Vì vậy, với đề tài nghiên cứu này chúng tôi muốn làm sáng tỏ nguyên nhân, tính chất và những nội dung thay đổi tư tưởng đạo đức Nho giáo, đặc biệt là sự thay đổi trong quan niệm về đạo t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Trọng Dung và PGS.TS Nguyễn Văn Phúc Những số liệu, cứ liệu đã nêu, trích dẫn trong luận án được sưu tầm có nguồn gốc, trích lục rõ ràng, chính xác Những kết luận của luận án là trung thực
Tác giả luận án
Mai Vũ Dũng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI 6
1.1 Các công trình nghiên cứu khái quát về Nho giáo và đạo đức Nho giáo 6
1.2 Các công trình nghiên cứu về Nho giáo và đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế
kỷ XIX 17
1.3 Một số công trình nghiên cứu về sự thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam và những vấn đề chính cần tiếp tục giải quyết, bổ sung trong luận án 24
Chương 2 TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA
SỰ THAY ĐỔI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO CUỐI THẾ
KỶ XIX Ở VIỆT NAM 32
2.1 Khái quát về Nho giáo và tư tuởng đạo đức Nho giáo 32
2.2 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tư tuởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế
Chương 4 Ý NGHĨA CỦA SỰ THAY ĐỔI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
NHO GIÁO VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX 121
4.1 Ý nghĩa của sự thay đổi đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo đối với xã hội
Việt Nam cuối thế kỷ XIX 121
4.2 Ý nghĩa của sự thay đổi đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo cuối thế kỷ XIX
đối với xã hội Việt Nam hiện nay ….133
KẾT LUẬN 146 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 149 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã, đang và sẽ là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Bởi vì, Nho giáo là hệ tư tưởng thống trị trong xã hội phong kiến Ở Việt Nam chế độ phong kiến đã bị xoá bỏ từ lâu, nhưng nhiều yếu tố giá trị và hạn chế của Nho giáo vẫn còn tồn tại Các học giả ở cả phương Đông và phương Tây đã để lại hàng kho sách nghiên cứu đánh giá về Nho giáo nói chung, tư tưởng đạo đức của Nho giáo nói riêng Vì vậy, đứng trước di sản khổng lồ ấy không thể bỏ qua ý kiến của những người đi trước, nhưng cần phải có cái nhìn mới khi toàn bộ vấn đề được đặt dưới ánh sáng của thế giới quan khoa học và tình hình thực tiễn của thời đại, đặc biệt là nửa cuối thế kỷ XIX với những biến động lớn của xã hội Việt Nam, đạo đức Nho giáo đã có những thay đổi nhất định trên nhiều phương diện
Ở Việt Nam, nghiên cứu Nho giáo là vấn đề rất rộng, phức tạp và khó khăn, nên chúng tôi chỉ nghiên cứu một khía cạnh đó là những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã len vào mọi ngóc ngách của cuộc sống hiện đại, vấn đề suy thoái đạo đức đã đến mức khá nghiêm trọng, khiến nhiều người phải giật mình, đòi hỏi chúng ta phải nhìn lại để giữ gìn những giá trị đạo đức truyền thống Đó là những giá trị căn bản, trường tồn, trong đó có vai trò của đạo đức Nho giáo Vì vậy, chúng ta phải đánh giá một cách khách quan và chính xác nội dung đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, để đạo đức Nho giáo không những có giá trị lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Về mặt lý luận: Sự thay đổi tư tưởng đạo đức Nho giáo thời kỳ này chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Vì vậy, với đề tài nghiên cứu này chúng tôi muốn làm sáng tỏ nguyên nhân, tính chất và những nội dung thay đổi tư tưởng đạo đức Nho giáo, đặc biệt là sự thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, góp phần nghiên cứu nhằm làm rõ thêm lịch sử tư tưởng đạo đứcViệt Nam
Về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu những nội dung thay đổi tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX góp phần rút ra ý nghĩa về sự thay đổi các
Trang 6chuẩn mực đạo đức khi xã hội đã có những thay đổi lớn khác biệt so với nhiều thế
kỷ trước Đặc biệt, với những biến động lớn của thời đại và của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đạo đức Nho giáo trong đó chủ yếu là những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa
Vì vậy, nghiên cứu Nho giáo thời kỳ này để thấy những điểm tương đồng và khác biệt về đạo trung - hiếu - nghĩa của các nhà Nho, tầng lớp trí thức đương thời Vẫn còn đó quan niệm trung - hiếu - nghĩa, nhưng vấn đề ở chỗ nó đã đó có những thay đổi như thế nào? Có nhiều nhà Nho trong tư tưởng của mình đã có những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - nghĩa khi không chấp nhận sự lên ngôi của vua Đồng Khánh, mà chỉ đi theo tiếng gọi yêu nước của vua Hàm Nghi Vậy trung - nghĩa ở đây cần được hiểu như thế nào? Có phải trong thời kỳ này quan niệm thời thế thay đổi đang đặt ra những thách thức lớn đối với đạo đức truyền thống của Nho giáo Xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX có những điểm khác biệt cơ bản so với các thời kỳ phong kiến trước đó Đây là thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, cách thức xâm lược của thực dân Pháp về cơ bản là khác lạ so với sự xâm lược của phong kiến phương Bắc hàng ngàn năm trước Chính sự khác biệt này đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu từ trước tới nay về sự thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo thời Nguyễn Việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Nho giáo để có thể hiểu được những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của nhiều nhà Nho cùng thời Nửa cuối thế kỷ XIX là một giai đoạn lịch sử không dài, chỉ khoảng trên dưới 40 năm nhưng có nhiều biến động trong đời sống tư tưởng ở Việt Nam, trong đó có một số thay đổi trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo có ý nghĩa báo hiệu, chuẩn bị cho sự thay đổi, chuyển biến mạnh mẽ hơn vào đầu thế kỷ sau
Vì vậy, nghiên cứu những thay đổi tư tưởng đạo đức của Nho giáo nửa cuối thế kỷ XIX có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Như vậy, việc tìm hiểu những thay đổi trong đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX là cần thiết, nhất là sự ảnh hưởng của nó đối với các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm ra những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đồng thời làm sáng tỏ thêm giá trị và ý nghĩa thực tiễn trong
Trang 7lịch sử và thời đại ngày nay Với lý do như trên, tôi chọn vấn đề "Những thay đổi
trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX" làm đề tài nghiên cứu
cho luận án tiến sĩ triết học của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau đây,
Thứ nhất, trình bày khái quát về đạo đức Nho giáo, đạo đức Nho giáo Việt
Nam và nguyên nhân những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Thứ hai, trình bày, phân tích, đánh giá những thay đổi cơ bản tư tưởng đạo
đức Nho giáo mà tập trung chủ yếu trong sự thay đổi quan niệm về đạo trung - hiếu
- nghĩa qua một số nhà Nho tiêu biểu ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Thứ ba, trình bày ý nghĩa những thay đổi quan niệm về đạo trung - hiếu -
nghĩa trong tư tưởng đạo đức Nho giáo đối với xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX và
xã hội Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng đạo đức của Nho giáo nói chung và Nho giáo Việt Nam nói riêng, bao gồm nhiều nội dung với nhiều phạm trù, nhiều quan điểm khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, quan niệm về đạo trung đạo hiếu, đạo nghĩa, về trung - hiếu, trung - nghĩa, hiếu - nghĩa là những phạm trù nội dung cơ bản nhất trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Mặt khác, do dung lượng của một luận án cho
Trang 8phép, trong luận án này chúng tôi không thể trình bày tất cả những sự thay đổi về nội dung, tính chất của đạo đức Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, mà chỉ tập trung nhiều, chủ yếu là nghiên cứu và đánh giá những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa qua nghiên cứu tư tưởng, quan điểm của một số nhà Nho tiêu biểu ở giai đoạn đặc biệt trong khoảng thời gian 40 năm nửa cuối thế kỉ XIX
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của một số nhà
Nho tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XIX trên đất nước Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án sử dụng các nguyên lý cơ bản của triết học Mác -Lênin như, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội… làm cơ sở lý luận Luận án cũng dựa trên phương pháp luận của triết học Mác - Lênin về lịch sử triết học, tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử tư tưởng dân tộc, quan điểm về đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức làm cơ sở cho những lập luận của mình
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Tuỳ từng trường hợp, luận án sử dụng các phương pháp như, lôgíc, lịch sử,
phân tích, tổng hợp, so sánh để nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong luận án
5 Cái mới của luận án
Luận án hệ thống hoá và đưa ra cách lý giải những thay đổi trong quan niệm
về đạo trung - hiếu - nghĩa trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối
thế kỷ XIX
Luận án bước đầu phân tích nội dung và tính chất những thay đổi trong quan
niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của đạo đức Nho giáo Việt Nam qua một số nhà Nho tiêu biểu thời kỳ này
Luận án đánh giá ý nghĩa những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu -
nghĩa của đạo đức Nho giáo đối với xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX và hiện nay
Trang 96 Ý nghĩa của luận án
Luận án góp phần tìm hiểu những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo cuối thế kỷ XIX ở triều Nguyễn và lịch sử tư tưởng đạo đức Việt Nam
Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy lịch sử tư tưởng triết học, đạo đức học Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận án có 4 chương với 9 tiết
Trang 10Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu khái quát về Nho giáo và đạo đức Nho giáo
Việc nghiên cứu đạo đức Nho giáo là một công việc quan trọng nên đòi hỏi phải có sự công phu, bền bỉ Cho đến nay vẫn còn có những ý kiến trái ngược nhau
