là: “Không có chỗ nào đặc biệt vinh hiển, thì vật không có chỗ nào tranh nhau; Không có chỗ nào đặc biệt ty tiện, thì vật không có chỗ nào thẹn” Ngô Trừng chú là: “Hòa, cũng là Bình vậy, biểu thị ý nén mà giấu đi; Đồng, là để nói bình đẳng mà không có chỗ nào khác Gương vì bụi mà không sáng, phàm đã sáng thì tất có mờ tối, cho nên trước hãy tự giấu ánh sáng đi để hoà cùng với bụi kia, không muốn thể hiện cái sáng của mình, như vậy thì trước sau không bao giờ bị mờ tối” Người đời
sau dùng “hòa quang đồng trần” để chỉ triết lý sống nổi chìm cùng thế tục, tùy tục tùy thời hành xử, không để lộ ra một sự khác biệt hay đặc biệt nào
Như trên đã trình bày, trong sự tu tâm để giác ngộ kiến tính, “Chùi cho
vằng vặc tính gương; Nào có nhuốm căn trần huyên náo”, “Tâm” đã sáng
như gương, “căn trần huyên náo” không thể vướng bận Giữ “Tâm” sáng thì không gì làm mờ được Vậy mới có thể giữa cõi trần mà vui đạo Nhưng muốn giữ cho gương luôn sáng thì giấu cái sáng đi để hòa cùng bụi kia cũng
là thêm một cách Nó là “Phật - Đạo hỗ bổ” (Phật Đạo bổ sung cho nhau) Tinh thần “hòa quang đồng trần” vừa giải thích rõ thêm phương pháp “minh tâm” nhưng cũng là gợi ý về con đường nhập thế, cách sống nổi chìm cùng
thế gian Cư trần lạc đạo phú có những đoạn đầy ắp tinh thần Đạo gia:
Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau.
Trang 20bỉ thử, nhân ngã, giàu nghèo, tâm vật… tức là: Đãi Muốn đạt tới tự do tiêu dao tuyệt đối, người ta cần loại bỏ chấp đãi, đạt tới vô sở đãi Nhân cách lý tưởng của Trang Tử là: “Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh” [47;
tr 44], cả ba cái vô đó thực chất là vô sở đãi, là bất nhị, không phân biệt Trang
Tử hướng tới cái tự do tiêu dao tuyệt đối, sống hòa làm một với đạo, sống thuận
tự nhiên, sống tùy tục, không cố gắng làm trái lẽ tự nhiên
Trần Nhân Tông nói “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Cơ tắc xan hề
khốn tắc miên” Về chữ nghĩa, “tùy duyên” là chữ nhà Phật, nhưng sống tùy
duyên, đói ăn, mệt ngủ mà tìm lạc thú trong chính cái tùy duyên đó là tinh thần tiêu dao của Lão - Trang Đó chính là đem tư tưởng “tùy tục”, “an thời
xử thuận” của Trang Tử để diễn tả triết lý “nhậm vận tùy duyên”
Chính tư tưởng “hòa quang đồng trần”, “vô đãi”, “bất nhị”, tiêu dao
“tùy tục”, an nhiên tự đắc của tư tưởng Lão - Trang đã góp phần tạo nên căn
cơ triết học cho tư tưởng “phàm thánh bất dị”, “nhậm vận tùy duyên”, “cư trần lạc đạo” của cả dòng Thiền đời Trần nói chung và Thiền học của Trần Nhân Tông nói riêng
1.1.3 Tư tưởng “lạc đạo” của Nho gia với phương pháp tu dưỡng của Thiền tông.
Sự dung hợp tư tưởng Nho - Phật đã diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn
hình thành Thiền tông Trung Hoa Phật tính luận theo kiến giải của Huệ Năng
là sự dung hợp quan niệm bản thể Phật tính với Nhân tính, Tâm tính luận của
Nho gia Không phải chỉ dung hợp về nội hàm của các khái niệm, phạm trù, sự dung hợp đó còn thể hiện ở cả tính khuynh hướng và phương pháp tu dưỡng
Nho gia là học thuyết nhập thế Tâm tính học của Nho gia chủ trương tu
tâm dưỡng tính ngay trong các quan hệ nhân tình thế tục: cha con, anh em chồng vợ Phương pháp tu dưỡng của Nho gia là hướng vào nội tâm, tự phản tỉnh, tự điều tiết Nhà Nho rất ráo riết trong phương diện truy cầu nội tâm và
Trang 21tự ngã tu dưỡng Khổng Tử nói: “Vi nhân do kỷ diệc vi nhân hồ tai” (là người
là ở mình, nào phải do người) [37; tr 15]; “Cầu chư kỷ vô cầu chư ngoại”
(cầu nơi mình, không cầu bên ngoài) [37; tr 12],…
Quan niệm về Nhân tính là cơ sở triết học của thuyết tu dưỡng Tu
dưỡng theo Nho gia, là nhằm đạt tới sự hoàn thiện của nhân cách, trong tu dưỡng có lạc thú của sự rèn luyện Nho gia không hướng tới thế giới siêu việt, không có cõi giải thoát chung cục, nhưng lại cũng có một thế giới tinh thần
“tự lạc” phong phú đủ làm thỏa mãn tinh thần con người Lạc thú của Nho gia
là lạc thú trong chính sự tu dưỡng, trong việc xử lý các quan hệ Lạc thú của Nho gia là lạc thú trong cõi hiện thế, cõi đời thực Họ cảm thấy vui thú khi
học được điều gì áp dụng vào thực tiễn tu thân của mình: “Học nhi thời tập
chi, bất diệc lạc hồ” (học mà có thể thực hành, chẳng phải vui sao), hay cảm
giác “tự lạc” xuất hiện khi phản tỉnh nội tâm thấy không có điều gì lầm lỗi:
“Nội tỉnh bất cứu tắc hà ưu hà hoạn” (xoi xét mình thấy không lầm lỗi thì
chẳng phải âu lo, phiền muộn)… Sự siêu việt của Nho gia chính là một loại siêu việt đặc biệt - siêu việt nội tại, siêu việt trong chính tâm tính
Không thể phủ nhận được, trong Phật tính luận và phép minh tâm kiến
tính, truy tìm nơi mình, không tìm bên ngoài của Thiền phương Nam có sự
hiện hữu của Nho gia Nho gia đã góp phần đáng kể vào việc hình thành quan niệm sự giác ngộ không tách rời con người
Trần Nhân Tông còn tiến thêm một bước so với các vị tiền bối của Thiền tông Ông cho rằng nhân nghĩa đạo đức cũng chính là Phật, so với giữ
giới hạnh, bỏ tham, sân, si cũng không có gì khác:
Tích nhân nghì, tu đạo đức,
Ai hay này chẳng Thích Ca.
