LIÊN KẾT VÀ CẤU TRÚC CỦA KIM LOẠI CHUYỂN TIẾP VÀ BÁN DẪN 5.1. GẦN ĐÚNG LIÊN KẾT CHẶT Kim loại chuyển tiếp không được mô tả bằng mô hình NFE dùng cho liên kết kim loại, vì các electron d của KLCT liên kết mạnh với nguyên tử chủ, tạo thành liên kết cộng hoá trị không bão hoà với các lân cận. Các liên kết d này chịu trách nhiệm về các tính chất cấu trúc và cố kết của kim loại chuyển tiếp. Liên kết giữa các electron d trong kim loại chuyển tiếp và các electron sp trong các bán dẫn có thể được mô tả trong khuôn khổ liên kết chặt (tight bindingTB). 5.1.1. Gần đúng liên kết chặt Ta áp dụng phương pháp liên kết chặt cho các hệ khối (bulk systems) một cách dễ dàng bằng cách xét mạng tinh thể gồm các nguyên tử với các orbital s (s) phủ nhau và các mức năng lượng nguyên tử tự do tương ứng là Es . Mở rộng phương pháp LCAO với phân tử lưỡng nguyên tử cho mạng tuần hoàn gồm N nguyên tử, ta tìm một hàm sóng k là tổ hợp tuyến tính của các orbital nguyên tử, cụ thể là (5.1) Thừa số pha bảo đảm cho thoả mãn định lí Bloch, , vì (5.2) Phương trình Schrödinger (5.3) có nghiệm (5.4) Giả thiết như thường lệ, thế tinh thể V coi như là tổng của các thế nguyên tử chồng chất lên nhau, v, ta có (5.5) và (5.6) vì . Trong phép gần đúng liên kết chặt, bỏ qua các tích phân ba tâm, ứng với ở (5.5) và tích phân phủ với ở (5.6), ta tìm được biểu thức TB cho trị riêng , tức là (5.7) Số hạng thứ hai là độ dịch năng lượng do thế của các nguyên tử xung quanh gây nên. Dấu ở tổng dùng để loại trừ trường hợp R = 0. Giống như với phân tử lưỡng nguyên tử, ta bỏ qua số hạng trường tinh thể này. Nó không làm thay đổi cấu trúc dải năng lượng của kim loại chuyển tiếp hay bán dẫn. Cấu trúc dải, , được viết lại trong gần đúng liên kết chặt là: (5.8) trong đó là tích phân liên kết giữa các orbital s. Cấu trúc dải cho mạng lập phương đơn giản, nếu giả thiết các tích phân liên kết chỉ ghép 6 nguyên tử lân cận gần nhất, với các vectơ vị trí được cho bởi: (5.9) trong đó, . Như vậy, trị riêng biến thiên theo hàm sin trong vùng Brillouin. Nói riêng, theo các phương và , ta có (5.10) Hình 5.1a cho thấy đáy của dải là ở tâm vùng Brillouin (0,0,0), còn đỉnh của dải thì ở biên vùng Brillouin , vì . Từ Hình 5.1a, ta thấy đáy và đỉnh của dải lần lượt ứng với các trạng thái hoàn toàn liên kết và hoàn toàn phản liên kết, giữa cả sáu nguyên tử lân cận, nên độ rộng của dải s là . Mật độ trạng thái được thấy trên Hình 5.1b. Ta thấy rõ các kì dị van Hove, xuất phát từ các dải phẳng, ở biên vùng Brillouin. Cấu trúc của dải p liên kết chặt có thể thu được bằng cách viết dưới dạng tổ hợp tuyến tính của ba tổng Bloch cho trạng thái p, ứng với các orbital px, py, pz , tức là
Trang 1Chương V LIÊN KẾT VÀ CẤU TRÚC CỦA KIM LOẠI CHUYỂN TIẾP VÀ BÁN DẪN
5.1 GẦN ĐÚNG LIÊN KẾT CHẶT
Kim loại chuyển tiếp không được mô tả bằng mô hình NFE dùng cho liên kết kim loại, vì các electron d của KLCT liên kết mạnh với nguyên tử chủ, tạo thành liên kết cộng hoá trị không bão hoà với các lân cận Các liên kết d này chịu trách nhiệm về các tính chất cấu trúc và cố kết của kim loại chuyển tiếp
Liên kết giữa các electron d trong kim loại chuyển tiếp và các electron sp trong
các bán dẫn có thể được mô tả trong khuôn khổ liên kết chặt (tight binding-TB).
