Cơ hội và thách thức của ngành ngân hàng khi việt nam tham gia vào TPP :Tài liệu mô tả những cơ hội cũng như thách thức mà ngành ngân hàng Việt nam sẽ gặp phải khi tham gia vào hiệp định thương mại TPP. Từ đó, đề ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục nhược điểm, vượt qua thử thách để ngành ngân hàng đạt lợi thế cạnh tranh bền vững trong khu vực.
Trang 1CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TPP
Lớp : Cao học K25
Kinh doanh thương mại
Môn học : Marketing Quốc tế
Hoàng Cửu Long
Thực hiện : Lưu Yến Diễm
Trần Thanh Huy
TP.HCMTHÁNG 01/2016
Trang 2MỤC LỤ
I MỞ ĐẦU 2
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
III NỘI DUNG 3
1 Giới thiệu tổng quan Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Lộ trình đàm phán và ký kết hiệp định 3
1.3 Mục tiêu 3
1.4 Tầm quan trọng của TPP 4
1.5 Một số điều khoản liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng 5
2 Thực trạng ngành Ngân hàng Việt Nam trước thềm gia nhập TPP 7
2.1 Năng lực tài chính 7
2.2 Thị phần 7
2.3 Tốc độ tăng trưởng 8
2.4 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ 10
2.5 Công nghệ 12
2.6 Nguồn nhân lực 13
3 Những cơ hội và thách thức đối với ngành Ngân hàng khi Việt Nam gia nhập TPP .14 3.1 Cơ hội 14
3.2 Thách thức 17
4 Một số giải pháp và kiến nghị 19
4.1 Đẩy nhanh và thực hiện quyết liệt hơn nữa đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam 19
4.2 Nâng cao trình độ của đội ngũ nhân lực ngành tài chính – ngân hàng 20
4.3 Hoạch định chiến lược kinh doanh rõ ràng, có mục tiêu cụ thể, phù hợp 20
4.4 Tăng cường công tác quản trị rủi ro 21
4.5 Cải cách thể chế, cách thức điều hành và các chính sách của NHNN 22
Trang 3I MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hoá đã và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ khắp các quốc gia trên toàn thếgiới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Internet và hệ thống công nghệ thông tin đã trởthành nền tảng vững chắc, là động lực thúc đẩy thế giới loài người chuyển biến và thay đổinhanh chóng Thế giới đã và đang tiến dần đến xu hướng “mở” hầu như ở mọi mặt, mọi lĩnhvực Thế giới ngày càng phẳng hơn, nền kinh tế toàn cầu vận hành nhanh chóng và dễ dànghơn Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Bằng chứng là hơn một thập kỷ qua, ViệtNam đã ký kết, tham gia hàng loạt hiệp định thương mại song phương, đa phương, trở thànhđối tác chiến lược của hơn 10 quốc gia trên thế giới
Kể từ khi chính thức gia nhập Tổ chức Kinh tế Thế giới (WTO) vào năm 2007, Việt Nam đã
có những chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt ở mọi mặt Quá trình mở cửa hội nhập với nền kinh tếthế giới đã tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc, kéo theo các khíacạnh khác như văn hoá, giáo dục, xã hội chuyển biến nhanh chóng Bên cạnh những lợi ích
mà việc “mở cửa” mang lại, cũng không thể phủ nhận những thách thức to lớn mà chúng taphải đối mặt như: khủng hoảng kinh tế toàn cầu; du nhập văn hoá nước ngoài làm lu mờnhững giá trị, bản sắc văn hoá dân tộc; kiểm soát, điều hành kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, vănhoá, giáo dục trở nên phức tạp hơn bao giờ hết
Và bây giờ, Việt Nam lại sắp đón nhận một bước chuyển mình vô cùng lớn với việc tham giaHiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Những cơ hội và tháchthức nào mà chúng ta sẽ gặp phải? Những lợi ích gì chúng ta sẽ đạt được sau khi gia nhậpTPP? Việt Nam đã chuẩn bị được gì và sẽ phải chuẩn bị thêm điều gì cho những thay đổi sắptới? Đó là những câu hỏi mà các doanh nghiệp Việt Nam phải nghiêm túc trả lời để chuẩn bịnguồn lực cũng như các chiến lược kinh doanh cho thời gian sắp tới, cũng chính là lý do vàmục tiêu mà đề tài này hướng tới
Vì lý do giới hạn thời gian và phạm vi nghiên cứu, nhóm chúng em lựa chọn lĩnh vực Ngânhàng để thực hiện đề tài này
Như đã trình bày ở phần Mở đầu, đề tài này tập trung phân tích nhũng cơ hội và thách thức màngành ngân hàng Việt Nam sẽ gặp phải khi gia nhập TPP Đồng thời, thông qua việc phân tíchthực trạng ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn trước khi gia nhập TPP Đề tài sẽ chỉ ranhững điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện tại Từ đó, đề ra những
Trang 4kiến nghị và giải pháp nhằm nắm bắt những cơ hội và đối phó với những thách thức để tăngcường năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Nam.
