1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh tuyên quang

98 591 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 717,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009, thì những trường hợp giảm nhẹ TNHS là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt, vai tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CAO TRỌNG THỦY

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN

Về NHữNG TRƯờNG HợP GIảM NHẹ TRáCH NHIệM HìNH Sự

THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CAO TRỌNG THỦY

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN

Về NHữNG TRƯờNG HợP GIảM NHẹ TRáCH NHIệM HìNH Sự

THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lấ VĂN CẢM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn vẫn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Cao Trọng Thủy

Trang 4

HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 13 1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của những trường hợp

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 13

1.1.1 Khái niệm những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 13 1.1.2 Các đặc điểm của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 29

1.2 Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình

sự Việt Nam về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự (Từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến trước

khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999) 33 Kết luận chương 1 38 Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG TRƯỜNG

HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO BỘ

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 39 2.1 Thực trạng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về

những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 39

2.1.1 Nội dung của những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 39 2.1.2 Nội dung của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

được áp dụng theo Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 61

Trang 5

2.2 Thực tiễn áp dụng những trường hợp giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh

Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014) 64

2.2.1 Thực tiễn xét xử một số vụ án có những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 64

2.2.2 Thực tiễn xét xử một số vụ án có những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 68

2.3 Những hạn chế và bất cập trong việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 75

Kết luận chương 2 77

Chương 3: NỘI DUNG HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 HIỆN HÀNH VỀ NHỮNG TRƯỜNG HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 78

3.1 Một số yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện Bộ luật Hình sự năm 1999 hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 78

3.2 Nội dung hoàn thiện một số quy định về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành 80

3.2.1 Hoàn thiện các quy định chung của pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 80

3.2.2 Hoàn thiện các quy định riêng của pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 80

3.2.3 Quy định chi tiết áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 81

3.2.4 Một số giải pháp 82

Kết luận chương 3 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ

TNHS được quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 dựa trên cơ sở nghiên cứu 150 bản án 65

Bảng 2.2 Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ

TNHS được quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS năm

1999 được hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP dựa trên cơ sở nghiên cứu 150 bản án 69

Bảng 2.3 Thống kê việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ

TNHS do Tòa án tự ghi nhận trong bản án theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS dựa trên cơ sở nghiên cứu

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là một nhiệm vụ tiếp tục được Đại hội XI của Đảng kế thừa và phát triển, đồng thời tư tưởng chỉ đạo đó đã được hiến định một cách đầy đủ tại Hiến pháp năm 2013, tại Hiến pháp

năm 2013 quy định: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [35, Điều 2, Khoản 1] Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó

chúng ta cần phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, định hướng đó đòi hỏi thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ:

Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo

vệ quyền con người [2, tr.2-3]

Trong pháp luật hình sự, các tình tiết có vai trò quan trọng trong việc xác định và xử lý tội phạm Được sử dụng để phân biệt các tội phạm khác nhau; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của các trường hợp phạm tội trong cùng loại tội phạm; làm rõ mức độ nguy hiểm cũng như mức độ TNHS của các trường hợp phạm tội cụ thể Đồng thời còn được áp dụng làm căn cứ

để định tội cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội Nếu thiếu

Trang 9

những tình tiết cụ thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh không đúng, không phù hợp, làm cho hình phạt không đạt được mục đích khi áp dụng đối với người phạm tội Trong số đó, các trường hợp giảm nhẹ TNHS là cơ sở để giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội và giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt, thực thi đúng các quy định này là bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng trong việc sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1999

Nghiên cứu lịch sử lập pháp của nước ta cho thấy quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS đã tồn tại từ khá lâu trong lịch sử Ngay từ thời phong kiến, trong Quốc triều hình luật đã có những quy định về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình Cho đến BLHS năm 1985, những trường hợp giảm nhẹ TNHS được ghi nhận chính thức như là những chế định độc lập trong pháp luật hĩnh sự một cách chi tiết và khá hoàn thiện Đến khi pháp điển hóa pháp luật hình sự Việt Nam lần thứ hai với việc thông qua BLHS năm

1999, các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS cũng đã được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Tuy nhiên, lần pháp điển hóa thứ hai và đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì BLHS vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt lập pháp đối với chế định này, cũng như thực tiễn áp dụng nó Chẳng hạn,

cả hai BLHS năm 1985 và năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) vẫn không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê những trường hợp giảm nhẹ hình phạt trong Khoản 1 Điều 46 và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 46 BLHS Điều đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật có những bất cập nhất định Việc nghiên cứu những trường hợp giảm nhẹ TNHS theo Luật Hình sự Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong việc

áp dụng các trường hợp giảm nhẹ TNHS

Trang 10

Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009), thì những trường hợp giảm nhẹ TNHS là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt, vai trò của những trường hợp giảm nhẹ TNHS rất quan trọng trong việc quyết định hình phạt:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa làm cho tội phạm đã thực hiện và nhân thân của người phạm tội ít nguy hiểm hơn so với những trường hợp phạm tội mà không có tình tiết giảm nhẹ đó, đồng thời khi có nó người phạm tội được Tòa án áp dụng

loại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn [67, tr 3]

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, vấn đề áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS đang còn có một số vướng mắc, sai sót cần được tháo gỡ Bởi lẽ theo Nghị quyết 49 đã nêu:

Thực tiễn cho thấy, phạm vi áp dụng của các tình tiết giảm nhẹ TNHS tương đối rộng Lạm dụng hoặc thờ ơ đối với việc áp dụng chúng có thể gây nên tác hại nhất định, hậu quả có thể quyết định hình phạt quá nhẹ, dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm Sự thờ ơ với việc áp dụng các quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể đưa đến việc quyết định hình phạt quá nghiêm khắc, dẫn đến phản tác dụng cho quá trình cải tạo, giáo dục người phạm tội [2, tr.2]

Hơn nữa, việc áp dụng chính xác những trường hợp giảm nhẹ TNHS giúp cho việc đánh giá tính chất vụ án, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của người phạm tội được chính xác, trên cơ sở đó mới có thể quyết định loại và mức hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật Đồng thời việc áp dụng đúng những trường hợp giảm nhẹ TNHS đảm bảo cho việc thống nhất trong chính sách hình sự của Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm [1, tr.14] Trong khi đó, việc áp dụng không

Trang 11

chính xác những trường hợp giảm nhẹ TNHS sẽ đưa đến hậu quả là Tòa án sẽ quyết định một bản án thiếu công minh, không chính xác, không đúng pháp luật, vì bản án đó không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng như nhân thân người phạm tội và công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Với những nhận định nêu trên, cả về lý luận cũng như thực tiễn áp

dụng pháp luật là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực

tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)” để nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp

Tuy nhiên, đúng như tên gọi và nội dung chủ yếu của đề tài, dưới

góc độ nhận thức khoa học có thể khẳng định rằng: Bản chất của những

trường hợp giảm nhẹ TNHS theo luật Hình sự Việt Nam trong đề tài này

bao gồm: Nhóm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và các tình tiết trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và do Toà án cân nhắc, theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 Vì vậy, trong phạm vi của một Luận văn thạc sĩ luật học tác giả chỉ đề cập đến nhóm các tình tiết đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định tại BLHS, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và do Toà án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội Trường hợp giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu hình phạt ở

mức thấp hơn, có cơ hội được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước

Trang 12

Khi đề cập đến tình hình nghiên cứu có thể khẳng định trong những năm qua đã có những công trình khoa học, các sách, các giáo trình và các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học mà ở các mức độ khác nhau có đề cập đến một số vấn đề cơ bản liên quan đến luận văn này Đó là:

2.1 Các sách (Sách chuyên khảo, sách tham, sách hướng dẫn và các giáo trình)

1) Đinh Văn Quế (2000), “Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội

2) GS - TSKH Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

3) Đinh Văn Quế (2009), “Bình luận khoa học về các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, tái bản lần 2, NXB thành phố Hồ Chí Minh

4) Tập thể tác giả do GS-TSKH Lê Cảm chủ biên (2001), “Giáo trình

Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung)”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,

5) Tập thể tác giả do TS Uông Chu Lưu chủ biên (2001), “Bình luận

khoa học BLHS Việt Nam năm 1999 (Phần chung)”, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội

6) Tập thể tác giả do PGS-TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2001),

“Trách nhiệm hình sự và Hình phạt”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

7)Tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2001), “Giáo

trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)”, ĐH Huế, NXB Giáo dục

8) Kiều Đình Thụ, Tìm hiểu Luật hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh

2.2 Các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học

1) GS-TSKH Lê Cảm (2000), “Chế định trách nhiệm hình sự trong Bộ

luật hình sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số 4)

2) GS-TSKH Lê Cảm - TS Trịnh Tiến Việt (2002), “Nhân thân người

phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2002

Trang 13

3) Đỗ Văn Chỉnh (2000), “Những vấn đề cần lưu ý trong xét xử”, Tạp

chí Toà án nhân dân (số 1)

4) TS Trịnh Tiến Việt (2003), “Về các điều kiện cho hưởng án treo

theo quy định của BLHS năm 1999”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9

5) TS Trịnh Tiến Việt (2004), “Về ảnh hưởng của các tình tiết giảm

nhẹ trong việc quyết định hình phạt”, Tạp chí KHPL số 1

6) Phạm Hồng Hải (2001), “Chế định truy cứu TNHS và vấn đề áp

dụng chế định này trong thực tiễn”, Tạp chí Luật học số 10

7) Dương Tuyết Miên (2003), “Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng theo

BLHS năm 1999”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 1)

8) Trần Thị Quang Vinh (2005), “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự trong luật hình sự”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, từ 2010 đến 2014 đã có một loạt các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) mà ở các mức độ khác nhau có liên quan đến đề tài này, đó là:

9) Phạm Ngọc Ánh (2014), “Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng

điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II (tháng 01)

10) Thái Chí Bình (2014), “Tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc khoản 2

Điều 46 BLHS, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án

nhân dân kỳ II (tháng 1)

11) Đỗ Thị Thanh Huyền và Đỗ hải Yến (2014), “Giải pháp nâng cao

hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong điều tra các vụ án giết người”, Tạp chí Kiểm

sát (số 11)

12) Lê Xuân Lục (2014), “Bàn về căn cứ và giới hạn của việc quyết

định hình phạt nhẹ hơn quy định trong Bộ luật Hình sự” Tạp chí Kiểm sát số

06 (tháng 3)

Trang 14

13) Đinh Văn Quế (2010), “Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết “tự thú”

và “đầu thú” trong thực tiễn xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 3 (tháng 2)

14) Đỗ Văn Tạo (2011), “Bàn về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ

“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Tòa án

nhân dân kỳ II tháng 10, (số 20)

15) TS Phạm Minh Tuyên (2012), “Về áp dụng điều 47 Bộ luật Hình

sự khi quyết định hình phạt”, Tạp chí Kiểm sát số 20 (tháng 10)

16) TS Phạm Minh Tuyên (2013), “Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung

phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999”, Tạp chí Kiểm sát số 18 (tháng 9)

17) TS Phạm Minh Tuyên(2014), “Một số vấn đề về tổng hợp hình

phạt tù có thời hạn với án treo trong thực tiễn xét xử hiện nay”, Tạp chí Kiểm

sát số 02 (tháng 1)

18) Cao Thị Thu Thắng (2014), “Tăng cường kháng nghị phúc thẩm

hình sự theo Chỉ thị 03/CT-VKSTC-VPT1 của Viện trưởng VKSND tối cao để đạt hiệu quả cao hơn”, Tạp chí Kiểm sát số 13 (tháng 7)

19) Phạm Văn Thiệu (2010), “Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định

của khung hình phạt (Kỳ I)”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II (tháng 3)

20) TS Trịnh Tiến Việt (2013), “Bảo đảm tính thống nhất khi sửa đổi,

bổ sung Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 07(tháng 4)

21) Nguyễn Quốc Việt (2014), “Hoàn thiện chế định loại trừ trách

nhiệm hình sự”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số chuyên đề (tháng 8)

2.3 Các luận án, luận văn

1) Trần Thị Quang Vinh (2001), “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự trong Luật Hình sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện

Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội

2) Chu Thanh Hà (2015), “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trang 15

thuộc về nhân thân người phạm tội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật -

Đại học Quốc gia Hà Nội

Các công trình nêu trên là cơ sở lý luận để giải quyết những vấn đề chuyên biệt của đề tài, đồng thời là cơ sở làm sáng tỏ những nội trong thực tiễn áp dụng được nêu trong luận văn

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục đích của Luận văn

Trong một chừng mực nhất định, luận văn nghiên cứu một cách tương

đối hệ thống và tương đối toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS, luận văn hướng tới mục đích phát triển lý luận về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật

Hình sự hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ TNHS

3.2 Nhiệm vụ của Luận văn

Muốn đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu trên, luận văn cần phải

thực hiện các nhiệm vụ sau:

Về lý luận, luận văn đưa ra nhận thức đầy đủ về trường hợp giảm nhẹ

TNHS, làm rõ cơ chế giảm nhẹ TNHS, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc phân loại những trường hợp giảm nhẹ TNHS, phân tích quá trình phát triển của chế định những trường hợp giảm nhẹ TNHS sau pháp điển hóa Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi thông qua BLHS năm 1999 Từ đó, đưa ra sự nhận thức đúng đắn về giới hạn và phạm vi ảnh hưởng của những trường hợp

giảm nhẹ TNHS

Về thực tiễn, luận văn làm sáng tỏ ảnh hưởng của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được phản ánh trong các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành bằng hệ thống các mức độ và biện pháp miễn giảm trách nhiệm hình sự, nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ

Trang 16

TNHS, phát hiện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và làm rõ nguyên nhân của tình hình áp dụng đó Đồng thời, trong phạm vi nghiên cứu luận văn đưa ra một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật Hình sự và một số giải pháp

nâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ TNHS, luận văn đề cập đến một số vấn đề lý luận về những trường hợp giảm nhẹ TNHS, ngoài ra luận văn còn đề cập đến thực tiễn áp dụng những trường hợp này trong giải quyết các vụ án hình sự tại địa phương Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn nêu lên sự phát triển các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến trước khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999 cũng như các trường hợp giảm nhẹ TNHS trong Nghị quyết áp dụng thống nhất của TANDTC

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở các trường hợp được quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999 mà không đề cập đến những tình tiết giảm nhẹ được quy định trong các điều luật khác tại Phần chung Bộ luật Hình sự, luận văn tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của mỗi trường hợp giảm nhẹ đến TNHS Đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng chế định này trong thực tiễn, và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực đinh và nâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn

Mặt khác, do tính chất đa dạng và rộng lớn của đề tài, đồng thời giới hạn số trang của một Luận văn Thạc sĩ Bên cạnh đó, bản thân là cán bộ công

Trang 17

tác trong Ngành Thi hành án dân sự, vì vậy việc tiếp cận và khả năng nghiên cứu còn có những hạn chế nhất định, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, Cô giáo để bản thân có thêm kinh nghiệm, kiến thức và phương pháp nhằm tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về nội dung của đề tài

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn dựa trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp luận để nhận thức bản chất của trường hợp giảm nhẹ TNHS và cơ chế giảm nhẹ TNHS, được coi là cơ sở phương pháp luận để nhận thức ảnh hưởng của điều kiện lịch sử đến quy định của pháp luật hình sự

về những trường hợp giảm nhẹ TNHS; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật, về tội phạm học, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về nguyên tắc xử lý tội phạm Thông qua đó, việc nghiên cứu làm rõ những nét đặc thù và giá trị kế thừa trong các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS Từ đó trang bị cách tiếp cận biện chứng cho việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự trong thực tiễn

Phương pháp nghiên cứu còn kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, Luận văn được nghiên cứu tương đối đầy đủ các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS Bằng việc sử dụng các phương pháp nói trên, luận văn

có một số nhận xét về tình hình chung trong áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS vào thực tiễn, phát hiện một số vấn đề mâu thuẫn giữa quy định của pháp luật với việc tuân thủ nó, để có hướng kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực đinh và nâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong thời gian tới

6 Những điểm mới về mặt khoa học của Luận văn

Một là, trên cơ sở chỉ ra tiêu chí xác định những trường hợp giảm nhẹ

Trang 18

TNHS và tham khảo một số quan điểm về những trường hợp giảm nhẹ TNHS, luận văn đã đưa ra được một khái niệm tương đối đầy đủ về trường hợp giảm nhẹ TNHS

Hai là, trên cơ sở nghiên cứu nêu lên các đặc điểm chủ yếu của quá

trình hình thành và phát triển của chế định những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam từ khi pháp điển hóa BLHS lần đầu năm

1985 đến trước khi thông qua BLHS năm 1999

Ba là, phân tích các quy định pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam

về những trường hợp giảm nhẹ TNHS

Bốn là, tập trung nghiên cứu về tình hình áp dụng chế định này trong

thực tiễn, từ đó chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó

Năm là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những

trường hợp giảm nhẹ TNHS theo Luật Hình sự Việt nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự

7 Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của Luận văn

7.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn trong một phạm vi nhất định góp phần phát triển một số lý luận về những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong Luật Hình sự Việt Nam

7.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn đưa ra một số luận cứ khoa học cho việc cụ thể hoá chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với việc xử lý tội phạm trong pháp luật hình sự hiện hành Đồng thời đưa ra giải pháp giải quyết một

số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS Kết quả nghiên cứu đề tài có thể phục vụ cho việc trang bị một số kiến thức chuyên sâu đối với cán bộ pháp luật trong lĩnh vực hình sự

Trang 19

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương Cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về những trường hợp giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt nam

Chương 2: Thực trạng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014

Chương 3: Nội dung hoàn thiện các quy phạm của Bộ luật Hình sự năm

1999 hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trang 20

1.1.1 Khái niệm những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

BLHS không đưa ra khái niệm về những trường hợp giảm nhẹ TNHS Trong khoa học pháp lý nước ta, quan niệm về vấn đề này cũng chưa thống nhất Nhìn chung, đa số ý kiến cho rằng, trường hợp giảm nhẹ TNHS là trường hợp được quy định trong BLHS với tính chất là trường hợp giảm nhẹ chung hoặc là trường hợp được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt Quan niệm trên chưa cho thấy hết được bản chất, nội dung của trường hợp giảm nhẹ TNHS mà mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý của chúng

Dưới góc độ nghiên cứu của cá nhân, về bản chất, trường hợp giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở mức thấp hơn Trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội

Những trường hợp giảm nhẹ TNHS có thể hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau Ở cấp độ thứ nhất mang tính chất tổng thể, giảm nhẹ TNHS là bất kỳ

Trang 21

trường hợp nào, mà sự hiện diện của nó có tác dụng làm giảm bớt mức độ TNHS Như vậy, ở cấp độ này, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là tình tiết định tội giảm nhẹ, định khung giảm nhẹ, các trường hợp được quy định tại Điều 46 và các Điều luật khác thuộc Phần chung BLHS, cũng như các trường hợp được áp dụng theo quy định của khoản 2 Điều 46 BLHS Ở cấp độ thứ hai, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS trên cơ sở đã có một chuẩn mực xác định về TNHS Theo nghĩa này, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp được quy định

và áp dụng theo quy định Phần chung BLHS (không bao gồm các tình tiết định tội, định khung giảm nhẹ) Ở cấp độ thứ ba, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có ý nghĩa giảm nhẹ hình phạt trong giới hạn khung hình phạt

Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, những trường hợp giảm nhẹ TNHS

là những trường hợp có ý nghĩa làm giảm hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt [40, tr 205]; [52, tr 244] Quan niệm như vậy là hẹp so với chính tên gọi và khả năng ảnh hưởng của chúng đến TNHS Như đã trình bày ở phần trên, nội dung của TNHS là các tác động cưỡng chế hình sự bao gồm việc bị kết án, bị áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích Như vậy, giảm TNHS không chỉ giới hạn ở việc giảm mức hình phạt, mà còn thể hiện

áp dụng các biện pháp khoan hồng khác thay thế hình phạt, miễn hình phạt, thậm chí miễn toàn bộ TNHS Hơn nữa, ngay cả trong khía cạnh giảm hình phạt, cách hiểu trên cũng vẫn là một khái niệm hẹp Bởi lẽ, theo quy định của PLHS, giá trị giảm nhẹ của những trường hợp giảm nhẹ TNHS không thuần tuý chỉ liên quan đến việc giảm hình phạt trong phạm vi khung hình phạt, mà

có thể đưa đến các khả năng giảm nhẹ khác về hình phạt như giảm hình phạt dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giảm hình phạt theo tỉ lệ luật định, giảm thời hạn chấp hành hình

Trang 22

phạt, miễn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (án treo), miễn hình phạt Do vậy, theo quan điểm cá nhân, cần thiết xây dựng khái niệm rộng hơn về những trường hợp giảm nhẹ TNHS

Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS Để quy định và áp dụng đúng những trường hợp giảm nhẹ TNHS, cần thiết phải làm rõ các tiêu chí xác định chúng trên cơ sở làm sáng

tỏ cơ chế giảm nhẹ TNHS Cơ chế giảm nhẹ TNHS được thể hiện thông qua các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có

ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên chúng có giá trị giảm nhẹ TNHS [51, tr 206], [50, tr 244], [63, tr 216] Cơ

sở giảm nhẹ TNHS trong trường hợp này xuất phát từ thừa nhận sự tương xứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện với mức độ TNHS Như Mác đã nhận định:

Làm cho sự trừng phạt trở thành hậu quả thực tế của việc phạm tội Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phái là kết quà tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó Giới hạn hành vi của y phải là giới hạn của sự trừng phạt [12, tr 181]

