MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i DANH MỤC BẢNG 2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3 TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6 KHUNG LÝ THUYẾT 7 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8 1. Tình hình lao động di cư 8 2. Tình hình sức khỏe của nhóm lao động di cư thuộc lĩnh vực xây dựng 10 3. Chính sách Bảo hiểm y tế 11 4. Rào cản trong sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT của người di cư 13 4.1. Nhận thức về BHYT 13 4.2. Sự cung ứng và chất lượng của DVYT 15 4.3. Tình trạng sống lưu động thời gian làm việc dài 17 4.4. Điều kiện kinh tế 18 5. Tóm tắt tổng quan 19 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 1. Đối tượng nghiên cứu 21 2. Địa điểm nghiên cứu 21 3. Thời gian nghiên cứu 21 4. Thiết kế nghiên cứu 21 5. Cỡ mẫu 22 6. Cách chọn mẫu 22 7. Phương pháp thu thập thông tin 23 8. Phương pháp phân tích thông tin 24 9. Các khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 25 10. Các biến số nghiên cứu 27 11. Hạn chế nghiên cứu 33 12. Sai số và cách khắc phục 33 13. Đạo đức nghiên cứu 34 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 36 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ KIẾN 37 KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC 1: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 55 PHỤ LỤC 2: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ của LĐDC với BHYT 56 PHỤ LỤC 3: Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu 63 PHỤ LỤC 4: Bộ câu hỏi thảo luận nhóm 65 PHỤ LỤC 5: Bảng chấm điểm đánh giá nhận thức về BHYT của LĐDC 68 PHỤ LỤC 6: Khung xuất thông tin định tính 69 PHỤ LỤC 7: Dự trù kinh phí 70
Trang 1toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi vàtận tình giảng dạy tôi trong suốt 4 năm học tại trường để tôi hoàn thành bài luận này.Xin chân thành cảm ơn PGS TS Vũ Thị Hoàng Lan đã trực tiếp hướng dẫn
và tận tình định hướng, giúp đỡ cũng như cho tôi những lời khuyên quý báu để tôithực hiện bài luận của mình
Tôi cũng gửi lời cảm ơn trân trọng tới ThS Nguyễn Thị Kim Ngân đã luôn ởbên chỉ dẫn và góp ý một cách chi tiết, tỉ mỉ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthiện bản luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốtthời gian học tập tại trường để tôi có cơ hội trải nghiệm và tích lũy kiến thức để cóđược kết quả như ngày hôm nay
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình cũng như bạn bè và người thân, những người
đã luôn ở bên để động viên, ủng hộ tôi về mọi mặt trong thời gian học tập vừa qua.Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2DANH MỤC BẢNG 2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3
TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG 4
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
KHUNG LÝ THUYẾT 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
1 Tình hình lao động di cư 8
2 Tình hình sức khỏe của nhóm lao động di cư thuộc lĩnh vực xây dựng 10
3 Chính sách Bảo hiểm y tế 11
4 Rào cản trong sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT của người di cư 13
4.1 Nhận thức về BHYT 13
4.2 Sự cung ứng và chất lượng của DVYT 15
4.3 Tình trạng sống lưu động & thời gian làm việc dài 17
4.4 Điều kiện kinh tế 18
5 Tóm tắt tổng quan 19
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
1 Đối tượng nghiên cứu 21
2 Địa điểm nghiên cứu 21
3 Thời gian nghiên cứu 21
4 Thiết kế nghiên cứu 21
5 Cỡ mẫu 22
6 Cách chọn mẫu 22
Trang 39 Các khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 25
10 Các biến số nghiên cứu 27
11 Hạn chế nghiên cứu 33
12 Sai số và cách khắc phục 33
13 Đạo đức nghiên cứu 34
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 36
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ KIẾN 37
KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 1: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 55
PHỤ LỤC 2: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ của LĐDC với BHYT 56
PHỤ LỤC 3: Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu 63
PHỤ LỤC 4: Bộ câu hỏi thảo luận nhóm 65
PHỤ LỤC 5: Bảng chấm điểm đánh giá nhận thức về BHYT của LĐDC 68
PHỤ LỤC 6: Khung xuất thông tin định tính 69
PHỤ LỤC 7: Dự trù kinh phí 70
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Census Tổng điều tra dân số và nhà ở
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Giới của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 2: Tuổi của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3: Thu nhập bình quân hàng tháng của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 4: Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 5: Loại hình di cư của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 6: Hình thức tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 7: Tỷ lệ LĐDC có kiến thức đạt về BHYT 37
Bảng 8: Được nghe nói về BHYT 37
Bảng 9: Được nghe nói về Luật BHYT 2016 38
Bảng 10: Chủ đề thông tin liên quan đến BHYT dự định tìm hiểu 38
Bảng 11: Điều kiện tham gia BHYT do người sử dụng lao động chi trả 38
Bảng 12: Thời gian đóng BHYT 39
Bảng 13: Mức đóng thẻ BHYT 39
Bảng 14: Cách tính thời gian tham gia BHYT 39
Bảng 15: Thời điểm BHYT có hiệu lực 39
Bảng 16: Thời gian cấp thẻ BHYT 40
Bảng 17: Biết về mức hưởng khi KCB đúng tuyến ban đầu 40
Bảng 18: Mức hưởng khi KCB trái tuyến 40
Bảng 19: Mức hưởng trong trường hợp bị tai nạn lao động 41
Bảng 20: Mức hưởng trong trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao 41
Bảng 21: Quyền lựa chọn cơ sở KCB ban đầu 41
Bảng 22: Lựa chọn cơ sở KCB ban đầu ở nơi di cư 42
Trang 6Bảng 23: Các DVYT không được thanh toán BHYT 42
Bảng 24: Thanh toán chi phí khi KCB ở CSYT tư nhân 42
Bảng 25: Mức độ quan trọng của BHYT 43
Bảng 26: Mức độ cần thiết của BHYT 43
Bảng 27: Mức độ quan tâm đối với BHYT 43
Bảng 28: Tỷ lệ LĐDC có thái độ đúng về BHYT 43
Bảng 29: Bảng điểm đánh giá kiến thức 65
Bảng 30: Bảng điểm đánh giá thái độ 65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Trình độ học vấn của đối tượng phỏng vấn 36
Biểu đồ 2: Tỷ lệ LĐDC có hợp đồng lao động 37
Biểu đồ 3: Tỷ lệ LĐDC có BHYT 37
Biểu đồ 4: Các kênh chính nhận được thông tin về BHYT & Luật BHYT 2016 38
Biểu đồ 5: Dự định tìm hiểu thông tin liên quan đến BHYT 38
Biểu đồ 6: Kênh cung cấp thông tin về BHYT mong đợi 38
Trang 7TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG
Sự thay đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của Việt Nam trong ba thập kỉ trở lạiđây đã kéo theo làn sóng di cư mạnh mẽ trên cả nước, đặc biệt là các luồng di cưnông thôn – thành thị Di cư được coi là cơ hội mới cho những người muốn cảithiện điều kiện kinh tế và mong muốn “đổi đời” cho gia đình Tuy nhiên, nhữngluồng di cư tự phát ngoài thay đổi mạnh mẽ đời sống, việc làm và sức khỏe người di