về Nho giáo, nhưng phần lớn đều nhất trí khẳng định ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống đạo đức của người Việt là rất rõ nét
Trải qua 25 thế kỷ phát triển, Nho giáo về sau đã khác nhiều so với lúc mới xuất hiện, nhưng nó vẫn có một số nét chung Trước hết, Nho giáo không chỉ là một học thuyết triết học, mà chủ yếu là học thuyết chính trị - xã hội và đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc Nho giáo chủ trương dùng “nhân trị”, “đức trị” để trị dân trị nước và quản lý xã hội Vì vậy, một trong những vấn đề cơ bản mà luận án lấy làm nội dung nghiên cứu đó là những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX Tuy nhiên, để tìm hiểu và nghiên cứu những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX được sâu hơn, chúng tôi không chỉ khảo sát tình hình nghiên cứu trong phạm vi nhất định về Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX đã được công bố mà cố gắng vượt ra khỏi phạm vi đó bằng việc khảo sát các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam và Trung Quốc mang tính hệ thống, khái quát, các giá trị, chuẩn mực đạo đức của Nho giáo
1.1.1 Các công trình nghiên cứu khái quát về Nho giáo và đạo đức Nho giáo Việt Nam
Để nghiên cứu những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo cuối thế kỷ XIX, trước hết chúng tôi khảo sát các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam từ trước đến nay theo các xu hướng sau:
Một là, xu hướng nghiên cứu chung, có tính hệ thống thiên về khẳng định
các giá trị của Nho giáo Trần Trọng Kim trước thực tế lúc bấy giờ Nho giáo đang
bị phê phán, bị lãng quên, trong cuốn “Nho giáo” cho rằng: “Nho giáo là một ngôi
nhà cổ rất đẹp, bị bỏ hoang cần phải tu sửa lại, bởi cái nhà cổ ấy tự nó là một bảo
Trang 11vật vô giá, không lẽ để đổ nát đi, mà không tìm cách giữ lấy di tích” [48; tr.10]
Trong cuốn “Vài ý kiến về ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam”, Đào
Duy Anh cho rằng: “Nho giáo đã ảnh hưởng đến ba vị anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh” [1, tr.26] Nguyễn Đức Quỳ cũng khẳng định “Nho giáo đã giải đáp được nhiều vấn đề của dân tộc trong thời kỳ đầu
dựng nước” [81; tr.388] v.v… Các tác giả trong công trình “Đại cương triết học
Trung Quốc” do Doãn Chính chủ biên; “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện,
cuốn “Nho giáo tại Việt Nam” do Lê Sĩ Thắng chủ biên v.v… khi bàn về vai trò
lịch sử của Nho giáo cũng đã đề cập đến vấn đề đạo đức Nho giáo, đánh giá cao vai trò và nghĩa vụ của kẻ sĩ (nhà Nho) đối với xã hội, Nho giáo đã tạo cho kẻ sĩ có một tinh thần trách nhiệm cao với xã hội
Trong tác phẩm Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách
mạng tháng Tám của Trần Văn Giàu cho rằng: “Đối với Nho giáo, đạo đức là một
khái niệm có nghĩa rộng hơn là đạo đức ta thường nói hàng ngày tức là những nguyên tắc, những quy phạm để đánh giá, nhận định xem đâu là tốt, xấu, đâu là phải, trái, đâu là nên, chăng” [36; tr.20] Khái niệm đạo đức của Nho giáo còn là sự biểu hiện của “tính”, của “thiên tính”, của “đạo”, nó chẳng những là tính riêng của con người mà cũng là tính chung cho cả trời đất Nhà Nho và Nho giáo nhìn cái gì cũng nhìn theo con mắt đạo đức, trời, người, lịch sử, không coi trọng tính khách quan của sự vật Hơn nữa “đạo đức trong Nho giáo lại là phương châm, cách thức chính của việc trị nước…Nho giáo không chú trọng nghiên cứu thiên nhiên Nho giáo chú trọng con người, đạo đức” [36; tr.21] Khi khẳng định vấn đề cốt tủy của Nho giáo là trung và hiếu, Trần Văn Giàu đã có một nhận định khái quát như sau:
“Sách Nho giáo về đạo đức nhiều hàng chục xe, cô đọng lại chỉ hai chữ luân thường hay cương thường Tuy luân thường hay cương thường không phải là tất cả đạo đức Nho giáo song luân thường là cốt tủy của Nho giáo, là cái chung nhất của Nho giáo
dù là Nho giáo ở Trung Quốc hay Việt Nam, dù là Nho giáo thời Xuân Thu - Chiến Quốc hay Nho giáo Hán Đường, hay Nho giáo Lê Nguyễn…Ngũ luân là quan trọng nhất trong Nho giáo, trung hiếu là quan trọng nhất trong ngũ luân” [36; tr.218-220] Trong khi phân tích về đạo đức Nho giáo nói chung, đạo đức trung hiếu của Nho
Trang 12giáo nói riêng, Trần Văn Giàu cũng đặt ra và giải quyết vấn đề quan hệ giữa hiếu và trung Ông chỉ ra rằng: “Sau đạo trung thì đạo hiếu là điều quan trọng đặc biệt của ngũ luân Lắm khi đạo hiếu được đặt trước cả đạo trung, đạo hiếu được xem là nền của đạo trung” [36; tr.241] Trần Văn Giàu khẳng định: “Trung hiếu là hai đức tính
cơ bản của con người mà luân lý Nho giáo đòi hỏi một cách nghiêm khắc Đánh giá con người, nhận xét hành vi, tất thảy đều lấy trung hiếu làm tiêu chuẩn” [36; tr.246]
Có thể thấy, trong khi đặt và giải quyết vấn đề đạo đức Nho giáo nói chung, đạo trung hiếu của Nho giáo nói riêng đã được Trần Văn Giàu phân tích và có sự
so sánh nhất định giữa các thời kỳ của Nho giáo, sự vận dụng đa dạng của các nhà Nho Việt Nam trong đó có sự thay đổi về đạo trung - hiếu - nghĩa ở một số nhà Nho cuối thế kỷ XIX -một thời kỳ lịch sử đặc biệt có rất nhiều biến động ở nước
ta Vì vậy, “cái chính yếu nhất của Nho giáo là đạo đức Đạo đức Nho giáo cuối cùng là nhằm phục vụ sự trị nước, trị quốc, bình thiên hạ là cái đích cao của sự thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia Như vậy mối quan hệ giữa đạo đức và trị đạo là điều dễ thấy trong Nho giáo” [36; tr.112]
Tuy nhiên, do chỉ chiếm một thời lượng nhỏ trong tác phẩm nên đạo đức trung, hiếu trong cuốn sách trên, tác giả mới chỉ đề cập ở những nội dung căn bản
mà chưa đi sâu vào chi tiết, đặc biệt là Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX Mặc dù vậy, quan điểm và những phân tích trong cuốn sách này của Trần Văn Giàu đã mở
ra cho chúng tôi một khả năng khai thác sâu rộng hơn nữa quan niệm về trung - hiếu
- nghĩa trên bình diện đạo đức trong Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Hai là, xu hướng khẳng định các chuẩn mực đạo đức của Nho giáo Đó là,
công trình “Nho giáo xưa và nay” do Vũ Khiêu chủ biên đã đánh giá Nho giáo theo
các khía cạnh, mức độ ảnh hưởng khác nhau, từ kinh tế, chính trị, đạo đức cho đến
việc giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc, v.v Cũng trong cuốn “Những
vấn đề về Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam”, Vũ Khiêu cũng cho rằng,
“chúng ta phải tiếp thu những nhân tố tích cực, hợp lý của Nho giáo” [52; tr.20] Vũ
Khiêu trong bài viết “Về giá trị đương đại của Nho giáo ở Việt Nam” đã viết:
“Nhiều tiêu chuẩn tối thiểu của đạo đức đã bị coi thường ở một số tầng lớp Thái độ
và hành vi đối xử với cha mẹ, cũng như quan hệ vợ chồng, con cái, anh em đang
Trang 13diễn ra một cách tùy tiện và nhiều lúc rất đáng chê trách Phải chăng đạo đức Nho giáo có những điều tốt đẹp mà xã hội ta đã không giữ lại?” 51, tr.158
Vũ Khiêu với các cuốn Bàn về văn hiến Việt Nam và Nho giáo xưa và nay đã
đưa ra những nhận định rằng nhân tố tạo ra và góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hoá Việt Nam là ở tinh thần tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực trong Nho giáo của người Việt Nam Vì vậy, ở vấn đề này, cá nhân nghiên cứu sinh tán thành quan điểm của GS Vũ Khiêu cho rằng: “Nho giáo từng đóng một vai trò
to lớn trong lịch sử Việt Nam và vẫn còn tiếp tục có tác dụng trong xã hội ngày nay Nếu không đặt vấn đề nghiên cứu Nho giáo một cách nghiêm túc thì chúng ta sẽ buông trôi cho sự phục hồi những nhân tố tiêu cực của Nho giáo đồng thời cũng sẽ lãng phí những nhân tố tích cực mà Nho giáo còn có thể đóng góp vào sự nghiệp của chúng ta hôm nay” [52, tr.152]
Như vậy, về định hướng vấn đề của Vũ Khiêu thống nhất với cách đặt vấn đề của đa số các học giả ở trên và nó đã trở thành mối quan tâm của giới trí thức từ lâu trong lịch sử Trách nhiệm đặt ra là cần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống trên tinh thần khoa học, khách quan để đánh giá những đóng góp cũng như hạn chế của Nho giáo để từ đó có thể kế thừa, nâng tầm và vận dụng một cách có ý nghĩa những giá trị của nó trong xã hội hiện đại
Một số công trình đáng chú ý khác là cuốn “Các bài giảng về tư tưởng phương
Đông” của Trần Đình Hượu, v.v… đã trình bày khái quát nguồn gốc hình thành, phát
triển của Nho giáo, những nội dung tư tưởng cơ bản và sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Các công trình này có điểm chung ở chỗ, công nhận Nho giáo là một học thuyết chính trị, đạo đức mà vận mệnh của nó là góp phần thiết lập và củng cố trật tự của xã hội phong kiến
Phan Đại Doãn với cuốn Một số vấn đề về Nho giáo tại Việt Nam đã phân
tích: “Ở Việt Nam, trên nền tảng Đông - Nam Á, gia đình nhỏ lấy vợ chồng làm mặt ngang bằng, bình đẳng là chính, khi tiếp nhận luân lý Nho giáo đương nhiên phải chuyển đổi, đó là quan niệm hiếu gắn liền với nghĩa Nho giáo Việt Nam cũng bàn luận nhiều về hiếu trung, nhưng tư tưởng trung của Việt Nam không phải là nét chính yếu (như người Nhật)” [15; tr.98] Theo Phan Đại Doãn:
Trang 14Hiếu vốn là tinh thần, là nội dung của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam hình thành từ rất xa xưa trong phong tục tín ngưỡng như “thờ cúng tổ tiên”, “trọng lão” nhưng về sau lại được giáo lý Nho giáo khẳng định thêm sâu sắc, chi tiết và thể chế hóa thành luân lý xã hội Các nhà nước dưới thời Lê - Nguyễn đều lấy hiếu để củng cố gia đình…lấy hiếu làm chuẩn mực cho các giá trị xã hội, làm tiêu chuẩn để rèn luyện nhân cách, lấy hiếu
để ràng buộc con người với con người, bề dưới với bề trên và đặc biệt được pháp luật hóa, chính sách hóa” [15; tr.144]
Phan Đại Doãn từ việc nhà nước phong kiến Việt Nam đã pháp luật hoá những quan niệm hiếu nghĩa của Nho giáo để rút ra những nội dung cơ bản của đạo hiếu ở Việt Nam, đồng thời khẳng định:
“Hiếu là nhân cách con người, là gốc của nhân luân, là một giá trị xã hội cao quý, là quan hệ đứng dọc trong gia đình và dòng họ, có ý nghĩa quan trọng nhất trong các nguyên tắc ứng xử gia đình Đạo hiếu thể hiện trước hết ở việc con cháu phải nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ Đây là yêu cầu tối thiểu đối với mỗi thành viên trong gia đình [15; tr.156] Không những thế, theo Phan Đại Doãn, “hiếu không dừng ở đạo đức, mà xa hơn còn là phạm trù tín ngưỡng, một tín ngưỡng thế tục, hiếu còn là điều luật xã hội mọi người phải tuân thủ” [15; tr.175]