5.1.1 Gần đúng liên kết chặt
Ta áp dụng phương pháp liên kết chặt cho các hệ khối (bulk systems) một cách
dễ dàng bằng cách xét mạng tinh thể gồm các nguyên tử với các orbital s (s) phủ
nhau và các mức năng lượng nguyên tử tự do tương ứng là Es Mở rộng phương
pháp LCAO với phân tử lưỡng nguyên tử cho mạng tuần hoàn gồm N nguyên tử, ta
tìm một hàm sóng k là tổ hợp tuyến tính của các orbital nguyên tử, cụ thể là
R
Thừa số pha bảo đảm cho k r thoả mãn định lí Bloch,
k r R kRk r , vì
1 2
s
1 2
s
/
/ '
e e
i i
i
e
k R S kS
k
R
R R S kS
k
r R r
(5.2)
Phương trình Schrödinger
có nghiệm
*
*
ˆH d
E
d
k
k k
r
Giả thiết như thường lệ, thế tinh thể V coi như là tổng của các thế nguyên tử chồng chất lên nhau, v, ta có
2
,
m
(5.5)
và
1
*
,
ei
R S
Trang 2vì s* r r Trong phép gần đúng liên kết chặt, bỏ qua các tích phân ba tâm, ứng với R S T ở (5.5) và tích phân phủ với R S ở (5.6), ta tìm được biểu thức TB cho trị riêng Ek, tức là
k
(5.7)
Số hạng thứ hai là độ dịch năng lượng do thế của các nguyên tử xung quanh gây
nên Dấu ' ở tổng dùng để loại trừ trường hợp R = 0 Giống như với phân tử lưỡng
nguyên tử, ta bỏ qua số hạng trường tinh thể này Nó không làm thay đổi cấu trúc dải năng lượng của kim loại chuyển tiếp hay bán dẫn Cấu trúc dải, E k , được
viết lại trong gần đúng liên kết chặt là:
k
R
trong đó sslà tích phân liên kết giữa các orbital s
Cấu trúc dải cho mạng lập phương đơn giản, nếu giả thiết các tích phân liên kết chỉ ghép 6 nguyên tử lân cận gần nhất, với các vectơ vị trí R
a , , , 0 0 0 , a , , , , 0 0 0 a được cho bởi:
trong đó,
Như vậy, trị riêng biến thiên theo hàm sin trong vùng Brillouin Nói riêng, theo các phương 1 0 0 , , và 1 1 1 , , , ta có
s
2ss
k
k
Hình 5.1a cho thấy đáy của dải là
ở tâm vùng Brillouin (0,0,0), còn
đỉnh của dải thì ở biên vùng
Brillouin / a 1 1 1 , , , vì ss 0
Từ Hình 5.1a, ta thấy đáy và đỉnh
của dải lần lượt ứng với các trạng
thái hoàn toàn liên kết và hoàn toàn
phản liên kết, giữa cả sáu nguyên tử
lân cận, nên độ rộng của dải s là
2 6 ss Mật độ trạng thái được
thấy trên Hình 5.1b Ta thấy rõ các kì
dị van Hove, xuất phát từ các dải
phẳng, ở biên vùng Brillouin
Cấu trúc của dải p liên kết chặt có thể thu được bằng cách viết kdưới dạng tổ hợp tuyến tính của ba tổng Bloch cho trạng thái p, ứng với các orbital px, py, pz , tức
là
Hình 5.1
Trang 3 1 2/
, ,
ei
x y z
k
R
Thay (5.11) vào (5.3), ta thu được định thức thế kỉ 33, trong gần đúng liên kết chặt, cho dải p như sau:
Ep Ek ' T' 0 (5.12)
trong đó, các yếu tố ma trận được cho bởi
*
R
Các tích phân liên kết *v 'd rkhông chỉ phụ thuộc vào khoảng cách R, mà
còn phụ thuộc hướng của vectơ đơn vị theo phương R là R ˆ l m n , , với l, m, n là
các cosin chỉ phương Năm 1954, Slater và Koster đã tính được:
*
xv dx l l
*
xv yd lm lm
*
xv dz ln ln
Các tích phân liên kết khác có thể thu được từ các biểu thức trên bằng cách hoán vị vòng quanh
Cấu trúc dải cho mạng lập phương đơn giản gồm các orbital p có thể tính được
Ta giả thiết chỉ có tương tác giữa các nguyên tử cạnh nhau, thì các yếu tố ma trận chéo được cho bởi
yy
T và Tzzthu được từ Txxbằng cách hoán vị vòng quanh