Điều đó có nghĩa là tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vì phạm tội là thước đo mức độ TNHS Do vậy, để giảm mức độ TNHS, phải

là những trường hợp có ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đây là biểu hiện khách quan và chủ quan của tội phạm, biểu hiện về nhân thân người phạm tội mà sự hiện diện của chúng cố ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Theo đó, những trường hợp giảm nhẹ TNHS thường là những trường hợp phản ánh mức độ thực hiện tội phạm chưa trọn vẹn do nguyên nhân khách quan hoặc do sự tự nguyện của

Trang 23

người phạm tội; tác hại của tội phạm gây ra không lớn hoặc đã được khắc phục, mức độ lỗi hạn chế do người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, là người phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động vì hành vi trái pháp luật của người khác, là người chưa thành niên Những biểu hiện liên quan đến tội phạm và nhân thân người phạm tội nêu trên đã phản ánh sự hạn chế về mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện Do vậy, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có khả năng làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và đây là căn cứ giảm nhẹ TNHS

Thứ hai, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp phản

ánh khả năng cải tạo của người phạm tội Nhân thân người phạm tội là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ TNHS Cơ sở lý luận của khả năng giảm nhẹ này thể hiện ở chỗ, biện pháp xử lý về hình sự chỉ có thể trong giới hạn đủ cần thiết nhằm đạt được mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, các quy tắc của cuộc sống chung Trong hướng giảm nhẹ TNHS này, những trường hợp giảm nhẹ TNHS phải là những trường hợp phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội thể hiện thông qua thái độ thành thực hối lỗi về việc thực hiện tội phạm, hạnh kiểm ít lệch chuẩn, có quan hệ tốt với cộng đồng, gia đình, có thái độ tốt đối với lao động, tinh thần sẵn sàng chịu

trách nhiệm, quyết tâm cải tạo phục thiện v.v Mặt khác, việc thực hiện tội

phạm, ở mức độ nhất định cũng có nguyên nhân xã hội Việc thừa nhận con người hành động trong sự tự do ý chí phải chịu trách nhiệm trước xã hội về hành vi của mình, một mặt nhấn mạnh rằng, TNHS chỉ đặt ra khi một người

có lỗi trong việc thực hiện một tội phạm, mặt khác không nhằm phủ định tác động của xã hội đến hành vi của con người Do vậy, những đặc điểm tiêu cực thuộc nhân thân người phạm tội được hình thành dưới sự tác động khách quan

Trang 24

của môi trường cũng nên được xem là yếu tố có ý nghĩa giảm nhẹ một phần TNHS đối với người phạm tội mới là thỏa đáng Theo GS TSKH Đào Trí Úc

xác định: “Nội dung của chính sách hình sự về tội phạm và TNHS phải được

xây dựng trên cơ sở giải quyết một loạt các mối tương quan, trong đó có mối tương quan giữa trách nhiệm của cá nhân người phạm tội với trách nhiệm của xã hội, của Nhà nước” [57, tr 197] Vậy, những trường hợp giảm nhẹ

TNHS là những trường hợp phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội

và vì thế mà nó có giá trị giảm nhẹ TNHS

Thứ ba, những trường hợp phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người

phạm tội đáng được khoan hồng Trong trường hợp này, việc giảm nhẹ TNHS

là vì lý do nhân đạo hoặc do không còn yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự Cơ sở lý luận của khả năng giảm nhẹ này xuất phát trước hết từ nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc nhân đạo được đặt ra và xây dựng trên cơ sở nghiên cứu khoa học sâu sắc và ngày càng đầy đủ hơn về khả năng thực tế và vai trò của PLHS trong việc tác động đến tội phạm Từ nhận thức đó, Nhà nước sử dụng các biện pháp xử phạt hình sự như công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm bằng cách đề cao tác động giáo dục cải tạo, hướng thiện đối với người phạm tội Với cách tiếp cận như vậy, khi có cơ sở để khoan hồng đối với người phạm tội, để tin rằng mức độ TNHS được áp dụng đối với họ là đủ cần thiết, Nhà nước sẽ áp dụng

cơ chế giảm nhẹ TNHS Đó chính là chỗ đứng cho các tình tiết giảm nhẹ TNHS vì lý do nhân đạo Mạt khác, thực tiễn cũng cho thấy, việc buộc người phạm tội phải chịu TNHS xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của xã hội, bảo

vệ trật tự kỷ cương pháp luật là những điều kiện thiết yếu cho sự phát triển lành mạnh của một xã hội Nghĩa là việc áp dụng TNHS đối với người phạm tội, xét toàn cục, là một việc làm cần thiết và có lợi Tuy nhiên, áp dụng TNHS đối với họ ở một mức độ nhất định cũng có mặt trái của nó Với tư

Trang 25

cách là một con người trong xã hội, người phạm tội tham gia vào đời sống xã hội với nhiều mối liên hệ khác nhau Việc áp dụng biện pháp tác động bất lợi

về hình sự đối với cá nhân người phạm tội có khả năng kéo theo một số hệ quả tiêu cực nhất định Ví dụ, người phạm tội là người lao động duy nhất của gia đình thì việc phải thụ hình tại trại giam có thể làm phát sinh một số hệ quả tiêu cực khác như gia đình của họ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế, không có nguồn sống, con cái chưa thành niên của người phạm tội trở thành trẻ không nơi nương tựa, không có người chăm sóc dạy dỗ Trong những trường hợp này, bên cạnh mặt tích cực và cần thiết của việc áp dụng TNHS đối với người phạm tội thì khả năng phát sinh những hệ quả tiêu cực khác vẫn có thể xảy ra và cần được tính tới Do vậy, vấn đề áp dụng TNHS, mức độ của nó như thế nào là một bài toán cần lời giải trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa sự cần thiết phải áp dụng TNHS vì lợi ích chung của xã hội và khả năng phát sinh hệ quả tiêu cực khác do việc áp dụng TNHS Mức độ và hình thức TNHS cần áp dụng phải được lựa chọn sao cho, một mặt phải đạt được mục đích của nó, mặt khác phải hạn chế tối đa khả năng phát sinh những hệ quả tiêu cực

Vì vậy, khi quy định hình phạt trong khâu lập pháp và nhất là khi Toà án quyết định hình phạt, cần tính đến để có biện pháp hạn chế đến mức có thể được những hậu quả phụ của hình phạt đối với những người không gây ra hành vi phạm tội nhưng vì lẽ này hay lẽ khác có mối liên hệ với người phạm [57, tr 262]

Đây chính là cơ sở mà PLHS Việt Nam quy định những trường hợp giảm nhẹ TNHS vì lý do nhân đạo Trong PLHS và thực tiễn áp dụng đã thể hiện rõ thái độ nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội là phụ nữ đang nuôi con nhỏ, là người chưa thành niên, là người già (Điều 46 BLHS), người đang mắc bệnh nặng, là người lao động duy nhất trong gia đình (Điều 61

Trang 26

BLHS), nhiều người trong cùng một gia đình có khả năng phải chịu mức án đặc biệt nghiêm khắc v.v là những trường hợp giảm nhẹ TNHS Như vậy, để quy định và áp dụng một trường hợp là trường hợp giảm nhẹ TNHS cần dựa vào một trong các tiêu chí sau:

* Tác dụng làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện

* Phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội

* Hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng

Mối quan hệ mật thiết của những trường hợp giảm nhẹ TNHS với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và khả năng cải hoá của người phạm tội thế hiện bản chất pháp lý của những trường hợp giảm nhẹ TNHS