cư mà còn tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội nơi địa phươngchuyển bằng việc gây áp lực lên cơ sở hạ tầng vật chất và các dịch vụ xã hội Chính
vì thế, vấn đề đảm bảo an sinh xã hội cho lao động di cư (LĐDC) tại nơi ở mới làvấn đề nhận được sự quan tâm không những của các nhà quản lý, các nhà lập chínhsách, các nhà xây dựng chương trình phát triển tại địa phương chuyển đến, mà còncủa toàn xã hội
Các nghiên cứu về sức khỏe của LĐDC cung cấp bằng chứng cho thấy người
di cư dễ bị tổn thương hơn về sức khỏe và bị hạn chế hơn trong tiếp cận các dịch vụchăm sóc sức khỏe so với người không di cư/ người bản địa Một trong những ràocản trong tiếp cận dịch vụ y tế là rào cản trong việc sử dụng bảo hiểm y tế (BHYT)
trong chăm sóc sức khỏe của nhóm LĐDC BHYT là công cụ đảm bảo sự bao phủ
chăm sóc sức khỏe cho toàn dân tuy nhiên đối với LĐDC, tiếp cận và sử dụngBHYT trong hoạt động chăm sóc sức khỏe còn gặp nhiều rào cản từ phía cá nhânngười di cư, từ đó hạn chế bớt sự chăm sóc sức khỏe mà họ đáng được nhận LuậtBHYT năm 2016 được sửa đổi nhằm tăng tính tiếp cận với BHYT cho tất cả cácnhóm dân cư, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sửdụng các dịch vụ y tế (DVYT) chi trả bằng BHYT của LĐDC Chính vì vậy, tôi đã
tiến hành nghiên cứu về đề tài “Kiến thức và thái độ về BHYT và rào cản trong sử dụng BHYT của lao động di cư thuộc dự án Đường sắt đô thị Hà Nội năm 2016”
nhằm đánh giá kiến thức, thái độ với việc sử dụng BHYT trong chăm sóc sức khỏe,đồng thời xác định các rào cản khác trong việc sử dụng BHYT của nhóm đối tượnglao động di cư
Trang 8Với mục tiêu đó, nghiên cứu này được thiết kế với hai cấu phần chính nhằmphục vụ cho hai mục tiêu nghiên cứu chính riêng biệt Cấu phần đầu tiên được xâydựng để đánh giá kiến thức và thái độ của LĐDC và BHYT thông qua thu thập vàphân tích số liệu theo phương pháp định lượng để đánh giá nhận thức của LĐDCtrong sử dụng BHYT Cấu phần thứ hai nhằm thu thập thông tin định tính để tìmhiểu những rào cản trong việc tiếp cận và sử dụng BHYT trong chăm sóc sức khỏecủa nhóm LĐDC Tất cả kết quả nghiên cứu của dự án sử dụng để đưa ra cáckhuyến nghị cho nghiên cứu can thiệp trong tương lai, đồng thời cung cấp bằngchứng khoa học và đề xuất giải pháp cho việc hoạch định chính sách nhằm nâng caochất lượng sức khỏe của nhóm LĐDC Điều này sẽ giúp cho người di cư cũng phải cónhận thức tốt hơn về nâng cao sức khỏe và chú trọng hơn vào sức khỏe của bản thân
Trang 9MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức về sử dụng BHYT của nhóm lao động di cư làm việc thuộc
dự án Đường sắt đô thị Hà Nội năm 2016
2 Mô tả thái độ đối với sử dụng BHYT của nhóm lao động di cư làm việcthuộc dự án Đường sắt đô thị Hà Nội năm 2016
3 Tìm hiểu rào cản trong sử dụng BHYT của nhóm lao động di cư làm việc tạilàm việc thuộc dự án Đường sắt đô thị Hà Nội năm 2016
Trang 10KHUNG LÝ THUYẾT
Nhận thức về BHYT chưa đúng (kiến thức & thái độ)
Luật, chính sách
Truyền thông
Sử dụng DVYT thanh toán bằng BHYT
Chất lượng & sự cung ứng
dịch vụ y tế
Điều kiện kinh tế
Tình trạng sức khỏe
Thời gian làm việc dài
* Xây dựng dựa trên mô hình “Các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe” của Lalonde
(1974)
Tình trạng sống lưu động
Trang 11TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Tình hình lao động di cư
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, di cư được hiểu theo nghĩa rộng là sựchuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất kèm theo
sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viên Theo nghĩa hẹp, di cư được hiểu là sự
di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằmthiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định [16] Trongnghiên cứu này, người di cư được định nghĩa là những người có nơi thường trú tạithời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại [17] Địnhnghĩa này cũng được sử dụng trong cuộc Tổng điều tra Dân số (Census) năm 2009
và gần đây nhất là cuộc Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ (IPS) năm 2014
Di cư trong nước ở Việt Nam được chia thành di cư lâu dài, di cư ngắn hạn (di cưtạm thời) hay di cư mùa vụ Việc phân nhóm người di cư thành di cư lâu dài, di cưngắn hạn và di cư mùa vụ này rất thuận tiện nhờ vào hệ thống đăng ký thường trú Hệthống đăng lý thường trú bao gồm 4 nhóm quản lý theo KT (Khu vực Thường trú) làKT1, KT2, KT3, KT4 Tuy nhiên từ năm 2007 trở đi, hệ thống quản lý này có một sốthay đổi trong cách phân loại, theo đó, chỉ còn 3 loại hình cư trú với đăng ký tương ứng
là tạm trú, thường trú và lưu trú Trong đó, nhóm “Thường trú” – KT1, KT2; nhóm
“Tạm trú” – KT3; còn nhóm “Lưu trú” và “Không đăng ký” là KT4 [11] Như vậy,nhóm di cư lâu dài, di cư ngắn hạn và di cư mùa vụ sẽ lần lượt tương ứng với nhóm
“thường trú”, nhóm “tạm trú” và nhóm “lưu trú” của hệ thống đăng ký thường trú.Trên thế giới, tính đến năm 2015, số người di cư đạt mốc 244 triệu người, tăng41% so với năm 2000 Con số này đạt mức trên 1 tỷ người nếu tính cả 740 triệungười di cư nội địa và một số lượng lớn những người di cư liên tục với thời gianngắn, không thể tiếp cận được [37] Số liệu năm 2015 của UN chỉ ra số lượng người
di cư còn tăng nhanh hơn cả mức độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn thế giới Xu
Trang 12hướng tập trung tại các quốc gia phát triển ngày càng tăng, người di cư thườngchuyển đến tại các quốc gia phát triển hơn là các quốc gia kém phát triển Trongnăm 1960, 57% người di cư quốc tế sống trong các khu vực kém phát triển, nhưngnăm 2005 tỷ lệ đó là 37% và đến năm 2015, tỷ lệ đó chỉ còn dưới 20% [15], [45].Hơn một nửa số người di cư toàn cầu là người châu Á Từ năm 2000 đến năm 2015,châu Á đóng góp số lượng lớn nhất người di cư hơn bất cứ khu vực nào với tổngcộng 26 triệu người di cư trong vòng 15 năm
Trong khi đó, tại Việt Nam, tình hình di cư trong hai thập kỷ gần đây có xuhướng gia tăng cả về số lượng và tỷ lệ người di cư [26] Theo Census 2009, dân sốsinh sống ở các khu đô thị của Việt Nam tăng thêm 7,3 triệu người so với thập kỷtrước Mức tăng này tương đương với 77% mức tăng dân số của cả nước trong cùngthời kỳ [4] Qua Census 1999, Census 2009 và Điều tra Dân số giữa kỳ năm 2014cho thấy, luồng di cư giữa các tỉnh và di cư từ nông thôn vào thành thị chiếm tỷtrọng lớn trong tổng số người di cư Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm ở thành thịkhoảng 3,4% trong khi tỷ lệ này chỉ đạt 0,4% ở khu vực nông thôn Những nơi có tỷ
