Đối tượng nghiên cứu Nhằm thực hiện mục đích nghiên cứu đã được xác định ở phần trên , đối tươ ̣ng nghiên cứu của đề tài được xác định là: - Nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HîP §åNG §¦A NG¦êI VIÖT NAM §I lµm viÖc
ë N¦íC NGOµI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HîP §åNG §¦A NG¦êI VIÖT NAM §I lµm viÖc
ë N¦íC NGOµI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TIẾN VINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 8
1.1 Hợp đồng về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm 11
1.1.3 Các loại hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 13
1.1.4 Tầm quan trọng của hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 18
1.2 Lược sử quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài 20
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1990 20
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến 2007 21
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2007 trở đi 22
1.3 Pháp luật của nước ngoài về hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và những gợi mở cho Việt Nam 25
Kết luâ ̣n chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 32
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài 33
2.1.1 Giao kết hợp đồng 33
2.1.2 Hiệu lực của việc giao kết hợp đồng 39
2.1.3 Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng 41
2.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên và việc thực hiện hợp đồng 42
Trang 52.2.1 Quyền và nghĩa vu ̣ của các doanh nghiê ̣p , tổ chức đưa người lao đô ̣ng
đi làm viê ̣c ở nước ngoài theo hợp đồng (bên A) 43
2.2.2 Quyền và nghĩa vu ̣ của người lao đô ̣ng đi làm viê ̣c ở nước ngoài theo hợp đồng (bên B) 47
2.2.3 Các loại tiền, phí và việc bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài 52
2.3 Giải quyết các tranh chấp, vi phạm phát sinh từ hợp đồng 56
2.3.1 Giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng 56
2.3.2 Xử lý những vi phạm phát sinh từ hợp đồng 58
2.4 Thực trạng về việc giao kết và thực hiện hợp đồng đưa người Việt Nam đi lao động nước ngoài 64
2.4.1 Những thuận lợi cơ bản của Việt Nam khi tiến hành hoạt động đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc là 64
2.4.2 Những khó khăn cơ bản của Việt Nam khi tiến hành các hoạt động đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc là 67
Kết luận chương 2 83
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 85
3.1 Phương hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Việt Nam điều chỉnh về hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 85
3.2 Các kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh về hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 87
3.2.1 Các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luâ ̣t Việt Nam điều chỉnh về hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 87
3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về điều chỉnh về hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 88
Kết luận chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn được gọi là hoạt động xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một hình thức kinh tế dưới hình thức cung ứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, nhằm phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đang rơi vào tình trạng thiếu lao động hoặc giá nhân công tại chỗ quá cao
Ngược dòng thời gian, từ những năm đầu của thập niên 80, Việt Nam vừa trải qua sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề, trong bối cảnh có sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô (cũ), Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ) và Bungari, việc đưa người Việt Nam sang làm việc và lao động tại các quốc gia này được tiến hành Đây được xem là sự bắt đầu của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam Kết quả đã đem lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển đất nước ta Theo thống kê của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, từ năm 1980 đến 1989, ngân sách nhà nước đã thu được khoảng 800 tỷ đồng và hơn 300 triệu USD [13], một khoản tiền lớn tại thời điểm lúc đó Ngoài giảm bớt số người thất nghiệp trong nước, người lao động được tiếp cận với công nghệ mới và gửi về nước một khối lượng hàng hóa tiêu dùng khá lớn, giúp cải thiện cuộc sống gia đình tại Việt Nam trong thời kỳ khó khăn Thời điểm những năm đầu thập niên 90, khi Liên Xô (cũ) bị sụp đổ, nước
ta bắt đầu thời kì đổi mới Hoạt động xuất khẩu lao động đã phát triển mạnh mẽ,
mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Bước sang thế kỷ XXI,
có sự tăng đột biến lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhiều nhất tại ba thị trường Đài Loan, Malaysia và Hàn Quốc, số lao động đưa đi hàng năm và hiệu quả năm sau đều cao hơn năm trước Số liệu của Cục Quản lý Lao động ngoài nước cho thấy, riêng năm 2014, lần đầu tiên Việt Nam đưa được 106.840 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đây là một
Trang 7con số kỷ lục từ trước đến nay Đây là một con số nói lên được tiềm năng to lớn của việc xuất khẩu lao động ra nước ngoài của Việt Nam [17]
Đặt trong sự phát triển vượt bậc và mạnh mẽ đó, người lao động cũng như các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đóng vai trò chính và vô cùng quan trọng Hai thành phần này tồn tại song song, có sự liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Trong bối cảnh mối quan hệ này tốt đẹp và bền vững sẽ mang đến những lợi ích không nhỏ cho đất nước, cho người lao động và cho các doanh nghiệp như: giải quyết nhu cầu việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nước, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho những người lao động, tăng nguồn ngoại tệ cho Việt Nam và mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội khác Tuy nhiên, bên cạnh đó là những hạn chế xuất phát cả từ phía người lao động và các doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài như vấn đề chi phí môi giới quá cao, vi phạm hợp đồng, thiếu trách nhiệm đối với người lao động ở nước ngoài, nạn lừa đảo và buôn người, bỏ trốn và lưu trú bất hợp pháp Những hạn chế này đã tồn tại trong suốt một thời gian dài mà không thể tìm cách khắc phục triệt để, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của hoạt động xuất khẩu lao động Luật người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
2006 sau hơn 09 năm ban hành và thực hiện cũng như hàng loạt các thông tư, nghị định liên quan vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế và dường như chưa đủ khả năng để giải quyết, khắc phục được những vấn đề khó khăn trên
Việt Nam hiện nay đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ nhằm thực hiện đúng lộ trình hội nhập với thế giới Việc duy trì và phát triển hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn bởi thị trường hạn hẹp, biến động khó lường, ngày càng cạnh tranh gay gắt Chính vì vậy, cần phải có sự điều chỉnh pháp luật để khắc phục
và giải quyết triệt để những hạn chế trong mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một cách bền vững hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
Trang 8hợp đồng Chính từ những thực trạng đó, người viết đã chọn thực hiện đề tài: “HỢP
ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước yêu cầu gi ải quyết việc làm trong nước và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam của phía đối tác nước ngoài , đã có nhiều tổ chức, cơ quan nghiên cứu và cá nhân tìm hiểu về pháp luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Cho đến nay, đã có nhiều cuô ̣c hô ̣i thảo , nhiều công trình , bài viết về vấn đề đưa người lao đô ̣ng đi làm viê ̣c ở nước ngoài Trong đó có mô ̣t số công trình đáng lưu ý như : các bài tham luận trong Hô ̣i thảo quốc tế về viê ̣c gia nhâ ̣p tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) đối với thi ̣ trường lao đô ̣ng Viê ̣t Nam do trường ĐHKHXH và Nhân văn tổ chức ngày 30 tháng 11 năm 2007 tại Hà Nội ;
Luâ ̣n văn của Tha ̣c sĩ Nguyễn Thi ̣ Hoa Tâm năm 2004 về “Xuất khẩu lao động theo
quy đi ̣nh c ủa của pháp luật Việt Nam – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” ;
Bài “Xuất khẩu lao động Viê ̣t Nam trước yêu cầu hội nhập” của TS Nguyễn Quốc Luâ ̣t đăng trên báo Người lao đô ̣ng ngày 25 tháng 1 năm 2008; Bài “Để nâng cao chất
lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài” trên trang http://laodongnuocngoai.net ngày
14 tháng 2 năm 2008 - Nguồn từ Molisa – Bô ̣ lao đô ̣ng, Thương binh và Xã hội; Bài
“Lại xuất khẩu lao động kiểu “đem con bỏ chợ” đăng trên trang http://dantri.com.vn; Bài “Quan hê ̣ lao động trong thời đại công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đại hóa và nền kinh tế thi ̣
trường” của TS Lưu Bình Nhưỡng trong Ta ̣p chí Luâ ̣t ho ̣c số tháng 2 năm 2008; Bài
“Pháp luật lao động trong quá trình toàn cầu h óa” của Th.S Pha ̣m Tro ̣ng Nghĩa
trong ta ̣p chí Nghiên cứu Lâ ̣p pháp số 18 tháng 11 năm 2008 Bài “Lao động di trú:
Một xu hướng toàn cầu, một nỗ lực toàn cầu” của tác giả Phạm Hồng Thái – Vũ