Với mạng lập phương đơn giản, các yếu tố ma trận không chéo triệt tiêu Do đó, theo phương 1 0 0 , , , tức là phương k k , , 0 0 , hay phương X, ta có
p
cos cos cos
ka
ka
Tỉ số của các tích phân liên kết của các nguyên tố hoá trị sp được Harrison tìm được từ việc khảo sát cấu trúc dải năng lượng, theo mô hình liên kết chặt, cho tinh thể silic và germani Harrison thu được:
pp : pp : sp :ss = 2,31 ; -0,58 : 1,31 : -1,00 (5.19)
Như vậy, trong gần đúng bậc một, ta có thể bỏ qua pp so với pp, và thu được
p
2pp 2pp 2pp
cos ka
Cấu trúc dải như vậy được phác thảo trên Hình 5.2 cho phương 1 0 0 , , Ta thấy,
ở tâm vùng Brillouin, các trị riêng suy biên bội ba, do tính đối xứng lập phương của
Trang 4mạng tinh thể Trạng thái đơn ứng với liên kết giữa các orbital px, còn trạng thái đôi
ứng với liên kết không tán sắc (không phụ thuộc k) giữa các orbital cạnh nhau p y và
pz Sự suy biến bị khử hoàn toàn
dọc theo phương k không có đối
xứng đặc biệt Theo (5.12) và
(5.16), có ba trị riêng phân biệt
Cấu trúc dải của các trạng
thái d trong gần đúng liên kết
chặt có thể thu được nếu viết k
như là tổ hợp tuyến tính của của
năm tổng Bloch ứng với năm
orbital nguyên tử d Ta thu được
định thức thế kỉ 55 trong gần
đúng liên kết chặt
0
EI
trong đó
R
với , ' xy yz zx x , , , 2 y2, 3 z2 r2 Các yếu tố ma trận có thể được biểu thị theo ba tích phân liên kết cơ bản dd, dd và dd bằng cách sử dụng bảng của Slater và Koster (1954) Tỉ số giữa các tích phân liên kết được lấy theo lí thuyết dải năng lượng của Andersen (1973)
Hình 5.3 cho thấy các dải năng lượng cho mạng tinh thể có cấu trúc fcc và bcc dọc theo các phương 1 0 0 , , và 1 1 1 , , trong vùng Brillouin Ta thấy có hai mức
năng lượng ở tâm vùng Brillouin, ở điểm , một mức suy biến bội ba, còn một mức suy biến bội hai Mức suy biến
bội ba bao gồm các orbital T2g
là xy, yz và zx; các orbital này
là tương đương với nhau trong
một lân cận lập phương Mức
suy biến bội hai bao gồm các
orbital Eg là x2 - y2 và 3z2 - r2 ;
các orbital này không tương
đương với các orbital T2g, vì
chúng hướng dọc theo các trục
lập phương Suy biến bị khử
một phần dọc theo các phương
đối xứng 1 0 0 , , và 1 1 1 , , ,
như thấy trên Hình 5.3, vì rằng các hàm riêng tương đương ở k = 0 có thể không tương đương ở k ≠ 0 do thừa số pha tịnh tiến ei k R
Hình 5.2
Hình 5.3
Trang 55.1.2 Dải lai NFE-TB
Các kim loại chuyển tiếp được đặc trưng bởi dải
d liên kết tương đối chặt (TB), với độ rộng W, dải
này phủ và lai với dải sp electron gần tự do (NFE)
rộng hơn nhiều, như thấy trên Hình 5.4 Sự khác
nhau về tính chất của dải hoá trị sp và dải d có
nguồn gốc từ chỗ lớp d nằm ở phía trong của lớp hoá
trị s, dẫn đến sự phủ yếu của các orbital d của các
nguyên tử trong tinh thể khối Thí dụ, với nguyên tử
hiđrô, tỉ số khoảng cách đến tâm của các hàm sóng
3d và 4s là 0,44 : 1 Vì vậy, ta có thể trông đợi là
cấu trúc dải năng lượng của kim loại chuyển tiếp
được mô tả chính xác bởi phương trình thế kỉ lai
NFE-TB dưới dạng
0
EI
EI
trong đó Clà ma trận NFE của electron sp và D là
ma trận TB của electron d Ma trận lai H ghép và trộn các trạng thái Bloch sp và