lệ gia tăng dân số cao nhất là các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, HảiPhòng, Đồng Nai, Bà Rịa, Vũng Tàu với tỷ lệ dao động từ 2,9% đến 3,5% [30].Các luồng di cư tại Việt Nam hầu hết là những luồng di cư tự phát (di cưkhông có sự tổ chức của chính phủ) do nơi đến của người di cư thường có nhữngkhác biệt về mức sống, chênh lệch trong thu nhập, cơ hội việc làm, tiếp cận dịch vụ
xã hội và hệ thống dịch vụ hạ tầng Di cư là kết quả của rất nhiều yếu tố trong đókinh tế có vai trò quyết định [3], [9], [18], [23], [26] Khoảng 70% người di cư đượcđiều tra năm 2004 cho biết họ di cư vì những lý do kinh tế, trong đó 41% để tìmviệc làm và khoảng 30% di cư với mong muốn cải thiện điều kiện sống Đây lànguyên nhân giải thích tại sao hầu hết điểm đến của các luồng di cư đều là nhữngthành phố hoặc những nơi có các khu công nghiệp phát triển
Hà Nội – một trong hai đô thị lớn nhất đất nước, với các điều kiện cơ sở hạtầng được đầu tư xây dựng, các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa tinh thần
Trang 13phát triển mạnh đã trở thành nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố thu hút người di cư đếnvới mục đích tìm kiếm việc làm có thu nhập cao, cơ hội học tập cùng với các điềukiện sinh hoạt và các dịch vụ xã hội tốt hơn Tổng số dân Hà Nội năm 2015 khoảng
8 triệu người, trong đó có khoảng 1 triệu là người nhập cư [7], trong đó dân số tăng
do nhập cư khu vực nội thành chiếm khoảng 70-80% so với tổng số dân nhập cưvào toàn thành phố Năm 2015, chi cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Hà Nộicho biết, mỗi năm quy mô dân số Hà Nội dự kiến tăng thêm tương đương dân sốmột huyện lớn, khoảng 200.000 người và tỷ lệ nhập cư về Hà Nội liên tục tăng [7]
2 Tình hình sức khỏe của nhóm lao động di cư thuộc lĩnh vực xây dựng
Người di cư có sức khỏe kém hơn về lâu dài nhưng lại ít tiếp cận với các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe so với người định cư/ người bản địa, đặc biệt là nhóm laođộng di cư thuộc lĩnh vực xây dựng Do yêu cầu công việc, nhóm đối tượng nàyphải thường xuyên sống lưu động với điều kiện ăn ở tạm bợ Không chỉ vậy, họphải đối mặt với rất nhiều khó khăn như điều kiện sống và làm việc khó khăn, thờigian làm việc dài, nguy cơ tai nạn lao động cao, không có BHYT, thu nhập thấpcùng nhiều nguy cơ sức khỏe khác
Năm 1979, Hull đưa ra mối quan hệ giữa di cư và tình trạng sức khỏe trong đó
chỉ ra người di cư “có vẻ” có sức khỏe tốt hơn so với người không di cư Nhiều
nghiên cứu khác cũng cho thấy ban đầu, sức khỏe của người di cư tốt hơn các nhómkhác nhưng dần dần sức khỏe của họ đã bị giảm sút nhanh chóng, đặc biệt là ởnhóm di cư tạm thời [30] Việc này gọi là hiện tượng “người di cư khỏe mạnh” vàđược giải thích do tác động chọn lọc về tôn giáo, độ tuổi, thu nhập,… đặc biệt là tácđộng chọn lọc về tuổi tác với hơn một nửa người di cư nằm trong độ tuổi từ 25 trởxuống, nhóm người di cư thường có xu hướng trẻ hóa so với các nhóm dân cư khác[17] Tuy nhiên, khi các tác động độ tuổi, giới tính, cùng mức thu nhập hay trình độhọc vấn được khống chế – khi đó ta thấy người di cư thường không có sức khỏe tốtbằng người không di cư Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố làm tăng tính dễ tổnthương đến sức khỏe người di cư đó là thiếu tiếp cận thông tin, mạng lưới xã hội
Trang 14kém, thiếu hiểu biết và hạn chế kiến thức về các bệnh tại đô thị, thiếu tiếp cận vớinước sạch và vệ sinh môi trường không được đảm bảo [9], [42].
Nhóm LĐDC thuộc lĩnh vực xây dựng được đánh giá là nhóm đối tượng cónguy cơ bệnh nghề nghiệp cao và tỷ lệ “near miss” cũng cao hơn nhiều so với cácnhóm người di cư khác do điều kiện làm việc trên cao với thời tiết khắc nghiệt cùngvới đó là yêu cầu công việc cao, đòi hỏi nhiều sức lực nên thường mắc các bệnh về
da, hệ cơ xương khớp Tuy nhiên, họ cũng là một trong nhóm “lơ là” nhất trongviệc chăm sóc sức khỏe của bản thân
Chính vì vậy, LĐDC rất cần được tiếp cận và sử dụng những DVYT với mứcphí “có thể chi trả được” mà trong đó DVYT chi trả bằng BHYT được xem là mộttrong giải pháp tốt nhất đảm bảo các DVYT cần thiết chi trả được và tiếp cận đượccho nhóm LĐDC tại nơi chuyển đến Trong hầu hết trường hợp, bảo hiểm y tế cóthể chi trả phần lớn chi phí dịch vụ chăm sóc sức khỏe nếu đối tượng sử dụngBHYT, tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra việc sử dụng BHYT khi sử dụng DVYTcủa người LĐDC vẫn còn gặp rất nhiều rào cản, đặc biệt là rào cản do nhận thứcchưa đúng về BHYT Việc thiếu kiến thức về sử dụng BHYT, tâm lý “dè chừng”khi sử dụng BHYT cùng với một số rào cản trong sử dụng BHYT đã khiến việc sửdụng các DVYT chi trả bằng BHYT ở LĐDC bị hạn chế nhiều Tình trạng này tạiViệt Nam có nhiều điểm tương đồng so với các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan,Singapore và một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á [31], [34], [41], [46], [47]
Trang 15sức khỏe
Tại Việt Nam, luật BHYT luôn được chỉnh sửa, cải thiện theo phản hồi trongthi hành để đảm bảo tính tiếp cận và sự bảo vệ pháp lý cho người tham gia BHYT,trong đó, luật BHYT 2008 (hiệu lực vào 01/01/2008) và luật BHYT 2016 (hiệu lựcvào 01/01/2016) là hai bộ luật được chỉnh sửa gần nhất mang lại thay đổi tích cực
về quyền lợi cho LĐDC Trong đó, có hai điểm cần chú ý là việc tham gia BHYT
và những thông tin liên quan đến sử dụng BHYT
Đầu tiên, về việc tham gia BHYT, có 04 hình thức tham gia BHYT bao gồm:bảo hiểm dành cho trẻ em dưới 6 tuổi và bảo hiểm dành cho người nghèo bảo hiểmbắt buộc (dành cho học sinh, sinh viên và người lao động có hợp đồng lao động cóthời hạn từ 01 - 03 tháng), bảo hiểm tự nguyện (luật 2016 chuyển thành hình thức bảohiểm hộ gia đình) Trong số 04 hình thức tham gia BHYT, hình thức bảo hiểm y tế tựnguyện và hình thức bảo hiểm y tế bắt buộc (chi trả thông qua người sử dụng laođộng) là 2 hình thức chính thường gặp ở nhóm LĐDC Đối với hình thức bảo hiểm y
tế bắt buộc, khi ký kết hợp đồng lao động với cơ quan sử dụng lao động, người laođộng cũng sẽ được tham gia BHYT với hình thức bắt buộc Với những đối tượng cóthời gian làm hợp đồng dưới 1 tháng hoặc không có hợp đồng lao động, vẫn có thểtham gia BHYT theo hình thức tự nguyện và khuyến khích đăng ký theo hộ gia đình,tuy nhiên hình thức này mới được đưa vào triển khai từ tháng 01/2016 và còn gặpnhiều vướng mắc về thủ tục cũng làm trì hoãn việc tham gia BHYT [21]
Thứ hai, về những quy định khi sử dụng BHYT, luật BHYT 2016 đã quy định
rõ theo 5 điều khoản chính về: mức đóng & trách nhiệm đóng; mức hưởng; thẻBHYT; cơ sở KCB ban đầu và thanh toán chi phí BHYT Trong đó, về trách nhiệmđóng BHYT, người sử dụng lao động mỗi tháng sẽ trích từ tiền lương, tiền công củangười lao động để đóng BHYT cho người lao động theo mức đóng của đối tượng đó,