Quan điểm của Phan Đại Doãn như trên khá sâu sắc và mang tính gợi mở cao Vấn đề các triều đại đều có ý thức sử dụng pháp luật để pháp lý hóa tư tưởng hiếu hay tông pháp hóa gia đình và dòng họ của Nho giáo là một thực tế lịch sử Sự tông pháp hóa đó ảnh hưởng đến tư duy, hành động và việc hình thành nhân cách con người Việt Nam như thế nào cần có sự luận giải và minh chứng rõ hơn nữa
Trần Nguyên Việt với bài viết: “Đạo hiếu Việt Nam qua cái nhìn lịch đại” đã
luận giải khái niệm hiếu, quan điểm hiếu đạo theo tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam Trần Nguyên Việt cho rằng: “Tinh thần trung hiếu thời Trần đã để lại cho các triều đại phong kiến Việt Nam về sau một bài học sâu sắc mà triều đại nào không biết phát huy nó đều gặp phải khó khăn trong việc điều hành đất nước và đặc biệt, không thể thắng được kẻ thù xâm lược” 103; tr.36 và “chủ trương lấy hiếu trị
Trang 15thiên hạ: “lấy trung làm hiếu” (Minh Mệnh chính yếu) đã làm cho đạo hiếu trở thành cái chủ đạo trong lối sống của nhiều gia đình cũng như chuẩn mực đạo đức trong văn hóa ứng xử xã hội mang tính luân lý người Việt Trên cơ sở đó, Trần Nguyên Việt rút
ra một số đặc điểm trong đạo hiếu Việt Nam, đạo hiếu thiên về hoạt động thực tiễn hơn là lập thuyết; đạo hiếu Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều học thuyết triết học, chính trị - đạo đức, tôn giáo và các yếu tố bản địa; thừa nhận đạo hiếu như một lẽ tự nhiên, người Việt Nam chấp nhận và tuân thủ việc luật pháp hóa các hành vi đạo đức, coi những quy phạm đạo hiếu đã được luật pháp hóa ấy như những chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh, định hướng hành vi đạo đức của mình; đạo hiếu Việt Nam có thể nhìn theo hai chiều chính, chiều đứng dọc và chiều bằng ngang
Tuy Trần Nguyên Việt đã rút ra những đặc điểm của đạo hiếu Việt Nam nhưng trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu hẹp Ông chưa có điều kiện để đề cập và khai thác sâu các khía cạnh như, bổn phận, trách nhiệm của người làm con, tính thống nhất
và mâu thuẫn giữa hiếu và trung ở từng thời kỳ lịch sử cụ thể Cho nên, nếu dùng hệ chuẩn của kinh điển Nho giáo để soi dẫn tiến trình biến đổi của đạo đức trung hiếu theo lịch đại có thể đem lại cách đánh giá vừa toàn diện vừa mang tính lịch sử cụ thể
Sự tồn tại, hưng vong và những nội dung cơ bản của Nho giáo và đạo đức Nho giáo đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, ở nhiều quốc gia trên thế giới Các công trình nghiên cứu về đạo đức Nho giáo trong những năm gần đây tăng nhanh về số lượng Bản thân Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị, đạo đức, luôn mang trong nó tính đa nghĩa, liên quan chặt chẽ giữa các phạm trù đạo đức, không có sự tách biệt Nghiên cứu về đạo đức Nho giáo nói chung vì thế cũng không tách rời với việc nghiên cứu các nội dung khác Nho giáo Trong tính thống nhất tương đối đó, vấn đề đạo đức của Nho giáo nói chung và quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo nói riêng đã được khai thác ở những tầng bậc khác nhau
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về đạo đức Nho giáo nói chung và đạo đức trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo nói riêng đã khai thác vấn đề ở nhiều chiều cạnh khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu, góc tiếp cận và nhiều yếu tố khác nên những phân tích, luận giải trên
Trang 16bình diện triết học về vấn đề này còn ít và đôi khi bị che lấp nhiều bởi bình diện lịch
sử, văn học Bên cạnh đó, chưa thấy có công trình chuyên biệt nghiên cứu trên phương diện triết học quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo nói chung
và của Nho giáo Việt Nam nói riêng một cách hệ thống và chi tiết
1.1.2 Các công trình nghiên cứu khái quát về Nho giáo và đạo đức Nho giáo Trung Quốc
Nho giáo thời Trung Quốc cổ đại, gắn bó với tên tuổi của người sáng lập
là Khổng Tử (551 - 479 TCN) thời Xuân Thu, tiếp theo được Mạnh Tử (372 -
289 TCN) và Tuân Tử (325 - 238 TCN) - những người đã kế thừa và làm phong phú thêm học thuyết của Khổng Tử để đáp ứng đòi hỏi của xã hội Trung Hoa thời Chiến Quốc “Đặc điểm của nó là chưa thần bí hóa và chưa khắc nghiệt nhiều, phù hợp với xã hội phong kiến phân quyền thời Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc”[93; tr.74] Trải qua một quá trình phát triển lâu dài từ Nho Tiên Tần đến Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh các học thuyết thường được gộp chung vào Nho giáo Qua đó chúng ta có thể tìm thấy hướng nghiên cứu chung, có tính chất hệ thống, khái quát, thiên về khẳng định các giá trị, chuẩn mực đạo đức của Nho giáo
Một là, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và các tác phẩm
Nho giáo Ở Việt Nam, người giới thiệu các tác giả tiêu biểu của Trung Quốc
nhiều nhất là Nguyễn Hiến Lê, với các cuốn “Khổng Tử”, “Mạnh Tử” Đây là
những cuốn sách rất có giá trị đối với việc nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của các nhà sáng lập Nho giáo sơ kỳ cũng như những nội dung tư tưởng cơ bản của họ
Nguyễn Hiến Lê ngay trang đầu của cuốn “Khổng Tử” cũng khẳng định: “Muốn
đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời đại của nó, xem nó giải quyết được những vấn đề của thời đại đó không, coi đó là tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các thời sau không Và nếu sau mươi thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí của con người được nâng cao thì phải coi nó là cống hiến to lớn của nhân loại rồi” 60; tr.5 Nguyễn Đăng Thục với tác phẩm
“Lịch sử triết học phương Đông” gồm 6 tập, trong đó các tập 1 và 2 đã tập trung
trình bày một số nội dung cơ bản về đạo đức Nho giáo
Trang 17Tác giả Quang Đạm khi bàn về đạo đức Nho giáo, trong “Nho giáo xưa và
Ngoài ra, Quang Đạm cũng đề cập tới các mối quan hệ khác trong gia đình
và mối quan hệ quân thần được tác giả đề cập trong phần quan hệ trên dưới Tuy nhiên, trong mối quan hệ vua tôi, ít thấy tác giả đề cập tới đạo trung mà chủ yếu nói
về đường lối cai trị và cách xử thế của vua Nhà nghiên cứu Quang Đạm đã từ nhiều
luận điểm trong Ngũ Kinh, Tứ Thư…và nhiều tài liệu diễn giải của những danh Nho
về sau để “nêu lên mấy nguyên lý lớn nhất của đạo hiếu, sự thân và thủ thân gắn liền với nhau; suốt đời thiện kế, thiện thuật; dương danh hiển thân, cách báo hiếu tốt nhất” [19; tr.178] Điểm đáng lưu ý là trong cách tiếp cận, phân tích, chứng minh của Quang Đạm, tính khách quan được quán triệt khá triệt để cho nên có thể thấy được cả ưu điểm và nhược điểm của đạo đức Nho giáo đối với đời sống đạo đức chung của xã hội
Hai là, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và các tác phẩm trong lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc như: Tác giả Vi Chính Thông trong “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” cũng góp một cách nhìn về đạo đức Nho giáo nói chung
và một số phạm trù đạo đức cụ thể như trung - hiếu - nghĩa nói riêng Trong tác phẩm ông đã có một chương bàn về “Căn bệnh đạo hiếu”, Vi Chính Thông cho rằng: “Nho gia đã dựa vào hiếu để nói về đạo đức, quả là cách tiếp cận thuận lợi” [95; tr.101] Theo tác giả, kết quả của việc coi mọi biểu hiện của đạo đức con người đều đã thể hiện ở hiếu, cứ từ hiếu mà suy ra vì vậy đạo hiếu trở thành công cụ duy trì nền chuyên chế chính là xuất phát từ đó Theo chúng tôi, cách đánh giá này có
Trang 18những điểm hợp lý nhất định nhưng khi đẩy bất cứ một nguyên lý đạo đức nào lên một cách thái quá, kết quả cũng sẽ là siêu hình Tư tưởng biện chứng đòi hỏi phải xem xét toàn diện cả ưu khuyết điểm của cùng một vấn đề Vấn đề đặt ra là, có phải trong suốt tiến trình lịch sử Nho giáo, ông cũng đã đưa ra nhiều vấn đề với dẫn chứng minh họa từ kinh điển và khái quát những nội dung chính:
Tư tưởng hiếu đạo của Khổng Tử” thành, duy trì trật tự trên dưới; chuẩn mực về đạo đức về đạo hiếu và nhân, đạo hiếu và trung Trong đó, tác giả cũng khẳng định: “Vì từ sau Tần, Hán, hiếu trung bị lẫn lộn nên đã làm cho tư tưởng hiếu đạo bị méo mó đi nhiều Những nhân sĩ chống Nho gia thời kỳ đầu dân quốc đã từng cho rằng đó là một trong những luận cứ chứng minh tư tưởng Nho gia có lợi cho nền chuyên chế Nhưng trong tư tưởng hiếu đạo của Khổng Tử thể hiện trong “Luận ngữ” thì không có hiện tượng lẫn lộn giữa hiếu và trung…Trong ngôn luận của Khổng Tử nói về quan hệ trung hiếu không chỗ nào có ý nghĩa trung quân như người đời sau nói [95; tr.255]
Đây là nhận định rất quan trọng và có ý nghĩa định hướng đối với việc nghiên cứu đạo trung hiếu khi đạo hiếu ở cuối thế kỷ XIX luôn bị vua Thiệu Trị và
Tự Đức đề cao và bị đẩy lên thái quá như vậy! Đây là vấn đề mà luận án cần tiếp tục đi sâu làm rõ
Qua những diễn biến của tư tưởng hiếu đạo từ Khổng - Mạnh tới Tần Hán,
Vi Chính Thông cũng phát hiện ra hai vấn đề là: vấn đề lẫn lộn giữa trung và hiếu
và vấn đề giữa tình riêng và phép nước Ông cho rằng: “sự lẫn lộn giữa hiếu và trung rất có thể liên quan tới chế độ cha truyền con nối Dưới chế độ cha truyền con nối, thế tử và vua cha là quan hệ cha con, nên con phải tận hiếu với cha Đối với thế
tử, tận hiếu cũng là tận trung, giữa hiếu và trung rất khó phân biệt Chính trị quý tộc
là cha truyền con nối, chính thể chuyên chế cũng cha truyền con nối” [95; tr.272]
Đề cập nhiều nội dung liên quan đến hiếu đạo và bước đầu đi vào lý giải nguyên nhân lẫn lộn giữa hiếu và trung song Vi Chính Thông gần như không đề cập tới đạo trung Chính vì vậy, cần có sự khảo sát kỹ hơn nữa để tìm hiểu xem diễn biến đạo đức trung hiếu của Nho giáo
Trang 19Nhìn chung, những nhìn nhận và đánh giá của Vi Chính Thông là khá tổng hợp nhưng do nghiên cứu từ góc độ và phương pháp của văn hóa nên tính chất triết học trong tác phẩm còn mờ nhạt Ông chưa phân tích về cơ sở tồn tại xã hội, cái mà trên đó hiếu đạo nảy sinh Cho nên, tuy diện mạo của đạo hiếu trong nền văn hóa đã được phác họa song sự biến đổi trong quá trình vận động thì chưa được đề cập Hơn nữa những tư tưởng của ông nghiên cứu chủ yếu ở thời cổ đại của xã hội Trung Quốc Vì vậy, chúng tôi chỉ coi đây là một khía cạnh để tham khảo, có thể tiếp tục bổ sung, khai thác và nghiên cứu ở một cấp độ chi tiết hơn
