Thực hành, rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học Trong quá trình hình thành và bồi dưỡng năng lực cảm thụ, học sinh cần thiết phải hình thành và rèn luyện được một số kĩ năng sơ giản trong
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Điêu Thị Tú Uyên, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô Khoa Tiểu học - Mầm non, Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận
Xin chân thành cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ từ Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô và các em học sinh khối lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế - Bắc Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm dạy học tại trường
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Nông Thị Nhung
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTVH : Cảm thụ văn học CNH : Công nghiệp hóa HĐH : Hiện đại hóa
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do cho ̣n đề tài 1
2 Li ̣ch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mu ̣c đích nghiên cứu 7
4 Nhiệm vu ̣ nghiên cứu 7
5 Đối tươ ̣ng và khách thể nghiên cứu 8
6 Giới ha ̣n pha ̣m vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 Giả thuyết khoa ho ̣c 9
9 Đóng góp của khóa luâ ̣n 9
10 Cấu trúc của khóa luâ ̣n 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lý luâ ̣n 10
1.1.1 Văn học là gì? 10
1.1.2 Cảm thu ̣ văn ho ̣c là gì? 10
1.1.3 Năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c của ho ̣c sinh tiểu ho ̣c 11
1.1.4 Điều kiện để học sinh cảm thụ văn học tốt 12
1.1.5 Đă ̣c điểm tâm lý và đă ̣c điểm ngôn ngữ của ho ̣c sinh lớp 5 đối với viê ̣c nâng cao năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Đă ̣c trưng về cảm thu ̣ văn ho ̣c của ho ̣c sinh tiểu ho ̣c 20
1.2.2 Khảo sát thực trạng bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang 21
1.2.3 Phân tích kết quả điều tra 22
TIỂU KẾT 28
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 29
2.1 Khái niệm biện pháp 29
Trang 42.2 Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học 29
2.2.1 Biê ̣n pháp rèn kĩ năng đo ̣c tác phẩm văn học 29
2.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu sâu tác phẩm văn học 34
2.2.3 Rèn năng lực cảm thụ qua việc khai thác biện pháp nghệ thuật tu từ trong tác phẩm văn học 37
2.2.4 Rèn luyện kĩ năng viết bài cảm thụ văn học 43
2.2.5 Rèn kĩ năng đọc sách 46
TIỂU KẾT 48
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 49
3.1 Mục đích thực nghiệm 49
3.2 Khách thể, thời gian, địa bàn thực nghiệm 49
3.3 Điều kiện và tiêu chí thực nghiệm 49
3.3.1 Về điều kiện 49
3.3.2 Về tiêu chí 49
3.4 Nội dung thực nghiệm 50
3.5 Kết quả thực nghiệm 50
3.5.1 Kết quả trước thực nghiệm 50
3.5.2 Kết quả sau thực nghiệm 51
TIỂU KẾT 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1 Kết luận 54
2 Kiến nghị 55
2.1 Đối với nhà quản lí giáo dục 55
2.2 Đối với giáo viên 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do cho ̣n đề tài
1.1 Bướ c vào thế kỉ XXI nhân loa ̣i tiến tới thiết lâ ̣p quan hê ̣ giao lưu quốc
tế và toàn cầu hóa Trước sự chuyển biến ma ̣nh mẽ của thời cuô ̣c, dưới sự lãnh
đa ̣o của Đảng và Nhà nước, đất nước ta thực hiê ̣n công cuô ̣c đổi mới về mo ̣i mă ̣t trong đó có thực hiê ̣n đổi mới Giáo du ̣c – Đào ta ̣o Gần đây, ngày 4.11.2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 - NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Quan điểm chỉ
đa ̣o Nghi ̣ quyết xác đi ̣nh rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoa ̣ch phát triển kinh tế - xã hô ̣i Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp” (theo Báo Lao
Đô ̣ng số ra ngày 16.11.2013) Sau mô ̣t thời gian thực hiê ̣n quan điểm đó đến nay
Ngành Giáo du ̣c đã đa ̣t được mô ̣t số thành tựu nhất định
Viê ̣c thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo du ̣c, đào ta ̣o từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hô ̣i và cô ̣ng đồng thế giới công nhâ ̣n Phối hợp sử
du ̣ng kết quả đánh giá trong quá trình ho ̣c với đánh giá cuối kỳ, cuối năm ho ̣c;
Trang 6đánh giá của người da ̣y với tự đánh giá của người ho ̣c đánh giá của nhà trường với gia đình và xã hô ̣i Phương thức thi và công nhâ ̣n tốt nghiê ̣p trung ho ̣c phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hô ̣i, đảm bảo đô ̣ tin câ ̣y, trung thực, đánh giá đúng năng lực của HS trên ba bình diê ̣n, kiến thức, kĩ năng và thái đô ̣… Chất lượng giáo du ̣c có những tiến bô ̣, năng lực tiếp câ ̣n tri thức mới của HS, sinh viên được nâng cao mô ̣t bước qua đó phát huy tính tích cực, chủ
đô ̣ng, sáng ta ̣o, bồi dưỡng tinh thần tự ho ̣c khả năng làm viê ̣c nhóm, rèn luyê ̣n kĩ năng vâ ̣n du ̣ng kiến thức vào thực tiễn Phát triển giáo du ̣c và đào ta ̣o đã chuyển hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hô ̣i khoa ho ̣c và công nghê ̣ góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giữ vững an ninh, chính tri ̣ ta ̣o điều kiê ̣n cho đất nước tham gia vào quá trình hô ̣i nhâ ̣p Vì vâ ̣y, trên cơ sở bước đầu đa ̣t được những thành tựu đáng kể về đổi mới giáo du ̣c, để phát huy thành tựu đó vấn đề cấp thiết đă ̣t ra cho Ngành Giáo du ̣c nước ta là phải đổi mới phương pháp giảng da ̣y và ho ̣c tâ ̣p ở tất cả các cấp ho ̣c, bâ ̣c ho ̣c, trong đó có bâ ̣c Tiểu ho ̣c
Trong hê ̣ thống giáo du ̣c quốc dân bâ ̣c Tiểu ho ̣c được coi là bâ ̣c ho ̣c nền tảng góp phần vào đào ta ̣o và bồi dưỡng nhân lực có trình đô ̣, năng đô ̣ng, sáng
ta ̣o, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn dài lâu về đa ̣o đức, trí tuê ̣, phẩm chất, các kĩ năng cơ bản để gánh vác sự nghiê ̣p xây dựng và phát triển đất nước Do đó phải chú tro ̣ng chăm lo để hình thành cho các em có những hiểu biết chính xác, vững chắc làm cơ sở cho những bâ ̣c ho ̣c cao hơn, góp phần phát triển trí tuê ̣, đa ̣o đức hình thành nhân cách con người mới
Từ xa xưa ông cha ta đã khẳng định: "Ngôn ngữ là công cụ của tư duy" Ngôn ngữ của con người phát triển chứng tỏ tư duy phát triển Để giúp HS có tư duy phát triển thì hiện nay trong nhà trường Tiểu học môn Tiếng Việt được coi trọng cả về nội dung và phương pháp giảng dạy Để HS có được các kĩ năng trên thông qua các giờ Tâ ̣p đo ̣c, Luyê ̣n từ và câu, Kể chuyê ̣n thì chưa đủ mà HS cần được bồi dưỡng về năng lực cảm thụ văn trong giờ Tâ ̣p làm văn và trong các buổi ngoại khoá Bởi HS có cảm thụ văn tốt thì mới hiểu được ý nghĩa của bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ và mới thấy được nét đẹp của thơ văn làm cho
Trang 7tâm hồn các em thêm phong phú Vì vâ ̣y, để phát huy khả năng tư duy, sáng ta ̣o của người ho ̣c đòi hỏi người da ̣y phải vâ ̣n du ̣ng những phương pháp da ̣y ho ̣c tích cực lấy HS làm trung tâm, tích cực hóa hoa ̣t đô ̣ng của HS trong viê ̣c chiếm lĩnh tri thức Đây là mô ̣t yếu tố không thể thiếu trong da ̣y ho ̣c ở Tiểu ho ̣c nói chung và da ̣y ho ̣c môn Tiếng Viê ̣t nói riêng
1.2 Trong chương trình da ̣y ho ̣c ở bâ ̣c Tiểu ho ̣c, HS đươ ̣c ho ̣c rất nhiều môn trong đó môn Tiếng Viê ̣t – môn ho ̣c có tầm quan tro ̣ng đă ̣c biê ̣t Tiếng Viê ̣t là môn ho ̣c rất quan tro ̣ng, là đòn bẩy để khai trí cho HS nhất là đối với HSTH Nó là chìa khóa giúp các em mở kiến thức để bước vào hoa ̣t đô ̣ng giao tiếp; là nền tảng cho những năm ho ̣c kế tiếp và cũng là hành trang cho các em bước vào cuô ̣c sống thực tế
Biết đo ̣c, biết viết là nhiê ̣m vu ̣ hàng đầu ở Tiểu ho ̣c và mu ̣c tiêu chính của giáo dục tiểu học là “đọc thông, viết tha ̣o” Mă ̣t khác nghe, nói, đọc, viết là những kĩ năng cơ bản nhất trong môn Tiếng Viê ̣t ở Tiểu học Do đó môn Tiếng Viê ̣t được xem là “môn học công cụ” là “chìa khóa” để học tốt các môn học khác
Môn Tiếng Viê ̣t ở tiểu ho ̣c bao gồm nhiều phân môn (Ho ̣c vần, Tâ ̣p viết, Chính tả, Tâ ̣p đo ̣c, Luyê ̣n từ và câu, Kể chuyê ̣n, Tâ ̣p làm văn) Mỗi phân môn đều chứa đựng mô ̣t đơn vi ̣ kiến thức chúng bổ trợ cho nhau, là mô ̣t sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình ho ̣c tâ ̣p môn tiếng Viê ̣t Trong đó, phân môn Tâ ̣p làm văn là mô ̣t phân môn có vi ̣ trí đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng trong chương trình Tiếng Viê ̣t ở Tiểu ho ̣c Nó nối tiếp mô ̣t cách tự nhiên các bài ho ̣c khác nhau của môn Tiếng Viê ̣t nhằm giúp HS ta ̣o ra mô ̣t năng lực mới: năng lực sản sinh ngôn bản nói hoă ̣c viết Đây là mô ̣t phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp và sáng ta ̣o mang đâ ̣m dấu ấn cá nhân trong quá trình ta ̣o lâ ̣p ngôn bản Ngoài ra phân môn TLV còn cung cấp cho HS những kiến thức về văn ho ̣c, xã hô ̣i, góp phần cùng các môn ho ̣c khác phát triển tư duy, hình thành cho các em nhu cầu thưởng thức cái đe ̣p, khả năng xúc cảm trước cái đe ̣p, trước buồn, vui, yêu, ghét của con người Qua đó, giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của các tác phẩm văn học Đă ̣c biê ̣t, đối với HS lớp 5 yêu cầu về kiến thức kĩ năng đòi hỏi ở mức đô ̣ cao hơn đó là kĩ năng cảm thu ̣ tác phẩm văn ho ̣c