cụ thể là mức đóng sẽ bằng 4,5% mức lương và người sử dụng lao động chi trả 2/3hoặc 1/3 trong số đó Trong khi đó, nếu tham gia BHYT với hình thức tự nguyện, đốitượng sẽ phải chi trả tối đa 6% mức lương cơ bản Ngoài ra, LĐDC khi tham gia
Trang 16BHYT cũng được nhận quyền lợi và mức hưởng cho các dịch vụ KCB theo quy địnhgiống như các đối tượng khác Đối tượng có quyền được lựa chọn cơ sở KCB banđầu và được phép đổi vào đầu mỗi quý Mỗi đối tượng tham gia BHYT đều có thẻBHYT với thời gian sử dụng và tên cơ sở KCB ban đầu được in trên thẻ Đối với đốitượng LĐDC đã có BHYT mà làm việc lưu động hoặc đến tạm trú tại địa phương thìđược KCB tại cơ sở y tế (CSYT) phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật và nơi người
đó hiện đang làm việc lưu động Đồng thời, quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khámbệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trởlên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở
4 Rào cản trong sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT của người di cư
Để phân tích sâu hơn vấn đề sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT của LĐDC,dưới đây nghiên cứu sẽ trình bày và phân tích các rào cản chính trong việc sửdụng BHYT trong CSSK của nhóm đối tượng di cư, dựa trên việc tổng quan cáctài liệu và xem xét mô hình Các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe và hành vi sứckhỏe của Lalonde (1974) Trong đó, các rào cản trong việc sử dụng DVYT chi trảbằng BHYT của nhóm LĐDC trong nghiên cứu sẽ được phân tích và trình bày
dưới đây theo 4 khía cạnh chính là nhận thức về việc sử dụng BHYT (1); DVYT chi trả bằng BHYT được cung cấp (2); hai yếu tố về điều kiện sống, làm việc (3) và điều kiện kinh tế (4) đại diện cho yếu tổ môi trường
4.1 Nhận thức về BHYT
Nhận thức về BHYT trong nghiên cứu được xét là yếu tố cá nhân, trong đóbao gồm kiến thức của đối tượng về BHYT và thái độ của đối tượng đối với BHYT.Các nghiên cứu về BHYT trong nhóm người di cư có kết quả tương đồng nhận thứccủa LĐDC với BHYT đối với việc sử dụng BHYT trong KCB Việc LĐDC thiếukiến thức về BHYT và chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của BHYT đãtạo ra rào cản cho LĐDC trong việc sử dụng BHYT, đồng thời cũng là cản trở việc
họ sử dụng các dịch vụ CSSK cần thiết
Trang 17Trước hết về kiến thức về BHYT và cách sử dụng, nhóm đối tượng này đánhgiá thiếu kiến thức về BHYT, đặc biệt về quyền được tham gia BHYT và các quyềnlợi khác khi chuyển tuyến và lựa chọn cơ sở KCB ban đầu Lê Thị Kim Ánh vàcộng sự (2012) chỉ ra những cơ quan tổ chức lao động cỡ vừa và nhỏ thường lảngtránh chuyện chi trả BHYT cho người lao động và không phải đối tượng LĐDC nàocũng biết quyền được tham gia BHYT của mình [31] Tuy nhiên, người lao độngthường không có nhận thức đúng đắn về quyền và quyền lợi của mình nên quyền lợicủa họ bị “bỏ quên” bởi những người tuyển dụng họ Với những đối tượng ngườilao động có BHYT thì người sử dụng lao động thường đăng kí chung một cơ sởKCB ban đầu cho toàn bộ lao động và cơ sở đó thường được đăng kí ở một địađiểm khó tiếp cận so với nơi đối tượng đang sinh sống Điều đó phần nào gây ra trởngại cho LĐDC trong sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT [30] Cùng với đó, việcthiếu thông tin về hệ thống y tế nơi đến cũng làm hạn chế phần nào việc sử dụngcác DVYT chi trả bằng BHYT của người di cư Kết quả nghiên cứu của Lê Thị KimÁnh và cộng sự năm 2011 với nhóm LĐDC tại khu công nghiệp ở Hà Nội, Đà Nẵng
và Hồ Chí Minh cho thấy một trong những lý do ít tiếp cận DVYT ở trạm (là nhữngDVYT được chi trả bằng BHYT) là do người di cư chưa hiểu rõ quyền được sửdụng DVYT và chưa tiếp cận được thông tin y tế [10] Số liệu trong điều tra Tiếpcận an sinh xã hội với LĐDC của ActionAid cho biết tỷ lệ LĐDC không có kiếnthức về các chương trình an sinh xã hội liên quan đến y tế khá cao, khoảng 70 –80% ở nhóm LĐDC chính thức [1]
Bên cạnh việc thiếu kiến thức, việc LĐDC chưa có thái độ đúng đối vớiBHYT cũng là nguyên nhân chính của việc LĐDC ít sử dụng các DVYT chi trả bằngBHYT Trong đó, các nghiên cứu đều có những bằng chứng chứng minh ngườiLĐDC không tin tưởng vào chất lượng DVYT chi trả bằng BHYT, đồng thời là tâm
lý coi nhẹ sự quan trọng của BHYT nên không tham gia BHYT Nghiên cứu của TrầnThanh Hương về tiếp cận các DVYT chi trả bằng BHYT năm 2011 ở nhóm lao độngphi chính thức cho thấy người lao động chưa tham gia BHYT là do chưa thực sự tintưởng vào chế độ BHYT (chiếm 77,4% người được hỏi) Những người sử dụng
Trang 18DVYT thường cảm thấy rằng nếu sử dụng BHYT để chi trả cho các dịch vụ thìthường dẫn đến việc chất lượng kém [24] Kết quả khảo sát của Viện Khoa họcBHXH trên 711 lao động phi chính thức tại Hà Nội, Hải Phòng, Thừa Thiên-Huế,Đồng Nai đã chỉ ra, người lao động chưa tham gia BHYT là do chưa thực sự tintưởng vào chế độ BHYT (chiếm 77,4% người được hỏi); gần 50% người cho biết doviệc tham gia BHYT không được giảm chi phí nhiều, thủ tục KCB mất nhiều thờigian chờ đợi, chất lượng dịch vụ chưa cao Còn với những đối tượng thuộc diện muaBHYT tự nguyện thường không nhận thức đúng được tầm quan trọng của BHYThoặc không có các thông tin về việc tham gia BHYT tự nguyện như thế nào dẫn đếnviệc họ bị bỏ rơi bên ngoài sự bảo vệ của hệ thống bao phủ chăm sóc sức khỏe toàndân này [30] Việc sử dụng DVYT thanh toán bằng BHYT trở thành định kiến trongmắt người LĐDC thì LĐDC thường sẽ ít tìm kiếm DVYT hơn, đặc biệt khi bệnh trởnên trầm trọng và cần thiết sử dụng DVYT
Điều này có thể lí giải bằng mối liên quan với trình độ học vấn của người di
cư, sự hạn chế về trình độ học vấn dẫn đến sự hạn chế về kiến thức CSSK của người
di cư Các cộng đồng đồng có trình độ học vấn cao thường có tình trạng sức khỏetốt và tuổi thọ cao Mối liên quan giữa trình độ, học vấn cũng như kiến thức sẵn cócủa người di cư về việc CSSK sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sử dụng cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhóm này Điều này tương thích với đặc trưng củanhóm LĐDC là trình độ học vấn không cao với tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thôngchiếm đa số [20]
Tóm lại, để có thể sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT một cách hiệu quả đúngnhư mục đích đã đề ra của chính sách an sinh xã hội này, LĐDC cần có nền tẳng kiếnthức về việc sử dụng BHYT tốt hơn và có nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọngcủa BHYT cũng như niềm tin vào các DVYT chi trả bằng BHYT được cung cấp
4.2 Sự cung ứng và chất lượng của DVYT
Có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy việc những người