Cầm giới hạnh, đoạn xan tham, Chỉn thực ấy là Di Lặc.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ tư)
Trang 22Cái đích của tu hành là giải thoát, thành Phật, nhưng thành Phật bằng cả con đường “tích nhân nghĩa, tu đạo đức” thì rất độc đáo, độc đáo theo con mắt dung hợp Nho - Phật của Trần Nhân Tông Ông đặt các phạm trù, các hình mẫu của Nho gia thành các cặp song hành đối đẳng, hỗ bổ với Phật:
Sạch giới lòng, chùi giới tướng, Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm.
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ sáu)
Tinh thần khoan dung của Thiền tông chính là không phủ nhận các
phạm trù đạo đức của con người thế tục, đặt các phạm trù trung hiếu vào ngay
chính con đường tu dưỡng để “minh tâm kiến tính”, ngộ đạo giải thoát Nó dễ được cộng đồng cư sĩ tu tại gia chấp thuận và cả Phật tử bình dân không xuất gia khác cũng thấy gần gũi, dễ tu
Cư trần lạc đạo phú, dù là tác phẩm văn học Phật giáo nhưng cũng có
dáng dấp một bài thánh huấn của Nho gia, dạy dỗ đệ tử, giáo hóa chúng dân
Trần Nhân Tông khuyên đệ tử, đồng thời cũng là tự khuyên mình:
Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo.
Mến đức cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ bẩy)
Như vậy, người thực hiện đạo quân thần phụ tử, thờ chúa thờ cha ngay thảo là một thực tiễn đạo đức, thực tiễn tu dưỡng Nó là việc của đời sống thế tục, nhưng tận đạo ấy tâm tính cũng an nhiên tự lạc Cái “tự lạc” đó đồng nhất với việc “kiến tính thành Phật” Nó là sự triển khai của tinh thần nhập thế, là hiện thực hóa của “Cư trần lạc đạo” Nói cách khác nó chính là “tùy duyên tự
lạc” Với nhân nghĩa đạo đức ấy, lại thêm chay lòng lắng dục, “thể tính an
nhàn”, “muôn nghiệp đều lặng”, con người ấy có thể tùy tục:
Trang 23Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể;
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ năm)
Thực chẳng khác gì nhà Nho ẩn dật, “an bần lạc đạo” với giỏ cơm, bầu nước, gối lên khuỷu tay mà nhìn phú quý tựa chiêm bao, tận hưởng thân tâm nhàn dật
Những vấn đề của Nho gia được nói tới trong các trước tác của Trần Nhân Tông là những vấn đề của thực tiễn đạo đức rất gần gũi, thường nhật mà không phải là những vấn đề lý luận cao siêu Nó thành lời khuyên nhủ ân cần giản dị, và đương nhiên gắn kết rất chặt chẽ với thực tiễn tu Thiền
Có một vài chỗ Trần Nhân Tông đã dùng ngôn từ và cách nói của Nho
gia để chuyển tải nội dung tư tưởng của Thiền, chẳng hạn trong bài Tán Tuệ
Trung Thượng sĩ: Vọng chí di cao/ Toàn chi di kiên/ Hốt nhiên tại hậu/ Chiêm chi tại tiền/ Phu thị chi vị/ Thượng sĩ chi Thiền (Càng ngẩng nhìn càng thấy
cao/ Càng đục thấy càng cứng/ Thoắt ở đằng sau/ Bỗng lại phía trước/ Cái đó gọi là/ Bậc Thượng sĩ Thiền)
Nguyên văn của những câu chữ này trong sách Luận ngữ Nó vốn là lời
của Nhan Hồi ca ngợi Khổng Tử và đạo của ông Nó đã được Trần Nhân Tông vận dụng để ca ngợi thầy của mình (Tuệ Trung Thượng sĩ) Điều đó cũng thuyết minh thêm về sự gần gũi và sự vận dụng tư tưởng Nho gia để hỗ trợ cho tư tưởng Thiền
1.2 Tinh thần thời đại – Cơ sở thực tiễn của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”
1.2.1 Thời đại anh hùng với “hào khí Đông A” bất diệt
Thời Trần (1225 - 1400) được xem là một thời đại huy hoàng trong lịch
sử dân tộc Sử gia đời sau đánh giá: “Triều Lý nhân ái, triều Trần anh hùng”
[54; tr 122] Trong gần hai trăm năm trị vì với 12 đời vua, triều Trần đã tạo nên những chiến công hiển hách trong kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ
Trang 24đất nước cũng như trong xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến độc lập,
tự chủ Lịch sử và văn chương mãi mãi ghi nhận vương triều Trần như một triều đại hào hùng bậc nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam
Năm 938, Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt thảm cảnh nghìn năm nô lệ giặc Tàu Các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê tuy ngắn ngủi nhưng đã đặt được những nền móng đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước phong kiến Đại Việt độc lập so với Trung Hoa Đặc biệt, trải qua hơn 200 năm xây dựng và phát triển dưới triều Lý (1009 - 1225), đến triều Trần, nước Đại Việt đã trở thành một quốc gia cường thịnh Một mặt, phát huy những truyền thống vốn có từ nghìn năm dựng nước và giữ nước, mặt khác kiến tạo thêm những giá trị mới mang hơi thở thời đại, triều Trần đã đưa dân tộc bước vào giai đoạn trùng hưng với khí thế hồ hởi chưa từng có Tiềm năng của dân tộc được hồi sinh mạnh mẽ, nội lực dân tộc được phát huy hết chiều kích tạo nên những thành tựu nổi bật về nhiều phương diện
Giai cấp phong kiến thời Trần là một lực lượng tiến bộ, trở thành đại biểu của nhân dân Với chủ trương “thân dân”, “trọng dân”, nhà Trần quy tụ được sức mạnh toàn dân tộc trong kháng chiến chống ngoại xâm cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước Lúc này, khoảng cách giữa triều đình phong kiến và quần chúng gần gũi, hòa nhã đến mức các vua Trần đích thân xuống ruộng cày những luống cày tịch điền để khuyến khích nông nghiệp, vua quan cùng nhân dân cầm tay nhau nhảy múa trong những hội hè, đình đám cổ truyền Chính không khí cởi mở, đầm ấm ấy đã tạo nên một đời sống
thanh bình, an vui: “Muôn dân ca hát vui thời thịnh trị” (Triệu tính âu ca lạc
thịnh thì - Trần Nguyên Đán) Đặng Thai Mai nhận xét: “Từ cung điện nhà vua qua dinh thự các quan đến làng mạc người dân chưa có những đường hào ngăn cách một cách quá nghiêm khắc như sau này Chưa có một bệ rồng
xa thẳm và lộng lẫy, chưa có những thành quách cao dày, những hào lũy sâu
Trang 25thẳm, chưa có những kiến trúc nguy nga, những luật lệ gang sắt con người biết sống một đời sống tích cực, vui vẻ” [70; tr 38].