Công Giao trong Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam năm 2011 của Nhà Xuất bản Lao động - Xã hội
Ở mức độ nhất đi ̣nh , các công trình nêu trên đã phân tích , đánh giá và đưa ra những kiến nghi ̣ liên quan đến việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc thông qua hình thức hợp đồng Nhưng hầu như các bài viết nói trên chưa đánh giá được một cách toàn diện những bất câ ̣p của
Trang 9pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do còn thiếu các thông tin đầy
đủ về tình hình người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, cuộc sống, những khó khăn
và thuận lợi trong công việc của họ tại quốc gia đến làm việc
Do đó, đề tài luận văn “Hợp đồng đưa người Việ t Nam đi làm viê ̣c ở nước
ngoài” sẽ là mô ̣t công trình nghiên cứu các vấn đề xoay quanh hợp đồng đưa người
đi làm việc ở nước ngoài từ giai đoạn xác lập, thực hiện hợp đồng cũng như giải quyết tranh chấp và các vi phạm trong hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài kể từ khi Luâ ̣t về vấn đề này có hiê ̣u lực (01/7/2007) cho đến nay Trên cơ
sở đó đánh giá những tác đô ̣ng, ảnh hưởng của pháp luật Việt Nam với thực tiễn điều chỉnh quan hệ đưa người Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghi ̣ khả thi hướng tới việc hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Việt Nam về đưa người lao đô ̣ng Viê ̣t Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài theo hợp đồng , phù hợp với xu thế vận động của thị trường lao động quốc tế
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của tác giả khi nghiên cứu đề tài “Hợp đồng đưa người Việt Nam
đi làm viê ̣c ở nước ngoài” là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
hoạt động đưa người Viê ̣t Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài theo hợp đồng theo từng giai đoạn cụ thể Trên cơ sở đó đánh giá những kết quả và hạn chế của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian qua Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Việt Nam , cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Việt Nam trong điều kiện thực tiễn hiện nay nhằm tạo điều thuận lợi cho người lao động, các doanh nghiệp, tổ chức đưa người đi lao động nước ngoài, giải quyết những tranh chấp và vi phạm hợp đồng phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng
Với mu ̣c đích đó, nhiê ̣m vu ̣ của luâ ̣n văn được xác định cụ thể như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến việc đưa người Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài theo hợp đồng và việc điều chỉnh bằng pháp luật Việt Nam đối với vấn đề này;
Trang 10- Phân tích , đánh giá thực tra ̣ng ban hành và thực hiện pháp luâ ̣t Việt Nam hiê ̣n hành điều chỉnh về hợp đồng đưa người lao đô ̣ng Việt Nam đi làm viê ̣c ởnước ngoài ;
- Nhận xét về những bất câ ̣p của pháp luâ ̣t Việt Nam điều chỉnh về hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiê ̣n pháp luật lao động Việt Nam điều chỉnh về đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục đích nghiên cứu đã được xác định ở phần trên , đối tươ ̣ng nghiên cứu của đề tài được xác định là:
- Nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng đưa người lao động Viê ̣t Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài;
- Nghiên cứu thực trạng quan hê ̣ hợp đồng giữa các bên trong hoa ̣t đô ̣ng đưa người lao đô ̣ng Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài , trong đó chủ yếu nghiên cứu những khía cạnh chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật Việt Nam như: quan hệ giữa chủ thể thực hiện dịch vụ đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng (doanh nghiệp dịch vụ hoặc tổ chức sự nghiệp) và người lao động với mục đích tìm kiếm, giới thiệu và môi giới lao động; quan hệ giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền của Việt Nam với chủ thể đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài nhằm thanh tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian và quy mô còn nhiều hạn chế , đồng thời để phù hợp với đối tượng nghiên cứu đã được xác định , tác giả chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu trong phạm vi các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Việt Nam về hợp đồng đưa người lao đô ̣ng Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài với hai hình thức : (i) thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và (ii) thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài
Trang 11Theo đó, những hình thức hợp đồng khác theo quy định trong Luật đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài tạm thời sẽ chưa được đề cập trong phạm
vi của luận văn Ví dụ như, hình thức thông qua các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hình thức thông qua hợp đồng cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với chủ sử dụng lao động nước ngoài
Đồng thời, những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhưng do pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động điều chỉnh, hoặc được sự điều chỉnh của các hiệp định quốc tế về lao động, của các Công ước quốc tế về lao động di trú sẽ không được nghiên cứu trong phạm vi của
đề tài này Một trong những nguyên nhân đó là do pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này quá đa dạng nên tác giả chưa thể đầu tư nghiên cứu toàn diện trong phạm vi luận văn thạc sỹ Một nguyên nhân khác là việc thu hẹp phạm vi nghiên cứu như trên sẽ giúp tác giả có điều kiện tập trung sâu hơn vào một số vấn đề rất phức tạp của lĩnh vực này, mặc dù đã được pháp luật lao động Việt Nam điều chỉnh nhưng vẫn còn nhiều bất cập Cụ thể là vấn đề xoay quanh hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài như hình thức thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài cụ thể là điều kiện giao kết, quyền và nghĩa vụ các bên và việc thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp và vấn đề xử lý vi phạm xoay quanh hai hình thức này theo pháp luật Việt Nam…
Với việc thu hẹp đối tượng và phạm vi nghiên cứu như đã nêu, tác giả mong muốn sẽ giải quyết được tương đối toàn diện những vấn đề được đưa vào nghiên cứu trong luận văn dưới các góc độ lý luận, thực trạng ban hành và thực hiện pháp luật, cũng như đề xuất được những kiến nghị khả thi góp phần hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam khi điều chỉnh về hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vâ ̣n du ̣ng phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa Mác – Lênin với phương pháp duy vâ ̣t biê ̣n chứng để giải quyết các vấn đề về hợp đồng đưa người lao đô ̣ng đi làm viê ̣c ở nước ngoài Đồng thời , sử du ̣ng kết hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu như : phân tích , thống kê , khảo sát thực tiễn
6 Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Hợp đồng đưa người Vi ệt Nam đi làm viê ̣c ở nước
ngoài” có ý nghĩa trên hai phương diện lý luận và thực tiễn Trong phạm vi nghiên
cứu đã được xác định , tác giả đi sâu vào viê ̣c nghiên cứu thực tra ̣ng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luâ ̣t lao động Việt Nam hiê ̣ n hành điều chỉnh hợp đồng đưa người lao đô ̣ng Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các cơ quan lâ ̣p pháp có thêm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Đồng thời, đề tài cũng phục vụ cho việc học tập , nghiên cứu của những sinh viên luật học quan tâm đến vấn đề này trong quá trình được đào tạo tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
và các trường đại học thuộc chuyên ngành luật học cũng như những chuyên ngành khác nếu liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục , lời nói đầu , kết luận, tài liệu tham khảo , luâ ̣n văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng đưa người Việt
Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM
ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Hợp đồng về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
1.1.1 Khái niệm
Hợp đồng có những tên gọi khác như thỏa thuận, khế ước, giao kèo, thỏa ước, ước định, hiệp ước mặc dù rất gần gũi, thiết yếu và quen thuộc với tất cả mọi người, nhưng khi hỏi nó là gì thì không ai có thể định nghĩa được về nó Thậm chí các luật gia cũng có những định nghĩa khác nhau Hợp đồng theo nghĩa chung nhất
là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể Hiện nay pháp luật Việt nam quy định ba loại hợp đồng cơ bản là hợp đồng dân sự, kinh tế, lao động Bộ luật Dân sự Việt Nam
2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [49, Điều 388]
Thuật ngữ “đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” được sử dụng chính
thức lần đầu tiên trong Nghị định số 270/HĐBT ngày 09/11/1991, ban hành quy chế
về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Đây cũng là văn bản pháp luật quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật trong lĩnh vực này Sau đó, Bộ luật lao động năm 1994 được ban hành đã sử
dụng thuật ngữ “đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” và được
sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta từ những năm 1990 đến nay Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là một thứ hàng hóa đặc biệt, không chỉ được tự do thuê mướn ở trong nước mà còn có thể chuyển dịch ra nước ngoài với mục đích kinh tế, nhằm thu ngoại tệ về cho Việt Nam Hiện nay, trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng 2006, cụm từ “xuất khẩu lao động” đã chính thức được thay thế bằng cụm từ
“đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”
Trang 14Như đã nói ở trên, trong phạm vi của Luận văn này xin được đề cập đến hai hợp đồng đưa người lao đô ̣ng Việt Nam đi làm viê ̣c ở nước ngoài với hai hình thức là thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và (ii) thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài Đây là hình thức phổ biến nhất trong
số các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Hợp đồng mà người lao động ký kết với doanh nghiệp dịch vụ hay tổ chức
sự nghiệp là một loại hợp đồng dịch vụ, được quy định tại Bộ luật Dân sự [49, Điều 518], theo đó bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp sẽ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ là người lao động, công việc ở đây bao gồm tất cả các hoạt động để hỗ trợ người lao động ra nước ngoài làm việc như đào tạo, đưa người lao động đi sau
đó bên thuê dịch vụ là người lao động sẽ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp Do đó, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự Trong Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng dịch vụ được quy định và hướng dẫn cụ thể từ điều 518 đến điều 526 về đối tượng của hợp đồng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, trả tiền dịch vụ, trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ, tiếp tục hợp đồng dịch vụ
Bên cạnh đó, hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài này điều chỉnh mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực lao động, có liên quan mật thiết và ảnh hưởng đến quan hệ pháp luật lao động như quan hệ lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài, vì vậy nên mối quan hệ này phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động Ngoài ra, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ còn chịu sự điều chỉnh của luật hành chính (vấn đề vi phạm hành chính), luật hình sự (vấn đề vi phạm hình sự), luật tố tụng dân sự (vấn
đề giải quyết tranh chấp)
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên cơ sở một hợp đồng ký kết với doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng này
được gọi là “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” Tuy nhiên,
Trang 15để có được hợp đồng này thì trước hết cần phải có một loại hợp đồng khác làm cơ
sở, đó là “Hợp đồng cung ứng lao động”.Trong hoạt động dịch vụ đưa người đi làm
việc ở nước ngoài, doanh nghiệp có vai trò là trung gian, cầu nối giữa người sử dụng lao động ở nước ngoài với người lao động Việt Nam Trước hết, doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký kết với người sử dụng lao
động hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng này phải có những nội dung phù hợp
với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và phải đăng ký với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật Trên cơ sở hợp đồng đó, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài sẽ tiến hành tìm kiếm người lao động, sau đó ký kết với người lao động hợp
đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Hợp đồng đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài “là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ
chức sự nghiệp với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” [50, Điều 3, Khoản 3] Hợp đồng này
cũng phải có các nội dung cụ thể, phù hợp với nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động đã ký trước đó Trong Luật người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 cũng đã quy định rất chi tiết các nội dung cần phải có trong hợp đồng cung ứng lao động để làm cơ sở cho hợp đồng đưa người lao động đi làm việc
ở nước ngoài như thời hạn của hợp đồng; số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài; ngành, nghề, công việc phải làm; địa điểm làm việc; điều kiện, môi trường làm việc; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; an toàn và bảo hộ lao động; tiền lương, tiền công, các chế độ khác và tiền thưởng (nếu có); tiền làm thêm giờ; điều kiện ăn, ở, sinh hoạt; chế độ khám bệnh, chữa bệnh; chế độ bảo hiểm xã hội; điều kiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và trách nhiệm bồi thường thiệt hại; trách nhiệm trả chi phí giao thông từ Việt Nam đến nơi làm việc và ngược lại; tiền môi giới (nếu có); trách nhiệm của các bên khi người lao động bị chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài; giải quyết tranh chấp; trách nhiệm giúp đỡ người lao động gửi tiền về nước Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đi làm việc ở nước ngoài do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định phù hợp với từng thị trường lao động [50, Điều 17]
Trang 16- Yếu tố thứ hai của hợp đồng là người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi
để xác lập hợp đồng Ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định
- Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng Sự thống nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể (bên A và bên B) Mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị cấm đưa vào các giao dịch dân sự – kinh tế
Ngoài ra, trên cơ sở những đặc điểm của mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ, pháp luật Việt Nam về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của nhiều loại quy phạm pháp luật
Trước hết, hợp đồng mà người lao động ký kết với doanh nghiệp dịch vụ là một loại hợp đồng dịch vụ, được quy định tại Bộ luật Dân sự [49, Điều 518], theo
đó bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp sẽ thực hiện công việc cho bên thuê dịch
vụ là người lao động, công việc ở đây bao gồm tất cả các hoạt động để hỗ trợ người lao động ra nước ngoài làm việc như đào tạo, đưa người lao động đi sau đó bên thuê dịch vụ là người lao động sẽ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp Do đó, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ phải chịu sự điều chỉnh của luật dân sự
Trang 17Bên cạnh đó, mối quan hệ này phát sinh trong lĩnh vực lao động, có liên quan mật thiết và ảnh hưởng đến quan hệ pháp luật lao động như quan hệ lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài, vì vậy nên mối quan hệ này phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động
Ngoài ra, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ còn chịu
sự điều chỉnh của luật hành chính (vấn đề vi phạm hành chính), luật hình sự (vấn đề
vi phạm hình sự), luật tố tụng dân sự (vấn đề giải quyết tranh chấp)
Thứ hai, chủ thể của hợp đồng - người lao động (bên B) lệ thuộc vào sự quản
lý, điều hành của doanh nghiệp dịch vụ đưa người đi làm việc ở nước ngoài (bên A)
Đặc điểm này do chính yêu cầu của việc tổ chức hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Mặc dù người lao động là bên thuê dịch
vụ nhưng họ lại yếu thế hơn về nhiều mặt so với doanh nghiệp dịch vụ, đặc biệt là
sự hiểu biết về pháp luật, tiền bạc, rất khó để người lao động có thể tự mình đi làm việc ở nước ngoài Do vậy, các doanh nghiệp dịch vụ không thể tổ chức được hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài nếu không có quyền quản lý, điều hành đối với người lao động
Thứ ba, lợi ích của Nhà nước luôn được tính đến trong mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ được quy định trong hợp đồng
Lợi ích của các doanh nghiệp dịch vụ là khoản thu từ các loại phí dịch vụ, còn lợi ích của người lao động là có công ăn việc làm, thu nhập cao Trong khi đó, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ từ nước ngoài gửi về và khoản thu từ thuế thu nhập của doanh nghiệp và người lao động Có thể thấy, có sự liên quan mật thiết giữa lợi ích của Nhà nước và hai chủ thể trên Do đó, các chế độ, chính sách pháp luật về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi ban hành phải được xem xét trên mọi khía cạnh, phải được tính toán sao cho đảm bảo sự hài hoà lợi ích của các bên
Thứ tư, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ lao động trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Trang 18Việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ lao động giữa người lao động và chủ sử dụng lao động ở nước ngoài Chẳng hạn, khi người lao động và doanh nghiệp ký kết “hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” cũng kéo theo việc ký kết “hợp đồng lao động” giữa người lao động và chủ sử dụng lao động; trong thời gian làm việc ở nước ngoài, nếu người lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ thì cũng kéo theo việc chấm dứt hợp đồng lao động
1.1.3 Các loại hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Hiện nay, theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được tiến hành theo các hình thức sau:
- Thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
- Thông qua các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
- Thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài
- Theo hợp đồng cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với chủ sử dụng lao động nước ngoài
Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được chủ yếu thoả thuận trong ba loại hợp đồng cơ bản sau đây [50, Điều 17]:
- Hợp đồng cung ứng lao động giữa doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người sử dụng lao động
- Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài giữa doanh nghiệp,
tổ chức Việt Nam đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người lao động Việt Nam
- Hợp đồng lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động
Trang 19Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
vào “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” giữa doanh nghiệp,
tổ chức Việt Nam đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người lao động
Việt Nam “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” giữa doanh
nghiệp, tổ chức Việt Nam đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người lao động Việt Nam được nghiên cứu qua hai hình thức (i) Thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và (ii) Thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài
Đây là hình thức phổ biến nhất trong số các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên
cơ sở một hợp đồng ký kết với doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Để xác định giới hạn điều chỉnh của pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và bao quát được các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mà pháp luật lao động cần điều chỉnh, phải xác định rõ các hình thức đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong mỗi hình thức phải xác định chủ thể tham gia và địa vị pháp lý các chủ thể này (bao gồm các tổ chức, doanh nghiệp nào được đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người lao động đi làm việc
ở nước ngoài), điều kiện tiến hành đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, các loại hợp đồng làm căn cứ pháp lý phát sinh quan hệ giữa các bên và trình tự, thủ tục tiến hành để đưa người lao động đi theo từng hình thức đó
* Thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
- Người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng ký kết với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (bên A)
Đây là hình thức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phổ biến nhất hiện nay Ở hình thức này có sự tham gia của các doanh nghiệp dịch vụ (bên A) làm
Trang 20trung gian giữa người lao động Việt Nam (bên B) với bên tiếp nhận lao động của nước ngoài (bên C) Để được cấp Giấy phép hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bên A phải đáp ứng các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật
Bên cạnh các điều kiện thông thường mà bên B khi thành lập doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi nước ngoài phải có theo quy định của Luật doanh nghiệp, bên A còn phải có thêm một số điều kiện khác như: phải có mức vốn pháp định là 5
tỉ đồng, ký quỹ tại Ngân hàng 1 tỉ đồng; có đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; người lãnh đạo điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có trình độ từ đại học trở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế; có bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động, trong đó phải bao gồm cán bộ về lĩnh vực pháp luật, ngoại ngữ…
Hoạt động của bên A là hoạt động kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong hoạt động dịch vụ đưa người đi làm việc ở nước ngoài, bên A
có vai trò trung gian, là cầu nối giữa doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu tiếp nhận lao động (bên C) với người lao động Việt Nam (bên B) Trước hết, bên A ký kết với
bên C hợp đồng cung ứng lao động Hợp đồng cung ứng lao động phải có những
nội dung phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và phải đăng ký với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật Trên cơ sở đó, bên A sẽ tiến hành tìm kiếm người lao động, sau đó ký kết với
người lao động hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (là văn bản
ký giữa bên A và bên B để đưa bên B ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động ký giữa bên B và bên C) Đây là hai văn bản này có ý nghĩa pháp lý quan trọng
vì nó là cơ sở đảm bảo quyền lợi và ràng buộc trách nhiệm của các bên, nhất là bảo
vệ quyền lợi của người lao động (bên B) khi xảy ra tranh chấp giữa các bên Do đó, pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết về các điều khoản bắt buộc trong hai hợp đồng này Đây cũng được đánh giá là biện pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ quyền
Trang 21lợi của người lao động Việt Nam trước, trong và sau khi họ ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng
Để có thể ký kết được hợp đồng cung ứng lao động với bên nước ngoài, bên A phải đầu tư tìm kiếm nguồn lao động, đào tạo – giáo dục định hướng nghề nghiệp, trang bị cho người lao động những kiến thức cơ bản về văn hóa, xã hội, pháp luật, phong tục, tập quán của nước tiếp nhận lao động Thực hiện tốt những công việc này trong giai đoạn chuẩn bị tại Việt Nam sẽ góp phần mang lại lợi ích cho các bên khi tham gia quan hệ đưa người lao động ra nước ngoài làm việc Về phía người lao động, khi được trang bị đầy đủ các kiến thức và kỹ năng cấn thiết, họ sẽ giảm đi sự
bỡ ngỡ, xa lạ khi phải sống và làm việc trong môi trường mới Phía tiếp nhận lao động cũng có thể nắm được thông tin về người lao động, quản lý dễ dàng hơn, tránh được những tranh chấp có thể xảy ra Phía doanh nghiệp đưa đi sẽ nâng cao được uy tín của mình, giảm thiểu được những tranh chấp với người lao động và thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động cung ứng lao động
- Người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua các tổ chức sự nghiệp
của nhà nước
Đây là trường hợp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế giữa Việt Nam với các quốc gia khác Đây là hoạt động phi lợi nhuận, mang tính chất hợp tác quốc tế, tương trợ giữa các nước trong lĩnh vực lao động và đào tạo nghề, do vậy chỉ có những tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giao nhiệm vụ đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài mới được phép thực hiện
Về cơ bản, thủ tục tiến hành đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giống với hình thức thứ nhất Nhưng điểm khác biệt là điều kiện đối với chủ thể đưa lao động ra nước ngoài (bên A) trong hoạt động này
* Thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập
nâng cao tay nghề ở nước ngoài
Thực chất đây là hình thức đưa người lao động đi học nghề ở nước ngoài
Trang 22dưới dạng tu nghiệp sinh, thực tập sinh hoặc đơn giản là học nghề để nâng cao khả năng làm việc
Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức
thực tập nâng cao tay nghề (tạm gọi là bên A) phải ký kết hợp đồng nhận lao động
thực tập với cơ sở tiếp nhận thực tập ở nước ngoài (tạm gọi là bên C) và ký hợp đồng đưa người lao động đi thực tập ở nước ngoài với người lao động (tạm gọi là bên B)
Kết thúc giai đoạn học nghề, người lao động có thể làm việc tại chính doanh nghiệp nước ngoài đã dạy nghề cho họ Việc học nghề có thể có hoặc không có tiền trợ cấp sinh hoạt, nhưng luôn gắn với nghĩa vụ lao động sau quá trình học nghề cho nơi đã bỏ chi phí đào tạo nghề cho người lao động Bên A phải đảm bảo các điều kiện đưa đi, điều kiện làm việc, sinh hoạt, phải quản lý người lao động và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho người lao động, đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với bên C để giải quyết kịp thời các rủi ro cho người lao động trong quá trình thực tập ở nước ngoài
Hình thức này hiện nay đang được khuyến khích nhằm giúp cho người lao Việt Nam nâng cao trình độ tay nghề, học hỏi kinh nghiệm quản lý của quốc tế, tạo
điều kiện để nước ta thực hiện tốt công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Như vậy, có thể hiểu hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là hoạt động bao gồm quy trình khép kín bắt đầu khi chủ
thể làm dịch vụ đưa lao động đi nước ngoài (trong luận văn này tôi gọi tắt là bên A) bắt đầu tiến hành các hoạt động tìm kiếm các ứng viên phù hợp (trong luận văn này
tôi gọi tắt là bên B) để giới thiệu cho các đối tác nước ngoài đang có nhu cầu tuyển
lao động (trong luận văn này tôi gọi tắt là bên C) Sau đó bên A sẽ tiến hành các
hoạt động đào tạo định hướng hoặc dạy nghề cho bên B để cung cấp cho bên B những kiến thức và kỹ năng cần thiết (được gọi tắt là quá trình giáo dục định hướng) Đồng thời, bên A cũng tiến hành các thủ tục cần thiết để giúp bên B xuất cảnh khỏi Việt Nam, nhập cảnh vào nước tiếp nhận lao động Cuối cùng, sau khi bên B đã chấm dứt việc thực hiện hợp đồng lao động với bên C tại nước ngoài, bên
B sẽ trở về Việt Nam