Trang 19được BHYT thanh toán đã nhận được DVYT có chất lượng thấp hơn so với nhữngngười chi trả trực tiếp cho dịch vụ [14] Gần 50% người cho biết do việc tham giaBHYT không được giảm chi phí nhiều, thủ tục KCB mất nhiều thời gian chờ đợi,chất lượng dịch vụ chưa cao Nghiên cứu của Trần Thúy Hà về nhận thức mua và sửdụng BHYT cũng đưa ra các đánh giá và góc nhìn của người tham gia BHYT đốivới những cản trở trong KCB theo chế độ BHYT tập trung vào một số điểm nhưthời gian chờ đợi lâu, nhiều thủ tục phiền hà, bị phân biệt đối xử, các chi phí giántiếp và chi phí cơ hội nằm ngoài chế độ BHYT Ngoài ra, một vấn đề đáng lưu ýđến trong sự cung ứng DVYT chi trả bằng BHYT là việc phần lớn chi phí hiện nayngười sử dụng phải chi trả đều dành cho chi phí thuốc men, do danh mục thuốcđược BHYT hiện nay không đáp ứng được nhu cầu KCB của CSYT [14] Do đó, dù
đã sử dụng BHYT nhưng gần như người bệnh sẽ không được bảo trợ chi phí vềthuốc Những cản trở này là nguyên nhân làm người tham gia BHYT mất đi niềmtin vào DVYT chi trả bằng BHYT và có tác động không thuận lợi trong quá trìnhbao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và đảm bảo sức khỏe của nhóm LĐDC nóiriêng Kết quả này cũng tương đồng với các kết quả nghiên cứu khác về việc sửdụng BHYT khi tiếp cận và sử dụng DVYT của nhóm người di cư [25]
Bên cạnh các yếu tố nội tại của DVYT chi trả bằng BHYT thì một yếu tố kháccũng làm hạn chế việc sử dụng DVYT của người di cư là tính tiếp cận được của cơ
sở KCB ban đầu đăng kí trong thẻ BHYT, điều được chỉ ra trong nhiều nghiên cứutrong nước và quốc tế Do người lao động không nắm được quyền chủ động trongviệc lựa chọn cơ sở KCB ban đầu do đó người sử dụng lao động thường đăng kíchung một cơ sở KCB ban đầu cho toàn bộ lao động và cơ sở đó không phải là địađiệm thuận tiện tiếp cận cho mọi đối tượng đang làm việc Điều đó phần nào gây ratrở ngại cho LĐDC trong sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT [30] Nghiên cứu vớiLĐDC tại một số khu công nghiệp cũng cho biết việc tiếp cận các CSYT đăng kýbảo hiểm không phải là dễ dàng do khu công nghiệp ở những nơi xa xôi, cách xa cơ
sở y tế, hơn nữa thời gian đến khám dài ảnh hưởng đến thời gian làm việc của họ.Giờ mở cửa cung cấp dịch vụ khám của cơ sở đăng ký bảo hiểm cũng không phù
Trang 20hợp với thời gian làm việc theo ca của người lao động [10]
4.3 Tình trạng sống lưu động & thời gian làm việc dài
Do tính chất công việc thuộc lĩnh vực xây dựng, LĐDC thuộc lĩnh vực nàyliên tục phải di chuyển theo yêu cầu công việc, không định cư lâu dài ở một địađiểm cố định, dẫn đến tình trạng sống lưu động Đây là một trong những yếu tốchính làm hạn chế việc sử dụng BHYT của LĐDC Trước hết là do khi đến nơi cưtrú mới, người di cư thường không biết về hệ thống chăm sóc y tế địa phương vàđịa điểm các cơ sở y tế, do đó họ thường trì hoãn việc tìm kiếm DVYT Hơn nữa,lao động thường sống lưu động, không tuân thủ nghiêm ngặt chế độ đăng kí tạmtrú nên các chương trình địa phương khó tiếp cận và quản lý để tuyên truyền, giớithiệu các DVYT người di cư có thể sử dụng cũng như các thông tin y tế và an sinh
xã hội cần thiết [29] Hai điểm này đã làm điều kiện sống của người di cư hạn chếvới việc tìm kiếm DVYT và sử dụng BHYT Ngoài ra, việc tiếp cận CSYT đăng
ký bảo hiểm không phải dễ dàng do các cơ sở này thường xa nơi sinh sống, thờigian đến khám dài và ảnh hưởng đến thời gian làm việc của họ [9] Khi thay đổiđịa điểm nơi ở, người di cư không được chuyển CSYT ban đầu theo đó mà chỉđược thay đổi vào đầu mỗi quý nên khi có các vấn đề sức khỏe, người di cư phảitìm về nơi đăng ký cũ để KCB Một bộ phận người di cư thuộc lĩnh vực xây dựngthì phải sống tại khu vực xây dựng để thuận tiện cho công việc nhưng địa điểmcông trường xây dựng thường ở những nơi xa lánh, ít dân cư và xa cơ sở y tế.Trong khi đó, do di chuyển liên tục, người di cư đi theo công trình xây dựngkhông có điều kiện để mang theo phương tiện đi lại như xe máy hay xe đạp theomình, do vậy càng không có điều kiện để tiếp cận các CSYT nơi đến Như vậy,tình trạng sống lưu động đã làm hạn chế đi sự tiếp cận và sử dụng DVYT vàBHYT của người di cư
Ngoài ra, vấn đề về thời gian làm việc là rào cản chính cho việc sử dụngDVYT của nhóm di cư Hầu hết những người được hỏi cho biết họ dùng thời gianrảnh rỗi để ngủ bởi vì họ quá mệt mỏi sau những giờ làm việc dài Các công nhân
Trang 21cho biết họ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi có tình trạng sức khỏe nghiêmtrọng, vì những việc này mất nhiều thời gian và tiền bạc [29] Bên cạnh đó, thờigian làm việc kéo dài của họ cũng không cho phép họ tham gia các hoạt động xã hộihoặc tham gia các cuộc họp của các tổ chức quần chúng [27], từ đó làm hạn chế cáckênh thông tin về sức khỏe mà họ cần biết Luật BHYT 2016 đã có sửa đổi thêm vềviệc thay đổi thời gian cung cấp DVYT thanh toán bằng BHYT trong đó CSYT doquá tải phải khám ngoài giờ, KCB vào ngày nghỉ, ngày lễ thì người tham gia BHYTvẫn được hưởng mức thanh toán và quyền lợi như ngày làm việc bình thường (nghĩa
là việc khám BHYT ngoài giờ hành chính vẫn được chấp nhận) [12] Tuy nhiên, sựthay đổi này mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 nên các tài liệu nghiên cứu trướcvẫn có những thông tin, kết luận về LĐDC bị hạn chế thời gian khám BHYT
4.4 Điều kiện kinh tế
Người di cư thường có thu nhập thấp và không ổn định, ngoài việc chi trả chocác khoản tài chính cơ bản thì người di cư thường phải gửi tiền về quê để hỗ trợ giađình vì thế vấn đề công việc và tiết kiệm chi phí luôn được đặt lên hàng đầu [20] Do
có mức thu nhập thấp nên họ thường không quan tâm nhiều đến việc chăm sóc sứckhỏe [30] Đây cũng là nguyên nhân giải thích cho việc tỷ lệ sử dụng DVYT trongnhóm người di cư thấp hơn so với nhóm người không di cư Báo cáo về Di cư trongnước (UNDP, 2010) chỉ ra với thu nhập thấp, tăng cường sử dụng các dịch vụ phảichi trả tiền là trở ngại lớn đối với người di cư trong việc tiếp cận các DVYT mộtcách kịp thời Ngoài ra, việc ít sử dụng DVYT và BHYT của người di cư còn do chiphí KCB và các chi phí gián tiếp khác khi sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT quácao so với mức thu nhập thấp của họ Nhiều người di cư ở các thành phố lớn như
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho biết chi phí khám, chữa bệnh gấp đôi thunhập hàng tháng của họ [27], [29] Bùi Đắc Thành Nam và cộng sự (2013) nhậnđịnh thu nhập thấp và chi phí KCB cao chính là rào cản lớn nhất đến việc tiếp cận
và sử dụng DVYT của người di cư [6] Đối với các nước khác, rào cản về tính chitrả được của DVYT là điểm tương đồng lớn nhất với tình hình hiện nay ở Việt