Trang 8Cảm thu ̣ văn ho ̣c chính là sự cảm nhâ ̣n những giá tri ̣ nổi bâ ̣t những điều sâu sắc tế nhi ̣ và đe ̣p đẽ của văn ho ̣c thể hiê ̣n trong tác phẩm văn ho ̣c Bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HSTH là mô ̣t nhu cầu cấp thiết trong giảng da ̣y môn Tiếng Viê ̣t ở Tiểu ho ̣c Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các
em sẽ cảm nhận được nhiều nét đẹp của văn thơ, phong phú thêm về tâm hồn, nói, viết tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động hơn Qua cảm thu ̣ văn ho ̣c,
HS được củng cố thêm về vốn từ ngữ, biết sử du ̣ng các biê ̣n pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn du ̣, hoán du ̣ Cảm thu ̣ văn ho ̣c góp phần giáo du ̣c tư tưởng, tình cảm, đa ̣o đức, thẩm mĩ cho HS
Chương trình môn Tiếng Viê ̣t ở Tiểu ho ̣c từ lớp 1 đến lớp 5 luôn coi nhiê ̣m vu ̣ bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c là nhiê ̣m vu ̣ quan tro ̣ng và cần thiết, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Viê ̣t, góp phần hình thành nhân cách con người cho ho ̣c sinh Đă ̣c biê ̣t với HS lớp 5, năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c còn giúp các
em hiểu sâu nội dung bài ho ̣c, vâ ̣n du ̣ng vào ta ̣o lâ ̣p văn bản Nghi ̣ luâ ̣n văn ho ̣c chuẩn bi ̣ tiền đề vững chắc cho viê ̣c ho ̣c môn Ngữ Văn ở bâ ̣c Trung ho ̣c cơ sở Vì vâ ̣y, để phát huy được mă ̣t tích cực đó giáo viên phải có biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho học sinh
1.3 Trong thực tế da ̣y ho ̣c hiê ̣n nay, viê ̣c da ̣y cảm thu ̣ văn ho ̣c ở tiểu ho ̣c đươ ̣c tích hợp trong phân môn Tâ ̣p làm văn Tuy nhiên giáo viên chưa thực sự chú ý dành nhiều thời gian cho luyê ̣n tâ ̣p viết văn, bổ sung cách viết giàu hình ảnh, cảm xúc, còn nă ̣ng về lý thuyết, nhe ̣ rèn kĩ năng viết Phần lớn các em chưa thấy đươ ̣c ý nghĩa của viê ̣c cảm thu ̣ văn ho ̣c, chưa thấy được cái hay, cái
đe ̣p trong mỗi bài ho ̣c cũng như chưa có hứng thú tiếp nhâ ̣n tác phẩm Nhiều
HS chưa có hứng thú ho ̣c môn Tiếng Viê ̣t, đă ̣c biê ̣t các em rất nga ̣i khi phải cảm thu ̣ văn ho ̣c Mă ̣t khác, do đă ̣c điểm về nhâ ̣n thức nên các em chưa có đươ ̣c kĩ năng cảm thu ̣ tốt các tác phẩm văn ho ̣c Vì vâ ̣y, viê ̣c đề ra mô ̣t số biê ̣n pháp bồi dưỡng khả năng cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HSTH ho ̣c là mô ̣t nhiê ̣m vu ̣ quan tro ̣ng của giáo viên tiểu ho ̣c nói chung và bâ ̣c Tiểu ho ̣c nói riêng
Trường Tiểu ho ̣c Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang là trường có truyền thống da ̣y tốt, ho ̣c tốt Phần lớn các em có nhâ ̣n thức tương đối đồng đều, ham
Trang 9ho ̣c và nghe lời thầy cô Đă ̣c biê ̣t các em được bố me ̣ quan tâm, ta ̣o điều kiê ̣n để các em tiếp thu kiến thức mô ̣t cách tốt nhất Các em đều đo ̣c thông viết tha ̣o, khả năng nắm bắt kiến thức khá nhanh và rất thích khám phá những điều mới la ̣ Tuy nhiên, để hoàn thành bài văn cảm thu ̣ đối với HS lớp 5 thường khó khăn do nhiều nguyên nhân như: hầu hết các em ở nông thôn, sự tiếp câ ̣n với văn ho ̣c ít, chủ yếu là các em tự ho ̣c ở trên lớp Bố me ̣ bâ ̣n rô ̣n với công viê ̣c đồng áng nên các em ít khi được bố me ̣ giảng giải về vẻ đe ̣p của thiên nhiên va ̣n vâ ̣t xung quanh ta hay tham gia các hoa ̣t đô ̣ng ngoa ̣i khóa, tham quan, picnic đây là mô ̣t thiê ̣t thòi lớn đối với các em Ở mô ̣t số HS các em còn ham chơi, khả năng tâ ̣p trung chú ý chưa cao, năng lực sử du ̣ng ngôn ngữ chưa phát triển tốt, vốn từ của các em còn ha ̣n chế, hê ̣ thống câu hỏi, bài tâ ̣p trong SGK có nhiều bất câ ̣p Mă ̣t khác, đối với giáo viên đây cũng là da ̣ng bài khó da ̣y, giáo viên còn thiếu linh hoa ̣t trong vâ ̣n du ̣ng phương pháp và chưa sáng ta ̣o trong viê ̣c tổ chức các hoa ̣t đô ̣ng ho ̣c tâ ̣p của HS dẫn đến chất lượng làm bài cảm thu ̣ văn ho ̣c của HS chưa cao
Xuất phát từ những vấn đề lí luâ ̣n và thực tiễn trên đă ̣t ra yêu cầu nghiên cứu và đề xuất biê ̣n pháp để bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS trong da ̣y
ho ̣c Tiếng Viê ̣t là viê ̣c làm thiết thực Vì vâ ̣y, để góp phần nâng cao hiê ̣u quả bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HSTH chúng tôi lựa cho ̣n đề tài “Biê ̣n pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lương - Yên Thế - Bắc Giang” làm vấn đề để nghiên cứu Khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p
2 Li ̣ch sử nghiên cứu vấn đề
Tất cả những tác phẩm văn ho ̣c chân chính đều phản ánh khát vo ̣ng thiêng liêng cháy bỏng của con người, là cái đe ̣p của lòng vi ̣ tha, tình yêu thương của đồng loa ̣i, nó góp phần bồi dưỡng và hoàn thiê ̣n nhân cách cho ho ̣c sinh Vì vâ ̣y, bồi dưỡng năng lực hiểu và cảm thu ̣ các tác phẩm văn ho ̣c cho ho ̣c sinh tiểu ho ̣c là nhiê ̣m vu ̣ hết sức cần thiết có ý nghĩa Da ̣y văn là da ̣y người, thông qua các giờ da ̣y cảm thu ̣ văn ho ̣c, HS sẽ được bồi đắp nên những tâm hồn đe ̣p, xúc cảm phong phú nha ̣y bén, tinh tế hơn
Trang 10Trong thực tế, vấn đề bồi dưỡng, trau dồi năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và nhà giáo kiến quan tâm đề câ ̣p trong nhiều công trình nghiên cứu Có thể kể đến mô ̣t số công trình nghiên cứu nước
ngoài như: Cuốn Cảm thụ văn học của học sinh của O.L.Nhikiphôrôva cuốn Cảm thụ nghê ̣ thuật của B.X.Mailax, cuốn Phương pháp dạy văn ở trường phổ thông cu ̉ a V.A.Nhikônxki Cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học của
G.N.Pospelov Những tài liê ̣u trên đã cung cấp những cơ sở lý luâ ̣n có giá tri ̣ khoa ho ̣c về đă ̣c trưng của ngôn ngữ nghê ̣ thuâ ̣t, khái niê ̣m cảm thu ̣ văn ho ̣c, năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c và đưa ra những biê ̣n pháp cơ bản giúp HS cảm thu ̣ tác phẩm văn học
Ở Viê ̣t Nam vấn đề cảm thu ̣ văn ho ̣c cũng đang được quan tâm chú tro ̣ng nhiều hơn trong nhà trường phổ thông, có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu như
Năm 1983, cuốn Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học của Phan Tro ̣ng
Luận đã cung cấp được mô ̣t số hiểu biết khoa ho ̣c về tính đă ̣c thù của cảm thu ̣ văn chương, mối quan hê ̣ thẩm mỹ của ba ̣n đo ̣c đối với tác phẩm, tính chủ quan, tính khách quan, tính sáng ta ̣o khi tiếp nhâ ̣n và những khái quát về đă ̣c điểm
cũng như tiêu chí phát triển văn ho ̣c ở ba ̣n đo ̣c
Năm 2009, cuốn Luyê ̣n tập về cảm thụ văn học ở tiểu học của Trần Ma ̣nh
Hưởng đã trình bày khá phong phú, đa da ̣ng những cách thức, bài tâ ̣p cu ̣ thể để luyê ̣n tâ ̣p kĩ năng cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HSTH Qua đó HS từng bước được thực hành các kĩ năng cảm thu ̣ văn ho ̣c thông qua các da ̣ng bài tâ ̣p ở nhiều mức đô ̣ khác nhau
Năm 2010, trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn học (theo thể
loa ̣i) của Nguyễn Viết Chữ cũng đã đề câ ̣p tới vấn đề: “Lý thuyết câu hỏi cảm thụ tác phẩm văn chương và sự vận dụng trong dạy học theo thể loại như mô ̣t phương tiê ̣n thiết yếu” Ở đây công trình này tác giả đã xây dựng cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn của vấn đề câu hỏi khá hoàn thiê ̣n Từ đó tác giả đưa ra những yêu cầu có tính nguyên tắc khi xây dựng hê ̣ thống câu hỏi trong da ̣y ho ̣c tác phẩm
Trang 11văn học và hê ̣ thống câu hỏi cảm thu ̣ để da ̣y tác phẩm văn học trong nhà trường Viê ̣t Nam
Năm 2011, Đề tài Phương pháp dạy học sinh cảm thụ văn học của Nguyễn
Hữu Phương đã đề cập tới một số phương pháp cơ bản để hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học một cách có kỹ năng Tác giả đề tài cũng khẳng định muốn cảm thụ văn học tốt HS phải có vốn ngôn ngữ, vốn văn học, vốn sống Người thầy phải làm cho HS có hứng thú và niềm say mê học văn
Bài viết Nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho học sinh trong giờ đọc hiểu môn văn của Phan Thanh Vân (Tạp chí văn học số 8, ngày 22 - 10 - 2012)
đã đề ra một số biện pháp nhằm tạo hứng thú học văn và nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho HS; hình thành thói quen đọc trực tiếp văn bản; rèn kĩ năng đọc diễn cảm và sử dụng lời bình
Qua nghiên cứu các công trình, các bài viết liên quan đến khóa luâ ̣n tôi nhâ ̣n thấy, nhìn chung mỗi tác giả, mỗi bài viết đều đã đề câ ̣p đến nhiều khía