1 Giới thiệu tổng quan Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-PacificStrategic Economic Partnership Agreement - viết tắt là TPP) là một hiệp đinh, thỏa thuậnthương mại tự do được ký kết giữa 12 nước với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khuvực châu Á-Thái Bình Dương TPP được kỳ vọng là mô hình mới về hợp tác kinh tế khu vực,tạo thuận lợi tối đa cho thương mại, đầu tư và nếu có thể sẽ trở thành hạt nhân để hình thànhHiệp định thương mại tự do (FTA) chung cho toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Tiến trình đàm phán cho hiệp định bị đình hoãn nhiều lần do thiếu tiếng nói chung xoay quanhnhiều vấn đề như: giảm thuế xuất-nhập khẩu, bảo trợ hàng hóa nội địa, quyền sở hữu trí tuệ…
Ngày 05/10/2015 tại Atlanta, Hoa Kỳ, tiến trình đàm phán hiệp định đã kết thúc thành công.Hiện tại, 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand,Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản
Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhậpkhẩu giữa các nước thành viên Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chunggiữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động…
Trang 5Bên cạnh đó, TPP còn thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia thành viên, thôngqua các biện pháp giảm (thậm chí là loại bỏ hoàn toàn trong một số trường hợp) các hàng ràothuế quan giữa các nước, giúp tăng cường trao đổi hàng hóa và dịch vụ Cùng với tăng cườngdòng chảy vốn, TPP cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này.
Mỹ muốn TPP sẽ là điểm chốt mới của họ tại Châu Á sau nhiều năm Mỹ đã lún quá sâu vàokhu vực Trung Đông Ngoài ra, nhiều học giả còn cho rằng Mỹ muốn sử dụng TPP để tạo ramột nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá nhanh củaTrung Quốc Trung Quốc đã có lúc thể hiện ý định muốn tham gia TPP, nhưng nhiều điềukhoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hộitham gia vào thỏa thuận này
1.4 Tầm quan trọng của TPP
Tất cả các quốc gia thành viên của TPP đều thuộc Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái BìnhDương (APEC) với tổng dân số 650 triệu người, trung bình thu nhập bình quân đầu người đạt31.481 USD (năm 2011), tổng GDP lên đến hơn 20 nghìn tỷ USD, chiếm 40% GDP của cảthế giới và 30% khối lượng thương mại toàn cầu Khi có hiệu lực, TPP tạo ra một thị trườngchung đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp
Bên cạnh đó, không thể không chú ý đến việc đây là sáng kiến do Mỹ dẫn đầu Mỹ là nền kinh
tế lớn nhất thế giới và luôn coi khu vực châu Á – Thái Bình Dương là chìa khóa để tăngtrưởng trong tương lai Một số ý kiến còn cho rằng Mỹ đang cố gắng sử dụng TPP làm công
cụ để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quánhanh của Trung Quốc Nhiều người cũng tin rằng các thành viên khác của APEC cũng sẽtham gia TPP trong vài năm tới, khiến TPP càng quan trọng hơn
WTO hiện có tới 161 thành viên, vì vậy một trong những nhược điểm của tổ chức này là sựkhó khăn và dài lâu để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì
Hơn thế nữa, TPP sẽ đặt ra được các luật lệ quốc tế mà vượt qua phạm vi WTO như: chínhsách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát các công ty nhà nước, chất lượng sản phẩm
và lao động…
Hiện tại, phạm vi đàm phán của TPP đã nới rộng, bao gồm 22 lĩnh vực với các lĩnh vực đàmphán ưu tiên hiện nay như môi trường, công đoàn, lao động, đầu tư và sở hữu trí tuệ… Đặcbiệt, dịch vụ tài chính là lĩnh vực đàm phán được các nước TPP chú trọng quan tâm Với kỳvọng đưa TPP trở thành hiệp định tự do hóa của thế kỷ 21, các nước thành viên đã cùng đưa ra