Trang 22Nam Tại Bắc Kinh, 40,5% người LĐDC bị bệnh cho biết chi phí cho mỗi lần KCBcao (dù đã được hỗ trợ bằng BHYT) là một trở ngại đáng kể đến việc tiếp cận dịch
vụ CSSK [43] Nghiên cứu tại Thẩm Quyến (Trung Quốc) thì chỉ ra tính chi trảđược khi sử dụng DVYT (chi phí sau khi đã được BHYT hỗ trợ) vẫn chưa phù hợpvới nhóm LĐDC [38] Ngoài ra, các chi phí gián tiếp khác như chi phí đi lại, ănuống cho người đi thăm nom hoặc khoản tiền bị mất đi do nghỉ làm để khám bệnhcũng là điểm khiến LĐDC không muốn đi KCB [25] Kết quả này tương đồng vàđược chứng minh ở nhiều nghiên cứu khác như một trong những rào cản lớn nhấtlàm người di cư quyết định không sử dụng DVYT
5 Tóm tắt tổng quan
Đối tượng LĐDC trong nghiên cứu được định nghĩa theo sự chuyển dịch nơi ởtrong vòng 5 năm tính từ thời điểm nghiên cứu Với định nghĩa trên, đối tượngnghiên cứu được phân thành 3 nhóm dựa trên hệ thống đăng kí hộ khẩu thường trú
gồm di cư dài hạn, di cư ngắn hạn và di cư mùa vụ
LĐDC có điều kiện cuộc sống và làm việc kém, phơi nhiễm với nhiều nguy cơsức khỏe hơn người bản địa/ người định cư lâu dài cùng với những khó khăn trongcuộc sống, LĐDC trở thành nhóm dễ tổn thương hơn so với người không di cư, đặcbiệt là trong nỗ lực bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân Với những yếu thế nhưvậy, tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe với mức chi phí chấp nhận đượckhông chỉ là một nhu cầu bức thiết của LĐDC mà còn là giải pháp tối ưu đưa ra choLĐDC có thể chăm sóc sức khỏe của mình Tuy nhiên, việc sử dụng DVYT chi trảbằng BHYT ở nhóm người di cư còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức về BHYTcòn hạn chế; điều kiện sống và điều kiện kinh tế còn hạn chế cũng như việc DVYTchi trả bằng BHYT còn nhiều bất cập trong quá trình sử dụng
Với những điểm đối mới tích cực trong luật BHYT 2016 nhằm tạo điều kiệnthâunj lợi nhất trong tiếp cận và sử dụng BHYT của mọi người dân, đặc biệt là vớiđối tượng LĐDC, việc sử dụng các DVYT chi trả bằng BHYT của LĐDC hi vọng
Trang 23sẽ được cải thiện theo hướng tích cực Tuy nhiên, việc sử dụng DVYT thanh toánbằng BHYT phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, thái độ của LĐDC đối với BHYTcũng như công tác tuyên truyền chính sách Phải chăng nhận thức của LĐDC vềBHYT còn chưa thật đầy đủ? Với những sự thay đổi từ luật BHYT 2016, người di
cư gặp khó khăn gì khi sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT?
Để trả lời những câu hỏi này, nghiên cứu này tập trung vào vấn đề kiến thức,
thái độ về BHYT và rào cản trong sử dụng BHYT của lao động di cư để cung cấp
thêm bằng chứng về nhận thức về BHYT cũng như rào cản sử dụng BHYT trongKCB của nhóm đối tượng này
Trang 24PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính
1 Đối tượng nghiên cứu
Cấu phần định lượng
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
o Những người có nơi tạm trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm nghiên cứukhác với nơi thường trú hiện tại
o Là công nhân xây dựng hiện đang làm việc dự án, đã làm việc cho nhà thầuthuộc dự án ít nhất 1 tháng trở lên
o Độ tuổi từ 18 tuổi đến 59 tuổi
o Đồng ý tự nguyện tham gia điền phiếu điều tra
- Tiêu chuẩn loại trừ:
o Không có khả năng điền, trả lời phiếu điều tra
Cấu phần định tính
Đối tượng tham gia nghiên cứu trong cấu phần này là đối tượng đang làm việc tại
dự án, tình nguyện tham gia nghiên cứu, là người di cư đã từng sử dụng DVYT chi trảbằng BHYT tại địa phương nơi đang ở hiện tại trong vòng 6 tháng gần nhất
2 Địa điểm nghiên cứu
Dự án Đường sắt đô thị Hà Nội
3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/2016 đến tháng 12/2016
4 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Trang 25Z 1-αα/2 : giá trị thu được bằng cách tra bảng Z, với α = 0,05, Z = 1,96
p: tỷ lệ p được lựa chọn là tỷ lệ ước đoán LĐDC đang làm việc tại địa bàn
nghiên cứu có kiến thức đúng về BHYT là 50% p = 0,5
Dự kiến tỷ lệ từ chối và phiếu không trả lời hợp lệ là 10%, do vậy cỡ mẫu cần
thiết là: 215 đối tượng.
Cấu phần định tính:
Lựa chọn 05 LĐDC tham gia thảo luận nhóm và 05 đối tượng là LĐDC thamgia cuộc phỏng vấn sâu Như vậy, với cấu phần này, nghiên cứu sẽ chọn ra 10 đốitượng LĐDC để tham gia nghiên cứu
6 Cách chọn mẫu
Dự án Đường sắt đô thị Hà Nội hiện đang là dự án xây dựng trọng điểm củathành phố Hà Nội với tổng số vốn đầu tư lớn nhất trong thời điểm hiện tại Khảo sátban đầu cho thấy hiện tại trong dự án có 3000 công nhân đang làm việc tại khu vựcNhổn - Cầu Giấy, trong đó khoảng 75% là LĐDC Nghiên cứu thực hiện tại công tyxây dựng Daelim, phụ trách tuyến III đoạn Nhổn - ga Hà Nội với quy mô nhân sựnhiều nhất và tập trung số lượng LĐDC lớn nhất của cả dự án
Đối với cấu phần định lượng, ở mỗi công ty (nhà thầu dưới sự quản lý của
Trang 26Daelim), nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành rà soát danh sách nhân sự và xây dựng danhsách nhóm LĐDC hiện đang làm việc tại dự án Từ danh sách đó tiến hành lựa chọnngẫu nhiên đơn 215 đối tượng để đảm bảo được tính đại diện cho cả mẫu nghiêncứu với hệ số k = 3.
Đối với cấu phần định tính thông tin định tính thu thập đến khi bão hòa thôngtin Đồng thời, nghiên cứu sẽ tiến hành 05 cuộc phỏng vấn sâu với 05 LĐDC đang trựctiếp làm việc tại dự án và 1 cuộc thảo luận nhóm với 05 LĐDC khác Danh sách đốitượng tham gia nghiên cứu sẽ được chọn lựa dựa trên cơ sở lưu trữ y tế của bộ phậnHSE (bộ phận giám sát an toàn), trong đó, các đối tượng có tiếp cận và sử dụng DVYThoặc được giới thiệu chuyển tuyến sẽ được lựa chọn để tham gia nghiên cứu Trongtrường hợp, tài liệu lưu trữ y tế không đầy đủ hoặc không đủ số lượng yêu cầu,nghiên cứu viên sẽ lựa chọn từ 230 đối tượng đã tham gia nghiên cứu định lượng ranhững đối tượng thỏa mãn điều kiện để tiếp tục tham gia cấu phần định tính
7 Phương pháp thu thập thông tin
Chuẩn bị thực địa
- Danh sách mẫu nghiên cứu được lựa chọn trước khi xuống thu thập số liệu
- Danh sách đối tượng được phỏng vấn sẽ được xây dựng dựa trên lịch làm việccủa đối tượng để sắp xếp thời gian tiếp cận và phỏng vấn đối tượng phù hợp
- Xây dựng tài liệu hướng dẫn điều tra chi tiết; tổ chức tập huấn điều tra viên vàgiám sát viên trước khi tiến hành thu thập số liệu
- Chuẩn bị các phương tiện: sổ ghi chép, máy ghi âm, phiếu điều tra, các vănphòng phẩm cần thiết
Thu thập số liệu tại thực địa
- Tiến hành phỏng vấn 230 công nhân để thu thập thông tin chung, kiến thức vàthái độ của LĐDC về BHYT
Thông tin chung (tuổi, giới, nghề nghiệp, thu nhập, nơi làm việc, trình độ họcvấn, loại hình di cư, tình trạng sở hữu thẻ BHYT, hình thức tham gia, …)
Trang 27 Kiến thức của LĐDC về BHYT và kiến thức về sử dụng BHYT trong hoạtđộng CSSK.