ca ̣nh, phương diê ̣n khác nhau về cảm thu ̣ văn ho ̣c giúp người da ̣y văn, ho ̣c văn xác đi ̣nh được phương hướng đúng đắn, có giá tri ̣ và làm tiền đề cho chúng tôi triển khai Khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p Tuy nhiên vấn đề nêu ra ở các tài liê ̣u này chưa đề xuất đươ ̣c biê ̣n pháp cu ̣ thể, chưa hướng vào từng lớp với trình đô ̣ nhâ ̣n thức khác nhau, điều kiê ̣n ho ̣c tâ ̣p khác nhau đối với HS ở bâ ̣c tiểu ho ̣c ta ̣i mô ̣t đi ̣a phương cu ̣ thể Nhâ ̣n thấy đây là mô ̣t khoảng trống có thể tiến hành khảo sát, nghiên cứu và đề xuất các biê ̣n pháp mang tính ứng du ̣ng nhằm bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho đối tượng là HS lớp 5 ta ̣i Trường Tiểu ho ̣c Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang với mong muốn góp mô ̣t phần nhỏ nâng cao hiê ̣u quả bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn chương trong da ̣y ho ̣c Tiếng Viê ̣t ở tiểu ho ̣c
3 Mu ̣c đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng da ̣y ho ̣c cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5 Trường Tiểu
ho ̣c Xuân Lương - Yên Thế - Bắc Giang Trên cơ sở đó, đề xuất được biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho HS lớp 5 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt
4 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu
Trang 12Khóa luâ ̣n tâ ̣p trung thực hiê ̣n các nhiê ̣m vu ̣ như sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luâ ̣n của viê ̣c da ̣y ho ̣c cảm thu ̣ văn ho ̣c trong da ̣y ho ̣c môn Tiếng Viê ̣t lớp 5
- Tìm hiểu thực tra ̣ng da ̣y cảm thu ̣ văn ho ̣c của HS lớp 5 Trường Tiểu ho ̣c Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang
- Đề xuất một số biê ̣n pháp góp phần nâng cao hiê ̣u quả bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5 Trường Tiểu ho ̣c Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang
5 Đối tươ ̣ng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Biê ̣n pháp bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5
5.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 5, Trường Tiểu ho ̣c Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang
6 Giới ha ̣n pha ̣m vi nghiên cứu
Do điều kiê ̣n và khuôn khổ của khóa luâ ̣n, chúng tôi chỉ tập trung đề câ ̣p tới
mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n cơ bản của da ̣y ho ̣c cảm thu ̣ văn ho ̣c, tìm hiểu thực tra ̣ng của viê ̣c da ̣y ho ̣c cảm thu ̣ văn ho ̣c của HS lớp 5 Trường Tiểu ho ̣c Xuân Lương –Yên Thế – Bắc Giang từ đó đưa ra những đóng góp nhằm nâng cao hiê ̣u quả bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu tài liê ̣u, phân tích, tổng hợp, khái quát các thông tin khoa ho ̣c liên quan làm cơ sở lý luâ ̣n cho khóa luâ ̣n
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử du ̣ng phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng vấn, phương pháp thực nghiê ̣m sư pha ̣m
7.3 Phương pháp phân tích thống kê toán học
Nhằm xử lý số liê ̣u trong quá trình nghiên cứu
Trang 138 Giả thuyết khoa ho ̣c
Bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5 là mô ̣t vấn đề còn gă ̣p nhiều khó khăn, được giáo viên tiểu ho ̣c quan tâm Nếu các biê ̣n pháp khóa luâ ̣n đề xuất chứng minh được tính khả thi sẽ góp phần rèn luyê ̣n kĩ năng cảm thu ̣ văn ho ̣c cho ho ̣c sinh lớp 5 nói riêng và góp phần nâng cao hiê ̣u quả da ̣y ho ̣c môn Tiếng Viê ̣t nói chung ở tiểu ho ̣c Khóa luâ ̣n sẽ là tài liê ̣u hữu ích cho sinh viên Khoa Tiểu ho ̣c – Mầm non trong quá trình ho ̣c tâ ̣p, rèn luyê ̣n nghiê ̣p vu ̣ sư pha ̣m, là tài liê ̣u phu ̣c vu ̣ ba ̣n đo ̣c quan tâm đến vấn đề này
9 Đóng góp của khóa luâ ̣n
Khóa luâ ̣n được nghiê ̣m thu sẽ bổ sung mô ̣t số biê ̣n pháp bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5; là tài liê ̣u tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Giáo du ̣c Tiểu ho ̣c – Mầm non, Trường Đa ̣i ho ̣c Tây Bắc và những người quan tâm đến vấn đề này
10 Cấu trúc của khóa luâ ̣n
Ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n, nô ̣i dung của khóa luâ ̣n gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn
Chương 2: Biê ̣n pháp bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c HS lớp 5
Chương 3: Thực nghiê ̣m sư pha ̣m
Trang 14tô ̣c người sống trên trái đất, da ̣ng thức đầu tiên của nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ là các sáng tác lời, tồn ta ̣i bằng truyền miê ̣ng trong các cô ̣ng đồng dân cư Chỉ khi đã xuất hiê ̣n những hê ̣ thống chữ viết (văn tự) tương đối phát triển (được dự đoán là vào thời kì hình thành các thiết chế nhà nước trong viê ̣c tổ chức và quản lý xã
hô ̣i) mới xuất hiê ̣n da ̣ng thức thứ hai của nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ: những sáng tác đươ ̣c ghi bằng chữ viết Văn ho ̣c theo nghĩa he ̣p và xác đi ̣nh, là những sáng tác viết của nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ” [1, tr.394]
“Tác phẩm văn ho ̣c là phức ngôn phức hợp của người sáng tác ra nó; là sự phản ánh, khúc xa ̣, vang hưởng, dự cảm của đời sống hiê ̣n thực; là đối tượng tích cực của sự tiếp nhâ ̣n (cảm thu ̣) văn ho ̣c Tác phẩm có thể tồn ta ̣i bằng hình thức ngôn bản truyền miê ̣ng hoă ̣c hình thức văn bản nghê ̣ thuâ ̣t (được ghi giữ bằng văn tự); có thể được ta ̣o bằng văn vần, thơ, hoă ̣c bằng văn xuôi; và bao giờ cũng thuô ̣c vào mô ̣t loa ̣i văn ho ̣c nhất đi ̣nh (tự sự, trữ tình, ki ̣ch), mô ̣t thể loa ̣i văn ho ̣c nhất đi ̣nh” [1, tr.296]
1.1.2 Cảm thụ văn học là gì?
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn từ, hệ thống tín hiệu thứ hai của loài người Đó là quá trình tiếp nhận, hiểu và cảm thụ văn chương, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ thuật, tính hình tượng của văn chương Đây là quá trình hoạt động nhận thức thẩm mĩ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo Những tính chất này do đối tượng nhận thức là tác phẩm văn học quy định Mỗi một tác phẩm văn học lại mang một vẻ đẹp toàn diện về cả nội dung và giá trị nghệ thuật Đó chính là
Trang 15vẻ đẹp về ngôn ngữ, về các hình thức nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm
đó Quá trình nhận thức cái đẹp trong văn thơ là quá trình nhận thức cái đẹp về ngôn ngữ nghệ thuật
Trong quá trình cảm thụ văn học, người đọc không chỉ lĩnh hội đầy đủ các thông tin được truyền đạt mà còn sống đời sống của các nhân vật, của câu chữ, hình ảnh… nghĩa là, nếu như tác giả sử dụng tư duy nghệ thuật để sáng tạo ra tác phẩm thì người đọc cũng phải sử dụng tư duy ấy để lĩnh hội tác phẩm Đó chính là tư duy hình tượng, loại tư duy trên cơ sở tiếp xúc cảm tính với đối tượng, làm sống dậy toàn vẹn đối tượng đó bằng nghe, nhìn, tưởng tượng, không sao chép đối tượng một cách máy móc mà còn bao hàm thái độ của con người với chính đối tượng đó
Quá trình cảm thụ văn học chính là việc đảm bảo hiệu quả nhất mối liên hệ giữa nhà văn - tác phẩm - bạn đọc Đến với tác phẩm văn học, người đọc muốn được hưởng thụ và bồi đắp thêm những tình cảm thẩm mĩ, muốn được mở mang trí tuệ, bồi đắp thêm những tư tưởng, đạo đức, lí tưởng, học hỏi kinh nghiệm sống hoặc nhận xét đánh giá Bằng việc cảm thụ, người đọc sẽ chuyển hóa văn bản thứ nhất của tác giả thành văn bản thứ hai của mình Bởi vì, khi đọc tác phẩm văn học, người đọc vừa bám vào sự mô tả trong văn bản, vừa liên tưởng tới các hiện tượng ngoài đời, đồng thời cũng dựa vào cảm nghĩ và lí giải của mình, mà hình dung, tưởng tượng ra các con người, sự vật, sự việc được miêu tả
1.1.3 Năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c của ho ̣c sinh tiểu ho ̣c
Năng lực cảm thu ̣ văn học là khả năng nắm bắt mô ̣t cách nhanh nha ̣y chính xác các đă ̣c trưng, bản chất của tác phẩm về nô ̣i dung và hình thức, là khả năng rung cảm mô ̣t cách sâu sắc, tinh tế những tình cảm của tác giả thông qua hình tươ ̣ng, là khả năng đánh giá chính xác tài năng cũng như sự đô ̣c đáo trong phong cách của nhà văn
Năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c được chia thành các cấp đô ̣ sau:
- Cấp độ ngôn từ và sự cảm thu ̣ ngôn từ: cảm thu ̣ phương diê ̣n ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các thủ pháp nghê ̣ thuâ ̣t
Trang 16- Cấp độ hình tượng và sự cảm thu ̣ hình tượng: hình tượng nhân vâ ̣t, không gian, thời gian, tác giả
- Cấp độ ý nghĩa và sự cảm thu ̣ ý nghĩa của tác phẩm: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn
- Cấp độ tư tưởng và sự cảm thu ̣ tư tưởng của tác phẩm
Khả năng cảm thụ văn học cũng có các mức độ: năng lực bình thường, tài năng và thiên tài Năng lực cảm thụ bình thường trong cảm thụ văn học là năng lực nắm bắt những đặc điểm chính của nội dung, nghệ thuật tác phẩm Tài năng trong cảm thụ văn học là khả năng nắm bắt nhanh nhạy chính xác những đặc điểm bản chất, phát hiện những vẻ đẹp riêng biệt, phong phú của hình tượng và của phong cách nhà văn Thiên tài trong cảm thụ văn học là sự thăng hoa của tài năng Đây là hiện tượng hiếm thấy và thường gắn với các thiên tài trong các lĩnh vực khác