Trần Chí Lương trong tác phẩm: “Đối thoại với tiên triết về văn hoá phương
Đông thế kỷ XXI” (đã được dịch ra tiếng Việt) Trong công trình này, với lối viết đối
thoại hiện đại, tác giả đã mượn lời của các tiên triết để nói về tư tưởng và ý nghĩa của nó trong thế kỷ XXI Trần Chí Lương cũng đặt vấn đề “Ý nghĩa hiện đại của trung, trung là trung với nước, trung với dân tộc, trung với sự nghiệp Trung là công chính vô tư, khiêm chính, cần kiệm xây dựng sự nghiệp Ở thời hiện đại, trung không những là nguồn gốc sinh ra lòng yêu nước mà còn sinh ra tinh thần quốc tế cao cả để các nước trên thế giới hợp tác, hòa hợp với nhau” [64; tr.171] Với cách viết theo lối phát vấn, nhiều vấn đề liên quan đến đạo trung của Nho giáo đã được
đề cập và giải thích theo tư duy mới Bàn về trung, tác giả cũng áp dụng phương pháp tương tự để nói về bản chất của trung, các tầng bậc và mức độ trung, bất trung, trung thần… Cách tiếp cận của Trần Chí Lương là cách tiếp cận mới, hiện đại hóa đạo trung hiếu dựa trên kinh điển được hiểu như một sự thông diễn Các vấn đề về trung hiếu của Nho giáo được đề cập đều được Trần Chí Lương đặt trong sự đa nghĩa để luận bàn Điều này có cơ sở từ trong bản chất của Nho giáo vì bản thân các đại biểu của nó thường không đưa ra khái niệm hay hệ chuẩn khép kín cho một vấn
đề mà tùy hoàn cảnh, trường hợp sẽ có sự giải đáp Tuy nội dung chính của trung, hiếu trong tác phẩm của Trần Chí Lương dựa vào những lời nói của “tiên triết” song vấn đề để đi sâu vào nội dung này thì cần phải được trở lại tìm hiểu từ trong tài liệu mang tính kinh điển của Nho giáo một cách hệ thống để làm minh chứng cho nội dung chính của trung, hiếu Trong phần “Hiếu với nguyên tắc nhân luân hiện đại”, Trần Chí Lương khẳng định:
Trang 20“Trung và hiếu là hai phạm trù cực kỳ quan trọng trong văn hóa truyền thống Nho gia và văn hóa truyền thống Trung Quốc, được xem là thể hiện trực tiếp của đạo lý trong trời đất Trung và hiếu có sự chuyển hóa lẫn nhau, chỉ có thực hiện được đạo hiếu mới có thể thực hiện được đạo trung…Ngày nay, chúng ta tiến hành nhận thức lại trung hiếu phải đứng trên độ cao phát triển của thế kỷ XXI, có sự đánh giá so sánh để có thể hiểu biết và phát huy mới hơn” [64; tr.140]
Trần Chí Lương dẫn lời của Khổng Tử về ba tầng, ba mức độ của hiếu gồm tiểu hiếu, trung hiếu và đại hiếu trong đó: “Kính dưỡng là biết kính trọng nuôi dưỡng cha mẹ gọi là đạt tiểu hiếu “Bất nhục chi hiếu” là làm người con không để lại điều gì nhục nhã cho cha mẹ gọi là đạt trung hiếu Đại đạo chi hiếu” là làm người con phải lấy vợ lấy chồng để có nối dõi tông đường và biết thuận ứng đại đạo lý, thuận ứng quy luật khách quan gọi là đại hiếu” [64; tr.142]
Ông cũng đặt vấn đề lý giải ngụ ý trong lời dạy của các tiên triết như Khổng Tử, Mạnh Tử, Vương Dương Minh, Chu Hy… thì đạo hiếu nâng lên thành nguyên tắc cơ bản trong đối xử nhân thế, sẽ khiến cho hành động của con người với sự phát triển xã hội là thống nhất với nhau Hơn nữa “hiếu còn có thể yêu cầu làm rạng danh tổ nghiệp, lập công danh hiển hách, sao lại nói hiếu cản trở sự tiến lên của xã hội, sao lại nói xã hội bị dẫm chân tại chỗ, bảo thủ được Bản chất của hiếu là sinh, có nghĩa là luôn làm cho sự nghiệp phát đạt, xã hội sôi động phát triển” [64; tr.153] Trần Chí Lương còn đặt vấn đề hiếu là nguồn gốc của lòng yêu nước và ý nghĩa của hiếu đối với thế kỷ XXI là nêu ra được phương pháp tư duy mới: “Hiếu đem trời gọi là cha, đem đất gọi là mẹ, xem người và vạn vật là một thể Đây là một phương thức tư duy mới Con người đối với cha mẹ như thế nào thì đối với tự nhiên như thế ấy, cùng chung sống với tự nhiên” [64; tr.169]
Tác giả Phùng Hữu Lan trong “Lịch sử triết học Trung Quốc” đã dành một
chương để bàn về đạo hiếu và khẳng định:
“Đạo hiếu có hai mặt, nhục thể và tinh thần Về mặt nhục thể, đạo hiếu
có ba điều, Phải nuôi dưỡng cha mẹ; Phải nghĩ rằng thân thể của mình là
do tinh huyết cha mẹ lưu lại nên phải bảo vệ, không được hủy hoại; Phải
Trang 21tạo ra “cái tôi mới” khác nữa (tức là lấy vợ sinh con) để nối tiếp sinh mệnh của cha mẹ…Về phương diện tinh thần, khi cha mẹ còn sống, con cái phải thuận theo ý chí của cha mẹ chứ không chỉ biết nuôi dưỡng vật chất mà thôi Khi cha mẹ có sai lầm thì con cái phải khuyên lơn cha mẹ sửa chữa Sau khi cha mẹ qua đời, con cái phải cúng tế và tôn kính tưởng nhớ để cha mẹ trở nên bất hủ trong tâm trí của mình…Mặt khác, con cái phải nối tiếp sự nghiệp của cha mẹ, hoàn thành chí hướng còn dang dở của cha mẹ, hoặc bản thân người con có những tạo tác và những thành tựu khiến mình nổi danh, nhờ đó cha mẹ được tiếng thơm, đạt được sự bất hủ trong ký ức và mến mộ của mọi người” [55; tr.489-490]
Phùng Hữu Lan cũng khẳng định hiếu về phương diện tinh thần là đại hiếu, chí hiếu và nó quan trọng hơn hiếu về mặt nhục thể Những nhận định này của ông
là khá chính xác và cùng quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu khác Tuy nhiên, không thấy Phùng Hữu Lan bàn trực tiếp về tư tưởng hiếu của các Nho gia thời Tần
- Hán mà chỉ tập trung vào Nho giáo nguyên thủy Đây là một thời kỳ quá xa nên ít lien quan đến những vấn đề mà luận án quan tâm Do đó, cần tiếp tục có sự nghiên cứu, so sánh để làm rõ sự tương đồng cũng như khác biệt đạo về hiếu của các Nho gia ứng với từng thời kỳ trong lịch sử tồn tại và phát triển Nho giáo
Như vậy, những đánh giá của các tác giả là khá tổng hợp nhưng do mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận lịch sử, nên nội dung trình bày về đạo hiếu chưa sâu, đạo hiếu còn mờ nhạt chưa thật toàn diện và mặt khác sự vận động, biến đổi vẫn chưa được đề cập Vì vậy, chúng tôi chỉ coi đây là những công trình có tính tham khảo về đạo hiếu - nghĩa của Nho giáo Trung Quốc ở thời cổ đại Theo chúng tôi, vẫn còn nhiều vấn đề để luận án có thể tiếp tục bổ sung, khai thác và luận giải một cách chi tiết hơn, đặc biệt là những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
1.2 Các công trình nghiên cứu về Nho giáo và đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Gần đây, trong một số hội thảo khoa học, các nhà nghiên cứu về Nho giáo nói chung và Nho giáo triều Nguyễn nói riêng, đã có sự nhìn nhận khách quan, công
Trang 22tâm, khoa học hơn Vì vậy, họ đã đưa ra những nhận định khá xác đáng về Nho giáo theo các khía cạnh, mức độ ảnh hưởng khác nhau, từ kinh tế, chính trị, đạo đức cho đến giáo dục và các giá trị truyền thống của dân tộc Không ít nhà nghiên cứu còn đánh giá, học thuyết của Khổng Tử được nhào nặn theo quan điểm của các nhà Nho phong kiến và suy tôn qúa mức rằng, Nho giáo đạt tới giá trị cao nhất về tinh thần, khó cho ta tiếp cận được Để tìm hiểu rõ hơn về tư tưởng đạo đức thời kì này, chúng tôi xin trình bày một số công trình khoa học và nhiều bài viết trên các tạp chí và một vài luận án cụ thể như sau:
1.2.1.Một số công trình, bài viết nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
Tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập II, do Lê Sĩ Thắng chủ biên đã
đề cập đến Nho giáo nói chung, đạo đức của Nho giáo nói riêng và vai trò của nó dưới triều Nguyễn Tác giả Lê Sĩ Thắng đã nghiên cứu khái quát một số nội dung
cơ bản trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong đó có khái quát tư tưởng Nho giáo thế kỷ XIX Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ ra được sự cố gắng của các vua triều Nguyễn trong việc xác lập và xây dựng hệ tư tưởng cho triều đại mình, mà trong đó nòng cốt là Nho giáo, những thành tựu và hạn chế song vẫn chưa đi sâu tìm hiểu những ảnh hưởng của Nho giáo và đạo đức Nho giáo đến xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Tác phẩm tập trung nghiên cứu về Nho giáo nói chung và Nho giáo Việt Nam
thời Nguyễn như cuốn Nho giáo tại Việt Nam do Lê Sĩ Thắng chủ biên đã bàn đến
những yêu cầu đạo đức của Nho giáo đối với các vấn đề cơ bản của đời sống xã hội cũng như việc quản lý xã hội, quản lý con người Quan điểm của tác giả có điểm chung là nhìn nhận, đánh giá những yếu tố tiêu cực của Nho giáo đã trói buộc con người trong vòng trật tự của xã hội cũ Những yếu tố đó đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Tác phẩm “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách
mạng tháng Tám” (1973) (Tập I) của Trần Văn Giàu trong khi trình bày về sự thất
bại của ý thức hệ phong kiến trước quá trình vận động của lịch sử, đã trích dẫn và
phân tích nhiều ý kiến của nhà Nho Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam
Sơn tùng thoại
Trang 23Bài viết “Nguyễn Đức Đạt”của Ninh Viết Giao trong sách ”Nhà giáo danh
tiếng đất Lam Hồng”, Nhà xuất bản Nghệ An (2005) viết về Nguyễn Đức Đạt với
tư cách là một nhà giáo danh tiếng trên quê hương Nam Đàn Ngoài ra, các sách
“Danh nhân Nghệ An”, “Khoa bảng Nghệ An”, “Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn”, đều giới thiệu về tiểu sử Nguyễn Đức Đạt và một vài đóng góp của ông
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đều đã giới thiệu về Nguyễn Đức Đạt và tư tưởng của ông về các vấn đề chính trị - xã hội, giáo dục, đạo đức, Nhưng chưa có một công trình nào đi sâu vào lĩnh vực tư tưởng đạo đức và những thay đổi trong tư tưởng đạo đức của ông
Tuy nhiên, có thể nói, bước chuyển về tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế
kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là một bước chuyển căn bản, khó khăn và hết sức phức tạp của các nhà tư tưởng Tư tưởng chính trị tập trung vào nội dung quan trọng là tự cường dân tộc, đổi mới kinh tế, truyền bá tư tưởng mới để đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập cho dân tộc Mặc dù, có những nội dung mới tiến bộ, thể hiện tinh thần yêu nước nhiệt tình, căm thù giặc cao độ, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh lúc bấy giờ, trong tư tưởng chính trị giai đoạn này có những biểu hiện dao động, mơ hồ, thậm chí có lúc đi đến thỏa hiệp với thực dân Chẳng hạn, Phan Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để thực hiện dân chủ, còn Phan Bội Châu thì chủ trương bạo động, phát động phong trào Đông Du cầu viện Nhật và dựa vào Nhật để đánh Pháp Tuy những chủ trương của các ông là yêu nước, nhưng phạm vi ảnh hưởng