Sự quan tâm của LĐDC đối với BHYT (nhu cầu tiếp cận, đánh giá về mức
độ quan trọng và tính cần thiết của BHYT, nhu cầu về thông tin về BHYT, dự định
sử dụng BHYT trong hoạt động CSSK của nhóm LĐDC)
- Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm về các vấn đề liên quan đến nhận thức
về BHYT (kiến thức về BHYT, sự quan tâm tới BHYT cũng như những khó khăntrong khi tiếp cận và sử dụng) của nhóm LĐDC
Chuẩn bị: Danh sách mẫu nghiên cứu được lựa chọn trước khi thu thập số liệutại thực địa Dựa điều kiện làm việc phân chia thành ca ngày và ca đêm của đốitượng để xây dựng danh sách đối tượng tiếp cận và thời điểm tiếp cận xin phỏngvấn phù hợp ( sắp xếp phỏng vấn khi đối tượng kết thúc ca làm việc hoặc hẹn đốitượng phỏng vấn trước khi bắt đầu ca làm việc)
- Bước 1: Tiếp cận đối tượng trong danh sách, ĐTV phải giới thiệu về nghiên cứu
và mục đích của nghiên cứu
- Bước 2: Đối tượng phỏng vấn được giải thích về tính bảo mật thông tin, nhữngthông tin của bảng hỏi sẽ được nhập và phân tích bởi nhóm nghiên cứu
- Bước 3: Đối tượng điều tra ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bước 4: ĐTV lần lượt hỏi từng câu hỏi trong bảng cho đối tượng nghe và trả lời
- Bước 5: Kết thúc cuộc phỏng vấn, ĐTV hỏi lại đối tượng phỏng vấn có cần bổsung hoặc sửa đổi thông tin hay không, nếu có điều tra viên phải giải đáp các thắcmắc này trong phạm vi có thể, nếu không ghi lại các câu hỏi và hẹn giải đáp sau
- Bước 6: ĐTV cám ơn đối tượng
8 Phương pháp phân tích thông tin
Các số liệu về phỏng vấn công nhân được kiểm tra, làm sạch, mã hóa và nhập bằngphần mềm Epidata 3.1 sau đó xử lý và phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 18.0
Cấu phần định lượng:
Trang 28 Để mô tả thông tin chung về nhân khẩu học, đặc điểm về tình trạng di cư và hìnhthức tham gia BHYT sử dụng cách tính tỷ lệ % và các số trung bình.
Để mô tả kiến thức và thái độ sử dụng cách tính tỷ lệ % và các số trung bình
Kiến thức của LĐDC được đánh giá dựa trên số điểm đạt được điểm cắt 50% củatổng số điểm để xác định đối tượng đạt/ không đạt về kiến thức; thái độ của LĐDCđược đánh giá dựa trên điểm cắt 75% tổng số điểm tối đa để xác định đối tượng cóthái độ đúng/ chưa đúng Chi tiết về cách tính điểm xem chi tiết ở phụ lục 5
Cấu phần định tính:
- Tổng hợp, phân tích các thông tin, số liệu định tính dựa trên nội dung, kết quả của phỏng vấn sâu, ghi chép theo chủ đề phân tích, trích dẫn từ băng ghi âm
- Liệt kê các chủ đề phân tích về BHYT bao gồm:
Rào cản tiếp cận và sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT:
DVYT: tính tiếp cận, thời gian mở cửa, thời gian chờ đợi & thủ tục, chấtlượng dịch vụ, thái độ phục vụ của nhân viên y tế
Điều kiện sống: tình trạng lưu động, điều kiện nơi ở, tính tiếp cận giữa nơi
ở và hệ thống y tế
Điều kiện làm việc: thời gian làm việc, địa điểm làm việc và một số yêucầu công việc liên quan đến BHYT
Điều kiện kinh tế: thu nhập, chi phí KCB (chi phí trực tiếp, gián tiếp, cơ hội)
Nhận thức về BHYT: nhu cầu thông tin về BHYT; dự định tìm hiểu thông tin
về BHYT; nhu cầu sử dụng BHYT và dự định sử dụng
Mã hóa các đối tượng trả lời rồi tiến hành ghi chép, gỡ băng ghi âm, sắp xếpcác nội dung trả lời theo chủ đề phân tích đã liệt kê, sắp xếp
9 Các khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu
Định nghĩa, phân loại các nhóm người di cư
- Di cư dài hạn (thường trú): chỉ người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một
khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến Là nhóm công dân được
Trang 29đăng kí KT1 (sổ hộ khẩu thường trú) và KT2 (sổ tạm trú dài hạn – chỉ di cư trongphạm vi tỉnh/ thành phố).
- Di cư ngắn hạn (tạm trú): sự xác lập nơi cư trú của người/nhóm người trong
một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định cư tại nơi đó haykhông Nhóm di cư này được sở hữu KT3 (sổ tạm trú ngắn hạn – dành cho di cưngoài phạm vi tỉnh/ thành phố trong khoảng thời gian 6 - 12 tháng)
- Di cư mùa vụ (lưu trú): Đây là hình thức di cư đặc biệt của di cư ngắn hạn,
chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa
du lịch…), có nghĩa là người di cư dịch chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếmviệc làm, không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư, sẽ quay trở lại nơi xuất
cư nếu có nhu cầu lao động hoặc công việc gia đình Đối với nhóm di cư mùa vụ,đối tượng thường sẽ không đăng kí hoặc chỉ đăng kí KT4 ( diện lưu trú - di cưtrong một thời gian ngắn chỉ khoảng 1 – 3 tháng) với địa phương nơi cư trú
Một số khái niệm liên quan
- Luật BHYT 2008: Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm
2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009
- Luật BHYT 2016: Luật bảo hiểm y tế số 58/2014/QH13 ban hành ngày 20
tháng 11 năm 2014 của Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016
- DVYT chi trả bằng BHYT: là tất cả các DVYT được chi trả BHYT tính trên tất
cả các tuyến bao gồm KCB; cấp cứu; tai nạn giao thông; tai nạn lao động, cácDVYT kỹ thuật cao như phẫu thuật, ghép tạng, thay tay/ chân giả, theo như điều
21, chương IV của luật BHYT 2016 Các trường hợp sử dụng DVYT mức hưởngBHYT là 0% do vượt tuyến hoặc không theo quy định đề ra thì vẫn được coi là sửdụng DVYT chi trả bằng BHYT
- Chi phí KCB: trong nghiên cứu này chi phí KCB được hiểu bao gồm mọi chi
phí cho việc KCB bao gồm tiền công KCB, xét nghiệm, tiền thuốc, tiền giường, tiếnphẩu thuật, thủ thuật, chi phí đi lại, ăn ở liên quan đến đợt KCB của người ốm
Trang 3010 Các biến số nghiên cứu
Loại biến số
Công cụ thu thập Thông tin cá nhân
Q1 Tuổi Tuổi của người được phỏng vấn
Tuổi = 2016 – “năm sinh”
Liêntục
Phỏngvấn
Q2 Giới tính Giới tính của người được
phỏng vấn
Nhịphân
Phỏngvấn
Q3 Học vấn Trình độ học vấn cao nhất đã
hoàn thành của người đượcphỏng vấn
Thứbậc