Năng lực cảm thụ văn học có liên quan mật thiết đến tri thức, kĩ năng, cũng như với tâm hồn và nhân cách chủ thể Tri thức, kĩ năng là những yếu tố ban đầu giúp cho việc hình thành năng lực cảm thụ văn học cũng như các năng lực khác Nắm vững tri thức, rèn luyện tốt các kĩ năng cơ bản, hình thành kĩ xảo, thói quen trong cảm thụ văn học, điều đó đồng nghĩa với việc hình thành năng lực cảm thụ văn học của mỗi cá nhân
Đối với học sinh tiểu học, không phải chỉ khi đến trường học văn, trẻ mới
có cảm xúc thẩm mĩ, mới có năng lực cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học Nhưng kể từ khi được học tập ở nhà trường thì khả năng cảm thụ văn học vốn có ấy đươ ̣c đi ̣nh hướng trở nên đúng đắn, có hiê ̣u quả tốt nhất
1.1.4 Điều kiện để học sinh cảm thụ văn học tốt
1.1.4.1 Môi trường gây hứng thú với văn học
Ngay từ khi còn nhỏ các em đều rất thích nghe ông bà, cha me ̣ hoă ̣c người thân kể chuyện, đo ̣c thơ Bước chân tới trường Tiểu ho ̣c, được tiếp xúc với những câu thơ, bài văn hay trong SGK Tiếng Viê ̣t, nhiều em muốn đo ̣c to lên
mô ̣t cách thích thú Đó chính là biểu hiê ̣n ban đầu cần hứng thú, cần giữ gìn và nuôi dưỡng nó phát triển liên tu ̣c, ma ̣nh mẽ đến mức say mê Trau dồi hứng thú tiếp xúc với văn ho ̣c là tự rèn luyê ̣n mình để có nhâ ̣n thức đúng, tình cảm đe ̣p từ
Trang 17đó đến với văn ho ̣c mô ̣t cách tự giác Đây là yếu tố quan tro ̣ng của cảm thu ̣ văn
ho ̣c Vì vâ ̣y, để HS cảm thu ̣ văn ho ̣c tốt cần ta ̣o mô ̣t môi trường gây hứng thú cho HS khi học các tác phẩm văn ho ̣c
Trước hết, không khí giờ ho ̣c Tiếng Viê ̣t đă ̣c biê ̣t đối với các văn bản nghệ thuật, TPVH cần ta ̣o cho các em hứng thú, say mê trong viê ̣c lĩnh hô ̣i tri thức thông qua hoa ̣t đô ̣ng hướng dẫn, dẫn dắt của giáo viên Phương pháp truyền thu ̣ theo tinh thần đổi mới linh hoa ̣t, không chỉ dừng la ̣i ở viê ̣c thuyết giảng Chẳng
ha ̣n cho HS nhâ ̣p vai, đo ̣c diễn cảm, tranh luâ ̣n để tìm ra những thông điê ̣p mà văn bản gửi gắm từ đó các em rút ra bài ho ̣c cho chính mình Ngoài yếu tố trên,
GV cần có năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c tốt, khi da ̣y tác phẩm văn ho ̣c giáo viên hòa mình vào tác phẩm và kết hợp với ngôn ngữ hình thể (ánh mắt, nét mă ̣t, cử chỉ, điê ̣u bô ̣ ) để thu hút sự tâ ̣p trung, chú ý, ta ̣o cho các em hứng thú ho ̣c tâ ̣p
Hê ̣ thống câu hỏi sinh đô ̣ng mang tính gợi mở, kích thích sự tìm tòi, sáng ta ̣o của HS, có như vâ ̣y giờ ho ̣c các văn bản nghê ̣ thuâ ̣t, tác phẩm văn ho ̣c mới ta ̣o ra sự thích thú, sôi nổi, hào hứng không gây nhàm chán cho các em Từ đó, các em có sự phối hợp nhi ̣p nhàng với thầy cô trong quá trình ho ̣c tâ ̣p, cùng nhau tham gia tìm hiểu, phát biểu đóng góp ý kiến vào bài ho ̣c dưới sự dẫn dắt của giáo viên Biết lắng nghe, vâ ̣n du ̣ng kiến thức thực tế khi cảm thu ̣ tác phẩm văn ho ̣c từ đó các em sẽ chủ đô ̣ng đến với văn ho ̣c bằng chính tình yêu chân thành của mình mô ̣t cách say mê
Hiện nay, với mô hình trường ho ̣c mới, không gian lớp ho ̣c có những thay đổi tiến bô ̣ Trong lớp bàn ghế được kê go ̣n gàng, ngay ngắn theo hình thức ho ̣c nhóm, mỗi lớp đều có mô ̣t góc ho ̣c tâ ̣p, góc thư viê ̣n xung quanh lớp ho ̣c được trang trí bằng những hình ảnh, ho ̣a tiết sinh đô ̣ng là cỏ, cây, hoa, lá gần gũi với thiên nhiên tạo cho HS mô ̣t không gian thoải mái, không áp lực, HS như được hòa mình vào thế giới bên ngoài giúp các em hứng thú hơn trong quá trình ho ̣c
tâ ̣p Đă ̣c biê ̣t, trong giờ ho ̣c các TPVH một số hình ảnh mà tác phẩm mang tới hòa vào không gian lớp ho ̣c giúp cho HS say sưa, kích thích trí tưởng tượng của các em khi cảm thụ tác phẩm văn học ấy
Trang 18Trong nhà trường Tiểu ho ̣c trung tâm thư viê ̣n được quan tâm, chú tro ̣ng đầu tư, phát triển Hê ̣ thống các phòng đo ̣c, phòng máy vi tính có kết nối ma ̣ng internet đươ ̣c nâng cấp, các đầu sách được bổ xung thuâ ̣n lợi cho ho ̣c sinh tìm tòi, khám phá tri thức Chẳng ha ̣n, khi gă ̣p vấn đề khúc mắc, không rõ ràng các
em có thể tìm đến thư viê ̣n tự mình khám phá kiến thức để giải đáp cho chính bản thân Hiê ̣n nay, không chỉ có ở thư viê ̣n của nhà trường mới đem đến cho các em những thông tin bổ ích mà “thư viê ̣n nhỏ” trong tủ sách ở mỗi lớp cũng
có những tài liê ̣u quý giá giúp các em mở mang kiến thức Viê ̣c đo ̣c, nghiên cứu tài liê ̣u sẽ giúp các em tích lũy được vốn kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hô ̣i để
vâ ̣n du ̣ng vào thực tế ho ̣c tâ ̣p, đă ̣c biê ̣t trong viê ̣c ho ̣c các tác phẩm văn ho ̣c các
em hứng thú hơn trong quá trình tìm hiểu tác phẩm, giúp các em hiểu bài sâu hơn ta ̣o tiền đề cho viê ̣c cảm thu ̣ tác tốt phẩm văn ho ̣c
Thực tế tham quan, dã ngoa ̣i ở trường tiểu ho ̣c phát triển ta ̣o điều kiê ̣n cho
HS mở mang tầm mắt qua những chuyến đi thú vi ̣, bổ ích Các em được khám phá thế giới, được tâ ̣n mắt chứng kiến những gì đang diễn ra xung quanh chúng
Đă ̣c biê ̣t, với HSTH tư duy bằng hình ảnh sẽ giúp các em phát triển nhâ ̣n thức, óc sáng ta ̣o từ đó các em sẽ vâ ̣n du ̣ng, lồng ghép kiến thức vào thực tiễn ho ̣c tâ ̣p
các môn ho ̣c Chẳng ha ̣n, khi ho ̣c bài Kì diệu rừng xanh (Tiếng Viê ̣t 5, tâ ̣p mô ̣t,
trang 75) các em đươ ̣c nhà trường tổ chức đi tham quan ta ̣i vườn Quốc gia Cúc Phương các em sẽ thấy được phần nào hình ảnh trong tác phẩm mà tác giả gửi gắm trong đó, có thêm kĩ năng quan sát, phán đoán, nhìn nhâ ̣n sự viê ̣c tốt hơn để
vâ ̣n du ̣ng vào quá trình cảm thu ̣ tác phẩm văn ho ̣c Đây là hình thức thông dụng phổ biến nhất giúp học sinh đến với con người, thiên nhiên, đất nước bằng tình yêu chân thành, xuất phát tự đáy lòng… mở mang kiến thức về tác giả, tác phẩm tạo hứng thú sáng tác cho HS Chính vì vâ ̣y, trong các nhà trường cần có kế hoa ̣ch cu ̣ thể, ta ̣o điều kiê ̣n cho các em những chuyến tham quan ho ̣c tâ ̣p bổ ích
để đáp ứng nhu cầu lấy người học làm trung tâm
1.1.4.2 Nô ̣i dung, chương trình cảm thụ văn học lớp 5
So với đầu cấp, HS lớp 5 đã có phát triển đầy đủ hơn về năng lực tư duy, sử
du ̣ng ngôn ngữ, phát hiê ̣n, đánh giá, nên mức đô ̣ yêu cầu bồi dưỡng năng lực
Trang 19cảm thu ̣ văn ho ̣c cho HS lớp 5 cũng tăng lên Hê ̣ thống câu hỏi, bài tâ ̣p đo ̣c hiểu văn bản nghê ̣ thuâ ̣t cần có sự giảm thiểu cần nhâ ̣n diê ̣n và gia tăng hơn về yêu cầu đánh giá suy luâ ̣n
Nhìn chung, đối tượng của quá trình cảm thu ̣ văn ho ̣c là các văn bản nghê ̣ thuâ ̣t trong chương trình Tiếng Viê ̣t 5, cụ thể là phân môn Tâ ̣p đọc, Kể chuyê ̣n Đó là các bài văn, bài thơ, mẩu truyê ̣n ngắn đă ̣c sắc có giá tri ̣ trong chương trình Tâ ̣p
đo ̣c lớp 5 Ngoài ra còn có các đoa ̣n văn, đoa ̣n thơ hay ngoài chương trình có nội dung nói về tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, Bác Hồ hay phản ánh những nét sinh hoa ̣t độc đáo của một vùng, miền trên đất nước Hầu hết các văn bản đều cung cấp cho ho ̣c sinh những hình ảnh, chi tiết nghê ̣ thuâ ̣t, mối quan hê ̣ giữa con người và cảnh vâ ̣t, hay đơn giản chỉ là những việc làm cao đe ̣p của con người trong cuộc sống, để từ đó các em đi tìm hiểu và cảm nhâ ̣n tác phẩm
Trong tất cả các văn bản văn xuôi nghê ̣ thuâ ̣t, những bài thuô ̣c thể loa ̣i văn miêu tả chiếm mô ̣t số lượng lớn Những bài văn này được trích từ những tác phẩm hay, đă ̣c sắc cả về nô ̣i dung và nghê ̣ thuâ ̣t Để la ̣i ấn tượng trong tâm trí
HS là tác phẩm (trích) Mùa thảo quả của nhà văn Ma Văn Kháng, Kì diê ̣u rừng xanh củ a Nguyễn Phan Hách đă ̣c biê ̣t qua những bài ho ̣c đó, HS được ho ̣c cách quan sát, cách miêu tả, cách dùng từ đă ̣t câu của tác giả, sẽ còn đo ̣ng mãi
trong tâm trí các hình ảnh của thảo quả với “những chùm đỏ chon chót, bóng bẩy như lửa chín, chứa nắng”, với “rừng say ngây và ấm nóng”, với “những đốm lửa hồng, ngày qua ngày lại thắp nhiều ngọn mới, nhấp nháy vui mắt”, là
hình ảnh “một thành phố lúp xúp dưới bóng cây thưa”, “mỗi chiếc nấm là một lâu đài kiến trúc tân kì”, “giang sơn vàng rợi” Có thể khẳng đi ̣nh rằng những
bài văn miêu tả trong chương trình Tâ ̣p đo ̣c lớp 5 có mô ̣t vi ̣ trí quan tro ̣ng trong viê ̣c giáo du ̣c HS tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người
Thơ, thơ trữ tình chiếm dung lượng cũng khá lớn trong tổng số các bài thơ đươ ̣c sử du ̣ng trong chương trình Tâ ̣p đo ̣c lớp 5 Có những bài thơ mang đâ ̣m
chất trữ tình như: Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà của Quang Huy, Hành trình của bày ong của Nguyễn Đức Mâ ̣u và có những bài thơ vừa giàu tính tự sự vừa mang đâ ̣m chất trữ tình như: Tiếng vọng của Nguyễn Quang Thiều, Ê-mi-