Thời Trần, với sự lãnh đạo của những vị vua “anh minh thần võ” như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông; với tài năng của các tướng lĩnh thao lược như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và đặc biệt là bằng sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, muôn người như một hừng hực chung một “hào khí Đông A”, dân tộc ta đã tạo nên những kỳ tích trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Cả ba lần xua quân sang xâm lược, cả
ba lần quân Nguyên Mông - đạo quân xâm lược khét tiếng hung hãn từng tung hoành từ Á sang Âu thời đó - phải chịu thất bại thảm hại Chiến thắng ấy
vĩ đại đến mức khiến nhà Nguyên phải kiêng dè, nể sợ Đại Việt Sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu, sau khi sang sứ nước ta trở về đã phải thừa nhận trong
bài Sứ hoàn cảm sự [15; tr 196] (Cảm nghĩ sau chuyến đi sứ Giao Châu):
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại, Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.
(Đã may mà được trở về, tấm thân khỏe mạnh còn đây,Sau giấc ngủ, tỉnh dậy còn thấy thần hồn kinh sợ)
Về chính trị, tạo ra vị thế bình đẳng với Trung Hoa, khiến các nước lân bang phải vị nể Về văn hóa, tạo dựng được một nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc với tầm vóc khiến cả người Trung Hoa cũng phải ngợi ca Nguyên sứ Trương Hiển Khanh một lần sang sứ Đại Việt đã trầm trồ thán phục:
An Nam tuy tiểu văn chương tại
Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.
(Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chươngKhông thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng)Văn học thời Trần cũng có những bước phát triển mới so với văn học thời Lý, đưa thơ từ chỗ trừu tượng, cao siêu đến chỗ gần gũi, bình dị và giàu ý
vị trữ tình
Trang 26Từ thực tế trên, có thể nói thời Trần là một thời đại anh hùng Chỉ có thời ấy mới tạo ra được con người ấy - những con người mang trong mình vẻ đẹp nhân văn sâu sắc Lê Quý Đôn, học giả uyên bác thế kỷ XVIII, đã nhận
xét về con người thời Trần trong phần Tài phẩm, sách Kiến văn tiểu lục như sau: “Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có
phong độ như sĩ quân tử thời Tây Hán, thật không phải người tầm thường
có thể theo kịp được Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong thời ấy có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất” [15; tr 250].
Nhận xét trên của Lê Quý Đôn đã thâu tóm được một cách sâu sắc bản lĩnh và khí tiết của con người thời Trần “Hào khí Đông A” cùng với khí thế
hồ hởi của thời đại đã góp phần tạo nên hình ảnh những con người mang vẻ đẹp đặc biệt Đó là những con người đã sống một cuộc đời oanh liệt và hoành tráng Các bô lão muôn người như một hô vang “quyết đánh” rung chuyển cả điện Diên Hồng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản vì nhỏ tuổi không được dự hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than, phẫn uất đến mức bóp nát quả cam lúc nào không biết Trần Bình Trọng khi rơi vào tay kẻ thù vẫn giữ tròn khí tiết của
bậc làm tướng: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất
Bắc” Đó còn là những con người có hành động rất lạ, chỉ xuất hiện trong thời
này mà hầu như không thấy xuất hiện ở bất cứ một thời đại nào khác Trần Thái Tông sẵn sàng bao dung, tha tội cho Hoàng Cự Đà khi ông này không cứu giá (do bất mãn khi không được ăn xoài), bởi lẽ vua hiểu sâu sắc tâm lý con người và biết cái lỗi trước hết là do mình Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông dám dùng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn vào chức Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân đội mặc dù biết ông là con dòng trưởng và cha ông -
An Sinh vương Trần Liễu từng có hiềm khích rất lớn với Thái Tông Trần
Trang 27Thái Tông xem ngôi vua nhẹ như chẳng có, có thể lìa bỏ dễ dàng như “trút bỏ
một chiếc giày rách” [61; tr 12] Trần Minh Tông là vua mà thức suốt đêm
trường, dằn vặt, trăn trở vì một lỗi lầm mắc phải 30 năm về trước Trần Quốc Tuấn khi nắm quyền uy tột đỉnh vẫn một mực trung thành, cúc cung tận tụy, không vì thù riêng của gia đình mà truất phế ngôi vua theo lời trăn trối của cha Còn biết bao con người như thế nữa trong hàng vạn con người thời Trần
đã mạnh mẽ, tự tin góp sức mình tạo nên tinh thần thời đại Hình ảnh những con người ấy đã in đậm dấu ấn trong văn học, làm cho văn học thời Trần lấp lánh tinh thần nhân văn, độc đáo và hấp dẫn
1.2.2 Thời đại Phật giáo thịnh trị, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tinh thần xã hội
Nhà Trần, một trong những vương triều được đánh giá là hưng thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam còn được biết đến như một thời đại mà đạo Phật thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc, từ hình thức đến nội dung
Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang các nước Đông Á theo hai đường: phía bắc sang Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên; phía đông sang Miến Điện, Thái Lan và miền nam Đông Dương Phật giáo Đại thừa được truyền sang nước ta khoảng đầu công nguyên và phát triển mạnh trong các thế kỷ VII, VIII, IX Bấy giờ đã có những cao tăng người Việt xuất thân
từ tầng lớp hào trưởng Từ khi nước nhà giành độc lập, Phật giáo tiếp tục phát triển và được coi là Quốc giáo
Đinh Tiên Hoàng lên ngôi (năm 968), định phẩm hàm cho nhà sư và cấp
tự điền cho nhà chùa Thời Tiền Lê (980 - 1009), sư tăng ngày càng có vai trò
quan trọng trong triều đình, được đặc biệt ưu đãi, thường giữ việc đi sứ hoặc tiếp
sứ Thời Lý (1009 - 1225), Phật giáo trải qua giai đoạn hưng thịnh nhất
Bước sang thời Trần, chi phối xã hội mạnh mẽ nhất lúc này là Phật
giáo Bấy giờ, chùa chiền được dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long
Trang 28cho đến mọi miền của đất nước; số người xuất gia tu hành rất đông, nói như
nhà Nho Lê Quát đời Trần: “phân nửa thiên hạ đi tu” [64; tr 21] Điều đặc
biệt là triều đại nhà Trần có những vị vua - Phật tử Trên phương diện hành chính họ là người đứng đầu xã tắc; ở bình diện tôn giáo họ là những “người con Phật” thuần thành Bên cạnh thời gian thượng triều giải quyết việc nước, lúc rảnh rỗi họ thường chuyên tâm nghiên cứu kinh điển Phật học và nghe các
vị cao tăng thuyết pháp tại phủ đệ riêng Tiêu biểu trong số đó là ba vị vua đầu triều: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông Các vua kế tiếp: Anh Tông, Minh Tông cũng hết lòng ủng hộ Phật giáo Triều đình có viện Tả Nhai là nơi nhà vua cùng với các bậc cao tăng bàn luận về Phật học
Phật giáo đời Trần đã bén sâu gốc rễ vào dân gian Tư tưởng từ bi, bác
ái của nhà Phật rất gần với đạo lý “thương người như thể thương thân” của
người Việt nên đã ăn sâu vào nếp nghĩ và tư duy của quần chúng Trong không gian làng quê thuở ấy, những ngôi chùa đã mọc lên như một bộ phận hữu cơ Trên phương diện hành chính, đất là “vương thổ”, nhưng xét về mặt tâm linh, các nhà sư giữ vai trò những người coi sóc phần hồn Trong lịch sử giữ nước của dân tộc, nhiều trí thức nông thôn xuất thân nhà Phật đã trở thành những người lãnh đạo, động viên nhân dân trong bao cuộc kháng chiến chống giặc xâm lược
Phật giáo đời Trần đã có những đóng góp lớn lao Một trong những đặc trưng tạo nên tính nhân bản sâu sắc của Phật học là tinh thần khoan dung Phật giáo luôn tạo điều kiện để chúng sinh được bình đẳng (trái ngược hoàn toàn với sự phân chia đẳng cấp cực đoan và nghiệt ngã như Bà-la-môn) Các ý thức hệ ngoài Phật giáo không những không bị bài bác mà thậm chí cũng được tôn trọng Nho giáo đã có mầm mống của sự thịnh đạt ngay trong đời Trần, được mở rộng bởi chính những Phật tử thuần thành như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông Các bậc Nho thánh (Khổng Tử, Mạnh Tử, thất thập nhị tiên hiền) được thờ cúng Đạo giáo
Trang 29cũng tương đối phát triển Đền miếu được dựng lên ở khắp nơi Số lượng đạo sĩ cũng khá đông đảo.
Ở các thế kỷ X - XIV, Phật giáo ở Việt Nam đã phát triển cực thịnh Trong khi Nho giáo chưa trở thành ý thức hệ chính thống của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền thì Phật giáo đã có tác dụng thống nhất nhân tâm, tạo điều kiện cần thiết để củng cố và phát triển nhà nước quân chủ Do vậy, Phật giáo ở các thế kỷ này có ảnh sâu sắc đến toàn bộ sinh hoạt văn hoá đương thời và in dấu rõ nét trong văn học, nghệ thuật
Chính nếp sống và tư duy theo tinh thần khoan dung Phật giáo của các vua thời ấy đã tạo nên một xã hội khai phóng, khiến cho mọi tôn giáo, mọi hệ
tư tưởng được cùng nhau phát triển, phát huy tối đa tinh hoa thời đại, tạo cho
xã hội một đời sống tinh thần phong phú, góp một phần không nhỏ tạo nên sức mạnh dân tộc khiến Đại Việt có thể đoàn kết ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông
Có thể nói chính xác và cụ thể, người có công đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chức đến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông, nhưng người khai sáng và làm rạng danh Thiền phái là vua Trần Nhân Tông, tức Đệ nhất tổ Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng Thiền Việt Nam của thế kỉ thứ XII -
đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tỳ-ni-đa-lưu-chi
Đối với nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, về mặt văn hóa, việc
xây dựng một ý thức hệ độc lập thống nhất trở thành nhu cầu vô cùng cấp bách Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ý thức hệ với nước ngoài, thống nhất
ý thức dân tộc về mặt chính trị, làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền trung ương (họ Trần) và làm phương tiện giải quyết các mâu thuẫn nội
Trang 30bộ dân tộc, chủ yếu là giai cấp lãnh đạo và đông đảo quần chúng nhằm duy trì một trật tự xã hội cũng tức là duy trì ngai vàng của dòng họ.
Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu
biểu, nhưng cần thay đổi nội dung của các Thiền phái trước đây để đáp ứng yêu cầu của đất nước Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập; thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc, không lệ thuộc Thiền tông Trung Quốc; vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo nhằm thống nhất ý thức hệ; không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đã xảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như giữa Thiền tông với các tín ngưỡng khác Bên cạnh đó, Thiền phái này cũng tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới (tuy rằng thực tế chỉ là một phái), với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng
Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không những mang ý nghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa mà đến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng Thiền trước ảnh hưởng từ Trung Hoa Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập, hành trì thể hiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ
Đặc sắc của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử là tính nhập thế tích cực “Phật
pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” [41; tr 20] (Phật pháp tại thế gian, không
xa rời nhận thức của thế gian) Đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo, cả hai đã trở thành một hợp thể linh động, sáng tạo và diệu dụng trong mọi hoàn cảnh Có thể nói rằng các vị vua, các Thiền sư thời Trần đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến Phật giáo trở thành một thế lực hùng mạnh yểm trợ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước của triều đình
Với tất cả những yếu tố đó, Phật giáo thời Trần đã trở thành một bộ phận của văn hóa dân tộc, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt của đời
Trang 31sống xã hội, làm nên những vẻ vang trong lịch sử của nhà Trần.
Tiểu kết: Khởi nguyên từ sự dung hợp những triết lý của Nho - Phật -
Đạo trong buổi “Tam giáo đồng nguyên” (Phật tính luận của Thiền học, tư
tưởng “Hòa quang đồng trần”, “Vô sở đãi”, “Tùy duyên, tùy tục” của Lão - Trang, triết lý “Lạc đạo” của Nho gia), tư tưởng “Cư trần lạc đạo” được ươm mầm từ chính những đòi hỏi cấp bách của lịch sử dân tộc, một thời đại mà tất
cả các thành phần từ vương hầu, khanh tướng tới muôn dân trăm họ đều ra công góp sức vào sự nghiệp xây dựng đất nước và chống kẻ giặc hung bạo
đang lăm le xâm lược bờ cõi Đại Việt Đó là thời đại mà triết lý “lấy chính
thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ” đã trở thành tôn chỉ sống và hành
động của các vị vua thời Trần Đó là thời đại của “hào khí Đông A” anh hùng với những chiến công đánh giặc vệ quốc hiển hách, đáng tự hào dựa trên mối
đoàn kết toàn dân “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức” lưu
mãi sử xanh Chính tinh thần khoan dung của Phật giáo đã tạo điều kiện để các học thuyết tư tưởng khác cùng tồn tại và phát triển ngay trong kỷ nguyên Phật giáo thịnh trị Sự dung hợp Tam giáo đã tạo nên một bản nguyên văn hóa độc đáo, hình thành tư tưởng “Cư trần lạc đạo” Lý giải cội nguồn của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” từ trong hệ thống tư tưởng Tam giáo hoàn toàn không phải là một cách nhìn “sùng ngoại”, “vong bản” Trái lại, nhìn nhận tư tưởng ấy có gốc rễ từ sự dung hòa Nho - Phật - Đạo trên cơ sở tiếp biến văn hóa, đồng thời đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn lịch sử và phù hợp với thực tế Đại Việt là một cái nhìn khách quan mang tinh thần khoa học, nói theo ngôn ngữ nhà Phật, là thấu thị những cơ duyên Thiền Trúc Lâm và chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” của nó, vì thế, về bản chất vẫn là một sản phẩm tinh thần đáng tự hào của người Việt
Trang 32CHƯƠNG 2:
TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO” – TỪ THƯỜNG CHIẾU, TRẦN THÁI TÔNG QUA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
ĐẾN TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG
Theo Đoàn Thị Thu Vân trong bài Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phong
đời Trần thì “tư tưởng “Cư trần lạc đạo” là tôn chỉ của Sơ tổ và là tư tưởng nhất quán của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được thể hiện qua bốn điểm: 1- Nên sống hòa mình với đời, không câu chấp; 2- Hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên; 3- Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực; 4- Không nô lệ vào bất cứ cái gì, dù Thiền hay Phật Để được như vậy, các nhà tư tưởng Thiền phái đã có cả quá trình hoạt động và đúc kết từ thực tiễn trong tiến trình hình thành tư tưởng “Cư trần lạc đạo” đi từ “tùy tục” của Thường Chiếu, đến “biện tâm” của Trần Thái Tông, chuyển qua “hòa quang đồng trần” của Tuệ Trung Thượng sĩ, “tùy duyên lạc đạo” của Trần Nhân Tông” [69; tr 24] và
sau cùng là cảm hứng thế tục của Huyền Quang
2.1 Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu và tư tưởng “biện tâm” của Trần Thái Tông – những nền móng đầu tiên
2.1.1 Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu - dấu gạch nối giữa ba tông phái Thiền đời Lý với dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử
Thường Chiếu (? - 1203), là một Thiền sư đời Lý, thuộc thế hệ thứ
12 của Thiền phái Vô Ngôn Thông Thường Chiếu người làng Phù Ninh, họ Phạm Hồi chưa xuất gia, ông đã từng làm quan dưới triều vua Lý Cao Tông Sau đó, ông bỏ quan tước đi xuất gia dưới sự hướng đạo của Thiền sư Quảng Nghiêm, chùa Tịnh Quả Ðược tâm truyền của Thiền sư Quảng Nghiêm, ông
ở lại chùa Tịnh Quả thêm vài ba năm để hầu thầy, rồi lui về một ngôi chùa cổ
Trang 33ở làng Ông Mạc để dạy học trò Sau đó không lâu, Thiền sư Thường Chiếu dời sang chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi Ngoài công xiển dương và truyền dạy giáo lý Phật pháp cho tăng chúng, Thiền sư còn có công thống nhất ba Thiền phái lúc bấy giờ.