Trang 231.1.4 Tầm quan trọng của hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Trong giai đoạn 2010 - 2015, hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có sự phát triển rõ rệt Tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này là gần 450 nghìn người Riêng năm 2014, cả nước có 106.840 người
đi làm việc ở nước ngoài, vượt 22,8% so kế hoạch được giao Trong sáu tháng đầu năm 2015 đưa được hơn 56 nghìn người, bằng 102% so với cùng kỳ 2014 và đạt 59% so với kế hoạch năm 2015
Cùng với tăng trưởng về số lượng, thị trường tiếp nhận lao động cũng không ngừng được củng cố và phát triển, đặc biệt là các thị trường truyền thống như Đài Loan, Nhật Bản Các thị trường khác cũng đã được khai thác để tăng số lượng người lao động Việt Nam sang làm việc: Ả rập Xê út (năm 2014: 4 ngàn người, 6 tháng đầu năm 2015: 2 ngàn người); Algeria (2014: 547 người; 6 tháng đầu năm 2015: 381 người) Cùng với đó là sự gia tăng nhiều doanh nghiệp mới đề nghị cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động Trong năm 2014, số lượng doanh nghiệp được cấp giấy phép là 26 và con số này tính đến hết tháng 6 năm 2015 là 25 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp được cấp phép lên 228 Chỉ riêng trong, trong 9 tháng đầu năm 2015, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 90.558 lao động (28.894 lao động nữ) đạt 100,62% kế hoạch năm 2015 và bằng 108,62%
so với cùng kỳ năm ngoái
Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giúp mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân người lao động, doanh nghiệp đưa đi và nhà nước
Đối với người lao động, việc ra nước ngoài làm việc góp phần làm tăng thu
nhập của bản thân người lao động và gia đình họ Khi ra nước ngoài làm việc, người lao động thường có có thu nhập cao hơn so với làm việc trong nước thông Nhờ có nguồn thu nhập đó, người lao động gửi khoản tiền đó về cho gia đình để tiết kiệm Theo ước tính của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, năm 2007, chỉ riêng lao động Việt Nam ở nước ngoài chuyển về nước khoảng 2 tỷ USD Khoản tiền người lao động gửi về nhà được chia làm hai phần: một phần gia đình chi tiêu
Trang 24vào việc nâng cao mức sống, chăm sóc sức khỏe của gia đình, đặc biệt là chi tiêu cho việc học tập của con cái góp phần nâng cao dân trí, một phần lớn dành để tiết kiệm nhằm mục đích đầu tư trong tương lai
Đối với đa số doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài,
đây là một hoạt động kinh doanh thuần tuý, do đó, mục tiêu của họ là hướng tới các khoản lợi nhuận thu được thông qua hoạt động này
Đối với nhà nước, việc cho phép đưa người lao động ra nước ngoài làm việc
tạo điều kiện để chúng ta tận dụng nguồn nhân lực làm tăng thu nhập quốc gia Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và trẻ Việc thực hiện chính sách đưa người lao động ra nước ngoài làm việc sẽ tạo cơ hội để sử dụng số lao động thất nghiệp vào việc sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ tại nước khác, mang lại thu nhập cho người lao động; đồng thời góp phần làm tăng thu nhập quốc gia Việt Nam là một đất nước có dân số trẻ với hơn 84 triệu dân, nguồn lực lao động dồi dào cộng với chi phí nhân công rẻ, thị trường lao động Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường hấp dẫn nhất khu vực Theo thống kê, năm 2006 số người trong độ tuổi lao động của cả nước là 43,44 triệu, trong đó số lao động trong độ tuổi thanh niên chiếm khoảng 47% Mục tiêu đề ra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, từ nay đến năm 2010 đảm bảo và tạo việc làm cho 49,5 triệu lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% Cụ thể, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 1,52-1,6 triệu lao động Điều này đặt ra một thách thức to lớn cho các nhà quản lý Trong khi đó, theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), thị trường lao động thế giới hiện nay đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 và dự báo sẽ tăng gấp đôi vào 2050 Ở các nước phát triển chẳng hạn như Mỹ, giới phân tích thị trường việc làm cho rằng lao động có tay nghề, có kỹ thuật cao vẫn thiếu trầm trọng Trong xu hướng toàn cầu hoá gia tăng cùng với việc thiếu lao động trầm trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới, làn sóng người lao động ở các nước đang phát triển thiếu việc làm đã di chuyển đến các nước phát triển với hy vọng tìm việc làm và kiếm được nhiều tiền hơn Chính vì vậy, xuất phát trên hai mặt cung - cầu, xuất khẩu lao động được xem như một bước đi đúng đắn góp phần giải quyết gánh nặng việc làm trong nước đồng
Trang 25thời đem lại nguồn thu cho cá nhân người lao động và cho xã hội Theo xu hướng này, trong những năm qua, Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động và đã thu được những thành tựu khả quan Hàng năm lượng tiền người lao động gửi về nước khoảng 2 tỷ đô la Mỹ [60, tr 2] Năm 2010, Việt Nam đứng thứ
16 trong 30 quốc gia có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất [7]
Bên cạnh đó, việc đưa người lao động ra nước ngoài làm việc còn góp phần thúc đẩy chi tiêu của Chính phủ cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Người lao động ra nước ngoài làm việc muốn được doanh nghiệp nước sở tại tiếp nhận thì
họ phải có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ ngoại ngữ nhất định theo yêu cầu của chủ
sử dụng lao động Do vậy, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác để đảm bảo cho việc đào tạo người lao động Điều này sẽ làm tăng chi tiêu của Chính phủ Khi chi tiêu cho đầu tư của Chính phủ tăng sẽ góp phần làm tăng GDP cả trong ngắn hạn và dài hạn Việc đưa lao động ra nước ngoài làm việc cũng tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu ngành nghề cho phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn kinh tế - xã hội
Việc đưa người lao động ra nước ngoài làm việc còn góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Khi đi làm việc ở nước ngoài, người lao động được trang bị một khối lượng kiến thức học vấn và ngoại ngữ cơ bản Khi được làm việc trong môi trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, trình độ tay nghề và kỹ năng nghề nghiệp của họ ngày càng được nâng cao Sau một thời gian làm việc ở nước ngoài, trình độ tay nghề, ý thức kỷ luật, phong cách làm việc, trình
độ ngoại ngữ và vốn hiểu biết của người lao động được nâng cao vượt bậc
1.2 Lược sử quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1990
Trong giai đoạn này hoạt động hợp tác lao động được thực hiện theo cơ chế tập trung - bao cấp Nhà nước ký kết các hiệp định Chính phủ cung cấp lao động và chuyên gia cho một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, một số nước Trung Đông và Châu Phi
Cơ sở pháp lý cho việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài trong thời
Trang 26kỳ này là Quyết định 46/CT ngày 11/2/1980 của Hội đồng Chính phủ quy định về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 362/CP ngày 29/11/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc hợp tác sử dụng lao động với các nước xã hội chủ nghĩa, Quyết định 262/CT ngày 24/7/1984 của Hội đồng Bộ trưởng [41] Đầu thời kỳ đổi mới, Hội đồng
Bộ trưởng ban hành chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/6/1988 về mở rộng hợp tác lao động
và chuyên gia với nước ngoài Chỉ thị này cho phép thành lập các tổ chức kinh tế xuất khẩu lao động và chuyên gia, đánh dấu bước chuyển biến của hoạt động đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài
Việc tổ chức đưa đi, quản lý chuyên gia và lao động được thực hiện ở trung ương, tập trung ở 3 bộ: Bộ Lao động, Bộ Y tế, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Đối tượng đi lao động rất đa dạng nhưng chủ trương của Nhà nước ta là ưu tiên những người trong biên chế nhà nước, người đã qua nghĩa vụ quân sự
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến 2007
Bước sang năm 1991, chủ trương và chính sách đưa lao động và chuyên gia
đi làm việc ở nước ngoài đã được đổi mới một cách căn bản so với thời kỳ hợp tác lao động Ngày 9/11/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 370/HĐBT, trong đó có quy định đổi mới phương thức và mục tiêu xuất khẩu lao động, coi xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và xác định mục tiêu kinh tế hàng đầu Tiếp đó, Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động, trong đó có quy định về người lao động đi làm việc ở nước ngoài Ngày 20/1/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/CP thay thế Nghị định 370 Năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/1999/NĐ-CP (thay thế Nghị định 07) quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Nghị định này một lần nữa cụ thể hoá chủ trương, chính sách đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời kỳ mới với việc quy định thủ tục cấp phép hoạt động chuyên doanh và đăng ký hợp đồng đưa lao động đi làm việc…
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động đưa người lao động đi làm