Cơ chế giảm nhẹ TNHS nguyên tắc vận hành chủ đạo trong mốt quan hệ đó

và là bản chất pháp lý để giảm nhẹ TNHS Do vậy, bản chất pháp lý của những trường hợp giảm nhẹ TNHS chính là khả năng làm giảm TNHS do đã làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện, phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội hoặc đáng được khoan hồng khi người phạm tội có hoàn cảnh đặc biệt

Khi nêu khái niệm những trường hợp giảm nhẹ TNHS sẽ không thể được coi là đầy đủ nếu không đề cập phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Trong hồ sơ vụ án hình sự có nhiều loại tình tiết Phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được định vị trên cơ sở làm rõ mối quan hệ của chúng với các tình tiết trong một vụ án hình sự, các tình tiết liên quan đến việc thực hiện tội phạm, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các căn cứ quyết định hình phạt Xác định đúng phạm vi những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong một vụ án hình sự cho phép nhận thức rõ ràng và đầy đủ về chúng, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS từ khâu thu thập chứng cứ đến việc giải quyết TNHS đối với người phạm tội Những phạm vi đó gồm:

Trang 27

1) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác lập trên cơ sở làm rõ

mối quan hệ giữa những trường hợp giảm nhẹ TNHS và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những dấu hiệu nằm hoàn toàn ngoài cấu thành hay đan xen cùng với các dấu hiệu của cấu thành Như chúng ta đã biết, cấu thành tội phạm là tổng hợp những đặc điểm chung mang tính điển hình của một loại tội phạm bao gồm khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm Do vậy, cấu thành tội phạm thường được hiểu với ý nghĩa là khuôn mẫu pháp lý của một tội phạm cụ thể Những dấu hiệu của nó được mô tả trên những nét cơ bản nhất, tạo thành cơ

sở chung của TNHS đối với mọi trường hợp phạm tội thuộc loại tội phạm đó Tuy nhiên, trong giới hạn khung trách nhiệm đó thì mức độ TNHS như thế nào còn phụ thuộc vào trường hợp phạm tội cụ thể phản ánh mức độ thực hiện hành vi phạm tội, hình thức phạm tội là đồng phạm hay đơn lẻ, đặc điểm nhân thân người phạm tội Do vậy, ở khía cạnh này, quan hệ của những trường hợp giảm nhẹ TNHS với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là quan hệ giữa cái

cụ thể với cái chung, trong đó các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được ghi nhận trong luật ở mức chung nhất phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện cụ thể của từng trường hợp phạm tội thuộc một loại tội phạm Chúng chỉ rõ các mức độ khác nhau của các dấu hiệu cấu thành tội phạm Đây chính là cơ sở để xác định ranh giới về mặt lý thuyết giữa các dấu hiệu cấu thành tội phạm với những trường hợp giảm nhẹ TNHS Như vậy, có thể hiểu trên hai mặt của vấn đề: Một mặt, có những tình tiết tuy liên quan đến việc thực hiện tội phạm và có giá trị giảm nhẹ TNHS nhưng không được coi là trường hợp giảm nhẹ TNHS

Vì tính khái quát cao, chúng là cơ sở để xây khuôn mẫu pháp lý chung đối với một loại tội phạm (gồm dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung) Mặt khác, có những trường hợp tuy là biểu hiện của các dấu hiệu cấu thành tội phạm,

Trang 28

nhưng chỉ phản ảnh các mức độ nguy hiểm cụ thể của từng trường hợp phạm tội, có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS và giá trị giảm nhẹ TNHS của chúng chưa được ghi nhận trong chế tài Những trường hợp này được gọi là trường hợp giảm nhẹ TNHS Phản ánh rõ nhất mức độ nguy hiểm cho xã hội của trường hợp phạm tội và giá trị giảm nhẹ TNHS chưa được phản ánh trong chế tài là nét đặc trưng của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Đây là cơ sở để phân biệt những trường hợp giảm nhẹ TNHS với các tình tiết định tội, tình tiết định khung và cũng là cơ sở để nhìn nhận vai trò của những trường hợp giảm nhẹ TNHS như một phương tiện cá thể hoá TNHS Do vậy, xét trong mối quan hệ với các dấu hiệu cấu thành tội phạm (tình tiết định tội, định khung giảm nhẹ), những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp đan xen với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Trong mối quan hệ đó, nếu tình tiết định tội, định khung là cơ sở để quy định khung trách nhiệm, thì những trường hợp giảm nhẹ TNHS đóng vai trò là phương tiện quan trọng để cá thể hoá TNHS

Như vậy, ở phạm vi này, xét trong mối quan hệ với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, những trường hợp giảm nhẹ TNHS phản ánh các mức độ thể hiện khác nhau của các dấu hiệu cấu thành tội phạm trong từng trường hợp phạm tội Còn các dấu hiệu cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phản ánh mô hình pháp lý của một loại tội phạm ở mức độ chung nhất đối với tất cả các trường hợp phạm tội cụ thể thuộc loại tội phạm đó Trong ý nghĩa này, những trường hợp giảm nhẹ TNHS tồn tại đan xen cùng với các dấu hiệu của cấu thành và khác với các dấu hiệu đó bởi mức độ khái quát

2) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên cơ sở làm rõ

ranh giới giữa chúng với những trường hợp khác trong một vụ án hình sự Các tình tiết trong vụ án hình sự phải là những tình tiết liên quan đến vụ án

đó Chúng được sử dụng để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bao gồm việc lựa chọn hình thức và mức độ TNHS đối với người phạm tội, quyết định

Trang 29

về vấn đề sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của tội phạm, xử

lý vật liên quan đến tội phạm, đưa ra những kiến nghị đối với cơ quan có trách nhiệm khắc phục sai sót trong quản lý Những trường hợp giảm nhẹ TNHS chỉ là những tình tiết liên quan đến việc giải quyết đúng đắn mức độ TNHS cần áp dụng đối với người phạm tội Do vậy, chúng được sử dụng chỉ

để giải quyết một trong những vấn đề của vụ án hình sự Đó là vấn đề về TNHS Trong ý nghĩa này, không phải tình tiết nào liên quan đến vụ án đều nằm trong phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Do vậy, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những tình tiết liên quan đến việc giải quyết về TNHS Tính liên quan đến việc giải quyết về TNHS là một đặc tính của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Mặt khác, không phải tình tiết nào liên quan đến việc xác định mức độ TNHS đối với người phạm tội đều là trường hợp giảm nhẹ TNHS, bởi lẽ trong số các tình tiết thuộc nhóm này có cả các tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết định khung giảm nhẹ, định khung tăng nặng Ranh giới giữa những trường hợp giảm nhẹ TNHS với các tình tiết ảnh hưởng đến TNHS khác được xác định trong các phạm vi tiếp theo

3) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên trên cơ sở

phân tích mối quan hệ của chúng với tội phạm được thực hiện Trong trường hợp này, vấn đề được đặt ra là: Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những tình tiết chỉ liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện tội phạm hay ở cả ngoài phạm vi đó Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những tình tiết trực tiếp liên quan đến việc phạm tội, còn có những tình tiết khác, tuy không trực tiếp liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn biện pháp xử lý đối với người phạm tội Sự hiện diện của những tình tiết đó có thể phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi như “tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại, đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của

tội phạm”,.v.v Chúng cũng có thể phản ánh khả năng cải hoá của người

Trang 30

phạm tội như “người phạm tội có thành tích xuất sắc trong lao động, chiến

đấu, học tập”; “tự thú”; v.v Đây là những tình tiết xuất hiện trước hoặc sau

khi thực hiện tội phạm Tuy không trực tiếp liên quan tới việc thực hiện tội phạm, nhưng chúng có ý nghĩa làm giảm bớt mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc phản ánh khả năng cải hoá của người phạm tội, nên cũng có tác dụng giảm nhẹ TNHS Hơn nữa, xuất phát từ chính sách nhân đạo, tiết kiệm hợp lý các biện pháp cưỡng chế hình sự trong xử lý tội phạm thì mức độ TNHS được quyết định đối với người phạm tội phải và chỉ đủ cần thiết để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm Nếu không sử dụng những tình tiết tuy không thuộc việc thực hiện tội phạm nhưng phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và khả năng cải hoá của người phạm tội có thể đưa đến hệ quả sử dụng biện pháp cưỡng chế hình sự đối với tội phạm vượt quá mức độ cần thiết Điều này trái với chính sách hình sự của Nhà nước ta [22, tr 38]

Nhìn chung, ở phạm vi thứ ba, những trường hợp giảm nhẹ TNHS có thể là những trường hợp thuộc việc thực hiện tội phạm cũng như những trường hợp tuy không thuộc việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng ảnh hưởng đến mức độ TNHS cần áp dụng đối với người phạm tội Những trường hợp tuy không thuộc việc thực hiện tội phạm, để được coi là trường hợp giảm nhẹ TNHS trong vụ án phải liên quan đến việc giải quyết TNHS và đáp ứng các đặc điểm của trường hợp giảm nhẹ TNHS

4) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên cơ sở phân

tích mối quan hệ giữa chúng với các căn cứ quyết định hình phạt Các căn cứ quyết định hình phạt cũng là những yếu tố mà dựa vào đó Toà án lựa chọn một biện pháp cưỡng chế hình sự thích hợp đối với một trường hợp phạm tội

cụ thể Hay nói cách khác, chúng cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến mức

độ TNHS Phạm vi thứ tư của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên cơ sở phân định ranh giới giữa những trường hợp giảm nhẹ TNHS với các tình tiết thuộc các căn cứ quyết định hình phạt khác

Trang 31

BLHS 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào

quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết và giảm nhẹ, tăng nặng TNHS” [34, Điều 45] Như vậy, trên cơ sở quy định của luật (là mức độ

đầu tiên của phân hoá TNHS đối với một tội phạm cụ thể), tính chất và mức

độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, những trường hợp giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là những căn cứ quyết định hình phạt Do vậy, chúng có cùng một điểm chung là đều ảnh hưởng đến mức độ TNHS Hơn nữa, ba căn cứ này đan xen với nhau ở một mức độ nhất định, nên việc làm rõ phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong quan hệ đan xen

đó là cần thiết Theo quy định của BLHS, những trường hợp giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là một căn cứ độc lập trong quyết định hình phạt Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, chúng cũng được thể hiện ở mức độ nhất định trong các căn cứ “tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội”

và “nhân thân người phạm tội” Mặc dù vậy, nhà làm luật vẫn quy định “các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS” là căn cứ độc lập trong quyết định hình phạt Điều này xuất phát từ việc giải quyết mối tương quan giữa quy định bắt buộc do luật định với yêu cầu tuỳ nghi trong áp dụng pháp luật nhằm cân nhắc đầy đủ và toàn diện sự đa dạng phong phú của việc thực hiện tội phạm

trong quyết định hình phạt

Lý luận về pháp luật đã xác nhận rằng, sự tùy nghi đó là một biểu hiện

cố nguồn gốc từ tinh chất điển hình và khái quát cao của pháp luật Ớ pháp luật, không ai có thể thỏa mãn được hoàn toàn, vì đó là “đại lượng bằng nhau cho những cá nhân khác nhau (C.Mác) Do đó, không thể không tạo ra những khả năng vận dụng sáng tạo trong thực tiễn Nhưng những khả năng đó phải

do pháp luật quy định, chứ không phải là một sự tùy tiện [57, tr 59]

Như vậy, luật chỉ có thể điều chỉnh ở mức độ khái quát chung cho mọi trường hợp Những biểu hiện cụ thể, có thể hiện diện trong trường hợp phạm

Trang 32

tội cụ thể này nhưng lại không có trong trường hợp phạm tội khác thì không thể dùng nó làm mô hình chung để điều chỉnh mang tính ổn định Sự điều chỉnh của pháp luật đối với những biểu hiện cụ thể đó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở đưa ra những chỉ định mang tính nguyên tắc Sự chỉ định đó là cần thiết làm cơ sở pháp lý cho sự thống nhất trong áp dụng pháp luật ở mức độ

có thể Trong sự chỉ định này, TNHS tiếp tục được cá thể hoá để bảo đảm một quyết định chính xác về TNHS đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể Đó chính là cơ sở để PLHS quy định những trường hợp giảm nhẹ, tăng nặng TNHS như là một căn cứ độc lập trong quyết định hình phạt Trong mối quan

hệ với căn cứ “tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được thực hiện”, phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định dựa vào tính chất cụ thể về biểu hiện của chúng Những tình tiết thuộc về căn cứ “tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội” là những tình tiết phản ánh tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, có tác dụng xác định thang bậc xử lý chung cho các trường hợp phạm tội thuộc thang bậc trách nhiệm đó Những trường hợp giảm nhẹ TNHS phản ánh rõ hơn mức độ biểu hiện cụ thể của từng trường hợp phạm tội cụ thể Trong mối quan hệ với căn

cứ “nhân thân người phạm tội”, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện cụ thể của từng trường hợp phạm tội Nhân thân người phạm tội với

ý nghĩa là căn cứ độc lập của quyết định hình phạt thể hiện thông qua thái độ của người phạm tội đối với pháp luật, đối với các lợi ích xã hội, quan hệ của

họ đối với cộng đồng xã hội, gia đình, thái độ đối với lao động.v.v Nói lên

khả năng của người phạm tội tiếp nhận sự cải tạo, giáo dục từ phía xã hội Những biểu hiện cụ thể về nhân thân người phạm tội như tình tiết tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, lập công, người phạm tội là người chưa thành niên, thể hiện rõ nét hơn khả năng cải hoá của người phạm tội trong mỗi

trường hợp cụ thể v.v Trong mối quan hệ với những trường hợp tăng nặng

Trang 33

TNHS, những trường hợp giảm nhẹ TNHS cũng có chung một điểm là những trường hợp phản ánh mức độ biểu hiện của từng trường hợp phạm tội cụ thể, đều ảnh hưởng đến TNHS Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định bởi “chiều hướng” ảnh hưởng của chúng đến TNHS Theo đó, những trường hợp giảm nhẹ TNHS có

ý nghĩa giảm nhẹ mức độ TNHS thì những trường hợp tăng nặng TNHS có ý nghĩa làm gia tăng mức độ TNHS