Ở đời Lý, lối sống “Cư trần lạc đạo” với chủ trương “tùy tục” đã hình thành và đi vào đời sống thực tiễn Các nhà sư ở giai đoạn này không chỉ đóng khung trong những hoạt động nhà chùa, họ kết hợp với các Phật tử tham gia công tác xã hội như: chữa bệnh, đắp đường,… Thiền sư Trường Nguyên
chủ trương: “Tại quang tại trần, thường ly quang trần” (Ở chỗ ánh sáng bụi
trần, thường lìa ánh sáng bụi trần) Thường Chiếu, người làm gạch nối giữa Phật giáo “ba tông phái” đời Lý và Phật giáo “một tông phái” đời Trần, cũng
nói đến chữ “tùy” Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang có dẫn câu chuyện từ sách Thiền uyển tập anh:
“Trước khi Thường Chiếu viên tịch, đệ tử của ông là Thần Nghi hỏi:
“Những nhân vật như sư phụ khi thời tiết đến cũng phải tùy tục chết như người thường sao?” Thường Chiếu hỏi: “Người thấy được ai là kẻ không tùy tục nào?” Thần Nghi đáp: “Bồ Đề Đạt Ma là một Ông ta không chết mà chỉ lướt biển trở về Ấn Độ” Thường Chiếu lại nói: “Đó chẳng qua chỉ là chó sủa bóng thôi” Thần Nghi hỏi: “Vậy hòa thượng có tùy tục không?” Thường Chiếu nói: “Ta cũng tùy tục” Thần Nghi lại hỏi: “Tại sao lại như thế?” Thường Chiếu trả lời: “Để cho giống với kẻ khác” [34; tr 125].
Qua câu chuyện, Thường Chiếu đã truyền dạy cho học trò của mình nguyên tắc “tùy tục”, nghĩa là làm giống cuộc đời Tuy nhiên, ông chủ yếu nhấn mạnh chữ “tùy” với ý nghĩa “tùy tục” về lẽ sống chết chứ chưa hẳn là sự
“tùy nghi”, “tùy duyên”
Khi người học trò hỏi về “pháp thân”, Thường Chiếu đã trả lời bằng bài kệ:
Trang 34Tại thế vi nhân thân, Tâm vi Như Lai tạng.
Chiếu diệu thả vô phương, Tầm chi cánh tuyệt khoáng.
(Ở thế là nhân thânTâm là Như Lai tạngChiếu dọi khắp muôn phương,Nếu tìm không thấy bóng)
“Pháp thân” hay “tự tính giác ngộ” được Thường Chiếu gọi là “Như Lai tạng” thì tồn tại khắp nơi Có điều con người tồn tại qua xác thân ngũ uẩn Vậy “Pháp thân” cũng có nghĩa là “nhân thân” Quan điểm này có được là do
Thường Chiếu đã biết y cứ vào tư tưởng “Một là tất cả, tất cả là một” của kinh Hoa nghiêm để làm cơ sở lý luận “Pháp thân” chính là “Phật thân”, là
thân sinh diệt của con người Xác thân hiện hữu có vai trò rõ nét trong quá trình đi tìm sự giác ngộ Chân lý chỉ hiện khởi cho bất cứ ai tìm thấy trong đời sống thực, chứ không ở đâu xa cả Và như thế, dù tăng hay tục, dẫu ở trong chùa hay ngoài xã hội, đều có thể ngộ đạo Quan điểm này rất gần gũi với tư tưởng của các nhà Thiền học phái Trúc Lâm sau này Đó là biểu hiện của tinh thần tự tín, tự lập đã được soi chiếu trong phương pháp tu tập, rèn luyện của Thiền Nam Trung Hoa mà Lục tổ Huệ Năng là người có công lớn nhất
Tư tưởng “tùy tục” của Thường Chiếu, nói một cách dễ hiểu là làm
giống như cuộc đời, không phân biệt với cuộc đời Chính vì không phân biệt
với cuộc đời như thế mà Thiền sư có thể ung dung đón nhận tất cả, kể cả cái chết một cách bình thản Bài kệ ông đọc trước lúc lâm chung biểu lộ phong thái của người đã giải thoát, tìm thấy rằng thực hữu tràn đầy kia không nơi đâu và không lúc nào không phải là quê hương mình:
Trang 35Ðạo bản vô nhan sắc Tân tiên nhật nhật khoa Ðại thiên sa giới ngoại
Hà xứ bất vi gia?
Dịch thơ:
Ðạo vốn không nhan sắc
Mà ngày càng gấm hoaTrong ba ngàn cõi ấyÐâu chẳng phải là nhà?
Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu đã đặt “những viên gạch” đầu tiên cho sự hợp nhất tư tưởng của Thiền “tam tông” thời Lý (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường), gợi mở đường hướng cho sự ra đời của Thiền phái duy nhất đời Trần Tư tưởng “tùy tục” của ông, về sau được Tuệ Trung Thượng sĩ vận dụng linh hoạt với một tinh thần khai phóng “vô tiền khoáng hậu”, trở thành nếp sống đạo trộn lẫn cùng thế tục (“hòa quang đồng trần”) mang cốt cách và bản lĩnh Thiền tông Đại Việt
2.1.2 Trần Thái Tông, người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với triết lý “biện tâm”
Thái Tông Hoàng đế, “họ Trần, tên húy là Cảnh, trước tên húy là Bồ,
làm Chi hậu chính triều Lý, được Chiêu Hoàng nhường ngôi, ở ngôi 33 năm (1226 - 1258), nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi (1218 – 1277), băng ở cung Vạn Thọ, táng ở Chiêu Lăng Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập dựng kỉ cương chế độ nhà Trần thực
to lớn vậy” [36; tr 264].