Trang 27việc ở nước ngoài có nhiều thay đổi, đòi hỏi các quy định của pháp luật cũng phải
có sự điều chỉnh để kịp thời đáp ứng nhu cầu Ngày 2/4/2002 Quốc hội khoá X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động với việc sửa đổi,
bổ sung điều 134 và 135 thành 6 điều từ 134 đến 135c về người lao động đi làm việc ở nước ngoài Trên cơ sở này, ngày 17/7/2003 Chính phủ ban hành Nghị định
số 81/2003/ NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Đây là văn bản dưới luật quy định khá cụ thể các vấn đề trong hoạt động này, từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các hình thức đi làm việc ở nước ngoài, tới các quy định về quản lý nhà nước, giải quyết tranh chấp Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài Các thông
tư hướng dẫn thi hành cũng đã được ban hành như Thông tư số BLĐTBXH ngày 13/10/2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ, Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT - BCA - BLĐTBXH ngày 18/1/2005 về hướng dẫn công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, Thông tư liên tịch số 09/2006/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/8/2006 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội,
22/2003/TT-Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân tối cao về hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2007 trở đi
Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2007
Trên cơ sở Luâ ̣t Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện đã được ban hành như: Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người Lao động Việt Nam đi làm
Trang 28việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa lao động
đi làm việc ở nước ngoài; Quyết định số 144/2007/QĐ-TTg ngày 31/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 4/9/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Tài chính Quy định cụ thể về tiền môi giới và dịch vụ trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 4/9/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch số BLĐTBXH-BTP ngày 11/7/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ
08/2007/TTLT-Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và thanh
lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 8/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 18/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 18/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Quyết định số 19/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 18/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về
tổ chức bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy chuyên trách bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc
ở nước ngoài; Quyết định số 20/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Thông tư số 11/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 21/8/2008 của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài
Trang 29nước; Quyết định số 61/2008/QĐ-BLĐTBXH về mức tiền môi giới người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp tại một số thị trường, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Thông tư số 22/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2013 quy định mẫu và nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động và Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Đặc biệt, để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình hỗ trợ các huyện nghèo giảm nghèo nhanh và bền vững, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 71/2009/QĐ-Ttg về hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 – 2020 Trên cơ sở đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành và phối hợp với các cơ quan chức năng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện
Bên cạnh đó, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) vào ngày 26/1/1980, đã tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương về lao động với nhiều quốc gia trên thế giới, tạo nền tảng pháp lý cho sự hợp tác lao động giữa Việt Nam với các quốc gia khác Là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam đã tích cực thúc đẩy việc phê chuẩn một số công ước của ILO Tính đến năm 2014, tổng số các Công ước quốc tế của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn là 21 công ước Các nguyên tắc cơ bản của ILO
về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và các quy định tại các công ước mà Việt Nam phê chuẩn đều đã được thể hiện trong pháp luật quốc gia và được cộng đồng các doanh nghiệp ở Việt Nam nghiêm túc thực thi Cụ thể là Việt Nam gia nhập hai công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là Công ước số 97 (1949) và Công ước số 143 (1975) về lao động di cư [56, 57] Quyền của người lao động di cư một lần nữa được đề cập một cách sâu sắc và trực tiếp hơn thông qua hai công ước này Hai công ước khẳng định người lao động di cư được đối xử bình đẳng với
Trang 30người lao động bản địa, được hưởng các điều kiện lao động; các chế độ về an sinh
xã hội, về giáo dục Như vậy, các văn bản pháp luật này đã tạo ra khung pháp lý tương đối đầy đủ, chặt chẽ để điều chỉnh hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
1.3 Pháp luật của nước ngoài về hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và những gợi mở cho Việt Nam
Lao động di trú không phải là vấn đề mới được đề cập trên diễn đàn quốc tế Trên thực tế, ngay từ cuối những năm 1930, ILO đã ban hành một số điều ước về người lao động di trú Điều ước có thể coi là đầu tiên về lĩnh vực này của ILO là Công ước di trú vì việc làm, được thông qua tại Kỳ họp thứ 25 ngày 8/6/1939 của ILO Công ước này sau đó được sửa đổi bằng Công ước về lao động di trú (Công ước số 97 năm 1949) Công ước số 97 yêu cầu các quốc gia thành viên phải đối xử với những người lao động di trú một cách bình đẳng như những người lao động là công dân của nước mình Tiếp theo đó, vào năm 1975, ILO thông qua Công ước số
143 về người di trú trong môi trường bị lạm dụng và việc thúc đẩy sự bình đẳng về
cơ hội trong đối xử với người lao động di trú So với Công ước số 97, Công ước số
143 tiến thêm một bước nữa bằng việc yêu cầu các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo vệ tất cả các quyền con người của người lao động di trú Ngoài hai điều ước kể trên, ILO cũng đã thông qua nhiều văn kiện khác có liên quan đến vấn
đề này, bao gồm Khuyến nghị về người lao động di trú (Khuyến nghị số 151, năm 1975); Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc (Công ước số 29, năm 1930); Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng bức (Công ước số 105, năm 1957) Bên cạnh ILO, nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đã thông qua những văn kiện pháp
lý điều chỉnh vấn đề di cư lao động Từ cuối những năm 1970, Liên Hợp Quốc bắt đầu quan tâm đến vấn đề này Ngày 28/7/1972, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) đã thông qua Nghị quyết số 1706 (LIII) bày tỏ sự lo ngại và lên án việc tuyển dụng trái pháp luật, đưa lậu người lao động vào một số nước châu
Âu và phân biệt đối xử với người lao động di trú, đồng thời yêu cầu các quốc gia có liên quan phải thông qua và thực thi các biện pháp toàn diện để trừng phạt những kẻ
vi phạm và ngăn chặn tình trạng này Cũng trong Nghị quyết đó, ECOSOC yêu cầu
Trang 31Ủy ban Quyền con người Liên Hợp Quốc (the UN Commission on Human Rights) nghiên cứu và đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy các hoạt động của Liên Hợp Quốc trên lĩnh vực này Cũng trong năm 1972, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết số 2920 (XXVII) ngày 15/11/1972 kêu gọi các Chính phủ, đặc biệt là Chính phủ các nước châu Âu, thực hiện các biện pháp nhằm chấm dứt sự phân biệt đối xử và cải thiện điều kiện sống của người lao động di trú trên lãnh thổ nước mình Thêm vào đó, Nghị quyết kêu gọi các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc chưa là thành viên Công ước số 97 năm 1949 của ILO phê chuẩn điều ước này nhằm tạo tiền đề để xóa bỏ tình trạng buôn lậu người lao động di trú trên thế giới Cơ quan này hiện nay đã được đổi tên là Hội đồng Quyền con người Liên Hợp Quốc (the UN Council on Human Rights) Khuôn khổ pháp lý quốc tế Trên cơ sở những yêu cầu của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và ECOSOC, vào năm 1973, Ủy ban Quyền con người Liên Hợp Quốc đã đưa vấn đề bảo vệ người lao động di trú ra xem xét trong kỳ họp lần thứ 29 và đã thông qua Nghị quyết số 1789 (LIV) ngày 18/5/1973, trong đó hối thúc các quốc gia thành viên phê chuẩn các công ước có liên quan của ILO và ký kết các hiệp ước song phương để điều chỉnh vấn đề lao động di trú và bảo vệ người lao động di trú Nghị quyết này cũng yêu cầu Tiểu ban
về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số và Ủy ban về vị thế của phụ nữ nghiên cứu sâu về vấn đề lao động di trú nhằm đưa ra những khuyến nghị về các biện pháp cần thực hiện để bảo vệ các quyền con người của người lao động di trú, bất kể nguồn gốc của họ như thế nào Chấp hành yêu cầu của Ủy ban Quyền con người Liên Hợp Quốc, Tiểu ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số