Ở phạm vi thứ tư, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp tuy ở mức độ nhất định có sự đan xen cùng với căn cứ “tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện”, “nhân thân người phạm tội”, là biểu hiên cụ thể, phản ánh rõ nét nhất về mức độ nguy hiểm cho

xã hội của tội phạm được thực hiện, về khả năng cải hoá người phạm tội

Tuy những trường hợp giảm nhẹ TNHS có giá trị giảm nhẹ TNHS đối với bất cứ tội phạm nào, nhưng chúng có thể có mặt trong trường hợp này mà không có mặt trong trường hợp phạm tội khác Vì thế, những trường hợp giảm nhẹ TNHS không được sử dụng là dấu hiệu chung để xây dựng chế tài đối với một tội phạm cụ thể Hay nói cách khác, giá trị giảm nhẹ TNHS của chúng chưa được ghi nhận trong chế tài Lấy chế tài làm gốc, việc giảm nhẹ TNHS được áp dụng theo những quy tắc nhất định trên cơ sở cân nhắc giá trị giảm nhẹ của mỗi trường hợp hoặc của một tập hợp các trường hợp

Theo GS TSKH Lê Văn Cảm:

Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và được ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cá thể

Trang 34

hóa TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt [6, tr 17]

Theo Từ điển pháp luật hình sự, Tình tiết giảm nhẹ TNHS là “Tình tiết

ảnh hưởng đến mức độ TNHS của trường hợp phạm tội cụ thể theo hướng làm giảm xuống so với trường hợp bình thường” [18, tr 240]

Theo quan điểm của TS Trần Thị Quang Vinh:

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết của vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự,

có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự của chủng chưa được ghi nhận trong chế tài [70, tr 45]

Theo quan điểm của tác giả Chu Thanh Hà thì:

Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những trường hợp được quy định trong BLHS, trong các văn bản liên quan hay trong thực tiễn xét xử

vụ án hình sự, các tình tiết này có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiếm cho xã hội cũng như khả năng cải tạo của người phạm tội nên

có giá trị làm giảm nhẹ TNHS mà người phạm tội đáng lẽ ra phải chịu nếu không thuộc các trường hợp đó [14, tr 12-13]

Nhìn chung, đa số ý kiến cho rằng, tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội

Về bản chất, Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm,

Trang 35

qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở mức thấp hơn Tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy đinh trong BLHS, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án

cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội Nhân đạo là một trong những nguyên tắc chủ đạo của pháp luật hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt, "Tình tiết" được hiểu là sự việc nhỏ trong

quá trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng [64, tr 979] Do vậy, tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể hiểu là những sự việc nhỏ trong một vụ án có ý nghía làm giảm mức độ TNHS của người phạm tội Nói cách khác, trong

vụ án hình sự những tình tiết nào có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS

Còn “Giảm nhẹ TNHS" có thể được hiểu là việc miễn, giảm tác động

cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của TNHS Các tình tiết giảm nhẹ TNHS

có thể hiểu ở một số cấp độ với những vai trò khác nhau Ở cấp độ bao trùm nhất, tình tiết giảm nhẹ TNHS là bất kỳ tình tiết nào mà sự hiện diện của nó làm giảm bớt mức độ TNHS Như vậy, ở cấp độ này, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là các tình tiết định tội giảm nhẹ, định khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 46 và các điều luật khác tại phần chung BLHS, cũng như các tình tiết được áp dụng theo khoản 2 Điều 46 Ở cấp độ thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS trên cơ sở đã có một sự chuẩn mực xác định về TNHS Theo nghĩa này, tình tiết giảm nhẹ TNHS

là những tình tiết được quy định và áp dụng theo quy đinh tại phần chung BLHS (không bao gồm tình tiết định tội, định khung giảm nhẹ) [70, tr 26] Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả chỉ nên hiểu “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS” ở đây theo nghĩa là các tình tiết có vai trò làm giảm TNHS của người phạm tội một

Trang 36

cách thuần túy Bởi mặc dù có một số trường hợp xuất hiện tình tiết thuộc tình tiết được liệt kê tại Điều 46 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhưng lại đóng vai trò là tình tiết định tội (Ví dụ như tình tiết “Phạm tội do lạc hậu”

là tình tiết định tội đối với tội “Giết con mới đẻ”), như vậy nó sẽ không đóng vai trò giảm nhẹ TNHS nữa nên không thể gọi nó bằng tên “Tình tiết giảm nhẹ TNHS" được bời nó không được coi là có giá trị giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội

Tóm lại, xét về phạm vi, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những

trường hợp liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS, có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS

Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm những trường

hợp giảm nhẹ TNHS: Những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được

quy định trong BLHS hoặc do Tòa án quyết định, các trường hợp này có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo của người phạm tội và có giá trị giảm nhẹ TNHS hơn mức hình phạt đáng ra người phạm tội phải chịu

1.1.2 Các đặc điểm của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Các trường hợp giảm nhẹ có giá trị, ý nghĩa pháp lý, chính trị, xã hội không đều nhau, có trường hợp có tác động rất lớn đến lượng hình và đối với mọi trường hợp phạm tội, có trường hợp có tác động ít hơn, có trường hợp chỉ

có ý nghĩa đáng kể đối với một số loại tội phạm còn đối với loại tội phạm khác có ý nghĩa giảm nhẹ rất ít hoặc thậm chí không có ý nghĩa gì, có trường hợp mà ý nghĩa giảm nhẹ vào thời gian này, ở nơi này, trong trường hợp này

nhiều hơn là vào lúc khác, ở nơi khác và trong trường hợp khác

Thứ nhất, các trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định cụ thể trong

BLHS (bao gồm 18 trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS

năm 1999) (Theo khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 mới được thông qua

Trang 37

tháng 11/2015 là 22 trường hợp) Ngoài ra, nó còn được ghi nhận trong Nghị

quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của BLHS năm 1999) Ngoài ra, trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những trường hợp khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS và ghi rõ lý do trong bản án Đặc điểm này có hai vấn đề cần chú ý: trước hết, những trường hợp giảm nhẹ TNHS nào được BLHS quy định với tính cách là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm được nêu tại phần các tội phạm cụ thể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là trường hợp giảm nhẹ chung được quy định tại Khoản

1 Điều 46 BLHS Nghĩa là một trường hợp giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hình thức nào thì cũng không thể được áp dụng hai lần cho một trường hợp phạm tội cụ thể Tiếp đó, việc cho phép Toà án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong từng vụ án đối với từng bị cáo cụ thể nhằm mở rộng tính linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động xét xử của Toà án, bảo đảm cho hoạt động xét xử được công bằng, chính xác, khách quan Nó giúp Tòa án tính toán được sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội với chế tài hình sự Quy định “phải ghi rõ trong bản án” là nhằm tránh sự tuỳ tiện trong hoạt động xét xử Pháp luật dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể tiên liệu hết mọi tình huống của cuộc sống nên việc cho phép Toà án xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong hoạt động xét xử là hợp lý và cần thiết Tuy nhiên, vấn đề này cũng có tính hai mặt của nó Trên thực tiễn, không ít trường hợp Toà án đưa ra những tình tiết giảm nhẹ TNHS không thật

sự thuyết phục, ví dụ: theo Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao năm

2004, đã có trường hợp Toà án cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trong một vụ

án hiếp dâm vì lý do sau khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã xin lỗi nạn nhân và

Trang 38

hứa cưới nạn nhân làm vợ Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hạn chế sự tuỳ tiện của hội đồng xét xử Điều đó chỉ có thể trả lời bằng đạo đức, lương tâm, năng lực, trình độ chuyên môn của những người làm công tác xét xử; vai trò của Toà án cấp trên; sự giám sát của cơ quan dân cử và của các thiết chế

xã hội khác…

Thứ hai, trường hợp giảm nhẹ TNHS là căn cứ để Tòa án cân nhắc,

xem xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội, nó phản ánh các diễn biến bên ngoài của mặt khách quan cũng như diễn biến tâm lý bên trong của mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm hoặc phản ánh yếu tố nhân thân người phạm tội, góp phần mô tả tội phạm, giúp chúng ta hình dung được mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội nếu đặt nó trong sự so sánh với trường hợp phạm tội tương tự mà không có tình tiết giảm nhẹ TNHS