Toàn bộ các quan điểm triết học của Trần Thái Tông được biểu hiện tập
trung trong các tác phẩm Thiền tông chỉ nam và Khóa hư lục Đây là những tác phẩm được viết như “máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm từng trang
Trang 36giấy” sau bao khát khao tìm tòi chân lý với nỗi đau thế thái nhân tình, để rồi
đạt đến chỗ “sở đắc chân tâm”
Xu hướng hướng nội để tìm cầu chân lý tối hậu, có thể nói là rất sáng tỏ trong đời sống Phật giáo đời Trần Nó mở đầu bằng một câu nói của Quốc Sư Phù Vân (Viên Chứng) khuyên vua Trần Thái Tông khi lánh lên núi Yên Tử
để cầu Phật: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng
lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài” [17].
Muốn được giác ngộ và giải thoát, Trần Thái Tông khuyên mọi người, không kể tăng hay tục, hãy “biện tâm” “Biện tâm” là thế nào? “Biện tâm” là
“điều phục tâm”, như trong Kinh Pháp Cú nói: “Khó nắm giữ khinh động,
theo các dục quay cuồng Lành thay điều phục tâm, tâm điều an lạc đến” [17;
tr 15]; là “phòng hộ tâm”, như trong câu kệ: “Người trí phòng hộ tâm, Tâm hộ
an lạc đến” [17]; là “an trú tâm”, như trong câu kệ: “Ai tâm không an trú, không biết chân diệu pháp” [17].
Nói tóm lại, theo Kinh Pháp cú, “biện tâm” là uốn nắn cho tâm thẳng,
như thợ làm tên uốn nắn cho tên thẳng, là “điều phục tâm”, “phòng hộ tâm”,
“an trú tâm”, khiến cho tâm không còn tham lam, sân hận, siêu việt lên trên thiện ác, giữ vững tâm như giữ thành trì
Trong Phổ khuyến phát Bồ đề tâm (Khoá hư lục), Trần Thái Tông viết:
“Khởi thức Bồ đề giác tính cá cá viên thành, tranh tri Bát nhã thiện căn nhân
nhân cụ túc” [19; tr 89] (Hay đâu Bồ đề tính giác, ai nấy đều có đầy đủ, sao biết
căn lành Bát nhã, người người đều tròn đầy) Ý muốn nói, sự giác ngộ, trí tuệ Bát Nhã đã có đầy đủ trong mọi người, chẳng cần tìm đâu xa mà hãy tìm ở thân mình, tức phải “biện tâm” thì sẽ thấy được “tính”, giác ngộ thành Phật Do đó, cầu Phật, cầu chân lý không thể hướng ngoại mà phải hướng nội Nói như Quốc
sư Phù Vân, Phật chỉ có ở trong tâm và ai cũng có sẵn trong mình Phật tính, vì
vậy mà “chẳng cứ đại ẩn, tiểu ẩn, chẳng kể tại gia, xuất gia; hỏi chi tăng, tục
Trang 37chỉ cốt biện tâm Nếu biết chiếu rọi ánh sáng (của trí tuệ) trở lại, sẽ thấy tính mà thành Phật” [19; tr 45] Trong bài luận về niệm Phật, ông viết: “Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng, tướng tướng vô nhị, tịch nhiên thường tồn, tồn nhi bất tri, thị vi hoạt Phật” [19; tr 120] (thân ta tức là thân Phật, không có hai
tướng, tướng Phật và tướng ta không phải hai, lặng vậy thường tồn tại, tồn tại mà không biết, đó là Phật sống vậy) Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọi người là “Phật sống”
Trong bài Tọa Thiền luận, Trần Thái Tông có viết: “Người học đạo chỉ
cốt thấy được bản tính Tuy chịu tất cả mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh Định lực không sinh thì ý nghĩ sai lầm không diệt được”
[19; tr 36] Ông cho rằng những ai đã lĩnh hội được Phật tính nơi mình rồi thì
người đó không còn tạo nghiệp nữa Bởi lẽ chính cái tâm “vô minh”, vọng động
là nguyên nhân tạo tác của nghiệp, nhưng khi con người đã tìm lại được chân
tâm, bản tính của mình, đã biến tâm mình thành tâm Phật rồi thì không còn
tham, sân, si, tâm trở nên thanh tịnh, trong sáng bản nhiên nên nghiệp tự khắc
không còn
Qua những lời tâm huyết mà Trần Thái Tông viết trong Niệm Phật luận, chúng ta có thể hình dung công phu “biện tâm” mà ông nói là như thế nào: “Giữ
cho không một niệm nào bật khởi lên trong tâm thức, bởi vì niệm là ngoại trần,
là hư giả không thật Khiến cho cả trần và niệm bình lặng, không khởi lên nữa, thời sẽ đạt tới cảnh như như bất động” [19; tr 134].
Trần Thái Tông, ở một đoạn sau của bài Niệm Phật luận cũng trở lại ý
tứ đó: “Hạng trí tuệ trung bình, chỉ còn lại thiện niệm, lấy (thiện) niệm để
đối trị ác niệm, diệt bất cứ niệm nào mống lên Và khi mọi niệm diệt hết thì tức là ngộ đạo” [19; tr 145].
Vì sao Trần Thái Tông nói là phải diệt hết mọi niệm? Phải chăng, theo ông, mọi niệm thiện, ác cũng đều là tạo nghiệp không phải là giải thoát, chỉ khi đạt tới cảnh “như như bất động” mới là “chân giải thoát” Thế nhưng,
Trang 38“như như bất động” là cảnh giới thế nào? Tất nhiên “bất động” ở đây không phải là thân không động “Bất động”, nên hiểu là không động niệm, không thủ chấp, không vướng mắc Như vậy, đó là tâm thức sáng suốt biết mình đã giải
thoát (“Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật”).
Khi trả lời câu hỏi đạo của nhà sư Trung Quốc là Tống Đức Thành, vua nói “tâm vô” chưa phải là giác ngộ:
“Đừng nói tâm vô tức là đạo, vô tâm còn cách đạo đến hai
cửa ải nữa ”
Đức Thành lại hỏi:“Tâm đã rỗng không rồi, lại còn phải đi qua hai cửa ải sao?”