Phỏngvấn
Q4 Nghề nghiệp chính/
chức vụ
Công việc chính chiếm phầnlớn thời gian làm việc của đốitượng, mang lại thu nhập chủyếu trong 12 tháng qua
Phỏngvấn
Q5 Công ty Tên công ty (nhà thầu) hiện tại
Phânloại
Phỏngvấn
Q7 Nơi cư trú hiện tại Nơi đăng kí tạm trú hiện tại của
đối tượng (cấp quận/ huyện)
Phânloại
Phỏngvấn
Q8 Diện đăng kí thường
trú
Khu vực thường trú phân theo
hệ thống đăng kí hộ khẩu (KT)
Phânloại
Phỏngvấn
Q9 Hợp đồng lao động Đối tượng có ki kết hợp đồng
lao động với người sử dụng laođộng hay không
Nhịphân
Phỏngvấn
Q10 Sở hữu thẻ BHYT Người được phỏng vấn có
BHYT hay không
Nhịphân
Phỏngvấn
Q11 Hình thức tham gia Loại hình BHYT đang áp dụng Phân Phỏng
Trang 31STT Biến
Loại biến số
Công cụ thu thập
A KIẾN THỨC VỀ BHYT Kiến thức chung về BHYT
Phỏngvấn
Nhịphân
A3 Biết thông tin về
BHYT từ đâu
Đối tượng biết được nhữngthông tin, quy định liên quanđến BHYT từ kênh nào
Phânloại
Phỏngvấn
Phânloại
Phỏng vấn
A5 Kiến thức về trách
nhiệm đóng BHYT
Đối tượng có biết thông tin vềviệc đóng BHYT mỗi tháng/ 3tháng/ 6 tháng/12 tháng không(tùy thuộc vào hình thức thamgia BHYT của đối tượng hiệnđang tham gia – Q11)
Phânloại
Phỏng vấn
A6 Kiến thức về mức
đóng thẻ BHYT
Mức đóng thẻ BHYT được quychuẩn theo mức nào (% lươnghay mức giá quy định chung)
Phânloại
Phỏng vấn
Phânloại
Phỏngvấn
Trang 32STT Biến
Loại biến số
Công cụ thu thập A8 Kiến thức về thời
gian thẻ BHYT có
hiệu lực
Đối tượng biết thông tin vềthời gian thẻ BHYT có hiệulực sau khi đăng kí tham gia/
đóng phí bao lâu
Phânloại
Phỏngvấn
A9 Kiến thức về thời
gian cấp thẻ BHYT
Đối tượng biết được thông tin
về việc cấp thẻ BHYT chongười tham gia là bao lâu saukhi đóng phí BHYT
Phânloại
Phỏng vấn
đăng kí ban đầu
Đối tượng có biết mức đượchưởng khi sử dụng các dịch vụKCB do BHYT chi trả khikhám đúng tuyến (dựa trên hìnhthức tham gia BHYT – Q11)
Phânloại
Phỏng vấn
A11 Kiến thức về mức
hưởng khi KCB
không đúng nơi
đăng kí ban đầu
Kiến thức về mức hưởng khiđối tượng KCB không đúngnơi đăng kí ban đầu
Phânloại
Phỏng vấn
Phânloại
Phỏng vấn
Phânloại
Phỏng vấn
Trang 33STT Biến
Loại biến số
Công cụ thu thập
chân/ tay giả, …)
Cơ sở KCB
A14 Kiến thức về quyền
lợi được lựa chọn
nơi đăng kí KCB
ban đầu
Ai là người quyết định lựachọn nơi đăng ký KCB banđầu trên thẻ BHYT
Phânloại
Phỏng vấn
A15 Kiến thức về quyền
lợi trong lựa chọn
cơ sở KCB ban đầu
Phânloại
Phỏngvấn
Thanh toán chi phí KCB bằng BHYT
Phânloại
Phỏng vấn
A17 Kiến thức về việc
thanh toán chi phí
Phânloại
Phỏngvấn
B THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI BHYT B1 Mức độ quan trọng
của BHYT
Đánh giá của đối tượng về mức
độ quan trọng của BHYT
ThangLikert
Phỏngvấn
Trang 34STT Biến
Loại biến số
Công cụ thu thập B2 Mức độ cần thiết của
BHYT
Đánh giá của đối tượng về mức
độ cần thiết của BHYT
ThangLikert
Phỏngvấn
B3 Mức độ quan tâm
của BHYT
Đánh giá của đối tượng về mức
độ quan tâm đối với BHYT
ThangLikert
Phỏngvấn
B4 Dự định tìm hiểu
thông tin về BHYT
Đối tượng có dự định sẽ tìmhiểu các thông tin liên quanđến BHYT
Nhịphân
Phỏngvấn
B5 Nội dung thông tin
về BHYT đối tượng
muốn tiếp cận
Thông tin về chế độ BHYT,quyền lợi và trách nhiệm khitham gia BHYT, … mà đốitượng tiếp cận
Phânloại
Phỏngvấn
B6 Kênh thông tin đối
tượng muốn tìm hiểu
Đối tượng mong muốn đượcnhận thông tin về BHYT từnhững kênh/nguồn nào?
Phânloại
Phỏngvấn
- Nhận thức về BHYT
Kiến thức chung về BHYT, các kiến thức liên quan phân theo 05 mục thuộcluật BHYT (bao gồm mức đóng và trách nhiệm đóng; mức hưởng; thẻ BHYT; cơ sởKCB ban đầu; thanh toán chi phí BHYT)
Thái độ đối với BHYT; thái độ, niềm tin với DVYT chi trả bằng BHYTđược cung cấp
Dự định tìm hiểu về BHYT; dự định tiếp cận và sử dụng BHYT
- Chất lượng và sự cung ứng DVYT chi trả bằng BHYT
Chất lượng dịch vụ (thời gian mở cửa, thời gian chờ đợi, cơ sở vật chất, …)
Trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ của bác sĩ và nhân viên y tế
Thủ tục hành chính, cách tổ chức, cơ cấu của DVYT chi trả bằng BHYT
Sự tư vấn hỗ trợ, hướng dẫn sử dụng BHYT của nhân viên y tế
Chi phí KCB, chi phí gián tiếp, quà cáp, …
Trang 35- Tình trạng sống lưu động
Tần suất di cư, địa điểm chuyển đến
Hệ thống y tế nơi chuyển đến và tính tiếp cận của LĐDC đối với hệ thống
Nơi ở tại địa phương chuyển đến (xa/ gần CSYT), các điều kiện sống khác
- Thời gian làm việc & điều kiện làm việc
Thời gian làm việc (dài/ ngắn, ca ngày/ đêm, chế độ nghỉ ngơi, …)
Các yếu tố khác liên quan đến điều kiện làm việc: địa điểm làm việc xa,không thuận tiện với CSYT, môi trường làm việc, …
- Điều kiện kinh tế và khả năng chi trả
Đánh giá thu nhập bình quân hàng tháng với nhu cầu CSSK
Đánh giá mức chi phí dành cho CSSK và chi phí khi sử dụngBHYT
Các chi phí gián tiếp, chi phí cơ hội khi sử dụng DVYT chi trả bằng BHYT
11 Hạn chế nghiên cứu
- Đối tượng trong nghiên cứu là nhóm LĐDC làm việc trong lĩnh vực xây dựng,thường di chuyển liên tục theo nhu cầu công việc nên các nghiên cứu về nhómLĐDC này tại Việt Nam còn ít và hạn chế do khó tiếp cận được đối tượng và nghiêncứu sâu về nhóm đối tượng này
- Đối tượng trong nghiên cứu có nhiều điểm hạn chế do phần lớn là nam, chỉ làngười di cư thuộc lĩnh vực xây dựng nên không có tính đại diện cho cả quần thểLĐDC tại quận Cầu Giấy
- Nghiên cứu được thực hiện ở địa điểm là một dự án trọng điểm quốc gia nên
có thể có những sai số nhất định trong quá trình thu thập thông tin do sai lệch trongcung cấp thông tin từ phía người sử dụng lao động hoặc người lao động do hạn chế
về trình độ học thức nên không hiểu rõ hình thức BHYT chi trả bởi người sử dụnglao động
- Nghiên cứu về nhận thức về BHYT của nhóm LĐDC còn là một đề tài mới ởViệt Nam, chưa có định nghĩa chung hay hệ thống phân loại nhóm đối tượng LĐDCnên nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tổng hợp, so sánh thông tin