Trang 6những cam kết sâu rộng về tăng cường tiếp cận thị trường tài chính, đặc biệt là mở cửa cácloại hình dịch vụ tài chính - ngân hàng Tính đến nay, sau 19 phiên đàm phán chính thức vànhiều phiên đàm phán nhóm, các nước tham gia TPP đã đạt được sự thống nhất về 16/21 điềukhoản trong dự thảo Chương dịch vụ tài chính liên quan đến nguyên tắc về chính sách quản lý,
tự do hóa và mở cửa thị trường Một số nghĩa vụ cam kết chính bao gồm không phân biệt đối
xử giữa nhà cung cấp dịch vụ tài chính trong nước và nước ngoài, cho phép các tổ chức tàichính nước ngoài cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới trên một số lĩnh vực, sản phẩm tàichính, bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính, nghĩa vụ về minh bạch hóa…Tuy nhiên, với số lượng thành viên lớn, ở nhiều trình độ phát triển khác nhau, mối quan tâmkhác nhau, đàm phán dịch vụ tài chính – ngân hàng vẫn còn một số vấn đề nhạy cảm cơ bảnchưa đạt được sự thống nhất như : đưa mua sắm chính phủ và trợ cấp chính phủ vào chươngdịch vụ tài chính; cơ chế ràng buộc các nước thành viên khi tiến hành sửa đổi các biện phápbảo lưu thì việc sửa đổi và mức độ sửa đổi sẽ tự động trở thành nghĩa vụ ràng buộc mức độ tự
do hóa thị trường của nước đó, nghĩa vụ cấp phép dịch vụ tài chính mới cho bất kỳ nước thànhviên TPP nào không gắn với việc sửa đổi luật trong nước, cơ chế giải quyết tranh chấp giữanhà đầu tư và nhà nước sở tại
1.5 Một số điều khoản liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng
Hiệp định TPP gồm có 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan tới thươngmại, bắt đầu từ thương mại hàng hóa và tiếp tục với hải quan và thuận lợi hóa thương mại; vệsinh kiểm dịch động thực vật; hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; quy định về phòng vệthương mại; đầu tư; dịch vụ; thương mại điện tử; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; cácchương về “các vấn đề xuyên suốt” nhằm bảo đảm Hiệp định TPP đạt được tiềm năng củamình về phát triển, tính cạnh tranh và tính bao hàm; giải quyết tranh chấp; ngoại lệ và các điềukhoản về thể chế Cụ thể như sau:
1 Các điều khoản ban đầu và định nghĩa chung
2 Thương mại hàng hóa
3 Dệt may
4 Quy tắc xuất xứ
5 Quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại
6 Các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật
7 Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
8 Phòng vệ thương mại
9 Đầu tư
10 Thương mại dịch vụ qua biên giới
Trang 721 Hợp tác và Nâng cao năng lực
22 Cạnh tranh và Tạo thuận lợi kinh doanh
30 Các điều khoản cuối cùng
Trong đó, có 2 chương liên quan trực tiếp đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng là Đầu tư vàDịch vụ tài chính Một số nội dung chính như sau:
Thị trường các nước là mở hoàn toàn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trừ khi cácthành viên đưa ra một ngoại lệ
TPP cho phép việc bán dịch vụ tài chính cụ thể qua biên giới sang một thành viên TPP
từ một nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên TPP khác, không yêu cầu nhà cungcấp dịch vụ phải thành lập một cơ sở tại một nước khác để bán các dịch vụ của mình
Một nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên TPP có thể cung cấp một dịch vụ tàichính mới tại thị trường của nước TPP khác nếu các công ty trong nước tại thị trườngnày được phép cung cấp dịch vụ đó
Hiệp định TPP bao gồm các cam kết cụ thể về quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ thanhtoán thẻ điện tử và chuyển thông tin để xử lý dữ liệu
Trang 8 Hiệp định TPP bao gồm các ngoại lệ duy trì quyền linh hoạt lớn cho các nhà quản lýtài chính của TPP thực hiện các biện pháp thúc đẩy sự ổn định tài chính và sự toàn vẹncủa hệ thống tài chính.