đã nghiên cứu và xác định hai khía cạnh quan trọng cần làm rõ để ngăn chặn và giải quyết để bảo vệ người lao động di trú, đó là: (i) Tình trạng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài một cách lén lút, bất hợp pháp; (ii) Tình trạng phân biệt đối
xử với người lao động di trú ở các nước tiếp nhận lao động Để làm rõ hai khía cạnh này, Tiểu ban đã thông qua Nghị quyết số 6 (XXVI) ngày 19/9/1973 bổ nhiệm bà Halima Warzazi là Báo cáo viên đặc biệt về người lao động di trú và giao cho bà thực hiện nghiên cứu Báo cáo kết quả nghiên cứu sau đó đã được bà Halima Warzazi trình lên Tiểu ban vào năm 1974 và được trình bày tại Hội thảo của Liên
Trang 32Hợp Quốc về quyền của người lao động di trú, tổ chức ở Tunis (Tuy-ni-di) ngày 24/11/1975 và được trình lên Ủy ban Quyền con người Liên Hợp Quốc vào năm
12-1976 Dựa theo báo cáo kể trên, ngày 16/12/1976, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 31/127 về “Các biện pháp cải thiện tình hình và bảo đảm nhân phẩm và các quyền con người của người lao động di trú” Nghị quyết bày tỏ
sự quan tâm sâu sắc tới thực trạng phân biệt đối xử thường xuyên mà người lao động di trú phải đối mặt ở một số nước, đồng thời kêu gọi tất cả các quốc gia thực thi các biện pháp có hiệu quả để ngăn chặn và chấm dứt những sự phân biệt đối xử chống lại người lao động di trú Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu tất cả các quốc gia công nhận và áp dụng quy chế đối xử quốc gia (đối xử bình đẳng của người lao động di trú như với người lao động bản địa trong các vấn đề về lao động, bảo trợ xã hội và quyền con người theo quy định pháp luật của nước mình), đồng thời thực thi mọi biện pháp nhằm thực hiện các văn kiện quốc tế có liên quan và ký kết các hiệp định song phương nhằm xóa bỏ tình trạng đưa lậu người lao động vào nước khác Năm 1978, trong kỳ họp lần thứ 33, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 33/163 ngày 20/12/1978, trong đó kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước về người lao động di trú (các điều khoản bổ sung) của ILO (Công ước số 143 năm 1975) Thêm vào đó, Nghị quyết này cũng yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc tham khảo ý kiến của các quốc gia thành viên và của ILO về khả năng soạn thảo một điều ước quốc tế về quyền của người lao động di trú Một năm sau đó, trong Nghị quyết số 34/172 ngày 17/12/1979, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thành lập một Nhóm Công tác để soạn thảo Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ Đến năm 1990,
dự thảo Công ước này được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết số 45/158 ngày 18/12/199012 Vào năm 2000, theo đề nghị của ECOSOC, Đại hội đồng 11 Tài liệu của Liên Hợp Quốc, E/CN.4/Sub.2/L.640 United Nations Action in the Field of Human Rights, United Nations, New York Khuôn khổ pháp
lý quốc tế Liên Hợp Quốc lấy ngày 18/12 hàng năm là Ngày Quốc tế về người lao động di trú13 nhằm nhắc nhở cộng đồng quốc tế về sự cần thiết phải tôn trọng, thực hiện, bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú trên thế giới Từ thập kỷ
Trang 331930 đến nay, đã có hàng trăm văn kiện pháp lý do nhiều tổ chức quốc tế thông qua
đề cập đến vấn đề lao động di trú, tuy nhiên, dưới đây là danh mục những văn kiện quan trọng nhất do Liên Hợp Quốc và tổ chức thành viên của nó là ILO thông qua
Philipine là một trong những quốc gia có thế mạnh và phát triển về xuất khẩu lao động, công tác XKLĐ được quan tâm và đầu tư toàn diện về chính sách cũng như củng cố bộ máy quản lý từ khâu chuẩn bị cho người lao động đi XKLĐ, việc tuyển dụng và bố trí người lao động ở nước ngoài, bảo vệ các quyền và lợi ích của người lao động làm việc ở nước ngoài Philipines được cả thế giới biết đến với một chương trình quản lý người lao động ở nước ngoài rất tiến bộ có tên là “Di cư có quản lý” Chương trình này được xây dựng trên cơ sở tích hợp cơ chế bảo vệ người lao động trong cả chu trình: trước, trong và sau phái cử cho đến khi người lao động
về nước, tái hòa nhập cộng đồng Để cơ chế này hoạt động có hiệu quả, công tác bảo vệ người lao động rất được Philipines chú trọng
Chính phủ Philipines rất chú trọng công tác quản lý người lao động khi họ làm việc ở nước ngoài, tập trung nhiều biện pháp nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động và có nhiều cơ quan thực hiện các công tác liên quan đến việc tuyển dụng và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Hiện nay riêng trong Cục Lao động – Việc làm đã có 2 cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về XKLĐ: (i) Cơ quan quản lý lao động nước ngoài (POEA) và (ii) Văn phòng lao động nước ngoài Philipines (POLO) trực thuộc Cục Lao động việc làm (DOLE), có
34 văn phòng tại các quốc gia có lao động Phillipines Mỗi POLO có một tùy viên lao động và một trợ lý tùy viên cùng một nhân viên phúc lợi xã hội Ngoài ra, POLO được thuê thêm người bản địa làm các công việc khác như phiên dịch, conciliator… POLO thực hiện chế độ báo cáo thông qua Ban Lao động quốc tế POLO cũng là đơn vị duy trì và quản lý trung tâm nguồn lao động Phillipines (FRC) Trung tâm nguồn nhân lực Phillipines được Cục Lao động Việc làm thành lập ở những quốc gia có nhiều lao động Phillipines Hiện DOLE đã thành lập 20 FRC tại các điểm khác nhau tại Châu Á, Trung Đông, Châu Âu và Châu Mỹ Những FRC này hoạt động 24/24 nhằm cung cấp thông tin và hỗ trợ cho người lao động Philllipines ở nước ngoài
Trang 34Năm 1985, chính phủ Thái Lan thông qua Luật Tuyển dụng và tìm kiếm việc làm Một trong những mục tiêu của Luật là hỗ trợ tìm kiếm việc làm, ngăn chặn di
cư và nhập cư bất hợp pháp Các hoạt động tuyển dụng lao động đi xuất khẩu đều chịu sự điều tiết của Bộ luật này
Cục Quản lý lao động Ngoài nước là đơn vị chịu trách nhiệm trong việc quản
lý việc tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, quản lý thông tin về lao động, bảo vệ quyền và nghĩa vụ cho người lao động, tuyển dụng lao động đưa đi xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường lao động ngoài nước Ngoài ra, Thái Lan còn thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động bao gồm phần đóng góp từ phía chính phủ, công ty tuyển dụng lao động và người lao động đi làm việc ở nước ngoài và các tổ chức khác Quỹ này phục vụ cho việc bố trí sắp xếp cho người lao động hết hợp đồng lao động hoặc bị chấm dứt hợp đồng hồi hương và nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu, phát triển và mở rộng thị trường lao động Các công ty tham gia vào quá trình tuyển dụng và đưa người lao động Thái Lan sang làm việc tại nước ngoài đều phải có giấy cấp phép tuyển dụng và bắt buộc phải có vốn điều lệ trên 1.000.000 bath và số tiền ký quỹ là 50.000 bath Bên cạnh việc hình thành hệ thống quản lý lao động đi xuất khẩu ở trong nước, Thái Lan còn thành lập các Văn phòng đại diện cho người lao động đi xuất khẩu của mình tại 13 quốc gia, các văn phòng này có nhiệm vụ thúc đẩy tạo việc làm cho người lao động nước ngoài, cung cấp thông tin và bảo vệ người lao động Thái Lan ở nước ngoài
Campuchia cho phép tuyển dụng lao động trên 18 tuổi Người lao động đi xuất khẩu lao động phải được ký kết hợp đồng lao động cho công việc tại nước ngoài Trong hợp đồng ghi rõ tên, địa chỉ, ngày bắt đầu làm việc và ngày chấm dứt hợp đồng, vị trí và tính chất của công việc, kỹ năng cần thiết, tiền lương, bảo hiểm, thực phẩm, chăm sóc y tế, chỗ ở, thời giờ làm việc, chi phí vận chuyển, các quy định chế đọ dành cho người lao động hồi hương Mỗi người lao động khi được tuyển dụng làm việc tại nước ngoài, họ phải ký một hợp đồng vay vốn với ngân hàng được chỉ định và buộc cá nhân phải có nghĩa vụ trả nợ Ràng buộc này là một phương pháp hiệu quả trong việc quản lý người lao đông
Trước khi được xuất cảnh, người lao động phải vượt qua các khóa kiểm tra
Trang 35cơ bản về nghề, và văn hóa và pháp luật của nước đó Người lao động phải có chứng chỉ đào tạo do cơ sở đào tạo đủ thẩm quyền cấp Thời hạn của chứng chỉ là 2 năm, trong trường hợp người lao động muốn nâng cao hoặc gia hạn chứng chỉ thì phải thi lấy chứng chỉ mới trong vòng trước 30 ngày chứng chỉ cũ hết thời hạn Các công ty tuyển dụng có trách nhiệm đào tạo cho người lao động trước khi người lao động đi nước ngoài
Với những bối cảnh của các quốc gia cùng chung những điểm giống với Việt Nam trong việc đưa người lao động ra nước ngoài làm việc Chúng ta có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam:
Về tuyển chọn lao động
Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền cả về hình thức và chất lương và hướng về cơ sở cho tới tận đối tượng Công tác tuyển chọn phải được tiến hành chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu của đối tác, luôn có sẵn cơ sở dữ liệu về nguồn tuyển chọn
để chủ động và có thông tin chính xác về người lao động Nguồn lao động XK được
mã số hóa (kinh nghiệm Philippines, Thái Lan) sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn cho công tác tuyển chọn và quản lý lao động