d có cùng đối xứng
Mật độ trạng thái Z(E) của kim loại
chuyển tiếp không đồng đều trong toàn dải
như được thấy trên sơ đồ ở Hình 5.4 Nó có
nhiều cấu trúc phức tạp, tuỳ thuộc vào mạng
tinh thể của kim loại chuyển tiếp Hình 5.5
cho thấy một thí dụ về dải sp (NFE) và dải d
(TB) của kim loại chuyển tiếp Dải sp rộng,
có dạng parabol, dải d tương đối hẹp, có cấu
trúc Hình 5.5a cho thấy hai dải khi chưa có
sự lai Hình 5.5b biểu diễn hai dải khi có sự
lai giữa chúng Phần gạch chéo biểu thị cảc
trạng thái bị chiếm bởi electron Ta nhận thấy
mức Fermi là chung cho hai dải
Năng lượng liên kết của kim loại chuyển
tiếp có thể được tính toán bằng cách lấy tổng
theo mọi trạng thái bị chiếm trong các dải
NFE và TB Hình 5.6 cho ta năng lượng cố kết dọc theo các dãy kim loại chuyển tiếp 3d và 4d Ta có thể tách ra 5 thành phần đóng góp vào năng lượng cố kết như sau:
1 Sự chuẩn bị cho nguyên tử (atomic preparation) là năng lượng cần thiết để
lấy trạng thái cơ bản của nguyên tử tự do và đưa nó lên trạng thái singlet có một electron hoá trị, vì đó là tình huống gần nhất với trường hợp kim loại chuyển tiếp không có từ tính Ta thấy thành phần này cho đóng góp dương (hoặc bằng không ở kim loại quý Cu và Ag) Nó lớn nhất ở giữa dãy, vì ở đó quy tắc Hund về sự ghép các trạng thái dẫn đến sự ổn định đặc biệt của lớp electron d bị chiếm một nửa
Hình 5.4 Sơ đồ mật độ trạng
thái của dải sp (đường đứt nét) và dải d (đường liền nét) của kim loại chuyển tiếp, khi
sự lai sp-d được bỏ qua
Hình 5.5 Dải sp và dải d trong
kim loại chuyển tiếp (a) Khi bỏ qua sự lai (b) Khi kể đến sự lai
Trang 62 Năng lượng tái chuẩn hoá có nguồn gốc từ sự dịch trọng tâm của dải d khi
các nguyên tử liên kết với nhau, có giá trị cỡ vài electron von
3 Năng lượng của dải sp là năng lượng của electron trong dải dẫn NFE Nó có
giá trị âm và nhỏ ở
cuối của dãy nguyên
tố, và giảm đến
không ở giữa dãy do
sự đẩy mạnh gây nên
bởi sự trực giao với
các trạng thái lõi
Khác với các kim loại
đơn giản như Na,
người ta thấy đáy dải
của kim loại chuyển
tiếp đi lên nhanh dưới
tác dụng của sự nén
do tỉ phần lớn của thể
tích bị chiếm bởi lõi
trong nguyên tử cân
bằng Các electron sp
tác dụng áp suất
hướng ra phía ngoài ở
kim loại chuyển tiếp, trong trạng thái cân bằng
4 Năng lượng liên kết d là năng lượng của các electron d, được đo đối với trọng
tâm của dải TB, tức là
F
0
E
trong đó Z Ed là mật độ trạng thái của dải d TB Nó cũng tương tự với năng
lượng liên kết được xác định cho phân tử hoá trị s đã được xét ở Chương 2 Ta thấy
nó mang dấu âm và có giá trị lớn ở giữa dãy Giả thiết mật độ trạng thái của dải d
có dạng chữ nhật với độ rộng dải là W , và mật độ trạng thái cho một nguyên tử có giá trị không đổi bằng 10/W, như trên Hình 5.4, ta tính được tích phân (5.25) là
1
10 20
(xem (3.13))
Kết quả này giải thích dạng biến thiên theo đường parabol của năng lượng liên kết electron d dọc theo dãy 3d và 4d, như thấy trên Hình 5.6 Năng lượng liên kết electron d bằng không ở các kim loại quý Cu và Ag, vì lớp d của các kim loại này
bị chiếm đầy bởi electron