chưa lớn đến tinh thần cách mạng của dân tộc Nguyên nhân của những sai lầm này
chính là chưa có một lý luận khoa học soi đường, nên chưa nhận thức đầy đủ bản
chất của chủ nghĩa thực dân và vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo mà ông đã tiếp thu từ nhỏ Theo chúng tôi, tư tưởng trong buổi giao thời của các chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX vẫn còn ảnh hưởng bởi các tư tưởng Nho giáo của cuối thế
kỷ trước, nên “Phan Bội Châu vẫn chủ trương đi theo ngọn cờ Cần Vương vì phong trào đó đáp ứng được mục đích của họ” [10; tr.501]
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu đi sâu tìm hiểu về các dòng họ
và danh nhân văn hoá nổi tiếng, trong đó có Nguyễn Đức Đạt ở thế kỷ XIX Về tư tưởng đạo đức của ông đã có một số bài viết trên các tạp chí như sau:
Trang 24Luận văn tốt nghiệp lớp chuyên tu Hán Nôm sau đại học của Ngô Đức Thọ:
“Nguyễn Đức Đạt, nhà giáo và học giả nửa cuối thế kỷ XIX” (1975) Trong bản
luận văn này, tác giả đã trình bày về tiểu sử và bước đầu tìm hiểu về tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Đức Đạt, đã phân tích tư tưởng đạo đức của ông ở thế kỷ XIX Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt đã làm sống lại những giá trị tinh tuý của đạo đức Nho giáo, nêu lên những mặt tích cực của đạo đức Nho giáo về việc rèn luyện con người, trau dồi kiến thức, và đặc biệt là luận giải những thay đổi trong tư tưởng đạo
đức Nho giáo ở cuối thế kỷ XIX Bài viết: “Nguyễn Đức Đạt và tác phẩm Nam Sơn
tùng thoại” của Lê Sĩ Thắng trong sách “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập II, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1997 cũng đã trình bày tiểu sử Nguyễn Đức Đạt và những nội dung
cơ bản của tác phẩm Nam Sơn tùng thoại Tác giả phân tích tư tưởng triết học,
chính trị, giáo dục đạo đức của Nguyễn Đức Đạt ở thế kỷ XIX, qua đó chỉ ra một số nét mang màu sắc Việt Nam trong những sáng tác của ông trên hệ thống những phạm trù đạo đức căn bản của Nho giáo
Bài viết: “Tìm hiểu tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt” của Nguyễn Văn
Phúc đăng trên tạp chí Triết học số 10; tháng 10/2002 đã trình bày và phân tích quan niệm về Đạo, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt Qua đó tác giả đã phân tích mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt ở cuối thế kỷ XIX
Gần đây, một số luận văn thạc sĩ triết học đã được bảo vệ xoay quanh vấn đề con người, mẫu người, đạo làm người và vấn đề giáo dục đào tạo con người theo
các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của Nho giáo như: “Thử tìm hiểu phạm trù “lễ”
trong tác phẩm Luận ngữ” của Nguyễn Thanh Thế; “Quan niệm của Khổng Tử về con người, và giáo dục đào tạo con người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai, v.v Mặc dù
bị hạn chế bởi phạm vi nghiên cứu cụ thể của từng đề tài; song, các tác giả ở những mức độ nhất định cũng đã đề cập đến tư tưởng đạo đức, góp phần hình thành nên tính toàn vẹn của mẫu người lý tưởng mà Nho giáo muốn xây dựng
Các bài đăng trên tạp chí chuyên ngành, chủ yếu trên tạp chí Triết học cũng là dòng nghiên cứu liên tục về nội dung tư tưởng đạo đức của Nho giáo Đó là: “Quan
điểm của Nho giáo về các mối quan hệ xã hội và ảnh hưởng của nó taị Việt Nam” của
Trang 25Nguyễn Văn Bình v.v Qua bài viết này tác giả đã trình bày các quan niệm về trung,
nghĩa của các nhà Nho sơ kỳ chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống trong
mối quan hệ chặt chẽ với các phạm trù khác của đạo đức Nho giáo Tuy nhiên, qua bài
viết này tác giả luận án muốn so sánh những thay đổi về đạo Trung, Nghĩa của các nhà
Nho sơ kỳ với tư tưởng đạo đức của một số nhà Nho Việt Nam cuối thế kỷ XIX
1.2.2 Một số luận án có nghiên cứu về tư tưởng Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, có một số đề tài, luận án tiến sĩ nghiên cứu về những thay đổi trong tư tưởng Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX liên quan đến hoặc gần với đề tài của chúng tôi Sau đây chúng tôi xin trình bày cách tiếp cận Nho giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau của các luận án tiến sĩ đó Các luận
án đã đề xuất nhiều vấn đề khác nhau về phương pháp nghiên cứu và kế thừa những thành tựu mà các luận án đó đã đạt được, cũng như những hạn chế, những vấn đề còn đang tranh cãi Đó là các luận án:
Một là,“Tìm hiểu tư tưởng chính trị trong Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh” của tiến sĩ Nguyễn Hoài Văn bảo vệ năm 2001 Luận án đã làm rõ
một số tư tưởng chính trị căn bản của một số nhà Nho tiêu biểu thời kỳ này Luận án trình bày những tư tưởng chính trị thông qua lăng kính của các nhà Nho ở Việt Nam
Về phần nội dung của luận án, tác giả đã có những khái quát rộng và chi tiết hơn về bối cảnh lịch sử, sự ra đời cọ xát và biến đổi của tư tưởng chính trị trong Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, nó tương đương với thời
kì giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX Tác giả đã đưa ra nhận xét của cá nhân về những điểm khác nhau cơ bản giữa Nho giáo thời Minh Mệnh và Nho giáo thời Lê Thánh Tông Đây là thời kỳ mà Nho giáo đều được đưa lên ngôi vị độc tôn bởi những vị vua quyền lực nhất, am hiểu Nho giáo Nhưng thời thế, hoàn cảnh khác nhau đã dẫn tới những kết quả khác nhau Tác giả của luận án đã chỉ ra những thay đổi trong tư tưởng chính trị ở Việt Nam giữa thế kỷ XV không dừng lại ở những thay đổi nhỏ nhặt trong chế độ phong kiến, mà nó muốn hướng tới những thay đổi có tầm nhìn rộng lớn hơn trên lĩnh vực chính trị dưới nhãn quan sáng suốt của vị vua anh minh nhất thời Lê
Trang 26Tuy nhiên, đây là thời kỳ trước- thời kỳ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỷ XIX
- là thời kỳ không nằm trong thời gian mà luận án của chúng tôi nghiên cứu Vì vậy,
luận án “Tìm hiểu tư tưởng chính trị trong Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông
đến Minh Mệnh” của tiến sĩ Nguyễn Hoài Văn đối với chúng tôi chỉ có ý nghĩa
tham khảo về tư tưởng chính trị - đạo đức Nho giáo của Việt Nam từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỷ XIX
Thứ hai,“Tìm hiểu những tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX” của tiến sĩ Lê Thị Lan Luận án đã làm rõ một số tư tưởng cải cách cơ bản của
một số nhà cải cách thời kỳ này Luận án đã giới thiệu và khái quát hóa những tư tưởng cải cách xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XIX Đây là một đóng góp có giá trị vào việc nghiên cứu tư tưởng dân tộc ở giai đoạn lịch sử này Những tư tưởng này theo chúng tôi cũng có một phần ảnh hưởng tới những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX về mặt nội dung Việc tác giả tập trung vào nghiên cứu những tư tưởng cải cách nửa sau thế kỷ XIX là một thời gian ngắn nhưng nó chứa đựng rất nhiều nội dung, trong đó có nhiều nội dung hướng vào một
sự biến đổi căn bản trên nhiều lĩnh vực, mà trong đó thực chất là những thay đổi về chính trị, văn hóa giáo dục của vua quan, và các tầng lớp khác trong xã hội
Về phần nội dung của luận án, tác giả đã đi rộng hơn và chi tiết hơn những người đi trước về bối cảnh lịch sử, sự ra đời cọ xát và biến đổi tư tưởng cải cách ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX Tác giả đã đưa ra nhận xét của cá nhân về những điểm khác nhau cơ bản giữa Nho giáo thời Tự Đức và Nho giáo thời Lê Thánh Tông Ở các chương sau, tác giả đã đi sâu phân tích và phân loại các nguyên nhân chủ quan
và khách quan khiến tư tưởng cải cách thời kỳ này không thể thực hiện được Tác giả cũng đã phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến các đề nghị cải cách thời kỳ này không được chấp nhận Đây là một cái mới đáng ghi nhận và cũng là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Luận án cũng đã phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan, những nhược điểm và hạn chế chế của dòng tư tưởng canh tân thời kỳ này Tôi cũng tán thành với quan điểm của tác giả khi phân tích những đặc điểm khách quan chưa chín muồi
Trang 27khi thực hiện các tư tưởng cải cách ở cuối thế kỷ XIX là “nặng về ảnh hưởng bên ngoài
mà thiếu cở sở tiếp nhận từ bên trong, tính không tưởng về mặt thực tiễn, tính mâu thuẫn trong tư tưởng, sự ngây thơ trong nhận thức bản chất và dã tâm của kẻ thù, ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng phong kiến ” [56; tr81] Theo chúng tôi, đây là một kết luận đã kế thừa được thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước và có tính tổng hợp cao Qua nghiên cứu luận án, theo chúng tôi, các tư tưởng cải cách này thất bại là
vì nó không được triều đình Tự Đức chấp nhận về mặt chủ trương, bởi vì những tư tưởng đạo đức Nho giáo thời kỳ đó đã thấm quá sâu vào suy nghĩ của cả vua quan
và trở thành lối mòn trong tư tưởng nên những cải cách đó bị thất bại
Ba là, luận án “Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX” của tiến
sĩ Nguyễn Nam Thắng Tác giả đã nêu lên sự nhiệt tình, quả cảm và lòng yêu nước thiết tha không quản ngại hy sinh vì Tổ quốc của các nhà Nho yêu nước đương thời Trong thời kỳ này có hai khuynh hướng chính của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX là: yêu nước theo quan điểm truyền thống và yêu nước theo quan điểm cải cách Đặng Huy Trứ là một nhà Nho có tư tưởng như vậy Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, có hai bác ruột làm quan lớn trong triều đình Những đề nghị đổi mới của ông không được đánh giá cao như Nguyễn Trường Tộ, nhưng nhất quán trong tư tưởng và hành động của ông Ông đứng về phe chủ chiến, và là một trong số ít những người chủ chiến có đầu óc đổi mới tư tưởng Nho giáo về chính trị và đạo đức đã quá lỗi thời vào thời điểm đó Đặng Huy Trứ trong tâm thức và xuất xử không cứng nhắc, mà luôn sáng suốt, năng động Có thể nói: Đặng Huy Trứ là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân nhưng ông cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng, chi phối của lịch sử