Trang 20li, con cu ̉ a Tố Hữu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi thơ vốn giàu hình ảnh,
nha ̣c điê ̣u cảm xúc vì thế ho ̣c sinh khi cảm thu ̣ phải chú ý đến nhi ̣p thơ và hình tươ ̣ng thơ để phát hiê ̣n đươ ̣c cái hồn của thơ
Các thể loa ̣i truyê ̣n trong đó có hồi kí, truyê ̣n li ̣ch sử và cả truyê ̣n kể dân gian lẫn hiê ̣n đa ̣i cũng góp mô ̣t số lượng lớn đáng kể trong phân môn Tâ ̣p đo ̣c
Đă ̣c trưng của truyê ̣n là ở hê ̣ thống tình tiết, sự kiê ̣n và nhân vâ ̣t Ta bắt gă ̣p trong những câu chuyê ̣n này li ̣ch sử đấu tranh của thế giới với vu ̣ ném bom của Mĩ vào Nhâ ̣t để la ̣i bao vết thương lòng trong mỗi người dân xứ sở hoa anh đào
(Như ̃ng con sếu bằng giấy), ta còn gă ̣p tình người bao la trong câu chuyê ̣n xoay
quanh mó n quà Giáng sinh (Chuỗi ngọc lam) Các em phải thực sự hiểu đươ ̣c
tác phẩm mới có thể truyền đa ̣t la ̣i nô ̣i dung và tư tưởng tác phẩm, từ đó HS sẽ diễn đa ̣t đươ ̣c thành công cảm nhâ ̣n của mình đối với nhân vâ ̣t và câu chuyê ̣n
1.1.4.3 Thực hành, rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học
Trong quá trình hình thành và bồi dưỡng năng lực cảm thụ, học sinh cần thiết phải hình thành và rèn luyện được một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá tác phẩm Các kĩ năng bao gồm:
Kĩ năng đọc – hiểu là kĩ năng sơ giản và là yếu tố đầu tiên của cảm thụ Nó bao gồm nhiều yếu tố cảm xúc, thái độ, sự rung cảm thẩm mĩ Trong kĩ năng đọc – hiểu bao gồm những thao tác tư duy logic như phân tích, tổng hợp, so sánh logic đánh giá và suy luận tư duy hình tượng như quan sát, lựa chọn, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm
Đo ̣c kĩ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tâ ̣p, biết đă ̣t ra những câu hỏi như: Bài này yêu cầu gì? Cần nêu bâ ̣t được cái gì? Hê ̣ thống câu hỏi phải gợi được cảm xúc, gợi liên tưởng phát huy trí tưởng tượng của ho ̣c sinh Giáo viên cần thoát những câu hỏi hiểu bài trong sách giáo khoa, phải chủ đô ̣ng sáng ta ̣o, tìm tòi để đă ̣t ra những câu hỏi khơi gợi ho ̣c sinh tìm hiểu về vần, điê ̣u, từ ngữ, hình ảnh, nhân vâ ̣t trong bài tâ ̣p đo ̣c Đo ̣c và hiểu về câu thơ, câu văn hoă ̣c đoa ̣n trích được nêu trong đề bài
Kĩ năng diễn đạt và biểu đạt là kĩ năng thể hiện sự suy nghĩ, ý kiến một cách mạch lạc cũng như biểu thị được những hình ảnh cảm xúc, một cách sinh
Trang 21động và có hồn Thông qua phân môn Tập làm văn HS sẽ sử dụng toàn bộ vốn sống, kĩ năng của mình để giải quyết một tình huống sáng tạo đó là viết một đọan văn hay một bài văn cảm nhận về một yếu tố hay nội dung văn học cụ thể
Để đánh giá được kết quả và mức độ cảm thụ của học sinh, ngoài những bài tập từ ngữ, ngữ pháp, phần trả lời câu hỏi rèn luyện các kĩ năng cảm thụ thì học sinh cần đảm bảo yêu cầu về viết đoạn văn cảm thụ (ở mức độ đơn giản, phù hợp với khả năng của học sinh tiểu học) Đoạn văn có nội dung cảm thụ văn học
ở tiểu học cần được diễn đạt một cách hồn nhiên, trong sáng, bộc lộ cảm xúc, không mắc các lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu không diễn giải dài dòng về đoạn thơ hay đoạn văn hay sa vào phân tích giọng văn vượt quá lứa tuổi Kiên trì rèn luyện từng bước sẽ viết được đoạn văn hay về cảm thụ văn học, sẽ có được năng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện bao điều đáng quý trong văn học
đe ̣p của văn chương để hình thành ở các em mô ̣t tình yêu văn ho ̣c từ đó các em sẽ cảm thu ̣ tác phẩm văn ho ̣c mô ̣t cách tốt hơn
Chú ý
Trong lứa tuổi HSTH, chú ý không chủ đi ̣nh chiếm ưu thế Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, ít gă ̣p, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em không có sự nỗ lực của ý chí Sự tâ ̣p trung chú ý của ho ̣c sinh thiếu bền vững do quá trình ức chế ở bô ̣ não của các em còn yếu Do vâ ̣y, chú ý của các
Trang 22em còn bi ̣ phân tán Giáo viên còn áp du ̣ng nhiều phương pháp và hình thức da ̣y
ho ̣c hiê ̣n đa ̣i để tránh sự nhàm chán và sự ức chế não bô ̣ của HS Giáo viên cần đưa vào những tri thức, những hoa ̣t đô ̣ng mới mẻ để kích thích sự chú ý và hứng thú ho ̣c tâ ̣p của HS
Trí nhớ
So với lứa tuổi mẫu giáo thì ở HSTH ghi nhớ có chủ định và không chủ định đang phát triển Ở tiểu học, các em đã hình thành sự ghi nhớ có chủ định và ngày càng phát triển ở mức cao hơn Tuy vậy, với HSTH cả ghi nhớ có chủ định
và ghi nhớ không chủ định vẫn tồn tại song song, chuyển hóa và bổ sung cho nhau trong quá trình học tập Vì vậy GV cần nắm chắc và rèn luyện cho HS cách
sử dụng hai loại trí nhớ này một cách hợp lý, hiệu quả
mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện Để cảm thụ tốt một văn bản thì trước tiên các em phải hình dung ra những gì mà văn bản đó phản ánh Để lĩnh hội tri thức, HS phải tái tạo cho mình những hình ảnh của hiện thực như những sự kiện xảy ra trong quá khứ, những quang cảnh chưa từng thấy… tất cả những điều đó tạo điều kiện cho trí tưởng tượng phát triển
Từ những đặc điểm trên, trong quá trình dạy học, GV cần tổ chức dạy học cho HS theo hướng tích cực như cho HS quan sát các sự vật, hiện tượng, mô
Trang 23hình cụ thể cũng như cho HS làm các bài tập mở giúp HS phát triển tốt hơn trí tưởng tượng của mình
Ho ̣c sinh tiểu ho ̣c rất dễ xúc cảm, xúc đô ̣ng và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tính dễ xúc cảm được thể hiê ̣n trước hết ở các quá trình nhâ ̣n thức, tri giác, tưởng tượng, tư duy Vì thế, các em yêu thích mô ̣t cách chân thâ ̣t cây cối, con vâ ̣t, đồ vâ ̣t, con người trong các bài văn của mình các em biết cảm thu ̣ chúng Khi các em nhâ ̣n được lời khen của thầy, cô giáo thì niềm sung sướng thể hiê ̣n trên nét mă ̣t, nu ̣ cười, hành vi, cử chỉ Khi bi ̣ điểm kém hơn các ba ̣n, bi ̣ mô ̣t lời chê trách của thầy cô các em buồn và có thể bâ ̣t khóc trước ba ̣n bè
HSTH cò n chưa biết kiềm chế những tình cảm của mình, chưa biết kiểm tra sự thể hiê ̣n tình cảm ra bên ngoài Các em dễ bô ̣c lô ̣ tình cảm mô ̣t cách tự nhiên, chân thực, vì vâ ̣y trong giờ ho ̣c các em rất mất trâ ̣t tự, những lời nói hay những câu văn các em đưa ra đôi khi quá chân thâ ̣t, khiến cho người đo ̣c người nghe thấy hài hước Từ những đă ̣c điểm này trong da ̣y ho ̣c và giáo du ̣c chúng ta cần khơi gơ ̣i những cảm xúc tự nhiên của các em, đồng thời khéo léo, tế nhi ̣ rèn luyê ̣n cho các em khả năng tự mình làm chủ tình cảm của mình, không được nén hoă ̣c có những lời nói, viê ̣c làm gây xúc đô ̣ng và hưng phấn ảnh hưởng đến khả năng ho ̣c tâ ̣p cũng như thể hiê ̣n tình cảm của mình trong khi cảm thu ̣ mô ̣t bài văn mô ̣t bài thơ
b Đă ̣c điểm ngôn ngữ
“Ngôn ngữ là phương tiê ̣n giao tiếp”, “ngôn ngữ chính là hoa ̣t đô ̣ng của con người ” Đồng thời ngôn ngữ là phương tiê ̣n phát triển tư duy, truyền đa ̣t truyền thống văn hóa li ̣ch sử từ thế hê ̣ này sang thế hê ̣ khác Sử du ̣ng ngôn ngữ mô ̣t
Trang 24cách thành tha ̣o ma ̣ch la ̣c có tác đô ̣ng ma ̣nh tới quá trình hình thành và phát triển tâm lý của trẻ
Ho ̣c sinh cuối cấp tiểu ho ̣c đươ ̣c đánh dấu mô ̣t bước tiến về ngôn ngữ, các
em đã tích lũy được vốn ngôn ngữ nhất đi ̣nh đă ̣c biê ̣t là ngôn từ nghê ̣ thuâ ̣t giúp các em phát hiê ̣n các dấu hiê ̣u, những khía ca ̣nh khác nhau của đối tượng được tiếp xúc Các em sử du ̣ng ngôn ngữ dùng lời nói thành tha ̣o và cơ bản để bày tỏ nguyê ̣n vo ̣ng, ý thức xã hô ̣i và đánh giá người khác lẫn bản thân
Các tác phẩm văn ho ̣c cung cấp giúp các em có vốn từ vựng phong phú Bằng con đường tiếp xúc với nghê ̣ thuâ ̣t các em dễ dàng tiếp nhâ ̣n và cảm thu ̣ văn ho ̣c Tuy nhiên đây chỉ là sự tiếp nhâ ̣n gián tiếp, đôi khi sự ha ̣n chế về vốn sống, cách diễn đa ̣t chưa hê ̣ thống dẫn đến viê ̣c các em thu ̣ đô ̣ng, máy móc cảm thu ̣ Vì thế khi đưa tác phẩm văn ho ̣c tới HS, giáo viên phải ta ̣o điều kiê ̣n cho
ho ̣c sinh có khả năng nghe ra, nhìn thấy và cảm nhâ ̣n được màu sắc xúc cảm mà mỗi tác phẩm văn ho ̣c muốn truyền tải Điều đó đem la ̣i cho các em mô ̣t sự nhâ ̣n thức đầy đủ, đảm bảo sự phát triển toàn diê ̣n về nhân cách và trí tuê ̣ trẻ
1.2 Cơ sơ ̉ thực tiễn
1.2.1 Đă ̣c trưng về cảm thụ văn học của học sinh tiểu học
Sự cảm thụ văn học của HSTH mang những đặc trưng riêng: sự chi phối mạnh mẽ của tình cảm, sự vượt trước của tình cảm so với quá trình phân tích - tổng hợp, sự phát triển chưa hoàn thiện của óc phân tích, sự thiếu hoàn thiện của năng lực so sánh - tổng hợp; óc khái quát của trẻ cũng chưa cao do các em thường sa vào những chi tiết cụ thể, thiếu khả năng tổng hợp vấn đề; không biết lật trở vấn đề, sự khái quát thường vội vã, thiếu chiều sâu đồng thời chưa thấy được hết các mối quan hệ giữa các sự kiện diễn ra trong tác phẩm