Về quản lý người lao động
Các quốc gia kể trên đều thiết lập cơ chế tổ chức đưa lao động đi xuất khẩu bao gồm việc gắn chặt về lợi ích, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, công
ty cung ứng xuất khẩu lao động và người lao động Sự hoạt động của các công ty cung ứng xuất khẩu lao động đều phải có giấy phép hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp Đa số người lao động và công ty cung ứng xuất khẩu lao động phải ký quỹ một khoản tiền theo quy định của mỗi nước cho việc đưa lao động sang xuất khẩu nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động và của nhà nước
Có thể thấy hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
là một quy trình khép kín bao gồm nhiều giai đoạn, với nhiều chủ thể khác nhau tham gia và chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Các chủ thể tham gia quá trình này bao gồm: i) Doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (bên A); ii) Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (bên B), iii) Bên nước ngoài có nhu cầu tiếp nhận lao động (bên C)
Trang 36Kết luâ ̣n chương 1
Hiện nay, việc người lao động di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác
để tìm kiếm việc làm đã trở thành một hiện tượng phổ biến Có những khái niệm khác nhau về hiện tượng này như lao động di cư hay lao động di trú”, “hợp tác quốc
tế về lao động” và “xuất khẩu lao động” Hiện nay, thuật ngữ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” được công nhận và sử dụng rộng rãi Một khái niệm vô cùng quan trọng trong việc đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài
đó là “Hợp đồng đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài” Tác giả đi sâu
vào nghiên cứu khái niệm của “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” và các loại hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Trong
phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào “Hợp đồng đưa
người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” giữa doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người lao động Việt Nam qua hai hình thức (i) thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và (ii) thông qua hình thức đưa
tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài Ngoài có những đặc điểm như các loại hợp đồng khác, hợp đồng đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài có đặc điểm riêng Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tôi chia thành 3 giai đoạn trong lược sử quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam
về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Ba giai đoạn bao gồm: giai đoạn trước những năm 1990, giai đoạn từ năm 1991 đến 2007 và giai đoạn từ năm 2007 trở đi Qua mỗi giai đoạn, hệ thống khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tương đối đầy đủ và chặt chẽ Ngoài ra, trong luận văn, tác giả c òn giới thiệu những khuôn khổ quốc tế
v ề quy định trong hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài và một số các quốc gia láng giềng khác từ đó đưa ra những gợi mở cho pháp luật Việt Nam
Trang 37sử dụng lao động do được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động nên được đề cập không rõ nét lắm trong quy định của pháp luật Việt Nam (là nước đưa lao động đi làm việc); các loại tiền, phí và việc bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài; iii) Vấn đề xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật Việt Nam trong việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và giải quyết tranh chấp trong việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Về thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng đưa người Việt Nam đi lao động nước ngoài,
cụ thể sẽ đi vào phân tích những ưu điểm và nhược điểm của bối cảnh xã hội trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài
Trang 382.1 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng đưa người Việt Nam
đi lao động ở nước ngoài
Xét một cách toàn diện, các vấn đề đã được pháp luật lao động Việt Nam điều chỉnh trên đây chưa phải là tất cả các vấn đề có liên quan hoặc trực tiếp phát sinh từ hoạt động đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc Nhưng do còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước tiếp nhận lao động Việt Nam và các công ước, điều ước quốc tế về lao động nước ngoài (thuật ngữ chung trong các văn bản pháp luật quốc tế gọi là “lao động di trú”) nên sẽ được đề cập cụ thể ở những chuyên đề nghiên cứu khác Để có căn cứ đánh giá một cách tương đối khách quan
về thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về đưa người lao động ra nước ngoài làm việc trước hết cần phân tích và tìm hiểu về nội dung cơ bản của từng nhóm quy định cụ thể như đã xác định ở phần trên
2.1.1 Giao kết hợp đồng
Cũng giống như các loại hợp đồng dân sự khác, việc giao kết hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Nhằm tạo điều kiện cho các bên thoả mãn được các nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần, Bộ luật Dân sự cho phép cả bên A và bên B được quyền
"tự do giao kết hợp đồng" Theo nguyên tắc này, cả bên A và bên B đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết hợp đồng này, nếu họ muốn mà không ai có quyền ngăn cản Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các bên phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy, tự
Trang 39do của các bên phải không trái pháp luật, đạo đức xã hội Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền "tự do giao kết hợp đồng" vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng dân sự nói riêng, cũng như đối với mọi hành vi nói chung của họ
- Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng
Doanh nghiệp, tổ chức thực hiện việc đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài và người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài phải bình đẳng với nhau Không một ai được lấy lí do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế v.v để làm biến dạng các quan hệ dân sự trong loại hợp đồng này Mặt khác, chỉ khi nào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồng thì ý chí tự nguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm
Vì vậy, theo nguyên tắc trên, những hợp đồng được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, đánh giá một hợp đồng có phải là ý chí tự nguyện của các bên hay không là một công việc tương đối phức tạp và khó khăn trong thực tế Chỉ khi nào hợp đồng là hình thức phản ánh một cách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giao kết thì việc giao kết đó mới được coi là tự nguyện Như vậy, tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối hoặc đe dọa đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giao kết Và vì thế, nó sẽ
bị coi là vô hiệu
b) Hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những nội dung của nó dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định.Theo đó, những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định Điều 401, Bộ luật Dân sự đã quy định:
1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định
Trang 402 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc
phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó [49, Điều 401]
Cụ thể đối với hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, theo Thông tư số 22/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 10 năm 2013 quy định mẫu và nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động và Hợp đồng đưa người lao động đi làm
việc ở nước ngoài quy định rất rõ là “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài phải được ký kết bằng văn bản” [14, Điều 3]
Hình thức văn bản là hình thức thể hiện hợp đồng mang tính pháp lý và chính xác cao Các bên tham gia hợp đồng cùng nhau ký kết xác lập một hợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận Nhất thiết trong văn bản cần có đủ chữ kí của tất cả các bên, mỗi bên tham gia hợp đồng sẽ được giữ một bản Có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam đã quy định rõ hợp đồng đưa người
đi làm việc ở nước ngoài phải được ký kết bằng văn bản bởi loại hợp đồng này là hợp đồng có giá trị lớn, quyền và nghĩa vụ được qui định trong hợp đồng có thể diễn ra trong một khoảng thời gian dài sau khi các bên tham gia giao kết hợp đồng
và để đảm bảo chắc chắn các bên sẽ thực hiện theo những gì đã được thỏa thuận trong hợp đồng Căn cứ vào văn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình và thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia vì vậy bản hợp đồng đó coi như là một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình
2.1.1.2 Điều kiện của các chủ thể hợp đồng
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu điều chỉnh mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Trước khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, cần phải làm rõ khái niệm và điều kiện giao kết của hai chủ thể này:
- Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài (bên A): Không có định nghĩa một cách cụ thể về doanh nghiệp dịch vụ