Vua trả lời:“Nước chảy xuống núi không có ý thức gì, Mây trắng ra khỏi hang núi cũng là vô tâm” [19; tr 68].
Ý vua nói “lặng” không chưa đủ, “vô niệm” thôi cũng chưa đủ mà trí tuệ phải chiếu sáng thì mới giác ngộ được
Thực chất của “kiến tính”, đó là một sự trở về, trở về với “quê hương”
bản tâm nguyên sơ, tĩnh lặng mà thuần khiết của mỗi chúng sinh Và giải
thoát theo triết lý Thiền ở đây chẳng khác gì hơn là sự tỉnh thức tuyệt đối, cao
độ, vượt lên trên mọi chấp trước và lầm kiến, để sống sinh động và trọn vẹn trong cái hữu hạn của cuộc đời và cái vô hạn của bản nguyên tuyệt đối thanh tịnh Nhân sinh quan của Trần Thái Tông là: “Nhìn thẳng vào thực tại con người và cuộc đời để tự phản tỉnh, bước nhanh trên con đường trở về cội nguồn quê hương cao đẹp” Nhân sinh quan đó được trình bày rõ qua bài Tứ sơn kệ (Kệ bốn núi) trong Khoá hư lục:
Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng, Ngộ liễu đô vô vạn vật không.
Hỷ đắc lư nhi tam cước tại, Mịch kỵ đả sấn thướng cao phong.
Trang 39(Bốn núi chót vót muôn khóm xanh, Hiểu rõ tất cả là hư vô, vạn vật là không
Mừng được con lừa ba chân còn đó, Cưỡi mà lên thẳng ngọn núi cao)Trở về với bản thể thanh tịnh tự nhiên vốn có của tâm thức vốn là tư tưởng
đặc trưng của đông phương, nhất là Phật giáo Đức Phật từng tuyên bố: “Tất cả
chúng sinh đều có Phật tính”, “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”
Bằng cái nhìn phóng khoáng, viên dung “tất cả là một, một là tất cả” như vậy,
đạo Phật đã phá tan mọi bức tường ngăn cách, vén lên bức màn đen tối đã bao trùm lên tâm thức của chúng ta Thái Tông có cái nhìn rất thoáng:
Trong hang quỷ vẫn là lâu đài Di Lặc, Dưới hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền.
Đó là đạo Phật của mọi người, một đạo Phật hướng nội và “biện tâm” giúp mọi người trở về với thực tại của mình, không phải đi tu vào chùa, cạo đầu, mặc cà sa mới giác ngộ; xem mọi người đều là Phật, là những vị “Phật sống” mà không tự biết Triết lý “biện tâm” của Trần Thái Tông đã đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử về sau Tựa hồ nó như một giọt nước cam lộ tắm mát chúng sinh, giúp cho người tu đạo tìm thấy Phật trong tâm mà không phải vất vả tìm kiếm bên ngoài Phật giáo “biện tâm” là Phật giáo của mọi người, nó không hạn chế trong tăng sĩ cũng không hạn chế trong chùa chiền Ai cũng “biện tâm” được, không kể là xuất gia hay tại gia, ở giữa trần tục vẫn có thể vui với đạo Tư tưởng đó làm cho đạo Phật mặc dù có giáo lý cao siêu, thâm diệu nhưng vẫn có nền tảng quần chúng rộng rãi
2.2 Bản lĩnh “hòa quang đồng trần” trong sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ
Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 - 1291) tên thật là Trần Tung, con trưởng của Anh Sinh vương Trần Liễu, anh cả Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn Ông là một trong những nhà
Thiền học xuất sắc của nước ta trong triều đại nhà Trần, được coi là “ngọn
Trang 40đèn tổ của Phật hoàng, lấy tâm truyền tâm… làm phấn phát ngọn gió lành nhà Phật” [34; tr 235] Tuệ Trung Thượng sĩ tu Phật nhưng không khép mình
vào “tam quy, ngũ giới” Ông là nhà Thiền học thông tuệ, sắc sảo trong suy nghĩ và hành động
2.2.1 Tư tưởng “tùy duyên”
Kế tục lối sống “tùy tục” của Thường Chiếu và các vị Thiền sư đi trước, Tuệ Trung Thượng sĩ đã sáng tạo nên một triết lý “sống đời vui đạo”
vô cùng độc đáo Điều này có thể thấy rõ qua lời nhận xét của Trần Nhân
Tông trong Thượng sĩ hành trạng: “Thượng sĩ trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng
ánh sáng chứ không trái hẳn với người đời Nhờ đó mà tiếp nối theo được hạt giống pháp và dìu dắt được kẻ sa cơ Người nào tìm đến hỏi han, người cũng chỉ bảo cho điều cương yếu, khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính ngang tàng, không rơi vào danh hay thực” [57; tr 102] Đó chính là thái độ sống, lối sống
“tùy duyên” của Thiền tông Nếu các vị Bồ tát trong kinh Phật luôn đề cao sự dấn thân và hòa mình vào cuộc đời để phụng sự chúng sinh thì với Tuệ Trung, Thiền tông cũng không còn là triết lý xa lạ Qua thơ văn của mình, Thượng sĩ
đã thể hiện một triết lý Thiền gần gũi với cuộc đời, ở ngay trong đời sống
hằng ngày Với ông: “Đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, trong lửa lò hồng một
đóa sen” [12; tr 34] Triết lý Thiền của Tuệ Trung là sự ung dung, khoan thai
trong mọi hành động, khi tâm tĩnh thì hành động luyện tính tất thành
Thượng sĩ quan niệm sống ở đời là phải biết “tùy nghi”, không nên khư khư chấp vào quy tắc cứng nhắc:
Khỏa quốc hân nhiên tiện thoát y,
Lễ phi vô dã, tục tùy nghi.