Cảm thụ văn học diễn ra ở mỗi em không hoàn toàn giống nhau do nhiều yếu tố quyết định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức, tình cảm và thái độ khi tiếp xúc với văn học, tiếp nhận văn học ở HS cấp tiểu học thường thiên về lối tiếp nhận "kí thác"
Dù có những hạn chế về khả năng cảm thụ thì sự cảm thụ trực tiếp, hồn nhiên tác phẩm văn học của HSTH vẫn diễn ra là do:
Trang 25+ Khả năng đọc – hiểu của các em đã bước đầu phát triển, nên khi đọc một bài văn, bài thơ các em có thể hiểu được nội dung
+ Óc tưởng tượng của các em đã phát triển mô ̣t cách ma ̣nh mẽ nên không cần tốn nhiều công sức, nhận thức của các em có thể phản ánh được kết quả của quá trình đọc dưới hình thức biểu tượng
Việc dạy cảm thu ̣ văn trong nhà trường phải đạt mục đích tạo năng lực văn cho HS Năng lực này là khả năng rung động, cảm thụ với cái đẹp; là năng lực tạo ra cái đẹp trong cuộc sống; là cá tính và bản lĩnh của con người có ý thức về bản thân… khi tổ chức học văn cho học sinh, phải cho các em nhập thân vào tác phẩm, sống và cảm xúc cùng với cuộc sống của các nhân vật trong tác phẩm
1.2.2 Khảo sát thực trạng bồi dươ ̃ng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang
1.2.2.1 Mục đích điều tra
Để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho HS và có cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho HSTH, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho học sinh lớp 5
ở Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang Qua khảo sát nhằm chỉ
ra và đánh giá về các biê ̣n pháp giáo viên đang sử dụng để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho HS lớp 5 Từ đó, xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp nâng cao chất lươ ̣ng bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho HS lớp 5 thông qua các phân môn chủ yếu của môn Tiếng Việt như Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn,…
1.2.2.2 Khách thể điều tra
- Giáo viên da ̣y môn Tiếng Viê ̣t lớp 5
- 70 HS lớ p 5 Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế – Bắc Giang
( gồm 35 HS lớ p 5A và 35 HS lớp 5B)
1.2.2.3 Thời gian điều tra
Từ tháng 10/ 2015 đến tháng 12/ 2015
1.2.2.4 Nội dung điều tra
- Thái độ và nhận thức của giáo viên về việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ
Trang 261.2.2.5 Phương pháp điều tra
Để có kết quả khảo sát sát với thực tế, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp điều tra như sau:
- Dự giờ thăm lớp
- Phỏng vấn
- Phiếu trưng cầu ý kiến
1.2.3 Phân tích kết quả điều tra
a Đối với giáo viên
* Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
học cho học sinh lớp 5
Chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến 4 giáo viên khối 5 đang công tác tại Trường Tiểu học Xuân Lương - Yên Thế - Bắc Giang Qua điều tra chúng tôi nhận thấy nhận thức của giáo viên về vấn đề nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 như sau:
* Đối với câu hỏi 1: Theo (thầy) cô việc bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn
ho ̣c cho ho ̣c sinh lớp 5 có quan tro ̣ng không? 100% giáo viên đưa ra câu trả lời là “ quan tro ̣ng” Kết quả này chứng tỏ rằng giáo viên đã nhâ ̣n thức rõ vai trò và ý nghĩa của viê ̣c bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho ho ̣c sinh
* Đối với câu hỏi 2: Theo thầy (cô) vai trò của viê ̣c bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c đối với việc nâng cao chất lượng học môn Tiếng Việt của học sinh như thế nào? Với câu hỏi này thì chúng tôi nhâ ̣n được câu trả lời của 4/4 giáo viên đều cho rằng viê ̣c bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c giúp cho các
em cảm nhâ ̣n được cái hay cái đe ̣p và những giá tri ̣ nghê ̣ thuâ ̣t trong văn ho ̣c từ
Trang 27đó giúp các em có tâm hồn nha ̣y bén, biết yêu thương, đồng cảm, nâng cao sự hiểu biết, trau dồi vốn sống của bản thân, nâng cao chất lượng học môn Tiếng Việt của học sinh nhất là đối với phân môn Tập làm văn Điều này cho thấy hầu hết giáo viên đã xác đi ̣nh được mu ̣c đích của viê ̣c bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn chương cho ho ̣c sinh, đây cũng là cơ sở để giáo viên vâ ̣n du ̣ng các phương pháp mô ̣t cách triê ̣t để giúp các em có kĩ năng cảm thu ̣ văn ho ̣c tốt hơn
* Đối với câu hỏi 3: Để bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho ho ̣c sinh thầy (cô) có thường xuyên tổ chức cho các em làm các bài tâ ̣p cảm thu ̣ văn ho ̣c không? Chúng tôi đưa ra các mức đô ̣ kiểm tra viê ̣c giáo viên cho các em làm bài
tâ ̣p cảm thu ̣ văn ho ̣c và nhâ ̣n được kết quả sau: Có 2/4 giáo viên rất thường xuyên tổ chức cho HS làm bài tập cảm thụ văn học thông qua các phân môn thuộc môn Tiếng Việt Điều đó chứng tỏ GV đã thấy được tầm quan trọng của nội dung này đối với việc học tập môn Tiếng Việt của HS Những giáo viên này coi việc cho HS làm bài tập cảm thụ văn học thường xuyên là một kênh để phát hiện những học sinh có năng khiếu về môn Tiếng Việt Từ đó, có kế hoạch bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS để nâng cao chất lượng học tập cho lớp
và nhà trường
Tuy nhiên, vẫn có giáo viên không thường xuyên tổ chức cho HS làm các bài tập cảm thụ văn học, chưa thực sự nhiệt tình và tâm huyết với mảng nội dung này, chưa đầu tư thời gian đúng mức, chỉ dừng lại ở mức độ tổ chức làm cho xong, cho qua Vì vậy, hiệu quả dạy học ở nội dung này nói chung chưa cao
GV này cho rằng làm bài tập cảm thụ văn học là một điều xa vời đối với học sinh tiểu học ở vùng nông thôn, miền núi Các em hoàn thành một, hai bài tập cuối bài trong SGK là được không nhất thiết phải thường xuyên làm các bài tập cảm thụ văn học
* Đối với câu hỏi 4: Trong thực tế, thầy (cô) gặp những thuận lơ ̣i, khó khăn như thế nào khi bồi dưỡng năng lực cảm thu ̣ văn ho ̣c cho học sinh lớp 5? Chúng tôi nhận đươ ̣c ý kiến chia sẻ cơ bản sau:
- Thuận lợi:
Nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn
Trang 28nhằm nâng cao chuyên môn cho giáo viên Tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên
đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5, giáo viên được trang bị đầy đủ SGK, SGV, sách tham khảo và các phương tiện dạy học khác Đội ngũ GV có năng lực yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong việc soạn bài và chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp Đặc biệt, trong quá trình bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS lớp 5 các thầy cô đã vận dụng một
số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh linh hoạt và hiệu quả
Hầu hết các em có vốn hiểu biết nhất định về cuộc sống và văn chương
từ đó biết vận dụng vào việc học và cảm thụ tác phẩm Một số em có ý thức chuẩn bị bài tốt vì thế mà các em nhanh chóng nắm bắt được nội dung, những giá trị trong tác phẩm và hiểu được dụng ý và đáp ứng tốt các kiểu bài luyện tập cảm thụ mà giáo viên đưa ra Đối với lớp 5 đặc điểm tâm lý của HS có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, giàu cảm xúc và có sức sáng tạo với đặc điểm tâm lý này rất thuận lợi cho việc khơi gợi cảm xúc khi các em cảm thụ tác phẩm văn học Ngoài ra, những tác phẩm văn học mà HS được học hết sức gần gũi với các em từ đó việc chia sẻ tình cảm của mình với tác phẩm cũng chở nên dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho các em được bộc lộ cảm xúc chân thành, nói lên cái tôi của bản thân khi cảm thụ tác phẩm văn học ấy
- Khó khăn:
Dạy Tiếng Việt là một việc khó thế nhưng để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS lớp 5 lại là một việc khó hơn, đó là chia sẻ xuất phát tự đáy lòng của thầy cô nơi đây Điều khó khăn mà thầy cô gặp phải chính là do trình độ của học sinh không đồng đều, một số HS trung bình yếu còn nhận thức chậm hơn so với các bạn khá giỏi trong lớp, ý thức tự giác học tập chưa cao khiến cho các em thấy ngại học, ngại phát biểu suy nghĩ của cá nhân Mặt khác, các em là những HS vùng nông thôn, miền núi, sau những giờ học trên lớp thời gian rảnh các em phải phụ giúp bố mẹ làm việc nhà vì thế thời gian dành cho việc học thêm bị thu hẹp Một số em, bố mẹ quá tập trung vào việc phát triển kinh tế không có thời gian quan tâm con cái, thường để cho ông bà
Trang 29chăm nom hoặc một số phụ huynh khác lại có quan điểm cho rằng học môn Toán sẽ tốt hơn học môn Tiếng Việt vì thế họ đầu tư cho con em mình học toán nhiều hơn Không những vậy, do điều kiện kinh tế ở địa phương còn chậm phát triển, các hiệu sách lớn ở xa nên việc mua sách tham khảo để đọc, học thêm với các em gần như không có đó là một thiệt thòi lớn với các em dẫn đến năng lực cảm thụ văn học của HS nơi đây chưa được nâng cao
* Đối vớ i câu hỏi 5: Thầy (cô) thường dùng biê ̣n pháp gì trong giảng da ̣y để giúp ho ̣c sinh cảm thu ̣ văn ho ̣c?