Ở chương 3, tác giả cũng đưa ra những so sánh chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX với công cuộc duy tân của Minh Trị ở Nhật Bản Tác giả đã chỉ ra sự khác biệt căn bản Đó là ở Nhật Bản trước cuộc Duy tân của Minh trị Thiên hoàng thì những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội và những tiền đề cần thiết đã chín muồi, còn ở Việt Nam lúc bấy giờ chưa có một yếu tố nào có lợi cho cải cách Theo chúng tôi, đây là một nhận xét đầy đủ, chính xác về những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX có ảnh hưởng rất lớn tới những thay đổi trong tư tưởng cải cách cũng như tư tưởng yêu nước thời kỳ đó
Trang 28Như vậy, qua các luận án đã khảo cứu, chúng tôi thấy rằng, các nhà Nho đều dốc nhiều tâm sức để thực hành đạo đức của Nho gia, nhưng rồi tất cả những hoài bão thay đổi đó đều không thành công Cuộc đời nhập thế, năng động, của các nhà Nho tất cả vì lo cho nước, cho dân, không biểu hiện thái độ cố chấp Thời kỳ này quan niệm trung - hiếu chỉ hướng về phía nhân dân, đứng về phía nhân dân (trung vua chỉ là hình thức) khi vua đã xa dân, từng bước cầu hòa rồi dẫn đến cầu hàng thực dân Pháp Trong hoàn cảnh lịch sử chống thực dân Pháp xâm lược nửa cuối thế
kỷ XIX, các nhà Nho có cái nhìn đúng đắn về tương quan lực lượng giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược này Chính sự chênh lệch về tương quan lực lượng giữa ta và địch đã tạo cơ sở cho tác giả trình bày sự hình thành và đặc trưng của chủ nghĩa yêu nước và những thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Như vậy, chúng ta thấy tác giả đã tiếp cận vấn đề từ góc độ triết học, phân tích những tư tưởng yêu nước cuối thế kỷ XIX dưới nhãn quan của một người nghiên cứu triết học Đây là một cách tiếp cận mới, bởi vì, nội dung đạo đức trung, hiếu, nghĩa giá trị cá nhân và nội dung yêu nước phong phú đa dạng đã được các ngành văn học và sử học bàn đến nhiều Nhưng trên phương diện lý luận và tiếp cận vấn đề từ góc độ triết học thì chưa có đề tài nào bàn đến Chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX cũng là một đề tài gần với nội dung nghiên cứu của tôi Các luận án đều đã đề cập nghiên cứu và phân tích những tư tưởng Nho giáo cuối thế kỷ XIX để qua đó thấy được sự tiếp thu và biến đổi của nó ở Việt Nam là cần thiết
1.3 Một số công trình nghiên cứu về sự thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam và những vấn đề chính cần tiếp tục giải quyết, bổ sung trong luận án
1.3.1 Một số công trình nghiên cứu về sự thay đổi trong quan niệm trung hiếu của Nho giáo và Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Một là, “Đạo đức trung, hiếu của Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay” của TS Trần Thị Lan Hương
Luận án đã trình bày chi tiết khái niệm đạo đức trung, hiếu của Nho từ thời cổ đại ở Trung Quốc đến Hán, Đường, Tông, Nguyên, Minh, Thanh
Trang 29Ở hai chương đầu tác giả đã trình bày về tác động của nhiều yếu tố làm cho Nho giáo có những thay đổi nhất định, theo đó đạo đức trung hiếu của Nho giáo cũng biến đổi qua từng thời kỳ lịch sử Đạo Nho giáo nguyên thủy, đạo đức trung, hiếu hàm chứa nhiều nội dung mang tính hai chiều song vẫn không tránh khỏi tính cực đoan Về sau Hán Nho và Tống Nho, còn tuyệt đối hoá tính một chiều và làm cho tính đẳng cấp càng trở nên khắc nghiệt Tác giả đã trình bày về yếu tố khách quan và chủ quan, đạo đức Nho giáo nói chung và đạo đức trung, hiếu của nó nói riêng có nhiều biến đổi so với Nho giáo Trung Quốc Đặc biệt, có không ít nhà Nho Việt Nam đã mở rộng và phát triển đạo đức trung hiếu ra ngoài phạm vi kinh điển của nó phần nào khắc phục được tính một chiều, với tinh thần mới, trung là trung thành với lợi ích của quốc gia dân tộc, với đồng bào mình và nâng đạo trung hiếu lên một tầm cao mới phù hợp với đạo lý của con người Việt Nam
Ở chương tiếp theo tác giả đã trình bày đạo đức trung hiếu của Nho giáo thường được gắn với nghĩa và được luật hóa để quy định, nghĩa vụ, bổn phận của con người Đây cũng là phương pháp mà giai cấp thống trị các triều đại phong kiến
sử dụng triệt để nhằm biến đạo đức Nho giáo thành công cụ quản lý xã hội và giáo dục con người Việc giáo dục đạo đức Nho giáo theo tinh thần dân tộc đã khiến cho những hành động trung, hiếu nghĩa trở thành những hành động vì lẽ phải, thuận luân thường đạo lý của con người Việt Nam
Việc nghiên cứu Nho giáo nói chung và đạo đức trung, hiếu Nho giáo mà chủ yếu là quan niệm Nho giáo nguyên thủy, đạo đức trung, hiếu hàm chứa nhiều nội dung mang tính hai chiều Song so sánh với Hán Nho, Nho giáo còn tuyệt đối hoá tính một chiều đã làm rõ hơn tính đẳng cấp càng trở nên khắc nghiệt Luận án
có sự giải thích và làm rõ một cách có hệ thống quan điểm trung hiếu nhưng chủ yếu là của Nho giáo Trung Quốc và Việt Nam trước thế kỷ XIX Tuy nhiên, vì mục đích nghiên cứu của luận án tiếp cận ở hướng khác nên chỉ liên quan đến một phần
đề tài của chúng tôi nghiên cứu về những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX Ở luận án tiến sĩ này tác giả đã nghiên cứu đạo đức trung, hiếu Nho giáo rất cụ thể và chi tiết, mà chủ yếu là quan niệm Nho giáo nguyên thủy Luận án có sự giải thích và làm rõ một cách có hệ thống quan điểm
Trang 30trung hiếu của Nho giáo nguyên thủy Tuy nhiên, nhiệm vụ của luận án không phải
là nghiên cứu sự thay đổi đạo về trung hiếu nên đề tài của chúng tôi sẽ tiếp cận ở một hướng nghiên cứu khác, một khoảng thời gian khác, đó là những thay đổi trong
tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Hai là, đề tài, "Chuyển biến tư tưởng của sĩ phu Nghệ Tĩnh từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX" của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Bình đã trình bày hoàn cảnh xã hội
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trước làn sóng xâm lược ồ ạt của chủ
nghĩa thực dân đã ảnh hưởng đến tầng lớp sĩ phu yêu nước Việt Trước tình hình
đó, nhân dân ta với truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường bất khuất, đã vùng lên đánh giặc Phong trào phát triển khắp cả nước và gây cho kẻ thù nhiều phen lúng túng Năm 1862; triều đình Nguyễn ký điều ước cắt 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp Hành động đó đã khiến những sĩ phu yêu nước nặng lòng với
sự tồn vong của quốc gia dân tộc hết sức căm phẫn Ngự sử Phan Huân (người Thạch Hà) đã gửi "sớ" lên chất vấn vua Tự Đức "Thiên hạ là của thiên hạ, của riêng chi bệ hạ mà chuyên giữ lấy một mình" đã cho chúng ta thấy, nhờ lòng yêu nước chân thành mà ông đã đạt đến một ý thức khá sâu sắc trái với tư tưởng Nho giáo truyền thống rằng "Thiên hạ là của thiên hạ" chứ không phải của nhà vua nữa Chính tinh thần và hành động của quan ngự sử Phan Huân đã nhen nhóm ngọn lửa vừa chống đế quốc xâm lược vừa chống phong kiến đầu hàng của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân, sĩ phu Nghệ Tĩnh nói riêng Trong lúc sĩ phu
và nhân dân Nghệ Tĩnh đang đấu tranh chống Pháp thì triều đình Nguyễn ký điều ước Giáp Tuất (1874), cắt lục tỉnh Nam kỳ cho Pháp Hành động đó của triều Nguyễn như một mồi lửa làm cháy bùng lên không khí hừng hực căm phẫn trong toàn dân và văn thân sĩ phu Nghệ Tĩnh Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng thất bại vì do sự hạn chế về nhãn quan của lực lượng lãnh đạo phong trào
Lý tưởng của họ không ngoài mục đích phế vua bán nước rồi lập lại một ông vua
có tinh thần dân tộc chống Pháp Khẩu hiệu "Bình Tây sát tả" mà họ đưa ra chưa thật hợp lý với tình hình xã hội nước ta lúc đó, khiến kẻ thù lợi dụng khẩu hiệu để xuyên tạc nhằm chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, gây tổn hại đến sức mạnh đoàn kết của phong trào, làm cho cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại
Trang 31Tuy nhiên, đây là đề tài về khoa học lịch sử nên chủ yếu trình bày ảnh hưởng của những hoạt động mà sĩ phu Nghệ Tĩnh khởi xướng đã làm cho phong trào yêu nước và cách mạng ở Nghệ Tĩnh phát triển lên một bước mới Sĩ phu Nghệ Tĩnh trong bối cảnh nước mất, nhà tan, đã dựng lên ngọn cờ yêu nước, các sĩ phu yêu nước thấy rằng không thể khư khư giữ tư tưởng "trung quân, ái quốc" cũ Đây là các sĩ phu yêu nước hoạt động khi phong trào Cần vương chưa bắt đầu Tuy nhiên, nội dung của đề tài cũng có liên quan một phần đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu nhưng trên phương diện lịch sử Vì vậy, xét dưới góc độ triết học cần phải nghiên cứu tiếp tục đó là những thay đổi trong đạo trung - hiếu - nghĩa của một số nhà Nho Việt Nam cuối thế kỷ XIX
1.3.2 Sự thay đổi trong việc đánh giá về tư tưởng Nho giáo Việt Nam thế
kỷ XIX
Thứ nhất, khía cạnh phê phán, phủ định sạch trơn Nho giáo Không ít người
coi Nho giáo chỉ là một thứ ung nhọt, họ phủ nhận hoàn toàn mọi giá trị của Nho giáo, thậm chí mạt sát, coi Nho giáo kìm hãm sự phát triển xã hội Theo chúng tôi, đây là một quan điểm chưa khách quan và phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá từng vấn đề của học thuyết này và hơn nữa phải tính đến cả các ảnh hưởng cũng còn khá sâu rộng của Nho giáo đối với gia đình và xã hội chúng ta ngày nay Thực tế cần khẳng định rằng, sẽ không thể phủ định siêu hình đối với Nho giáo Trái lại, cũng như với bất cứ học thuyết nào khác, chúng ta phải đối xử với Nho giáo một cách khoa học Khai thác các giá trị của Nho giáo, nhất là Nho giáo đã được Việt hóa qua các thời đại cũng như của các học thuyết khác của nhân loại, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, trong bối cảnh nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa ngày hôm nay Bởi vì thực
tế cho thấy rằng, suốt hơn hai ngàn năm du nhập vào nước ta, từng được độc tôn dưới thời Lê Sơ và triều Nguyễn, các yếu tố tích cực của Nho giáo góp phần hình thành nên giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, không dễ gì gạt bỏ được nó Vũ Khiêu nhận định “Trong khi triệt để thanh toán những tàn dư hủ bại của Nho giáo, chúng ta nhất định tiếp thu những nhân tố tích cực, hợp lý của Nho giáo” [52; tr.46] Hiện nay, chính xã hội ta vẫn đang cần đến những yếu tố tích cực của Nho giáo để