2 Thực trạng ngành Ngân hàng Việt Nam trước thềm gia nhập TPP
2.1 Năng lực tài chính
Tính đến Quý III năm 2015, các chỉ số về sức khoẻ tài chính của các ngân hàng Việt Nam đãtương đối ổn định Nhờ đề án tái cơ cấu hệ thống do Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo, hệ thốngngân hàng Việt Nam đã loại bỏ được nhiều ngân hàng yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranhcho các ngân hàng còn lại Trong năm qua, hàng loạt các vụ mua bán, sáp nhập trong ngànhngân hàng đã và đang diễn ra sôi nổi hơn bao giờ hết (MHB - BIDV, PG Bank - Vietinbank,Mekong Bank - Maritime Bank, Southern Bank – Sacombank, ) Cùng với các diễn biến sápnhập, mua bán như vậy, năng lực tài chính của các ngân hàng cũng được tăng lên đáng kểthông qua việc tăng vốn điều lệ, tăng tổng tài sản Các ngân hàng nằm ngoài làn sóng sápnhập trên cũng ráo riết tự tái cấu trúc, làm sạch và làm mạnh bản thân mình thông qua việctăng vốn điều lệ từ nhiều nguồn, nhiều hình thức khác nhau, đồng thời tái định vị thương hiệu
và tạo dựng hình ảnh hoàn toàn mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
Theo đó, sau khi PGBank sáp nhập vào VietinBank thì vốn điều lệ của VietinBank tăng thêm3.000 tỷ đồng, đạt hơn 42.000 tỷ đồng Tổng tài sản của ngân hàng này sẽ tăng thêm 25.000 tỷđồng, nợ tín dụng tăng thêm 15.000 tỷ đồng, huy động vốn tăng 18.000 tỷ đồng Sau khi MHBsáp nhập BIDV, thì BIDV có vốn điều lệ là 31.512 tỷ đồng Hoặc bằng phương án mời thêmnhà đầu tư, DongABank đã cùng Công ty cổ phần Kinh Đô tăng vốn từ 5.000 tỷ đồng lên6.000 tỷ đồng và mục tiêu đến cuối năm, DongABank sẽ tăng vốn lên 8.000 tỷ đồng Tính đếntháng 06/2015, sau khi nhận sáp nhập Southern Bank và thực hiện kế hoạch tăng vốn điều lệ
từ lợi nhuận kinh doanh, Sacombank đã tăng vốn điều lệ từ 12.425 tỷ đồng lên gần 18.853 tỷđồng Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cũng đã xin ý kiến cổ đông để tăng vốn điều lệ từ11.594 tỷ đồng lên 16.000 tỷ đồng trong năm nay
Các ngân hàng nhỏ hơn cũng nỗ lực gọi vốn từ các cổ đông hiện hữu Ngân hàng TMCP SàiGòn (SCB) thực hiện tăng vốn từ 12.294 tỷ đồng lên 14.294 tỷ đồng từ 27/4, Ngân hàngTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) dự kiến sẽ tăng vốn điều lệ từ mức 8.865 tỷ đồng lên mức10.486 tỷ đồng trong năm 2015
Trang 9Tính đến hết tháng 09/2015, theo các báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, quy mô vốn điều lệ củakhối Ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn nhiều so với khối Ngân hàng thương mại Cổphần nhưng lại sở hữu khối tài sản và thị phần cho vay vượt trội.