Thứ ba, trường hợp giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng như thế nào đến việc

quyết định hình phạt là do Toà án cân nhắc, xem xét Sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ TNHS là căn cứ để Tòa án đánh giá, xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, coi đó là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt Pháp luật không quy định cụ thể sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện hữu của tình tiết nào thì được giảm TNHS đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của Tòa án

Thứ tư, những trường hợp giảm nhẹ TNHS rất phong phú, không xác

định về mặt số lượng Chúng ta có thể xác định được những trường hợp được quy định trong Khoản 1 Điều 46 BLHS và những trường hợp được quy định tại điểm c, mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP Ngoài những trường hợp nói trên thì trong quá trình xét xử từng vụ án cụ thể, Tòa án còn có thể coi những trường hợp khác là trường hợp giảm nhẹ

Trang 39

Thứ năm, ảnh hưởng của từng trường hợp đến mức độ nguy hiểm của

hành vi phạm tội không giống nhau Ảnh hưởng của những trường hợp giảm nhẹ TNHS đối với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội là khác nhau và do đó, mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc quyết định hình phạt là không giống nhau Những trường hợp giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp lý, xã hội, chính trị không đồng đều nhau Có trường hợp thì ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối với mọi trường hợp phạm tội, nhưng có trường hợp thì ảnh hưởng ít hơn Có trường hợp chỉ có ý nghĩa đáng kể với một số tội phạm, còn đối với những tội phạm khác thì chỉ có ý nghĩa rất hạn chế Mặt khác, Điều 47 BLHS quy định:

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án

có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn [34, Điều 47] Theo đó, khả năng “có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định” chỉ có thể thực hiện “khi

có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46” Logic này cho phép suy đoán rằng, theo quan điểm của nhà làm luật, các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 46 có vị trí cao hơn, ảnh hưởng nhiều hơn đến mức độ ít nguy hiểm của hành vi phạm tội so với các trường hợp được hướng dẫn trong điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP và các trường hợp khác mà Tòa án xem xét, cân nhắc quyết định cho bị cáo được hưởng trong quá trình xét xử

Trang 40

1.2 Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến trước khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999)

BLHS năm 1985 ra đời trong bối cảnh sau 10 năm đất nước ta được thống nhất và bước vào một thời kỳ mới trong công cuộc xây dựng CNXH, chính vì vậy các quy định của BLHS một mặt mang tính kế thừa những tinh hoa đã được đúc rút từ thực tế, mặt khác thể hiện sự đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phục vụ tốt cho công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Cùng với sự phát triển đó, quy định về các trường hợp giảm nhẹ TNHS cũng có những bước phát triển đáng kể Trong Bộ luật này, những trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định cụ thể thành một điều và mang tính áp dụng chung cho tất cả các loại tội phạm Các trường hợp này được quy định tại Điều 38 BLHS 1985 với tên gọi “Những tình tiết giảm nhẹ”, Ngoài ra, BLHS 1985 cũng đã quy định về việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 38

Về cơ bản, những trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định tại BLHS

1985 tương đối đầy đủ và giống như quy định tại BLHS 1999 Việc khái quát hóa thành một quy định mang tính chất chung như vậy không chỉ thể hiện một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, mà nó còn đem lại hiệu quả cao trong việc vận dụng những trường hợp này trong thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các quy định những trường hợp giảm nhẹ TNHS của PLHS Từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến trước khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999 với mục đích tìm hiểu các quy định này trong các giai đoạn khác nhau Từ đó làm rõ những nhân tố chi phối đến nội dung của chúng, những dấu ấn của giai đoạn trong quy định về trường hợp giảm nhẹ TNHS và quan trọng hơn nữa là

Ngày đăng: 05/09/2016, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Thái Chí Bình (2014), “Tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II, (tháng 01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện”, "Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II
Tác giả: Thái Chí Bình
Năm: 2014
4. Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
5. Bộ tư pháp (2014), Tài liệu Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2014
6. Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt (2002), “Nhân thân người phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (1), tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt
Năm: 2002
8. Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, (Phần chung), NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
9. Đỗ Văn Chỉnh (2000), “Những vấn đề cần lưu ý trong xét xử”, Tạp chí Toà án nhân dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần lưu ý trong xét xử”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2000
10. Đỗ Văn Chỉnh (2001), “Vấn đề áp dụng thời hiệu thi hành bản án”, Tạp chí Toà án nhân dân, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề áp dụng thời hiệu thi hành bản án”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2001
11. Đỗ Văn Chỉnh (2013), “Án treo và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II, (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án treo và thực tiễn”, "Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2013
12. C.Mác và Ph. Anghen (1995), Tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1
Tác giả: C.Mác và Ph. Anghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1995
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Chu Thanh Hà (2015), Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội, tr.12 - 13, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội
Tác giả: Chu Thanh Hà
Năm: 2015
15. Phạm Hồng Hải (2000), “Các biện pháp tư pháp trong BLHS 1999 và vấn đề hoàn thiện BLTTHS về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó”, Tạp chí Luật học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp tư pháp trong BLHS 1999 và vấn đề hoàn thiện BLTTHS về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2000
16. Phạm Hồng Hải (2001), “Chế định truy cứu TNHS và vấn đề áp dụng chế định này trong thực tiễn”, Tạp chí Luật học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định truy cứu TNHS và vấn đề áp dụng chế định này trong thực tiễn”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Hiện (2002), “Tăng cường năng lực xét xử của Toà án cấp huyện - Một số vấn đề cấp bách”, Tạp chí Toà án nhân dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực xét xử của Toà án cấp huyện - Một số vấn đề cấp bách”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Hiện
Năm: 2002
18. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2006
19. Nguyễn Ngọc Hoà (2000), “Nguyên tắc phân hoá TNHS trong BLHS 1999”, Tạp chí Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phân hoá TNHS trong BLHS 1999”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Năm: 2000
20. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2000), Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2000
21. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2007), Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 12/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 12/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2007
22. Đỗ Thị Thanh Huyền, Đỗ hải Yến (2014), “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong điều tra các vụ án giết người”, Tạp chí Kiểm sát, (11), tr.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong điều tra các vụ án giết người”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Huyền, Đỗ hải Yến
Năm: 2014
23. Lê Xuân Lục (2014), “Bàn về căn cứ và giới hạn của việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định trong Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (06), tr.34-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về căn cứ và giới hạn của việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định trong Bộ luật Hình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Xuân Lục
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Thống  kê  số  lần  sử  dụng  những  trường  hợp  giảm  nhẹ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 2.1. Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ (Trang 7)
Bảng 2.1. Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS  được quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 dựa trên cơ sở nghiên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 2.1. Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 dựa trên cơ sở nghiên (Trang 72)
Bảng 2.2. Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS  được quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 được hướng dẫn tại  Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP dựa trên cơ sở nghiên cứu 150 bản án - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 2.2. Thống kê số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 được hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP dựa trên cơ sở nghiên cứu 150 bản án (Trang 76)
Bảng thống kê việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS do Tòa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng th ống kê việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS do Tòa (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w