Trang 32bảo tồn và giữ gìn các giá trị tốt đẹp của dân tộc Điều này không chỉ dễ dàng nhận thấy ở Việt Nam, mà còn được chứng minh ngay cả ở các nước trong khu vực chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Nhật Bản, Triều Tiên, Singapore, v.v
Thứ hai, trở lại với Nho giáo thế kỷ XIX mà nhà Nguyễn chủ trương độc tôn, hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
Giai đoạn từ những năm 60 của thế kỷ XX đến khi có các cuộc hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn tại Thanh Hoá năm 2008, hầu như quan điểm của các nhà nghiên cứu chủ yếu nhìn nhận, đánh giá về việc độc tôn Nho giáo của triều đại nhà Nguyễn mang nhiều yếu tố tiêu cực và bất hợp lý Các nhà sử học nước
ta trước đây “đã từng có một khuynh hướng lên án gay gắt, đánh giá khá nặng nề và gần như là phủ định sạch trơn thời ký các chúa Nguyễn và triều Nguyễn [62; tr.112] Thậm chí, ông vua khai sáng triều Nguyễn là Gia Long còn bị đánh giá là “cõng rắn cắn gà nhà” khi cầu cứu Pháp đưa quân và viện trợ vũ khí đánh nhà Tây Sơn…Thì giờ đây với cái nhìn mới, cùng với sự phân tích các sự kiện lịch sử một cách khoa học, khách quan, như Đinh Xuân Lâm đã nhận xét: “…Chúng ta có quyền nói là với việc làm của các vua nhà Nguyễn, đặc biệt là ông vua khai sáng Gia Long, không thể
nói là có việc cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ” [58; tr.167]
Ngoài các bộ sử, hội thảo khoa học và các công trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói trên, còn có những công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực tư tưởng triết học,
cụ thể là Nho giáo dưới triều Nguyễn
Tóm lại, các luận án, công trình đã khảo cứu ở trên đều có một điểm chung là
khi phân tích về chủ nghĩa yêu nước và sự kiên quyết đấu tranh chống Pháp của phái chủ chiến, các tác giả đã liệt kê nhiều sự kiện lịch sử để làm sáng tỏ tình yêu nước cháy bỏng của họ Nhiều tư liệu, sự kiện quan trọng của triều Nguyễn cùng trước tác của nhiều tác gia tiêu biểu như: Vũ Phạm Khải, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ đã được phân tích Các tác giả đã xử lý và phân tích các vấn đề để rút ra những nhận xét chính xác về tư tưởng Nho giáo thời kỳ này có những điểm khác biệt cơ bản với tư tưởng Nho giáo ở các thế kỷ trước Theo chúng tôi, cách đánh giá, trình bày như vậy là hợp lý đối với xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, là một thời kì đặc biệt nhất trong lịch sử
Trang 331.3.3 Những vấn đề chính cần tiếp tục giải quyết, bổ sung trong luận án
Từ việc khảo sát và phân tích các công trình nghiên cứu đi trước về đạo đức Nho giáo nói chung, những thay đổi trong đạo đức trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo nói riêng, những thay đổi trong tư tưởng yêu nước trong phong trào Cần Vương nửa
cuối thế kỷ XIX, chúng tôi xác định những vấn đề chính của luận án, "Những thay
đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX" cần tiếp tục giải
quyết là:
Thứ nhất, khái quát về Nho giáo và tư tuởng đạo đức Nho giáo Nội dung sự
thay đổi của đạo đức trung - hiếu - nghĩa trong từng giai đoạn cụ thể của lịch sử đặc
biệt là những thay đổi trong tư tuởng đạo đức Nho giáo nửa cuối thế kỷ XIX
Thứ hai, phân tích sự thay đổi đạo đức trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo Việt
Nam thông qua tư tưởng các Nhà nho yêu nước tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XIX
Phong trào yêu nước trên lập trường phong kiến dưới danh nghĩa Cần vương cuối
thế kỷ XIX đã tập hợp được đông đảo tầng lớp văn thân sĩ phu tham gia để thực
hiện lí tưởng cứu nước trong khuôn khổ, phép tắc của nhà Nho Nên phong trào có
tính quần chúng rộng rãi, quy tụ được nhiều người con ưu tú đứng ở hàng đầu cuộc chiến đấu với tấm lòng yêu nước sắt son, quên mình vì nghĩa lớn như Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích….Họ sẵn sàng từ bỏ chức quan với nhiều vinh hoa phú quý để lăn lộn với nghĩa quân, xây dựng căn cứ chống giặc Phong trào Cần vương, tư tưởng trung quân - vì vua dường như đã bị lu mờ để nhường cho đạo trung - nghĩa vì nước, vì dân mà chiến đấu
Các phạm trù đạo đức của Nho giáo trong đó có trung - hiếu - nghĩa cũng đã được tiếp cận ở các mức độ nhất định của đạo đức Nho giáo đối với con người Việt Nam Sự thay đổi của bản thân đạo đức trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo theo diễn tiến lịch sử khi vào Việt Nam và những biến đổi ở cuối thế kỷ XIX đã được khẳng định ở những tầng bậc khác nhau Tuy nhiên, việc tìm hiểu những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo mà cốt lõi là trung - hiếu - nghĩa trên phương diện triết học để phân tích nội hàm của trung - hiếu - nghĩa trong Nho giáo cuối thế kỷ XIX là cần thiết Từ đó tìm
ra cơ sở tồn tại xã hội mà trên đó nó nảy sinh, phản ánh để khẳng định sự thay đổi của đạo đức trung - hiếu - nghĩa trong Nho giáo Việt Nam thì chưa có công trình nghiên
Trang 34cứu chuyên biệt nào công bố Vì vậy, theo chúng tôi đây là một vấn đề hoàn toàn mới
mẻ, chưa có ai khai thác nên hướng nghiên cứu của luận án là cần phải giải quyết là chỉ
ra những thay đổi về đạo trung - hiếu - nghĩa trong Nho giáo cuối thế kỷ XIX
Thứ ba, làm rõ mối quan hệ giữa đạo trung, hiếu, nghĩa với những thay đổi
trong tư tưởng yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Đạo trung - hiếu - nghĩa là lấy
ý thức trách nhiệm với dân, lấy cứu dân cứu nước làm động lực chiến đấu, chứ không phải là lấy trung vua như các thế kỷ trước làm động lực chiến đấu Đây là một điểm khác biệt về những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo nửa cuối thế kỷ XIX, cũng như tư tưởng trung quân - ái quốc thời kỳ này cũng có nhiều thay đổi rất khác lạ
so với các thế kỷ trước Từ đó, rút ra ý nghĩa của sự thay đổi đạo trung - nghĩa của Nho
giáo cuối thế kỷ XIX đối với xã hội đương thời và ý nghĩa của sự thay đổi đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo cuối thế kỷ XIX đối với xã hội Việt Nam hiện nay Tinh thần của Nho giáo nói chung và tinh thần đạo đức trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo nói riêng, nếu gạt sang một bên những hạn chế của nó, chúng ta vẫn thấy ý nghĩa nhất định của nó trong thời đại mới Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, rất nhiều người
đã sao nhãng, thậm chí quên đi trách nhiệm của người làm con đối với cha mẹ, anh với
em, thầy với trò, trách nhiệm của công dân với Tổ quốc Rồi chuyện bạo hành học đường, bạo hành trẻ em diễn ra với tần suất ngày càng lớn mà nguyên nhân của mọi nguyên nhân là chúng ta để cho cái mầm ác bám rễ quá sâu trong cuộc sống Khi các giá trị đạo đức bị nhầm lẫn, cái sai làm quá lâu trở nên quen thuộc, chống lại cái sai trở nên lạc lõng, các thang giá trị nhân bản bị đảo lộn thì đó chính là nguyên nhân khiến cái ác phát sinh ngày càng nhiều và khủng khiếp hơn Hiện nay, một bộ phận thanh niên Việt Nam sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, chạy theo lối sống hưởng lạc, đề cao giá trị đồng tiền Họ chỉ biết quan tâm đến bản thân mình mà không chú ý đến xã hội cũng như tình hình đất nước
Tiểu kết chương 1
1 Nho giáo và Nho giáo Việt Nam là mảng đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu khai thác Tuy nhiên, việc nghiên cứu Nho giáo nói chung và khía cạnh đạo đức Nho giáo nói riêng vẫn còn là vấn đề mở nhiều ý tưởng cần phải có sự nghiên cứu giải thích và làm rõ thêm một cách có hệ thống Sau khi khảo cứu một số lượng tài
Trang 35liệu nhất định về vấn đề này cho phép NCS tin tưởng rằng có thể kế thừa các thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước để có thể tránh được những bước đi mò mẫm, sai lầm Từ đó, triển khai việc tìm hiểu những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX cho phù hợp với định hướng nghiên cứu của đề tài để qua
đó thấy được sự tiếp thu và biến đổi của nó ở Việt Nam là mới mẻ và cần thiết
2 Chúng tôi cho rằng, ý tưởng và kết quả nghiên cứu của những luận án trên
về tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam mới chỉ là bước đầu Các tư tưởng đạo đức cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là sự thay đổi quan niệm về đạo trung
- hiếu - nghĩa của Nho giáo ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Nguyên nhân quan trọng làm cho một số tư tưởng cơ bản của đạo đức Nho giáo thay đổi là do sự xâm lược của thực dân Pháp làm thay đổi toàn bộ tồn tại xã hội ở Việt Nam, nên trong quá trình tiếp biến với những giá trị văn hóa nước ngoài một số quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa của Nho giáo Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX bắt buộc phải có những thay đổi Tuy nhiên, theo chúng tôi những thay đổi này chỉ mang tính cải lương, bởi vì trước sau các nhà Nho vẫn còn mang nặng tư tưởng quân chủ
Như vậy, các công trình nói trên với cách tiếp cận Nho giáo ở những khía cạnh khác nhau, tuy đề xuất các vấn đề về phương pháp nghiên cứu và kế thừa khác nhau; song, theo chúng tôi, vấn đề đặt ra là cần nhìn nhận Nho giáo theo nguyên tắc của lịch sử triết học, nguyên tắc lịch sử cụ thể Mặt khác, thừa nhận những yếu tố tích cực của đạo đức trung, hiếu của Nho giáo trong thời đại ngày nay Vì vậy, việc
nghiên cứu: “Những thay đổi trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ
XIX” để thấy được nhưng thay đổi trong quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa
trong Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX chính là tâm nguyện mà tác giả của luận
án mong muốn
Trang 36
Chương 2
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ THAY ĐỔI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO CUỐI THẾ KỶ XIX
Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Nho giáo và tư tuởng đạo đức Nho giáo
2.1.1 Nho giáo và quá trình du nhập vào Việt Nam
là tình hình chính trị xã hội bất ổn Trong khi xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền miên, các vua chúa chỉ lo hưởng thụ và chém giết lẫn nhau, nhân dân lại phải đối mặt với thiên tai, nạn đói triền miên khiến cho xã hội rơi vào tình trạng rối loạn Thời Chiến Quốc tiếp nối cục diện chính trị xã hội phức tạp, rối ren của thời Xuân Thu với các cuộc chiến tranh giữa các nước chư hầu với quy mô lớn hơn, tàn khốc hơn Mục đích của các cuộc chiến tranh là chiếm đất đai, xưng vương, xưng bá Chiến tranh làm cho các bên tham chiến đều kiệt quệ về sức người, sức của, cuộc sống của người dân ngày càng trở nên khốn khổ hơn