Theo số liệu thống kê cập nhật đến tháng 09/2015, tổng quy mô vốn điều lệ của khối Ngânhàng thương mại Nhà nước ở mức 137,7 nghìn tỷ đồng, chỉ chiếm 30,16% tổng vốn điều lệtoàn hệ thống Tuy nhiên, tổng tài sản của khối này đã tăng lên tới 3.157 nghìn tỷ đồng, chiếmtới 45,96% toàn hệ thống Bên cạnh đó, huy động vốn của khối Ngân hàng thương mại Nhànước vẫn chiếm thị phần lớn nhất trong toàn hệ thống với 46,19%; thị phần cho vay cònchiếm mức cao hơn với 50,89%
So với khối ngân hàng ngoại, hệ thống Ngân hàng Việt Nam tính đến thời điểm này vẫnchiếm phần lớn thị phần Theo đó, từ đầu năm đến nay Việt Nam đã có 47 chi nhánh ngânhàng nước ngoài, có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 53 văn phòng đại diện và 4 ngânhàng liên doanh Tuy nhiên, thị phần của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm6,92% tổng thị phần, trong khi ngân hàng 100% vốn và ngân hàng liên doanh chỉ chiếm tươngứng khoảng 3% và 0,75% tổng thị phần (xét theo tổng tài sản) Về tốc độ tăng thị phần, mặc
dù vốn điều lệ/vốn được cấp có xu hướng tăng khá nhanh từ mức 13% lên đến 19,1% (chưa kểgần 5% vốn góp, mua cổ phần của khối ngân hàng nước ngoài tại các ngân hàng thương mại
cổ phần Việt Nam), tuy nhiên, thị phần tổng tài sản và huy động vốn của khối ngân hàng nướcngoài chỉ tăng nhẹ (thị phần tổng tài sản tăng từ 10,4% năm 2009 lên 10,67% năm 2014, thịphần huy động vốn tăng từ 7,9% năm 2009 lên 8,19% năm 2014)
Có thể thấy, tuy hiện tại chưa xuất hiện nguy cơ chiếm lĩnh thị trường và cạnh tranh quá mứcđối với các tổ chức tín dụng Việt Nam từ các ngân hàng nước ngoài nhưng với hàng loạt cáchiệp định tự do thương mại và kinh tế dự kiến có hiệu lực, các ngân hàng nước ngoài, nhất làcác ngân hàng khu vực, sẽ tập trung nhiều hơn vào Việt Nam Từ đó, bức tranh thị phần ngànhngân hàng ở Việt Nam hoàn toàn có thể thay đổi nếu các ngân hàng trong nước không cóchiến lược kinh doanh thích hợp
2.3 Tốc độ tăng trưởng
Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Doanh thu 26,746.36 36,971.06 40,451.14 59,225.04 84,462.41 85,247.01 85,951.15 92,903.25
Tăng 19.47%
Trang 10trưởng
doanh thu
Bảng 1: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn ngành (đơn vị: tỷ đồng)
Sau khi hình thành năm 1990 ngành Ngân hàng có tốc độ phát triển rất mạnh mẽ Kể từ năm
2007 tới nay tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn ngành được xác định mức 19.47%, đây là mứctăng trưởng cao hơn 3 lần với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình (2007 - 2014) 6,14% củatoàn nền kinh tế Việt Nam kể từ năm 2007
Qui mô và tầm quan trọng của ngành Ngân hàng so với nền kinh tế cũng tăng lên theo thờigian và kể từ năm 2007 qui mô tín dụng/GDP trong nền kinh tế luôn ở mức hơn 80%, đồ thị 1
Bảng 2: ROE trung bình ngành, và của nhóm ngân hàng đại diện
Trang 11Qui mô ngành tăng lên, đi kèm với mức lợi suất ROE toàn ngành cũng được duy trì ở mức rấtcao, trung bình ngành ở mức trên 10%, trong cả điều kiện xấu của nền kinh tế, và suy thoáicủa ngành theo nền kinh tế, và nếu xét theo trung bình một chu kỳ kể từ năm 2008 - 2014 thìROE trung bình ngành Ngân hàng ở mức 15,42%, như số liệu ở bảng 2
Tốc độ tăng trưởng doanh thu cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, ROE ngành cao hơn cácngành còn lại trong nền kinh tế, cho thấy rằng ngành Ngân hàng đang ở giai đoạn tăng trưởng