5 Năng lượng lai sp-d là đóng góp từ yếu tố ma trận lai H , dẫn đến sự trộn lẫn dải sp NFE và dải d TB Như mong đợi, năng lượng này có giá trị âm, vào khoảng 2 eV trong cả dãy
5.2 TỪ TÍNH CỦA KIM LOẠI CHUYỂN TIẾP
Hình 5.6 Các thành phần đóng góp vào năng lượng cố
kết của kim loại chuyển tiếp 3d và 4d
Trang 7Ta xét từ tính của các kim loại Cơ chế gây nên từ tính cũng chính là kết quả của tương tác trao đổi đã dẫn đến quy tắc Hund trong nguyên tử, tính thuận từ của
O2 và momen từ của các oxit kim loại chuyển tiếp Tương tác trao đổi hạ thấp năng lượng của một electron một lượng tỉ lệ với số electron có spin cùng chiều Như vậy, năng lượng trao đổi là cực tiểu, nếu mọi electron có spin cùng chiều Đối lập lại với
xu hướng này là sự tăng năng lượng dải khi chuyển các electron từ dải bị chiếm bởi các electron có spin ngược chiều nhau sao cho chúng có spin cùng chiều, nhưng ứng với năng lượng dải lớn hơn Chính phần năng lượng dải này ngăn cản tính sắt
từ của các kim loại thông thường Nhưng ở các kim loại chuyển tiếp, thì mật độ trạng thái lớn lại làm giảm độ tăng năng lượng để lật spin, khiến cho kim loại chuyển tiếp có thể có từ tính
Ta hãy xét trường hợp kim loại chuyển tiếp nhóm 3d Các kim loại chuyển tiếp
có lớp 3d chưa đầy Dải năng lượng 3d có mật độ trạng thái lớn, nhưng chiếm khoảng năng lượng hẹp Một cách gần đúng khá tốt là coi như dải 3d có dạng chữ nhật như trên Hình 5.5
Giả sử số electron lớp 3d là N Năng lượng liên kết của các electron trong dảid
này, tức là năng lượng dải (5.26)
Ở trạng thái vật liệu không có từ tính, thì momen từ nguyên tử bằng không Như vậy, số electron có spin hướng lên trên và hướng xuống dưới là bằng nhau Ta có thể coi dải d như gồm hai dải con, mỗi dải chứa một nửa số electron Các electron trong một dải con có spin hướng lên trên, còn trong dải kia - có spin hướng xuống dưới
Để cho momen từ của nguyên tử khác không, ta giả sử chuyển một tỉ phần x
electron có spin hướng xuống dưới thành electron có spin hướng lên trên, nghĩa là
1
2 x N
electron có spin lên trên và d
1
2 x N
electron có spin xuống dưới Khi đó, năng lượng dải trở thành
2 2 d
bond bond 20
10
U U W x
Khi x , năng lượng dải 0 Ubond' có giá trị cực tiểu và bằng Ubond
Ta đưa vào năng lượng tương tác trao đổi U x cho mỗi cặp electron có cùng spin ở trong một nguyên tử Vậy, tính trung bình cho một electron, ta có năng lượng trao đổi là 1
2U x
Nếu có m electron có cùng spin trên một nguyên tử, thì
năng lượng tương tác trao đổi là
2
2 x
m U
1
2 x N
electron có spin hướng lên trên và d
1
2 x N
electron có spin hướng xuống dưới, thì năng lượng trao đổi là
Trang 82 2
d x
1 4
(5.29)
Năng lượng này có cực đại khi x Như vậy trạng thái không có từ tính với0 0
x trở nên không bền vững nếu
2
d
d x
20
10
N
5
W
Nếu điều kiện này được thoả mãn thì spin của các electron sẽ định hướng theo quy tắc Hund giống như trong các nguyên tử Nếu N , mọi electron sẽ có cùngd 5 spin và momen từ toàn phần của nguyên tử tỉ lệ với N Nếu d N , momen từd 5 của nguyên tử tỉ lệ với 10 N d Hình 5.7 minh họa hai trường hợp này
N
N
Hình 5.7
Trang 9Bảng dưới đây cho ta giá trị U và x
5
W
cho các kim loại chuyển tiếp Ta thấy Co
và Ni thoả mãn điều kiện x