Trong thời Xuân Thu, sở hữu tư nhân mới bước đầu tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu xã hội giai cấp với sự phân tầng xã hội thì sang đến thời Chiến Quốc, chế độ công
xã nông thôn tan rã hoàn toàn, chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất trở thành quan
hệ sản xuất thống trị chi phối các quan hệ sản xuất khác Tầng lớp thống trị tập hợp ruộng đất vào tay mình, người nông dân bị bần cùng hóa, các quan hệ sản xuất đan xen phức tạp đã tạo ra một sự tác động trái chiều đối với kiến trúc thượng tầng xã hội Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội không dừng ở sự phân biệt đẳng cấp nữa mà được
Trang 37đẩy lên đỉnh điểm giữa những người dân sống trong đói nghèo, bị bóc lột thậm tệ lao dịch nặng nề và một bên là vua chúa giàu có nhiều của cải đất đai Trong thực tiễn xã hội ấy tất yếu sẽ nổ những cuộc khởi nghĩa của nông dân Theo thống kê, thời Xuân Thu kéo dài khoảng 242 năm thì đã xảy ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Giai cấp, tầng lớp thống trị cũng ý thức được tính chất mâu thuẫn ngày càng gia tăng của
xã hội nên cùng với việc vơ vét của cải, mở rộng phạm vi lãnh thổ…họ cũng bắt tay vào việc củng cố địa vị thống trị của mình bằng cách xây dựng hệ thống tư tưởng riêng để mị dân, vừa dễ trị dân, đồng thời tận dụng sức dân để xâm chiếm nước khác Hiện thực khách quan đó đã tạo tiền đề cho một sự quá độ về kinh tế, chính trị, xã hội, bước đầu tiếp cận thế giới quan khoa học triết học Đây là một trong những nguyên nhân khách quan tạo tiền đề để ra đời Nho giáo
Đến thế kỷ VI, V tr.CN ở Trung Quốc cổ đại một học thuyết chính trị - xã hội ra đời đó là Nho giáo Người sáng lập học thuyết này là Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) tên Khâu, tự Trọng Ni làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ người nước Lỗ [3; tr.139], nay thuộc phủ Duyện Châu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Thời kỳ này, thể chế thống nhất của quốc gia bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều chư hầu lớn, nhỏ Học thuyết của Khổng Tử
ra đời dùng “đạo đức để dẫn dắt dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép” [60; tr.175] để giữ trật tự xã hội cho bền vững Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan tạo tiền đề cho sự ra đời Nho giáo Bên cạnh đó có thể thấy rằng:
“Chỉ đến thời đại Xuân Thu - Chiến Quốc, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự triển khai của đấu tranh, sự xướng suất của khoa học kỹ thuật, người ta mới bắt đầu thoát khỏi chế độ thị tộc huyết thống, nhạt với quan niệm thiên thần, nắm được quy luật tự nhiên Khi ý thức xã hội đã vượt qua giai đoạn cảm tính để đạt được ngưỡng lý tính hóa, thì con người từ thế giới quan thần thoại, sợ hãi quỷ thần, tôn thờ tự nhiên dần tiến đến sự chinh phục tự nhiên, đồng thời đến gần hơn với các quan niệm khoa học và thay cho sự sợ hãi và niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên, nó tin tưởng hơn vào sức mạnh của chính mình” [9; tr.41
Trong thời kỳ này xuất hiện nhiều trường phái triết học khác nhau và Nho giáo có một vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc qua nhiều thế
Trang 38kỷ Nho giáo như là một thành tố văn hóa góp phần làm phong phú văn hóa Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hóa Hán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hóa với các tộc người khác Vì vậy:
“Chính trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị, xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, ngoại giao…kích thích lòng người, khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra các phương pháp giải quyết cứu đời, cứu người, làm nảy sinh một loạt nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học là đại diện cho lợi ích các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt, tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại” 9; tr.42
Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc, Nho giáo được nhìn nhận hết sức khác nhau, có những giai đoạn lịch sử, người ta đề cao Nho giáo, coi đó như là chuẩn mực để xây dựng đời sống xã hội, nhưng đến đầu thế
kỷ XX người ta phê phán, bài bác, thậm chí phủ nhận Nho giáo Đương nhiên, khi
đã coi Nho giáo như là một học thuyết thì việc xem xét, đánh giá khác nhau trong các giai đoạn lịch sử cũng là việc làm bình thường
Về nguyên tắc, mỗi một học thuyết, một trường phái, một ý thức hệ bao giờ cũng là sản phẩm thực tiễn của thời đại Vốn được nảy sinh từ thực tiễn ấy, ý thức
hệ không chỉ phản ánh, mà còn định hướng cho chính hoạt động thực tiễn của con người Con người trong Nho giáo vừa là đối tượng giáo dục, vừa là chủ thể chịu mọi trách nhiệm trước hành vi đạo đức của nó Theo lý luận này, nghĩa vụ đạo đức của nó không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm làm người Cho nên, những khát vọng vươn lên từ việc hoàn thành các trách nhiệm cá nhân, gia đình, xã hội để được thừa nhận và lưu danh đời sau Nho giáo cho rằng bậc quân vương phải quản lý tốt đất nước, thường dân phải trung thành với quân vương Mỗi người đều có nhiều thân phận, có thể là con, có thể là cha, có thể là thần tử, nhưng đều phải duy trì ranh giới tôn ti nghiêm khắc, như vậy nhà nước mới thái bình, nhân dân mới có được cuộc sống yên ổn
Trang 39Các hình thái khác nhau của đời sống tinh thần luôn là bức tranh muôn màu phản ánh cục diện của thời đại và Nho giáo cũng không nằm ngoài quy luật khách quan đó Nho giáo là học thuyết thể hiện sự mong muốn xây dựng một xã hội thái bình nên đã chú trọng vấn đề giáo dục đạo đức con người để ổn định trật tự xã hội Nho giáo chủ trương đưa xã hội từ chỗ “vô đạo” trở về “hữu đạo”, hy vọng dùng đạo đức để “ giáo hóa được dân thì dễ sai bảo, dễ trị công việc chính hình sẽ nhẹ đi nhiều” [60; tr.169]
Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức cũng như tư tưởng trước đây thành học thuyết gọi là Nho giáo hay Nho giáo Vốn xuất thân từ tầng lớp quý tộc bị thất thế, Khổng Tử muốn đưa ra một học thuyết về quản lý xã hội, quản lý con người nhằm thiết lập và duy trì trật tự xã hội đang bị loạn lạc thời bấy giờ, mong muốn xây dựng một xã hội thịnh trị với quyền lực tập trung và sự trung thành rộng khắp Nho giáo đã chú trọng vấn đề con người phải thấm nhuần tư tưởng chính danh, gắn liền với định phận nên có lợi cho việc ổn định trật tự xã hội Vì thế, trong
hệ thống lý luận của Nho giáo và đạo đức Nho giáo, quan niệm về đạo trung - hiếu - nghĩa có một vị trí rất quan trọng, thậm chí mang tính quyết định cho sự tồn tại của học thuyết này Hơn thế nữa, tư tưởng Nho giáo tuy không thể tích hợp được vào hệ giá trị của xã hội hiện đại, song nhìn nhận ở một góc độ khác thì có thể thấy, trong bất cứ một xã hội nào, đạo đức trung - hiếu - nghĩa luôn hiện diện trong hệ chuẩn mực căn bản của đạo đức Nho giáo để nhận diện và đánh giá con người
Nho giáo có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài hằng mấy nghìn năm Học thuyết Nho giáo là một trong rất nhiều học thuyết thời cổ Trung Quốc, là hệ tư tưởng chính trị, chứ không phải là một tôn giáo, và từ thời Hán trở đi nó được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn 2000 năm ở Trung Quốc Nho giáo có ảnh hưởng cả về bề sâu và bề rộng tới một số nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam Bề sâu là các giai đoạn phát triển ở giai đoạn sau thường phong phú hơn giai đoạn trước Nho giáo tùy từng thời kỳ phải thích nghi với điều kiện xã hội mới, phải đấu tranh với các tư tưởng khác sinh ra từ nội địa hoặc nhập vào từ nước ngoài Nho giáo là một học thuyết nó không phải nhất thành bất biến, nó luôn luôn biến đổi và thể hiện khả năng thích ứng mà vẫn giữ bản sắc là một đặc tính riêng biệt của Nho giáo
Trang 40Ở Việt Nam, sĩ phu đi học thì tự gọi là đến cửa Khổng sân Trình Một thuở sĩ phu Việt Nam xem Khổng - Mạnh, Hán Nho, Tống Nho là hình thái cao nhất của Nho giáo Nho giáo đã trở thành một thành tố tư tưởng văn hoá, in đậm dấu ấn của mình trong suốt hai nghìn năm trăm năm Cho đến tận hôm nay, dù tự giác hay không tự giác, dù đậm hay nhạt, có khoảng một tỷ rưỡi người đang chịu ảnh hưởng học thuyết Nho giáo Học thuyết này đã trở thành cốt lõi của cái mà ta gọi là văn hóa phương Đông Dĩ nhiên, nó có những hạn chế nhất định do tính quy định, tác động của thời đại, nhưng đóng góp về mặt tích cực của nó thật đáng trân trọng
2.1.1.2 Các thời kì phát triển của Nho giáo
Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ Nho gồm
từ nhân (người) đứng gần chữ Nhu (cần, đợi, chờ) Những người theo học và có tri thức sâu rộng về Nho giáo được gọi là nhà Nho, người đọc và hiểu được sách thánh hiền được thiên hạ trọng dụng
Khổng Tử là một nhân vật có nhiều ảnh hưởng đối với nền văn hóa truyền thống Trung Hoa trong thời đại phong kiến Trung Quốc Bởi vì, tư tưởng đẳng cấp
và tư tưởng cải lương chính trị của ông phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, có lợi cho sự ổn định trật tự của xã hội Ở Trung Quốc, sự ảnh hưởng tư tưởng của Khổng Tử là cơ bản vì mỗi người dân đều ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết này Hơn hai nghìn năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hoá , mà còn thể hiện trong hành vi và cách tư duy của mỗi người Trung Quốc Ngày nay, sự ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử
đã không còn giới hạn ở Trung Quốc và châu Á nữa mà nó đã có sự ảnh hưởng ở nhiều nước trên thế giới
Sách kinh điển Nho giáo gồm hai bộ: Ngũ kinh và Tứ thư Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Dịch Tứ thư gồm có Luận ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh tử Các sách kinh điển hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Quốc cổ đại, ít viết về tự nhiên “Khổng Tử đã giành nhiều công phu thu thập tài liệu lịch sử và di sản tư tưởng của ngày trước Ông đã chép lại và soạn lại Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Dịch” [49; tr 18]