Kết quả như sau: 100% giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi khai thác, tìm hiểu nội dung, ý nghĩa, giá trị của tác phẩm Trong rất nhiều các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn ho ̣c cho học sinh tiểu học như bồi dưỡng vốn sống, vốn văn học, hướng dẫn học sinh tưởng tượng, liên tưởng, rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm, sử dụng các câu hỏi và bài tập đọc hiểu – cảm thụ,… thì biện pháp cuối cùng được coi là biện pháp chủ chốt giúp học sinh tiếp cận với thế giới của văn bản Hệ thống câu hỏi trong SGK thường chỉ sử dụng một kiểu câu hỏi với yêu cầu tái hiện nội dung, dễ gây nhàm chán, không khai thác hết được yếu tố nghệ thuật của bài Khi sử dụng biện pháp này HS trung bình và yếu khó có thể tiếp cận được nội dung, ý nghĩa, giá trị của tác phẩm dẫn đến chất lượng cảm thụ văn học của các em còn hạn chế Thực tế SGK như vậy GV phải dựa vào hệ thống câu hỏi trong SGK đặt ra những câu hỏi mới vẫn đảm bảo nội dung và phù hợp với đối tượng học sinh của mình giúp các em nắm bắt bài một cách tốt nhất Thế nhưng, hầu hết GV nơi đây chỉ dụng các câu hỏi có sẵn trong SGK mà chưa hề bổ sung thêm hệ thống câu hỏi mới phù hợp với đối tượng học sinh dẫn đến việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho các em có phần hạn chế
Trong khóa luận này, chúng tôi vẫn phát huy thế mạnh của những biện pháp thầy cô sử dụng nhưng chúng tôi sẽ đi sâu hơn để khai thác một cách sáng tạo nhất, hiệu quả nhất đối với từng biện pháp để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh một cách hiệu quả hơn Đồng thời, chúng tôi cũng đề xuất một số biện pháp khác bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5
Trang 30b Đối với học sinh
Để thấy được mức độ hứng thú của HS lớp 5 khi tham gia các hoạt động
cảm thụ văn học chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả sau:
Bảng 1: Mức độ hứng thú của học sinh lớp 5 khi tham gia các hoạt động cảm thụ văn học
em vừa được thoả mãn nhu cầu học tập của mình, vừa có được sự trải nghiệm, tiếp cận với những giá trị độc đáo về nội dung, nghệ thuật trong các tác phẩm văn ho ̣c Đồng thời, việc tham gia tốt các hoạt động cảm thụ, được giáo viên đánh giá cao năng lực cảm thụ văn ho ̣c, cũng khích lệ các em hào hứng hơn trong việc học tập môn Tiếng Việt đặc biệt trong việc viết các dạng bài tập làm văn về cảm thụ TPVH Một số em trả lời không thích tham gia các hoạt động cảm thụ văn học là bởi vì năng lực nhận thức của các em còn hạn chế, hơn nữa các em không được quan tâm bồi dưỡng đúng mức năng lực cảm thụ văn ho ̣c
- Để nắm bắt thực tra ̣ng cảm thu ̣ văn ho ̣c cho ho ̣c sinh lớp 5 chúng tôi còn tiến hành khảo sát khả năng cảm thu ̣ của ho ̣c sinh lớp 5 với một đề bài cụ thể như sau:
Đề bài: Trong bài Đất nước (Tiếng Viê ̣t 5, tâ ̣p 2, trang 94) có viết:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trang 31Trong biếc nói cười thiết tha
Mùa thu nay có đặc điểm gì khác so với mùa thu xưa?
Mùa thu mới được tả ở khổ thơ trên đẹp như thế nào?
Tác giả dùng biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả mùa thu nay? Vì sao tác giả dùng biện pháp nghệ thuật ấy?
Kết quả thu được là:
Bảng 2: Khả năng cảm thụ văn học của học sinh lớp 5
Số ho ̣c sinh hiểu
đúng câu hỏi
Số ho ̣c sinh hiểu gần đúng câu hỏi
Số ho ̣c sinh hiểu sai câu hỏi
Trang 32TIỂU KẾT
Trong chương 1 chúng tôi đặt ra cơ sở lý luận của biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 Nghiên cứu cho thấy việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức, tư duy, tình cảm, óc sáng tạo của học sinh Khả năng phát triển, điều kiện, môi trường học tập của học sinh là khác nhau nên năng lực cảm thụ văn học ở mỗi HS cũng khác nhau Cũng trong chương này chúng tôi nêu lên những vấn
đề thực trạng trong việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế - Bắc Giang, tôi nhận thấy cần phải lựa chọn biện pháp thích hợp để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS lớp 5 thông qua dạy học Tiếng Việt, đặc biệt là dạy cảm thụ qua phân môn Tập đọc, Tập làm văn giờ cảm thụ văn học phải được xây dựng thành một hệ thống làm việc giúp học sinh hiểu được nội dung của tác phẩm văn học, biện pháp nghệ thuật, HS nhập thân vào tác phẩm để các em cảm nhận được những gì đẹp
đẽ nhất tác giả gửi gắm trong tác phẩm đó Tùy vào hoàn cảnh cụ thể và trình độ của học sinh mà GV sử dụng biện pháp dạy học cho phù hợp Trong lĩnh vực cảm thụ văn học sự sáng tạo càng trở nên phong phú vì đây là hoạt động cá nhân, vì vậy muốn bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS, GV phải tìm hiểu và lựa chọn những biện pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh Những cơ sở lý luận và thực tiễn trên là những định hướng quan trọng để chúng tôi xây dựng các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lương – Yên Thế - Bắc Giang một cách hiệu quả nhất
Trang 33CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 5
2.1 Khái niệm biện pháp
Biện pháp là cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [8, tr.85] Đề xuất biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 là đưa ra những cách thức
cụ thể nhằm áp dụng vào giải quyết các vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS lớp 5 thông qua dạy học Tiếng Việt, giúp học sinh cảm thụ tốt nhất cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học trong chương trình Tiếng Việt 5, bồi dưỡng và phát triển năng khiếu văn học
2.2 Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
2.2.1 Biê ̣n pháp rèn kĩ năng đọc tác phẩm văn học
- Đo ̣c có ý thức kết hợp với quá trình liên tưởng, tưởng tượng
Để phát hiê ̣n được chất văn chương trong các văn bản nghê ̣ thuâ ̣t, giáo viên cần phải hướng dẫn ho ̣c sinh đo ̣c theo mô ̣t quy trình đi từ đo ̣c có ý thức để nắm bắt thông tin, đến phát hiê ̣n và đánh giá các yếu tố nghê ̣ thuâ ̣t đô ̣c đáo mà văn bản sử du ̣ng cuối cùng là viê ̣c khái quát tư tưởng nghê ̣ thuâ ̣t của văn bản ấy, xem xét đích tác đô ̣ng về mă ̣t nhâ ̣n thức cũng như về tình cảm nhâ ̣n thức thẩm mĩ của nó tới người đo ̣c (HS)
Đo ̣c có ý thức đây là cách đo ̣c trái với đo ̣c vô ý thức, đo ̣c ve ̣t, đo ̣c tách rời với hiểu Muốn đo ̣c có ý thức HS cần đo ̣c kĩ văn bản để nắm đầy đủ nô ̣i dung thông báo của nó, sống với không khí hay còn go ̣i là thế giới nghê ̣ thuâ ̣t mà văn bản gợi ra, qua trí tưởng tượng, sự liên tưởng và cảm xúc của mình Liên tưởng tưởng tượng đóng vai trò quan tro ̣ng trong tiếp nhâ ̣n văn ho ̣c Liên tưởng là đầu mối của những rung đô ̣ng thẩm mĩ khi HS tiếp xúc với hình tượng văn ho ̣c, tưởng tượng như chiếc cầu nối giữa người đo ̣c và người viết Qúa trình CTVH chỉ được thiết lâ ̣p khi nô ̣i dung tác phẩm được tái hiê ̣n trong trí tưởng tượng và trở thành sự kiê ̣n trong tâm hồn HS Lúc đó, HS phải dùng khả năng liên tưởng
Trang 34và tưởng tượng của mình để bổ sung những yếu tố chủ quan vào bức tranh của nhà văn, nhờ vậy, những kinh nghiệm riêng của các em sẽ làm phong phú thêm hình tượng, mở ra khả năng đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận Sự phát triển của quá trình đọc được vận động trong hoạt động liên tưởng, tưởng tượng
và giải thích, chất lượng của quá trình đọc phụ thuộc vào kết quả liên tưởng, tưởng tượng, trong đó, chúng đóng vai trò như một công cụ khám phá, vừa như phương thức của tư duy sáng tạo Khi sáng tạo tác phẩm nhà văn đã tự đặt mình trong thế đối thoại với một người đọc vô hình, khi cảm nhận tác phẩm, HS cũng
có một cuộc giao tiếp im lặng với nhà văn, trong sự đồng điệu và giao cảm tinh
tế, thông qua quá trình liên tưởng, tưởng tượng
Đối với các tác phẩm văn học, sự liên tưởng, tưởng tượng của HS thường bắt nguồn từ những chi tiết, những tình huống cụ thể, nhưng phải là những chi tiết gợi tả, gợi cảm có sức tác động với tâm hồn và nhận thức Với một TPVH khi âm hưởng của các từ, các câu được vang lên tác động trực tiếp vào tâm tưởng, khơi dậy cảm xúc cùng những liên tưởng, tưởng tượng của HS, giúp HS đồng cảm, chia sẻ cảm xúc mà nhân vật trữ tình bộc lộ trong đó Bởi vì, đối với những tác phẩm đó, tưởng tượng và liên tưởng của người đọc thường bắt nguồn
từ cơ sở cộng hưởng cảm xúc với nhân vật trong tác phẩm, cùng với sự phối hợp của tiết tấu, nhịp điệu và sức gợi của từ ngữ Cảm hứng và sự xúc động của học sinh khi thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm là điều kiện làm nảy sinh những liên tưởng và tưởng tượng sáng tạo Vì vậy, khi đọc các TPVH giáo viên căn cứ vào trình độ của HS trong lớp để chia tác phẩm văn học đó thành các đoạn rồi cho các em đọc thành tiếng, khi đọc phải có sự nhập thân, trực tiếp tri giác ngôn ngữ tác phẩm có như vậy mới kích thích được những biểu tượng có trong vốn sống của mình để lĩnh hội những điều ẩn kín đằng sau câu chữ Khi đọc có sự liên tưởng, tưởng tượng trong CTVH không chỉ giúp HS cảm nhận, lĩnh hội được các thông tin cơ bản, mà còn dựa trên cơ sở đồng cảm với tác giả để liên kết các nét nghĩa của ngôn từ, biểu tượng, hình ảnh, âm thanh, khiến cho hình tượng được hình dung và khám phá trọn vẹn, sinh động hơn
Trang 35Ngôn ngữ là phương tiện của biểu đạt, và không phải bao giờ cũng chuyển tải hết được những điều người nói, người viết muốn thể hiện Vì vậy, khi đọc tác phẩm văn học, các em cần phải đọc có ý thức kết hợp với quá trình liên tưởng, tưởng tượng để khơi dậy, khám phá những điều mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm văn học đó có như vậy mới bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho các em một cách hiệu quả
- Đo ̣c diễn cảm
Tục ngữ có câu: “ Ăn không nên đọi, nói không nên lời” “Nói không nên lời” là một sự bất lực của con người Năng lực cảm thụ văn nhất thiết phải bao hàm năng lực nói nên lời, sau đó là sự rèn luyện để đạt đến trình độ nói thành thạo, nói hay, nói một cách nghệ thuật ngôn từ tiếng việt bao gồm cả việc đọc
diễn cảm
Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc với đủ mọi sắc thái biểu cảm (giọng điệu, ngữ điệu, cường độ, nhịp điệu, ngắt giọng ) có kèm theo cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và phương tiện hỗ trợ biểu cảm phù hợp để truyền đạt những ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác phẩm và cả những thái độ, tâm trạng, cảm xúc của người đọc đến với người nghe Lối đọc này hấp dẫn, lôi cuốn thính giả, góp phần chuyển tải sâu sắc nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học Đọc diễn cảm là cấp độ cao nhất của đọc tác phẩm Đọc bình thường chỉ đòi hỏi phát âm đúng, đọc lưu loát, biết nghỉ đúng chỗ theo các dấu ngắt câu, biết lên, xuống giọng Đọc diễn cảm đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung tác phẩm, từng phần của tác phẩm, thái độ cảm xúc của nhân vật, của nhà văn để diễn tả cho đúng tinh thần Cho nên, mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc
và phải truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới người nghe Học sinh đọc diễn cảm chưa tốt là do nguyên nhân: giáo viên chưa giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc và nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng là khả năng đọc mẫu của giáo viên còn hạn chế Muốn đọc diễn cảm tốt, ta cần:
Trang 36Giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc Muốn vậy cần phải chú ý bám sát yêu cầu của bài tập đọc Khi hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm, giáo viên có thể thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Giáo viên đọc mẫu và cho học sinh đọc thầm nhiều lượt để tìm
hiểu nội dung, cấu trúc bài thơ, bài văn xuôi và cách đọc
- Bước 2: Quy ước các kí hiệu xác định đoạn thoại và giọng thoại của từng
nhân vật
- Bước 3: Thực hiện bài tập quy ước cách đọc Để thực hiện bài tập này,
giáo viên cần ghi các kí hiệu đọc đối với từng khổ thơ, câu thơ, từng câu, từng đoa ̣n văn trước khi luyện đọc: ngắt nhịp (/), cao giọng (), thấp giọng (), đọc liền mạch ( )
+ Vi ́ dụ 1: Trong bài thơ Hành trình của bầy ong (Tiếng Viê ̣t 5, tâ ̣p 1) có
thể đo ̣c theo cách ngắt nhịp, lên xuống giọng như sau:
Chắt trong vi ̣ ngọt / mùi hương
Lă ̣ng thầm thay / những con đường ong bay
Trải qua / mưa nắng / vơi đầy
Men trơ ̀ i đất / đủ làm say đất trời
Bầy ong/ giữ hộ / con người
Như ̃ng mùa hoa / đã tàn phai / tháng ngày
+ Vi ́ dụ 2: Đọc bài Mùa thảo quả (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 113), chú ý ngắt nhịp ở những câu ngắn (Gió thơm Cây cỏ thơm Đất trời thơm.) nhằm thể
hiện nhịp thở của người đang hít vào để cảm nhận mùi thơm của thảo quả lan trong không gian Không chỉ quan tâm đến việc ngắt nhịp trong khi đọc mà còn thể hiện nhịp độ đọc Trong một bài có thể đọc nhanh, chậm vừa phải tùy thuộc theo nội dung từng đoạn
+ Vi ́ dụ 3: Bài Kì diệu rừng xanh (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 75) Cần hướng
dẫn học sinh đọc giọng khoan thai, thể hiện thái độ ngỡ ngàng, ngưỡng mộ cảnh vật ở đoạn 1; đọc nhanh hơn ở những câu miêu tả hình ảnh thoắt ẩn, thoắt hiện của muông thú ở đoạn 2; đọc thong thả ở những câu cuối miêu tả vẻ thơ mộng của cánh rừng trong sắc vàng mênh mông ở đoạn 3 Học sinh phải biết thay đổi tốc độ đọc
Trang 37như vậy tức là đã cảm nhận được vẻ đẹp kì thú của rừng xanh Với câu văn dài, tốc
độ đọc giãn ra, làm cho người đọc, người nghe có thời gian suy nghĩ
- Bước 4: Thực hiện bài tập giải mã, tức là gợi ý nội dung và cách đọc diễn
cảm bài thơ cho học sinh dựa trên bài tập đã quy ước kí hiệu cách đọc Có thể ghi lời chỉ dẫn giọng đọc ở cột dọc, cạnh từng khổ thơ, đoạn văn: chú ý về cả cách đọc (nhanh, chậm, vừa phải) và cảm xúc khi đọc (bình thường, buồn, vui,
tự hào, thất vọng…) Thực hiện loại bài tập này có thể sử dụng các câu hỏi gợi
mở như:
1 Các nhân vật trong bài gồm những ai?
2 Thể hiện lời thoại của từng nhân vật trong bài như thế nào?
3 Giọng điệu của nhân vật có thay đổi hay không? Thay đổi như thế nào?
Ví dụ 4 : Bài Lòng dân (Tiếng Viê ̣t 5, tâ ̣p 1, trang 24, 25)
Cai: ( xẵng giọng ) / Chồng chị à?
Dì Năm: - Dạ , chồng tui
Cai: - Để coi ( Quay sang lính) / Trói nó lại cho tao/ (chỉ dì Năm )
Cứ trói đi Tao ra li ̣nh mà/ (lính trói dì Năm lại)
An: Má ơi má !
Khi đọc cần thể hiện đúng thái độ, tình cảm của nhân vật và tình huống kịch Cụ thể:
- Giọng cai và lính: hống hách, xấc xược
- Giọng dì Năm và chú cán bộ ở đoạn đầu: tự nhiên, ở đoạn sau dì Năm khéo giả vờ than vãn khi bị trói, nghẹn ngào nói lời trăng trối với con khi bị doạ bắn chết
- Giọng An: giọng một đứa trẻ đang khóc (An tham gia rất tự nhiên vào vở kịch do má em dàn dựng, trong tình huống nguy hiểm, em khóc vì thực sự lo cho má)
- Bước 5: Luyện đọc lần 1 - tiến hành cho học sinh luyện đọc bài thơ bài văn theo các quy ước đã xác định ở các bước trên
- Bước 6: Thực hiện bài tập giải thích Yêu cầu học sinh lí giải cho được vì
sao các em đọc như thế Đây là dạng bài tập nâng cao để giúp học sinh ý thức
Trang 38được cách đọc diễn cảm bài thơ, bài văn tránh tình trạng đọc theo cảm tính Bài tập này cũng giúp học sinh khắc sâu nội dung bài học trong quá trình vận dụng
để tìm ra cách đọc phù hợp
+ Bước 7: Cho học sinh thực hiện đọc diễn cảm bài thơ, bài văn nhiều lần
Đánh giá, nhận xét và chỉnh sửa cho học sinh sau mỗi lần đọc
2.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu sâu tác phẩm văn học
2.2.2.1 Điều chỉnh, bổ sung hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài
Các bài tập đọc hiểu trong SGK Tiếng Việt luôn được sắp xếp theo nguyên tắc hoặc bám sát nội dung từng đoạn văn, từng khổ thơ (bổ ngang) hoặc bám sát từng mạch ý của bài (bổ dọc), giáo viên có thể hướng dẫn HS tìm hiểu bài theo các mức độ từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát và ngược lại Dựa vào hệ thống câu hỏi mà học sinh có hướng cảm thụ bài văn, bài thơ tốt hơn
Ví dụ: Bài Lớp học trên đường (Tiếng Việt 5, tập 2, trang 153)
1 Rê – mi học chữ trong hoàn cảnh như thế nào?
2 Lớ p ho ̣c của Rê- mi có gì ngô ̣ nghĩnh?
3 Tìm những chi tiết cho thấy Rê- mi rất hiếu ho ̣c?
4 Qua câu chuyện này, em có suy nghĩ gì về quyền ho ̣c tập của trẻ em? Trong hệ thống câu hỏi này ta thấy câu hỏi số 4 có vẻ hơi gò ép so với nô ̣i dung của mẩu chuyê ̣n, bởi vì, vấn đề quyền ho ̣c tâ ̣p của trẻ em không được đề
câ ̣p trực tiếp ở đây Câu chuyê ̣n chỉ muốn giới thiê ̣u cho ba ̣n đo ̣c về mô ̣t lớp ho ̣c rất đô ̣c đáo, không trường sở, không bàn ghế, không sách vở, trong đó có ho ̣c trò chăm chỉ, cố gắng, có thầy giáo giỏi viê ̣c đă ̣t vấn đề suy nghĩ về quyền ho ̣c tâ ̣p dễ khiến ho ̣c sinh xa rời mối quan hê ̣ thầy trò thắm thiết trong câu chuyê ̣n này, và vì vâ ̣y mà không còn xúc đô ̣ng nữa Do đó câu hỏi 4 dễ làm ảnh hưởng đến chất văn chương của văn bản vì thế để khắc phu ̣c tình tra ̣ng này, cần thay thế câu hỏi số 4 bằng mô ̣t câu hỏi đề câ ̣p đến vai trò của thầy giáo Vi- ta-li: Em có nhận xét gì về thầy giáo Vi- ta-li? Em có cảm nhận gì về lớp học của Rê- mi?
Em có cảm nhận gì về tình cảm thầy trò qua đoạn trích “Lớp học trên đường”? Tại sao khi thầy Vi- ta- li cho rằng chú chó Ca-pi sẽ biết đọc trước Rê- mi, cậu
bé đã trở nên quyết tâm và cố gắng hơn? Với các bài khác cũng vậy, khi soạn
Trang 39bài GV cần phải nghiên cứu câu hỏi trong SGK xem hệ thống câu hỏi đó có phù hợp với đối tượng HS của mình không để lên kế hoạch xây dựng một số câu hỏi chi tiết hơn bổ sung thêm vào hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài trong SGK giúp các
em dễ hiểu và cảm thụ tác phẩm bằng cách tốt nhất
2.2.2.2 Điều chỉnh, bổ sung hệ thống câu hỏi trong bài tập
Viê ̣c thiết kế câu hỏi – bài tâ ̣p đo ̣c hiểu, cảm thu ̣ văn bản nghê ̣ thuâ ̣t vừa là khoa ho ̣c vừa là nghê ̣ thuâ ̣t, do hê ̣ thống bài tâ ̣p này cùng lúc phải thỏa mãn cả yêu cầu đảm bảo tính tường minh lẫn sự hấp dẫn Giáo viên nên quan tâm đến trình đô ̣ nhâ ̣n thức của ho ̣c sinh, khi đặt câu hỏi phải đă ̣t mình vào vi ̣ trí của HS, nhằm tự kiểm chứng xem liê ̣u người trả lời, khi tiếp xúc với câu hỏi, có hiểu đươ ̣c ý đồ trong câu hỏi không từ đó có cách điều chỉnh bổ sung, hệ thống câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức và tâm lý tiếp nhận của học sinh
Ví dụ: Câu hỏi số 3 trong bài Tác phẩm của Si- le và tên phát xít (Tiếng Viê ̣t 5, tâ ̣p 1, trang 58): Em hiểu thái độ của ông cụ đối với người Đức và tiếng Đức như thế nào? Câu hỏi này tuy hay nhưng rất khái quát, dễ khiến ho ̣c sinh
hoang mang không hiểu người hỏi yêu cầu gì, do nô ̣i dung của bài không đề câ ̣p đến thái đô ̣ của ông cu ̣ đối với người Đức và tiếng Đức và mà chỉ dừng la ̣i trong pha ̣m vi miêu tả thái đô ̣ đánh giá cao của ông cu ̣ đối với nhà văn Đức Si – le và sự khinh miê ̣t mà ông cu ̣ dành cho tên phát xít Đức Trong trường hợp này giáo viên có thể thay thế câu hỏi này bằng mô ̣t số câu hỏi khác, phù hơ ̣p với nô ̣i dung, ý nghĩa của câu chuyê ̣n từ đó khơi gợi để HS cảm nhâ ̣n được nhân vật ông
cu ̣ rất công bằng trong đánh giá: ông coi tro ̣ng đề cao người Đức tiến bô ̣, có đóng góp to lớn cho sự phát triển của nhân loa ̣i, ông không ghét người Đức và tiếng Đức, ông căm ghét bọn phát xít đô ̣c ác, gây chiến tranh
Hê ̣ thống câu hỏi bài tâ ̣p được coi là hấp dẫn nếu như nó đa da ̣ng về hình thức diễn đa ̣t, nô ̣i dung yêu cầu hướng tới sự đáp ứng của nhiều đối tượng HS, kích thích tư duy và trí tưởng tượng bằng nhiều cách Các câu hỏi bài tâ ̣p cắt nghĩa với cu ̣m từ “vì sao” thường là những câu hỏi hấp dẫn và phù hợp với yêu cầu bồi dưỡng năng lực CTVH cho ho ̣c sinh lớp 5, vì chúng rất phù hợp với trình đô ̣ ho ̣c sinh, GV có thể yêu cầu HS dựa vào gợi ý trong văn bản vừa suy