5
W
U Nhìn chung, chỉ các nguyên tố ở cuối dãy mới thoả mãn điều kiện này Trên thực tế, Cr, Fe là kim loại có từ tính, tuy nhiên theo bảng này, thì điều kiện này không được thoả mãn Đó là vì mô hình dải 3d hình chữ nhật là một sự đơn giản hoá, vả lại, sự chênh lệch ở đây cũng không nhiều
Tiêu chuẩn x
5
W
U còn giúp ta giải thích vì sao các kim loại hoá trị sp không
có từ tính Đó là vì ở các kim loại nay, dải sp (thường là dải NFE) rộng
Ta hãy xét cụ thể hơn trường hợp của Ni Cấu hình electron của Ni là 3d 4s Ở8 2
Ni, dải sp và d nằm trong cùng khoảng năng lượng, nên có sự chồng chất một phần giữa hai dải Dải sp (NFE) có mật độ trạng thái tỉ lệ E , trải ra trên khoảng năng1 2/
lượng rộng; còn dải d thì có mật độ trạng thái lớn, nhưng chiếm khoảng năng lượng hẹp Có thể coi gần đúng mật độ trạng thái của dải sp chỉ bằng khoảng 1/10 dải d Thực nghiệm cho thấy momen từ trung bình cho một nguyên tử là 0 54, B Đó là
do có sự san sẻ electron giữa hai dải sp và d, sao cho ở trạng thái cân bằng, mức Fermi là chung cho cả hệ Ta có sơ đồ các dải năng lượng ở Ni như trên Hình 5.8 Theo sơ đồ này, ta thấy có momen từ 0 54, Bkhông được bù trừ
Trang 10Người ta nghiệm lại điều này, bằng cách lí luận rằng nếu thêm Cu vào Ni, sao cho electron tự do của Cu lấp đầy chỗ trống trong dải d, thì hợp kim này không còn
từ tính nữa Tuy nhiên, khi Cu được pha vào Ni, thì electron của Cu lấp cả dải d và dải sp Muốn có thêm 0,54 electron ở dải d thì cần đưa thêm vào dải sp khoảng 0,06 electron, tức là cần khoảng 0,6 electron cho một nguyên tử Nghĩa là hợp kim 40%Ni-60% Cu sẽ mất tính sắt từ Kết quả thí nghiệm được thấy trên hình Khi Cu được pha vào Ni, thì mô men từ trung bình của hợp kim giảm đi Đường thực nghiệm kéo dài cắt trục hoành ở 60% Cu
5.3 LIÊN KẾT BÃO HOÀ TRONG BÁN DẪN CẤU TRÚC DẢI NĂNG LƯỢNG CỦA BÁN DẪN
Các bán dẫn điển hình là Si, Ge có cấu trúc giống như kim cương Đó là cấu trúc tứ diện, trong đó, mỗi nguyên tử nằm ở tâm của một tứ diện có đỉnh là các nguyên tử giống nó Trong trường hợp các bán dẫn hợp chất hai thành phần như CdTe, ZnSe, GaAs , cấu trúc cũng có dạng như vậy, chỉ khác là nguyên tử ở tâm
và ở các đỉnh của tứ diện là khác nhau
Sự tạo thành dải năng lượng và dải cấm trong bán dẫn tứ diện không phải là kết quả của tính tuần hoàn tầm xa của mạng tinh thể, cũng không phải là do sự tách
mức năng lượng nguyên tử chưa đủ rộng để tạo thành dải liên tục Nó chính là khe
năng lượng lai (hay dải cấm lai), được mở ra bên trong của dải năng lượng rẩt rộng
của các trạng thái sp3 như thấy trên Hình 5.10 Sự tách mức sp ( Esp Ep Es) trong nguyên tử cô lập ở C, Si, Ge và Sn nằm trong khoảng 7,51 eV, nên ta có thể coi gần đúng là Esp Ep Es không đổi trong cả dãy các bán dẫn này Tuy nhiên, tích phân liên kết lại tăng lên khoảng hai lần, khi ta đi từ Sn đến C do sự giảm độ dài liên kết giữa các lân cận gần nhất Hình 5.10 mô tả phác thảo gần đúng
về giá trị năng lượng cho dãy này Ta có Si với Esp 7 eVvà độ rộng dải toàn phần khoảng 20 eV Các vật liệu C, Ge và Sn được đánh dấu trên sơ đồ này, ứng với các độ rộng dải cấm 5,5; 0,7 và 0,1 eV
Hình 5.9