Cho tới thời điểm hiện tại, nguồn thu từ lãi vay của hệ thống các ngân hàng Việt Nam chiếmkhoảng 75% - 80% tổng doanh thu, và điều này dẫn tới kết quả kinh doanh của các ngân hàngbiến động theo chu kỳ của nền kinh tế và các chính sách thắt chặt hay nới lỏng tiền tệ củaNHNN
Tốc độ tăng trường doanh thu của ngành hoàn toàn biến động theo tốc độ tăng trưởng GDPcủa Việt Nam, khi nền kinh tế suy thoái ngay lập tức doanh thu hệ thống ngân hàng sụt giảm,
và ngược lại khi tốc độ tăng trưởng nền kinh tế tăng lên thì doanh thu toàn ngành phục hồi Từ
đó, có thể thấy chu kỳ biến động kinh tế có tác động mạnh đến chu kỳ kinh doanh ngành Ngânhàng
Đồ thị 2: Tăng trưởng doanh thu ngành và tăng trưởng GDP
2.4 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Dịch vụ tiền gửi: là một trong những sản phẩm đầu vào mang tính cạnh tranh cao của cácngân hàng Yếu tố cạnh tranh cuả sản phẩm được thể hiện qua mức lãi suất huy động, triển
Trang 12khai các chương trình khuyến mãi, các chính sách ưu đãi đến từng đối tượng khách hàng(khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp)
Bảng 3: So sánh mức lãi suất huy động các kỳ hạn (2014-2015Q1)(Nguồn: Theo cập nhật của công ty chứng khoán Ngân hàng BIDV (BSC))
Nếu trước nay, các ngân hàng trong nước cạnh tranh nhau thông qua cuộc chạy đua lãi suấthuy động thì đến thời điểm đầu tháng 3 năm 2015, hàng loạt ngân hàng thương mại cổ phần
đã niêm yết biểu lãi suất tiền gửi mới theo xu hướng giảm từ 0,1%-0,5%/năm, ở tất cả các kỳhạn Hiện tiền gửi kỳ hạn 1 tháng tại Sacombank còn 4,3%/năm và kỳ hạn 12 tháng là5,7%/năm Theo khảo sát, Vietcombank là ngân hàng có mức lãi suất kỳ hạn 1 tháng thấp nhấttrên thị trường là 4%/năm, tiền gửi kỳ hạn 12 tháng đạt 6%/năm Việc giảm lãi suất như thế,giúp mặt bằng lãi suất trở về thực chất hơn bởi Việt Nam đang có lãi suất cao bậc nhất thếgiới Không những vậy, việc hạ lãi suất huy động sẽ tiết giảm chi phí đầu vào khi hoạt độngtín dụng chưa thật sự khởi sắc, tạo cơ hội giảm thêm lãi suất cho vay từ 1%-1,5%/năm trongnăm nay, các ngân hàng sẽ phát triển tốt sản phẩm tín dụng
Dịch vụ tín dụng: ngày càng đa dạng và phát triển mạnh mẽ Tín dụng là một trong những sảnphẩm kinh doanh sinh lời chủ yếu cuả ngân hàng Với mọi nỗ lực cuả mình, các ngân hàngViệt Nam đang đẩy mạnh các gói cho vay cá nhân và doanh nghiệp thông qua việc cạnh tranhlãi suất vay, rút ngọn các thủ tục rườm rà… Tuy nhiên, do các quy định tín dụng nhà nước cònnhiêù phức tạp, tình hình kinh tế chưa ổn định và sự xuất hiện các hình thức tín dụng “đen” đãtạo nhiêù trở ngaị cho các ngân hàng khi muốn phát triển mảng dịch vụ này
Dịch vụ thanh toán trong nưóc và dịch vụ thanh toán quốc tế: có sự phát triển không đồng đều
về chất lượng và số lượng Mặc dù, mỗi ngân hàng thương mại đều có bộ phận phụ tráchnghiên cứu, phát triển, thực hiện các lệnh thanh toán từ các cá nhân, doanh nghiệp nhưng dotrình độ chuyên môn còn hạn chế, tác nghiệp chưa chuyên nghiệp tạo nên sự chênh lệch giữacác ngân hàng trong nước Một số ngân hàng như Vietcombank, Sacombank là một trongnhững ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực thanh toán, chuyển tiền trong nước và quốc tế Tiểubiểu là Vietcombank đã 2 lần liên tiếp (gần nhất vào tháng 4 năm 2015) nhận Giấy chứng